ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24) Hồi ký Tống Văn Công Truyện ngắn “Dũng” đưa tôi vào nghề báo Tôi đến xin việc ở vài tờ báo. Người ta tiếp tôi rất lạnh nhạt, bảo trước hết hãy viết bài gửi cho báo cho đến bao giờ ban biên tập thấy có khả năng sẽ gửi giấy gọi. Đầu năm 1958 báo Thống Nhất tổ chức cuộc thi viết về đề tài miền Nam. Tôi viết truyện ngắn “Dũng” gửi dự thi có ý để tìm việc làm ở ngành viết lách. Đây là chuyện viết theo luận đề minh họa lý thuyết của đảng Cộng sản “có áp bức thì có đấu tranh”. Nhân vật chính trong truyện Dũng một bé gái tên Nhu tính nhút nhát, không dám nhìn thấy máu, dù là máu của con gà, con ếch, nhưng trước sự đe dọa tính mạng của cha mình, em vụt trở nên dũng cảm. Năm 1959 công bố giải ở Câu lạc bộ Thống Nhất. Cụ Tôn Đức Thắng đến dự và trao giải. Về thơ, giải nhất trao cho tập “Mộ anh hoa nở” tác phẩm đầu tay của Thanh Hải, một tác giả đang ở miền Nam. Văn xuôi, không có giải nhất, có hai giải nhì là chuyện “Ông Năm Hạng” của Nguyễn Quang Sáng, “Câu chuyện chiều thứ Bảy” của Trần Thanh Giao, giải ba là “Dũng” của tôi; giải khuyến khích là truyện ngắn của Xuân Vũ. Truyện ngắn Dũng được giải ba vì nó minh họa Nghị quyết 9 của Đảng Cộng sản quyết định giải phóng miền Nam bằng bạo lực vũ trang. Sau khi được giải ba cuộc thi truyện ngắn viết về miền Nam, tôi được ba cơ quan báo nhận làm phóng viên (báo Thống Nhất, Đài Phát Thanh và báo Lao Động). Anh Trương Quang Lộc trưởng phòng văn nghệ báo Thống Nhất rủ tôi cùng về báo Lao Động với lý do: đây là nơi được tìm hiểu thực tế công cuộc công nghiệp hóa miền Bắc. Tôi nhận công tác gần nửa tháng mới nhìn thấy ông tổng biên tập. Ông tới dự bữa cơm “liên hoan” chào mừng anh em mới được tuyển dụng, để đưa tuần báo Lao Động tăng lên 3 kỳ / tuần. Ông có khuôn mặt lạnh không thích hợp với một nghề cần quảng giao. Ông nói như miễn cưỡng phải mở miệng và hay dùng hai từ “các cái” thay vì là “những việc”. Ông từng là lính thợ sang Pháp sau khi ra trường kỹ nghệ. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ông là quản đốc của một binh công xưởng. Vợ ông là em ruột của ông Lê Thanh Nghị ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nổi tiếng là người đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi xin viện trợ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1949, binh công xưởng bắt đầu thực hiện chủ trương làm bích báo (báo tường), ông quản đốc Lê Vân nêu gương viết một bài thơ Tình máy tiện, có đoạn: “… Sao máy ngập ngừng? Thân máy nóng bừng, đầu máy hâm hiu. Máy mệt lắm rồi! Ngừng quay nghỉ chút máy ơi Ta làm mồi thuốc, máy xơi giọt dầu…” Bài thơ được đăng trên báo Lao Động số 114 năm 1949 và được khen là một đề tài khô khan mà tác giả đã có thể “tức cảnh sinh tình” thành thơ. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lập tức điều động ông về làm phó tổng biên tập báo Lao Động. Năm 1956, ông được đề bạt tổng biên tập thay ông Đỗ Trọng Giang (cũng là một nhà thơ công nhân lên làm trưởng ban tuyên giáo Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam). Khi tôi về đây, ông kiêm nhiệm rất nhiều chức vụ: Ủy viên đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam; tổng biên tập báo Lao Động; giám đốc Nhà xuất bản Lao Động. Ông không viết bài, cũng không duyệt bài. Ông chỉ đạo ban biên tập theo các quyết định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hằng tuần ông đến họp cơ quan, phát biểu nhận xét tờ báo trong tuần qua, chỉ đạo trọng tâm tuyên truyền trong tuần tới. Mọi việc cụ thể ở báo Lao Động đều do phó tổng biên tập Ngô Tùng quán xuyến. Năm 1964, ông Ngô Tùng qua đời, ông Hoàng Trọng Đỉnh lên thay, mọi việc vẫn tiếp tục nền nếp cũ. Ở Nhà xuất bản Lao Động mọi việc do ông Băng Cơ quán xuyến, hằng tuần ông đến “cho ý kiến” giống như ở báo Lao Động. Ông rất có uy với cấp dưới. Các phó tổng biên tập trước khi vào phòng của ông để xin ý kiến, đều tự chấn chỉnh trang phục, bỏ áo vào quần cẩn thận. Năm 1963, ông nghĩ ra cách chấn chỉnh cách quản lý công tác của phóng viên: xếp bàn làm việc để phóng viên ngồi hướng mặt vào tường; bàn của mỗi phóng viên có vách ngăn riêng để không ai có thể tán chuyện làm ảnh hưởng người bên cạnh; quy định phóng viên phải đến ngồi vào bàn của mình đúng giờ, nếu vắng mặt, phải xin phép. Qua một tháng thực hiện, hoạt động của tờ báo chẳng những không tốt hơn mà lại sa sút, bài vở kém hẳn. Cuộc họp chi bộ sau đó một tháng chính là dịp mổ xẻ chủ trương làm việc này. Các đảng viên là ủy viên ban biên tập, hoặc trưởng bàn là những người có trách nhiệm lên tiếng phân tích vụ việc, nhưng sự có mặt của ông tổng biên tập khiến họ cứ e dè nhìn nhau. Anh Hoàng Nghinh trưởng Ban Quốc tế, đứng lên phát pháo, dù anh không có chân trong ban biên tập và Ban Thời sự Quốc tế của anh không bị ảnh hưởng gì với việc “cải tiến” này. Anh nói, mấy tuần qua anh em làm việc thì ít mà xì xầm mọi lúc mọi nơi, nhưng không dám nói trên báo tường và trong cuộc họp cơ quan. Họ cho rằng đây là lối quản lý nhân viên hành chính, không thích hợp với hoạt động của phóng viên. Anh em cho rằng, tổng biên tập đã không hiểu công việc phóng viên mà lại còn không tin anh em, không bàn bạc với ban biên tập và chi bộ áp đặt ý mình theo cung cách của một ông chủ. Nguy hiểm là đã có sự phản ứng ngầm, làm sút giảm cả lượng và chất của tin bài trên báo. Anh quay sang các ủy viên ban biên tập và trưởng ban: “Tôi biết nhiều đồng chí ngồi đây không đồng tình với cách làm này. Đề nghị các đồng chí thẳng thắn vì sự sống của tờ báo và lợi ích của bạn đọc.” Các ủy viên ban biên tập và trưởng ban lần lượt bày tỏ ý kiến, chủ yếu nói về hiện tượng tiêu cực của phóng viên, chứ không dám cho rằng chủ trương của Tổng biên tập là sai, cũng không ai yêu cầu trở lại nền nếp cũ. Ông tổng biên tập chống đỡ yếu ớt, ông cho rằng cái mới ra đời bao giờ cũng gặp khó khăn. Ông không bảo vệ cách quản lý đang bị phản ứng, nhưng cũng không tuyên bố phải dẹp bỏ. Ông nói dài lê thê về những hiện tượng la cà của phóng viên, việc không phát hiện kịp thời những nhân tố mới trong phong trào thi đua tập thể. Khi ông dứt lời mà không đưa ra quyết định rõ ràng, mọi người vẫn im lặng. Không khí nặng nề bị phá vỡ bởi cái đập bàn của Hoàng Nghinh trước khi đứng phắt dậy, đanh thép hỏi: “Đồng chí không tự phê bình là mình sai à? Đồng chí không chịu vứt bỏ cái chủ trương không thích hợp, đã gây tiêu cực làm giảm hoạt động của phóng viên sao?” Khuôn mặt tái xanh của ông Tổng biên tập bỗng đỏ rực lên. Ông đáp một cách chậm rãi: “Tôi đang lắng nghe ý kiến chân thành xây dựng. Ban biên tập đang