CEO MINDS: BẢO VỆ TỰ DO NGÔN LUẬN, CHỈ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA TOÀ ÁN MỸ Nguyễn Thanh Anh - Phạm Đoan Trang Trong vài ngày qua, hàng nghìn người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam lục tục “chuyển nhà” từ Facebook sang Minds. Cùng lúc, tranh cãi nổ ra xung quanh các công nghệ, chính sách của Minds và khả năng Minds sẽ bắt tay với chính quyền trong tương lai để bán đứng người dùng. Luật Khoa tạp chí phỏng vấn Bill Ottman - giám đốc điều hành và đồng sáng lập viên của Minds - xoay quanh các mối quan tâm này của cộng đồng mạng xã hội Việt Nam. - Trước khi có “cuộc di tản” của hàng nghìn người dùng Internet Việt Nam từ Facebook sang Minds, thì ông biết gì về Việt Nam? (về thể chế, kinh tế, thị trường, tình hình nhân quyền, vân vân). Tôi biết Việt Nam là một đất nước xinh đẹp, nhưng không may là lại nằm dưới sự lãnh đạo của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, một chính quyền cộng sản với quyền lực vượt quá giới hạn. Tôi đã nghiên cứu khá nhiều về cuộc chiến tranh Việt Nam và phong trào phản chiến tại Mỹ. Tôi rất vui nếu được tìm hiểu thêm về Việt Nam. Thật tuyệt nếu chúng ta có thể trò chuyện trực tiếp, hoặc livestream với nhau, để thảo luận về nhận định của bạn về quốc gia này, cả hai mặt tiêu cực và tích cực. - Ông nghĩ sao về Luật An ninh Mạng vừa mới ban hành tại Việt Nam? Tôi biết đạo luật này có chủ ý nhằm đàn áp mạnh mẽ tự do ngôn luận và quyền riêng tư. Nó trao cho nhà nước quyền lực quá giới hạn để coi một nội dung bất kỳ nào đó là “nội dung bị cấm”, tức là cho nhà nước năng lực để trở thành một cỗ máy kiểm duyệt. Luật này cần phải bị dẹp bỏ trước khi có hiệu lực vào năm 2019. Nó chắc chắn sẽ thất bại. - Chính sách của Minds đối với quyền riêng tư của khách hàng là gì? Bạn có thể đọc bài viết gần đây của chúng tôi về cách Minds bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng như thế nào. Chúng tôi cam kết 100% về chuyện bảo mật. Đây là triết lý cốt lõi của chúng tôi. Nguyên tắc “zero-knowledge”, mã hóa đầu cuối và phi tập trung hoá là những điều tối quan trọng để bảo vệ nhân quyền. Các điều khoản của Minds đều nói rõ rằng chúng tôi tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ. Vì vậy những gì là hợp pháp đối với Hoa Kỳ, thì tồn tại trên Minds. Chúng tôi sẽ không cung cấp thông tin người dùng cho các chính phủ nước ngoài, cũng không kiểm duyệt nội dung theo yêu cầu của ai đó. - Minds có chính sách nào đối với việc cân bằng giữa quyền riêng tư và cái gọi là “an ninh quốc gia”, như cách gọi của công an trong các xã hội độc tài? Orwell (LK: nhà văn, nhà báo người Anh, tác giả tiểu thuyết “1984” nổi tiếng về chế độ toàn trị) đưa ra cụm từ “an ninh công cộng”, tương tự khái niệm “an ninh quốc gia” ngày nay. Nhưng bạn biết không, quyền riêng tư và bảo mật càng được tăng cường thì quốc gia lại càng an toàn hơn chứ không bất ổn; càng có tự do ngôn luận thì xã hội càng lành mạnh hơn chứ không yếu đi. Thông tin sai sự thật và tuyên truyền quả là vấn đề, nhưng nghiên cứu cho thấy kiểm duyệt làm cho những vấn đề đó thậm chí càng trở nên tồi tệ hơn. Tôi vừa viết xong một bài về việc này. Điều đó đã được chứng minh từ lâu bởi các chuyên gia về mật mã, các chuyên gia hàng đầu về an ninh mạng như Bruce Scheiner và EFF. CHỈ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA TOÀ ÁN MỸ - Ông nghĩ sao về sự cân bằng giữa nhân quyền và việc các nhà nước phải chống lại nguy cơ khủng bố (có thật hoặc tưởng tượng, ngụy tạo)? Chính sách chung của Minds là gì, là chúng tôi đòi hỏi phải có trát/lệnh của tòa hoặc một văn bản nào khác với giá trị tương đương trát của tòa. Quan điểm chung của chúng tôi là không hy sinh quyền tự do để đổi lấy an ninh, vì khi đó, chúng ta sẽ mất cả hai thứ - như Benjamin Franklin đã nói. - Làm thế nào để người dùng Việt Nam – với tư cách một cộng đồng mới hình thành (và có lẽ còn khá nhỏ) – bảo đảm được rằng Minds sẽ đấu tranh cho tự do Internet của chúng tôi mà không hợp tác với chính thể độc tài? Một là hãy liên tục nêu câu hỏi, chất vấn, và liên hệ với chúng tôi khi có những lo ngại như vậy, và hãy buộc chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Hai là hãy kiểm tra mã (code) của chúng tôi, và đề nghị các chuyên gia công nghệ thông tin phát triển giúp chúng tôi làm sao để Minds an toàn hơn và không bị kiểm duyệt. - Chúng tôi nghe nói nhiều về công nghệ mà Minds đang sử dụng. Có đúng là Minds đang sử dụng công nghệ phi tập trung hoá, mã hóa và blockchain hay không? Nếu đúng, vui lòng nói rõ thêm để người dùng chúng tôi hiểu hơn về các điểm mạnh của Minds. Nếu không phải vậy thì xin cho biết Minds có gì khác với Facebook? Đúng vậy, chúng tôi không ngừng cố gắng để Minds trở nên phi tập trung hơn. Đó là lý do tại sao chúng tôi hiện đang tận dụng các công nghệ như Ethereum và Webtorrent. Trong tương lai, chúng tôi sẽ tập trung thật nhiều nữa vào phân cấp và p2p. Facebook đang ngày càng gây khó chịu bởi sự giám sát, xâm phạm quyền riêng tư, các thuật toán thao túng người dùng, những vụ bê bối dữ liệu, tư duy đặt lợi nhuận lên hàng đầu, kiểm duyệt nội dung, và khai thác tâm lý người dùng. Minds làm điều ngược lại. - Về công nghệ blockchain, dường như Minds đang sử dụng nó chỉ cho những hoạt động liên quan đến Token. Có đúng không? Đúng. Chúng tôi sử dụng token ERC20 trên blockchain Ethereum. Sách trắng của Minds nêu cách chúng tôi tạo ra một loạt giao dịch khác nhau đối với những hợp đồng thông minh cho các sản