ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (30) Hồi ký Tống Văn Công Con trăn thần Trong mục “Hoa nở khắp nơi” trên báo Lao Động giữa năm 1963, thông tín viên Tất Biểu ở nhà máy bơm Hải Dương đưa tin: Anh Lê Văn Hạng công nhân nhà máy bơm Hải Dương, trong khi đi nghỉ phép đến miền Tây Nghệ An đã bắn hạ một con trăn lớn chưa từng thấy. Tin này được nhiều bạn đọc gửi thư hỏi thêm chi tiết. Tòa soạn liền cử anh Trần Thanh Bình phóng viên thường trú vùng này tới gặp Lê Văn Hạng. Nghe anh này thuật lại câu chuyện quá hấp dẫn, anh Bình gợi ý anh Tất Biểu viết lại từ mẫu tin ngắn thành một bài ký sự dài đăng nguyên một trang báo. Anh Tất Biểu viết bài có tựa đề “Con trăn thần”. Bài viết kể: Trước khi anh Hạng tới đây, nhân dân vô cùng hoảng sợ, bởi con trăn đã bắt đi hai con bò, hai cháu bé. Khi anh Hạng tìm gặp được nó, con trăn vùng dậy, cất đầu lên cao quá các ngọn cây cổ thụ, mồm phun phì phì, nước bọt tuôn xuống như mưa. Anh Hạng phải luồn lách lựa thế để nã đạn đúng vào mồm con trăn liên tục 16 phát, nó mới ngã vật ra làm gãy bao nhiêu cây cối. Dân làng được tin đưa hai con trâu cổ tới giúp anh Hạng kéo con trăn về làng. Người ta đo con trăn dài gần 30m, thân nó to bằng cái vành bánh xe đạp. Họa sĩ Minh Tần minh họa trông giống như cảnh Thạch Sanh chém chằn tinh. Từ theo cộng đến chống cộng – Hồi ký Tống văn Công Số báo đăng bài này gây tiếng vang lớn trong và ngoài nước. Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh dịch bài đổi tựa đề là “Dũng sĩ diệt mãng xà vương” kèm theo bức tranh minh họa cho câu chuyện thần kỳ. Nhà thơ Tố Hữu, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng nói với hội nghị tuyên huấn, báo chí về niềm tự hào dân tộc đã có một công nhân bình thường nhưng hành động phi thường, là “Thạch Sanh thời đại”, “Thạch Sanh cộng sản”. Hồ Chủ tịch mau chóng tặng thưởng cho Lê Văn Hạng “Huy hiệu Bác Hồ”. Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương làm thủ tục xét thưởng huân chương lao động hạng nhất… Giữa lúc cả nước đang náo nức vui mừng thì bỗng có một tin chấn động: Các nhà khoa học Ba Lan cho rằng con trăn khổng lồ xuất hiện ở Việt Nam là có thật thì nó đánh đổ các học thuyết về cổ sinh vật học đang được giảng dạy hàng trăm năm nay. Họ đề nghị nhà nước Ba Lan mua bộ xương này với giá tương đương một nhà máy lớn. Trước mắt, họ xin nhà nước Việt Nam cho họ được tới khảo sát bộ xương con trăn thần và khu rừng nơi anh Hạng tìm thấy con trăn và bắn chết nó. Họ phán đoán, khu rừng này phải là rừng nguyên sinh và rất có thể ở đó còn có nhiều động vật khổng lồ của thời tiền sử! Tin này như một tiếng sét làm tỉnh cơn mê. Hồ Chủ tịch chỉ thị phải nhanh chóng xác minh sự thật. Ban Tuyên huấn Trung ương yêu cầu: “Báo Lao Động trong thời gian sớm nhất phải có báo cáo chính xác”. Ban biên tập báo Lao Động cho xe xuống nhà máy bơm Hải Dương xin giám đốc cho rước Lê Văn Hạng về Hà Nội để tham gia đoàn điều tra do Trưởng ban Văn hóa báo Lao Động, nhà thơ Nguyễn Anh Tài làm trưởng đoàn. Đúng lúc đoàn chuẩn bị lên đường thì trời đổ mưa như trút nước suốt cả tuần. Quốc lộ 1A bị nước ngập không lưu thông được. Anh Lê Văn Hạng được bố trí ở cùng căn phòng tập thể với chúng tôi. Anh không chịu nằm giường trong phòng mà mắc võng ở cây gạo và cây cơm nguội ngoài sân. Anh nói, mình quen cách ngủ của người rừng! Anh kể, vì không được đi tập kết, bị bọn lính ở địa phương Quảng Trị o ép quá, anh lấy cắp của chúng khẩu súng, cho quần áo và chiếc vọng vào bọc, rồi luồn rừng, lướt bụi, vượt giới tuyến ra miền Bắc. Chuyến đi Nghệ An phải hoãn vì quốc lộ bị ngập. Không khí cơ quan báo lao động rất nặng nề. Giữa lúc đó, một cộng tác viên là kỹ sư nông nghiệp của Bộ Nông trường, nhân đến tòa soạn gửi bài công tác đã vui chuyện kể rằng chính anh ta đã được chứng kiến lúc anh Hạng đưa con trăn thần về nông trường. Anh nói, rất tiếc là bài báo của Tất Biểu viết không kể được những chi tiết không thể nào quên như: khi hai con trâu kéo con trăn về tới đoạn dốc hơi cao ở khúc quanh vào văn phòng nông trường thì, một con trâu bị đứt ruột, ngã khuỵu xuống. Từ văn phòng gần đó, năm sáu cô nhân viên hiếu kỳ chạy ra xem. Vừa nhìn thấy đâu con trăn khổng lồ há mồm thè lưỡi, các cô hốt hoảng nháo nhào ù té chạy, một cô yếu tim ngất xỉu. Anh kỹ sư đã làm cho bạn biên tập Lao Động như sắp chết đuối vớ được cọc. Anh Nguyễn Anh Tài đề nghị anh kỹ sư làm cố vấn cho đoàn báo Lao Động vào rừng Nghệ An thẩm tra vụ con trăng thần. Đang vui chuyện, hóm hỉnh bỗng anh ta lặng lẽ, trầm tư, nói rất lấy làm tiếc, vì công việc đang chồng chất, không thể sắp xếp để cùng đi với đoàn. Anh Nguyễn Anh Tài nói: “Đồng chí không phải lo, chúng tôi sẽ báo cáo vấn đề có tầm quan trọng của quốc gia, thì chắc chắn Bộ trưởng Bộ Nông trường sẽ sắp xếp người thay công việc cho đồng chí”. Mặt chàng thư sinh trắng trẻo vụt tái xạm, anh ta khẩn khoản: ” Bộ trưởng buộc lòng sẽ giúp các anh, nhưng còn bên trong, nội bộ, em biết em sẽ để lại nhiều, rất nhiều khó khăn cho Bộ… và em sẽ bị… bị coi là ‘việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. Em sợ bị hỏng bét hết!” Dù anh kỹ sư năn nĩ bầm cả lưỡi, anh Nguyễn Anh Tài và tập thể báo Lao Động cũng không thể để mất vị cứu tinh thì vụ này. Anh Tài quyết định đến gặp Bộ trưởng, khéo léo lựa lời để không gây hại gì cho anh kỹ sư nhút nhát. Tiếp anh tài là ông Thứ trưởng kiêm bí thư đảng ủy Bộ Nông trường. Nghe xong câu chuyện, ông rất hồ hởi nói, Bộ chẳng những đáp ứng yêu cầu cử người tham gia đoàn của báo mà còn xin gợi ý thêm: “Chắc chắn tài chính của tờ báo eo hẹp hơn Bộ Nông trường, phương tiện xe cộ, xăng dầu cũng không bằng. Do đó Bộ Nông trường xin đài thọ xe ô tô, xăng dầu, và chịu mọi chi phí cho chuyến đi.” Ông gọi điện thoại yêu cầu Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật cho anh kỹ sư lên văn phòng Đảng ủy. Vừa bước vào phòng, nhìn thấy chúng tôi, anh kỹ sư đã thất sắc. Sau khi nghe ông Thứ trưởng giao công việc, anh cố nói về công việc gấp gáp của mình. Nhưng ông Thứ trưởng khoát tay nói “ngay chiều nay, đồng chí là người của đoàn thẩm tra vụ con trăn thần của báo Lao Động, mọi việc của đồng chí tôi sẽ bàn với đồng chí Vụ trưởng”. Anh kỹ sư ngồi lặng mấy giây, rồi hai vai run lên, đầu gục xuống, vừa nức nở khóc, vừa nói không ra lời: “Tôi… tôi cứ tưởng mọi việc đúng như trong bài báo là… tôi theo đó rồi thêm thắt cho vui câu chuyện… tôi xin lỗi… rất là là xin… lỗi…” Chúng tôi cảm ơn ông Thứ trưởng tốt bụng, cáo từ ra về với tâm trạng ê chề. Không phải chỉ báo lao động mà các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đều muốn câu chuyện “Thạch Sanh cộng sản” quên dần trong im lặng, bởi nó phơi bày sự dốt nát, háo danh và cẩu thả của cả hệ thống chính trị và khoa học của chế độ. Posted on Tháng Năm 2, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/02/tu-theo-cong-den-chong-cong-30-con-tran-than/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (31): https://www.minds.com/newsfeed/1020192278617489408?