lắng nghe chi bộ, tập thể ban biên tập chúng tôi sẽ có quyết định trong cuộc họp sắp tới!” Vậy là khi bị quy trách nhiệm, ông đưa tập thể ban biên tập ra để thoát hiểm. Tuần sau đó, chủ tịch Hoàng Quốc Việt “hạ phóng” xuống tòa báo để chấn chỉnh trật tự. Ông lên án tình trạng mất đoàn kết âm ỉ trong chi bộ là điều không thể chấp nhận được trong cơ quan ngôn luận của giai cấp công nhân có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ông cho rằng sức mạnh của một tập thể chỉ có thể phát huy khi kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ: cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng cấp trên. Ông tổng biên tập chủ trì cuộc tiếp đón, trân trọng chào mừng “vị lãnh tụ giai cấp”, nhưng ông gợi ý ông ủy viên ban biên tập kiêm bí thư chi bộ phát biểu ý kiến. Tôi hết sức kinh ngạc, không hiểu vì sao một người tôi rất quý trọng, đã dành cho ông lá phiếu bầu vào địa vị bí thư chi bộ đã đứng lên khóc nức nở, nói không nên lời! Tôi lờ mờ hiểu lý do không ngăn nổi dòng nước mắt là vì cảm thấy tập thể ở đây đã phạm lỗi quá lớn, lòng phiền lòng vị lãnh tụ tổ chức cách mạng của giai cấp tiên phong đang bận trăm công ngàn việc mà phải đến vì sự việc cỏn con này. (Trước khi viết lại chuyện này, tôi đã gọi điện hỏi nguyên bí thư chi bộ đã khóc năm ấy. Lạ thay, anh bảo mình hoàn toàn không nhớ gì cả! Anh hỏi lại tôi: ” Thế à? Lúc đó mình có khóc à? Tại sao mình lại khóc nhỉ?”) Sau cuộc họp, một vài anh có tuổi và có thâm niên ở đây nhận định: cụ Hoàng Quốc Việt xuống để yểm trợ tổng biên tập, nhân đó dằn mặt anh Hoàng Nghinh, một đảng viên có lý lịch rất xấu và nhiễm thói dân chủ tư sản Phương Tây chưa chịu gột rửa. Posted on Tháng Tư 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-24-truyen-ngan-dung-dua-toi-vao-nghe-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (25): https://www.minds.com/newsfeed/1020181434628386816?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23): https://www.minds.com/newsfeed/1020180411612110848?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23) Hồi ký Tống Văn Công Làm thơ cải cách ruộng đất Năm 1956, sau khi sắp xếp lại tổ chức xong, các đơn vị bộ đội miền Nam bắt đầu học chỉnh huấn về cải cách ruộng đất. Các chính trị viên giảng về lý luận của cuộc cách mạng “phản phong”, xóa bỏ hình thức bóc lột của địa chủ, phú nông ở nông thôn. Sau đó, “cốt cán chuỗi rễ” là những bần cố nông có thành tích đấu tố xuất sắc trong cải cách ruộng đất ở địa phương đến kể chuyện thực tế. Hồi này chưa phát hiện những sai lầm ghê gớm trong cải cách ruộng đất, chưa có từ “tố điêu” nói về những bịa đặt của bần cố nông cố gắng làm vừa lòng cán bộ đội cải cách. Tôi chỉ có thắc mắc: “Vì sao mà địa chủ ở miền Bắc ác hơn hẳn địa chủ ở miền Nam?” Các chính trị viên giải thích: “Vì địa chủ miền Bắc nghèo hơn nên cố vơ vét!” Từ các buổi nghe kể chuyện thực tế, tôi viết bài thơ “Chị Cả” đăng lên báo tường của đại đội và gửi một bản lên báo Quân đội Nhân dân. Không ngờ bài thơ này được vào chung khảo cuộc thi của ủy ban cải cách ruộng đất và được in trong tập mang tên “Đường Làng” tên bài thơ của Phác Văn. Tập thơ gồm những tác giả: Thanh Tịnh, Nguyễn Bao, Nguyễn Viết Lãm, Phác Văn, Hải Như, Hữu Thọ, Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vượng. Dưới tên tôi, được chua thêm hai chữ “bộ đội”. Sau này tôi mới biết, địa chủ miền Bắc cũng giống như địa chủ miền Nam, họ là những người có trí, có học, tổ chức công việc giỏi giang nên trở nên giàu có. Hầu hết họ đã đóng góp lớn cho Tuần Lễ Vàng, đã tham gia kháng chiến. Người địa chủ lớn tiêu biểu là bà Nguyễn Thị Năm đã bị đấu tố, giết hại thê thảm. Ngoài ra còn rất nhiều địa chủ miền Bắc lâm cảnh như thế. Bố anh Hữu Tính trưởng văn phòng miền Nam báo Lao Động tham gia cách mạng từ năm 1945, làm chủ nhiệm Ủy ban Mặt trận Việt Minh huyện, có con gái là bí thư đảng ủy các cơ quan trung ương, con rể là thư ký phó chủ tịch tôn Đức Thắng, đã bị đấu tố là một tên địa chủ chui vào hàng ngũ cách mạng, phải xử bắn! Anh Ngọc Liên, trưởng ban Bảo hộ Lao động của Tổng Liên đoàn Lao động thời ấy cũng bị đấu tố là địa chủ phản động, bị bắt giam, bỏ đói suýt chết. Vào làm phóng viên báo Lao Động ngày 1 tháng 1 năm 1960, sau “sửa sai cải cách ruộng đất” đã 3 năm, tôi mới được biết bài thơ của mình được vào chung khảo một cuộc thi và in chung với nhiều tác giả đã nổi tiếng. Nhưng lúc ấy tôi không thấy vui mà cảm thấy xấu hổ vì đã được đọc bài thơ “Em bé lên sáu tuổi” của Hoàng Cầm cũng được viết khoảng thời gian đó, có những câu: Chị bần nông cốt cán, Ứa nước mắt quay đi: Nó là con địa chủ, Bé bỏng đã biết gì. Hôm em cho bác cháo, Chịu ba ngày hỏi truy, Chi đội bỗng lùi lại, Nhìn đứa bé mồ coi, Cố tìm vết thù địch, Chỉ thấy một con người! Cùng trải qua một tình huống tương tự mà tôi cố viết theo ý đồ tuyên truyền, không có cảm xúc nhân văn như ông! Tiểu đội tôi đóng quân trong ngôi nhà của địa chủ nay cấp cho gia đình cố nông. Gia đình địa chủ bị dồn vô dãy nhà sau trước kia dành cho người làm, người ở. Một hôm chúng tôi đang ăn cơm thì bé gái con địa chủ đứng ngoài cửa sổ nhìn vào với vẻ thèm thuồng. Cảm thấy tội nghiệp, tôi xúc cho nó bát cơm đưa qua cửa sổ. Vì chuyện này tôi bị phê phán “mất lập trường giai cấp”. Sau khi học chỉnh huấn cách mạng ruộng đất, chi bộ xóa tên tôi khỏi danh sách “quần chúng cảm tình Đảng chuẩn bị kết nạp”. Cũng trong thời gian này Huỳnh Dư Khải ghé thăm tôi, báo tin buồn. Ra Bắc, Khải đã là thiếu úy, chi ủy viên của chi bộ đại đội trong Tiểu đoàn 308 nổi tiếng (chỉ đứng sau tiểu đoàn 307). Cấp trên cho biết với lý lịch vào bộ đội từ lúc 15 tuổi, “chiến công đầy mình”, nếu lãnh đạo cuộc chỉnh huấn đại đội đạt kết quả tốt, Khải sẽ được đề bạt vượt cấp. Khải đã trung thực khai cha mình là địa chủ, Hương cả Huỳnh Dư Khiêm đứng đầu Ban Hội tề. Khải sống với bác ruột là ông hội đồng Huỳnh Dư Thuần để gần trường học. Sau chỉnh huấn, cấp trên bảo Khải “từ trong trứng của giai cấp bóc lột, cần phải thử thách cải tạo nhiều hơn nữa”. Anh được đưa vào danh sách giảm quân giống như tôi, nhưng anh không thể chịu cam phận như tôi, bởi đã từng là một người hùng. Khải kể: “Tao đã xé giấy giới thiệu đảng viên vứt vô mặt thằng bí thư. Tao sẽ mua chiếc xe ba gác để chở hàng thuê và làm giường ngủ. Khi nào mày về Hà Nội thì kiếm tao ở chợ Hàng Da.” Sau tháng Tư năm 1975, Huỳnh Dư Khải về quê. Cả làng An Bình Tây vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn từ năm 1947 nay chỉ là một anh bạch đinh, đi làm thuê kiếm sống. Posted on Tháng Tư 13, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/13/tu-theo-cong-den-chong-cong-23-lam-tho-cai-cach-ruong-dat/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24): https://www.minds.com/newsfeed/1020180972931620864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22): https://www.minds.com/newsfeed/1020179678219112448?