LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHỞI KIỆN QUAN CHỨC VIỆT NAM Ở MỸ. Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Năm 1999, khi đang viết khóa luận cao học luật tại Mỹ, giữa nhiều đề tài luật pháp lý thú, tôi lựa chọn nghiên cứu một đạo luật ít nhiều có thể giúp các nạn nhân Việt Nam bị nhà nước cộng sản vi phạm nhân quyền đòi công lý ở nước ngoài, đặc biệt là tại Mỹ. Đó là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài (Alien Tort Statute (28 U.S.C. § 1350), sau đây gọi tắt là “Luật ATS”). Khóa luận đó dài hơn 30 trang, nghiên cứu mọi khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của Luật ATS cùng án lệ được các tòa án Hoa Kỳ phát triển trên cơ sở luật này trong thế kỷ 20, kể từ án lệ Filartiga năm 1980 như sẽ trình bày dưới đây. Bản khóa luận, tiếc thay, đã mất vì nhân viên an ninh tịch thu năm 2009 khi tôi bị bắt giam và khám nhà. Sau năm 1999, đường hướng án lệ Mỹ về Luật ATS đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới mẻ, cũng như có nhiều vấn đề pháp lý mới phát sinh kể từ đầu thế kỷ 21. Do đó, gần đây, trước tình hình vi phạm nhân quyền ngày càng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng tra tấn và giết người phi pháp tại các đồn công an gia tăng trên khắp cả nước, tôi đã nghiên cứu lại Luật ATS và cập nhật thêm sự phát triển mới của các án lệ có liên quan. Tôi cũng thêm xác quyết rằng đây là công cụ pháp lý hữu hiệu giúp nạn nhân bị vi phạm nhân quyền đòi lại công lý cho mình và thân nhân. Bài viết này chỉ giới thiệu một cách vắn tắt nhất những khái niệm và vấn đề liên quan đến Luật ATS, hầu giúp những ai quan tâm có thể chuẩn bị một vụ kiện như vậy cho mình trong tương lai khi có cơ hội. Đạo luật cổ mang tinh thần mới Luật ATS là một luật liên bang được Quốc hội đầu tiên của Hoa Kỳ thông qua lần đầu vào năm 1789 và được Tổng thống George Washington ký ban hành thành luật, nhằm trao cho các tòa án liên bang Mỹ quyền xét xử những vụ kiện mà nguyên đơn là người không mang quốc tịch Mỹ đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của bất kỳ ai.[1] Nước Mỹ khi đó muốn chứng minh trước cộ...

36Upvotes

More from VuAnhKhoaMusic

AI SẼ HỌC NGÀNH "THẠC SĨ CHỐNG THAM NHŨNG" Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Trân Văn – VOA Kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã khuấy động dư luận suốt từ cuối tuần trước đến cuối tuần này. Cho dù bà Nguyễn Thị Quế Anh, Chủ nhiệm Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, hết lời biện bạch rằng kế hoạch ấy nhằm “đào tạo chuyên gia có kiến thức toàn diện, chuyên sâu cho cơ quan, tổ chức có nhu cầu về lĩnh vực này ở Việt Nam như: Cơ quan chuyên trách về phòng chống tham nhũng, tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, cơ sở học thuật, cơ quan truyền thông…” và chi phí đào tạo chỉ chừng 20 triệu đồng/cá nhân (1) nhưng nhìn chung, công chúng không đồng tình. Chẳng riêng công chúng, một số viên chức làm việc trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo như ông Nguyễn Hoàng Giáp, Giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng không đồng tình. Công chúng không đồng tình bởi dưới mắt họ, kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” là một kiểu “vẽ rắn thêm chân”, còn những người như ông Giáp không đồng tình vì không cần thiết. Ông Giáp lưu ý: Nghiên cứu phòng – chống tham nhũng hầu hết là cán bộ làm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức và kiểm tra, cho nên đối tượng này mới cần được đào tạo”. Bởi thực tế đúng như ông Giáp nhận định nên một luật sư tên là Nguyễn Tiến Thơm cũng cho rằng: Đào tạo về quản trị nhà nước và phòng – chống tham nhũng nên được thực hiện trong nội bộ các trường Đảng, trường bồi dưỡng cán bộ” (2). Nếu nhìn ở góc độ… thị trường, khi phòng – chống tham nhũng là “nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài” của toàn bộ hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam và được quảng bá rầm rộ ít nhất cũng đã ba thập niên, rất dễ hiểu tại sao Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội sọan thảo, giới thiệu kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng”. Tuy nhiên kế hoạch tưởng như bám rất sát thị trường ấy khó khả thi vì phòng như thế nào, chống ra sao vẫn do giới lãnh đạo Đảng CSVN