phẩm Boost và Wire của chúng tôi. Chúng tôi có hệ thống phần thưởng lớn cho những người đóng góp tạo ra các token và sau đó có thể sử dụng token để “đẩy” nội dung lên nhằm có thêm lượt xem (view). - Xin lỗi vì câu hỏi có thể rất ngốc nghếch: Token là để làm gì vậy? Chúng tôi tạo ra token để thưởng cho những người dùng có đóng góp cho mạng, và để chuyển từ hệ thống quảng cáo mạng (dựa trên nội dung) và thanh toán peer-to-peer, gây quỹ từ đám đông (crowfunding) thành những hợp đồng thông minh trên nền tảng công nghệ blockchain. Chúng tôi cũng tạo ra token để chống lại những thuật toán khắc nghiệt khiến cho phạm vi tiếp cận thật sự của người đọc với bài viết bị giảm đáng kể trên facebook. Một token hiện nay thưởng cho một người dùng 1000 điểm ấn tượng, hay 1000 lượt xem (view), về nội dung của họ, bằng cách bấm vào nút boost trên bài đăng của họ. Nói cách khác, chúng tôi tạo ra Token để chống lại các thuật toán khó chịu của Facebook – thứ làm giảm khả năng lan tỏa thực sự (không ảo) của bài đăng và quyền biểu đạt của người viết, vốn là một hình thức kiểm duyệt mềm. Minds sẽ luôn tạo khả năng lan tỏa thật sự, 100%, và thưởng cho người dùng quyền được tham gia, quyền lên tiếng nói nhiều hơn. Các bạn có thể tìm hiểu về cơ chế thưởng tại đây. Chúng tôi tin rằng tiếng nói của mỗi người dân cần phải được lan tỏa rộng hơn nữa chứ không phải bị bịt đi. Lan tỏa, chứ không phải lợi dụng. - Chúng tôi thấy trong chính sách bảo mật của Minds có nói rằng Minds “có thể tiết lộ danh tính cá nhân và thông tin cá nhân khi có trát của tòa, lệnh của tòa án hoặc CÁC YÊU CẦU KHÁC CỦA CHÍNH QUYỀN (tôi nhấn mạnh), hoặc khi Minds cho rằng việc tiết lộ này là cần thiết, chính đáng để bảo vệ tài sản và quyền lợi của Minds, của các bên thứ ba hoặc của cộng đồng nói chung”. Chúng tôi khá lo lắng về điều này bởi vì nó ngụ ý rằng những người dùng chúng tôi vẫn có thể bị nhà nước truy cập thông tin cá nhân trong khi chính quyền Việt Nam hiện tại là một nhà nước độc đảng và công an trị. Ông nghĩ sao về quy định này của Minds? Điều này không áp dụng đối với chính quyền Việt Nam, và chúng tôi sẽ không cung cấp thông tin cá nhân cho họ. Chúng tôi sẽ thảo luận với đội tư vấn pháp lý của chúng tôi để sửa lại cách diễn đạt này cho rõ. Về cơ bản, Minds ra đời dựa trên quan điểm bảo vệ tự do ngôn luận, và rồi các bạn sẽ sớm thấy là Minds không hề bị kiểm duyệt như bất cứ mạng nào khác mà bạn từng biết. - Có phải Minds được nhóm hacker nổi tiếng Anonymous hỗ trợ không? Đúng vậy, bởi vì chúng tôi chấp nhận cho những tài khoản ẩn danh tồn tại (khác với Facebook có chính sách hướng đến buộc tất cả người dùng phải sử dụng danh tính thật – NV). Mặc dù Anonymous là một nhóm phi tập trung và không có lãnh đạo, nhưng họ có rất nhiều nhánh và tôi không muốn nói về tất cả họ. Tôi hình dung rằng không phải tất cả các thành viên của họ đều ủng hộ chúng tôi. Nhưng chắc chắn là một số thành viên của họ ủng hộ Minds. Chỉ xin lưu ý bạn là chúng tôi chỉ tán thành việc hack với mục đích tử tế. QUYỀN CON NGƯỜI GẮN VỚI KỸ THUẬT SỐ - Minds mong đợi gì từ Việt Nam, hay nói đúng hơn, từ cộng đồng các mindser Việt Nam? Chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều nhà lãnh đạo có tư tưởng, nhiều công dân mạng (netizen) tiếp tục chuyển sang Minds, vì tự do Internet. Chúng tôi cam kết không ngừng phát triển và cải thiện nền tảng công nghệ, dựa trên những phản hồi từ các bạn. Đó là lý do tại sao chúng tôi dùng mã nguồn mở 100%. Cách tốt nhất để xây dụng một cộng đồng tự do cho tương lai là hãy để những người có sức ảnh hưởng sử dụng các công cụ của chúng tôi như blog, video, post, các nhóm, wallet, token và mang người đọc đến với nhau. - Ông có nghĩ đến việc thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam và/hoặc cung cấp một phiên bản tiếng Việt của Minds cho người dùng Việt Nam không? (Tiếng Anh không phải là ngôn ngữ thứ hai của chúng tôi vì thế hầu hết mọi người cảm thấy khó khăn trong việc sử dụng Minds bằng tiếng Anh). Vâng, phiên bản tiếng Việt sẽ sớm được thực hiện trong một vài tuần tới. Có thể sớm hơn. - Chiến lược của Minds đối với Trung Quốc, Việt Nam, châu Á, và thế giới, là gì? Chiến lược của chúng tôi là trung thành với các nguyên tắc mà chúng tôi đã đặt ra, tiếp tục xây dựng các công cụ tốt hơn nữa, và hy vọng sẽ tiếp tục được kết nối với các nhà lãnh đạo có tư tưởng trên toàn châu Á – những cá nhân có thể góp phần giúp đỡ, thúc đẩy để những người dân của họ thoát khỏi việc bị theo dõi, giám sát. (Nguyên văn: thought leaders all throughout Asia who can help migrate their audiences off of surveillance platforms). - Nghe nói ông từng là một nhà hoạt động nhân quyền, cụ thể là đấu tranh vì quyền tự do thông tin, tự do Internet. Ông đã là nhà hoạt động như thế nào? Tôi có khoảng 10 năm tham gia làm truyền thông độc lập, cổ súy tự do thông tin và quyền riêng tư. Đối với tôi, minh bạch tuyệt đối, mã nguồn mở, công nghệ mã hóa đầu-cuối và các quyền con người gắn với kỹ thuật số là những điều quyết định sống còn để có một xã hội tự do. Tôi từng giúp các tổ chức mới thành lập trên facebook có được hàng triệu người theo dõi (follower), nhưng đến khi thuật toán và chính sách của Facebook xâm phạm quá nhiều (vào quyền riêng tư), thì đã đến lúc #deletefacebook (xóa Facebook). - Ông nghĩ sao về xu hướng các tập đoàn đang cấu kết với nhà nước để trở thành một thế lực nguy hiểm, đe dọa người dân, ở các nước như Việt Nam? Lằn ranh giữa các tập đoàn toàn cầu và chính