Đời người nếu từng nếm trải 5 nỗi khổ: bệnh tật, thất tình, bị phản bội, sinh ly, tử biệt thì kiếp này chẳng còn điều gì có thể khiến bạn tổn thương thêm lần nữa. 1. Bệnh tật Dẫu thân phận, địa vị của bạn thế nào, bạn giàu hay nghèo, thì đứng trước bệnh tật cũng đều chỉ có một thân phận như nhau, chính là “bệnh nhân”. Dẫu ý chí của bạn kiên định thế nào, thì nó cũng sẽ tàn phá cơ thể và tinh thần bạn hết lần này tới lần khác. Bệnh tật khiến bạn yếu nhược, khiến bạn không nơi nương tựa, khiến bạn khẩn thiết mong cầu được khoẻ mạnh như một người bình thường. Nếu đã từng trải nghiệm điều này bạn sẽ càng trân quý sinh mệnh hơn. Khi ấy bạn mới hiểu rằng tiền bạc, vinh quang cũng chẳng thể đánh đổi được. Vậy nên, lúc này nếu bạn cảm thấy mình chẳng có gì ngoài sức khoẻ, thì đừng vội buồn lòng. Kỳ thực bạn đang là tỷ phú của chính mình mà không hay biết. Nếu đã từng trải nghiệm điều này bạn sẽ càng trân quý sinh mệnh hơn. Khi ấy bạn mới hiểu rằng tiền bạc, vinh quang cũng chẳng thể đánh đổi được. 2. Thất tình Tình yêu giống như bông hoa thuốc phiện. Dẫu biết rõ rằng đó là thứ độc dược nhưng lại chẳng thể cưỡng nổi sự cám dỗ. Dẫu biết rằng dám yêu thì cũng phải sẵn sàng đối mặt với nỗi thống khổ, nhưng mỗi lần yêu trái tim vẫn thổn thức như yêu lần đầu. Khi thất tình trái tim như vỡ vụn, vỡ tan thành những mảnh thuỷ tinh bé li ti, găm thật chặt vào da thịt, vào huyết quản, cứa vào trái tim bạn. Dẫu vậy chúng ta cũng vẫn không chịu từ bỏ nó. Dẫu là anh hùng cái thế cũng khó có thể vượt qua được quan ải tình yêu. Dẫu bạn có thể hô mưa gọi gió bên ngoài, nhưng khi rơi vào vòng xoáy thất tình thì cũng thống khổ như nhau. Thất tình như từng mũi kim cắm sâu vào trái tim khiến lòng ta đau nhói. Nhưng dẫu thế nào, cũng đừng mất niềm tin vào cuộc sống. Hãy cứ tin rằng hạnh phúc vẫn luôn chờ đợi bạn ở phía trước, chỉ là bạn chưa tìm được đúng người mà thôi. 3. Bị phản bội Đây là nỗi đau do cơn cuồng nộ dâng trào, khiến bạn vừa hận, vừa oán lại vừa đau. Người ấy đã dẫm đạp lên những lời thề non hẹn biển, chà đạp lên tấm chân tình sắt son tự đáy lòng của bạn. Cảm giác bị lừa dối, lòng tự tôn bị chà đạp, khiến bạn vừa thất vọng lại vừa tuyệt vọng, thống khổ thấu tâm can. Người bị phản bội không chỉ tan nát trái tim mà trái tim vỡ vụn ấy còn bị dội lên những lớp dầu sôi cuồn cuộn, bỏng rát. Nỗi đau tan nát tâm hồn này chỉ những người đã từng bị tổn thương mới có thể thấu hiểu. Dẫu trái tim đau cũng đừng nhen nhóm ý định trả thù. Bởi lẽ cách trả thù tốt nhất là để người ấy biến mất khỏi tâm trí bạn, để hình ảnh người ấy trôi vào quên lãng. Chỉ khi ấy bạn mới tìm lại được sự bình yên trong tâm hồn. Hãy cứ nhủ lòng, có lẽ đây là ân oán đời trước đến đòi bạn phải hoàn trả trong kiếp này. 4. Sinh ly Dẫu biết rõ rằng ngày sau vẫn còn gặp lại, nhưng thời khắc này sao chẳng muốn chia xa. Dẫu chạy theo đoàn tàu xình xịch lăn bánh, cũng chẳng thể nắm chặt đôi bàn tay bạn. Những cuộc chia ly khiến ta chẳng thể an giấc, cứ mãi thao thức giữa canh thâu. Giây phút phải chia xa đằng đẵng như kéo dài cả thế kỷ, bạn và tôi bịn rịn, lưu luyến mãi chẳng rời. Bao nỗi nhớ nhung đến đổ bệnh sau ngày từ biệt cứ đeo đẳng mãi trong lòng. Dẫu biết phải chia ly nhưng cũng đành chấp nhận, bởi ta chẳng thể làm được điều chi. Nhưng bạn ơi đừng buồn! Dẫu hết người này tới người khác vội đến và vội đi ngang qua cuộc đời bạn, dẫu cung bậc tình cảm họ để lại cho bạn chẳng giống nhau, nhưng họ đều để tình yêu đồng hành cùng bạn. 5. Tử biệt Dẫu biết rằng khép chặt đôi mi biệt ly là sẽ xa cách ngàn đời, nhưng bạn lại bất lực, chẳng thể làm được gì. Dẫu bạn gào khóc, cố níu kéo hay dốc hết sức để níu giữ cũng chẳng ích chi. Dẫu bạn khẩn cầu Thượng Đế, quỳ lạy van xin Bồ Tát cũng vậy thôi. Đó hoàn toàn chỉ là nỗi đau bất lực. Có lẽ cuộc sống muốn nói với chúng ta rằng hãy trân quý những gì mình đang có. Trên thế gian này chẳng có gì là mãi mãi, vậy nên khi vẫn còn hơi thở hãy đối đãi thật tốt với mọi người quanh ta. Như vậy dẫu đến giây phút chia xa ta cũng chẳng còn điều chi phải tiếc nuối, thở than. Hãy gieo hạt giống thiện lương và để lòng tốt ở lại. Khi ấy dẫu bóng hình chẳng còn nhưng người đã khuất vẫn luôn sống trong tim những người ở lại. Khi ấy những nỗi đau kia lại trở thành sự cảm thông, yêu thương và trân quý cảm xúc của con người. Khi ấy sự tổn thương lại trở thành nơi hun đúc ý chí và tâm hồn cao thượng của một con người. #NhanSinhCamNgo
161Upvotes
130Reminds

More from Tử Kính

Không phải ‘ai chinh phục ai’ mà là ‘ai thương nhớ ai’, sau 40 tuổi mới thực sự là vợ chồng! Một cặp vợ chồng thì nên đối đãi với nhau như vậy: Đừng chỉ luôn nghĩ tới việc chinh phục bạn đời Đây là vấn đề quan trọng nhất, chinh phục là chuyện cơm bữa giữa hai vợ chồng. Dẫu ai đúng ai sai, ai theo đuổi ai thì cuối cùng cũng là sai. Tranh cãi xem ai làm tổn thương ai, ai làm hại ai, ai quá đáng, những điều này đều là đại kỵ. Cặp vợ chồng lý tưởng thì sẽ vĩnh viễn giả ngốc, giả mù với nhau, mà che chắn cho sở đoản của nhau. Như vậy mới là một tình yêu chân thành. Nếu hai người đều không muốn giả ngốc, đều tinh tường, chuyện gì cũng phải truy đến cùng, bóc tách cho tỏ tường thì trong cuộc sống thường nhật, chắc chắn sẽ tranh giành không dứt. Mối quan hệ ấy giống như đang đi trên lớp băng mỏng, chẳng thể nào thư thái, yên vui. - Đừng chấp nhặt chuyện nhỏ, nếu muốn hãy động lòng yêu thương Sau 40 tuổi, nhớ lại quãng đường đời hai người sống bên nhau biết bao nhiêu năm như vậy, thì còn khó khăn gì chưa gặp phải, còn chướng ngại gì chưa vượt qua? Vậy nên, dẫu xảy ra chuyện gì cũng đừng làm sứt mẻ tình cảm vợ chồng, dẫu chuyện lớn đến đâu cũng không xứng để phá vỡ nó. Hơn nữa đừng bao giờ nặng lời với bạn đời của mình, đừng bao giờ làm tổn hại bầu không khí và tình cảm ấm áp giữa hai vợ chồng. Hoài nghi, nghi kỵ là những điều không đáng nhất. Phải biết rằng, không được “giở trò khôn vặt” với bạn đời của mình, mà thay vào đó hãy động lòng yêu thương. Trước