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (29): https://www.minds.com/newsfeed/1020191243262021632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (29) Hồi ký Tống Văn Công Con đường dẫn tới ghế tổng biên tập Những năm làm phóng viên báo Lao Động tôi viết nhiều phóng sự tốn rất nhiều thời gian và nguy hiểm tính mạng như loạt bài “Lũy thép trên sông” viết về cầu Hàm Rồng. Khi tôi đứng trên cầu hỏi chuyện mấy anh thợ hàn thành cầu thì máy bay Mỹ xoẹt qua ném một loạt bom. May cho tôi, bom không trúng cầu mà nổ dưới lòng sông. Vậy mà loạt bài này chỉ được nhận xét là tốt, nhưng không được giải thưởng. Bài báo được ban chấm giải báo chí quốc gia lần đầu tiên của miền Bắc trao giải nhì, tôi bỏ ra rất ít công sức. Trong một lần được vào viết về anh Nguyễn Văn Mộc, chiến sĩ thi đua ở Xưởng Săm lốp Ô tô Hà Nội, tôi đã đến thăm gia đình anh, rất cám cảnh khi biết vợ anh bị mù. Trong bài viết lần đó, Chuyện Người Vợ Mù chỉ là để làm nổi bật thêm cái khó khăn mà người chiến sĩ thi đua Nguyễn Văn Mộc phải vượt qua. Ngày 29-4-1961 tòa soạn lên trang báo kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động. Ở các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đều coi ngày 1 tháng 5 là một trong những ngày lễ quan trọng, bởi là dịp biểu dương và khẳng định vai trò của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Báo Lao Động phải nỗ lực sao cho xứng tầm là tiếng nói của giai cấp công nhân. Phó tổng biên tập Ngô Tùng phát hiện: thiếu một bài viết ca ngợi sự đổi đời của giai cấp công nhân sau khi giải phóng miền Bắc. Trưởng ban tuyên truyền đời sống công nhân Trần Bá Đa bị “gõ” vì thiếu sót này. Ông hốt hoảng gọi tôi: “Cậu cấp tốc giải nguy được không?” Tôi ngồi vào bàn, hoàn thành bài “Tôi thấy rất rõ” chỉ trong vòng một giờ. Tôi thấy rất rõ. Tôi không mời bạn đến thăm những khu nhà ba tầng lộng lẫy của anh em công nhân Hồng Quảng trước cảnh Hạ Long kỳ ảo. Tôi cũng không mời các bạn đến thăm những giải nhà ăn phúc lợi thênh thang của nhà máy dẹp Nam định mỗi ngày một đổi mới. Các bạn đã đi nhiều trên khắp nẻo đường kiến thiết; các bạn đã thấy biết bao cảnh đẹp đẽ trên mình Tổ Quốc đổi thịt thay da. Những chuyện phong phú ấy chúng ta có thể cho nhau nghe đêm nay trăng đêm khác cũng không sao hết được. Có một người không được may mắn như chúng ta, chỉ bị mù loà và 6 năm trời nay vẫn quanh quẩn trong gian nhà trên gác 2, số 110 phố Khâm Thiên. Đó là vợ chồng chị Mộc, công nhân xưởng xăm lốp ô tô Hà Nội. Chị làm sao thấy được những điều chúng ta đã thấy. Thế mà chị một mực không bằng lòng nếu có ai bảo rằng chị không còn thấy được gì. Nếu ai là người thân thiết với chị và hỏi chị “Có thấy cuộc đời thay đổi gì không” thì chị mừng rỡ, mồm lắp đi lắp lại câu: “Thấy chứ! Tôi thấy tất cả.” Thế là chị bắt đầu kể lể say sưa. Chị kể mãi không bao giờ hết những điều mà chị đã thấy trong sáu năm nay trong căn nhà nhỏ. Giọng chị tha thiết sôi nổi và vào đầu bao giờ cũng có đoạn lướt qua cả chuỗi ngày xưa. … “1945, đã qua thời kỳ ăn cháo loãng làm không công để học việc, thế mà chúng tôi yêu nhau cũng phải dành dụm bốn năm liền mới có tiền làm lễ cưới! Cưới nhau rồi phải tìm nơi ở trọ năm bảy gia đình dồn chung một xó. Nhà tôi làm nhà máy đá xi măng. Máy tự nhiên hỏng. Thằng cai buộc tội nhà tôi phá máy, đánh đập tàn nhẫn, rồi sa thải. Từ đó hai vợ chồng đi lang thang kiếm ăn, khi làm bồi bàn, bồi bếp, khổ nhục gian nan kể sao cho xiết. Mãi đến năm 1951 vợ chồng tôi mới đùm đậu xin trọ ở cái xó hẹp tầng dưới nhà này. Bấy giờ nhà tôi xin làm thợ cơ khí ở Hàng Bún, còn tôi thì mua gánh bán bưng. Gian nhà tôi ở hiện nay và cả tầng dưới, lúc ấy là nơi chứa cô đầu, đêm ngày khách chơi tấp nập. Tôi đã từng chứng kiến biết bao cảnh sa ngã đau lòng…” Sắp kể sang phần mới chị hay dừng lại giây lâu, có lẽ để lắng đi nỗi buồn xưa cũ và chuẩn bị khơi dậy niềm vui mới, như nhạc sĩ sắp chuyển giai điệu vậy. “… hòa bình lập lại. Chị em cô đầu được tập trung đi học tập, rồi đưa giao cho việc làm. Vợ chồng tôi được chuyển lên ở gian nhà rộng rãi này. Từ đó tôi không còn nhức óc vì những tiếng đàn não nuộc ê chề và tiếng khóc đứt ruột giữa canh khuya nữa. Một đêm, tôi nghe nhà tôi học đánh vần. Vài hôm sau nhà tôi sắm sách vở cho các con chúng tôi đi học bình dân. Nghe tiếng ngòi bút soàn soạt tôi hình dung thấy bàn tay nửa đời cầm búa chai cứng của nhà tôi đang vụng về đưa quản bút trên trang giấy trắng. Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Tôi khóc vì sung sướng quá. Do đó, gia đình đang túng thì nhà tôi mang về hai bộ quần áo và hai tạ gạo. Anh nói quần áo của anh em trong tổ công đoàn cho, gạo của chính phủ cứu tế. Tôi lấy làm lạ. Anh em cùng làm trong tổ bây giờ thật là thấu hiểu hoàn cảnh gia đình của nhau và tận tình lo lắng giúp đỡ. Còn việc làm thì đã có lương rồi mà mình cũng chưa đến nỗi đói, thế mà chính phủ đã cứu tế. Mùa đông năm 1957, tôi lại được công đoàn giúp cho 20 đồng để chống rét cho các cháu. Lần đầu tiên tôi trở lên mình chồng mình con, thấy có cái áo bông. Nắn cổ tay con tròn lẵn, tôi biết khuôn mặt chúng nó hồng hào. Nhà tôi được bình chiến sĩ thi đua và được bằng khen. Điều đó cũng làm cho tôi thấy lạ. So với nỗi tủi nhục ngày xưa thì việc làm của nhà tôi bây giờ có cực nhọc là bao! Thế mà lại bình bầu khen thưởng! Nhưng nhà tôi giải thích rằng: “Sở dĩ được như thế là vì công dân mình bây giờ là chủ đất nước.” Thỉnh thoảng chị em cô đầu ngày trước, giờ đi làm ở nông trường, công trường về thăm chúng tôi. Các cô ấy vui quá! Họ kể cho tôi nghe bao nhiêu là chuyện: nào là đường sắt đã nối liền Thái Nguyên – Hà Nội; nào là các công trường đều có nhà giữ trẻ… các cô ấy tỏ ý tiếc cho tôi không được đi được thấy. Nhưng các cô ấy có biết đâu rằng, từ trong gian nhà nhỏ này, tôi cũng đã nhìn thấy được biết bao nhiêu điều đổi mới của cuộc đời. Đêm xưa nghe tiếng nấc, tôi biết các cô đang chau mày đau khổ. Sáng nay nghe các cô cười ríu rít, tôi biết đời đã vui lắm. Tôi thấy gian nhà của tôi ngày một chật, vì ở đầu giường có thêm cái tủ, phía ngoài dựng chiếc xe đạp. Tôi thấy tất cả sự thay đổi ấy. Một sáng tháng 5, tôi nghe nhà tôi cưa ván đóng khung lồng ảnh Bác. Tôi biết tất cả sự thay đổi này là nhờ ơn Bác.” Chị Mộc ngẩng mặt nhìn đúng bức ảnh Bác treo giữa tường nhà. Điều đó làm cho tôi tin rằng, thực quả là chị thấy tất cả! Chị không phải nhìn màu sắc bằng đôi mắt mà đón cuộc sống tưng bừng ngoài kia tràn vào khung cửa bằng cả trái tim.” Giải báo chí quốc gia lần thứ nhất: Giải nhất bài “Ba lần đuổi kịp trung nông của Hà Đăng (sau này là tổng biên tập báo Nhân Dân, rồi Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương) viết về hợp tác xã Đại Phong, Quảng Bình lá cờ đầu của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp miền Bắc. Hai giải nhi: bài “Thợ hàn lò cao” của Chính Yên báo Nhân Dân, biết về phong trào luyện tay nghề, đi vào khoa học kỹ thuật ở khu gang thép Thái Nguyên (Chính Yên và Trần Đĩnh bị quy có tư tưởng xét lại, chống Đảng) và bài “Tôi thấy rất rõ” của tôi. Báo Lao Động còn có bài “11 cô gái kiện tướng” của phó tổng biên tập Hoàng Trọng Đỉnh được giải bốn (có 4 giải bốn). Tôi đưa nguyên văn bài “Tôi thấy rất rõ” vì nó là loại bài khá tiêu biểu cho cách viết đáp ứng yêu cầu công tác tuyên truyền của Tuyên huấn đảng cộng sản là ca ngợi chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó nó được chọn đưa vào giáo trình của Khoa Báo chí thuộc Trường Tuyên huấn Trung ương Đảng. Ở miền Bắc thời đó, cán bộ nhân viên phải từ ba đến năm năm mới được nâng lên một bậc lương. Năm 1960, tôi là phóng viên bậc một, nhưng nhờ viết được bài báo đoạt giải nhì và nhiều bài báo đáp ứng yêu cầu tuyên huấn nên đã chứng tỏ có năng lực, ngày nay gọi đó là năng lực làm bồi bút cũng không sai, cho nên tôi được lên bậc lương hằng năm, chậm lắm là hai năm. Đến năm 1975, tôi đã lên bậc chuyên viên hai, đủ tiêu chuẩn để được cử vào miền Nam làm tổng biên tập tờ báo Lao Động Mới. Posted on Tháng Tư 28, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/28/tu-theo-cong-den-chong-cong-29-con-duong-dan-toi-ghe-tong-bien-tap/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (30): https://www.minds.com/newsfeed/1020191645118287872?