Bài viết hay và chính xác , thế mới thấy hiếp pháp nước đông lào chỉ phục vụ mục đích của đảng chứ ko phải là tiếng nói toàn dân , gì cũng nói dân dân bầu ra quốc hội nhưng lại là đảng chỉ định, có mấy người trong quốc hội là ko phải đảng viên , đúng là cquyen xàm xí và láo toét

ĐỐT CỜ MỸ KHÔNG BỊ PHẠT VÌ MỸ LÀ MỘT QUỐC GIA TỰ DO. Bởi Thesaigonpost CHỈ CÓ CÁC QUỐC GIA THẬT SỰ TỰ DO MỚI CÓ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN THÔNG QUA VIỆC XÚC PHẠM MỘT LÁ CỜ. Đối với người Mỹ, quốc kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần. Quốc kỳ Hoa Kỳ trở thành biểu tượng của tự do, lá cờ đã nói lên sự hy sinh của biết bao thế hệ để giành lấy nền độc lập. Lá cờ đầu tiên của Hoa Kỳ gồm có 13 ngôi sao và 13 sọc tượng trưng cho 13 tiểu bang thuộc địa thời bấy giờ. Quốc kỳ Hoa Kỳ có hai phần. Một phần nhỏ ở góc trái trên cùng có hình ảnh của 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai. Ý nghĩa của ba màu xanh, trắng, đỏ trên lá cờ Hoa Kỳ vẫn không thay đổi cho đến hiện nay. Màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và nhiệt huyết, màu trắng nói lên niềm hy vọng trong sáng, nét tinh khiết của cuộc sống và tinh thần kỷ luật, trong khi màu xanh là hiện thân của màu sắc thiên đàng, biểu tượng của Thượng đế, lòng trung thành, niềm chân thành, công lý, và chân lý. Ngôi sao, theo như biểu tượng xa xưa trong văn hóa Ấn Ðộ, Ba Tư, và Ai Cập, tượng trưng cho chủ quyền. Trên lá cờ Hoa Kỳ, mỗi một ngôi sao tượng trưng cho chủ quyền của một tiểu bang, do đó ngày nay lá cờ Mỹ gồm có 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang, trong khi số sọc trên lá cờ vẫn được giữ ở con số 13, tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên của ngày lập quốc. Lễ chào cờ có ý nghĩa quan trọng cho mỗi công dân Hoa Kỳ vì nó nói lên lòng trung thành với tổ quốc. Có một chuyện xảy ra vào năm 1984 ở tiểu bang Texas ở miền Nam nước Mỹ. Một nam thanh niên tên là Gregory Lee “Joey” Johnson, thành viên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Cách mạng, một tổ chức của Đảng Cộng sản Cách mạng Mỹ, đốt cờ Mỹ bên ngoài khu vực tổ chức đại hội của đảng Cộng hoà. Hành động của Johnson nằm trong một cuộc biểu tình phản đối các chính sách của đương kim Tổng thống Ronald Reagan. Không ai bị thương nhưng nhiều nhân chứng nói rằng họ cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Johnson sau đó bị bắt và bị toà án bang Taxas xử một năm tù giam cùng với một khoản tiền phạt 2.000 USD. Vụ án sau đó lần lượt được cả hai bên kháng cáo lên đến tận Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tại toà, luật sư của Johnson lập luận rằng, việc đốt cờ là một hành vi ngôn luận có tính biểu tượng (symbolic speech) vốn được xem như là cách Johnson biểu đạt quan điểm chính trị của mình và do đó hành vi ngôn luận này phải được bảo vệ bởi Tu chính án thứ Nhất của Hiến pháp Mỹ. Bên cạnh đó, lá cờ bị đốt thuộc sở hữu của Johnson, anh ta có quyền dùng nó để biểu đạt quan điểm của mình bằng bất cứ cách nào, kể cả đốt. Chừng nào hành vi đốt cờ này không xâm phạm đến quyền lợi hay tài sản của người khác thì nó không thể bị coi là bất hợp pháp. Một chi tiết thú vị nữa là, phe Johnson cho rằng bản thân việc đốt cờ không những không xúc phạm lá cờ Mỹ, mà còn tôn vinh giá trị tự do mà lá cờ đó đại diện. Nếu đốt cờ mà không bị trừng phạt có nghĩa là lá cờ đó thực sự đại diện cho những giá trị tự do mà người Mỹ thường rao giảng. Kết quả, Johnson thắng khi năm trong số chín thẩm phán của Tối cao Pháp viện cho rằng luật cấm đốt cờ của tiểu bang Texas là vi phạm Hiến pháp Mỹ. Phán quyết ghi rõ quan điểm của phe đa số của Tối cao Pháp viện như sau: “Chính quyền không được cấm đoán việc bày tỏ quan điểm bằng lời nói hay không bằng lời nói chỉ vì xã hội cảm thấy bị xúc phạm và không thể chấp nhận được quan điểm đó, ngay cả khi việc này liên quan đến lá cờ của chúng ta”. Điều đó có nghĩa là, cho dù xã hội có cảm thấy bị xúc phạm đi chăng nữa thì hành vi đốt cờ cũng phải được coi làm một phần của quyền tự do ngôn luận. Các án lệ của Mỹ quy định rằng, để cấm đoán một hành vi ngôn luận nào đó thì hành vi đó phải có khả năng kích động bạo lực và gây tổn hại cho người khác, ví dụ hô “cháy” giữa một rạp hát đông người mặc dù không có đám cháy nào cả. Án lệ Texas v. Johnson cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Các bang ở Mỹ về sau đã bãi bỏ luật cấm xúc phạm quốc kỳ. Đồ lót cách điệu quốc kỳ Mỹ cũng được bày bán công khai trên trang thương mại điện tử lớn nhất thế giới Amazon. Trong khi đó ở Việt Nam điều 25 hiến pháp CHXHCNVN đã cho phép người dân có quyền tự do ngôn luận. Nhưng theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì: Người nào cố ý xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Điều luật này rõ ràng là vi hiến. Do Việt Nam không có một cơ quan bảo hiến nên điều luật này vẫn ngang nhiên tồn tại như một sự phỉ nhổ vào tính logic của những người làm luật Việt Nam. Nó tố cáo là "quốc hội" chỉ là một phường ăn hại, chẳng có một chút tư duy hợp lý khi luật cơ bản dành cho người dân(hiến pháp) lại đá nhau chan chát với luật do 96% đảng viên tạo ra. Trong khi một quốc gia dân tộc chỉ có một lá quốc kỳ mà thôi. Bởi cờ nước mang tính biểu tượng liên tục cho một quốc gia từ thời lập quốc theo sự biến thiên của lịch sử chứ không hề đại diện cho một triều đại. Nói rằng lá cờ đỏ sao vàng là "quốc kỳ" là một điều phi lý vì chế độ cộng sản mới chỉ có 73 năm trong khi nước Việt đã tồn tại hơn 2000 năm. Chính do nhận thức được điều này nên các nước như Nga, Đức và Bungari sau khi thoát họa cộng sản đều lấy lá cờ của chính thể trước đó làm quốc kỳ và bỏ biểu tượng do các đảng cộng sản nặn ra vào thùng rác. Quốc kỳ của Việt Nam chỉ có một. Đó chính là lá cờ do Quốc gia Việt Nam lấy làm biểu tượng và được hơn 90 nước dân chủ trên thế giới công nhận. Lá cờ đỏ sao vàng thật ra chỉ là đảng kỳ. Vì nó chỉ là lá cờ đại diện cho 4 triệu đảng viên. Bởi lẻ lá cờ này chưa hề được thông qua bởi một quốc hội đa đảng nên chỉ là ý chí của một đảng cầm quyền duy nhất được áp đặt lên dân tộc Việt Nam. Do vậy việc xịt sơn lên đảng kỳ của Huỳnh Thục Vy chỉ là một quyền tự do ngôn luận. Bất cứ người dân nào cũng có quyền xúc phạm lá cờ do một đảng chính trị tạo ra, bởi lẻ đảng phái chỉ là nhất thời dân tộc mới mãi mãi trường tồn. Việc làm của Huỳnh Thục Vy được điều 25 hiến pháp CHXHCNVN cho phép. Nhưng tiếc là Việt Nam chứ không phải Mỹ và do tư duy logic kém nên đã có đến 30 con khỉ khoác áo công an cho xe cày nát sân nhà của một phụ nữ nuôi con 22 tháng tuổi để làm một việc được gọi là : vi hiến. Nhưng suy cho cùng xứ rừng Việt Nam làm gì có hiến mà vi ? Dương Hoài Linh