kia vì mải mê với công việc mà ta chẳng thể thực hiện nguyện vọng của người bạn đời. Nay đã 40 tuổi xuân xanh, thì hãy dành nhiều thời gian và nghĩ cách thực hiện điều đó. - Đừng quên rằng vợ chồng ngoài tình yêu còn có tình nghĩa Sống cùng nhau biết bao nhiêu năm, tình yêu sẽ dần chuyển thành tình thân. Qua thời gian hai người ở bên nhau cũng không còn những cảm xúc mãnh liệt khi xưa, nhưng cũng đừng quên rằng ngoài tình yêu còn có tình nghĩa. Khi muốn buông tay, bạn có nghĩ tới vì sao ban đầu bạn lại quyết định cùng anh ấy, cùng cô ấy bước tới tương lai hay không? Ở bên nhau đã lâu, dẫu không còn tình yêu mặn nồng như xưa, nhưng hãy lựa chọn tiếp tục nắm chặt bàn tay nhau đi hết chặng đường đời. Phụ nữ biết vun vén cho nhau, đàn ông biết hàm ơn mới có thể chung sống một đời. Vậy nên sau 40 tuổi, dẫu thế nào cũng đừng quên giữa vợ chồng vẫn còn tình nghĩa. - Sau 40 tuổi, vợ chồng vẫn như hình với bóng bên nhau Yêu thì đừng làm bạn đời phải khó xử, đừng bới lông tìm vết, đừng chỉ trích người ấy, cứ ngốc nghếch ở bên họ là được rồi. Ngốc là vì ở bên nhau biết bao năm, nhưng sớm đã quyết định, đã xác định như vậy rồi. Chẳng còn gì cần phải giải quyết, cần phải biết, cần phải cải thiện, cần phải hoàn thiện nữa. Nếu bạn đời có tiến bộ, hãy tiếp nhận họ, không tiến bộ cũng cứ tiếp nhận họ. Suốt cuộc đời, có được một người yêu thương mình, luôn ở bên mình mãi mãi mới tuyệt làm sao! Sau 40 tuổi, vợ chồng vẫn cần dìu dắt, chăm sóc, bầu bạn với nhau. - Vợ chồng hoà thuận, vạn sự đều hưng Vợ chồng đồng lòng, sỏi cát cũng hoá vàng. Chuyện gia đình chẳng có đúng sai, chỉ có hoà thuận hay bất hoà. Vợ chồng hoà hợp thì gia đình mới hoà thuận, gia đình hoà thuận thì vạn sự mới hưng. Vợ chồng lập nên một gia đình, gia đình là nơi yêu thương, chứ không phải nơi tranh biện lý luận. Gia đình có cội và có hồn, cội và hồn này lại do hai vợ chồng nắm giữ. Bên nào không nắm giữ tốt thì đều “bất hoà”. Cãi cọ cũng chẳng xa, mắng mỏ cũng chẳng rời, động thủ cũng chẳng đi, chỉ như vậy mới có thể giữ được hoà khí vợ chồng, mới có thể khiến gia đình hưng vượng. Gia nghiệp hưng thịnh, con cháu lại được hưởng phúc lành. Sau 40 tuổi, vợ chồng vẫn mãi bên nhau, che chở bảo vệ nhau. Vợ chồng hoà hợp gia đình mới hoà thuận, gia đình hoà thuận, vạn sự mới hưng. #NhanSinhCamNgo
3.25k views ·
Theo sách Chín đời chúa, mười ba đời vua triều Nguyễn, Minh Mạng là ông vua hết sức cần mẫn, làm việc không biết mệt mỏi, hết lòng vì nước, là tấm gương sáng cho các bậc đế vương noi theo. Là ông vua nghiêm khắc bậc nhất của triều Nguyễn, Vua Minh Mạng thường trị tội rất nặng những kẻ tham nhũng, kể cả hoàng thân quốc thích. Để trị tội tham quan, vua từng xử tử, chặt ngón tay của những kẻ có hành vi tham nhũng. Trong số các vụ án trị quan tham của Minh Mạng, nổi tiếng nhất là vụ xử tử cha vợ nhà vua là Huỳnh Công Lý. Khắc tinh của tham quan Theo Đại Nam Thực Lục, tháng 5/1823, Lý Hữu Diệm làm quan tại phủ Nội vụ, lấy trộm hơn một lạng vàng. Việc bị phát giác, bộ Hình đưa ông Diệm ra xét xử. Theo quy định của Luật Gia Long, tội ăn trộm ngân khố dù ít hay nhiều cũng sẽ bị chém đầu. Nhưng xét thấy Lý Hữu Diệm vốn có nhiều công trạng, Bộ Hình đã tha tội chết, chỉ bắt đi đày viễn xứ. Khi án được tâu lên, vua Minh Mạng không đồng ý với đề nghị của bộ Hình. Nhà vua nhất quyết yêu cầu Bộ Hình đem can phạm ra trước chợ Đông Ba chém đầu, cho mọi người trông thấy mà sửa mình với chỉ dụ: “Lý Hữu Diệm phải giải ngay đến chợ Đông, chém đầu cho mọi người biết, phải truyền cho viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem, hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn người sao?”. Tháng 11/1831, Nguyễn Đức Tuyên, Tư Vụ Nội Vụ Phủ, ăn bớt nhựa thơm. Việc bị phát giác, vua Minh Mạng liền ra chỉ dụ: “Đáng lẽ cho trói đem ra chợ Cửa Đông chém đầu, nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ, răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian”. Năm 1834, đến lượt Tuần Phủ Trịnh Đức bị thắt cổ chết vì tham ô một nghìn quan tiền nhưng lại nói dối bị giặc cướp mất. Cũng trong năm này, Quản Mộc Hồ Văn Hạ cũng mất đầu vì tham nhũng. Xử tử cả cha vợ Huỳnh Công Lý là một trong những võ tướng nổi tiếng thời Gia Long, có công giúp Nguyễn Ánh dựng nên cơ đồ nhà Nguyễn, sau được phong làm Lý Chính Hầu. Khi con gái được vua Minh Mạng phong làm Huệ phi, Huỳnh Công Lý càng được tin dùng. Ông được phong làm Phó TổngTtrấn Gia Định, quyền hành chỉ sau mỗi TổngTtrấn Lê Văn Duyệt. Theo Đại Nam Thực Lục, trong thời gian Lê Văn Duyệt ra Huế (1816-1820), Huỳnh Công Lý được giao giữ chức Phó Tổng Trấn. Lợi dụng chức vụ và bề trên đi vắng, Huỳnh Công Lý thừa cơ vơ vét của cải từ nhân dân và binh lính. Sau khi Lê Văn Duyệt quay về Gia Định, nhận được tin tố cáo Huỳnh Công Lý tham ô, ông báo về triều đình. Vua Minh Mạng ra lệnh tống ngục cha vợ và cử quan Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định điều tra. Biết chuyện số tiền tham nhũng lên đến hơn 30.000 quan tiền, vua Minh Mạng buồn rầu mà nói rằng: “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Huỳnh Công Lý làm Phó Tổng Trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân trên ba vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được”. Khi Nguyễn Đình Thinh đang thu thập lời khai của các nhân chứng ở Gia Định, triều đình phát giác thêm bằng chứng tham nhũng nữa tại Huế cũng liên quan Huỳnh Công Lý. Trong thời gian làm quan ở Huế, ông đã bắt lính xây dựng nhà riêng ở bên bờ sông Hương. Khi biết tin, vua ra lệnh tịch thu nhà, bán lấy tiền giúp cho cấm binh. Tổng Trấn Lê Văn Duyệt có xử tội “cha vợ” vua Minh Mạng? Sử nhà Nguyễn đã ghi khá rõ và đầy đủ sự kiện vụ án Huỳnh (hay Hoàng) Công Lý, Phó Tổng Trấn Gia Định thành vào năm 1820. Ban đầu, Tổng Trấn Lê Văn Duyệt (1763-1832) đã khởi tố vụ án, sự vụ được ông chuyển ra Huế, vua Minh Mạng đã giao do triều đình nghị tội, sau đó chính đích thân nhà vua đã ban án tử hình Huỳnh Công Lý, bà Huệ Phi cũng bị