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22) Hồi ký Tống Văn Công Bác Hai lại nói về đảng Cộng sản và đảng Dân chủ Ngày chủ nhật, tôi thường từ Cầu Diễn đi bộ ra Cầu Giấy rồi lên tàu điện ra Hà Nội đi mua sách báo. Do không có nhiều tiền, tôi vào hiệu sách báo xem vài tờ báo rồi mua một quyển sách, sau đó tới cửa hàng sách báo khác, cũng lặp lại như thế. Tôi đã đọc theo cách đó tất cả các số báo Trăm Hoa và Nhân văn Giai phẩm mà không phải bỏ tiền mua. Một hôm, vừa rời nhà sách bước ra đường thì tôi gặp bác Hai Trần Trung Trực, nguyên Phó Ty Giáo dục Bến Tre thời chống Pháp. Thấy tôi mặc quân phục bác rất vui: “Tao không ngờ ốm yếu như mày mà vẫn còn ở bộ đội. Mấy thằng con tao chuyển ngành hết rồi!”. Bác đâu ngờ tôi chỉ là chú lính gánh gạch, trộn vữa, học xây nhà! Bác đưa tôi đến Sở Giáo dục Hà Nội cơ quan của bác hiện nay, để bác cháu tâm tình. Bác nói bác đang làm bí thư chi bộ, tôi hỏi: “Là bí thư chi bộ đảng Dân Chủ hả bác Hai?” Bác xua tay: “Bậy mày! Bí thư chi bộ đảng Lao Động chứ, tức là Cộng Sản chứ.” Tôi nhắc lại chuyện bác giải thích với tôi về đảng Dân chủ hay hơn đảng Cộng sản ở chỗ ôn hòa, đi chậm mà chắc. Bác cười lớn: “Hồi đó tao có biết gì đâu. Sau này thằng Hiếu còn tao làm rể bác Năm Hưỡn trưởng ty, ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre! Là thông gia với nhau, bác Năm không ngại nói thẳng cho tao biết: Đảng Dân chủ là do bác Hồ thành lập để thu nạp những anh trí thức lơ tơ mơ, tạch tạch xè (những từ nói lóng để chỉ thành phần tiểu tư sản mà đảng Cộng sản cho là có quan điểm, lập trường bấp bênh cần phải kèm cặp, giáo dục không ngừng) mới tham gia cách mạng, còn e ngại cộng sản. Người tri thức vô đảng Dân Chủ thì coi như đã chịu đi theo con đường của đảng Cộng sản rồi. Bác Năm đứng ra giới thiệu tao vào đảng Cộng sản.” Tôi hỏi thăm hai người con “mác xít” của bác. Bác cho là mình rất bất hạnh khi có đứa con thứ hai là Trần Trung Tín hư đốn. Tín rời bộ đội làm diễn viên điện ảnh, nhưng thích làm thơ. Bất ngờ có người cùng cơ quan phát hiện anh có những câu thơ: “Trái tim tôi không phải quả táo tàu. Không thể dùng dao cắt chia ba phần to nhỏ” và “Chân lý không thể bị hành hình. Cái đẹp không thể vùi chôn.” Tín bị đưa ra chi bộ kiểm điểm. Người ta cho rằng anh công kích Tố Hữu, cũng tức là chống lại quan điểm văn nghệ của Đảng. Trần Trung Tín khẳng định mình hoàn toàn đúng. Trước sự o ép liên tục của chi bộ, Tín xé thẻ Đảng vứt vào sọt rác, rồi định tìm đến cái chết. Trong giây phút tuyệt vọng, may thay anh bắt gặp niềm yêu say hội họa. Hội họa đã cứu sống anh. Anh ngồi vẽ suốt ngày bằng mực Cửu Long tên giấy báo Nhân Dân. Lúc ấy bác hai Trực và cả tôi nữa chỉ biết tin vào Đảng. Ông không thể ngờ con trai mình được họa sĩ Bùi Xuân Phái coi là một thiên tài bẩm sinh. (Bùi Xuân Phái cũng là người không được Đảng coi trọng). Sau khi bác Hai Trực qua đời, tranh của Trần Trung Tín được triển lãm ở nhiều quốc gia có nền mỹ thuật cao như Pháp, Mỹ, Anh, Nhật, Thái, Singapore… Tờ báo có uy tín The Independent đánh giá: “Trần Trung Tín là họa sĩ vĩ đại nhất của Việt Nam” và báo Time nhận xét tranh của Trần Trung Tín “bi thiết với màu sắc rực rỡ”. Sau lần gặp bác hai Trực, trong một dịp họp đồng hương tôi được gặp anh Lê Nguyên, ủy viên ban chấp hành đảng Dân Chủ tỉnh Bến Tre thời chống Pháp. Năm 1945 anh thi tú tài xong thì Cách Mạng Tháng Tám, rồi kháng chiến bùng nổ. Anh rời Sài Gòn về Bến Tre, lập tức được mời vào đảng Dân Chủ, ít lâu trở thành cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh của Đảng này. Tập kết ra Bắc anh bắt đầu làm báo. Tôi hỏi, có phải anh làm báo Độc Lập do ông Nguyễn Việt Nam nguyên ủy viên Ban thường vụ Kỳ ủy đảng Dân Chủ ở Nam Bộ đang là tổng biên tập. Anh cười, rỉ tay tôi: “Cậu không biết đảng Dân Chủ chỉ là cái đảng dỏm à? Cụ Hồ bày ra đảng Dân Chủ với đảng Xã Hội để dụ khị mấy thằng trí sức đang lớ ngớ, gom vào hai cái đảng này để tiện việc quản lý, giáo dục đó thôi! Sau khi biết rõ như vậy, mình đã làm đơn xin ra đảng Dân Chủ, rồi cố gắng ‘phấn đấu’ và đã được kết nạp vô đảng lao động hơn ba năm rồi.” Chuyện của bác Hai Trực và anh Lê Nguyên làm tôi bùi ngùi nhớ cô giáo Thiệp đảng viên Dân Chủ ở trường trung học Huỳnh Phan Hộ tôi học thời chống Pháp. Thời ấy, các đảng viên Dân Chủ như bác Hai Trực rất tự hào về sự khác nhau – không muốn nói là ưu việt – của đảng mình so với đảng Cộng sản. Do đó những đảng viên Cộng sản trẻ, đặc biệt là những đoàn viên thanh niên “cảm tình” đảng Cộng sản luôn muốn tỏ “lập trường cách mạng vô sản” đã coi đảng dân chủ như là một bọn thù địch! Những buổi cô giáo Thiệp giảng bài, bọn học sinh chúng tôi bỏ học gần một phần ba, còn hai phần ba có mặt thì trò chuyện râm ran. Năm 1965, tôi được tin cô giáo Thiệp bị bắt đã từ chối ly khai Cộng sản, chấp nhận vào chuồng cọp ở Côn Đảo. Trong khi đó, thày Triết bí thư chi bộ đảng Cộng sản trường Nguyễn Công Mỹ lên đài Sài Gòn tuyên bố ly khai cộng sản! Năm 1981, tôi được bầu vào Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khóa 2. Trước khi biểu quyết những nghị quyết có thể phiếu bị phân tán, các đảng viên Cộng sản được đảng đoàn ở Hội đồng Nhân dân mời họp riêng để “quán triệt sự chỉ đạo của Thành ủy”. Ông Nguyễn Việt Nam chủ tịch Hội đồng Nhân dân là bí thư đảng đoàn đảng Cộng sản, người mà thời chống Pháp đã được công khai là ủy viên Thường vụ đảng Dân Chủ của Nam bộ, sau khi tập kết ra Bắc làm tổng biên tập báo Độc Lập của đảng Dân chủ Việt Nam. Dù đã biết nhiều sự thật, nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên khi ông Nguyễn Việt Nam công khai nhân danh bí thư đảng đoàn của đảng Cộng sản trong hội đồng nhân dân, chỉ đạo các đại biểu là đảng viên việc bỏ phiếu theo nghị quyết của đảng! Đảng Dân Chủ “hữu danh vô thực” ngay khi thành lập. Đảng Xã Hội cũng thế. Trong tình trạng bối rối, sợ hãi đến mất khôn (Liên Xô, Đông Âu sụp đổ) ông Nguyễn Văn Linh mới quyết định buộc họ phải “hoàn thành nhiệm vụ”. Posted on Tháng Tư 11, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/11/tu-theo-cong-den-chong-cong-22-bac-hai-lai-noi-ve-dang-cong-san-va-dang-dan-chu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23): https://www.minds.com/newsfeed/1020180411612110848?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21): https://www.minds.com/newsfeed/1020179143481438208?