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (28): https://www.minds.com/newsfeed/1020190498049568768?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (28) Hồi ký Tống Văn Công Chủ tịch Đảng Trung Chính Việt Nam Trong số anh em cùng vào làm báo Lao Động tháng Một năm 1960 với tôi có anh Phạm Duy Từ học sinh trung học ở Khánh Hòa tập kết ra Bắc theo diện con em cán bộ (có anh là trung đoàn trưởng bộ đội Liên khu 5). Duy Từ được học đại học ở Bắc Kinh, rồi tu nghiệp ở Liên Xô, về nước làm phiên dịch cho chuyên gia Trung Quốc ở công trường xây dựng nhà máy phân đạm Bắc Giang. Anh viết bài về công trường này gửi cho báo Lao Động, được lãnh đạo của báo công nhận là cộng tác viên đắc lực suốt nhiều năm. Anh không chỉ viết bài rất hay mà còn vẽ biếm họa được bạn đọc yêu thích và thường góp ý đổi mới cách trình bày trang báo. Ở thời quan hệ Việt-Trung như môi với răng, thì một người thông thạo ngôn ngữ của Mao chủ tịch và cả Lênin là vô cùng sáng giá. Được một người như vậy về tòa báo, ban biên tập rất mừng, bố trí anh vào ban thư ký tòa soạn làm việc bên cạnh ông Ngô Tùng phó tổng biên tập kiêm trưởng ban thư ký tòa soạn. Nơi ở của anh Từ cũng được sắp xếp ưu tiên. Chúng tôi bốn người ở cùng trong một phòng tập thể 20 mét vuông. Duy Từ được ở riêng một phòng 10 mét vuông. Người ta giải thích sự ưu tiên đó là do đã không câu nệ về bậc lương mà chiếu cố một người ham học hỏi đã có số sách chiếm gần một nửa gian phòng. Duy Từ làm việc khoảng một tuần thì xảy ra sự cố chính trị làm náo động cả tòa báo. Anh đưa lên cái “tít” (titre) của một bản tin “vơ đét” giữa trang nhất: Hồ Chí Minh nói “đảng viên, cán bộ là công bộc của dân”. Hồi này báo chí miền Bắc chưa bao giờ đưa tên các vị trong bộ chính trị mà không kèm theo chức vụ, huống hồ lại là Hồ Chí Minh, làm sao dám gọi gọn lỏn, vô cùng thất lễ đối với vị “cha già dân tộc”! Người liên lạc đã mang bài, maquette các trang báo đi nhà in thì bất chợt ông Ngô Tùng nhớ chuyện gì đó đã gọi lại, xem. Sau này không biết bao nhiêu lần ông suýt xoa “May quá! Mình linh cảm có chuyện gì!” Sự việc đã bị quy kết thành quan điểm lập trường, hơn nữa còn nghi vấn “chỉ là ấu trĩ hay có ý đồ gì?” Ban biên tập quyết định đưa Duy Từ đi giáo dục cải tạo qua lao động tập thể ở một công trường xã hội chủ nghĩa. Hai hôm sau đại diện cơ quan đưa anh đến công trường thuỷ lợi Bắc Hưng Hải (tên ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương) lớn nhất miền Bắc. Hằng tuần tòa soạn báo và công trường thông báo trao đổi thông tin về người lao động cải tạo Phạm Duy Từ. Qua mấy tháng lao động ở công trường, Duy Từ có sáng kiến cải tiến cách chuyển đất từ nơi đào đến bờ đê nhanh hơn. Tin tốt lành đó được ban biên tập phổ biến trước cơ quan trong cuộc họp hằng tuần. Mọi người đều mừng cho anh và hy vọng cứ theo đà này chẳng bao lâu nữa Duy Từ sẽ được trở về, còn nếu tiếp tục ở đó thì anh sẽ trở thành anh hùng lao động! Nhưng khoảng hai tháng sau lại xảy ra một chuyện động trời: Phạm Duy Từ bị bắt vì âm mưu tổ chức một đảng phản động! Cơ quan công an cho biết Phạm Duy Từ viết bản tuyên ngôn thành lập đảng Trung Chính Việt Nam. Tuyên ngôn cho rằng cuối thập niên năm mươi thế giới đã có những bước chuyển mới, nền công nghiệp gồm những nhà máy được giai cấp công nhân áo xanh lao động sản xuất đã được thay thế bởi những dây chuyền máy tự động, điều khiển bằng máy tính, những nhân viên áo trắng thay cho công nhân áo xanh. Cuộc đấu tranh suốt ba thế kỷ của các quốc gia công nghiệp hóa là phân phối của cải. Ngày nay với nền kinh tế tri thức, các nước giàu đấu tranh trong cuộc phân phối tri thức và chiếm lĩnh tri thức. Tri thức quyết định quyền lực trên quy mô toàn thế giới. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thế giới chia hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Ngày nay với kinh tế tri thức, thế giới chia ra: những nước nhanh và những nước chậm. Nhanh là do nắm được tri thức và thông tin để rút ngắn thời gian. Nước Việt Nam chúng ta do đảng Lao Động Việt Nam, đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo ngày nay không còn phù hợp với thời đại. Để đất nước tiến lên ngang tầm thời đại phải có một đảng mới do trí thức lãnh đạo. Ngày chủ nhật, Duy Từ từ công trường Bắc Hưng Hải mang bản thảo tuyên ngôn của đảng Trung Chính Việt Nam về Hà Nội đến một cửa hàng đánh máy thuê ở phố Hàng Hành, đóng tiền cọc, thuê đánh máy ra 20 bản, lấy hóa đơn có ghi ngày hẹn làm xong là ngày chủ nhật tuần sau. Đúng hẹn, Duy Từ đến trả tiền, nhận 20 bản tuyên ngôn, khi anh vừa bước ra Hàng Hành thì gặp ngay xe cảnh sát, họ tra tay anh vào còng số tám đưa về chạy giam. Chị Phan Dung trưởng ban tổ chức của báo Lao Động đã thay mặt ban biên tập đến làm việc với lãnh đạo Sở Công an Hà Nội trình bày nhận định về hành động của Phạm Duy Từ: do được đi học, đi công tác nước ngoài và biết nhiều ngoại ngữ, hay nghe đài địch, đọc sách phương tây, nên nhiễm quan điểm tự do tư sản. Việc anh ta viết tuyên ngôn thành lập đảng, rồi đem tới thuê đánh máy ở một cửa hàng không hề quen biết, chứng tỏ anh ta rất hồn nhiên không hề nghĩ làm như thế là phạm tội. Chị Phan Dung đề nghị chị nên cảnh cáo răng đe rồi thả, cho anh về công trường, tiếp tục lao động để cải tạo tư tưởng. Chị Phan Dung có người em là phó giám đốc Công an Hà Nội cho nên việc trao đổi ý kiến vừa là đại diện cơ quan, nhưng cũng vừa là giữa những người trong gia đình. Phía công an đồng ý với nhận định của chị, hứa sẽ làm các thủ tục cần thiết để trả tự do cho Duy Từ trong thời gian sớm nhất. Tuy nhiên ngày mấy hôm sau, công an Hà Nội mời chị Phan Dung tới để cho biết đã có kết luận mới. Chuyện là thế này: Duy Từ chất vấn trại giam hết sức gay gắt: “Tôi là tù chính trị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đúng không? Vậy mà các anh giam tôi trong một xà lim chật hẹp, bẩn thỉu, bắt nằm trên sàn xi măng. Theo tôi được biết, chế độ Sa Hoàng đã cho người tù chính trị Lênin ở trong một gian phòng có bàn làm việc, có sách nghiên cứu. Chẳng lẽ chế độ Dân chủ Cộng hòa của các ông lại quá tệ so với chế độ Sa Hoàng?” Duy Từ bị đưa đi cải tạo bằng hình thức giam giữ vô thời hạn ở trại giam Hà Giang nơi có những tù nhân được gọi là “nguy hiểm đối với chế độ” như Nguyễn Hữu Đan, Thụy An… Trại tù Hà Giang khắc nghiệt gấp nhiều lần so với các trại cải tạo trong Chuyện kể năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Đến thập niên 80 thế kỷ 20, nhờ chủ trương mở cửa, tôi mới được đọc Alvin Toffler, nhà dự báo tương lai của người Mỹ do không biết gì, chỉ làm theo lãnh đạo, tôi trở thành tổng biên tập, Duy Từ biết sớm quá, phải đi tù! Sau 30-4-1975 Duy Từ mới được ra tù. Anh đến thăm tôi ở Sài Gòn khi