quyền bị xóa nhòa, đó là một xu hướng không thể chấp nhận được. Người dân cần hoạt động mạnh mẽ trên các mạng xã hội để phá đi sức mạnh của những tập đoàn tham nhũng, và gia tăng sức mạnh của những thực thể thay thế, đang nổi lên và có đạo đức hơn. --- Bill Ottman (sinh ngày 02/11/1985) là một doanh nhân khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin-truyền thông, và là nhà hoạt động về quyền tự do thông tin. Ông tốt nghiệp Đại học Vermont, ngành tiếng Anh và âm nhạc, năm 2010. Tháng 2/2011, Bill Ottman sáng lập Minds – dịch vụ mạng xã hội nguồn mở và phân tán, tích hợp công nghệ blockchain. Một số người đồng sáng lập: John Ottman, Mark Harding, Ian Crossland và Jack Ottman. Tháng 6/2015, Minds ra mắt công chúng như một mạng xã hội “cực kỳ bảo vệ quyền riêng tư” (super-private) và công khai việc họ được hỗ trợ bởi các thành viên của nhóm hacker nổi tiếng Anonymous. Minds cũng công khai bày tỏ hy vọng sẽ thế chỗ Facebook và các mạng xã hội khổng lồ khác để trở thành một mạng xã hội mới, cam kết bảo vệ quyền riêng tư, an ninh (an toàn) của người sử dụng, và sự minh bạch. Ngày 1/7 vừa qua, Bill Ottman viết trên trang mạng cá nhân của ông ở Minds: “Chào mừng tất cả các bạn đến từ Việt Nam. Tôi là người đồng sáng lập Minds, vậy nên các bạn hãy thoải mái liên hệ với tôi. Tự do Internet rất quan trọng. Cảm ơn các bạn đã đến đây”. Vào buổi tối cùng ngày, ông viết thêm: “Xin chào. Hãy bảo các nhà báo hàng đầu nhắn tin cho tôi để phỏng vấn hoặc nêu câu hỏi của các bạn về Minds, Tuấn, v.v. Chúng tôi cực lực phản đối đạo luật mới ở Việt Nam (luật An ninh mạng – NV) và chúng tôi có mặt ở đây là để đấu tranh cho quyền tự do Internet của các bạn”. Ông cũng chia sẻ trên trang cá nhân một bài viết của nhạc sĩ Tuấn Khanh về “cuộc di tản vĩ đại” thời @ của người Việt Nam từ Facebook sang Minds, và bức hình cô Huỳnh Thục Vy dán băng đen lên miệng để “phản đối luật An ninh mạng, phản đối Facebook sách nhiễu người dùng Việt Nam”.
1123Upvotes
4Downvotes
198Reminds

More from Luật Khoa tạp chí

BÁO CHÍ ĐÔNG ÂU HẬU CỘNG SẢN - KỲ 3 VÀ HẾT: NHÀ BÁO MỚI, NHÀ BÁO CŨ Anh-Khoa Ngày nay, nhiều người sống ở các nước Đông Âu đã không còn tin tưởng vào giới truyền thông. Điều này phần lớn là do các hành vi và thái độ của các phóng viên trong những năm đầu sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, ảnh hưởng đến cách làm việc của các nhà báo trong những năm sau này. Ngay khi chuyển đổi thể chế, các nhà báo trong khu vực gặp nhiều khó khăn để định hình và xác định những giá trị sẽ tạo thành một nền báo chí tự do, cũng như cách thực thi những giá trị đó. Việc thiếu hiểu biết về vai trò của nhà báo dưới chế độ dân chủ là một trở ngại. Thêm vào đó, tính chuyên nghiệp của báo chí đã không tồn tại dưới chế độ cũ, nên ngay cả khi chế độ kiểm duyệt đã bị xoá bỏ hoặc ít nhất suy giảm vào đầu những năm 1990, các nhà báo vẫn không thể tạo ra một nét đặc biệt chuyên nghiệp tương tự như ở các nước dân chủ phương Tây. Kết quả là các phương tiện truyền thông không thể trở thành một nguồn tin đáng tin cậy cho công chúng. Mặc dù số lượng các phương tiện truyền thông, cả báo in lẫn phát thanh - truyền hình, tăng lên đáng kể khi các nước cộng sản trở thành dân chủ, điều này không nhất thiết là một dấu hiệu khả quan. Sự bùng nổ về số lượng tạo ra rất nhiều phóng viên không được đào tạo chuyên nghiệp. Tuy một số trường đại học bắt đầu dạy và phát triển các ngành báo chí vào cuối những năm 1990 nhưng hiệu quả của chúng trong việc đào tạo các nhà báo dưới chế độ mới rất hạn chế. Những trường đại học này có nhiều chương trình học khác nhau và không có một phương pháp thống nhất cho hệ thống báo chí của cả nước. Hơn nữa, những tổ chức báo chí chuyên nghiệp tồn tại nhưng thiếu tổ chức và không có bất kỳ một quy định nào về đạo đức và vai trò thực tiễn của nhà báo. Ngay cả khi các tổ chức này đã cố gắng đề ra các nguyên tắc báo chí nhưng vẫn không thể tiến hành mô phỏng được theo các nước dân chủ Tây phương. Ví dụ, hai hiệp hội báo chí của Ba Lan đã không thể thực thi được các quy tắc đạo đức của nền báo chí mới bởi vì các thành viên và nhà báo đã không tham gia một cách nghiêm túc. Kết quả của việc thiếu đào tạo chuyên nghiệp là các nhà báo không có các kỹ năng cần thiết để đưa tin hiệu quả và giải quyết các câu hỏi khó khăn trong quá trình điều tra. Các nhà báo thường viết những tin chưa được nghiên cứu đầy đủ, thiếu khách quan và không phản ánh thực tế về những gì đang xảy ra. Thực tế, ở các nước Đông Âu, cánh báo chí đưa tin về những vấn đề chính trị không có kinh nghiệm để trả lời và suy xét những nghi vấn về nhà nước. Có nghĩa là hầu hết các nhà báo đã không có những thông tin cần thiết để cung cấp cho công chúng để từ đó công chúng có thể tự đánh giá các chính sách của chính phủ. Hầu hết các bài báo hoặc là ủng hộ các chính sách của chính phủ hoặc mù quáng chỉ trích các quan chức một cách không suy xét, trong khi các tin tức được điều tra toàn diện và đầy đủ là rất hiếm có. Sự chia rẽ ý thức hệ giữa các nhà báo cũ - nghĩa là những người đã vào nghề trước khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ - và các nhà báo mới tạo ra hai hình thức đưa tin. Các nhà báo lớn tuổi thường từ chối suy xét hay đặt ra nghi vấn với những chính sách hay sự thật về chính phủ. Ngược lại, các nhà báo mới và trẻ hơn không phải lúc nào cũng chấp nhận tất cả các thông tin được chính phủ cung cấp, nhưng họ có xu hướng xem bản thân là nhà bình luận, phê bình