giáng chức. Bản án được thi hành ngay tại Gia Định. Sách Đại Nam Thực Lục chép: Năm Minh Mệnh thứ nhất (1820)… tháng 9… Phó Tổng Trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Văn Xuyên rằng: “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngồi đến Phó Tổng Trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân dã khốn khó rồi”. Sai đình thần hội bàn. Đều nói: “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét thì tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Hình Bộ Thiêm sự Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà tra xét… (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang 93) Vua nói: “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Hoàng Công Lý làm Phó Tổng Trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên 3 vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn cậy vào đâu…” (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang 105) Kể từ đó, Vua Minh Mạng luôn lấy vụ án này để nhắc nhở thuộc quan: Án trấn ở Bình Định là Trương Phúc Đặng vào chầu, vua dụ rằng: “Hạt ngươi dân khổ chưa hồi, việc làm kho thực là bất đắc dĩ. Ngươi làm trọng thần của nước, nên răn dạy thuộc viên không được tạ sự bóc lột. Chẳng thấy gương Hoàng Công Lý đấy sao?” (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang 124) Năm 1821 tháng 5, Hoàng Công Lý trước bị tội tham nhũng, tang vật đến trên 2 vạn quan tiền. Sai quan thành Gia Định (tức Lê Văn Duyệt – tác giả ghi chú) đòi hỏi, Khi thành án, giao đình thần bàn xét, đáng tội chết, bèn đem giết, tịch thu gia sản đem trả lại binh dân. Vua dụ rằng: “Gia Định là nơi đất rộng dân nhiều. Hoàng khảo ta mưu tính, thành lập quân lữ, khôi phục dư đồ, cái nền móng xây dựng cơ nghiệp thực là ở đấy. Từ trước đến nay vẫn thận trọng lựa chọn những trọng thần công lao danh vọng sai trấn phủ cho muôn dân yên ổn. Không may có Hoàng Công Lý, lấy tư cách đê hèn, chứa chất thói tham bạo, vặn trái pháp luật, ăn lót kể đén muôn vàn, bắt người làm việc (riêng) mỗi lần đến mấy nghìn, mọt nước hại dân đến thế là cùng. Nghĩ đến người vô tội mà gặp nỗi độc hại này, dù của cải đền được nhưng nỗi khổ lâu ngày khó mà hồi được. Nay tội nhân như thế, pháp luật phải thi hành, để cho nhân dân uất ức một phương đều rõ cái ý trừ bạo an dân của triều đình. Công Lý khi làm Tả thống chế quân thị trung, ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà riêng ở trên bờ sông Hương, đến nay việc phát, hạ lệnh trị giá bán nhà ấy lấy tiền cho cấm binh. Rồi nhân đó dụ rằng, từ nay biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham tàn cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép đón xa giá mà tâu. Lại dụ rõ cho các đại thần võ ban nên lấy việc Lý làm răn…” (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang tr 134) Trong nội dung bản Dụ Đình Thần, ngoài việc y án lệnh tử hình đối với Huỳnh Công Lý, nhà vua còn lệnh phát mãi tài sản của y để lấy tiền sung công quỹ nuôi quân. Nguyên văn bản Dụ được trích trong tập Ngự Chế Văn (Dụ Văn) (sđd trang 30) và được dịch giả Trần Văn Quyền dịch như sau: Lại Dụ đình thần Dụ Trước đây, khi phạm tội Hoàng Công Lý làm Thị trung Tả thống chế, đã không làm rõ được ý trẫm là yêu thương binh lính. Trái lại còn (lợi dụng) làm giàu cho mình, làm hại người khác, sai riêng cấm binh mở ba cửa hàng gạch ngói mưu lợi riêng. Tất cả gỗ đá gạch ngói đều cho chở về xây dựng, nhưng chưa bị phát giác. Đến khi y trở lại nhận chức Phó Tổng Trấn Gia Định, lòng tham lại càng quá đáng. Nay bị binh lính, dân chúng, thợ thuyền Gia Định tố giác. Quan Tổng Trấn ở đó đã tra xét rõ ràng và tấu trình. Trẫm nghĩ phạm nhân cũng là viên quan lớn ngoài biên nên giáng chỉ cho đình thần họp bàn định tội và phúc tấu. Nay đã trình lên và đều nói tội ác của Hoàng Công Lý chồng chất quá nhiều, xin chém theo luật cho mọi người biết và để răn sau này. Lời nghị tội thật xác đáng. Vậy ngoài việc y lệnh thi hành ra, việc xin sung công cửa hàng: nghĩ binh lính Thị trung là đời cấm quân, vốn vất vả với nhiều triều ta, ngày còn sống, Hoàng khảo ta rất ưu đãi họ, không ngờ gặp tên tham lam này mưu mô dùng nhiều thủ đoạn bóc lột, nay đã phát giác, nếu không trả lại công lao cho họ thì sao an ủi được tấm lòng của thị vệ của ta. Vậy hãy bán cửa hàng đó, được bao nhiêu giao cho Tả Dực Thống Chế Tôn Thất Dịch phân phát cho 5 vệ Tả Dực sao cho công bằng, để cho binh lính túc vệ của ta đều được ban ơn Từ nay về sau bất kể quân lính trong ngoài, gặp phải các viên biền tham lam ngược đãi như vậy mà vướng chỗ quyền thế không nói ra được thì cho phép tâu trình, trẫm sẽ tìm ra căn nguyên để trị tội kẻ tham nhũng. Hãy kính theo Dụ này. Ngày 14 tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 2. Vụ án trên đã được lưu truyền thành giai thoại: Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đích thân xử tử hình “cha vợ vua”, dù vua Minh Mạng có bao che, nhưng cũng chẳng làm gì được! Câu chuyện càng được công chúng đón nhận rộng rãi hơn qua những vở cải lương hay kịch bản sân khấu…! Với những dẫn chứng trong chính sử nói trên, ta thấy rằng vua Minh Mạng không hề có ý bao che trong vụ án Huỳnh Công Lý, cũng như Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đã không tự mình xử án “cha vợ” vua. Ở đây ta thấy đích thân nhà vua đã ký án tử hình kẻ phạm tội, chiếu theo phép nước “Quân pháp bất vị thân” . Về nghi vấn trong việc vua Minh Mạng xử tử cha vợ Lăng vua Minh Mạng. (Ảnh từ Wikipedia) Cho dù muốn đề cao vai trò quan trọng của Lê Văn Duyệt trong vụ án này thế nào đi nữa, cũng không thể nêu lên một trường hợp mà ông không tự làm. Là một Tổng Trấn Đại Thần, hơn ai hết ông biết rằng, thực hiện mọi việc phải đều theo phép nước. Một người mưu lược, tài năng như ông, lẽ nào làm một công việc độc đoán, vượt quá quyền hạn của mình…? Tôn Thất Thọ Đăng lại từ bài viết “Chuyện vua Minh Mạng xử tử cha vợ” Đăng trên TongPhuocHiep.com (Trang web của nhóm cựu học sinh trường trung học Tống Phước Hiệp – Vĩnh Long).