tôi làm tổng biên tập báo Lao Động Mới của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam. Anh kể những khổ ải trong tù, chuyện nhà văn Thụy An kêu oan không thấu vì bị kết án làm gián điệp cho Pháp, quá căm phẫn bà cầm kim tự đâm mù mắt mình. Dù bị tù 15 năm, anh vẫn còn giữ tính trào lộng y như ngày xưa. Dạo đó các báo đăng tuyên truyền về kế hoạch hóa gia đình, hạn chế sinh đẻ. Duy Từ bảo tôi: “Đảng của tụi mày chủ trương cái vụ này e lợi bất cập hại! Bởi vì chỉ bọn trí thức nghiêm chỉnh thực hiện hạn chế sinh đẻ, còn dân ngu khu đen thì ‘trời sanh voi sanh cỏ’! Cuối cùng chủ trương này sẽ tiêu diệt những cái gien thông minh của dân tộc và phát triển loại gien ngu ngốc! Vài chục năm nữa dân tộc này dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng chúng mày, sẽ trở thành một dân tộc đần độn nhất thế giới!” Tôi hỏi anh sắp tới định làm gì để sống. Anh cười đáp: “Nếu tao bảo muốn được mày nhận vô làm báo thì tao quá ác. Bởi vì như vậy là đẩy mày vào chân tường, buộc phải thú nhận là một thằng hèn không dám nhận bạn vô làm việc. Đúng không? Cho nên tao sẽ mở lớp dạy vẽ và mở tiệm cà phê.” Sau đó ít lâu, anh báo tin đã tìm được nơi cư trú ở đường Trần Bình Trọng quận 5, mở cửa hàng cà phê và một lớp dạy vẽ. Anh cũng biết phê bình hội họa và giới thiệu các họa sĩ mà anh yêu thích. Posted on Tháng Tư 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-28-chu-tich-dang-trung-chinh-viet-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (29): https://www.minds.com/newsfeed/1020191243262021632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (27): https://www.minds.com/newsfeed/1020190034006343680?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (27) Hồi ký Tống Văn Công Học làm báo cách mạng Tôi được phân công làm phóng viên của ban tuyên truyền về đời sống công nhân, gọi tắt là ban đời sống do anh Trần Bá Đa phó tổng biên tập làm trưởng ban. Năm 1945, anh Trần Bá Đa đậu tú tài toàn phần, bỏ học tham gia cách mạng. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, anh theo cơ quan rút ra vùng giải phóng, lấy vợ, sinh một con. Sau đó, Đảng lại phân công anh trở vào Hà Nội hoạt động. Anh trú ngụ ở một gia đình là “cơ sở cách mạng”. Gia đình này có cô con gái lớn. Anh chị thầm lén với nhau, chị có bầu, gia đình tổ chức cho họ cưới nhau. Sau ngày giải phóng Hà Nội, hai bà vợ tranh chấp một ông chồng, phải đưa ra tòa. Anh nói mình không thể ly hôn người nào cả, mình noi gương đồng chí Lê Duẩn. Vậy là phải xin tòa phân xử. Tòa ra quyết định: từ trưa thứ hai đến sáng thứ bẩy anh ở với bà vợ cả; từ chiều thứ bảy đến sáng thứ hai anh ở với bà vợ hai; tiền lương của anh chia đôi, mỗi bà một nửa. Sau khi thân nhau, anh thổ lộ: “Nghe qua bản án tòa xử, không ai hình dung được những ‘khổ sở’ của mình khi thực hiện. Làm sao cơ thể con người khỏi bị ‘phong vũ bất kỳ’, suốt cả tuần ở với bà cả, đến chiều thứ bẩy mới về với bà hai thì bị cảm sốt, nhức đầu. Chẳng lẽ người ta chờ đợi suốt cả tuần mà mình không cố gắng ‘hoàn thành nhiệm vụ’ trước khi lại ra đi!” Do một suất lương chia cho hai bà vợ nên lúc nào anh cũng túng thiếu. Các cơ quan đều quen với tình ảnh ông phó tổng biên tập chia tay với các đồng nghiệp nghiện thuốc lá: “Mày cho tao xin một điếu!” Tôi không hút thuốc nên không có cơ hội giúp anh. Ngày đầu làm việc với tôi, anh Đa bảo: “Mình đọc truyện ngắn anh viết rồi, nhưng về đây là để viết báo, viết những chuyện có thật trong đời sống công nhân. Tờ báo này là cơ quan ngôn luận của tổ chức công đoàn. Do đó, anh phải viết theo quan điểm của công đoàn. Công đoàn chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, do đó phải viết dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng. Tháng này cậu cứ ngồi đọc báo Lao Động, học từ bài viết của các đồng nghiệp đi trước, rồi đọc các tờ báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Phụ Nữ để học hỏi cách viết nhằm mục đích phục vụ đối tượng của mỗi tờ báo.” Sau đó, anh đưa cho tôi tập sách có những bài viết của Lênin, Hồ Chí Minh nói về nhiệm vụ của báo chí cách mạng. Thật ra từ năm 1952, khi cộng tác với báo Nhân Dân Miền Nam của ông Trần Bạch Đằng tôi đã thấm nhuần tư tưởng “viết những gì kháng chiến cần, cách mạng cần”. Trên miền Bắc giải phóng, lĩnh vực nào cũng đặt dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, lúc nào cũng có các vị tuyên huấn ở các cấp soi thứ ánh sáng đó vào từng câu từng chữ, làm bật ra nhiều chuyện cứ như đùa. Đời làm báo cách mạng của tôi cũng trải không ít bầm dập, nhưng xin kể vài chuyện nghe được của đồng nghiệp cùng thời đó. Trong cuốn “Hồi ký của các nhà báo cao tuổi” tại thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, nhà báo Nhật Tỉnh kể: năm 1955 anh về làm phóng viên Ban Thời sự Đài Tiếng nói Việt Nam, do ông Nguyễn Văn Nhất làm trưởng ban và được giao đi viết một bài nói về nông thôn sau cải cách ruộng đất. Cố nhiên, anh Nhật Tỉnh đã phải học Nghị quyết 9 năm 1954 của Bộ Chính trị: “Một mặt hết sức thỏa mãn yêu cầu về kinh tế và chính trị của nông dân để phát động nông dân và tranh thủ sự ủng hộ của nông dân. Mặt khác lại cần hết sức mở rộng mặt trận chống phong kiến và mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, trung lập mọi lực lượng có thể trung lập được, để tranh thủ đa số, cô lập thiểu số, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất”. Anh Nhật Tỉnh viết: “Tôi miêu tả cảnh quan tươi đẹp của làng quê vừa được giải phóng, niềm phấn khởi của người cày có ruộng, hăng hái làm thuỷ lợi ‘nghiên đồng đổ nước ra sông’. Tiếp đó, tôi nêu một chi tiết, ở cuối cánh đồng, trên một thẻo đất khô cần, có một người đang cuốc đất. Nhìn cái lưng lòng khòng, bắp chân trăng trắng của anh ta, ai cũng biết anh ta không phải là nông dân thực thụ. Hỏi ra mới biết, anh ta là sinh viên trường thuốc, con địa chủ K., nay không có điều kiện học nữa, đã trở về làm ruộng. Tôi nhớ câu nói của anh Mai Hộ một đàn anh khi tôi vào nghề báo ‘mỗi người một đường đi, mỗi người một số phận’, tôi viết tiếp, từ một sinh viên trường thuốc, nay tập làm nông dân, có lẽ anh đang tìm một đường đi”. Ông Nguyễn Văn nhất gọi tôi lên phòng làm việc nghiêm mặt hỏi: – Tại sao cậu đưa chi tiết con địa chủ vào bài? – Tôi nghĩ viết về nông thôn sau cải cách ruộng đất không chỉ viết về nông dân mà cần nêu cả đối tượng đấu tranh của nông dân nữa thì bức tranh mới chân thực, mới toàn cảnh. – Toàn cảnh cái gì? Từ một sinh viên trường thuốc nay phải bỏ học đi cuốc đất. Cậu viết nhằm ẩn ý gì đây? – Thưa thủ trưởng, tôi nào có ẩn ý gì đâu! Đó chỉ là sự thật! – Sự thật à? Đâu phải sự thật nào cũng đưa lên. Cậu hiểu chưa? Im lặng. Nặng nề. Rồi ông hạ giọng: – Nếu cậu bỏ chi tiết này thì tôi cho phát. Bằng không thì… – Tùy thủ trưởng. Tôi đâu phải là người quyết định. … Tôi thuật lại cuộc đối thoại giữa ông Nhất và tôi. Anh Mai Hồ nghe, mặt buồn thiu, trầm ngâm một lát rồi lí nhí: Đời chú mày rồi lận đận! Cũng trong “Hồi ký các nhà báo cao tuổi”, tập 5, trang 10, nhà báo Sĩ Ẩn nguyên phóng viên báo Tiền Phong kể việc được giao viết bài về kỳ họp thứ 6 Quốc Hội khóa 3 bàn về tình hình cách mạng miền Nam và công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Phiên họp này thực hiện Nghị quyết 15 của Đảng: “Đảng ta đang đứng trước những nhiệm vụ cách mạng rất nặng nề nhưng