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21) Hồi ký Tống Văn Công Giơ hai ngón tay hẹn hai năm gặp lại! Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, tất cả các cơ quan quân, dân, chính, đảng đều tổ chức học tập về “thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ cho toàn nhân loại”. Tôi được học tập ở đại đội thông tin liên lạc của Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam bộ. Sau đó chuẩn bị tập kết ra Bắc để rèn luyện quân đội lên chính quy, hiện đại, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước năm 1957 theo Hiệp Định. Cuộc học tập của cơ quan cha tôi (tạp chí Tân Trung Hoa, thuộc Hội Việt-Hoa Hữu Nam bộ) có nhiều trí thức từ Sài Gòn ra dự. Điều rắc rối cho cha tôi là ông cứ khăng khăng cho rằng không thể thực hiện được việc tổng tuyển cử thống nhất nước nhà vào năm 1957. Ông lập luận các hiệp định được ký kết giữa hai phe đối nghịch không phải là để cùng nhau thực hiện. Pháp rút, Mỹ sẽ thay để giữ Nam Việt ở phe tư bản. Bắc Việt theo phe xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa để dành thống nhất. Tương quan lực lượng giữa hai phe cho thấy không thể thống nhất nước nhà trong vòng hai năm. Phát biểu của cha tôi làm cho ban tổ chức cuộc học tập rất tức giận. Họ gặp riêng khuyên cha tôi phải đặt niềm tin vào sức mạnh của nhân dân đoàn kết đấu tranh chính trị dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Nhưng cha tôi vẫn giữ ý kiến của mình. Cha tôi đến thăm tôi, căn dặn sau khi tập kết ra Bắc phải tìm mọi cách để học qua đại học. Cha tôi phải ở lại để phụng dưỡng ông nội bà nội tôi, bởi vì đã biết chắc không thể có thống nhất sau hai năm. Những người lãnh đạo đợt học tập hiệp định chỉ cố tạo cho được một không khí lạc quan, vui vẻ, tin tưởng để thực hiện trôi chảy cuộc tập kết. Cán bộ, bộ đội giơ hai ngón tay hứa hẹn với cha mẹ vợ con và đồng bào Việt Nam là hai năm sẽ gặp lại, những người ở lại cũng phải tin chắc như vậy. Tôi rất băn khoăn khi nghe cha tôi nói hoàn toàn trái ngược với ông tướng Dương Quốc Chính, tư lệnh quân đội Nam bộ khi ông này lên lớp truyền đạt ý kiến của Trung ương Đảng là “tập kết hai năm”. Sau này tôi mới biết, công tác tư tưởng cho cán bộ và nhân dân như thế, nhưng Trung ương Đảng đã chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài. Ở các địa phương miền Nam đều thực hiện việc bí mật chôn giấu súng đạn, máy móc của các binh công xưởng. Chiều 30 Tết, ông Lê Duẩn bí thư Trung ương Cục miền Nam cùng lên chuyến tàu áp chót (tàu Ba Lan Kerensky) với chúng tôi ở vàm sông Ông Đốc, nhưng đến nửa đêm đã bí mật xuống xuồng trở vào bờ. Sau đó, ông thảo Đề cương Cách mạng miền Nam, đưa ra chiến lược giải phóng miền Nam bằng bạo lực cách mạng với “ba mũi giáp công”: chính trị, quân sự, ngoại giao và trên cả “ba vùng chiến lược” là thành thị, nông thôn, rừng núi. Ra Bắc, cán bộ chiến sĩ của hai Phân liên khu của Nam bộ (Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây) phải qua khám sức khỏe, loại khỏi biên chế những người không đạt yêu cầu xây dựng quân đội chính quy hiện đại. Những người đủ sức khỏe được biên chế vào hai sư đoàn 30 và 38. Số người bị loại khỏi quân đội do kém sức khỏe sẽ được tập trung vào Sư đoàn 9 xuống Sầm Sơn an dưỡng, bồi dưỡng sức khỏe, sau đó sẽ được phân công đi làm tùy theo khả năng và sức khỏe. Ban kiểm tra sức khỏe xếp tôi vào loại B2, tức là loại bét. Sau khi đi an dưỡng khoảng một tháng, tôi được tiểu đoàn trưởng gọi lên thông báo: “Xin chúc mừng đồng chí. Cả tiểu đoàn chúng ta chỉ có một mình đồng chí được chọn về thủ đô, học trường giao thông công chính”. Tôi hỏi: “Thưa đồng chí, học trường này ra làm việc gì?” Tiểu đoàn trưởng vui vẻ: “À, làm đường sá, cầu cống. Nghề này rất thiết yếu cho công cuộc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Trong quân đội thì Tổng Cục Hậu Cần đang phát triển binh chủng này để đảm bảo mạch máu giao thông, rồi còn mở đường Trường Sơn vào miền Nam”. Tôi ngắt lời ông: “Thưa đồng chí. Rất tiếc, tôi hoàn toàn không có chút yêu thích nào đối với công việc này!” Vô cùng ngạc nhiên, rồi với giọng khó chịu ông nói: “Đây là nhiệm vụ cách mạng, sao lại có thể nói thích với không thích. Hơn nữa đây còn là đặc ân, là chiếu cố bộ đội miền Nam. Đồng chí chưa có diplom (bằng tú tài). Nếu là người miền Bắc thì người ta đòi phải có tú tài. Tại sao đồng chí không đặt mình trong tám vạn quân sắp giải ngũ còn đang chưa biết có việc gì để làm mà lại tính toán rất cá nhân chủ nghĩa?” Tôi nhũn nhặn: “Thưa đồng chí, tôi đã chấp hành mọi việc được giao cho người lính suốt năm năm trong quân ngũ, không hề đặt là chuyện thích hay không thích. Nhưng nay là được “đặc ân”, được “chiếu cố”, được hưởng tiền của nhân dân nuôi cho ăn học, để gắn bó suốt đời với nghề nghiệp. Do đó tôi cần phải trung thực nói rõ nguyện vọng cá nhân mình để tổ chức có quyết định đúng”. Ông thấy khó bẽ lý sự của tên lính trẻ nên gút lại: “Hôm nay thứ sáu, tôi cho đồng chí hai ngày để suy nghĩ, nếu chịu đi học thì được về thủ đô, được ăn trắng mặc trơn, may kia là cán bộ kĩ thuật của quân đội chính quy hiện đại; nếu không chịu đi học thì trước mắt đồng chí có hai con đường: một là lên nông trường cày ruộng, chăn bò. Hai là ra công trường, gánh đất làm đường, hoặc gánh gạch xây nhà. Sáng thứ hai tuần sau, mời đồng chí đến đây trả lời lần cuối cùng”. Đúng hẹn, tôi đến văn phòng tiểu đoàn trưởng báo là mình đã suy nghĩ nghiêm túc, xin từ chối “đặc ân” được đi học và sẵn sàng nhận công việc ở nông trường hoặc công trường. Ba chục năm sau, khi làm tổng biên tập báo Lao Động, cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tôi được biết ông Nguyễn Văn Tư, ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động và ông Bùi Danh Lưu Bộ trưởng Giao thông Vận tải đã đi học Trường Giao thông Công chính khoa đầu tiên mà tôi đã cố sức từ chối! Tôi được đưa đi công trường, vào biên chế tiểu đoàn công binh số 209 (thuộc Cục doanh trại, Tổng cục Hậu cần). Tiểu đoàn 209 hành quân (cuốc bộ) từ bãi biển Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đến Cầu Diễn (cạnh nghĩa trang Mai Dịch hiện nay), để xây khu nhà để xe ô tô của quân đội. Chúng tôi phát tranh, lau, dựng lán trại. Tiểu đoàn trưởng là ông thiếu tá Lê Văn Tây phổ biến nhiệm vụ: tất cả sẵn sàng đi gánh đất, gánh gạch, học trộn vữa, học làm thợ nề, thợ mộc. Tất cả phải sẵn sàng học làm mọi việc để xây dựng khu nhà. Thế là lời hứa “hai năm ra Bắc xây dựng quân đội làm hậu thuẫn cho đồng bào đấu tranh thống nhất” được các binh sĩ nhắc lại. Ngót năm