và phân tích hơn là phóng viên. Điều này đã dẫn đến sự lập lờ của các bài báo đưa tin và các bài phân tích và bình luận, từ đó đã làm giảm độ tin cậy của các nhà báo trong mắt công chúng. Ngoài ra, các bản tin của các nhà báo trẻ tuổi - đặc biệt là ở Hungary, Romania, Tiệp Khắc, và các nước cộng hòa non trẻ- thường sử dụng ngôn ngữ phẫn nộ và thô tục, và làm giảm độ tin cậy của các thông tin. Việc chỉ trích các chính trị gia bằng những ngôn từ không phù hợp trong các bài báo đã trở thành một cái cớ cho chính phủ phản công. Tại Hungary, đầu những năm 1990, chính phủ lấy cớ đó mà tố cáo báo chí là không khách quan và đáng tin cậy. Tầng lớp tinh hoa thậm chí còn cáo buộc các phương tiện truyền thông về những thái độ quá khích và liên tiếp chống lại cải cách của nhà nước. Các bản tin thiếu chuyên nghiệp cũng khiến cho các nhà báo dễ bị tổn thương hơn trước nguy cơ bị buộc tội phỉ báng, đặc biệt là khi các quốc gia hậu cộng sản trong khu vực bắt đầu áp dụng lại luật chống phỉ báng với mức độ kiểm duyệt ngày càng tăng. Các nhà báo đưa tin về các vấn đề chính trị thường bị lôi kéo vào chính trường, thậm chí còn nắm giữ chức vụ quan trọng - đơn cử như Vaclav Havel, Jiri Dienstbier, Václav Klaus và Rita Klimova tại Cộng hòa Czech; Adam Michnik ở Ba Lan và Nikolle Lesi ở Albania. Từ đó, có thể thấy rõ bản chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các phương tin truyền thông và giới tinh hoa ở các nước Đông Âu. Cuối cùng, sau sự sụp đổ của chế độ cộng sản, các nhà báo không thể thiết lập một khuôn khổ chuyên nghiệp có thể giúp đưa tin một cách khách quan và toàn diện về các chính sách của chính phủ. Sự thiếu chuyên nghiệp đã làm giảm hiệu quả truyền thông, khiến nó không thể đóng được vai trò đúng mức trong các cuộc thảo luận dân chủ. Kỳ trước: Sức ỳ của văn hoá chính trị Tài liệu tham khảo: Xem Kỳ 1: Chập chững tư nhân hoá.
4.11k views ·
SỰ IM LẶNG CỦA NHỮNG 'NGƯỜI THẦY' Võ Văn Quản Gần đây, trên trang facebook của mình, một bạn trẻ tên là Trương Thị Hà viết một bức thư gửi cho thầy giáo của mình ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh. Theo tường thuật của Hà, cô bị công an bắt cóc sáng ngày 17/6, bị giam và bị đánh đập trong công viên Tao Đàn cho đến đêm cùng ngày. Trong quá trình "làm việc" với cô, công an đã mời hai thầy giáo của cô tới làm chứng. Cả hai người thầy gần như không có lời lẽ nào bảo vệ cô, lặng lẽ chấp nhận những yêu cầu của phía công an, ký xác nhận vào biên bản do công an chuẩn bị sẵn và bỏ mặc cô ở lại. Tôi không thể minh chứng lời của Hà là sự thật. Tôi không có mặt ở đó, những gì Hà nói có thể bị xem là tường thuật một phía, và sự trung lập của một người làm khoa học bắt buộc bản thân tôi phải xem xét những lời nói của Hà chỉ nằm ở mức độ cáo buộc. Tuy nhiên, những người thầy vô cảm như vậy là điều tôi hoàn toàn có thể hình dung ra được trong môi trường học thuật tại Việt Nam. Tôi biết những giảng viên, thạc sĩ, tiến sĩ luật môi trường chưa từng lên tiếng phản ứng, phản đối (hay thậm chí phân tích) những sai phạm rõ ràng của Formosa, chưa từng nói về Bauxite Tây Nguyên hay dòng Mekong đang chết. Thứ họ quan tâm là những chuyến chu du giảng dạy khắp đất nước để lấy "quan hệ". Tôi biết những nhà hoạt động giáo dục, những chuyên gia tâm lý thanh thiếu niên chửi bới cá nhân và thóa mạ gia đình những đứa trẻ 14 - 15 khi chúng bắt đầu phát biểu ý kiến và đặt ngược vấn đề với những vị quan chức "cây cao bóng cả". Tôi biết những người chưa bao giờ thật sự quan tâm thúc đẩy kinh tế, nghiên cứu khoa học xã hội và đấu tranh chống bất bình đẳng ở Việt Nam, nhưng quyết dấn thân vào ngành vì những nguồn tài trợ quốc tế dồi dào và thứ công việc giấy tờ nhàn hạ. Chuẩn bị cho mình tâm thế đó, tôi đáng lẽ không nên bất ngờ khi hai giảng viên của trường "nhân văn" có thể thờ ơ nhìn học trò của mình (hay bất kỳ một người nào khác) bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm và thân thể một cách thô bạo, để rồi ký giấy xác nhận và nhanh chóng bước ra khỏi căn phòng làm việc vô pháp đó. Nhưng bằng cách nào đó tôi vẫn bất ngờ vì tôi chưa từng nghĩ một bộ phận giới học thuật nói chung, những tinh hoa có tầm hiểu biết và vị trí thuận lợi nhất để bảo vệ sự thật, lẽ phải, lại là những người im ắng nhất trong phong trào cấp tiến tại Việt Nam. Bài viết này sẽ không bàn về những người thầy của Hà. Như đã nói, tôi không biết sự thật. Nhưng tôi chắc đã đến lúc giới học thuật tại Việt Nam nhìn lại bản thân mình, liệu họ có thật sự xứng danh nhà khoa học hay không. TỪ SỰ TRUNG LẬP TẠI GIẢNG ĐƯỜNG... Nhiều người cho rằng trong học thuật không có chỗ cho chính trị. Tôi thừa nhận rằng yêu cầu trung lập chính trị tại giảng đường là một trong những yêu cầu căn bản nhất của môi trường giáo dục đại học. Trong gần hai năm theo học thạc sĩ luật tại London, Anh, tôi có may mắn được chứng kiến cách mà nhiều giáo sư tránh né các vấn đề mà họ cho là có phần quá chính trị. Khi giáo sư môn Luật nhân quyền và Giải quyết tranh chấp nhân quyền Liên minh Châu Âu được hỏi về ảnh hưởng và tác hại của Brexit, bà khéo léo chuyển câu chuyện sang những vấn đề liên quan đến bài giảng của mình. Bà nói rằng nhiều phán quyết của Tối cao Pháp viện Anh đã bị Tòa Nhân quyền Châu Âu tuyên vô hiệu, nhiều lập luận sáng tạo và sự độc lập phong phú của thông luật Anh đã bị khóa tay bởi phương pháp xử lý án rập khuôn, đơn điệu và khuôn mẫu của những thẩm phán dân luật Châu Âu lục địa. Bà đặt câu hỏi về tâm lý của những thẩm phán quốc