102 views ·
Sinh thời Đĩnh Chi là người thông minh tuyệt đỉnh, nhưng diện mạo lại rất xấu xí. Vì sự xấu xí đó mà suýt chút nữa con đường quan lộ của ông bị hủy hoại. Tuy vậy cũng nhờ thế mà trên thi đàn văn học Việt Nam có thêm một bài phú vô cùng đặc sắc và hậu thế cũng được biết thêm nhiều giai thoại thú vị về ông. Theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Đông (nay là tỉnh Hải Dương). Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, Mạc Đĩnh Chi thi đỗ trạng nguyên. - Một bài phú cứu nguy cho cả con đường quan lộ Truyện kể rằng sau khi đỗ Trạng nguyên, Mạc Đĩnh Chi có vào yết kiến triều đình, tuy nhiên Hoàng đế Trần Anh Tông thấy dung mạo ông xấu xí quá, nên không muốn trọng dụng. Để thể hiện phẩm đức và chí hướng của mình, Mạc Đĩnh Chi bèn khảng khái cảm tác bài phú “Ngọc tỉnh liên” (Hoa sen trong giếng ngọc) mà dâng lên Hoàng thượng. Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không loài hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này còn được trồng trong giếng ngọc nữa thì lại càng cao quý biết bao. Đĩnh Chi coi mình giống như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi lại ở vào một thời thế tốt đẹp, nếu vua là đấng thánh minh thì những người như ông càng thêm cao quý và được trọng vọng biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành thì mới biết thưởng thức. Dưới đây là bài phú “Ngọc tỉnh liên” – Hoa sen trong giếng ngọc, dịch ra văn Nôm: “Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả, lời dòng nước biếc, vịnh khúc phù dung; đến bến ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng mũ vàng, phất phơ điệu cốt xương tiên, hớn hở tinh thần khác tục. Khách hỏi: từ đâu mà lại? Thưa rằng: từ núi Hoa san. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vã, này dưa ngon quả quý bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời. Chuyện xong, mới hỏi khách rằng: khách đây quân tử ái liên chăng là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng gìn giữ nâng niu hoa vàng. Nọ đào lý bỉ thô còn kém, kể trúc mai đơn lạnh còn xa; nào phải giống tăng phòng câu kỷ, nào phải phường lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa giếng vàng sinh ra. Khách nghe nói: khen thay quý lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật, xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua đạo sĩ vui lòng, hoa trong tay áo giữ liền tặng đưa. Khách trông thấy trong lòng hồi hộp, bút ngũ lăng tay thảo nên ca. Ca rằng: Thủy tinh làm mái cung đình, Lưu ly lạc để nên hình cung môn, Pha lê nát nhỏ làm bùn, Minh châu làm nóc trên cành tưới cây. Hương thơm bay thấu từng mây, Bích thiên âu cũng mê say tấc lòng. Quế xanh khóc vụng tủi thầm, Tố Nga luống những mười phần giận thân. Cỏ dao hái chốn Phương tân, Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dãi dầu. Giữa dòng lơ lửng vì đâu? Non sông đất cũ cớ sao chẳng về? Đành nơi lưu lạc quản gì, Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân. Một lòng trung chính nghĩa nhân. Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương! Chỉn e lạt phấn phai hương, Tháng ngày thắm thoát, mỹ nhân ai hoài. Nghe xong, đạo sĩ than rằng: nói chi ai oán thiết tha! Kìa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng, hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên thánh chúa, mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe nói như tình như cảm, đem lòng riêng kính mộ xiết bao. Khúc trai đình tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc ngâm nga. Nỗi lòng xin giải gần xa, kính dâng một phú hải hà xét xoi”. Bài phú của Mạc Đĩnh Chi vừa được đọc lên xong, Vua Trần Anh Tông đã vỗ đùi, hết lời khen ngợi, sau đó lập tức phong cho Mạc Đĩnh Chi danh vị “Thái học sinh dũng thủ”, lại sung cho ông thêm chức: “Nội thư gia”. Đến thời vua Trần Minh Tông, Mạc Đĩnh Chi càng được triều đình tin dùng và hậu đãi. - Mang chuông đi đánh xứ người Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi: Năm 1308, Sứ thần nhà Nguyên là Thượng thư An Lỗ Khôi sang báo tin Vũ Tông lên ngôi. Vua Trần bèn sai Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên triều kiến và chúc mừng. Thời điểm ấy, việc Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên được dự báo là “đầy nguy hiểm”, bởi người phương Bắc vẫn chưa quên nỗi đau thất bại trong ba cuộc xâm lược trước đây. Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên ban đầu rất bị khinh thường vì vẻ ngoài thấp bé, xấu xí. Ở buổi tiếp kiến đầu tiên tại kinh đô Yên Kinh, vua Nguyên ra câu đối thử tài Mạc Đĩnh Chi: “Nhật hỏa vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố” Tạm dịch là: “Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy mặt trăng”. Ý nói nhà Nguyên lớn mạnh, luôn dễ dàng tiêu diệt các tiểu quốc như Đại Việt. Mạc Đĩnh Chi liền ứng đối lại: “Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô” Tạm dịch là: “Mặt trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng mặt trời”. Ý nói rằng nước nhỏ cũng có thể đánh bại quân đội nước lớn khi thời cơ đến. Vua Nguyên nghe xong tức lắm, nhưng cũng phải khen Mạc Đĩnh Chi đối hay, đối chuẩn. Một hôm khác, viên Tể tướng nhà Nguyên mời ông vào phủ dự tiệc trà. Lúc ấy đương hồi tháng 5, tháng 6. Trong phủ có bức trướng mỏng thêu hình con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc. Đĩnh Chi giả vờ ngỡ đây là con chim sẻ thực, vội chạy đến xem. Người Nguyên cười ồ, cho là người phương xa thô lậu. Thấy vậy, Đĩnh Chi kéo bức trướng xuống xé đi. Mọi người đều lấy làm lạ hỏi tại sao. Đĩnh Chi trả lời: “Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay trong bức trướng của Tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Tể tướng thêu như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân vậy”. Nghe xong, mọi người đều hết lòng phục tài Đĩnh Chi và không ai còn dám cười ông nữa. - Trở thành Lưỡng quốc Trạng Nguyên nhờ tinh ý, lẹ mắt Thời gian Mạc Đĩnh Chi đi sứ, trong một buổi chầu có người nước ngoài dâng hai cây quạt quý lên tặng vua Nguyên. Nhân có cả sứ thần Cao Ly ở đó, vua Nguyên bèn mời Mạc Đĩnh Chi và sứ thần Cao Ly cùng làm thơ vịnh đề lên quạt. Lúc này Mạc Đĩnh Chi rất bất ngờ, do không chuẩn bị trước nên có phần “bí” ý. Ông quay sang bên sứ thần Cao Ly, nhìn vào thế bút viết của sứ thần nước bạn mà đoán được ra ông này đang viết: “Uẩn long trùng trùng, Y Doãn, Chu Công; Vũ tuyết thê thê, Bá Di, Thúc Tề” Tạm dịch: Nắng nôi oi ả người tựa Y Doãn, Chu Công (Y Doãn một tướng giỏi đời nhà Thương, Chu Công, một người hiền ở đời nhà Chu). Rét mướt căm căm ngươi là Bá Di, Thúc Tề (Bá Di, Thúc Tề: hai người con của vua Trụ, Vũ Vương diệt nhà Ân lập nhà Chu. Hai anh em ở ẩn trên núi, cuối cùng chết đói). Mạc Đĩnh Chi có ý tưởng rồi, bèn lập tức viết: “Lưu Kim thước thạch thiên địa vi lô, nhĩ ư tư thời hề Y Chu cự nho; Bắc phong kỳ thê vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di Tề ngã phu; Y, dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thi phù” Tạm dịch là: “Chảy vàng tan đá, trời đất như lò, ngươi bấy giờ là Y Chu đại nho; Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo; Ôi, được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi như thế ru!” Xét về ý tứ, bài vịnh của Mạc Đĩnh Chi cũng có ý tương tự bài vịnh của sứ Cao Ly nhưng lại “đắt” hơn ở việc trích dẫn được một câu trong sách Luận ngữ, có nghĩa: “Ai