mươi người, có một số là đảng viên đứng ra chất vấn: khi học Hiệp định Geneve, cấp trên đã chỉ đạo chúng tôi hứa hẹn với đồng bào chỉ tạm chia tay hai năm. Người ở lại thì đấu tranh chính trị, người ra đi thì xây dựng quân đội chính quy, hiện đại. Chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng ra đây để gánh đất, làm phụ hồ. Chúng tôi sẵn sàng cuốc bộ về miền Nam làm mọi việc cùng đồng bào. Hơn một chục anh có thái độ quyết liệt nhất đã mang ba lô kéo nhau đứng trước thềm cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, hô to: “Chúng tôi xin được trở về miền Nam!” Cơ quan tổng tư lệnh chỉ thị cho các đơn vị có người “vô kỷ luật” phải lên nhận người của mình đưa về đơn vị, tổ chức học tập cho thông suốt. Chấp hành lệnh ấy, ban chỉ huy Tiểu đoàn 209 quyết định chọn 40 người thực sự thông suốt nhiệm vụ mới ở công trường để đi thuyết phục 10 đồng đội nói trên. Tôi thuộc vào số người hoàn toàn thông suốt và yên tâm công tác. Cùng trong đại đội 3 với tôi có các anh Đinh Khắc Cần, (sau 1975 là phó chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh; Cần là anh ruột Trung uý lái máy bay Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập), anh Võ Thành Nghĩa (sau 1975 là phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp); anh Lê Bình Đẳng (sau 1975 là kế toán trưởng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) … Chúng tôi là những người “yên tâm gánh đất” nên được ban chỉ huy chọn vào số 40 anh em đi rước 10 đồng đội trở về. Khi đến cơ quan tổng tư lệnh, chúng tôi mới được biết không phải chỉ có 10 anh lính “vô tổ chức” của tiểu đoàn 209 lên “nằm vạ” ở đây mà đã có hàng trăm quân nhân thuộc các đơn vị quân đội miền Nam kéo lên nằm la liệt ở đây nhiều tháng rồi. Cũng ở đây tôi được biết, có nhiều đơn vị của các sư đoàn miền Nam đang tại ngũ đã mang súng vượt sông Bến Hải “trở về với đồng bào”. Sư đoàn trưởng Đồng Văn Cống đã cử nhiều đại đội đuổi theo buộc họ quay lại và những cuộc đấu súng đã xảy ra! Có những toán quân vượt tuyến trót lọt về bưng biền miền Nam được bà con nông dân đùm bọc. Nghe nói năm 1960 ông Đồng Văn Cống vào Nam đã phải vất vả để hòa giải với họ. Sau này tôi được biết thêm, không chỉ ở quân đội mà nhiều người miền Nam ở các ngành cũng bỏ cơ quan ra lập các tập đoàn sản xuất. Nhạc sĩ Phan Vân (tác giả bài Niềm Thương Mến phổ thơ Xuân Vũ) là một trong số anh em này. Sau khi đến nơi, chúng tôi chia nhau gặp Tuấn Anh, mời họ tập họp lại để tiểu đoàn trưởng gặp gỡ. Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Tây nói rất ngắn gọn: “Thưa các đồng chí, tôi được là phải đưa các đồng chí trở về. Do đó, một là các đồng chí chấp nhận lên xe, anh em mình cùng về, rồi sáng mai ngồi lại với nhau bàn chuyện. Hai là, chúng tôi buộc lòng cứ bốn người cõng một người để đưa các đồng chí về theo lệnh trên! Anh em tính sao?” Không trả lời, nhưng tất cả lẵng lặng lên xe. Về đến đơn vị, tiểu đoàn trưởng ra lệnh đưa bốn người vào một phòng, xong ông nói: “Xin lỗi các đồng chí, tôi sẽ cho khóa cửa phòng. Nếu không khóa phòng, các đồng chí lại bỏ đi thì lại mất công đi tìm! Sáng mai chúng ta sẽ ngồi lại nói chuyện với nhau.” Sáu giờ sáng hôm sau, anh Võ Thành Nghĩa thư ký đại đội 3 mở cửa căn phòng đầu tiên thì thấy ba người đang ngồi bó gối nhìn đảng viên thượng sỹ Lê Văn Thuyên treo cổ bằng dây mùng, hai chân co lên khỏi giường năm phân, để được chết! Cả tiểu đoàn nhao lên, phê phán ban chỉ huy khóa cửa nhốt anh em như súc vật, vì không chịu nhục cho nên đồng chí Thuyên phải tự treo cổ, phản ứng bằng cái chết. Đảng ủy tiểu đoàn lên tiếng bênh vực quyết định của tiểu đoàn trưởng, lên án hành động vô kỷ luật của những anh em kéo nhau lên Bộ Tổng Tư lệnh và phản ứng tiêu cực bằng cách tự tử của Lê Văn Thuyên. Ngay sau hôm chôn cất Lê Văn Thuyên (nghĩa trang ở bên phải khoảng giữa con đường Cầu Giấy sang Chợ Bưởi), chi bộ đại đội 3 họp, quyết định khai trừ Lê Văn Thuyên ra khỏi đảng vì khuyết điểm “tự tử, không xứng đáng là một đảng viên Cộng sản”! Posted on Tháng Tư 9, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/09/tu-theo-cong-den-chong-cong-21-gio-hai-ngon-tay-hen-hai-nam-gap-lai/ --- - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22): https://www.minds.com/newsfeed/1020179678219112448?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20): https://www.minds.com/newsfeed/1020178691488124928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
19 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23) Hồi ký Tống Văn Công Làm thơ cải cách ruộng đất Năm 1956, sau khi sắp xếp lại tổ chức xong, các đơn vị bộ đội miền Nam bắt đầu học chỉnh huấn về cải cách ruộng đất. Các chính trị viên giảng về lý luận của cuộc cách mạng “phản phong”, xóa bỏ hình thức bóc lột của địa chủ, phú nông ở nông thôn. Sau đó, “cốt cán chuỗi rễ” là những bần cố nông có thành tích đấu tố xuất sắc trong cải cách ruộng đất ở địa phương đến kể chuyện thực tế. Hồi này chưa phát hiện những sai lầm ghê gớm trong cải cách ruộng đất, chưa có từ “tố điêu” nói về những bịa đặt của bần cố nông cố gắng làm vừa lòng cán bộ đội cải cách. Tôi chỉ có thắc mắc: “Vì sao mà địa chủ ở miền Bắc ác hơn hẳn địa chủ ở miền Nam?” Các chính trị viên giải thích: “Vì địa chủ miền Bắc nghèo hơn nên cố vơ vét!” Từ các buổi nghe kể chuyện thực tế, tôi viết bài thơ “Chị Cả” đăng lên báo tường của đại đội và gửi một bản lên báo Quân đội Nhân dân. Không ngờ bài thơ này được vào chung khảo cuộc thi của ủy ban cải cách ruộng đất và được in trong tập mang tên “Đường Làng” tên bài thơ của Phác Văn. Tập thơ gồm những tác giả: Thanh Tịnh, Nguyễn Bao, Nguyễn Viết Lãm, Phác Văn, Hải Như, Hữu Thọ, Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vượng. Dưới tên tôi, được chua thêm hai chữ “bộ đội”. Sau này tôi mới biết, địa chủ miền Bắc cũng giống như địa chủ miền Nam, họ là những người có trí, có học, tổ chức công việc giỏi giang nên trở nên giàu có. Hầu hết họ đã đóng góp lớn cho Tuần Lễ Vàng, đã tham gia kháng chiến. Người địa chủ lớn tiêu biểu là bà Nguyễn Thị Năm đã bị đấu tố, giết hại thê thảm. Ngoài ra còn rất nhiều địa chủ miền Bắc lâm cảnh như thế. Bố anh Hữu Tính trưởng văn phòng miền Nam báo Lao Động tham gia cách mạng từ năm 1945, làm chủ nhiệm Ủy ban Mặt trận Việt Minh huyện, có con gái là bí thư đảng ủy các cơ quan trung ương, con rể là thư ký phó chủ tịch tôn Đức Thắng, đã bị đấu tố là một tên địa chủ chui vào hàng ngũ cách mạng, phải xử bắn! Anh Ngọc Liên, trưởng ban Bảo hộ Lao động của Tổng Liên đoàn Lao động thời ấy cũng bị đấu tố là địa chủ phản động, bị bắt giam, bỏ đói