gia về chủ quyền. Nhưng sau đó, bà cũng đưa thông tin về những quyền con người đã được Tòa Nhân quyền Châu Âu hình thành và bảo vệ thông qua việc bác bỏ những án lệ quốc gia. Bà hỏi quan điểm sinh viên về tầm quan trọng của cam kết quốc gia trong việc thực thi pháp luật quốc tế cùng sự hiếm hoi của những cơ chế bảo vệ pháp luật quốc tế như Tòa Nhân Quyền Châu Âu. Câu trả lời cuối cùng? Bà không có. Bà nói thẳng: Với những câu hỏi học thuật thuần túy trên, tôi cho là các học viên đã biết mình muốn gì, mình bảo vệ quan điểm nào, và mình sẽ sử dụng những điều mình học được để bảo vệ quan điểm của mình ra sao. Quan điểm của tôi không phải là lý do tôi đứng trên bục giảng. Tôi cần những học viên của mình có thể bảo vệ quan điểm của mình một cách học thuật nhất có thể. Đó là một trong những lý do tôi khâm phục những giáo sư của mình tại Anh quốc, và càng vui mừng hơn khi "truyền thuyết" tôi tìm hiểu và hâm mộ về nền giáo dục nước ngoài là sự thật. Không có những lời có cánh dành cho một hệ thuyết chính trị, không có sự tán dương dành cho chính quyền, nhưng cũng không có phản ứng quyết liệt trước những sự kiện chính trị (trên giảng đường). Phương Tây luôn cho rằng mục tiêu cuối cùng của giáo dục là kỹ năng suy nghĩ, phản biện; là kỹ năng xử lý vấn đề tự thân. Thứ mà những giáo sư phương Tây trang bị cho chúng tôi là những học thuyết, thông tin, nguyên tắc; và chúng tôi có trách nhiệm xây dựng nên hệ thống niềm tin của chính mình một cách khoa học nhất có thể. Và để đủ năng lực giảng dạy những điều cao cả ấy, những người giảng viên buộc phải trung lập. Họ giới thiệu pháp luật, thông tin, yêu cầu học viên nghiên cứu các học thuyết và ý kiến của tác gia, hướng dẫn thảo luận và bảo đảm rằng mọi sinh viên đều tương tác tốt trong quá trình học. Một người giảng viên sẽ biến lớp học trở thành một gian phòng của guồng máy tuyên truyền nếu họ thể hiện thành kiến và khuynh hướng chính trị rõ ràng trên lớp. Họ cũng có khả năng biến lớp học trở thành chiến trường không cân sức giữa các nhóm tư tưởng sinh viên, thay vì dung hòa và tạo ra môi trường trao đổi để sinh viên có thể thách thức, và những tư tưởng của họ cũng bị thách thức ngược lại. ...ĐẾN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ CÔNG LÝ NGOÀI XÃ HỘI Người giáo sư tôi nói đến là Heléne Lambert, một trong những chuyên gia, và cũng là một trong những nhà hoạt động đầu ngành trong bảo vệ quyền con người, quyền của người tị nạn và phong trào quốc tế hóa pháp luật tại Châu Âu. Bà cũng đã chính thức chia tay chúng tôi sau một học kỳ để đến giảng dạy tại một đại học danh tiếng khác tại Úc. Một trong số những lý do, như giáo sư chia sẻ riêng (bà là người hướng dẫn của tôi), là thái độ vô trách nhiệm của chính phủ Anh đối với các nhóm dân nhập cư, sự bảo thủ trong đường lối Brexit và các vấn đề liên quan đến nhân quyền. Bà vẫn sẽ đóng góp và đấu tranh cho sự tiến bộ của pháp luật nhân quyền và người tị nạn tại Châu Âu, nhưng bà đã không còn tìm thấy kết nối về mặt tư tưởng với một ngôi trường đại học thuộc gốc Hoàng gia Anh. Tôi từng cho rằng điều này là kỳ lạ. Vì sao một giáo sư với tâm thế bình thản và trung lập hết mức ở giảng đường, lại có thể lựa chọn một phương án giải quyết vấn đề cực đoan như thế? Nhưng đến bây giờ, tôi hiểu vấn đề của Giáo sư Lambert. Giới trí thức học thuật sở hữu những đặc quyền để đấu tranh cho lẽ phải. Họ có thời gian, có công cụ, có kiến thức và được rèn luyện để tìm ra sự thật đằng sau những bức màn tuyên giáo. Công việc của họ là nghiên cứu khoa học, một mảnh đất màu mỡ cho những lý luận mới, phương pháp mới, niềm tin mới và chân lý mới. Giới học thuật, như hàng trăm năm trước, vẫn là nhân tố chính yếu cho sự phát triển và tiến bộ của kinh tế, chính trị, triết học hay luật học. Một khi họ ngừng tìm kiếm sự thật và bảo vệ lẽ phải trước cường quyền, thứ học thuật của họ trở thành rác, là cơ nguồn cho một xã hội phản động. Và tôi không giới hạn quan điểm này ở những môn khoa học xã hội. Bạn có biết rằng nhà bác học khoa học tự nhiên lừng danh nhất, Albert Einstein từng bị Đức Quốc Xã xem là một kẻ đạo văn? Trong một bài báo "khoa học" của Mitteilungen über die Judenfrage, được Institut zum Studium der Judenfrage phát hành (tạm gọi là Viện Nghiên cứu Dân tộc tính Do Thái), một trong những Viện Hàn Lâm danh tiếng nhất nước Đức Quốc xã thời bấy giờ, tác giả cho rằng Thuyết Tương đối của Einstein không có gì mới mẻ. Nếu nó có điểm mới, Einstein đã đạo lý thuyết này ở nơi khác. Einstein bị chửi rủa là một sản phẩm cuồng tín được những kẻ Do Thái và bọn ngoại bang xây dựng nên. Nhưng đến cuối cùng, lịch sử cũng cho chúng ta biết ai mới là người làm khoa học thực thụ. Không nhà khoa học, không học giả chân chính nào an toàn trong những thể chế độc tài toàn trị. Vậy nên, nếu có bất kỳ nhóm xã hội nào nên đóng vai trò quảng bá, thúc đẩy sự đa nguyên tư tưởng; khơi dậy lương tâm chính nghĩa; nuôi dưỡng một thế hệ tân công dân chính trị và đi đầu trong kết hợp các phong trào dân sự với sự khắt khe lý thuyết, thì họ nên là tầng lớp trí thức, nên là các nhóm học thuật. Dân chủ, minh bạch và công bình là nền tảng sống của giới trí thức. Đi ngược lại nguyên tắc đó, họ đã tự kết liễu một đời sống học thuật lành mạnh cho chính mình, và đi ngược lại nguyên tắc phát triển lịch sử xã hội loài người căn bản nhất. Khi những người thầy quay lưng trước bất công xã hội và bỏ mặc người cần giúp đỡ, tôi nghĩ, chính lúc đó cánh cửa phản động xã hội mới thật sự mở ra.