dùng ta thì ta làm, ai không dùng ta thì ta để đó. Điều ấy chỉ người với ta mới có được thôi”. Cảm phục trước văn tài của Mạc Đĩnh Chi, vua Nguyên bèn phê lên chiếc quạt mà Đĩnh Chi vừa đề thơ vịnh bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”, rồi ban tặng cho ông. - Một tấm gương thanh liêm chính trực, từng làm rể trên đất Cao Ly Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi lại: Đĩnh Chi là người liêm khiết, sống rất đạm bạc. Vua rất hiểu ông, sai người ban đêm đem 10 quan tiền bỏ vào nhà ông. Hôm sau, Đĩnh Chi vào chầu, tâu vua hay chuyện đó. Vua bảo: “Không ai đến nhận, cho khanh lấy mà tiêu”. Thời vua Hiến Tông, Mạc Đĩnh Chi làm quan đến chức “Nhập nội hành khiển Hữu ty lang trung”, rồi sau lại được thăng lên chức “Tả ty lang trung”. Trong thời gian ở Yên Kinh – nước Nguyên, ông có kết thân với sứ thần Cao Ly. Mến mộ tài năng của Mạc Đĩnh Chi, vị sứ thần này mời ông sang Cao Ly chơi và gả người cháu gái xinh đẹp của mình cho ông. Người thiếp này có sinh hạ một con gái, một con trai với Mạc Đĩnh Chi. Sau này hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi ở lại Cao Ly và lập ra một dòng tộc tại đó. Trong tờ An Nam tạp chí, số 4 năm 1926 từng đăng bài của học giả Lê Khắc Hòe với tiêu đề: “Người Triều Tiên đi bán sâm là hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi”. - Hậu duệ xưng đế, lời tiên tri ứng nghiệm Tương truyền sau khi Mạc Đĩnh Chi ứng đối với hình ảnh: “bắn rụng mặt trời” trước bá quan văn võ nhà Nguyên trong lần tiếp kiến đầu tiên tại kinh đô Yên Kinh, có người đã tiên đoán: “Hậu duệ của người này sau ắt sẽ tự lập làm vua”. Quả đúng như vậy, sau này cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Đăng Dung đã lật đổ vua Lê để lập ra nhà Mạc. Trong “Đại Việt Sử ký Toàn thư” có viết: “Đăng Dung là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (tức là xã Long Động, huyện Chí Linh), tiên tổ Đăng Dung là Mạc Đĩnh Chi, Trạng nguyên triều Trần, làm quan đến chức Tả bộc xạ. Đĩnh Chi sinh ra Cao, Cao sinh ra Thúy, Thúy sinh ra Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà rồi sinh ra Bình, Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Hịch, Hịch lấy con gái trưởng của Đặng Xuân người cùng xã, sinh được ba con trai, con trưởng là Đăng Dung”. Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế. Nhà Mạc tồn tại trong 150 năm, trải qua 4 đời vua. Lời bàn: Thói thường kẻ có tài mà không được trọng dụng thì dễ sinh ra bất mãn, Mạc Đĩnh Chi thân là đệ nhất Trạng Nguyên mà ngay trong buổi đầu vào yết kiến Quân vương đã bị triều đình tỏ ý không dùng rồi! Tuy vậy ông vẫn “dĩ lý phục nhân” – lấy đạo lý mà thu phục lòng người, lại khéo vận dụng trí huệ và lễ tiết để bày tỏ phẩm đức cao quý của mình trước vua Trần Anh Tông, đó chính là biểu hiện của bậc thượng sỹ: bao dung, lễ độ, khiêm nhường, nhất tâm thuần Thiện, ông quả như “sen trong giếng ngọc” vậy! Đĩnh Chi đi sứ nào đâu có gặp thời, bởi trước đó Đại Việt từng: ba lần đánh tan quân Nguyên, thiết nghĩ chẳng cần bàn thêm cũng đủ nhận ra ông ta mang trên vai gánh nặng ngàn cân mà sinh mệnh thì như đang treo trên sợi tóc! Vậy mà bao nhiêu lần triều thần nhà Nguyên thử thách là bấy nhiêu lần Mạc Đĩnh Chi từ tốn vượt qua. Dân gian vẫn thường ví von: “Vàng thì thử lửa thử than, chuông hay thử tiếng, người ngoan thử lời” Đĩnh Chi kia khác nào kẻ “Mang chuông đi đánh xứ người”, mấy chuyện kiểu như: “vàng thử lửa, chuông thử tiếng, người thử lời” ấy, ông đều kinh qua cả mà chẳng chút bận lòng, không những thế, tài đại sứ bang giao của Mạc Đĩnh Chi còn để lại giai thoại và tiếng thơm cho muôn đời sau, đây chính là biểu hiện của bậc đại trí, đại Nhẫn. Đĩnh Chi làm quan lớn chỉ xếp sau hàng Tể tướng, Công hầu mà vẫn một đời thanh liêm đạm bạc, thấy vàng rơi trước cửa nhà mình còn tới bẩm tấu đức Quân vương thì nào đâu có cái chuyện lợi dụng chức quyền mà mưu đoạt của dân, tham ô tham nhũng. Than ôi, hay cho câu: “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà”! Hỏi ai khôn ngoan như Mạc Đĩnh Chi? Hỏi ai thật thà như Mạc Đĩnh Chi? ông chính là gương sáng thuần Chân vậy. Ôn chuyện cũ, ngẫm thời mới: Nếu những đấng quản dân ai ai cũng được vài phần như Mạc Đĩnh Chi thì lo gì giang sơn không cường thịnh, xã tắc chẳng vững bền, các nước lân bang cũng bội phần vị nể. Có hay không vậy? #CauChuyenLichSu
4.55k views ·

More from Tử Kính

Không phải ‘ai chinh phục ai’ mà là ‘ai thương nhớ ai’, sau 40 tuổi mới thực sự là vợ chồng! Một cặp vợ chồng thì nên đối đãi với nhau như vậy: Đừng chỉ luôn nghĩ tới việc chinh phục bạn đời Đây là vấn đề quan trọng nhất, chinh phục là chuyện cơm bữa giữa hai vợ chồng. Dẫu ai đúng ai sai, ai theo đuổi ai thì cuối cùng cũng là sai. Tranh cãi xem ai làm tổn thương ai, ai làm hại ai, ai quá đáng, những điều này đều là đại kỵ. Cặp vợ chồng lý tưởng thì sẽ vĩnh viễn giả ngốc, giả mù với nhau, mà che chắn cho sở đoản của nhau. Như vậy mới là một tình yêu chân thành. Nếu hai người đều không muốn giả ngốc, đều tinh tường, chuyện gì cũng phải truy đến cùng, bóc tách cho tỏ tường thì trong cuộc sống thường nhật, chắc chắn sẽ tranh giành không dứt. Mối quan hệ ấy giống như đang đi trên lớp băng mỏng, chẳng thể nào thư thái, yên vui. - Đừng chấp nhặt chuyện nhỏ, nếu muốn hãy động lòng yêu thương Sau 40 tuổi, nhớ lại quãng đường đời hai người sống bên nhau biết bao nhiêu năm như vậy, thì còn khó khăn gì chưa gặp phải, còn chướng ngại gì chưa vượt qua? Vậy nên, dẫu xảy ra chuyện gì cũng đừng làm sứt mẻ tình cảm vợ chồng, dẫu chuyện lớn đến đâu cũng không xứng để phá vỡ nó. Hơn nữa đừng bao giờ nặng lời với bạn đời của mình, đừng bao giờ làm tổn hại bầu không khí và tình cảm ấm áp giữa hai vợ chồng. Hoài nghi, nghi kỵ là những điều không đáng nhất. Phải biết rằng, không được “giở trò khôn vặt” với bạn đời của mình, mà thay vào đó hãy động lòng yêu thương. Trước kia vì mải mê với công việc mà ta chẳng thể thực hiện nguyện vọng của người bạn đời. Nay đã 40 tuổi xuân xanh, thì hãy dành nhiều thời gian và nghĩ cách thực hiện điều đó. - Đừng quên rằng vợ chồng ngoài tình yêu còn có tình nghĩa Sống cùng nhau biết bao nhiêu năm, tình yêu sẽ dần chuyển thành tình thân. Qua thời gian hai người ở bên nhau cũng không còn những cảm xúc mãnh liệt khi xưa, nhưng cũng đừng quên rằng ngoài tình yêu còn có tình nghĩa. Khi muốn buông tay, bạn có nghĩ tới vì sao ban đầu bạn lại quyết định cùng anh ấy, cùng cô ấy bước tới tương lai hay không? Ở bên nhau đã lâu, dẫu không còn tình yêu mặn nồng như xưa, nhưng hãy lựa chọn tiếp tục nắm chặt bàn tay nhau đi hết chặng đường đời. Phụ nữ biết vun vén cho nhau, đàn ông biết hàm ơn mới có thể chung sống một đời. Vậy nên sau 40 tuổi, dẫu thế nào cũng đừng quên giữa vợ chồng vẫn còn tình nghĩa. - Sau 40 tuổi, vợ chồng vẫn như hình với bóng bên nhau Yêu thì đừng làm bạn đời phải khó xử, đừng bới lông tìm vết, đừng chỉ trích người ấy, cứ ngốc nghếch ở bên họ là được rồi. Ngốc là vì ở bên nhau biết bao năm, nhưng sớm đã quyết định, đã xác định như vậy rồi. Chẳng còn gì cần phải giải quyết, cần phải biết, cần phải cải thiện, cần phải hoàn thiện nữa. Nếu bạn đời có tiến bộ, hãy tiếp nhận họ, không tiến bộ cũng cứ tiếp nhận họ. Suốt cuộc đời, có được một người yêu thương mình, luôn ở bên mình mãi mãi mới tuyệt làm sao! Sau 40 tuổi, vợ chồng vẫn cần dìu dắt, chăm sóc, bầu bạn với nhau. - Vợ chồng hoà thuận, vạn sự đều hưng Vợ chồng đồng lòng, sỏi cát cũng hoá vàng. Chuyện gia đình chẳng có đúng sai, chỉ có hoà thuận hay bất hoà. Vợ chồng hoà hợp thì gia đình mới hoà thuận, gia đình hoà thuận thì vạn sự mới hưng. Vợ chồng lập nên một gia đình, gia đình là nơi yêu thương, chứ không phải nơi tranh biện lý luận. Gia đình có cội và có hồn, cội và hồn này lại do hai vợ chồng nắm giữ. Bên nào không nắm giữ tốt thì đều “bất hoà”. Cãi cọ cũng chẳng xa, mắng mỏ cũng chẳng rời, động thủ cũng chẳng đi, chỉ như vậy mới có thể giữ được hoà khí vợ chồng, mới có thể khiến gia đình hưng vượng. Gia nghiệp hưng thịnh, con cháu lại được hưởng phúc lành. Sau 40 tuổi, vợ chồng vẫn mãi bên nhau, che chở bảo vệ nhau. Vợ chồng hoà hợp gia đình mới hoà thuận, gia đình hoà thuận, vạn sự mới hưng. #NhanSinhCamNgo