11Upvotes
1Remind

More from tom8210

những người ở vn bị chính quyền tra tấn hay đàn áp hay người thân bị giết bởi chính quyền có thể tham khảo điều luận này thử , kiện tụi nó khi tụi nó qua Mỹ thăm con cái, hay du lịch hay định cư sau khi đã không còn tại nhiệm ( kiện là phải có nhân chứng, vật chứng này nọ đàng hoàng nha, cphu mỹ ko quan tâm có bao nhiêu ng ký tên ủng hộ , chỉ cần nhân, vật chứng) ,chính phủ Mỹ sẽ làm chủ cho bạn và gia đình ban , du bạn ko là quốc tịch Mỹ đi chăng nữa

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHỞI KIỆN QUAN CHỨC VIỆT NAM Ở MỸ. Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Năm 1999, khi đang viết khóa luận cao học luật tại Mỹ, giữa nhiều đề tài luật pháp lý thú, tôi lựa chọn nghiên cứu một đạo luật ít nhiều có thể giúp các nạn nhân Việt Nam bị nhà nước cộng sản vi phạm nhân quyền đòi công lý ở nước ngoài, đặc biệt là tại Mỹ. Đó là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài (Alien Tort Statute (28 U.S.C. § 1350), sau đây gọi tắt là “Luật ATS”). Khóa luận đó dài hơn 30 trang, nghiên cứu mọi khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của Luật ATS cùng án lệ được các tòa án Hoa Kỳ phát triển trên cơ sở luật này trong thế kỷ 20, kể từ án lệ Filartiga năm 1980 như sẽ trình bày dưới đây. Bản khóa luận, tiếc thay, đã mất vì nhân viên an ninh tịch thu năm 2009 khi tôi bị bắt giam và khám nhà. Sau năm 1999, đường hướng án lệ Mỹ về Luật ATS đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới mẻ, cũng như có nhiều vấn đề pháp lý mới phát sinh kể từ đầu thế kỷ 21. Do đó, gần đây, trước tình hình vi phạm nhân quyền ngày càng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng tra tấn và giết người phi pháp tại các đồn công an gia tăng trên khắp cả nước, tôi đã nghiên cứu lại Luật ATS và cập nhật thêm sự phát triển mới của các án lệ có liên quan. Tôi cũng thêm xác quyết rằng đây là công cụ pháp lý hữu hiệu giúp nạn nhân bị vi phạm nhân quyền đòi lại công lý cho mình và thân nhân. Bài viết này chỉ giới thiệu một cách vắn tắt nhất những khái niệm và vấn đề liên quan đến Luật ATS, hầu giúp những ai quan tâm có thể chuẩn bị một vụ kiện như vậy cho mình trong tương lai khi có cơ hội. Đạo luật cổ mang tinh thần mới Luật ATS là một luật liên bang được Quốc hội đầu tiên của Hoa Kỳ thông qua lần đầu vào năm 1789 và được Tổng thống George Washington ký ban hành thành luật, nhằm trao cho các tòa án liên bang Mỹ quyền xét xử những vụ kiện mà nguyên đơn là người không mang quốc tịch Mỹ đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của bất kỳ ai.[1] Nước Mỹ khi đó muốn chứng minh trước cộng đồng thế giới rằng tuy là một quốc gia mới xuất hiện nhưng họ là một nước trọng pháp trên phạm vi toàn cầu. Thế kỷ 18, lúc Luật ATS được ban hành, là giai đoạn sơ khai của luật quốc tế vốn chủ yếu quy định quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và chỉ đặt ngoài vòng pháp luật các tội phạm quốc tế như cướp biển mà thôi.[2] Tuy nhiên, luật quốc tế trong thế kỷ 20 và 21 đã hoàn toàn khác, phạm vi áp dụng của nó đã được mở rộng bao gồm cả việc bảo vệ nhân quyền.[3] Trong 70 năm kể từ ngày ký Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền vào năm 1948 đến nay, nhân quyền toàn cầu đã chuyển từ một ý niệm mang tính khích lệ thành một thực tiễn pháp lý. Quá trình phát triển đột phá này đã khiến cho Luật ATS trở nên quan trọng hơn vào cuối thế kỷ 20. Theo đó, những người sống sót sau những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng hoặc thân nhân của nạn nhân đã chết đều có quyền khởi kiện thủ phạm ra trước tòa án Mỹ. Từ năm 1980, Luật ATS đã được áp dụng thành công trong các vụ kiện có liên quan đến bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước, các vụ tra tấn hoặc giết người phi pháp, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh và giam giữ tùy tiện.[4] Bên cạnh Luật ATS còn có Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân bị Tra tấn (Torture Victim Protection Act), được thông qua vào năm 1991 và đã được Tổng thống George H. Will Bush ký ban hành thành luật vào năm 1992, trao các quyền tương tự cho công dân Hoa Kỳ và cả người ngoại quốc trong việc khởi kiện đòi bồi thường đối với các hành vi tra tấn và giết người phi pháp diễn ra ở nước ngoài.[5] Án lệ theo Luật ATS Án lệ Filartiga Vụ án đầu tiên được khởi kiện theo Luật ATS là vụ Filartiga v. Peña-Irala. Năm 1976, cha của một thanh niên từng bị tra tấn đến chết trong đồn cảnh sát ở Paraguay đã trông thấy một trong những kẻ tra tấn con trai ông đang đi bộ trên đường phố ở Manhattan, New York.[6] Người cha đã báo cảnh sát Mỹ bắt giữ tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay đó. Sau đó, người cha và em gái của nạn nhân liền khởi kiện anh ta theo Luật ATS. Năm 1980, một tòa án liên bang ở New York đã tuyên chấp thuận yêu cầu đòi bồi thường hàng triệu USD của họ, từ đó mở ra cơ hội cho những yêu cầu đòi bồi thường tương tự.[7] Kể từ án lệ Filartiga, hàng loạt các vụ kiện theo Luật ATS đã được khởi động chống lại các cá nhân thủ phạm bị phát hiện có mặt ở Hoa Kỳ. Mọi vụ kiện như vậy đều được tòa án Mỹ xét xử vì những người sống sót sau các vụ vi phạm nhân quyền và thân nhân của nạn nhân đã chết thường không còn cách nào đòi lại công lý ở chính quê hương mình. Tiêu chuẩn Sosa: Quan điểm của Tòa án Tối cao Đường hướng của án lệ Hoa Kỳ kể từ vụ Filartiga đã được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xác nhận. Trong phán quyết năm 2004 đối với vụ Sosa v Alvarez-Machain, Tòa tuyên rằng Luật ATS trao cho tòa án liên bang thẩm quyền đối với các đơn kiện dựa trên các tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế. Nói cách khác, Tòa án Tối cao đã bật đèn xanh cho việc sử dụng Luật ATS như một công cụ yêu cầu bồi thường đối với các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.[8] Trách nhiệm cá nhân đối với các vi phạm nhân quyền Tại các quốc gia thường xuyên có xung đột vũ trang hoặc bị cai trị bởi các chế độ độc tài toàn trị, việc miễn trách nhiệm đối với vi phạm nhân quyền hàng ngày có thể nói là một bất hạnh đối với người dân thấp cổ bé họng. Hệ thống tư pháp ở những nơi đó luôn thỏa hiệp hoặc bị giới cầm quyền tác động nhằm ngăn cản khởi tố hình sự những hành vi phạm tội như vậy, bởi trong hầu hết các trường hợp, thủ phạm vẫn đang đương chức. Một yếu tố khác có thể ngăn cản nạn nhân và thân nhân họ đòi bồi thường là thủ phạm có thể đã cao chạy xa bay khỏi đất nước đó. Hàng ngàn kẻ vi phạm nhân quyền như thế đã và đang trú ẩn an toàn tại Hoa Kỳ. Đối với những người tị nạn và người sống sót đang cố gắng xây dựng lại cuộc sống của mình tại Hoa Kỳ, họ có thể bị tổn thương sâu sắc khi tiếp tục nhìn thấy thủ phạm đang sống mà không bị trừng phạt. Do đó, Luật ATS cung cấp một công cụ vạch trần những kẻ vi phạm nhân quyền và không cho chúng sống an nhàn sau bao tội ác gây ra. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hành vi đồng lõa Bắt đầu vào giữa những năm 1990, một loạt các vụ kiện mới theo Luật ATS đã diễn ra nhằm mục đích buộc các tập đoàn đa quốc gia chịu trách nhiệm về hành vi đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền.[9] Mặc dù một bộ phận trong cộng đồng doanh nghiệp đã phản đối dữ dội và do đó dấy lên các chỉ trích nảy lửa về việc áp dụng Luật ATS, nhưng những nỗ lực để bãi bỏ hoặc làm suy yếu đạo luật này đã thất bại. Kể từ năm 2009, hai vụ kiện về trách nhiệm doanh nghiệp, Doe v. Unocal và Wiwa v. Shell, đã đóng vai trò quan trọng trong hệ thống án lệ, dẫn đến các thỏa thuận bồi thường khổng lồ cho những người sống sót và cộng đồng của họ.[10] Khởi kiện để làm gì? Cần lưu ý, các vụ kiện theo Luật ATS không tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự.[11] Do đó, bị đơn không nhất thiết phải bị giam cầm, trừ trường hợp cảnh sát hoặc tòa án phát hiện bị đơn đã thực hiện các hành vi khác vi phạm luật pháp Hoa Kỳ. Chẳng hạn, trong vụ Filartiga, tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay bị bắt giữ vì visa nhập cảnh Mỹ quá hạn. Tố quyền theo Luật ATS được thực hiện nhằm mục đích khởi động các vụ kiện dân sự mà kết quả là một phán quyết buộc bồi thường thiệt hại bằng tiền cho nguyên đơn.[12] Tuy nhiên, những vụ kiện này luôn thể hiện tầm quan trọng vì nhiều lý do khác, như nêu dưới đây, chứ không đơn thuần vì khoản tiền bồi thường mà nguyên đơn đạt được. Sự thật lên tiếng Những vụ kiện này mang đến cho các nguyên đơn cơ hội kể câu chuyện của mình và câu chuyện của nạn nhân đã khuất trong các vụ vi phạm nhân quyền. Sự thật có dịp lên tiếng để toàn thế giới thấy rõ bộ mặt phi nhân của các chế độ độc tài. Chấm dứt bất công Nhiều người sống sót và thân nhân của nạn nhân đã chết muốn đòi lại công lý và không cho phép thủ phạm sống an nhiên không bị trừng phạt như ở quê nhà của họ. Do đó, các vụ kiện này có thể được sử dụng như phương tiện trừng phạt và vạch trần hành vi của kẻ thủ ác trước một tòa án và đưa ra các bằng chứng về hành vi vi phạm trong quá khứ vào hồ sơ lưu trữ công khai. Hơn nữa, một số vụ kiện theo Luật ATS còn khiến thủ phạm bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Đồng thời, sau khi bị trục xuất, bằng chứng tại phiên tòa có thể được dùng để truy theo kẻ thủ ác đến tận quê nhà của chúng trong tương lai nhằm hỗ trợ thủ tục truy tố và xét xử hình sự. Từ chối nơi trú ẩn an toàn Các vụ kiện theo Luật ATS gửi một thông điệp mạnh mẽ đến các viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, rằng không ai có quyền đứng trên pháp luật, bất kể đó là luật pháp nước của họ. Họ phải hiểu rằng Hoa Kỳ không bao giờ cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ vi phạm nhân quyền trên toàn thế giới. Điều kiện để khởi kiện Bị đơn hay thủ phạm phải hiện diện tại Hoa Kỳ Để khởi kiện một cá nhân viên chức chính quyền nước ngoài và buộc cá nhân đó phải chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp về các vi phạm nhân quyền, cá nhân đó phải có thể đích thân tham gia vào vụ kiện lúc đang có mặt ở Hoa Kỳ. Nói cách khác, thủ phạm phải sống hoặc đang đến thăm Hoa Kỳ.[13] Viên chức vi phạm nhân quyền trong khi thi hành công vụ Để có thể khởi kiện theo Luật ATS, các vi phạm phải do viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, thực hiện trong khi thi hành công vụ hay đang thực thi chức trách công quyền của họ.[14] Bị đơn doanh nghiệp Có thể kiện các doanh nghiệp đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền, miễn doanh nghiệp đó có địa chỉ liên lạc ở Hoa Kỳ và đã hành động hoặc phối hợp với một cơ quan nhà nước hoặc viên chức chính quyền có liên quan đến các vi phạm.[15] Nguyên thủ quốc gia và viên chức ngoại giao Theo luật pháp Hoa Kỳ, các nguyên thủ quốc gia đương nhiệm (bao gồm vua, tổng thống và thủ tướng), bộ trưởng ngoại giao hoặc viên chức chính quyền khác có thể yêu cầu hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và, do đó, trong nhiều trường hợp không phải chịu trách nhiệm tham gia các vụ kiện về vi phạm nhân quyền theo Luật ATS. [16] Tuy nhiên, một khi họ thôi chức, các nguyên thủ quốc gia và viên chức chính quyền khác sẽ trở thành đối tượng của các vụ kiện dân sự ngay cả đối với những vi phạm nhân quyền mà họ đã thực hiện trong khi đang tại chức.[17] Hành vi có thể bị kiện bao gồm tra tấn, giết người và vi phạm nhân quyền khác Theo Luật ATS, hành vi có thể bị kiện là mọi vi phạm nhân quyền. Điều thú vị ở đây là tố quyền theo Luật ATS cho phép người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện rộng rãi hơn một công dân Hoa Kỳ. Theo Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Tra tấn (TVPA), công dân Hoa Kỳ chỉ có thể khởi kiện hai loại vi phạm là tra tấn và giết người phi pháp thực hiện ở Mỹ hoặc ở nước ngoài.[18] Trong khi đó, người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện theo Luật ATS đối với các hành vi vi phạm thuộc phạm vi rộng hơn, bao gồm tra tấn; giết người phi pháp; bắt cóc hoặc giam giữ bí mật; tội ác chống nhân loại; đối xử tàn bạo, phi nhân hoặc hạ nhục; giam giữ tùy tiện kéo dài; diệt chủng; tội ác chiến tranh; nô lệ; và bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước.[19] — Người Việt đang sống trong một xã hội mà quyền làm người không được tôn trọng và thậm chí bị nhà cầm quyền vi phạm. Thân thể và tự do của con người có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền muốn. Môi trường sống bị đe dọa bởi các doanh nghiệp chỉ biết kiếm tiền bất chấp quyền được sinh sống một cách lành mạnh của dân cư xung quanh, do nhận được sự bảo trợ và tiếp tay từ các quan chức chính quyền hoặc, nghiêm trọng hơn, từ chính bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, khi quyền làm người bị xâm phạm, người Việt có thể đòi công lý ở các tòa án tại nước mình hay không? Câu trả lời đáng buồn là không. Nguyên nhân là vì hệ thống tư pháp quốc gia bị đảng cầm quyền thao túng, khiến nó không thể mang đến công lý cho đại đa số người Việt Nam một cách độc lập và sáng suốt. Nó được thiết lập để phục dịch công lý cho đảng cầm quyền, chứ không nhằm xiển dương công lý cho toàn xã hội. Đó là lý do vì sao cần đi tìm công lý ở nơi khác và bằng một công cụ pháp lý hữu hiệu. Với mục tiêu như vậy, bài viết này đã cố gắng giới thiệu sơ lược cho mọi người một công cụ pháp lý bảo vệ nhân quyền đáng tin cậy trước tòa án Mỹ, mà tôi tin chắc có thể giúp những ai không phải là công dân Mỹ chạm được vào cánh cửa công đường của vị Bao Công hiện đại, giữa tình cảnh cánh cửa công lý chật hẹp trên quê hương Việt Nam đã khép chặt từ lâu. Công cụ đó chính là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài như được giới thiệu ở trên. Tài liệu tham khảo: [1] [19] Xem “The Alien Tort Statute Introduction” [2] [3] [8] [17] Xem Anthony J. Bellia Jr và Bradford R. Clark, “The Alien Tort Statute and the Law of Nations” (2011), The University of Chicago Law Review, Volume 78, Issue 2. [4] [11] [12] [13] [14] Xem “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”. [5] [6] [10] [16] [18] Xem Beth Stephens, “The Curious History of the Alien Tort Statute” (2014), Notre Dame Law Review, Volume 89, Issue 4. [7] [9] Xem “A Split On Companies’ Liability For Human Rights Crimes”. [15] Xem “Supreme Court Widens Scope Of Case On Corporate Accountability For Human Rights”, và “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”.