7.76k views ·
Hôm nay, 1/7, là kỷ niệm 21 năm ngày Hong Kong trở về với Trung Quốc, sau 99 năm làm thuộc địa của Anh (1898 – 1997). Trong 99 năm đó, Hong Kong đã phát triển thành một thương cảng sầm uất và là một trong những trung tâm tài chính quan trọng nhất thế giới. Danh hiệu này vẫn được Hong Kong giữ vững trong 21 năm qua, kể từ khi trở thành Đơn vị Hành chính Đặc biệt của Trung Quốc. Để làm được điều đó, yếu tố quan trọng bậc nhất là hệ thống pháp luật của Hong Kong. Ngày nay, tuy là một phần của Trung Quốc và phải áp dụng một số quy định của pháp luật Trung Quốc, Hong Kong vẫn thụ hưởng quy chế tự trị tương đối và có một hệ thống pháp luật riêng. Sau đây là bảy điều thú vị cần biết về hệ thống pháp luật khá đặc biệt này.
4.42k views ·

More from Luật Khoa tạp chí

BÁO CHÍ ĐÔNG ÂU HẬU CỘNG SẢN - KỲ 3 VÀ HẾT: NHÀ BÁO MỚI, NHÀ BÁO CŨ Anh-Khoa Ngày nay, nhiều người sống ở các nước Đông Âu đã không còn tin tưởng vào giới truyền thông. Điều này phần lớn là do các hành vi và thái độ của các phóng viên trong những năm đầu sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, ảnh hưởng đến cách làm việc của các nhà báo trong những năm sau này. Ngay khi chuyển đổi thể chế, các nhà báo trong khu vực gặp nhiều khó khăn để định hình và xác định những giá trị sẽ tạo thành một nền báo chí tự do, cũng như cách thực thi những giá trị đó. Việc thiếu hiểu biết về vai trò của nhà báo dưới chế độ dân chủ là một trở ngại. Thêm vào đó, tính chuyên nghiệp của báo chí đã không tồn tại dưới chế độ cũ, nên ngay cả khi chế độ kiểm duyệt đã bị xoá bỏ hoặc ít nhất suy giảm vào đầu những năm 1990, các nhà báo vẫn không thể tạo ra một nét đặc biệt chuyên nghiệp tương tự như ở các nước dân chủ phương Tây. Kết quả là các phương tiện truyền thông không thể trở thành một nguồn tin đáng tin cậy cho công chúng. Mặc dù số lượng các phương tiện truyền thông, cả báo in lẫn phát thanh - truyền hình, tăng lên đáng kể khi các nước cộng sản trở thành dân chủ, điều này không nhất thiết là một dấu hiệu khả quan. Sự bùng nổ về số lượng tạo ra rất nhiều phóng viên không được đào tạo chuyên nghiệp. Tuy một số trường đại học bắt đầu dạy và phát triển các ngành báo chí vào cuối những năm 1990 nhưng hiệu quả của chúng trong việc đào tạo các nhà báo dưới chế độ mới rất hạn chế. Những trường đại học này có nhiều chương trình học khác nhau và không có một phương pháp thống nhất cho hệ thống báo chí của cả nước. Hơn nữa, những tổ chức báo chí chuyên nghiệp tồn tại nhưng thiếu tổ chức và không có bất kỳ một quy định nào về đạo đức và vai trò thực tiễn của nhà báo. Ngay cả khi các tổ chức này đã cố gắng đề ra các nguyên tắc báo chí nhưng vẫn không thể tiến hành mô phỏng được theo các nước dân chủ Tây phương. Ví dụ, hai hiệp hội báo chí của Ba Lan đã không thể thực thi được các quy tắc đạo đức của nền báo chí mới bởi vì các thành viên và nhà báo đã không tham gia một cách nghiêm túc. Kết quả của việc thiếu đào tạo chuyên nghiệp là các nhà báo không có các kỹ năng cần thiết để đưa tin hiệu quả và giải quyết các câu hỏi khó khăn trong quá trình điều tra. Các nhà báo thường viết những tin chưa được nghiên cứu đầy đủ, thiếu khách quan và không phản ánh thực tế về những gì đang xảy ra. Thực tế, ở các nước Đông Âu, cánh báo chí đưa tin về những vấn đề chính trị không có kinh nghiệm để trả lời và suy xét những nghi vấn về nhà nước. Có nghĩa là hầu hết các nhà báo đã không có những thông tin cần thiết để cung cấp cho công chúng để từ đó công chúng có thể tự đánh giá các chính sách của chính phủ. Hầu hết các bài báo hoặc là ủng hộ các chính sách của chính phủ hoặc mù quáng chỉ trích các quan chức một cách không suy xét, trong khi các tin tức được điều tra toàn diện và đầy đủ là rất hiếm có. Sự chia rẽ ý thức hệ giữa các nhà báo cũ - nghĩa là những người đã vào nghề trước khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ - và các nhà báo mới tạo ra hai hình thức đưa tin. Các nhà báo lớn tuổi thường từ chối suy xét hay đặt ra nghi vấn với những chính sách hay sự thật về chính phủ. Ngược lại, các nhà báo mới và trẻ hơn không phải lúc nào cũng chấp nhận tất cả các thông tin được chính phủ cung cấp, nhưng họ có xu hướng xem bản thân là nhà bình luận, phê bình và phân tích hơn là phóng viên. Điều này đã dẫn đến sự lập lờ của các bài báo đưa tin và các bài phân tích và bình luận, từ đó đã làm giảm độ tin cậy của các nhà báo trong mắt công chúng. Ngoài ra, các bản tin của các nhà báo trẻ tuổi - đặc biệt là ở Hungary, Romania, Tiệp Khắc, và các nước cộng hòa non trẻ- thường sử dụng ngôn ngữ phẫn nộ và thô tục, và làm giảm độ tin cậy của các thông tin. Việc chỉ trích các chính trị gia bằng những ngôn từ không phù hợp trong các bài báo đã trở thành một cái cớ cho chính phủ phản công. Tại Hungary, đầu những năm 1990, chính phủ lấy cớ đó mà tố cáo báo chí là không khách quan và đáng tin cậy. Tầng lớp tinh hoa thậm chí còn cáo buộc các phương tiện truyền thông về những thái độ quá khích và liên tiếp chống lại cải cách của nhà nước. Các bản tin thiếu chuyên nghiệp cũng khiến cho các nhà báo dễ bị tổn thương hơn trước nguy cơ bị buộc tội phỉ báng, đặc biệt là khi các quốc gia hậu cộng sản trong khu vực bắt đầu áp dụng lại luật chống phỉ báng với mức độ kiểm duyệt ngày càng tăng. Các nhà báo đưa tin về các vấn đề chính trị thường bị lôi kéo vào chính trường, thậm chí còn nắm giữ chức vụ quan trọng - đơn cử như Vaclav Havel, Jiri Dienstbier, Václav Klaus và Rita Klimova tại Cộng hòa Czech; Adam Michnik ở Ba Lan và Nikolle Lesi ở Albania. Từ đó, có thể thấy rõ bản chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các phương tin truyền thông và giới tinh hoa ở các nước Đông Âu. Cuối cùng, sau sự sụp đổ của chế độ cộng sản, các nhà báo không thể thiết lập một khuôn khổ chuyên nghiệp có thể giúp đưa tin một cách khách quan và toàn diện về các chính sách của chính phủ. Sự thiếu chuyên nghiệp đã làm giảm hiệu quả truyền thông, khiến nó không thể đóng được vai trò đúng mức trong các cuộc thảo luận dân chủ. Kỳ trước: Sức ỳ của văn hoá chính trị Tài liệu tham khảo: Xem Kỳ 1: Chập chững tư nhân hoá.