quyết định. Thường dân, kể cả thường dân có học vị thạc sĩ chuyên ngành “Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” cũng không có chỗ trong công cuộc phòng – chống tham nhũng. *** Cách nay hai tháng, ông Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (BCH TƯ) Đảng CSVN, cựu Phó Ban Tuyên giáo BCH TƯ Đảng CSVN, hiện là Tổng Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia (VOV), công bố bài “Phòng, chống tham nhũng: Những bài học lịch sử và hành động của chúng ta hôm nay” (3). Nhìn một cách tổng quát thì bài viết dài khoảng 6.000 chữ của ông Phó Giáo sư chưa từng dạy ở đại học nào và có học hàm Tiến sĩ chưa rõ ở đâu cấp (?) này không có gì mới. Tác dụng duy nhất của bài viết vừa dẫn dường như chỉ là gieo thêm hoang mang cho độc giả: Tại sao quyết tâm của giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam rất cao và hành động rất… quyết liệt (chỉ tính riêng từ 2014 đến nay, để phòng – chống tham nhũng, lãnh đạo Đảng CSVN đã ban hành chừng một chục Nghị quyết, Chỉ thị, song song với việc tổ chức hàng chục hội nghị, Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã soạn – sửa – bổ phiếu thông qua 94 luật, pháp lệnh, 88 Nghị quyết, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành 694 Nghị định, 518 Nghị quyết, 281 quyết định,…) mà tham nhũng ở Việt Nam vẫn không giảm, hậu quả mà tham nhũng gây ra cho cả chính trị, kinh tế lẫn xã hội càng ngày càng nặng nề? Giống như nhiều viên chức lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam, ông Kỷ tiếp tục khẳng định, phải củng cố vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng CSVN trong công cuộc phòng – chống tham nhũng và hứa hẹn “từng bước mở rộng hoạt động phòng – chống tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng”. Năm 2013 – thời điểm Việt Nam đang thu thập ý kiến để sửa Luật Hình sự 2009, từ sự gợi ý của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) và sự tiếp sức của tổ chức này thông qua “Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam”, một số viên chức của Quốc hội và Bộ Tư pháp Việt Nam đã đề nghị đưa thêm vào Luật Hình sự của Việt Nam tội “làm giàu bất chính” để truy tố những cá nhân giàu có một cách bất thường. Theo hướng này, nếu viên chức nào đó có tài sản lớn khác thường so với thu nhập hợp pháp và không thể giải thích hợp lý về nguồn gốc tài sản thì sẽ bị xem là phạm tội “làm giàu bất chính” để điều tra – truy cứu trách nhiệm hình sự (4). Năm 2015 – khi bỏ phiếu thông qua Luật Hình sự mới, rồi năm 2017 khi sửa Luật Hình sự mới sửa năm 2015, Quốc hội Việt Nam liên tục gạt bỏ đề nghị xác định hành vi “làm giàu bất chính” là tội phạm. Đó là lý do đến nay, dân chúng Việt Nam chỉ có thể dè bỉu viên chức này khi ông ta biện bạch, sở dĩ ông ta giàu nứt khố đổ vách nhờ… bện chổi, viên chức kia phân bua tiền xây nhà cao cửa rộng là khoản tích lũy do… chạy xe ôm,… rồi… thôi! Còn hệ thống tư pháp thì vẫn tiếp tục khoanh tay ngắm các viên chức sống như những ông hoàng, bà hoàng, thi thoảng cả hệ thống tư pháp nghiêng mình nghe dân chửi rồi… lắc đầu vì Đảng chưa cho phép “mở rộng hoạt động phòng – chống tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước” tới mức có đủ cơ sở loại bỏ vĩnh viễn những câu chuyện thoạt nghe thì khôi hài song dẫu ráng thiên hạ cũng không thể cười đó. Tương tự, dẫu đã ký Công ước Phòng – Chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption – UNCAC) năm 2003 nhưng bảy năm sau (2009), Việt Nam mới chịu phê chuẩn UNCAC. Tại sao xác định tham nhũng là quốc nạn, viên chức tham nhũng là một thứ “giặc” nguy hiểm mà giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam lại tỏ ra hết sức ngần ngại trong việc phê chuẩn một văn kiện quốc tế mà mục tiêu chỉ nhằm nâng cao hiệu lực giải trừ tham nhũng thông qua việc đặt định hàng loạt qui ước, chuẩn mực về tuyển dụng, bổ nhiệm công chức, buộc công chức phải tuân thủ các tiêu chí chung về hành xử khi thi hành công vụ, hệ thống tư pháp phải độc lập, hệ thống công quyền phải minh bạch, phải để các tổ chức dân sự tham gia giám sát, chưa kể phê chuẩn còn giúp Việt Nam gia tăng hợp tác đa quốc gia nhằm cùng truy tìm – thu hồi tài sản thủ đắc từ tham nhũng trên phạm vi toàn cầu? Còn một điểm khác đáng thăc mắc không kém là tại sao đã hứa “mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng” nhưng khi phê chuẩn UNCAC, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam đột nhiên tuyên bố giành quyền bảo lưu (không thực thi) một số nội dung của UNCAC? Tại sao hình sự hóa hành vi làm giàu bất chính, thực hiện thủ tục dẫn độ… lại… chưa phù hợp và vì lẽ gì mà Việt Nam vẫn đòi thực hiện UNCAC theo Hiến pháp và pháp luật thực định của Việt Nam chứ không áp dụng trực tiếp các qui định của UNCAC (5)? Vì sao phòng – chống tham nhũng đã được xác định là “không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ” mà Dự luật sửa luật phòng – chống tham nhũng liên tục được nâng lên rồi bị đặt xuống suốt ba năm vừa qua (6)? Đã “không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ” thì tại sao giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam nhất loạt đòi gạt bỏ chuyện xử lý tài sản của những viên chức bị xác định là kê khai gian dối sang một bên và dứt khoát không tán thành đề nghị giải quyết tài sản của những viên chức không thể giải trình hợp lý về nguồn gốc bằng cách định giá rồi buộc nộp thuế theo tỉ lệ 45% tính trên tổng giá trị, hoặc tịch thu sung công, nếu cần, truy cứu trách nhiệm hình sự vì làm giàu bất chính (7)? Chuyện đơn giản nhất: Chỉ công bố bản kê khai tài sản mà các viên chức đã nộp – mà ông Nguyễn Phú Trọng, người dẫn đầu công cuộc phòng chống tham nhũng ở Việt Nam – cũng cho là “nhạy cảm”, “rất khó” (8) thì lúc nào mới thực sự “mở rộng hoạt động phòng – chống tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng” để “không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ”? *** Thật ra kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội bám rất sát đường lối, chủ trương của giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam. Chỉ có điều khoảng cách từ đường lối, chủ trương đến tính khả thi và hiệu quả, luôn luôn rất lớn và gần như không thể thu hẹp. Đâu phải tự nhiên mà ông Nguyễn Hoàng Giáp, Giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định chắc nịch, phòng tham nhũng thế nào, chống tệ nạn này ra sao là công việc do các cán bộ của Đảng CSVN đảm nhận, quyết định. Còn khuya mới có chỗ cho các Thạc sĩ “Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” tương lai thi thố sở học. Triển vọng thăng tiến nghề nghiệp tất nhiên sẽ chỉ là một số không tròn trĩnh. Ngay cả khi học phí chỉ 20 ngàn (chứ không phải 20 triệu) chắc cũng chẳng có bao nhiêu thường dân mặn mà vì ít nhất cũng phải dùi mài kinh sử vài năm song cầm chắc là chẳng đến đâu. Nói theo kiểu bình dân, đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội là một kế hoạch giàu trí tưởng… bở. Thường dân giờ đã rất khôn, số người giàu trí tưởng… bở hiện rất hiếm, không dễ thành công đâu. Chú thích (1) https://laodong.vn/xa-hoi/dao-tao-mot-thac-si-phong-chong-tham-nhung-chi-het-hon-20-trieu-dong-623430.ldo (2) https://laodong.vn/xa-hoi/dao-tao-thac-si-phong-chong-tham-nhung-khong-can-thiet-623522.ldo (3) https://vov.vn/chinh-tri/phong-chong-tham-nhung-nhung-bai-hoc-lich-su-va-hanh-dong-cua-chung-ta-hom-nay-778756.vov (4) http://dantri.com.vn/phap-luat/giau-bat-thuong-co-the-bi-tich-thu-tai-san-1386181152.htm (5) http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/Phong-chong-tham-nhung/2013/19726/Thuc-hien-Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung.aspx (6) https://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/3-diem-moi-cua-luat-phong-chong-tham-nhung-lam-nong-nghi-truong-772910.vov (7) http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/tai-san-khong-ro-nguon-goc-khong-the-mac-nhien-tich-thu-3356195/ (8) https://www.tienphong.vn/xa-hoi/tong-bi-thu-ke-khai-tai-san-can-bo-la-van-de-rat-kho-nhay-cam-1286576.tpo

64 views ·