suýt chết. Vào làm phóng viên báo Lao Động ngày 1 tháng 1 năm 1960, sau “sửa sai cải cách ruộng đất” đã 3 năm, tôi mới được biết bài thơ của mình được vào chung khảo một cuộc thi và in chung với nhiều tác giả đã nổi tiếng. Nhưng lúc ấy tôi không thấy vui mà cảm thấy xấu hổ vì đã được đọc bài thơ “Em bé lên sáu tuổi” của Hoàng Cầm cũng được viết khoảng thời gian đó, có những câu: Chị bần nông cốt cán, Ứa nước mắt quay đi: Nó là con địa chủ, Bé bỏng đã biết gì. Hôm em cho bác cháo, Chịu ba ngày hỏi truy, Chi đội bỗng lùi lại, Nhìn đứa bé mồ coi, Cố tìm vết thù địch, Chỉ thấy một con người! Cùng trải qua một tình huống tương tự mà tôi cố viết theo ý đồ tuyên truyền, không có cảm xúc nhân văn như ông! Tiểu đội tôi đóng quân trong ngôi nhà của địa chủ nay cấp cho gia đình cố nông. Gia đình địa chủ bị dồn vô dãy nhà sau trước kia dành cho người làm, người ở. Một hôm chúng tôi đang ăn cơm thì bé gái con địa chủ đứng ngoài cửa sổ nhìn vào với vẻ thèm thuồng. Cảm thấy tội nghiệp, tôi xúc cho nó bát cơm đưa qua cửa sổ. Vì chuyện này tôi bị phê phán “mất lập trường giai cấp”. Sau khi học chỉnh huấn cách mạng ruộng đất, chi bộ xóa tên tôi khỏi danh sách “quần chúng cảm tình Đảng chuẩn bị kết nạp”. Cũng trong thời gian này Huỳnh Dư Khải ghé thăm tôi, báo tin buồn. Ra Bắc, Khải đã là thiếu úy, chi ủy viên của chi bộ đại đội trong Tiểu đoàn 308 nổi tiếng (chỉ đứng sau tiểu đoàn 307). Cấp trên cho biết với lý lịch vào bộ đội từ lúc 15 tuổi, “chiến công đầy mình”, nếu lãnh đạo cuộc chỉnh huấn đại đội đạt kết quả tốt, Khải sẽ được đề bạt vượt cấp. Khải đã trung thực khai cha mình là địa chủ, Hương cả Huỳnh Dư Khiêm đứng đầu Ban Hội tề. Khải sống với bác ruột là ông hội đồng Huỳnh Dư Thuần để gần trường học. Sau chỉnh huấn, cấp trên bảo Khải “từ trong trứng của giai cấp bóc lột, cần phải thử thách cải tạo nhiều hơn nữa”. Anh được đưa vào danh sách giảm quân giống như tôi, nhưng anh không thể chịu cam phận như tôi, bởi đã từng là một người hùng. Khải kể: “Tao đã xé giấy giới thiệu đảng viên vứt vô mặt thằng bí thư. Tao sẽ mua chiếc xe ba gác để chở hàng thuê và làm giường ngủ. Khi nào mày về Hà Nội thì kiếm tao ở chợ Hàng Da.” Sau tháng Tư năm 1975, Huỳnh Dư Khải về quê. Cả làng An Bình Tây vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn từ năm 1947 nay chỉ là một anh bạch đinh, đi làm thuê kiếm sống. Posted on Tháng Tư 13, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/13/tu-theo-cong-den-chong-cong-23-lam-tho-cai-cach-ruong-dat/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24): https://www.minds.com/newsfeed/1020180972931620864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22): https://www.minds.com/newsfeed/1020179678219112448?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22) Hồi ký Tống Văn Công Bác Hai lại nói về đảng Cộng sản và đảng Dân chủ Ngày chủ nhật, tôi thường từ Cầu Diễn đi bộ ra Cầu Giấy rồi lên tàu điện ra Hà Nội đi mua sách báo. Do không có nhiều tiền, tôi vào hiệu sách báo xem vài tờ báo rồi mua một quyển sách, sau đó tới cửa hàng sách báo khác, cũng lặp lại như thế. Tôi đã đọc theo cách đó tất cả các số báo Trăm Hoa và Nhân văn Giai phẩm mà không phải bỏ tiền mua. Một hôm, vừa rời nhà sách bước ra đường thì tôi gặp bác Hai Trần Trung Trực, nguyên Phó Ty Giáo dục Bến Tre thời chống Pháp. Thấy tôi mặc quân phục bác rất vui: “Tao không ngờ ốm yếu như mày mà vẫn còn ở bộ đội. Mấy thằng con tao chuyển ngành hết rồi!”. Bác đâu ngờ tôi chỉ là chú lính gánh gạch, trộn vữa, học xây nhà! Bác đưa tôi đến Sở Giáo dục Hà Nội cơ quan của bác hiện nay, để bác cháu tâm tình. Bác nói bác đang làm bí thư chi bộ, tôi hỏi: “Là bí thư chi bộ đảng Dân Chủ hả bác Hai?” Bác xua tay: “Bậy mày! Bí thư chi bộ đảng Lao Động chứ, tức là Cộng Sản chứ.” Tôi nhắc lại chuyện bác giải thích với tôi về đảng Dân chủ hay hơn đảng Cộng sản ở chỗ ôn hòa, đi chậm mà chắc. Bác cười lớn: “Hồi đó tao có biết gì đâu. Sau này thằng Hiếu còn tao làm rể bác Năm Hưỡn trưởng ty, ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre! Là thông gia với nhau, bác Năm không ngại nói thẳng cho tao biết: Đảng Dân chủ là do bác Hồ thành lập để thu nạp những anh trí thức lơ tơ mơ, tạch tạch xè (những từ nói lóng để chỉ thành phần tiểu tư sản mà đảng Cộng sản cho là có quan điểm, lập trường bấp bênh cần phải kèm cặp, giáo dục không ngừng) mới tham gia cách mạng, còn e ngại cộng sản. Người tri thức vô đảng Dân Chủ thì coi như đã chịu đi theo con đường của đảng Cộng sản rồi. Bác Năm đứng ra giới thiệu tao vào đảng Cộng sản.” Tôi hỏi thăm hai người con “mác xít” của bác. Bác cho là mình rất bất hạnh khi có đứa con thứ hai là Trần Trung Tín hư đốn. Tín rời bộ đội làm diễn viên điện ảnh, nhưng thích làm thơ. Bất ngờ có người cùng cơ quan phát hiện anh có những câu thơ: “Trái tim tôi không phải quả táo tàu. Không thể dùng dao cắt chia ba phần to nhỏ” và “Chân lý không thể bị hành hình. Cái đẹp không thể vùi chôn.” Tín bị đưa ra chi bộ kiểm điểm. Người ta cho rằng anh công kích Tố Hữu, cũng tức là chống lại quan điểm văn nghệ của Đảng. Trần Trung Tín khẳng định mình hoàn toàn đúng. Trước sự o ép liên tục của chi bộ, Tín xé thẻ Đảng vứt vào sọt rác, rồi định tìm đến cái chết. Trong giây phút tuyệt vọng, may thay anh bắt gặp niềm yêu say hội họa. Hội họa đã cứu sống anh. Anh ngồi vẽ suốt ngày bằng mực Cửu Long tên giấy báo Nhân Dân. Lúc ấy bác hai Trực và cả tôi nữa chỉ biết tin vào Đảng. Ông không thể ngờ con trai mình được họa sĩ Bùi Xuân Phái coi là một thiên tài bẩm sinh. (Bùi Xuân Phái cũng là người không được Đảng coi trọng). Sau khi bác Hai Trực qua đời, tranh của Trần Trung Tín được triển lãm ở nhiều quốc gia có nền mỹ thuật cao như Pháp, Mỹ, Anh, Nhật, Thái, Singapore… Tờ báo có uy tín The Independent đánh giá: “Trần Trung Tín là họa sĩ vĩ đại nhất của Việt Nam” và báo Time nhận xét tranh của Trần Trung Tín “bi thiết với màu sắc rực rỡ”. Sau lần gặp bác hai Trực, trong một dịp họp đồng hương tôi được gặp anh Lê Nguyên, ủy viên ban chấp hành đảng Dân Chủ tỉnh Bến Tre thời chống Pháp. Năm 1945 anh thi tú tài xong thì Cách Mạng Tháng Tám, rồi kháng chiến bùng nổ. Anh rời Sài Gòn về Bến Tre, lập tức được mời vào đảng Dân Chủ, ít lâu trở thành cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh của Đảng này. Tập kết ra Bắc anh bắt đầu làm báo. Tôi hỏi, có phải anh làm báo Độc Lập do ông Nguyễn Việt Nam nguyên ủy viên Ban thường vụ Kỳ ủy đảng Dân Chủ ở Nam Bộ đang là tổng biên tập. Anh cười, rỉ tay tôi: “Cậu không biết đảng Dân Chủ chỉ là cái đảng dỏm à? Cụ Hồ bày ra đảng Dân Chủ với đảng Xã Hội để