4.11k views ·
SỰ IM LẶNG CỦA NHỮNG 'NGƯỜI THẦY' Võ Văn Quản Gần đây, trên trang facebook của mình, một bạn trẻ tên là Trương Thị Hà viết một bức thư gửi cho thầy giáo của mình ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh. Theo tường thuật của Hà, cô bị công an bắt cóc sáng ngày 17/6, bị giam và bị đánh đập trong công viên Tao Đàn cho đến đêm cùng ngày. Trong quá trình "làm việc" với cô, công an đã mời hai thầy giáo của cô tới làm chứng. Cả hai người thầy gần như không có lời lẽ nào bảo vệ cô, lặng lẽ chấp nhận những yêu cầu của phía công an, ký xác nhận vào biên bản do công an chuẩn bị sẵn và bỏ mặc cô ở lại. Tôi không thể minh chứng lời của Hà là sự thật. Tôi không có mặt ở đó, những gì Hà nói có thể bị xem là tường thuật một phía, và sự trung lập của một người làm khoa học bắt buộc bản thân tôi phải xem xét những lời nói của Hà chỉ nằm ở mức độ cáo buộc. Tuy nhiên, những người thầy vô cảm như vậy là điều tôi hoàn toàn có thể hình dung ra được trong môi trường học thuật tại Việt Nam. Tôi biết những giảng viên, thạc sĩ, tiến sĩ luật môi trường chưa từng lên tiếng phản ứng, phản đối (hay thậm chí phân tích) những sai phạm rõ ràng của Formosa, chưa từng nói về Bauxite Tây Nguyên hay dòng Mekong đang chết. Thứ họ quan tâm là những chuyến chu du giảng dạy khắp đất nước để lấy "quan hệ". Tôi biết những nhà hoạt động giáo dục, những chuyên gia tâm lý thanh thiếu niên chửi bới cá nhân và thóa mạ gia đình những đứa trẻ 14 - 15 khi chúng bắt đầu phát biểu ý kiến và đặt ngược vấn đề với những vị quan chức "cây cao bóng cả". Tôi biết những người chưa bao giờ thật sự quan tâm thúc đẩy kinh tế, nghiên cứu khoa học xã hội và đấu tranh chống bất bình đẳng ở Việt Nam, nhưng quyết dấn thân vào ngành vì những nguồn tài trợ quốc tế dồi dào và thứ công việc giấy tờ nhàn hạ. Chuẩn bị cho mình tâm thế đó, tôi đáng lẽ không nên bất ngờ khi hai giảng viên của trường "nhân văn" có thể thờ ơ nhìn học trò của mình (hay bất kỳ một người nào khác) bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm và thân thể một cách thô bạo, để rồi ký giấy xác nhận và nhanh chóng bước ra khỏi căn phòng làm việc vô pháp đó. Nhưng bằng cách nào đó tôi vẫn bất ngờ vì tôi chưa từng nghĩ một bộ phận giới học thuật nói chung, những tinh hoa có tầm hiểu biết và vị trí thuận lợi nhất để bảo vệ sự thật, lẽ phải, lại là những người im ắng nhất trong phong trào cấp tiến tại Việt Nam. Bài viết này sẽ không bàn về những người thầy của Hà. Như đã nói, tôi không biết sự thật. Nhưng tôi chắc đã đến lúc giới học thuật tại Việt Nam nhìn lại bản thân mình, liệu họ có thật sự xứng danh nhà khoa học hay không. TỪ SỰ TRUNG LẬP TẠI GIẢNG ĐƯỜNG... Nhiều người cho rằng trong học thuật không có chỗ cho chính trị. Tôi thừa nhận rằng yêu cầu trung lập chính trị tại giảng đường là một trong những yêu cầu căn bản nhất của môi trường giáo dục đại học. Trong gần hai năm theo học thạc sĩ luật tại London, Anh, tôi có may mắn được chứng kiến cách mà nhiều giáo sư tránh né các vấn đề mà họ cho là có phần quá chính trị. Khi giáo sư môn Luật nhân quyền và Giải quyết tranh chấp nhân quyền Liên minh Châu Âu được hỏi về ảnh hưởng và tác hại của Brexit, bà khéo léo chuyển câu chuyện sang những vấn đề liên quan đến bài giảng của mình. Bà nói rằng nhiều phán quyết của Tối cao Pháp viện Anh đã bị Tòa Nhân quyền Châu Âu tuyên vô hiệu, nhiều lập luận sáng tạo và sự độc lập phong phú của thông luật Anh đã bị khóa tay bởi phương pháp xử lý án rập khuôn, đơn điệu và khuôn mẫu của những thẩm phán dân luật Châu Âu lục địa. Bà đặt câu hỏi về tâm lý của những thẩm phán quốc gia về chủ quyền. Nhưng sau đó, bà cũng đưa thông tin về những quyền con người đã được Tòa Nhân quyền Châu Âu hình thành và bảo vệ thông qua việc bác bỏ những án lệ quốc gia. Bà hỏi quan điểm sinh viên về tầm quan trọng của cam kết quốc gia trong việc thực thi pháp luật quốc tế cùng sự hiếm hoi của những cơ chế bảo vệ pháp luật quốc tế như Tòa Nhân Quyền Châu Âu. Câu trả lời cuối cùng? Bà không có. Bà nói thẳng: Với những câu hỏi học thuật thuần túy trên, tôi cho là các học viên đã biết mình muốn gì, mình bảo vệ quan điểm nào, và mình sẽ sử dụng những điều mình học được để bảo vệ quan điểm của mình ra sao. Quan điểm của tôi không phải là lý do tôi đứng trên bục giảng. Tôi cần những học viên của mình có thể bảo vệ quan điểm của mình một cách học thuật nhất có thể. Đó là một trong những lý do tôi khâm phục những giáo sư của mình tại Anh quốc, và càng vui mừng hơn khi "truyền thuyết" tôi tìm hiểu và hâm mộ về nền giáo dục nước ngoài là sự thật. Không có những lời có cánh dành cho một hệ thuyết chính trị, không có sự tán dương dành cho chính quyền, nhưng cũng không có phản ứng quyết liệt trước những sự kiện chính trị (trên giảng đường). Phương Tây luôn cho rằng mục tiêu cuối cùng của giáo dục là kỹ năng suy nghĩ, phản biện; là kỹ năng xử lý vấn đề tự thân. Thứ mà những giáo sư phương Tây