3.25k views ·
Theo sách Chín đời chúa, mười ba đời vua triều Nguyễn, Minh Mạng là ông vua hết sức cần mẫn, làm việc không biết mệt mỏi, hết lòng vì nước, là tấm gương sáng cho các bậc đế vương noi theo. Là ông vua nghiêm khắc bậc nhất của triều Nguyễn, Vua Minh Mạng thường trị tội rất nặng những kẻ tham nhũng, kể cả hoàng thân quốc thích. Để trị tội tham quan, vua từng xử tử, chặt ngón tay của những kẻ có hành vi tham nhũng. Trong số các vụ án trị quan tham của Minh Mạng, nổi tiếng nhất là vụ xử tử cha vợ nhà vua là Huỳnh Công Lý. Khắc tinh của tham quan Theo Đại Nam Thực Lục, tháng 5/1823, Lý Hữu Diệm làm quan tại phủ Nội vụ, lấy trộm hơn một lạng vàng. Việc bị phát giác, bộ Hình đưa ông Diệm ra xét xử. Theo quy định của Luật Gia Long, tội ăn trộm ngân khố dù ít hay nhiều cũng sẽ bị chém đầu. Nhưng xét thấy Lý Hữu Diệm vốn có nhiều công trạng, Bộ Hình đã tha tội chết, chỉ bắt đi đày viễn xứ. Khi án được tâu lên, vua Minh Mạng không đồng ý với đề nghị của bộ Hình. Nhà vua nhất quyết yêu cầu Bộ Hình đem can phạm ra trước chợ Đông Ba chém đầu, cho mọi người trông thấy mà sửa mình với chỉ dụ: “Lý Hữu Diệm phải giải ngay đến chợ Đông, chém đầu cho mọi người biết, phải truyền cho viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem, hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn người sao?”. Tháng 11/1831, Nguyễn Đức Tuyên, Tư Vụ Nội Vụ Phủ, ăn bớt nhựa thơm. Việc bị phát giác, vua Minh Mạng liền ra chỉ dụ: “Đáng lẽ cho trói đem ra chợ Cửa Đông chém đầu, nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ, răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian”. Năm 1834, đến lượt Tuần Phủ Trịnh Đức bị thắt cổ chết vì tham ô một nghìn quan tiền nhưng lại nói dối bị giặc cướp mất. Cũng trong năm này, Quản Mộc Hồ Văn Hạ cũng mất đầu vì tham nhũng. Xử tử cả cha vợ Huỳnh Công Lý là một trong những võ tướng nổi tiếng thời Gia Long, có công giúp Nguyễn Ánh dựng nên cơ đồ nhà Nguyễn, sau được phong làm Lý Chính Hầu. Khi con gái được vua Minh Mạng phong làm Huệ phi, Huỳnh Công Lý càng được tin dùng. Ông được phong làm Phó TổngTtrấn Gia Định, quyền hành chỉ sau mỗi TổngTtrấn Lê Văn Duyệt. Theo Đại Nam Thực Lục, trong thời gian Lê Văn Duyệt ra Huế (1816-1820), Huỳnh Công Lý được giao giữ chức Phó Tổng Trấn. Lợi dụng chức vụ và bề trên đi vắng, Huỳnh Công Lý thừa cơ vơ vét của cải từ nhân dân và binh lính. Sau khi Lê Văn Duyệt quay về Gia Định, nhận được tin tố cáo Huỳnh Công Lý tham ô, ông báo về triều đình. Vua Minh Mạng ra lệnh tống ngục cha vợ và cử quan Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định điều tra. Biết chuyện số tiền tham nhũng lên đến hơn 30.000 quan tiền, vua Minh Mạng buồn rầu mà nói rằng: “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Huỳnh Công Lý làm Phó Tổng Trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân trên ba vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được”. Khi Nguyễn Đình Thinh đang thu thập lời khai của các nhân chứng ở Gia Định, triều đình phát giác thêm bằng chứng tham nhũng nữa tại Huế cũng liên quan Huỳnh Công Lý. Trong thời gian làm quan ở Huế, ông đã bắt lính xây dựng nhà riêng ở bên bờ sông Hương. Khi biết tin, vua ra lệnh tịch thu nhà, bán lấy tiền giúp cho cấm binh. Tổng Trấn Lê Văn Duyệt có xử tội “cha vợ” vua Minh Mạng? Sử nhà Nguyễn đã ghi khá rõ và đầy đủ sự kiện vụ án Huỳnh (hay Hoàng) Công Lý, Phó Tổng Trấn Gia Định thành vào năm 1820. Ban đầu, Tổng Trấn Lê Văn Duyệt (1763-1832) đã khởi tố vụ án, sự vụ được ông chuyển ra Huế, vua Minh Mạng đã giao do triều đình nghị tội, sau đó chính đích thân nhà vua đã ban án tử hình Huỳnh Công Lý, bà Huệ Phi cũng bị giáng chức. Bản án được thi hành ngay tại Gia Định. Sách Đại Nam Thực Lục chép: Năm Minh Mệnh thứ nhất (1820)… tháng 9… Phó Tổng Trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Văn Xuyên rằng: “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngồi đến Phó Tổng Trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân dã khốn khó rồi”. Sai đình thần hội bàn. Đều nói: “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét thì tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Hình Bộ Thiêm sự Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà tra xét… (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang 93) Vua nói: “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Hoàng Công Lý làm Phó Tổng Trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên 3 vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn cậy vào đâu…” (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang 105) Kể từ đó, Vua Minh Mạng luôn lấy vụ án này để nhắc nhở thuộc quan: Án trấn ở Bình Định là Trương Phúc Đặng vào chầu, vua dụ rằng: “Hạt ngươi dân khổ chưa hồi, việc làm kho thực là bất đắc dĩ. Ngươi làm trọng thần của nước, nên răn dạy thuộc viên không được tạ sự bóc lột. Chẳng thấy gương Hoàng Công Lý đấy sao?” (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang 124) Năm 1821 tháng 5, Hoàng Công Lý trước bị tội tham nhũng, tang vật đến trên 2 vạn quan tiền. Sai quan thành Gia Định (tức Lê Văn Duyệt – tác giả ghi chú) đòi hỏi, Khi thành án, giao đình thần bàn xét, đáng tội chết, bèn đem giết, tịch thu gia sản đem trả lại binh dân. Vua dụ rằng: “Gia Định là nơi đất rộng dân nhiều. Hoàng khảo ta mưu tính, thành lập quân lữ, khôi phục dư đồ, cái nền móng xây dựng cơ nghiệp thực là ở đấy. Từ trước đến nay vẫn thận trọng lựa chọn những trọng thần công lao danh vọng sai trấn phủ cho muôn dân yên ổn. Không may có Hoàng Công Lý, lấy tư cách đê hèn, chứa chất thói tham bạo, vặn trái pháp luật, ăn lót kể đén muôn vàn, bắt người làm việc (riêng) mỗi lần đến mấy nghìn, mọt nước hại dân đến thế là cùng. Nghĩ đến người vô tội mà gặp nỗi độc hại này, dù của cải đền được nhưng nỗi khổ lâu ngày khó mà hồi được. Nay tội nhân như thế, pháp luật phải thi hành, để cho nhân dân uất ức một phương đều rõ cái ý trừ bạo an dân của triều đình. Công Lý khi làm Tả thống chế quân thị trung, ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà riêng ở trên bờ sông Hương, đến nay việc phát, hạ lệnh trị giá bán nhà ấy lấy tiền cho cấm binh. Rồi nhân đó dụ rằng, từ nay biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham tàn cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép đón xa giá mà tâu. Lại dụ rõ cho các đại thần võ ban nên lấy việc Lý làm răn…” (Đại Nam thực lục T2, sđd, trang tr 134) Trong nội dung bản Dụ Đình Thần, ngoài việc y án lệnh tử hình đối với Huỳnh Công Lý, nhà vua còn lệnh phát mãi