rất vẻ vang: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tạo điều kiện cho cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.” Nhà báo Sĩ Ẩn kể, sau ngày họp đầu tiên chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh trực tiếp họp báo, căn dặn: “Riêng bản báo cáo của Ban Thống nhất Trung ương tôi muốn chữa vài chữ, đề nghị các báo chưa đăng vội.” Khi nghe Sĩ Ẩn báo cáo như vậy ông Lê Xuân Đồng tổng biên tập báo Tiền Phong băn khoăn: “Báo ta hai ngày ra một số, nếu chờ thì lỡ mất”. Ông Thanh Dương phó tổng biên tập đề nghị: “Chúng ta cứ lên khuôn, giao cho Sĩ Ẩn bám sát hễ đồng chí Trường Chinh sửa chữ nào thì ta lập tức sửa chữ đó”. Ai cũng thấy đó là ý hay. Nhưng ngay sau đó Sĩ Ẩn được tin của cô bạn gái đồng nghiệp: “Đúng 23 giờ đón em từ Yên Bái về đến ga Hàng Cỏ.” Sĩ Ẩn kể: “Lửa lòng bốc cháy, tôi quên hết mọi chuyện. Tôi phóng xe ra ga lúc chưa tới 21 giờ. Hết ngồi lại đứng, đi tới, đi lui cho đến lúc tàu về. Ôi vui quá. Tôi chở cô bạn về chợ Hàng Da, ngồi dưới chân cột đèn ăn bánh khúc nóng. Lại ra ga Hàng ỏ để có ghế ngồi như khách chờ tàu. Trời sáng lúc nào không hay. Tôi chở cô bạn về trụ sở Hội Nhà báo, rồi trở về cơ quan. Chưa tới giờ làm việc, chúng tôi tụ tập tại phòng khách, chơi tú lơ khơ. Bổng cửa mở, Vụ trưởng Vụ báo chí Trần Minh Tước xuất hiện và dằn giọng: ‘À, Sĩ Ẩn, gan thật. Còn ngồi đây chơi bài! Tìm tổng biên tập, rồi cả cậu nữa đi ngay theo tôi, anh Trường Chinh đang chờ’. … Ngồi cạnh ông Trường Chinh là Tố Hữu, Nguyễn Văn Vịnh, chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất và hai ba vị nữa. Ông Trường Chinh nghiêm giọng: Chiều hôm qua đồng chí nào giữ họp báo? Tôi đứng dậy, cố bình tĩnh nhưng giọng nói vẫn rung rung: Dạ, tôi ạ! Đồng chí có nghe tôi dặn điều gì không? Tôi cố lấy bình tĩnh và tỏ ra biết lỗi: Dạ có à! Có, nhưng sao lại nằm trái? Tổng biên tập Lê Xuân Đồng đỡ lời tôi: Báo cáo đồng chí Chủ tịch Quốc hội… Ông Trường Chinh ngắt lời: Tôi chưa hỏi đồng chí. Mọi người im lặng. Căn phòng như thiếu không khí. Tôi cố hít thật sâu, trống ngực đập thình thình. Đồng chí Trường Chinh đẩy tờ báo Tiền Phong về phía tôi với cụm từ ngắn gọn: Đồng chí xem đi. Tôi đã lấy tờ báo, len lén nhìn vào đôi mắt sáng mà rất nghiêm của đồng chí, tôi chăm chú nhìn vào dòng chữ được gạch dưới bằng bút chì đỏ: ‘Với tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm, quân và dân miền Nam đã đánh cho Mỹ ngụy thất điên bát đảo’. Đồng chí Tố hữu đã gửi bản báo cáo về phía tôi, bốn chữ ‘thất điên bát đảo’ đã được đồng chí Trường Chinh gạch bỏ, thay bằng hai chữ ‘té dạt’ chữ đỏ. Đồng chí Tố Hữu nói rõ: ‘Tuy chỉ hai chữ nhưng đây là ý đồ chiến lược của Đảng ta đối với cách mạng miền Nam lúc này, cần phải quán triệt’. Tôi chỉ bị cảnh cáo và xóa tên khỏi danh sách ‘cảm tình Đảng’. Tôi mừng quá.” Bị cảnh cáo và xóa tên trong danh sách cảm tình Đảng mà mừng quá, bởi vì Sĩ Ẩn từng biết nhiều người cầm bút sơ sểnh đã phải đi trại cải tạo hoặc vào nhà đá! Ngày nay đọc hồi ký của các nhà báo cũng phải với mình, tôi không khỏi ngạc nhiên tự nghĩ, tại sao hồi đó chúng tôi có thể vui vẻ, thậm chí còn tự hào vì “được” lãnh tụ mắng. Posted on Tháng Tư 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-27-hoc-lam-bao-cach-mang/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (28): https://www.minds.com/newsfeed/1020190498049568768?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (26): https://www.minds.com/newsfeed/1020189556155691008?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (29) Hồi ký Tống Văn Công Con đường dẫn tới ghế tổng biên tập Những năm làm phóng viên báo Lao Động tôi viết nhiều phóng sự tốn rất nhiều thời gian và nguy hiểm tính mạng như loạt bài “Lũy thép trên sông” viết về cầu Hàm Rồng. Khi tôi đứng trên cầu hỏi chuyện mấy anh thợ hàn thành cầu thì máy bay Mỹ xoẹt qua ném một loạt bom. May cho tôi, bom không trúng cầu mà nổ dưới lòng sông. Vậy mà loạt bài này chỉ được nhận xét là tốt, nhưng không được giải thưởng. Bài báo được ban chấm giải báo chí quốc gia lần đầu tiên của miền Bắc trao giải nhì, tôi bỏ ra rất ít công sức. Trong một lần được vào viết về anh Nguyễn Văn Mộc, chiến sĩ thi đua ở Xưởng Săm lốp Ô tô Hà Nội, tôi đã đến thăm gia đình anh, rất cám cảnh khi biết vợ anh bị mù. Trong bài viết lần đó, Chuyện Người Vợ Mù chỉ là để làm nổi bật thêm cái khó khăn mà người chiến sĩ thi đua Nguyễn Văn Mộc phải vượt qua. Ngày 29-4-1961 tòa soạn lên trang báo kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động. Ở các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đều coi ngày 1 tháng 5 là một trong những ngày lễ quan trọng, bởi là dịp biểu dương và khẳng định vai trò của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Báo Lao Động phải nỗ lực sao cho xứng tầm là tiếng nói của giai cấp công nhân. Phó tổng biên tập Ngô Tùng phát hiện: thiếu một bài viết ca ngợi sự đổi đời của giai cấp công nhân sau khi giải phóng miền Bắc. Trưởng ban tuyên truyền đời sống công nhân Trần Bá Đa bị “gõ” vì thiếu sót này. Ông hốt hoảng gọi tôi: “Cậu cấp tốc giải nguy được không?” Tôi ngồi vào bàn, hoàn thành bài “Tôi thấy rất rõ” chỉ trong vòng một giờ. Tôi thấy rất rõ. Tôi không mời bạn đến thăm những khu nhà ba tầng lộng lẫy của anh em công nhân Hồng Quảng trước cảnh Hạ Long kỳ ảo. Tôi cũng không mời các bạn đến thăm những giải nhà ăn phúc lợi thênh thang của nhà máy dẹp Nam định mỗi ngày một đổi mới. Các bạn đã đi nhiều trên khắp nẻo đường kiến thiết; các bạn đã thấy biết bao cảnh đẹp đẽ trên mình Tổ Quốc đổi thịt thay da. Những chuyện phong phú ấy chúng ta có thể cho nhau nghe đêm nay trăng đêm khác cũng không sao hết được. Có một người không được may mắn như chúng ta, chỉ bị mù loà và 6 năm trời nay vẫn quanh quẩn trong gian nhà trên gác 2, số 110 phố Khâm Thiên. Đó là vợ chồng chị Mộc, công nhân xưởng xăm lốp ô tô Hà Nội. Chị làm sao thấy được những điều chúng ta đã thấy. Thế mà chị một mực không bằng lòng nếu có ai bảo rằng chị không còn thấy được gì. Nếu ai là người thân thiết với chị và hỏi chị “Có thấy cuộc đời thay đổi gì không” thì chị mừng rỡ, mồm lắp đi lắp lại câu: “Thấy chứ! Tôi thấy tất cả.” Thế là chị bắt đầu kể lể say sưa. Chị kể mãi không bao giờ hết những điều mà chị đã thấy trong sáu năm nay trong căn nhà nhỏ. Giọng chị tha thiết sôi nổi và vào đầu bao giờ cũng có đoạn lướt qua cả chuỗi ngày xưa. … “1945, đã qua thời kỳ ăn cháo loãng làm không công để học việc, thế mà chúng tôi yêu nhau cũng phải dành dụm bốn năm liền mới có tiền làm lễ cưới! Cưới nhau rồi phải tìm nơi ở trọ năm bảy gia đình dồn chung một xó. Nhà tôi làm nhà máy đá xi măng. Máy tự nhiên hỏng. Thằng cai buộc tội nhà tôi phá máy, đánh đập tàn nhẫn, rồi sa thải. Từ đó hai vợ chồng đi lang thang kiếm ăn, khi làm bồi bàn, bồi bếp, khổ nhục gian nan kể sao cho xiết. Mãi đến năm 1951 vợ chồng tôi mới đùm đậu xin trọ ở cái xó hẹp tầng dưới nhà này. Bấy giờ nhà tôi xin làm thợ cơ khí ở Hàng Bún, còn tôi thì mua gánh bán bưng. Gian nhà tôi ở hiện nay và cả tầng dưới, lúc ấy là nơi chứa cô đầu, đêm ngày khách chơi tấp nập. Tôi đã từng chứng kiến biết bao cảnh sa ngã đau lòng…” Sắp kể sang phần mới chị hay dừng lại giây lâu, có lẽ để lắng đi nỗi buồn xưa cũ và chuẩn bị khơi dậy niềm vui mới, như nhạc sĩ sắp chuyển giai điệu vậy. “… hòa bình lập lại. Chị em cô đầu được tập trung đi học tập, rồi đưa giao cho việc làm. Vợ chồng tôi được chuyển lên ở gian nhà rộng rãi này. Từ đó tôi không còn nhức óc vì những tiếng đàn não nuộc ê chề và tiếng khóc đứt ruột giữa canh khuya nữa. Một đêm, tôi nghe nhà tôi học đánh vần. Vài hôm sau nhà tôi sắm sách vở cho các con chúng tôi đi học bình dân. Nghe tiếng ngòi bút soàn soạt tôi hình dung thấy bàn tay nửa đời cầm búa chai cứng của nhà tôi đang vụng về đưa quản bút trên trang giấy trắng. Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Tôi khóc vì sung sướng quá. Do đó, gia đình đang túng thì nhà tôi mang về hai bộ quần áo và hai tạ gạo. Anh nói quần áo của anh em trong tổ công đoàn cho, gạo của chính phủ cứu tế. Tôi lấy làm lạ. Anh em cùng làm trong tổ bây giờ thật là thấu hiểu hoàn cảnh gia đình của nhau và tận tình lo lắng giúp đỡ. Còn việc làm thì đã có lương rồi mà mình cũng chưa đến nỗi đói, thế mà chính phủ đã cứu tế. Mùa đông năm 1957, tôi lại được công đoàn giúp cho 20 đồng để chống rét cho các cháu. Lần đầu tiên tôi trở lên mình chồng mình con, thấy có cái áo bông. Nắn cổ tay con tròn lẵn, tôi biết khuôn mặt chúng nó hồng hào. Nhà tôi được bình chiến sĩ thi đua và được bằng khen. Điều đó cũng làm cho tôi thấy lạ. So với nỗi tủi nhục ngày xưa thì việc làm của nhà tôi bây giờ có cực nhọc là bao! Thế mà lại bình bầu khen thưởng! Nhưng nhà tôi giải thích rằng: “Sở dĩ được như thế là vì công dân mình bây giờ là chủ đất nước.” Thỉnh thoảng chị em cô đầu ngày trước, giờ đi làm ở nông trường, công trường về thăm chúng tôi. Các cô ấy vui quá! Họ kể cho tôi nghe bao nhiêu là chuyện: nào là đường sắt đã nối liền Thái Nguyên – Hà Nội; nào là các công trường đều có nhà giữ trẻ… các cô ấy tỏ ý tiếc cho tôi không được đi được thấy. Nhưng các cô ấy có biết đâu rằng, từ trong gian nhà nhỏ này, tôi cũng đã nhìn thấy được biết bao nhiêu điều đổi mới của cuộc đời. Đêm xưa nghe tiếng nấc, tôi biết các cô đang chau mày đau khổ. Sáng nay nghe các cô cười ríu rít, tôi biết đời đã vui lắm. Tôi thấy gian nhà của tôi ngày một chật, vì ở đầu giường có thêm cái tủ, phía ngoài dựng chiếc xe đạp. Tôi thấy tất cả sự thay đổi ấy. Một sáng tháng 5, tôi nghe nhà tôi cưa ván đóng khung lồng ảnh Bác. Tôi biết tất cả sự thay đổi này là nhờ ơn Bác.” Chị Mộc ngẩng mặt nhìn đúng bức ảnh Bác treo giữa tường nhà. Điều đó làm cho tôi tin rằng, thực quả là chị thấy tất cả! Chị không phải nhìn màu sắc bằng đôi mắt mà đón cuộc sống tưng bừng ngoài kia tràn vào khung cửa bằng cả trái tim.” Giải báo chí quốc gia lần thứ nhất: Giải nhất bài “Ba lần đuổi kịp trung nông của Hà Đăng (sau này là tổng biên tập báo Nhân Dân, rồi Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương) viết về hợp tác xã Đại Phong, Quảng Bình lá cờ đầu của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp miền Bắc. Hai giải nhi: bài “Thợ hàn lò cao” của Chính Yên báo Nhân Dân, biết về phong trào luyện tay nghề, đi vào khoa học kỹ thuật ở khu gang thép Thái Nguyên (Chính Yên và Trần Đĩnh bị quy có tư tưởng xét lại, chống Đảng) và bài “Tôi thấy rất rõ” của tôi. Báo Lao Động còn có bài “11 cô gái kiện tướng” của phó tổng biên tập Hoàng Trọng Đỉnh được giải bốn (có 4 giải bốn). Tôi đưa nguyên văn bài “Tôi thấy rất rõ” vì nó là loại bài khá tiêu biểu cho cách viết đáp ứng yêu cầu công tác tuyên truyền của Tuyên huấn đảng cộng sản là ca ngợi chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó nó được chọn đưa vào giáo trình của Khoa Báo chí thuộc Trường Tuyên huấn Trung ương Đảng. Ở miền Bắc thời đó, cán bộ nhân viên phải từ ba đến năm năm mới được nâng lên một bậc lương. Năm 1960, tôi là phóng viên bậc một, nhưng nhờ viết được bài báo đoạt giải nhì và nhiều bài báo đáp ứng yêu cầu tuyên huấn nên đã chứng tỏ có năng lực, ngày nay gọi đó là năng lực làm bồi bút cũng không sai, cho nên tôi được lên bậc lương hằng năm, chậm lắm là hai năm. Đến năm 1975, tôi đã lên bậc chuyên viên hai, đủ tiêu chuẩn để được cử vào miền Nam làm tổng biên tập tờ báo Lao Động Mới. Posted on Tháng Tư 28, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/28/tu-theo-cong-den-chong-cong-29-con-duong-dan-toi-ghe-tong-bien-tap/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (30): https://www.minds.com/newsfeed/1020191645118287872?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (28): https://www.minds.com/newsfeed/1020190498049568768?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (28) Hồi ký Tống Văn Công Chủ tịch Đảng Trung Chính Việt Nam Trong số anh em cùng vào làm báo Lao Động tháng Một năm 1960 với tôi có anh Phạm Duy Từ học sinh trung học ở Khánh Hòa tập kết ra Bắc theo diện con em cán bộ (có anh là trung đoàn trưởng bộ đội Liên khu 5). Duy Từ được học đại học ở Bắc Kinh, rồi tu nghiệp ở Liên Xô, về nước làm phiên dịch cho chuyên gia Trung Quốc ở công trường xây dựng nhà máy phân đạm Bắc Giang. Anh viết bài về công trường này gửi cho báo Lao Động, được lãnh đạo của báo công nhận là cộng tác viên đắc lực suốt nhiều năm. Anh không chỉ viết bài rất hay mà còn vẽ biếm họa được bạn đọc yêu thích và thường góp ý đổi mới cách trình bày trang báo. Ở thời quan hệ Việt-Trung như môi với răng, thì một người thông thạo ngôn ngữ của Mao chủ tịch và cả Lênin là vô cùng sáng giá. Được một người như vậy về tòa báo, ban biên tập rất mừng, bố trí anh vào ban thư ký tòa soạn làm việc bên cạnh ông Ngô Tùng phó tổng biên tập kiêm trưởng ban thư ký tòa soạn. Nơi ở của anh Từ cũng được sắp xếp ưu tiên. Chúng tôi bốn người ở cùng trong một phòng tập thể 20 mét vuông. Duy Từ được ở riêng một phòng 10 mét vuông. Người ta giải thích sự ưu tiên đó là do đã không câu nệ về bậc lương mà chiếu cố một người ham học hỏi đã có số sách chiếm gần một nửa gian phòng. Duy Từ làm việc khoảng một tuần thì xảy ra sự cố chính trị làm náo động cả tòa báo. Anh đưa lên cái “tít” (titre) của một bản tin “vơ đét” giữa trang nhất: Hồ Chí Minh nói “đảng viên, cán bộ là công bộc của dân”. Hồi này báo chí miền Bắc chưa bao giờ đưa tên các vị trong bộ chính trị mà không kèm theo chức vụ, huống hồ lại là Hồ Chí Minh, làm sao dám gọi gọn lỏn, vô cùng thất lễ đối với vị “cha già dân tộc”! Người liên lạc đã mang bài, maquette các trang báo đi nhà in thì bất chợt ông Ngô Tùng nhớ chuyện gì đó đã gọi lại, xem. Sau này không biết bao nhiêu lần ông suýt xoa “May quá! Mình linh cảm có chuyện gì!” Sự việc đã bị quy kết thành quan điểm lập trường, hơn nữa còn nghi vấn “chỉ là ấu trĩ hay có ý đồ gì?” Ban biên tập quyết định đưa Duy Từ đi giáo dục cải tạo qua lao động tập thể ở một công trường xã hội chủ nghĩa. Hai hôm sau đại diện cơ quan đưa anh đến công trường thuỷ lợi Bắc Hưng Hải (tên ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương) lớn nhất miền Bắc. Hằng tuần tòa soạn báo và công trường thông báo trao đổi thông tin về người lao động cải tạo Phạm Duy Từ. Qua mấy tháng lao động ở công trường, Duy Từ có sáng kiến cải tiến cách chuyển đất từ nơi đào đến bờ đê nhanh hơn. Tin tốt lành đó được ban biên tập phổ biến trước cơ quan trong cuộc họp hằng tuần. Mọi người đều mừng cho anh và hy vọng cứ theo đà này chẳng bao lâu nữa Duy Từ sẽ được trở về, còn nếu tiếp tục ở đó thì anh sẽ trở thành anh hùng lao động! Nhưng khoảng hai tháng sau lại xảy ra một chuyện động trời: Phạm Duy Từ bị bắt vì âm mưu tổ chức một đảng phản động! Cơ quan công an cho biết Phạm Duy Từ viết bản tuyên ngôn thành lập đảng Trung Chính Việt Nam. Tuyên ngôn cho rằng cuối thập niên năm mươi thế giới đã có những bước chuyển mới, nền công nghiệp gồm những nhà máy được giai cấp công nhân áo xanh lao động sản xuất đã được thay thế bởi những dây chuyền máy tự động, điều khiển bằng máy tính, những nhân viên áo trắng thay cho công nhân áo xanh. Cuộc đấu tranh suốt ba thế kỷ của các quốc gia công nghiệp hóa là phân phối của cải. Ngày nay với nền kinh tế tri thức, các nước giàu đấu tranh trong cuộc phân phối tri thức và chiếm lĩnh tri thức. Tri thức quyết định quyền lực trên quy mô toàn thế giới. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thế giới chia hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Ngày nay với kinh tế tri thức, thế giới chia ra: những nước nhanh và những nước chậm. Nhanh là do nắm được tri thức và thông tin để rút ngắn thời gian. Nước Việt Nam chúng ta do đảng Lao Động Việt Nam, đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo ngày nay không còn phù hợp với thời đại. Để đất nước tiến lên ngang tầm thời đại phải có một đảng mới do trí thức lãnh đạo. Ngày chủ nhật, Duy Từ từ công trường Bắc Hưng Hải mang bản thảo tuyên ngôn của đảng Trung Chính Việt Nam về Hà Nội đến một cửa hàng đánh máy thuê ở phố Hàng Hành, đóng tiền cọc, thuê đánh máy ra 20 bản, lấy hóa đơn có ghi ngày hẹn làm xong là ngày chủ nhật tuần sau. Đúng hẹn, Duy Từ đến trả tiền, nhận 20 bản tuyên ngôn, khi anh vừa bước ra Hàng Hành thì gặp ngay xe cảnh sát, họ tra tay anh vào còng số tám đưa về chạy giam. Chị Phan Dung trưởng ban tổ chức của báo Lao Động đã thay mặt ban biên tập đến làm việc với lãnh đạo Sở Công an Hà Nội trình bày nhận định về hành động của Phạm Duy Từ: do được đi học, đi công tác nước ngoài và biết nhiều ngoại ngữ, hay nghe đài địch, đọc sách phương tây, nên nhiễm quan điểm tự do tư sản. Việc anh ta viết tuyên ngôn thành lập đảng, rồi đem tới thuê đánh máy ở một cửa hàng không hề quen biết, chứng tỏ anh ta rất hồn nhiên không hề nghĩ làm như thế là phạm tội. Chị Phan Dung đề nghị chị nên cảnh cáo răng đe rồi thả, cho anh về công trường, tiếp tục lao động để cải tạo tư tưởng. Chị Phan Dung có người em là phó giám đốc Công an Hà Nội cho nên việc trao đổi ý kiến vừa là đại diện cơ quan, nhưng cũng vừa là giữa những người trong gia đình. Phía công an đồng ý với nhận định của chị, hứa sẽ làm các thủ tục cần thiết để trả tự do cho Duy Từ trong thời gian sớm nhất. Tuy nhiên ngày mấy hôm sau, công an Hà Nội mời chị Phan Dung tới để cho biết đã có kết luận mới. Chuyện là thế này: Duy Từ chất vấn trại giam hết sức gay gắt: “Tôi là tù chính trị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đúng không? Vậy mà các anh giam tôi trong một xà lim chật hẹp, bẩn thỉu, bắt nằm trên sàn xi măng. Theo tôi được biết, chế độ Sa Hoàng đã cho người tù chính trị Lênin ở trong một gian phòng có bàn làm việc, có sách nghiên cứu. Chẳng lẽ chế độ Dân chủ Cộng hòa của các ông lại quá tệ so với chế độ Sa Hoàng?” Duy Từ bị đưa đi cải tạo bằng hình thức giam giữ vô thời hạn ở trại giam Hà Giang nơi có những tù nhân được gọi là “nguy hiểm đối với chế độ” như Nguyễn Hữu Đan, Thụy An… Trại tù Hà Giang khắc nghiệt gấp nhiều lần so với các trại cải tạo trong Chuyện kể năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Đến thập niên 80 thế kỷ 20, nhờ chủ trương mở cửa, tôi mới được đọc Alvin Toffler, nhà dự báo tương lai của người Mỹ do không biết gì, chỉ làm theo lãnh đạo, tôi trở thành tổng biên tập, Duy Từ biết sớm quá, phải đi tù! Sau 30-4-1975 Duy Từ mới được ra tù. Anh đến thăm tôi ở Sài Gòn khi tôi làm tổng biên tập báo Lao Động Mới của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam. Anh kể những khổ ải trong tù, chuyện nhà văn Thụy An kêu oan không thấu vì bị kết án làm gián điệp cho Pháp, quá căm phẫn bà cầm kim tự đâm mù mắt mình. Dù bị tù 15 năm, anh vẫn còn giữ tính trào lộng y như ngày xưa. Dạo đó các báo đăng tuyên truyền về kế hoạch hóa gia đình, hạn chế sinh đẻ. Duy Từ bảo tôi: “Đảng của tụi mày chủ trương cái vụ này e lợi bất cập hại! Bởi vì chỉ bọn trí thức nghiêm chỉnh thực hiện hạn chế sinh đẻ, còn dân ngu khu đen thì ‘trời sanh voi sanh cỏ’! Cuối cùng chủ trương này sẽ tiêu diệt những cái gien thông minh của dân tộc và phát triển loại gien ngu ngốc! Vài chục năm nữa dân tộc này dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng chúng mày, sẽ trở thành một dân tộc đần độn nhất thế giới!” Tôi hỏi anh sắp tới định làm gì để sống. Anh cười đáp: “Nếu tao bảo muốn được mày nhận vô làm báo thì tao quá ác. Bởi vì như vậy là đẩy mày vào chân tường, buộc phải thú nhận là một thằng hèn không dám nhận bạn vô làm việc. Đúng không? Cho nên tao sẽ mở lớp dạy vẽ và mở tiệm cà phê.” Sau đó ít lâu, anh báo tin đã tìm được nơi cư trú ở đường Trần Bình Trọng quận 5, mở cửa hàng cà phê và một lớp dạy vẽ. Anh cũng biết phê bình hội họa và giới thiệu các họa sĩ mà anh yêu thích. Posted on Tháng Tư 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-28-chu-tich-dang-trung-chinh-viet-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (29): https://www.minds.com/newsfeed/1020191243262021632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (27): https://www.minds.com/newsfeed/1020190034006343680?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (27) Hồi ký Tống Văn Công Học làm báo cách mạng Tôi được phân công làm phóng viên của ban tuyên truyền về đời sống công nhân, gọi tắt là ban đời sống do anh Trần Bá Đa phó tổng biên tập làm trưởng ban. Năm 1945, anh Trần Bá Đa đậu tú tài toàn phần, bỏ học tham gia cách mạng. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, anh theo cơ quan rút ra vùng giải phóng, lấy vợ, sinh một con. Sau đó, Đảng lại phân công anh trở vào Hà Nội hoạt động. Anh trú ngụ ở một gia đình là “cơ sở cách mạng”. Gia đình này có cô con gái lớn. Anh chị thầm lén với nhau, chị có bầu, gia đình tổ chức cho họ cưới nhau. Sau ngày giải phóng Hà Nội, hai bà vợ tranh chấp một ông chồng, phải đưa ra tòa. Anh nói mình không thể ly hôn người nào cả, mình noi gương đồng chí Lê Duẩn. Vậy là phải xin tòa phân xử. Tòa ra quyết định: từ trưa thứ hai đến sáng thứ bẩy anh ở với bà vợ cả; từ chiều thứ bảy đến sáng thứ hai anh ở với bà vợ hai; tiền lương của anh chia đôi, mỗi bà một nửa. Sau khi thân nhau, anh thổ lộ: “Nghe qua bản án tòa xử, không ai hình dung được những ‘khổ sở’ của mình khi thực hiện. Làm sao cơ thể con người khỏi bị ‘phong vũ bất kỳ’, suốt cả tuần ở với bà cả, đến chiều thứ bẩy mới về với bà hai thì bị cảm sốt, nhức đầu. Chẳng lẽ người ta chờ đợi suốt cả tuần mà mình không cố gắng ‘hoàn thành nhiệm vụ’ trước khi lại ra đi!” Do một suất lương chia cho hai bà vợ nên lúc nào anh cũng túng thiếu. Các cơ quan đều quen với tình ảnh ông phó tổng biên tập chia tay với các đồng nghiệp nghiện thuốc lá: “Mày cho tao xin một điếu!” Tôi không hút thuốc nên không có cơ hội giúp anh. Ngày đầu làm việc với tôi, anh Đa bảo: “Mình đọc truyện ngắn anh viết rồi, nhưng về đây là để viết báo, viết những chuyện có thật trong đời sống công nhân. Tờ báo này là cơ quan ngôn luận của tổ chức công đoàn. Do đó, anh phải viết theo quan điểm của công đoàn. Công đoàn chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, do