DỐI TRÁ CỦA CỘNG SẢN VÀ SỰ NGUY HIỂM CỦA NÓ. Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Fb. Đỗ Ngà | Đóng kịch, về nghĩa đen là nói đến một hành động có kịch bản để phản ảnh một nội dung cần truyền tải. Mục đích là để truyền thụ kiến thức xã hội, kiến thức lịch sử, hoặc đơn giản là chỉ để mua vui. Về bản chất, nó vô hại với cuộc đời thực, thậm chí nó còn có lợi vì giúp cho đời sống tinh thần người dân được nâng cao. Nhưng đóng kịch về nghĩa bóng nó hoàn toàn khác. Nó chỉ giống ở hành động giả như thật, nhưng mục đích là đánh lừa sự tin tưởng của xã hội nhằm đạt mục đích đen tối. Nó là công cụ của những kẻ toan tính hại người. Khi đất nước là nơi đua nở những vở kịch này, thì xã hội chìm trong thối nát, cái ác vì thế cũng bùng phát. Chính Phủ tăng thuế siết cổ dân, trong đó một phần rất lớn được rót vào chi cho xây dựng công trình nhà nước. Hằng năm, ngân sách rót về các Ban Quản lý Dự án. Số tiền rót xuống khi nào? Bao nhiêu? Và khi nào được giải ngân, tất nhiên ban quản lí nắm rất rõ. Thế là ê kíp diễn kịch được thành lập để moi những đồng tiền thuế ấy. Họ moi như thế nào? Họ dùng các chân gỗ để diễn kịch đấu thầu. Chân gỗ là làm hồ sơ đấu thầu để tham gia cho có tụ, mục đích để diễn kịch cho đối tượng đã được chỉ định trúng thầu. Ở dưới gồm công ty A, công ty B, công ty C, công ty D cùng với BQLDA hình thành 1 group diễn kịch. Hôm nay dự án X trị giá 50 tỷ được giao cho A thì B, C và D làm chân gỗ để A trúng thầu. Hôm sau dự án Y trị giá 45 tỷ được giao cho B thì A, C và D làm chân gỗ để B trúng thầu. Và tới lượt C và D trúng thầu dự án khác cũng tựa như vậy. Sau khi trúng thầu, nhà thầu ngắt phần trăm trên giá trị công trình giao lại cho Ban Quản Lý, còn lại bên dưới thi công chia nhau mà ăn. Kết quả, giá thành xây dựng rất cao nhưng chất lượng rất thấp. Làm thiệt hại cho xã hội, lãng phí tiền thuế dân và vì thế, xã hội thối nát cứ nhởn nhơ tồn tại một cách vững bền trong các vở kịch. Rồi vở kịch bầu cử. Đảng cử người, dân bỏ phiếu. Đảng tự kiểm phiếu và tự thông báo tỉ lệ trúng cử không thông qua giám sát của một đơn vị độc độc lập. Vì thế đã bầu cử nhưng trúng cử không bao giờ bất ngờ, luôn đúng với dự án quy hoạch cán bộ của Đảng. Rồi những kẻ trúng cử phải chịu sự kiểm soát của Đảng. Trước khi Quốc hội họp, trưởng đoàn đại biểu sẽ phân công ai phát biểu và phát biểu nội dung gì, phải có đăng kí trước. Tất cả những gì diễn ra được truyền hình trực tiếp đều diễn ra theo kịch bản trước đó. Để kiểm soát ai trở chứng với đạo luật phản quốc gia do Đảng đưa ra, Đảng cho biểu quyết bấm nút chứ không bỏ phiếu kín. Lúc đó, ai phản đối ngoài sự chỉ thị của Đảng sẽ bị vào danh sách chú ý. Nhưng dù có bấm nút phản đối thì tỉ lệ đồng ý hiện trên bảng điện tử công khai cũng đã quy hoạch. Tất cả chỉ là vở kịch. Rồi các lớp Cao Cấp Chính Trị mà ĐCS buộc mọi quan chức phải tham gia học và tốt nghiệp thực chất nó là gì? Nó là lớp dạy cách dối trá khi phát biểu trước dân, hoặc khi trả lời chất vấn của dân. Những quan chức xảo trá nói rằng Việt Nam tốt đẹp, công an Việt Nam giỏi nhất thế giới vvv.. Hay những câu phát biểu tô hồng trông nhố nhăng của ông thủ Phúc cũng từ lớp học đó mà ra. Có điều ông ta vụng về nên làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Tất cả, 100% quan chức CS đều dối trá là vì cái lò đào tạo đó. Cách lừa dân được thành lập nên trường lớp để giảng dạy. Xét hết chiều dài lịch sử ĐCS cầm quyền, cũng là những vở kịch. Từ năm 1945 quân đội CS được Tàu cấp từ vũ khí, những sĩ quan tham mưu đến miếng lương khô. Khi đó Hồ Chí Minh và ĐCS nhận mệnh lệnh Nga – Tàu, dùng hàng triệu xương máu đồng bào đuổi nền văn số 1 thế giới để đưa Việt Nam trở vào vòng tay Nga -Tàu. Với khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” hay “chống Mỹ cứu nước” là để lừa mị cho một vở kịch làm con tốt cho Nga Tàu. Khi đến cuối thập niên 70 Nga -Tàu bất hoà, CS ngã về anh hai Nga nên bị anh ba Tàu bợp tai một phát chí mạng. Sau khi anh hai Nga Xô đổ, CSVN đến Thành Đô quỳ xin lỗi anh ba Tàu và không dám phản bội nữa. Kể từ đó, Việt Nam dần dần trở vào thòng lọng Tàu. Bất chấp tất cả, hàng loạt văn kiện bí mật giữa 2 đảng về số phận Việt Nam được kí kết. Nước Việt bị mất dần dưới cái gọi là “tình nghĩa anh em XHCN”. Đấy là vở kịch dựng lên để che đại họa mất nước. Nhân dân Việt Nam đang sống trong xã hội đầy rẫy những vở kịch được dựng lên để lừa mị nhau. Nhà nước hoạt động bằng những vở kịch để lừa mi dân. ĐCS kết thân Tàu để lừa mị dân cho một mưu đồ bán nước. Lớp Cao Cấp Chính Trị cho ra những quan chức lừa mị dân về những “thành quả tốt đẹp” của Đảng. Nhân dân Việt Nam tựa như nạn nhân bị nhốt trong container lừa mị, container đang nằm trên con tàu Việt Nam và đang được cướp biển ĐCS lái đi bán. Dân mù tịt, chẳng hề hay biết gì về thảm họa sắp xảy ra với mình./.