tài sản của y để lấy tiền sung công quỹ nuôi quân. Nguyên văn bản Dụ được trích trong tập Ngự Chế Văn (Dụ Văn) (sđd trang 30) và được dịch giả Trần Văn Quyền dịch như sau: Lại Dụ đình thần Dụ Trước đây, khi phạm tội Hoàng Công Lý làm Thị trung Tả thống chế, đã không làm rõ được ý trẫm là yêu thương binh lính. Trái lại còn (lợi dụng) làm giàu cho mình, làm hại người khác, sai riêng cấm binh mở ba cửa hàng gạch ngói mưu lợi riêng. Tất cả gỗ đá gạch ngói đều cho chở về xây dựng, nhưng chưa bị phát giác. Đến khi y trở lại nhận chức Phó Tổng Trấn Gia Định, lòng tham lại càng quá đáng. Nay bị binh lính, dân chúng, thợ thuyền Gia Định tố giác. Quan Tổng Trấn ở đó đã tra xét rõ ràng và tấu trình. Trẫm nghĩ phạm nhân cũng là viên quan lớn ngoài biên nên giáng chỉ cho đình thần họp bàn định tội và phúc tấu. Nay đã trình lên và đều nói tội ác của Hoàng Công Lý chồng chất quá nhiều, xin chém theo luật cho mọi người biết và để răn sau này. Lời nghị tội thật xác đáng. Vậy ngoài việc y lệnh thi hành ra, việc xin sung công cửa hàng: nghĩ binh lính Thị trung là đời cấm quân, vốn vất vả với nhiều triều ta, ngày còn sống, Hoàng khảo ta rất ưu đãi họ, không ngờ gặp tên tham lam này mưu mô dùng nhiều thủ đoạn bóc lột, nay đã phát giác, nếu không trả lại công lao cho họ thì sao an ủi được tấm lòng của thị vệ của ta. Vậy hãy bán cửa hàng đó, được bao nhiêu giao cho Tả Dực Thống Chế Tôn Thất Dịch phân phát cho 5 vệ Tả Dực sao cho công bằng, để cho binh lính túc vệ của ta đều được ban ơn Từ nay về sau bất kể quân lính trong ngoài, gặp phải các viên biền tham lam ngược đãi như vậy mà vướng chỗ quyền thế không nói ra được thì cho phép tâu trình, trẫm sẽ tìm ra căn nguyên để trị tội kẻ tham nhũng. Hãy kính theo Dụ này. Ngày 14 tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 2. Vụ án trên đã được lưu truyền thành giai thoại: Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đích thân xử tử hình “cha vợ vua”, dù vua Minh Mạng có bao che, nhưng cũng chẳng làm gì được! Câu chuyện càng được công chúng đón nhận rộng rãi hơn qua những vở cải lương hay kịch bản sân khấu…! Với những dẫn chứng trong chính sử nói trên, ta thấy rằng vua Minh Mạng không hề có ý bao che trong vụ án Huỳnh Công Lý, cũng như Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đã không tự mình xử án “cha vợ” vua. Ở đây ta thấy đích thân nhà vua đã ký án tử hình kẻ phạm tội, chiếu theo phép nước “Quân pháp bất vị thân” . Về nghi vấn trong việc vua Minh Mạng xử tử cha vợ Lăng vua Minh Mạng. (Ảnh từ Wikipedia) Cho dù muốn đề cao vai trò quan trọng của Lê Văn Duyệt trong vụ án này thế nào đi nữa, cũng không thể nêu lên một trường hợp mà ông không tự làm. Là một Tổng Trấn Đại Thần, hơn ai hết ông biết rằng, thực hiện mọi việc phải đều theo phép nước. Một người mưu lược, tài năng như ông, lẽ nào làm một công việc độc đoán, vượt quá quyền hạn của mình…? Tôn Thất Thọ Đăng lại từ bài viết “Chuyện vua Minh Mạng xử tử cha vợ” Đăng trên TongPhuocHiep.com (Trang web của nhóm cựu học sinh trường trung học Tống Phước Hiệp – Vĩnh Long).
102 views ·
Sinh thời Đĩnh Chi là người thông minh tuyệt đỉnh, nhưng diện mạo lại rất xấu xí. Vì sự xấu xí đó mà suýt chút nữa con đường quan lộ của ông bị hủy hoại. Tuy vậy cũng nhờ thế mà trên thi đàn văn học Việt Nam có thêm một bài phú vô cùng đặc sắc và hậu thế cũng được biết thêm nhiều giai thoại thú vị về ông. Theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Đông (nay là tỉnh Hải Dương). Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, Mạc Đĩnh Chi thi đỗ trạng nguyên. - Một bài phú cứu nguy cho cả con đường quan lộ Truyện kể rằng sau khi đỗ Trạng nguyên, Mạc Đĩnh Chi có vào yết kiến triều đình, tuy nhiên Hoàng đế Trần Anh Tông thấy dung mạo ông xấu xí quá, nên không muốn trọng dụng. Để thể hiện phẩm đức và chí hướng của mình, Mạc Đĩnh Chi bèn khảng khái cảm tác bài phú “Ngọc tỉnh liên” (Hoa sen trong giếng ngọc) mà dâng lên Hoàng thượng. Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không loài hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này còn được trồng trong giếng ngọc nữa thì lại càng cao quý biết bao. Đĩnh Chi coi mình giống như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi lại ở vào một thời thế tốt đẹp, nếu vua là đấng thánh minh thì những người như ông càng thêm cao quý và được trọng vọng biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành thì mới biết thưởng thức. Dưới đây là bài phú “Ngọc tỉnh liên” – Hoa sen trong giếng ngọc, dịch ra văn Nôm: “Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả, lời dòng nước biếc, vịnh khúc phù dung; đến bến ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng mũ vàng, phất phơ điệu cốt xương tiên, hớn hở tinh thần khác tục. Khách hỏi: từ đâu mà lại? Thưa rằng: từ núi Hoa san. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vã, này dưa ngon quả quý bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời. Chuyện xong, mới hỏi khách rằng: khách đây quân tử ái liên chăng là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng gìn giữ nâng niu hoa vàng. Nọ đào lý bỉ thô còn kém, kể trúc mai đơn lạnh còn xa; nào phải giống tăng phòng câu kỷ, nào phải phường lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa giếng vàng sinh ra. Khách nghe nói: khen thay quý lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật, xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua đạo sĩ vui lòng, hoa trong tay áo giữ liền tặng đưa. Khách trông thấy trong lòng hồi hộp, bút ngũ lăng tay thảo nên ca. Ca rằng: Thủy tinh làm mái cung đình, Lưu ly lạc để nên hình cung môn, Pha lê nát nhỏ làm bùn, Minh châu làm nóc trên cành tưới cây. Hương thơm bay thấu từng mây, Bích thiên âu cũng mê say tấc lòng. Quế xanh khóc vụng tủi thầm, Tố Nga luống những mười phần giận thân. Cỏ dao hái chốn Phương tân, Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dãi dầu. Giữa dòng lơ lửng vì đâu? Non sông đất cũ cớ sao chẳng về? Đành nơi lưu lạc quản gì, Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân. Một lòng trung chính nghĩa nhân. Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương! Chỉn e lạt phấn phai hương, Tháng ngày thắm thoát, mỹ nhân ai hoài. Nghe xong, đạo sĩ than rằng: nói chi ai oán thiết tha! Kìa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng, hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên thánh chúa, mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe nói như tình như cảm, đem lòng riêng kính mộ xiết bao. Khúc trai đình tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc ngâm nga. Nỗi lòng xin giải gần xa, kính dâng một phú hải hà xét xoi”. Bài phú của Mạc Đĩnh Chi vừa được đọc lên xong, Vua Trần Anh Tông đã vỗ đùi, hết lời khen ngợi, sau đó lập tức phong cho Mạc Đĩnh Chi danh vị “Thái học sinh dũng thủ”, lại sung cho ông thêm chức: “Nội thư gia”. Đến thời vua Trần Minh Tông, Mạc Đĩnh Chi càng được triều đình tin dùng và hậu đãi. - Mang chuông đi đánh xứ người Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi: Năm 1308, Sứ thần nhà Nguyên là Thượng thư An Lỗ Khôi sang báo tin Vũ Tông lên ngôi. Vua Trần bèn sai Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên triều kiến và chúc mừng. Thời điểm ấy, việc Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên được dự báo là “đầy nguy hiểm”, bởi người phương Bắc vẫn chưa quên