trang bị cho chúng tôi là những học thuyết, thông tin, nguyên tắc; và chúng tôi có trách nhiệm xây dựng nên hệ thống niềm tin của chính mình một cách khoa học nhất có thể. Và để đủ năng lực giảng dạy những điều cao cả ấy, những người giảng viên buộc phải trung lập. Họ giới thiệu pháp luật, thông tin, yêu cầu học viên nghiên cứu các học thuyết và ý kiến của tác gia, hướng dẫn thảo luận và bảo đảm rằng mọi sinh viên đều tương tác tốt trong quá trình học. Một người giảng viên sẽ biến lớp học trở thành một gian phòng của guồng máy tuyên truyền nếu họ thể hiện thành kiến và khuynh hướng chính trị rõ ràng trên lớp. Họ cũng có khả năng biến lớp học trở thành chiến trường không cân sức giữa các nhóm tư tưởng sinh viên, thay vì dung hòa và tạo ra môi trường trao đổi để sinh viên có thể thách thức, và những tư tưởng của họ cũng bị thách thức ngược lại. ...ĐẾN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ CÔNG LÝ NGOÀI XÃ HỘI Người giáo sư tôi nói đến là Heléne Lambert, một trong những chuyên gia, và cũng là một trong những nhà hoạt động đầu ngành trong bảo vệ quyền con người, quyền của người tị nạn và phong trào quốc tế hóa pháp luật tại Châu Âu. Bà cũng đã chính thức chia tay chúng tôi sau một học kỳ để đến giảng dạy tại một đại học danh tiếng khác tại Úc. Một trong số những lý do, như giáo sư chia sẻ riêng (bà là người hướng dẫn của tôi), là thái độ vô trách nhiệm của chính phủ Anh đối với các nhóm dân nhập cư, sự bảo thủ trong đường lối Brexit và các vấn đề liên quan đến nhân quyền. Bà vẫn sẽ đóng góp và đấu tranh cho sự tiến bộ của pháp luật nhân quyền và người tị nạn tại Châu Âu, nhưng bà đã không còn tìm thấy kết nối về mặt tư tưởng với một ngôi trường đại học thuộc gốc Hoàng gia Anh. Tôi từng cho rằng điều này là kỳ lạ. Vì sao một giáo sư với tâm thế bình thản và trung lập hết mức ở giảng đường, lại có thể lựa chọn một phương án giải quyết vấn đề cực đoan như thế? Nhưng đến bây giờ, tôi hiểu vấn đề của Giáo sư Lambert. Giới trí thức học thuật sở hữu những đặc quyền để đấu tranh cho lẽ phải. Họ có thời gian, có công cụ, có kiến thức và được rèn luyện để tìm ra sự thật đằng sau những bức màn tuyên giáo. Công việc của họ là nghiên cứu khoa học, một mảnh đất màu mỡ cho những lý luận mới, phương pháp mới, niềm tin mới và chân lý mới. Giới học thuật, như hàng trăm năm trước, vẫn là nhân tố chính yếu cho sự phát triển và tiến bộ của kinh tế, chính trị, triết học hay luật học. Một khi họ ngừng tìm kiếm sự thật và bảo vệ lẽ phải trước cường quyền, thứ học thuật của họ trở thành rác, là cơ nguồn cho một xã hội phản động. Và tôi không giới hạn quan điểm này ở những môn khoa học xã hội. Bạn có biết rằng nhà bác học khoa học tự nhiên lừng danh nhất, Albert Einstein từng bị Đức Quốc Xã xem là một kẻ đạo văn? Trong một bài báo "khoa học" của Mitteilungen über die Judenfrage, được Institut zum Studium der Judenfrage phát hành (tạm gọi là Viện Nghiên cứu Dân tộc tính Do Thái), một trong những Viện Hàn Lâm danh tiếng nhất nước Đức Quốc xã thời bấy giờ, tác giả cho rằng Thuyết Tương đối của Einstein không có gì mới mẻ. Nếu nó có điểm mới, Einstein đã đạo lý thuyết này ở nơi khác. Einstein bị chửi rủa là một sản phẩm cuồng tín được những kẻ Do Thái và bọn ngoại bang xây dựng nên. Nhưng đến cuối cùng, lịch sử cũng cho chúng ta biết ai mới là người làm khoa học thực thụ. Không nhà khoa học, không học giả chân chính nào an toàn trong những thể chế độc tài toàn trị. Vậy nên, nếu có bất kỳ nhóm xã hội nào nên đóng vai trò quảng bá, thúc đẩy sự đa nguyên tư tưởng; khơi dậy lương tâm chính nghĩa; nuôi dưỡng một thế hệ tân công dân chính trị và đi đầu trong kết hợp các phong trào dân sự với sự khắt khe lý thuyết, thì họ nên là tầng lớp trí thức, nên là các nhóm học thuật. Dân chủ, minh bạch và công bình là nền tảng sống của giới trí thức. Đi ngược lại nguyên tắc đó, họ đã tự kết liễu một đời sống học thuật lành mạnh cho chính mình, và đi ngược lại nguyên tắc phát triển lịch sử xã hội loài người căn bản nhất. Khi những người thầy quay lưng trước bất công xã hội và bỏ mặc người cần giúp đỡ, tôi nghĩ, chính lúc đó cánh cửa phản động xã hội mới thật sự mở ra.
7.76k views ·
Hôm nay, 1/7, là kỷ niệm 21 năm ngày Hong Kong trở về với Trung Quốc, sau 99 năm làm thuộc địa của Anh (1898 – 1997). Trong 99 năm đó, Hong Kong đã phát triển thành một thương cảng sầm uất và là một trong những trung tâm tài chính quan trọng nhất thế giới. Danh hiệu này vẫn được Hong Kong giữ vững trong 21 năm qua, kể từ khi trở thành Đơn vị Hành chính Đặc biệt của Trung Quốc. Để làm được điều đó, yếu tố quan trọng bậc nhất là hệ thống pháp luật của Hong Kong. Ngày nay, tuy là một phần của Trung Quốc và phải áp dụng một số quy định của pháp luật Trung Quốc, Hong Kong vẫn thụ hưởng quy chế tự trị tương đối và có một hệ thống pháp luật riêng. Sau đây là bảy điều thú vị cần biết về hệ thống pháp luật khá đặc biệt này.
4.42k views ·