208 views ·
Thâm thuý😹😹😹

Chỉ được cái nói đúng

269 views ·

**Bổ sung kinh nghiệm bất tuân dân sự phần6( phần6 được đăng ngày 1-8-2018)** **HƯỚNG DẪN NHÀ HOẠT ĐỘNG KHI LÀM VIỆC VỚI CÔN AN/AN NINH- phần cuối cùng của loạt bài bổ sung kinh nghiệm bất tuân dân sự phần6** Ngày 25/5/2018 vừa qua, nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn đã trải qua 15 giờ đồng hồ bị thẩm vấn liên tục bởi nhiều cán bộ an ninh khác nhau. Theo Anh Tuấn: “Nội dung buổi thẩm vấn quanh đi quẩn lại cũng chỉ là những chuyện đi đâu, gặp ai, làm gì thời gian vừa qua, được lặp đi lặp lại theo một kĩ thuật có mục đích làm kiệt sức đối tượng”. Nhiều nhà hoạt động trước đó cũng trải qua những đợt thẩm vấn khắc nghiệt tương tự, thậm chí kéo dài nhiều hơn 15 giờ. Bạn biết đấy, một khi chọn trở thành nhà hoạt động ở Việt Nam, việc phải làm việc với an ninh/công an là một trong những điều không thể tránh được. Cách tốt nhất là luôn chuẩn bị cho mình kiến thức, phương án cũng như thái độ phù hợp. Sau khi 5 bài viết cung cấp kiến thức nền tảng về thẩm vấn và phản thẩm vấn, trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu cách Nhà hoạt động nên hành xử trước, trong và sau khi làm việc với công an/an ninh ở Việt Nam. Bài này cũng đưa ra câu trả lời cho câu hỏi “vì sao chúng ta không nên nói dối” trong một cuộc thẩm vấn mà chúng tôi đã đề cập trước đó. *Trước thẩm vấn Giữ đời tư trong sạch Lựa chọn một nghề nghiệp nguy hiểm trong đời sống xã hội chính trị ở Việt Nam,  người hoạt động nên tự bảo vệ mình bằng một đời tư “sạch”. Chúng ta nên tuân theo luật pháp cũng như giữ một nếp sống không “scandal”. Hãy cố gắng có ít thông tin nhạy cảm nhất có thể. Bởi vì những điểm yếu trong đời tư có thể biến thành vũ khí chống lại và ép buộc nhà hoạt động phải hợp tác ngay tại những phút thẩm vấn đầu tiên. Học thiền định Khi buộc phải làm việc “một mình” với An ninh, các cảm xúc giận dữ, buồn phiền, đau khổ, lo âu sẽ chắc chắn xuất hiện. Vì vậy các nhà hoạt động cần phát triển kỹ năng để đối phó, xử lý và giảm nhẹ những cảm xúc tiêu cực kể trên bằng các bài tập thường xuyên về thiền định, lòng trắc ẩn và sự khoan dung. Bởi vì bạn không thể kiểm soát tất cả các sự kiện diễn ra, nhưng bạn có thể quyết định điều gì có thể khiến bạn căng thẳng. Tìm hiểu pháp luật Trong đời sống thường nhật, hiểu biết pháp luật tạo lợi thế cho bạn trong mọi hoàn cảnh, nhưng biết quyền của mình và quyền của cơ quan công quyền khi bạn phải làm việc với họ tạo cho bạn một vị thế đặc biệt trong tương quan với quyền lực nhà nước. Bạn sẽ biết việc bạn bị mời tham gia cuộc thẩm vấn là đúng luật hay sai luật để lựa chọn phương án đối phó phù hợp. Bạn sẽ biết viên an ninh đang thực hiện thẩm vấn bạn có được thu giữ tài sản của bạn, ép buộc bạn đưa mật khẩu của các tài khoản mạng xã hội không?…. Cho dù các cơ quan công quyền Việt Nam nhiều khi “ít hiểu biết” và “ít tuân theo pháp luật” nhưng khi phải làm việc với nhà hoạt động hiểu biết pháp luật, họ sẽ biết giới hạn của họ. Hiểu biết việc mình làm Không giống như các nghi phạm trong các vụ án hình sự với hai khả năng khá rõ ràng có tội hoặc vô tội. Nhà hoạt động tranh đấu cho những vấn đề đang tồn tại trong xã hội: có thể đó là vấn đề trong lĩnh vực bạo lực gia đình, các sai phạm về môi trường hay các chính sách gây ảnh hưởng tới an sinh, phúc lợi xã hội, các vi phạm nhân quyền…Những việc làm của bạn có thể là “quá sai” trong mắt một nhóm người đang cố gắng bảo vệ lợi ích của riêng họ, nhưng lại là việc đúng phải làm và nên làm đối với người dân và xã hội. Hiểu rõ những việc này sẽ làm ý chí của bạn vững chãi trước mọi sóng gió. *Trong quá trình thẩm vấn Luôn tử tế và lịch sự Cảnh sát, công an cũng là những người có cảm xúc và gia đình. Nếu bạn đối xử lịch sự với họ, họ sẽ đối xử nếu không phải là tốt đẹp thì cũng là ở mức độ tử tế với bạn. Khi họ bắt giữ và tiến hành thẩm vấn bạn, họ đang làm công việc của họ. Bạn nên tuyệt đối tránh nổi nóng, chửi bới để biến một việc thuộc về việc công- thành một mối tư thù riêng. Không có điều gì tệ hơn là khiến người thẩm vấn không coi bạn như một con người, một công dân  có gia đình và phẩm giá mà coi bạn như một “đối tượng”. Việc phi nhân hóa sẽ khiến An ninh có các biện pháp tàn bạo với người bị thẩm vấn vì lúc này họ không hề có cảm thức nhân tính giữa đồng loại với nhau. Đây là cách nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn hành xử với những viên An ninh đã thẩm vấn anh: “Cuối cùng, tôi chỉ muốn nhắn gửi tới anh Vũ và các anh an ninh khác đã làm việc với tôi (những người mà tôi không thấy sự thù địch nào nên không nêu tên ở đây) rằng dù thế nào đi nữa tôi vẫn không coi các anh là kẻ thù của tôi, ngay cả khi các anh muốn đẩy tôi vào tình thế đó. Tôi thực sự tin tưởng vào một Việt Nam trong tương lai đủ rộng cho tất cả chúng ta, nơi mà những người dù khác biệt quan điểm vẫn có thể dành cho nhau sự tôn trọng”. Đừng nói dối Đừng nói dối An ninh, nhất là những người được đào tạo để thực hiện thẩm vấn bạn bởi vì rất khó để nói dối. Nếu bạn đã đọc qua về các chiến thuật mà người thẩm vấn thường dùng mà chúng tôi cúng cấp ở phần số 3 và phần số 4, bạn hẳn phải kinh ngạc trước các kỹ thuật và thủ thuật phát hiện nói dối mà họ được trang bị. Bởi vì quá trình thẩm vấn là quá trình lấy thông tin và kiểm tra tin tức đó là thật hay giả. Nếu bạn không phải là một người được đào tạo để nói dối, hoặc phản thẩm vấn, bạn sẽ không thể qua mặt được những viên an ninh dầy dặn kinh nghiệm. Hãy lựa chọn việc chỉ cung cấp một số thông tin có thật, vô hại để thể hiện sự hợp tác và tránh không khí thù địch có thể leo thang khi An Ninh có xu hương bạo lực hoặc là kiên quyết giữ im lặng. Một lý do nữa là việc nói dối cũng có thể là bất hợp pháp và an ninh có thể sử dụng việc này này để chống lại bạn nếu họ khởi tố vụ án liên quan đến bạn. Hạn chế bạo lực Nếu công an bạo lực, hãy cố gắng trấn tĩnh họ bằng cách giữ cho bản thân mình càng bình tĩnh càng tốt. Có thể sự phản kháng trong tức giận sẽ khiến bạo lực leo thang. Nhưng hãy nhớ bạn đang ở trong phòng thẩm vấn và bạn không phải là kẻ mạnh ở đây.   Sử dụng thiền định để giữ cho kiểm soát tinh thần của bạn. Nỗi sợ hãi và sự cô đơn có thể sẽ bủa vây bạn. Hãy cố gắng kiểm soát tinh thần, tránh tỏ ra sợ hãi, ủy mị khiến người thẩm vấn được đà tấn công vào các điểm yếu của bạn. Đây lúc bạn nên thực hành thiền định để giảm căng thẳng, cũng như khơi dậy lòng khoan dung với những người đang thực hiện các biện pháp khắc nghiệt để khai thác thông tin nơi bạn. *Sau khi tham gia thẩm vấn Nói chuyện với công an có thể rất đáng sợ và điều này là bình thường, đừng cố gắng che giấu những nỗi bất an một mình và khiến cơ thể bạn căng thẳng. Hãy tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn bè, gia đình và đồng nghiệp. Một ví dụ về cách hành xử trong khi bị thẩm vấn của nhà hoạt động Nguyễn Thị Bích Ngà  “Mình tôn trọng công việc họ đang làm và cũng buộc họ phải tôn trọng mình. Mình quyết định không cung cấp thông tin vì việc thẩm vấn đó là sai luật. Mình bị họ bắt về đồn nhiều lần. Lần nào mình cũng tỏ ra binh bình thường thôi, cười nói vui vẻ. Khi làm việc mình ngồi ngay ngắn, thẳng lưng và nói chuyện từ tốn ôn hòa. Khi bị an ninh chọc tức, khiêu khích thì mình cười mỉm. Họ đập bàn dọa đánh thì mình khoanh tay trước ngực ngó ra cửa sổ. Họ khen mình đẹp thì mình cảm ơn. Khi được thông tin mình bảo các anh phải xin lệnh của Viện kiểm sát trước đi rồi ta nói đến việc đó sau. Khi họ bắt mình đưa mật khẩu điện thoại thì mình lại bảo các anh cần đi xin lệnh của viện kiểm sát. Khi người thẩm vấn chửi, văng tục với mình thì mình tuyên bố im lặng và từ đó cho đến lúc họ thả mình không nói thêm bất kỳ một từ nào nữa. Có lần họ giữ mình cả đêm khiến mình ngồi lâu rất mỏi, họ bảo mình kê ghê lại để nằm thì mình lắc đầu từ chối rồi ghi ra giấy bảo: “Tôi là phụ nữ, và đây là cơ quan làm việc, tôi không thể nằm ngã ngốn nơi làm việc như vậy được.” Khi họ mời mình ăn thì mình cảm ơn nhưng từ chối… Nói chung là, mình phải nhất quán và coi việc bị thẩm vấn đó là việc bình thường, không tỏ ra bực tức, nóng giận thì sẽ không  làm bản thân mất kiểm soát và chỉ có như vậy thì mới buộc được họ phải tôn trọng mình. Mình nghĩ, việc buộc họ phải tôn trọng mình là việc rất quan trọng bởi người đấu tranh cho dân chủ, đa nguyên phải là người thể hiện mình đáng được tôn trọng và phải được tôn trọng bởi bất kỳ ai. Giữ gìn hình ảnh cá nhân, tổ chức để công an, an ninh, tòa án, chính quyền phải tôn trọng mình là điều rất khó, nhưng làm được nếu ta coi điều đó là quan trọng và tiên quyết trong mọi tình huống.” Nguon: nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn trích dẫn.