dụ khị mấy thằng trí sức đang lớ ngớ, gom vào hai cái đảng này để tiện việc quản lý, giáo dục đó thôi! Sau khi biết rõ như vậy, mình đã làm đơn xin ra đảng Dân Chủ, rồi cố gắng ‘phấn đấu’ và đã được kết nạp vô đảng lao động hơn ba năm rồi.” Chuyện của bác Hai Trực và anh Lê Nguyên làm tôi bùi ngùi nhớ cô giáo Thiệp đảng viên Dân Chủ ở trường trung học Huỳnh Phan Hộ tôi học thời chống Pháp. Thời ấy, các đảng viên Dân Chủ như bác Hai Trực rất tự hào về sự khác nhau – không muốn nói là ưu việt – của đảng mình so với đảng Cộng sản. Do đó những đảng viên Cộng sản trẻ, đặc biệt là những đoàn viên thanh niên “cảm tình” đảng Cộng sản luôn muốn tỏ “lập trường cách mạng vô sản” đã coi đảng dân chủ như là một bọn thù địch! Những buổi cô giáo Thiệp giảng bài, bọn học sinh chúng tôi bỏ học gần một phần ba, còn hai phần ba có mặt thì trò chuyện râm ran. Năm 1965, tôi được tin cô giáo Thiệp bị bắt đã từ chối ly khai Cộng sản, chấp nhận vào chuồng cọp ở Côn Đảo. Trong khi đó, thày Triết bí thư chi bộ đảng Cộng sản trường Nguyễn Công Mỹ lên đài Sài Gòn tuyên bố ly khai cộng sản! Năm 1981, tôi được bầu vào Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khóa 2. Trước khi biểu quyết những nghị quyết có thể phiếu bị phân tán, các đảng viên Cộng sản được đảng đoàn ở Hội đồng Nhân dân mời họp riêng để “quán triệt sự chỉ đạo của Thành ủy”. Ông Nguyễn Việt Nam chủ tịch Hội đồng Nhân dân là bí thư đảng đoàn đảng Cộng sản, người mà thời chống Pháp đã được công khai là ủy viên Thường vụ đảng Dân Chủ của Nam bộ, sau khi tập kết ra Bắc làm tổng biên tập báo Độc Lập của đảng Dân chủ Việt Nam. Dù đã biết nhiều sự thật, nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên khi ông Nguyễn Việt Nam công khai nhân danh bí thư đảng đoàn của đảng Cộng sản trong hội đồng nhân dân, chỉ đạo các đại biểu là đảng viên việc bỏ phiếu theo nghị quyết của đảng! Đảng Dân Chủ “hữu danh vô thực” ngay khi thành lập. Đảng Xã Hội cũng thế. Trong tình trạng bối rối, sợ hãi đến mất khôn (Liên Xô, Đông Âu sụp đổ) ông Nguyễn Văn Linh mới quyết định buộc họ phải “hoàn thành nhiệm vụ”. Posted on Tháng Tư 11, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/11/tu-theo-cong-den-chong-cong-22-bac-hai-lai-noi-ve-dang-cong-san-va-dang-dan-chu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23): https://www.minds.com/newsfeed/1020180411612110848?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21): https://www.minds.com/newsfeed/1020179143481438208?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21) Hồi ký Tống Văn Công Giơ hai ngón tay hẹn hai năm gặp lại! Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, tất cả các cơ quan quân, dân, chính, đảng đều tổ chức học tập về “thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ cho toàn nhân loại”. Tôi được học tập ở đại đội thông tin liên lạc của Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam bộ. Sau đó chuẩn bị tập kết ra Bắc để rèn luyện quân đội lên chính quy, hiện đại, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước năm 1957 theo Hiệp Định. Cuộc học tập của cơ quan cha tôi (tạp chí Tân Trung Hoa, thuộc Hội Việt-Hoa Hữu Nam bộ) có nhiều trí thức từ Sài Gòn ra dự. Điều rắc rối cho cha tôi là ông cứ khăng khăng cho rằng không thể thực hiện được việc tổng tuyển cử thống nhất nước nhà vào năm 1957. Ông lập luận các hiệp định được ký kết giữa hai phe đối nghịch không phải là để cùng nhau thực hiện. Pháp rút, Mỹ sẽ thay để giữ Nam Việt ở phe tư bản. Bắc Việt theo phe xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa để dành thống nhất. Tương quan lực lượng giữa hai phe cho thấy không thể thống nhất nước nhà trong vòng hai năm. Phát biểu của cha tôi làm cho ban tổ chức cuộc học tập rất tức giận. Họ gặp riêng khuyên cha tôi phải đặt niềm tin vào sức mạnh của nhân dân đoàn kết đấu tranh chính trị dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Nhưng cha tôi vẫn giữ ý kiến của mình. Cha tôi đến thăm tôi, căn dặn sau khi tập kết ra Bắc phải tìm mọi cách để học qua đại học. Cha tôi phải ở lại để phụng dưỡng ông nội bà nội tôi, bởi vì đã biết chắc không thể có thống nhất sau hai năm. Những người lãnh đạo đợt học tập hiệp định chỉ cố tạo cho được một không khí lạc quan, vui vẻ, tin tưởng để thực hiện trôi chảy cuộc tập kết. Cán bộ, bộ đội giơ hai ngón tay hứa hẹn với cha mẹ vợ con và đồng bào Việt Nam là hai năm sẽ gặp lại, những người ở lại cũng phải tin chắc như vậy. Tôi rất băn khoăn khi nghe cha tôi nói hoàn toàn trái ngược với ông tướng Dương Quốc Chính, tư lệnh quân đội Nam bộ khi ông này lên lớp truyền đạt ý kiến của Trung ương Đảng là “tập kết hai năm”. Sau này tôi mới biết, công tác tư tưởng cho cán bộ và nhân dân như thế, nhưng Trung ương Đảng đã chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài. Ở các địa phương miền Nam đều thực hiện việc bí mật chôn giấu súng đạn, máy móc của các binh công xưởng. Chiều 30 Tết, ông Lê Duẩn bí thư Trung ương Cục miền Nam cùng lên chuyến tàu áp chót (tàu Ba Lan Kerensky) với chúng tôi ở vàm sông Ông Đốc, nhưng đến nửa đêm đã bí mật xuống xuồng trở vào bờ. Sau đó, ông thảo Đề cương Cách mạng miền Nam, đưa ra chiến lược giải phóng miền Nam bằng bạo lực cách mạng với “ba mũi giáp công”: chính trị, quân sự, ngoại giao và trên cả “ba vùng chiến lược” là thành thị, nông thôn, rừng núi. Ra Bắc, cán bộ chiến sĩ của hai Phân liên khu của Nam bộ (Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây) phải qua khám sức khỏe, loại khỏi biên chế những người không đạt yêu cầu xây dựng quân đội chính quy hiện đại. Những người đủ sức khỏe được biên chế vào hai sư đoàn 30 và 38. Số người bị loại khỏi quân đội do kém sức khỏe sẽ được tập trung vào Sư đoàn 9 xuống Sầm Sơn an dưỡng, bồi dưỡng sức khỏe, sau đó sẽ được phân công đi làm tùy theo khả năng và sức khỏe. Ban kiểm tra sức khỏe xếp tôi vào loại B2, tức là loại bét. Sau khi đi an dưỡng khoảng một tháng, tôi được tiểu đoàn trưởng gọi lên thông báo: “Xin chúc mừng đồng chí. Cả tiểu đoàn chúng ta chỉ có một mình đồng chí được chọn về thủ đô, học trường giao thông công chính”. Tôi hỏi: “Thưa đồng chí, học trường này ra làm việc gì?” Tiểu đoàn trưởng vui vẻ: “À, làm đường sá, cầu cống. Nghề này rất thiết yếu cho công cuộc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Trong quân đội thì Tổng Cục Hậu Cần đang phát triển binh chủng này để đảm bảo mạch máu giao thông, rồi còn mở đường Trường Sơn vào miền Nam”. Tôi ngắt lời ông: “Thưa đồng chí. Rất tiếc, tôi hoàn toàn không có chút yêu thích nào đối với công việc này!” Vô cùng ngạc nhiên, rồi với giọng khó