NHỮNG NGƯỜI "MẸ VẮNG NHÀ" Thực Hiện Bureau CTM Media - Á Châu Trương Duy Nhất – RFA Bộ phim tài liệu “mẹ vắng nhà” về nữ tù nhân Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (mẹ Nấm) đang được trình chiếu trên nhiều quốc gia, cũng là lúc thêm một “mẹ vắng nhà” nữa. Tôi lặng người, trước những bản tin chia sẻ dồn dập trên mạng từ sáng đến giờ. Cuộc vây bắt, dứt khỏi vòng tay bà mẹ một đứa trẻ mới 22 tháng tuổi. “Ánh mắt em ám ảnh tôi Mái tóc em ám ảnh tôi Giọng nói khản đặc em Ám ảnh tôi… Đọc tin em bị khóa tay bóp cổ lôi đi Em rong kinh Em tiều tụy Người con gái Quảng Nam” (Nguyễn Chiêu Anh) Là những dòng thơ, của một người bạn tranh đấu viết tặng Huỳnh Thục Vy. Nhưng có lẽ, ám ảnh chúng ta hơn, xót đau hơn là những cặp mắt con trẻ bắt đầu xa mẹ. Những Nấm, Gấu, Phú, Tài… Và đến giờ, là một đứa trẻ vừa 22 tháng tuổi. Họ tội tình gì? Những đứa trẻ miệng còn mớm sữa mẹ kia tội tình gì? Không gì man rợ và độc ác hơn. Trước Huỳnh Thục Vy, là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga… Những phụ nữ quả cảm, can trường. Các chị lên tiếng thay chúng ta, hy sinh thay chúng ta. Còn chúng ta câm nín? Tôi thấy khoé mắt cay, khi đọc dòng comment này: “Trước những người phụ nữ Bỗng dưng thấy ta hèn!” (Nguyễn Cảnh Thuỵ)

25 views ·

More from VuAnhKhoaMusic

AI SẼ HỌC NGÀNH "THẠC SĨ CHỐNG THAM NHŨNG" Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Trân Văn – VOA Kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã khuấy động dư luận suốt từ cuối tuần trước đến cuối tuần này. Cho dù bà Nguyễn Thị Quế Anh, Chủ nhiệm Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, hết lời biện bạch rằng kế hoạch ấy nhằm “đào tạo chuyên gia có kiến thức toàn diện, chuyên sâu cho cơ quan, tổ chức có nhu cầu về lĩnh vực này ở Việt Nam như: Cơ quan chuyên trách về phòng chống tham nhũng, tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, cơ sở học thuật, cơ quan truyền thông…” và chi phí đào tạo chỉ chừng 20 triệu đồng/cá nhân (1) nhưng nhìn chung, công chúng không đồng tình. Chẳng riêng công chúng, một số viên chức làm việc trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo như ông Nguyễn Hoàng Giáp, Giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng không đồng tình. Công chúng không đồng tình bởi dưới mắt họ, kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” là một kiểu “vẽ rắn thêm chân”, còn những người như ông Giáp không đồng tình vì không cần thiết. Ông Giáp lưu ý: Nghiên cứu phòng – chống tham nhũng hầu hết là cán bộ làm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức và kiểm tra, cho nên đối tượng này mới cần được đào tạo”. Bởi thực tế đúng như ông Giáp nhận định nên một luật sư tên là Nguyễn Tiến Thơm cũng cho rằng: Đào tạo về quản trị nhà nước và phòng – chống tham nhũng nên được thực hiện trong nội bộ các trường Đảng, trường bồi dưỡng cán bộ” (2). Nếu nhìn ở góc độ… thị trường, khi phòng – chống tham nhũng là “nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài” của toàn bộ hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam và được quảng bá rầm rộ ít nhất cũng đã ba thập niên, rất dễ hiểu tại sao Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội sọan thảo, giới thiệu kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng”. Tuy nhiên kế hoạch tưởng như bám rất sát thị trường ấy khó khả thi vì phòng như thế nào, chống ra sao vẫn do giới lãnh đạo Đảng CSVN quyết định. Thường dân, kể cả thường dân có học vị thạc sĩ chuyên ngành “Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” cũng không có chỗ trong công cuộc phòng – chống tham nhũng. *** Cách nay hai tháng, ông Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (BCH TƯ) Đảng CSVN, cựu Phó Ban Tuyên giáo BCH TƯ Đảng CSVN, hiện là Tổng Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia (VOV), công bố bài “Phòng, chống tham nhũng: Những bài học lịch sử và hành động của chúng ta hôm nay” (3). Nhìn một cách tổng quát thì bài viết dài khoảng 6.000 chữ của ông Phó Giáo sư chưa từng dạy ở đại học nào và có học hàm Tiến sĩ chưa rõ ở đâu cấp (?) này không có gì mới. Tác dụng duy nhất của bài viết vừa dẫn dường như chỉ là gieo thêm hoang mang cho độc giả: Tại sao quyết tâm của giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam rất cao và hành động rất… quyết liệt (chỉ tính riêng từ 2014 đến nay, để phòng – chống tham nhũng, lãnh đạo Đảng CSVN đã ban hành chừng một