5.39k views ·

More from tom8210

những người ở vn bị chính quyền tra tấn hay đàn áp hay người thân bị giết bởi chính quyền có thể tham khảo điều luận này thử , kiện tụi nó khi tụi nó qua Mỹ thăm con cái, hay du lịch hay định cư sau khi đã không còn tại nhiệm ( kiện là phải có nhân chứng, vật chứng này nọ đàng hoàng nha, cphu mỹ ko quan tâm có bao nhiêu ng ký tên ủng hộ , chỉ cần nhân, vật chứng) ,chính phủ Mỹ sẽ làm chủ cho bạn và gia đình ban , du bạn ko là quốc tịch Mỹ đi chăng nữa

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHỞI KIỆN QUAN CHỨC VIỆT NAM Ở MỸ. Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Năm 1999, khi đang viết khóa luận cao học luật tại Mỹ, giữa nhiều đề tài luật pháp lý thú, tôi lựa chọn nghiên cứu một đạo luật ít nhiều có thể giúp các nạn nhân Việt Nam bị nhà nước cộng sản vi phạm nhân quyền đòi công lý ở nước ngoài, đặc biệt là tại Mỹ. Đó là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài (Alien Tort Statute (28 U.S.C. § 1350), sau đây gọi tắt là “Luật ATS”). Khóa luận đó dài hơn 30 trang, nghiên cứu mọi khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của Luật ATS cùng án lệ được các tòa án Hoa Kỳ phát triển trên cơ sở luật này trong thế kỷ 20, kể từ án lệ Filartiga năm 1980 như sẽ trình bày dưới đây. Bản khóa luận, tiếc thay, đã mất vì nhân viên an ninh tịch thu năm 2009 khi tôi bị bắt giam và khám nhà. Sau năm 1999, đường hướng án lệ Mỹ về Luật ATS đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới mẻ, cũng như có nhiều vấn đề pháp lý mới phát sinh kể từ đầu thế kỷ 21. Do đó, gần đây, trước tình hình vi phạm nhân quyền ngày càng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng tra tấn và giết người phi pháp tại các đồn công an gia tăng trên khắp cả nước, tôi đã nghiên cứu lại Luật ATS và cập nhật thêm sự phát triển mới của các án lệ có liên quan. Tôi cũng thêm xác quyết rằng đây là công cụ pháp lý hữu hiệu giúp nạn nhân bị vi phạm nhân quyền đòi lại công lý cho mình và thân nhân. Bài viết này chỉ giới thiệu một cách vắn tắt nhất những khái niệm và vấn đề liên quan đến Luật ATS, hầu giúp những ai quan tâm có thể chuẩn bị một vụ kiện như vậy cho mình trong tương lai khi có cơ hội. Đạo luật cổ mang tinh thần mới Luật ATS là một luật liên bang được Quốc hội đầu tiên của Hoa Kỳ thông qua lần đầu vào năm 1789 và được Tổng thống George Washington ký ban hành thành luật, nhằm trao cho các tòa án liên bang Mỹ quyền xét xử những vụ kiện mà nguyên đơn là người không mang quốc tịch Mỹ đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của bất kỳ ai.[1] Nước Mỹ khi đó muốn chứng minh trước cộng đồng thế giới rằng tuy là một quốc gia mới xuất hiện nhưng họ là một nước trọng pháp trên phạm vi toàn cầu. Thế kỷ 18, lúc Luật ATS được ban hành, là giai đoạn sơ khai của luật quốc tế vốn chủ yếu quy định quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và chỉ đặt ngoài vòng pháp luật các tội phạm quốc tế như cướp biển mà thôi.[2] Tuy nhiên, luật quốc tế trong thế kỷ 20 và 21 đã hoàn toàn khác, phạm vi áp dụng của nó đã được mở rộng bao gồm cả việc bảo vệ nhân quyền.[3] Trong 70 năm kể từ ngày ký Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền vào năm 1948 đến nay, nhân quyền toàn cầu đã chuyển từ một ý niệm mang tính khích lệ thành một thực tiễn pháp lý. Quá trình phát triển đột phá này đã khiến cho Luật ATS trở nên quan trọng hơn vào cuối thế kỷ 20. Theo đó, những người sống sót sau những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng hoặc thân nhân của nạn nhân đã chết đều có quyền khởi kiện thủ phạm ra trước tòa án Mỹ. Từ năm 1980, Luật ATS đã được áp dụng thành công trong các vụ kiện có liên quan đến bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước, các vụ tra tấn hoặc giết người phi pháp, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh và giam giữ tùy tiện.[4] Bên cạnh Luật ATS còn có Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân bị Tra tấn (Torture Victim Protection Act), được thông qua vào năm 1991 và đã được Tổng thống George H. Will Bush ký ban hành thành luật vào năm 1992, trao các quyền tương tự cho công dân Hoa Kỳ và cả người ngoại quốc trong việc khởi kiện đòi bồi thường đối với các hành vi tra tấn và giết người phi pháp diễn ra ở nước ngoài.[5] Án lệ theo Luật ATS Án lệ Filartiga Vụ án đầu tiên được khởi kiện theo Luật ATS là vụ Filartiga v. Peña-Irala. Năm 1976, cha của một thanh niên từng bị tra tấn đến chết trong đồn cảnh sát ở Paraguay đã trông thấy một trong những kẻ tra tấn con trai ông đang đi bộ trên đường phố ở Manhattan, New York.[6] Người cha đã báo cảnh sát Mỹ bắt giữ tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay đó. Sau đó, người cha và em gái của nạn nhân liền khởi kiện anh ta theo Luật ATS. Năm 1980, một tòa án liên bang ở New York đã tuyên chấp thuận yêu cầu đòi bồi thường hàng triệu USD của họ, từ đó mở ra cơ hội cho những yêu cầu đòi bồi thường tương tự.[7] Kể từ án lệ Filartiga, hàng loạt các vụ kiện theo Luật ATS đã được khởi động chống lại các cá nhân thủ phạm bị phát hiện có mặt ở Hoa Kỳ. Mọi vụ kiện như vậy đều được tòa án Mỹ xét xử vì những người sống sót sau các vụ vi phạm nhân quyền và thân nhân của nạn nhân đã chết thường không còn cách nào đòi lại công lý ở chính quê hương mình. Tiêu chuẩn Sosa: Quan điểm của Tòa án Tối cao Đường hướng của án lệ Hoa Kỳ kể từ vụ Filartiga đã được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xác nhận. Trong phán quyết năm 2004 đối với vụ Sosa v Alvarez-Machain, Tòa tuyên rằng Luật ATS trao cho tòa án liên bang thẩm quyền đối với các đơn kiện dựa trên các tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế. Nói cách khác, Tòa án Tối cao đã bật đèn xanh cho việc sử dụng Luật ATS như một công cụ yêu cầu bồi thường đối với các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.[8] Trách nhiệm cá nhân đối với các vi phạm nhân quyền Tại các quốc gia thường xuyên có xung đột vũ trang hoặc bị cai trị bởi các chế độ độc tài toàn trị, việc miễn trách nhiệm đối với vi phạm nhân quyền hàng ngày có thể nói là một bất hạnh đối với người dân thấp cổ bé họng. Hệ thống tư pháp ở những nơi đó luôn thỏa hiệp hoặc bị giới cầm quyền tác động nhằm ngăn cản khởi tố hình sự những hành vi phạm tội như vậy, bởi trong hầu hết các trường hợp, thủ phạm vẫn đang đương chức. Một yếu tố khác có thể ngăn cản nạn nhân và thân nhân họ đòi bồi thường là thủ phạm có thể đã cao chạy xa bay khỏi đất nước đó. Hàng ngàn kẻ vi phạm nhân quyền như thế đã và đang trú ẩn an toàn tại Hoa Kỳ. Đối với những người tị nạn và người sống sót đang cố gắng xây dựng lại cuộc sống của mình tại Hoa Kỳ, họ có thể bị tổn thương sâu sắc khi tiếp tục nhìn thấy thủ phạm đang sống mà không bị trừng phạt. Do đó, Luật ATS cung cấp một công cụ vạch trần những kẻ vi phạm nhân quyền và không cho chúng sống an nhàn sau bao tội ác gây ra. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hành vi đồng lõa Bắt đầu vào giữa những năm 1990, một loạt các vụ kiện mới theo Luật ATS đã diễn ra nhằm mục đích buộc các tập đoàn đa quốc gia chịu trách nhiệm về hành vi đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền.[9] Mặc dù một bộ phận trong cộng đồng doanh nghiệp đã phản đối dữ dội và do đó dấy lên các chỉ trích nảy lửa về việc áp dụng Luật ATS, nhưng những nỗ lực để bãi bỏ hoặc làm suy yếu đạo luật này đã thất bại. Kể từ năm 2009, hai vụ kiện về trách nhiệm doanh nghiệp, Doe v. Unocal và Wiwa v. Shell, đã đóng vai trò quan trọng trong hệ thống án lệ, dẫn đến các thỏa thuận bồi thường khổng lồ cho những người sống sót và cộng đồng của họ.[10] Khởi kiện để làm gì? Cần lưu ý, các vụ kiện theo Luật ATS không tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự.[11] Do đó, bị đơn không nhất thiết phải bị giam cầm, trừ trường hợp cảnh sát hoặc tòa án phát hiện bị đơn đã thực hiện các hành vi khác vi phạm luật pháp Hoa Kỳ. Chẳng hạn, trong vụ Filartiga, tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay bị bắt giữ vì visa nhập cảnh Mỹ quá hạn. Tố quyền theo Luật ATS được thực hiện nhằm mục đích khởi động các vụ kiện dân sự mà kết quả là một phán quyết buộc bồi thường thiệt hại bằng tiền cho nguyên đơn.[12] Tuy nhiên, những vụ kiện này luôn thể hiện tầm quan trọng vì nhiều lý do khác, như nêu dưới đây, chứ không đơn thuần vì khoản tiền bồi thường mà nguyên đơn đạt được. Sự thật lên tiếng Những vụ kiện này mang đến cho các nguyên đơn cơ hội kể câu chuyện của mình và câu chuyện của nạn nhân đã khuất trong các vụ vi phạm nhân quyền. Sự thật có dịp lên tiếng để toàn thế giới thấy rõ bộ mặt phi nhân của các chế độ độc tài. Chấm dứt bất công Nhiều người sống sót và thân nhân của nạn nhân đã chết muốn đòi lại công lý và không cho phép thủ phạm sống an nhiên không bị trừng phạt như ở quê nhà của họ. Do đó, các vụ kiện này có thể được sử dụng như phương tiện trừng phạt và vạch trần hành vi của kẻ thủ ác trước một tòa án và đưa ra các bằng chứng về hành vi vi phạm trong quá khứ vào hồ sơ lưu trữ công khai. Hơn nữa, một số vụ kiện theo Luật ATS còn khiến thủ phạm bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Đồng thời, sau khi bị trục xuất, bằng chứng tại phiên tòa có thể được dùng để truy theo kẻ thủ ác đến tận quê nhà của chúng trong tương lai nhằm hỗ trợ thủ tục truy tố và xét xử hình sự. Từ chối nơi trú ẩn an toàn Các vụ kiện theo Luật ATS gửi một thông điệp mạnh mẽ đến các viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, rằng không ai có quyền đứng trên pháp luật, bất kể đó là luật pháp nước của họ. Họ phải hiểu rằng Hoa Kỳ không bao giờ cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ vi phạm nhân quyền trên toàn thế giới. Điều kiện để khởi kiện Bị đơn hay thủ phạm phải hiện diện tại Hoa Kỳ Để khởi kiện một cá nhân viên chức chính quyền nước ngoài và buộc cá nhân đó phải chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp về các vi phạm nhân quyền, cá nhân đó phải có thể đích thân tham gia vào vụ kiện lúc đang có mặt ở Hoa Kỳ. Nói cách khác, thủ phạm phải sống hoặc đang đến thăm Hoa Kỳ.[13] Viên chức vi phạm nhân quyền trong khi thi hành công vụ Để có thể khởi kiện theo Luật ATS, các vi phạm phải do viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, thực hiện trong khi thi hành công vụ hay đang thực thi chức trách công quyền của họ.[14] Bị đơn doanh nghiệp Có thể kiện các doanh nghiệp đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền, miễn doanh nghiệp đó có địa chỉ liên lạc ở Hoa Kỳ và đã hành động hoặc phối hợp với một cơ quan nhà nước hoặc viên chức chính quyền có liên quan đến các vi phạm.[15] Nguyên thủ quốc gia và viên chức ngoại giao Theo luật pháp Hoa Kỳ, các nguyên thủ quốc gia đương nhiệm (bao gồm vua, tổng thống và thủ tướng), bộ trưởng ngoại giao hoặc viên chức chính quyền khác có thể yêu cầu hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và, do đó, trong nhiều trường hợp không phải chịu trách nhiệm tham gia các vụ kiện về vi phạm nhân quyền theo Luật ATS. [16] Tuy nhiên, một khi họ thôi chức, các nguyên thủ quốc gia và viên chức chính quyền khác sẽ trở thành đối tượng của các vụ kiện dân sự ngay cả đối với những vi phạm nhân quyền mà họ đã thực hiện trong khi đang tại chức.[17] Hành vi có thể bị kiện bao gồm tra tấn, giết người và vi phạm nhân quyền khác Theo Luật ATS, hành vi có thể bị kiện là mọi vi phạm nhân quyền. Điều thú vị ở đây là tố quyền theo Luật ATS cho phép người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện rộng rãi hơn một công dân Hoa Kỳ. Theo Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Tra tấn (TVPA), công dân Hoa Kỳ chỉ có thể khởi kiện hai loại vi phạm là tra tấn và giết người phi pháp thực hiện ở Mỹ hoặc ở nước ngoài.[18] Trong khi đó, người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện theo Luật ATS đối với các hành vi vi phạm thuộc phạm vi rộng hơn, bao gồm tra tấn; giết người phi pháp; bắt cóc hoặc giam giữ bí mật; tội ác chống nhân loại; đối xử tàn bạo, phi nhân hoặc hạ nhục; giam giữ tùy tiện kéo dài; diệt chủng; tội ác chiến tranh; nô lệ; và bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước.[19] — Người Việt đang sống trong một xã hội mà quyền làm người không được tôn trọng và thậm chí bị nhà cầm quyền vi phạm. Thân thể và tự do của con người có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền muốn. Môi trường sống bị đe dọa bởi các doanh nghiệp chỉ biết kiếm tiền bất chấp quyền được sinh sống một cách lành mạnh của dân cư xung quanh, do nhận được sự bảo trợ và tiếp tay từ các quan chức chính quyền hoặc, nghiêm trọng hơn, từ chính bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, khi quyền làm người bị xâm phạm, người Việt có thể đòi công lý ở các tòa án tại nước mình hay không? Câu trả lời đáng buồn là không. Nguyên nhân là vì hệ thống tư pháp quốc gia bị đảng cầm quyền thao túng, khiến nó không thể mang đến công lý cho đại đa số người Việt Nam một cách độc lập và sáng suốt. Nó được thiết lập để phục dịch công lý cho đảng cầm quyền, chứ không nhằm xiển dương công lý cho toàn xã hội. Đó là lý do vì sao cần đi tìm công lý ở nơi khác và bằng một công cụ pháp lý hữu hiệu. Với mục tiêu như vậy, bài viết này đã cố gắng giới thiệu sơ lược cho mọi người một công cụ pháp lý bảo vệ nhân quyền đáng tin cậy trước tòa án Mỹ, mà tôi tin chắc có thể giúp những ai không phải là công dân Mỹ chạm được vào cánh cửa công đường của vị Bao Công hiện đại, giữa tình cảnh cánh cửa công lý chật hẹp trên quê hương Việt Nam đã khép chặt từ lâu. Công cụ đó chính là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài như được giới thiệu ở trên. Tài liệu tham khảo: [1] [19] Xem “The Alien Tort Statute Introduction” [2] [3] [8] [17] Xem Anthony J. Bellia Jr và Bradford R. Clark, “The Alien Tort Statute and the Law of Nations” (2011), The University of Chicago Law Review, Volume 78, Issue 2. [4] [11] [12] [13] [14] Xem “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”. [5] [6] [10] [16] [18] Xem Beth Stephens, “The Curious History of the Alien Tort Statute” (2014), Notre Dame Law Review, Volume 89, Issue 4. [7] [9] Xem “A Split On Companies’ Liability For Human Rights Crimes”. [15] Xem “Supreme Court Widens Scope Of Case On Corporate Accountability For Human Rights”, và “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”.