đó phải viết dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng. Tháng này cậu cứ ngồi đọc báo Lao Động, học từ bài viết của các đồng nghiệp đi trước, rồi đọc các tờ báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Phụ Nữ để học hỏi cách viết nhằm mục đích phục vụ đối tượng của mỗi tờ báo.” Sau đó, anh đưa cho tôi tập sách có những bài viết của Lênin, Hồ Chí Minh nói về nhiệm vụ của báo chí cách mạng. Thật ra từ năm 1952, khi cộng tác với báo Nhân Dân Miền Nam của ông Trần Bạch Đằng tôi đã thấm nhuần tư tưởng “viết những gì kháng chiến cần, cách mạng cần”. Trên miền Bắc giải phóng, lĩnh vực nào cũng đặt dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, lúc nào cũng có các vị tuyên huấn ở các cấp soi thứ ánh sáng đó vào từng câu từng chữ, làm bật ra nhiều chuyện cứ như đùa. Đời làm báo cách mạng của tôi cũng trải không ít bầm dập, nhưng xin kể vài chuyện nghe được của đồng nghiệp cùng thời đó. Trong cuốn “Hồi ký của các nhà báo cao tuổi” tại thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, nhà báo Nhật Tỉnh kể: năm 1955 anh về làm phóng viên Ban Thời sự Đài Tiếng nói Việt Nam, do ông Nguyễn Văn Nhất làm trưởng ban và được giao đi viết một bài nói về nông thôn sau cải cách ruộng đất. Cố nhiên, anh Nhật Tỉnh đã phải học Nghị quyết 9 năm 1954 của Bộ Chính trị: “Một mặt hết sức thỏa mãn yêu cầu về kinh tế và chính trị của nông dân để phát động nông dân và tranh thủ sự ủng hộ của nông dân. Mặt khác lại cần hết sức mở rộng mặt trận chống phong kiến và mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, trung lập mọi lực lượng có thể trung lập được, để tranh thủ đa số, cô lập thiểu số, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất”. Anh Nhật Tỉnh viết: “Tôi miêu tả cảnh quan tươi đẹp của làng quê vừa được giải phóng, niềm phấn khởi của người cày có ruộng, hăng hái làm thuỷ lợi ‘nghiên đồng đổ nước ra sông’. Tiếp đó, tôi nêu một chi tiết, ở cuối cánh đồng, trên một thẻo đất khô cần, có một người đang cuốc đất. Nhìn cái lưng lòng khòng, bắp chân trăng trắng của anh ta, ai cũng biết anh ta không phải là nông dân thực thụ. Hỏi ra mới biết, anh ta là sinh viên trường thuốc, con địa chủ K., nay không có điều kiện học nữa, đã trở về làm ruộng. Tôi nhớ câu nói của anh Mai Hộ một đàn anh khi tôi vào nghề báo ‘mỗi người một đường đi, mỗi người một số phận’, tôi viết tiếp, từ một sinh viên trường thuốc, nay tập làm nông dân, có lẽ anh đang tìm một đường đi”. Ông Nguyễn Văn nhất gọi tôi lên phòng làm việc nghiêm mặt hỏi: – Tại sao cậu đưa chi tiết con địa chủ vào bài? – Tôi nghĩ viết về nông thôn sau cải cách ruộng đất không chỉ viết về nông dân mà cần nêu cả đối tượng đấu tranh của nông dân nữa thì bức tranh mới chân thực, mới toàn cảnh. – Toàn cảnh cái gì? Từ một sinh viên trường thuốc nay phải bỏ học đi cuốc đất. Cậu viết nhằm ẩn ý gì đây? – Thưa thủ trưởng, tôi nào có ẩn ý gì đâu! Đó chỉ là sự thật! – Sự thật à? Đâu phải sự thật nào cũng đưa lên. Cậu hiểu chưa? Im lặng. Nặng nề. Rồi ông hạ giọng: – Nếu cậu bỏ chi tiết này thì tôi cho phát. Bằng không thì… – Tùy thủ trưởng. Tôi đâu phải là người quyết định. … Tôi thuật lại cuộc đối thoại giữa ông Nhất và tôi. Anh Mai Hồ nghe, mặt buồn thiu, trầm ngâm một lát rồi lí nhí: Đời chú mày rồi lận đận! Cũng trong “Hồi ký các nhà báo cao tuổi”, tập 5, trang 10, nhà báo Sĩ Ẩn nguyên phóng viên báo Tiền Phong kể việc được giao viết bài về kỳ họp thứ 6 Quốc Hội khóa 3 bàn về tình hình cách mạng miền Nam và công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Phiên họp này thực hiện Nghị quyết 15 của Đảng: “Đảng ta đang đứng trước những nhiệm vụ cách mạng rất nặng nề nhưng rất vẻ vang: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tạo điều kiện cho cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.” Nhà báo Sĩ Ẩn kể, sau ngày họp đầu tiên chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh trực tiếp họp báo, căn dặn: “Riêng bản báo cáo của Ban Thống nhất Trung ương tôi muốn chữa vài chữ, đề nghị các báo chưa đăng vội.” Khi nghe Sĩ Ẩn báo cáo như vậy ông Lê Xuân Đồng tổng biên tập báo Tiền Phong băn khoăn: “Báo ta hai ngày ra một số, nếu chờ thì lỡ mất”. Ông Thanh Dương phó tổng biên tập đề nghị: “Chúng ta cứ lên khuôn, giao cho Sĩ Ẩn bám sát hễ đồng chí Trường Chinh sửa chữ nào thì ta lập tức sửa chữ đó”. Ai cũng thấy đó là ý hay. Nhưng ngay sau đó Sĩ Ẩn được tin của cô bạn gái đồng nghiệp: “Đúng 23 giờ đón em từ Yên Bái về đến ga Hàng Cỏ.” Sĩ Ẩn kể: “Lửa lòng bốc cháy, tôi quên hết mọi chuyện. Tôi phóng xe ra ga lúc chưa tới 21 giờ. Hết ngồi lại đứng, đi tới, đi lui cho đến lúc tàu về. Ôi vui quá. Tôi chở cô bạn về chợ Hàng Da, ngồi dưới chân cột đèn ăn bánh khúc nóng. Lại ra ga Hàng ỏ để có ghế ngồi như khách chờ tàu. Trời sáng lúc nào không hay. Tôi chở cô bạn về trụ sở Hội Nhà báo, rồi trở về cơ quan. Chưa tới giờ làm việc, chúng tôi tụ tập tại phòng khách, chơi tú lơ khơ. Bổng cửa mở, Vụ trưởng Vụ báo chí Trần Minh Tước xuất hiện và dằn giọng: ‘À, Sĩ Ẩn, gan thật. Còn ngồi đây chơi bài! Tìm tổng biên tập, rồi cả cậu nữa đi ngay theo tôi, anh Trường Chinh đang chờ’. … Ngồi cạnh ông Trường Chinh là Tố Hữu, Nguyễn Văn Vịnh, chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất và hai ba vị nữa. Ông Trường Chinh nghiêm giọng: Chiều hôm qua đồng chí nào giữ họp báo? Tôi đứng dậy, cố bình tĩnh nhưng giọng nói vẫn rung rung: Dạ, tôi ạ! Đồng chí có nghe tôi dặn điều gì không? Tôi cố lấy bình tĩnh và tỏ ra biết lỗi: Dạ có à! Có, nhưng sao lại nằm trái? Tổng biên tập Lê Xuân Đồng đỡ lời tôi: Báo cáo đồng chí Chủ tịch Quốc hội… Ông Trường Chinh ngắt lời: Tôi chưa hỏi đồng chí. Mọi người im lặng. Căn phòng như thiếu không khí. Tôi cố hít thật sâu, trống ngực đập thình thình. Đồng chí Trường Chinh đẩy tờ báo Tiền Phong về phía tôi với cụm từ ngắn gọn: Đồng chí xem đi. Tôi đã lấy tờ báo, len lén nhìn vào đôi mắt sáng mà rất nghiêm của đồng chí, tôi chăm chú nhìn vào dòng chữ được gạch dưới bằng bút chì đỏ: ‘Với tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm, quân và dân miền Nam đã đánh cho Mỹ ngụy thất điên bát đảo’. Đồng chí Tố hữu đã gửi bản báo cáo về phía tôi, bốn chữ ‘thất điên bát đảo’ đã được đồng chí Trường Chinh gạch bỏ, thay bằng hai chữ ‘té dạt’ chữ đỏ. Đồng chí Tố Hữu nói rõ: ‘Tuy chỉ hai chữ nhưng đây là ý đồ chiến lược của Đảng ta đối với cách mạng miền Nam lúc này, cần phải quán triệt’. Tôi chỉ bị cảnh cáo và xóa tên khỏi danh sách ‘cảm tình Đảng’. Tôi mừng quá.” Bị cảnh cáo và xóa tên trong danh sách cảm tình Đảng mà mừng quá, bởi vì Sĩ Ẩn từng biết nhiều người cầm bút sơ sểnh đã phải đi trại cải tạo hoặc vào nhà đá! Ngày nay đọc hồi ký của các nhà báo cũng phải với mình, tôi không khỏi ngạc nhiên tự nghĩ, tại sao hồi đó chúng tôi có thể vui vẻ, thậm chí còn tự hào vì “được” lãnh tụ mắng. Posted on Tháng Tư 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-27-hoc-lam-bao-cach-mang/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (28): https://www.minds.com/newsfeed/1020190498049568768?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (26): https://www.minds.com/newsfeed/1020189556155691008?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
close
Minds LIVESTREAM Tonight at 7pm ET with Tulsi Gabbard, Tim Pool, Cornel West and more!