chục Nghị quyết, Chỉ thị, song song với việc tổ chức hàng chục hội nghị, Quốc hội Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã soạn – sửa – bổ phiếu thông qua 94 luật, pháp lệnh, 88 Nghị quyết, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành 694 Nghị định, 518 Nghị quyết, 281 quyết định,…) mà tham nhũng ở Việt Nam vẫn không giảm, hậu quả mà tham nhũng gây ra cho cả chính trị, kinh tế lẫn xã hội càng ngày càng nặng nề? Giống như nhiều viên chức lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam, ông Kỷ tiếp tục khẳng định, phải củng cố vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng CSVN trong công cuộc phòng – chống tham nhũng và hứa hẹn “từng bước mở rộng hoạt động phòng – chống tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng”. Năm 2013 – thời điểm Việt Nam đang thu thập ý kiến để sửa Luật Hình sự 2009, từ sự gợi ý của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) và sự tiếp sức của tổ chức này thông qua “Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam”, một số viên chức của Quốc hội và Bộ Tư pháp Việt Nam đã đề nghị đưa thêm vào Luật Hình sự của Việt Nam tội “làm giàu bất chính” để truy tố những cá nhân giàu có một cách bất thường. Theo hướng này, nếu viên chức nào đó có tài sản lớn khác thường so với thu nhập hợp pháp và không thể giải thích hợp lý về nguồn gốc tài sản thì sẽ bị xem là phạm tội “làm giàu bất chính” để điều tra – truy cứu trách nhiệm hình sự (4). Năm 2015 – khi bỏ phiếu thông qua Luật Hình sự mới, rồi năm 2017 khi sửa Luật Hình sự mới sửa năm 2015, Quốc hội Việt Nam liên tục gạt bỏ đề nghị xác định hành vi “làm giàu bất chính” là tội phạm. Đó là lý do đến nay, dân chúng Việt Nam chỉ có thể dè bỉu viên chức này khi ông ta biện bạch, sở dĩ ông ta giàu nứt khố đổ vách nhờ… bện chổi, viên chức kia phân bua tiền xây nhà cao cửa rộng là khoản tích lũy do… chạy xe ôm,… rồi… thôi! Còn hệ thống tư pháp thì vẫn tiếp tục khoanh tay ngắm các viên chức sống như những ông hoàng, bà hoàng, thi thoảng cả hệ thống tư pháp nghiêng mình nghe dân chửi rồi… lắc đầu vì Đảng chưa cho phép “mở rộng hoạt động phòng – chống tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước” tới mức có đủ cơ sở loại bỏ vĩnh viễn những câu chuyện thoạt nghe thì khôi hài song dẫu ráng thiên hạ cũng không thể cười đó. Tương tự, dẫu đã ký Công ước Phòng – Chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption – UNCAC) năm 2003 nhưng bảy năm sau (2009), Việt Nam mới chịu phê chuẩn UNCAC. Tại sao xác định tham nhũng là quốc nạn, viên chức tham nhũng là một thứ “giặc” nguy hiểm mà giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam lại tỏ ra hết sức ngần ngại trong việc phê chuẩn một văn kiện quốc tế mà mục tiêu chỉ nhằm nâng cao hiệu lực giải trừ tham nhũng thông qua việc đặt định hàng loạt qui ước, chuẩn mực về tuyển dụng, bổ nhiệm công chức, buộc công chức phải tuân thủ các tiêu chí chung về hành xử khi thi hành công vụ, hệ thống tư pháp phải độc lập, hệ thống công quyền phải minh bạch, phải để các tổ chức dân sự tham gia giám sát, chưa kể phê chuẩn còn giúp Việt Nam gia tăng hợp tác đa quốc gia nhằm cùng truy tìm – thu hồi tài sản thủ đắc từ tham nhũng trên phạm vi toàn cầu? Còn một điểm khác đáng thăc mắc không kém là tại sao đã hứa “mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng” nhưng khi phê chuẩn UNCAC, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam đột nhiên tuyên bố giành quyền bảo lưu (không thực thi) một số nội dung của UNCAC? Tại sao hình sự hóa hành vi làm giàu bất chính, thực hiện thủ tục dẫn độ… lại… chưa phù hợp và vì lẽ gì mà Việt Nam vẫn đòi thực hiện UNCAC theo Hiến pháp và pháp luật thực định của Việt Nam chứ không áp dụng trực tiếp các qui định của UNCAC (5)? Vì sao phòng – chống tham nhũng đã được xác định là “không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ” mà Dự luật sửa luật phòng – chống tham nhũng liên tục được nâng lên rồi bị đặt xuống suốt ba năm vừa qua (6)? Đã “không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ” thì tại sao giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam nhất loạt đòi gạt bỏ chuyện xử lý tài sản của những viên chức bị xác định là kê khai gian dối sang một bên và dứt khoát không tán thành đề nghị giải quyết tài sản của những viên chức không thể giải trình hợp lý về nguồn gốc bằng cách định giá rồi buộc nộp thuế theo tỉ lệ 45% tính trên