208 views ·
Thâm thuý😹😹😹

Chỉ được cái nói đúng

269 views ·

**Bổ sung kinh nghiệm bất tuân dân sự phần6( phần6 được đăng ngày 1-8-2018)** **HƯỚNG DẪN NHÀ HOẠT ĐỘNG KHI LÀM VIỆC VỚI CÔN AN/AN NINH- phần cuối cùng của loạt bài bổ sung kinh nghiệm bất tuân dân sự phần6** Ngày 25/5/2018 vừa qua, nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn đã trải qua 15 giờ đồng hồ bị thẩm vấn liên tục bởi nhiều cán bộ an ninh khác nhau. Theo Anh Tuấn: “Nội dung buổi thẩm vấn quanh đi quẩn lại cũng chỉ là những chuyện đi đâu, gặp ai, làm gì thời gian vừa qua, được lặp đi lặp lại theo một kĩ thuật có mục đích làm kiệt sức đối tượng”. Nhiều nhà hoạt động trước đó cũng trải qua những đợt thẩm vấn khắc nghiệt tương tự, thậm chí kéo dài nhiều hơn 15 giờ. Bạn biết đấy, một khi chọn trở thành nhà hoạt động ở Việt Nam, việc phải làm việc với an ninh/công an là một trong những điều không thể tránh được. Cách tốt nhất là luôn chuẩn bị cho mình kiến thức, phương án cũng như thái độ phù hợp. Sau khi 5 bài viết cung cấp kiến thức nền tảng về thẩm vấn và phản thẩm vấn, trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu cách Nhà hoạt động nên hành xử trước, trong và sau khi làm việc với công an/an ninh ở Việt Nam. Bài này cũng đưa ra câu trả lời cho câu hỏi “vì sao chúng ta không nên nói dối” trong một cuộc thẩm vấn mà chúng tôi đã đề cập trước đó. *Trước thẩm vấn Giữ đời tư trong sạch Lựa chọn một nghề nghiệp nguy hiểm trong đời sống xã hội chính trị ở Việt Nam,  người hoạt động nên tự bảo vệ mình bằng một đời tư “sạch”. Chúng ta nên tuân theo luật pháp cũng như giữ một nếp sống không “scandal”. Hãy cố gắng có ít thông tin nhạy cảm nhất có thể. Bởi vì những điểm yếu trong đời tư có thể biến thành vũ khí chống lại và ép buộc nhà hoạt động phải hợp tác ngay tại những phút thẩm vấn đầu tiên. Học thiền định Khi buộc phải làm việc “một mình” với An ninh, các cảm xúc giận dữ, buồn phiền, đau khổ, lo âu sẽ chắc chắn xuất hiện. Vì vậy các nhà hoạt động cần phát triển kỹ năng để đối phó, xử lý và giảm nhẹ những cảm xúc tiêu cực kể trên bằng các bài tập thường xuyên về thiền định, lòng trắc ẩn và sự khoan dung. Bởi vì bạn không thể kiểm soát tất cả các sự kiện diễn ra, nhưng bạn có thể quyết định điều gì có thể khiến bạn căng thẳng. Tìm hiểu pháp luật Trong đời sống thường nhật, hiểu biết pháp luật tạo lợi thế cho bạn trong mọi hoàn cảnh, nhưng biết quyền của mình và quyền của cơ quan công quyền khi bạn phải làm việc với họ tạo cho bạn một vị thế đặc biệt trong tương quan với quyền lực nhà nước. Bạn sẽ biết việc bạn bị mời tham gia cuộc thẩm vấn là đúng luật hay sai luật để lựa chọn phương án đối phó phù hợp. Bạn sẽ biết viên an ninh đang thực hiện thẩm vấn bạn có được thu giữ tài sản của bạn, ép buộc bạn đưa mật khẩu của các tài khoản mạng xã hội không?…. Cho dù các cơ quan công quyền Việt Nam nhiều khi “ít hiểu biết” và “ít tuân theo pháp luật” nhưng khi phải làm việc với nhà hoạt động hiểu biết pháp luật, họ sẽ biết giới hạn của họ. Hiểu biết việc mình làm Không giống như các nghi phạm trong các vụ án hình sự với hai khả năng khá rõ ràng có tội hoặc vô tội. Nhà hoạt động tranh đấu cho những vấn đề đang tồn tại trong xã hội: có thể đó là vấn đề trong lĩnh vực bạo lực gia đình, các sai phạm về môi trường hay các chính sách gây ảnh hưởng tới an sinh, phúc lợi xã hội, các vi phạm nhân quyền…Những việc làm của bạn có thể là “quá sai” trong mắt một nhóm người đang cố gắng bảo vệ lợi ích của riêng họ, nhưng lại là việc đúng phải làm và nên làm đối với người dân và xã hội. Hiểu rõ những việc này sẽ làm ý chí của bạn vững chãi trước mọi sóng gió. *Trong quá trình thẩm vấn Luôn tử tế và lịch sự Cảnh sát, công an cũng là những người có cảm xúc và gia đình. Nếu bạn đối xử lịch sự với họ, họ sẽ đối xử nếu không phải là tốt đẹp thì cũng là ở mức độ tử tế với bạn. Khi họ bắt giữ và tiến hành thẩm vấn bạn, họ đang làm công việc của họ. Bạn nên tuyệt đối tránh nổi nóng, chửi bới để biến một việc thuộc về việc công- thành một mối tư thù riêng. Không có điều gì tệ hơn là khiến người thẩm vấn không coi bạn như một con người, một công dân  có gia đình và phẩm giá mà coi bạn như một “đối tượng”. Việc phi nhân hóa sẽ khiến An ninh có các biện pháp tàn bạo với người bị thẩm vấn vì lúc này họ không hề có cảm thức nhân tính giữa đồng loại với nhau. Đây là cách nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn hành xử với những viên An ninh đã thẩm vấn anh: “Cuối cùng, tôi chỉ muốn nhắn gửi tới anh Vũ và các anh an ninh khác đã làm việc với tôi (những người mà tôi không thấy sự thù địch nào nên không nêu tên ở đây) rằng dù thế nào đi nữa tôi vẫn không coi các anh là kẻ thù của tôi, ngay cả khi các anh muốn đẩy tôi vào tình thế đó. Tôi thực sự tin tưởng vào một Việt Nam trong tương lai đủ rộng cho tất cả chúng ta, nơi mà những người dù khác biệt quan điểm vẫn có thể dành cho nhau sự tôn trọng”. Đừng nói dối Đừng nói dối An ninh, nhất là những người được đào tạo để thực hiện thẩm vấn bạn bởi vì rất khó để nói dối. Nếu bạn đã đọc qua về các chiến thuật mà người thẩm vấn thường dùng mà chúng tôi cúng cấp ở phần số 3 và phần số 4, bạn hẳn phải kinh ngạc trước các kỹ thuật và thủ thuật phát hiện nói dối mà họ được trang bị. Bởi vì quá trình thẩm vấn là quá trình lấy thông tin và kiểm tra tin tức đó là thật hay giả. Nếu bạn không phải là một người được đào tạo để nói dối, hoặc phản thẩm vấn, bạn sẽ không thể qua mặt được những viên an ninh dầy dặn kinh nghiệm. Hãy lựa chọn việc chỉ cung cấp một số thông tin có thật, vô hại để thể hiện sự hợp tác và tránh không khí thù địch có thể leo thang khi An Ninh có xu hương bạo lực hoặc là kiên quyết giữ im lặng. Một lý do nữa là việc nói dối cũng có thể là bất hợp pháp và an ninh có thể sử dụng việc này này để chống lại bạn nếu họ khởi tố vụ án liên quan đến bạn. Hạn chế bạo lực Nếu công an bạo lực, hãy cố gắng trấn tĩnh họ bằng cách giữ cho bản thân mình càng bình tĩnh càng tốt. Có thể sự phản kháng trong tức giận sẽ khiến bạo lực leo thang. Nhưng hãy nhớ bạn đang ở trong phòng thẩm vấn và bạn không phải là kẻ mạnh ở đây.   Sử dụng thiền định để giữ cho kiểm soát tinh thần của bạn. Nỗi sợ hãi và sự cô đơn có thể sẽ bủa vây bạn. Hãy cố gắng kiểm soát tinh thần, tránh tỏ ra sợ hãi, ủy mị khiến người thẩm vấn được đà tấn công vào các điểm yếu của bạn. Đây lúc bạn nên thực hành thiền định để giảm căng thẳng, cũng như khơi dậy lòng khoan dung với những người đang thực hiện các biện pháp khắc nghiệt để khai thác thông tin nơi bạn. *Sau khi tham gia thẩm vấn Nói chuyện với công an có thể rất đáng sợ và điều này là bình thường, đừng cố gắng che giấu những nỗi bất an một mình và khiến cơ thể bạn căng thẳng. Hãy tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn bè, gia đình và đồng nghiệp. Một ví dụ về cách hành xử trong khi bị thẩm vấn của nhà hoạt động Nguyễn Thị Bích Ngà  “Mình tôn trọng công việc họ đang làm và cũng buộc họ phải tôn trọng mình. Mình quyết định không cung cấp thông tin vì việc thẩm vấn đó là sai luật. Mình bị họ bắt về đồn nhiều lần. Lần nào mình cũng tỏ ra binh bình thường thôi, cười nói vui vẻ. Khi làm việc mình ngồi ngay ngắn, thẳng lưng và nói chuyện từ tốn ôn hòa. Khi bị an ninh chọc tức, khiêu khích thì mình cười mỉm. Họ đập bàn dọa đánh thì mình khoanh tay trước ngực ngó ra cửa sổ. Họ khen mình đẹp thì mình cảm ơn. Khi được thông tin mình bảo các anh phải xin lệnh của Viện kiểm sát trước đi rồi ta nói đến việc đó sau. Khi họ bắt mình đưa mật khẩu điện thoại thì mình lại bảo các anh cần đi xin lệnh của viện kiểm sát. Khi người thẩm vấn chửi, văng tục với mình thì mình tuyên bố im lặng và từ đó cho đến lúc họ thả mình không nói thêm bất kỳ một từ nào nữa. Có lần họ giữ mình cả đêm khiến mình ngồi lâu rất mỏi, họ bảo mình kê ghê lại để nằm thì mình lắc đầu từ chối rồi ghi ra giấy bảo: “Tôi là phụ nữ, và đây là cơ quan làm việc, tôi không thể nằm ngã ngốn nơi làm việc như vậy được.” Khi họ mời mình ăn thì mình cảm ơn nhưng từ chối… Nói chung là, mình phải nhất quán và coi việc bị thẩm vấn đó là việc bình thường, không tỏ ra bực tức, nóng giận thì sẽ không  làm bản thân mất kiểm soát và chỉ có như vậy thì mới buộc được họ phải tôn trọng mình. Mình nghĩ, việc buộc họ phải tôn trọng mình là việc rất quan trọng bởi người đấu tranh cho dân chủ, đa nguyên phải là người thể hiện mình đáng được tôn trọng và phải được tôn trọng bởi bất kỳ ai. Giữ gìn hình ảnh cá nhân, tổ chức để công an, an ninh, tòa án, chính quyền phải tôn trọng mình là điều rất khó, nhưng làm được nếu ta coi điều đó là quan trọng và tiên quyết trong mọi tình huống.” Nguon: nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn trích dẫn.

5.39k views ·