nỗi đau thất bại trong ba cuộc xâm lược trước đây. Mạc Đĩnh Chi sang Nguyên ban đầu rất bị khinh thường vì vẻ ngoài thấp bé, xấu xí. Ở buổi tiếp kiến đầu tiên tại kinh đô Yên Kinh, vua Nguyên ra câu đối thử tài Mạc Đĩnh Chi: “Nhật hỏa vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố” Tạm dịch là: “Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy mặt trăng”. Ý nói nhà Nguyên lớn mạnh, luôn dễ dàng tiêu diệt các tiểu quốc như Đại Việt. Mạc Đĩnh Chi liền ứng đối lại: “Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô” Tạm dịch là: “Mặt trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng mặt trời”. Ý nói rằng nước nhỏ cũng có thể đánh bại quân đội nước lớn khi thời cơ đến. Vua Nguyên nghe xong tức lắm, nhưng cũng phải khen Mạc Đĩnh Chi đối hay, đối chuẩn. Một hôm khác, viên Tể tướng nhà Nguyên mời ông vào phủ dự tiệc trà. Lúc ấy đương hồi tháng 5, tháng 6. Trong phủ có bức trướng mỏng thêu hình con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc. Đĩnh Chi giả vờ ngỡ đây là con chim sẻ thực, vội chạy đến xem. Người Nguyên cười ồ, cho là người phương xa thô lậu. Thấy vậy, Đĩnh Chi kéo bức trướng xuống xé đi. Mọi người đều lấy làm lạ hỏi tại sao. Đĩnh Chi trả lời: “Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay trong bức trướng của Tể tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Tể tướng thêu như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân vậy”. Nghe xong, mọi người đều hết lòng phục tài Đĩnh Chi và không ai còn dám cười ông nữa. - Trở thành Lưỡng quốc Trạng Nguyên nhờ tinh ý, lẹ mắt Thời gian Mạc Đĩnh Chi đi sứ, trong một buổi chầu có người nước ngoài dâng hai cây quạt quý lên tặng vua Nguyên. Nhân có cả sứ thần Cao Ly ở đó, vua Nguyên bèn mời Mạc Đĩnh Chi và sứ thần Cao Ly cùng làm thơ vịnh đề lên quạt. Lúc này Mạc Đĩnh Chi rất bất ngờ, do không chuẩn bị trước nên có phần “bí” ý. Ông quay sang bên sứ thần Cao Ly, nhìn vào thế bút viết của sứ thần nước bạn mà đoán được ra ông này đang viết: “Uẩn long trùng trùng, Y Doãn, Chu Công; Vũ tuyết thê thê, Bá Di, Thúc Tề” Tạm dịch: Nắng nôi oi ả người tựa Y Doãn, Chu Công (Y Doãn một tướng giỏi đời nhà Thương, Chu Công, một người hiền ở đời nhà Chu). Rét mướt căm căm ngươi là Bá Di, Thúc Tề (Bá Di, Thúc Tề: hai người con của vua Trụ, Vũ Vương diệt nhà Ân lập nhà Chu. Hai anh em ở ẩn trên núi, cuối cùng chết đói). Mạc Đĩnh Chi có ý tưởng rồi, bèn lập tức viết: “Lưu Kim thước thạch thiên địa vi lô, nhĩ ư tư thời hề Y Chu cự nho; Bắc phong kỳ thê vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di Tề ngã phu; Y, dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thi phù” Tạm dịch là: “Chảy vàng tan đá, trời đất như lò, ngươi bấy giờ là Y Chu đại nho; Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo; Ôi, được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi như thế ru!” Xét về ý tứ, bài vịnh của Mạc Đĩnh Chi cũng có ý tương tự bài vịnh của sứ Cao Ly nhưng lại “đắt” hơn ở việc trích dẫn được một câu trong sách Luận ngữ, có nghĩa: “Ai dùng ta thì ta làm, ai không dùng ta thì ta để đó. Điều ấy chỉ người với ta mới có được thôi”. Cảm phục trước văn tài của Mạc Đĩnh Chi, vua Nguyên bèn phê lên chiếc quạt mà Đĩnh Chi vừa đề thơ vịnh bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”, rồi ban tặng cho ông. - Một tấm gương thanh liêm chính trực, từng làm rể trên đất Cao Ly Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi lại: Đĩnh Chi là người liêm khiết, sống rất đạm bạc. Vua rất hiểu ông, sai người ban đêm đem 10 quan tiền bỏ vào nhà ông. Hôm sau, Đĩnh Chi vào chầu, tâu vua hay chuyện đó. Vua bảo: “Không ai đến nhận, cho khanh lấy mà tiêu”. Thời vua Hiến Tông, Mạc Đĩnh Chi làm quan đến chức “Nhập nội hành khiển Hữu ty lang trung”, rồi sau lại được thăng lên chức “Tả ty lang trung”. Trong thời gian ở Yên Kinh – nước Nguyên, ông có kết thân với sứ thần Cao Ly. Mến mộ tài năng của Mạc Đĩnh Chi, vị sứ thần này mời ông sang Cao Ly chơi và gả người cháu gái xinh đẹp của mình cho ông. Người thiếp này có sinh hạ một con gái, một con trai với Mạc Đĩnh Chi. Sau này hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi ở lại Cao Ly và lập ra một dòng tộc tại đó. Trong tờ An Nam tạp chí, số 4 năm 1926 từng đăng bài của học giả Lê Khắc Hòe với tiêu đề: “Người Triều Tiên đi bán sâm là hậu duệ của Mạc Đĩnh Chi”. - Hậu duệ xưng đế, lời tiên tri ứng nghiệm Tương truyền sau khi Mạc Đĩnh Chi ứng đối với hình ảnh: “bắn rụng mặt trời” trước bá quan văn võ nhà Nguyên trong lần tiếp kiến đầu tiên tại kinh đô Yên Kinh, có người đã tiên đoán: “Hậu duệ của người này sau ắt sẽ tự lập làm vua”. Quả đúng như vậy, sau này cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Đăng Dung đã lật đổ vua Lê để lập ra nhà Mạc. Trong “Đại Việt Sử ký Toàn thư” có viết: “Đăng Dung là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (tức là xã Long Động, huyện Chí Linh), tiên tổ Đăng Dung là Mạc Đĩnh Chi, Trạng nguyên triều Trần, làm quan đến chức Tả bộc xạ. Đĩnh Chi sinh ra Cao, Cao sinh ra Thúy, Thúy sinh ra Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà rồi sinh ra Bình, Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Hịch, Hịch lấy con gái trưởng của Đặng Xuân người cùng xã, sinh được ba con trai, con trưởng là Đăng Dung”. Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế. Nhà Mạc tồn tại trong 150 năm, trải qua 4 đời vua. Lời bàn: Thói thường kẻ có tài mà không được trọng dụng thì dễ sinh ra bất mãn, Mạc Đĩnh Chi thân là đệ nhất Trạng Nguyên mà ngay trong buổi đầu vào yết kiến Quân vương đã bị triều đình tỏ ý không dùng rồi! Tuy vậy ông vẫn “dĩ lý phục nhân” – lấy đạo lý mà thu phục lòng người, lại khéo vận dụng trí huệ và lễ tiết để bày tỏ phẩm đức cao quý của mình trước vua Trần Anh Tông, đó chính là biểu hiện của bậc thượng sỹ: bao dung, lễ độ, khiêm nhường, nhất tâm thuần Thiện, ông quả như “sen trong giếng ngọc” vậy! Đĩnh Chi đi sứ nào đâu có gặp thời, bởi trước đó Đại Việt từng: ba lần đánh tan quân Nguyên, thiết nghĩ chẳng cần bàn thêm cũng đủ nhận ra ông ta mang trên vai gánh nặng ngàn cân mà sinh mệnh thì như đang treo trên sợi tóc! Vậy mà bao nhiêu lần triều thần nhà Nguyên thử thách là bấy nhiêu lần Mạc Đĩnh Chi từ tốn vượt qua. Dân gian vẫn thường ví von: “Vàng thì thử lửa thử than, chuông hay thử tiếng, người ngoan thử lời” Đĩnh Chi kia khác nào kẻ “Mang chuông đi đánh xứ người”, mấy chuyện kiểu như: “vàng thử lửa, chuông thử tiếng, người thử lời” ấy, ông đều kinh qua cả mà chẳng chút bận lòng, không những thế, tài đại sứ bang giao của Mạc Đĩnh Chi còn để lại giai thoại và tiếng thơm cho muôn đời sau, đây chính là biểu hiện của bậc đại trí, đại Nhẫn. Đĩnh Chi làm quan lớn chỉ xếp sau hàng Tể tướng, Công hầu mà vẫn một đời thanh liêm đạm bạc, thấy vàng rơi trước cửa nhà mình còn tới bẩm tấu đức Quân vương thì nào đâu có cái chuyện lợi dụng chức quyền mà mưu đoạt của dân, tham ô tham nhũng. Than ôi, hay cho câu: “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà”! Hỏi ai khôn ngoan như Mạc Đĩnh Chi? Hỏi ai thật thà như Mạc Đĩnh Chi? ông chính là gương sáng thuần Chân vậy. Ôn chuyện cũ, ngẫm thời mới: Nếu những đấng quản dân ai ai cũng được vài phần như Mạc Đĩnh Chi thì lo gì giang sơn không cường thịnh, xã tắc chẳng vững bền, các nước lân bang cũng bội phần vị nể. Có hay không vậy? #CauChuyenLichSu
4.55k views ·