tổng giá trị, hoặc tịch thu sung công, nếu cần, truy cứu trách nhiệm hình sự vì làm giàu bất chính (7)? Chuyện đơn giản nhất: Chỉ công bố bản kê khai tài sản mà các viên chức đã nộp – mà ông Nguyễn Phú Trọng, người dẫn đầu công cuộc phòng chống tham nhũng ở Việt Nam – cũng cho là “nhạy cảm”, “rất khó” (8) thì lúc nào mới thực sự “mở rộng hoạt động phòng – chống tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng” để “không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ”? *** Thật ra kế hoạch đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội bám rất sát đường lối, chủ trương của giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam. Chỉ có điều khoảng cách từ đường lối, chủ trương đến tính khả thi và hiệu quả, luôn luôn rất lớn và gần như không thể thu hẹp. Đâu phải tự nhiên mà ông Nguyễn Hoàng Giáp, Giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định chắc nịch, phòng tham nhũng thế nào, chống tệ nạn này ra sao là công việc do các cán bộ của Đảng CSVN đảm nhận, quyết định. Còn khuya mới có chỗ cho các Thạc sĩ “Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” tương lai thi thố sở học. Triển vọng thăng tiến nghề nghiệp tất nhiên sẽ chỉ là một số không tròn trĩnh. Ngay cả khi học phí chỉ 20 ngàn (chứ không phải 20 triệu) chắc cũng chẳng có bao nhiêu thường dân mặn mà vì ít nhất cũng phải dùi mài kinh sử vài năm song cầm chắc là chẳng đến đâu. Nói theo kiểu bình dân, đào tạo “Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Nhà nước và Phòng – Chống tham nhũng” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội là một kế hoạch giàu trí tưởng… bở. Thường dân giờ đã rất khôn, số người giàu trí tưởng… bở hiện rất hiếm, không dễ thành công đâu. Chú thích (1) https://laodong.vn/xa-hoi/dao-tao-mot-thac-si-phong-chong-tham-nhung-chi-het-hon-20-trieu-dong-623430.ldo (2) https://laodong.vn/xa-hoi/dao-tao-thac-si-phong-chong-tham-nhung-khong-can-thiet-623522.ldo (3) https://vov.vn/chinh-tri/phong-chong-tham-nhung-nhung-bai-hoc-lich-su-va-hanh-dong-cua-chung-ta-hom-nay-778756.vov (4) http://dantri.com.vn/phap-luat/giau-bat-thuong-co-the-bi-tich-thu-tai-san-1386181152.htm (5) http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/Phong-chong-tham-nhung/2013/19726/Thuc-hien-Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung.aspx (6) https://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/3-diem-moi-cua-luat-phong-chong-tham-nhung-lam-nong-nghi-truong-772910.vov (7) http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/tai-san-khong-ro-nguon-goc-khong-the-mac-nhien-tich-thu-3356195/ (8) https://www.tienphong.vn/xa-hoi/tong-bi-thu-ke-khai-tai-san-can-bo-la-van-de-rat-kho-nhay-cam-1286576.tpo

64 views ·
DỐI TRÁ CỦA CỘNG SẢN VÀ SỰ NGUY HIỂM CỦA NÓ. Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Fb. Đỗ Ngà | Đóng kịch, về nghĩa đen là nói đến một hành động có kịch bản để phản ảnh một nội dung cần truyền tải. Mục đích là để truyền thụ kiến thức xã hội, kiến thức lịch sử, hoặc đơn giản là chỉ để mua vui. Về bản chất, nó vô hại với cuộc đời thực, thậm chí nó còn có lợi vì giúp cho đời sống tinh thần người dân được nâng cao. Nhưng đóng kịch về nghĩa bóng nó hoàn toàn khác. Nó chỉ giống ở hành động giả như thật, nhưng mục đích là đánh lừa sự tin tưởng của xã hội nhằm đạt mục đích đen tối. Nó là công cụ của những kẻ toan tính hại người. Khi đất nước là nơi đua nở những vở kịch này, thì xã hội chìm trong thối nát, cái ác vì thế cũng bùng phát. Chính Phủ tăng thuế siết cổ dân, trong đó một phần rất lớn được rót vào chi cho xây dựng công trình nhà nước. Hằng năm, ngân sách rót về các Ban Quản lý Dự án. Số tiền rót xuống khi nào? Bao nhiêu? Và khi nào được giải ngân, tất nhiên ban quản lí nắm rất rõ. Thế là ê kíp diễn kịch được thành lập để moi những đồng tiền thuế ấy. Họ moi như thế nào? Họ dùng các chân gỗ để diễn kịch đấu thầu. Chân gỗ là làm hồ sơ đấu thầu để tham gia cho có tụ, mục đích để diễn kịch cho đối tượng đã được chỉ định trúng thầu. Ở dưới gồm công ty A, công ty B, công ty C, công ty D cùng với BQLDA hình thành 1 group diễn kịch. Hôm nay dự án X trị giá 50 tỷ được giao cho A thì B, C và D làm chân gỗ để A trúng thầu. Hôm sau dự án Y trị giá 45 tỷ được giao cho B thì A, C và D làm chân gỗ để B trúng thầu. Và tới lượt C và D trúng thầu dự án khác cũng tựa như vậy. Sau khi trúng thầu, nhà thầu ngắt phần trăm trên giá trị công trình giao lại cho Ban Quản Lý, còn lại bên dưới thi công chia nhau mà ăn. Kết quả, giá thành xây dựng rất cao nhưng chất lượng rất thấp. Làm thiệt hại cho xã hội, lãng phí tiền thuế dân và vì thế, xã hội thối nát cứ nhởn nhơ tồn tại một cách vững bền trong các vở kịch. Rồi vở kịch bầu cử. Đảng cử người, dân bỏ phiếu. Đảng tự kiểm phiếu và tự thông báo tỉ lệ trúng cử không thông qua giám sát của một đơn vị độc độc lập. Vì thế đã bầu cử nhưng trúng cử không bao giờ bất ngờ, luôn đúng với dự án quy hoạch cán bộ của Đảng. Rồi những kẻ trúng cử phải chịu sự kiểm soát của Đảng. Trước khi Quốc hội họp, trưởng đoàn đại biểu sẽ phân công ai phát biểu và phát biểu nội dung gì, phải có đăng kí trước. Tất cả những gì diễn ra được truyền hình trực tiếp đều diễn ra theo kịch bản trước đó. Để kiểm soát ai trở chứng với đạo luật phản quốc gia do Đảng đưa ra, Đảng cho biểu quyết bấm nút chứ không bỏ phiếu kín. Lúc đó, ai phản đối ngoài sự chỉ thị của Đảng sẽ bị vào danh sách chú ý. Nhưng dù có bấm nút phản đối thì tỉ lệ đồng ý hiện trên bảng điện tử công khai cũng đã quy hoạch. Tất cả chỉ là vở kịch. Rồi các lớp Cao Cấp Chính Trị mà ĐCS buộc mọi quan chức phải tham gia học và tốt nghiệp thực chất nó là gì? Nó là lớp dạy cách dối trá khi phát biểu trước dân, hoặc khi trả lời chất vấn của dân. Những quan chức xảo trá nói rằng Việt Nam tốt đẹp, công an Việt Nam giỏi nhất thế giới vvv.. Hay những câu phát biểu tô hồng trông nhố nhăng của ông thủ Phúc cũng từ lớp học đó mà ra. Có điều ông ta vụng về nên làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Tất cả, 100% quan chức CS đều dối trá là vì cái lò đào tạo đó. Cách lừa dân được thành lập nên trường lớp để giảng dạy. Xét hết chiều dài lịch sử ĐCS cầm quyền, cũng là những vở kịch. Từ năm 1945 quân đội CS được Tàu cấp từ vũ khí, những sĩ quan tham mưu đến miếng lương khô. Khi đó Hồ Chí Minh và ĐCS nhận mệnh lệnh Nga – Tàu, dùng hàng triệu xương máu đồng bào đuổi nền văn số 1 thế giới để đưa Việt Nam trở vào vòng tay Nga -Tàu. Với khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” hay “chống Mỹ cứu nước” là để lừa mị cho một vở kịch làm con tốt cho Nga Tàu. Khi đến cuối thập niên 70 Nga -Tàu bất hoà, CS ngã về anh hai Nga nên bị anh ba Tàu bợp tai một phát chí mạng. Sau khi anh hai Nga Xô đổ, CSVN đến Thành Đô quỳ xin lỗi anh ba Tàu và không dám phản bội nữa. Kể từ đó, Việt Nam dần dần trở vào thòng lọng Tàu. Bất chấp tất cả, hàng loạt văn kiện bí mật giữa 2 đảng về số phận Việt Nam được kí kết. Nước Việt bị mất dần dưới cái gọi là “tình nghĩa anh em XHCN”. Đấy là vở kịch dựng lên để che đại họa mất nước. Nhân dân Việt Nam đang sống trong xã hội đầy rẫy những vở kịch được dựng lên để lừa mị nhau. Nhà nước hoạt động bằng những vở kịch để lừa mi dân. ĐCS kết thân Tàu để lừa mị dân cho một mưu đồ bán nước. Lớp Cao Cấp Chính Trị cho ra những quan chức lừa mị dân về những “thành quả tốt đẹp” của Đảng. Nhân dân Việt Nam tựa như nạn nhân bị nhốt trong container lừa mị, container đang nằm trên con tàu Việt Nam và đang được cướp biển ĐCS lái đi bán. Dân mù tịt, chẳng hề hay biết gì về thảm họa sắp xảy ra với mình./.

NHỮNG NGƯỜI "MẸ VẮNG NHÀ" Thực Hiện Bureau CTM Media - Á Châu Trương Duy Nhất – RFA Bộ phim tài liệu “mẹ vắng nhà” về nữ tù nhân Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (mẹ Nấm) đang được trình chiếu trên nhiều quốc gia, cũng là lúc thêm một “mẹ vắng nhà” nữa. Tôi lặng người, trước những bản tin chia sẻ dồn dập trên mạng từ sáng đến giờ. Cuộc vây bắt, dứt khỏi vòng tay bà mẹ một đứa trẻ mới 22 tháng tuổi. “Ánh mắt em ám ảnh tôi Mái tóc em ám ảnh tôi Giọng nói khản đặc em Ám ảnh tôi… Đọc tin em bị khóa tay bóp cổ lôi đi Em rong kinh Em tiều tụy Người con gái Quảng Nam” (Nguyễn Chiêu Anh) Là những dòng thơ, của một người bạn tranh đấu viết tặng Huỳnh Thục Vy. Nhưng có lẽ, ám ảnh chúng ta hơn, xót đau hơn là những cặp mắt con trẻ bắt đầu xa mẹ. Những Nấm, Gấu, Phú, Tài… Và đến giờ, là một đứa trẻ vừa 22 tháng tuổi. Họ tội tình gì? Những đứa trẻ miệng còn mớm sữa mẹ kia tội tình gì? Không gì man rợ và độc ác hơn. Trước Huỳnh Thục Vy, là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga… Những phụ nữ quả cảm, can trường. Các chị lên tiếng thay chúng ta, hy sinh thay chúng ta. Còn chúng ta câm nín? Tôi thấy khoé mắt cay, khi đọc dòng comment này: “Trước những người phụ nữ Bỗng dưng thấy ta hèn!” (Nguyễn Cảnh Thuỵ)

25 views ·