chịu ông nói: “Đây là nhiệm vụ cách mạng, sao lại có thể nói thích với không thích. Hơn nữa đây còn là đặc ân, là chiếu cố bộ đội miền Nam. Đồng chí chưa có diplom (bằng tú tài). Nếu là người miền Bắc thì người ta đòi phải có tú tài. Tại sao đồng chí không đặt mình trong tám vạn quân sắp giải ngũ còn đang chưa biết có việc gì để làm mà lại tính toán rất cá nhân chủ nghĩa?” Tôi nhũn nhặn: “Thưa đồng chí, tôi đã chấp hành mọi việc được giao cho người lính suốt năm năm trong quân ngũ, không hề đặt là chuyện thích hay không thích. Nhưng nay là được “đặc ân”, được “chiếu cố”, được hưởng tiền của nhân dân nuôi cho ăn học, để gắn bó suốt đời với nghề nghiệp. Do đó tôi cần phải trung thực nói rõ nguyện vọng cá nhân mình để tổ chức có quyết định đúng”. Ông thấy khó bẽ lý sự của tên lính trẻ nên gút lại: “Hôm nay thứ sáu, tôi cho đồng chí hai ngày để suy nghĩ, nếu chịu đi học thì được về thủ đô, được ăn trắng mặc trơn, may kia là cán bộ kĩ thuật của quân đội chính quy hiện đại; nếu không chịu đi học thì trước mắt đồng chí có hai con đường: một là lên nông trường cày ruộng, chăn bò. Hai là ra công trường, gánh đất làm đường, hoặc gánh gạch xây nhà. Sáng thứ hai tuần sau, mời đồng chí đến đây trả lời lần cuối cùng”. Đúng hẹn, tôi đến văn phòng tiểu đoàn trưởng báo là mình đã suy nghĩ nghiêm túc, xin từ chối “đặc ân” được đi học và sẵn sàng nhận công việc ở nông trường hoặc công trường. Ba chục năm sau, khi làm tổng biên tập báo Lao Động, cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tôi được biết ông Nguyễn Văn Tư, ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động và ông Bùi Danh Lưu Bộ trưởng Giao thông Vận tải đã đi học Trường Giao thông Công chính khoa đầu tiên mà tôi đã cố sức từ chối! Tôi được đưa đi công trường, vào biên chế tiểu đoàn công binh số 209 (thuộc Cục doanh trại, Tổng cục Hậu cần). Tiểu đoàn 209 hành quân (cuốc bộ) từ bãi biển Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đến Cầu Diễn (cạnh nghĩa trang Mai Dịch hiện nay), để xây khu nhà để xe ô tô của quân đội. Chúng tôi phát tranh, lau, dựng lán trại. Tiểu đoàn trưởng là ông thiếu tá Lê Văn Tây phổ biến nhiệm vụ: tất cả sẵn sàng đi gánh đất, gánh gạch, học trộn vữa, học làm thợ nề, thợ mộc. Tất cả phải sẵn sàng học làm mọi việc để xây dựng khu nhà. Thế là lời hứa “hai năm ra Bắc xây dựng quân đội làm hậu thuẫn cho đồng bào đấu tranh thống nhất” được các binh sĩ nhắc lại. Ngót năm mươi người, có một số là đảng viên đứng ra chất vấn: khi học Hiệp định Geneve, cấp trên đã chỉ đạo chúng tôi hứa hẹn với đồng bào chỉ tạm chia tay hai năm. Người ở lại thì đấu tranh chính trị, người ra đi thì xây dựng quân đội chính quy, hiện đại. Chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng ra đây để gánh đất, làm phụ hồ. Chúng tôi sẵn sàng cuốc bộ về miền Nam làm mọi việc cùng đồng bào. Hơn một chục anh có thái độ quyết liệt nhất đã mang ba lô kéo nhau đứng trước thềm cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, hô to: “Chúng tôi xin được trở về miền Nam!” Cơ quan tổng tư lệnh chỉ thị cho các đơn vị có người “vô kỷ luật” phải lên nhận người của mình đưa về đơn vị, tổ chức học tập cho thông suốt. Chấp hành lệnh ấy, ban chỉ huy Tiểu đoàn 209 quyết định chọn 40 người thực sự thông suốt nhiệm vụ mới ở công trường để đi thuyết phục 10 đồng đội nói trên. Tôi thuộc vào số người hoàn toàn thông suốt và yên tâm công tác. Cùng trong đại đội 3 với tôi có các anh Đinh Khắc Cần, (sau 1975 là phó chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh; Cần là anh ruột Trung uý lái máy bay Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập), anh Võ Thành Nghĩa (sau 1975 là phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp); anh Lê Bình Đẳng (sau 1975 là kế toán trưởng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) … Chúng tôi là những người “yên tâm gánh đất” nên được ban chỉ huy chọn vào số 40 anh em đi rước 10 đồng đội trở về. Khi đến cơ quan tổng tư lệnh, chúng tôi mới được biết không phải chỉ có 10 anh lính “vô tổ chức” của tiểu đoàn 209 lên “nằm vạ” ở đây mà đã có hàng trăm quân nhân thuộc các đơn vị quân đội miền Nam kéo lên nằm la liệt ở đây nhiều tháng rồi. Cũng ở đây tôi được biết, có nhiều đơn vị của các sư đoàn miền Nam đang tại ngũ đã mang súng vượt sông Bến Hải “trở về với đồng bào”. Sư đoàn trưởng Đồng Văn Cống đã cử nhiều đại đội đuổi theo buộc họ quay lại và những cuộc đấu súng đã xảy ra! Có những toán quân vượt tuyến trót lọt về bưng biền miền Nam được bà con nông dân đùm bọc. Nghe nói năm 1960 ông Đồng Văn Cống vào Nam đã phải vất vả để hòa giải với họ. Sau này tôi được biết thêm, không chỉ ở quân đội mà nhiều người miền Nam ở các ngành cũng bỏ cơ quan ra lập các tập đoàn sản xuất. Nhạc sĩ Phan Vân (tác giả bài Niềm Thương Mến phổ thơ Xuân Vũ) là một trong số anh em này. Sau khi đến nơi, chúng tôi chia nhau gặp Tuấn Anh, mời họ tập họp lại để tiểu đoàn trưởng gặp gỡ. Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Tây nói rất ngắn gọn: “Thưa các đồng chí, tôi được là phải đưa các đồng chí trở về. Do đó, một là các đồng chí chấp nhận lên xe, anh em mình cùng về, rồi sáng mai ngồi lại với nhau bàn chuyện. Hai là, chúng tôi buộc lòng cứ bốn người cõng một người để đưa các đồng chí về theo lệnh trên! Anh em tính sao?” Không trả lời, nhưng tất cả lẵng lặng lên xe. Về đến đơn vị, tiểu đoàn trưởng ra lệnh đưa bốn người vào một phòng, xong ông nói: “Xin lỗi các đồng chí, tôi sẽ cho khóa cửa phòng. Nếu không khóa phòng, các đồng chí lại bỏ đi thì lại mất công đi tìm! Sáng mai chúng ta sẽ ngồi lại nói chuyện với nhau.” Sáu giờ sáng hôm sau, anh Võ Thành Nghĩa thư ký đại đội 3 mở cửa căn phòng đầu tiên thì thấy ba người đang ngồi bó gối nhìn đảng viên thượng sỹ Lê Văn Thuyên treo cổ bằng dây mùng, hai chân co lên khỏi giường năm phân, để được chết! Cả tiểu đoàn nhao lên, phê phán ban chỉ huy khóa cửa nhốt anh em như súc vật, vì không chịu nhục cho nên đồng chí Thuyên phải tự treo cổ, phản ứng bằng cái chết. Đảng ủy tiểu đoàn lên tiếng bênh vực quyết định của tiểu đoàn trưởng, lên án hành động vô kỷ luật của những anh em kéo nhau lên Bộ Tổng Tư lệnh và phản ứng tiêu cực bằng cách tự tử của Lê Văn Thuyên. Ngay sau hôm chôn cất Lê Văn Thuyên (nghĩa trang ở bên phải khoảng giữa con đường Cầu Giấy sang Chợ Bưởi), chi bộ đại đội 3 họp, quyết định khai trừ Lê Văn Thuyên ra khỏi đảng vì khuyết điểm “tự tử, không xứng đáng là một đảng viên Cộng sản”! Posted on Tháng Tư 9, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/09/tu-theo-cong-den-chong-cong-21-gio-hai-ngon-tay-hen-hai-nam-gap-lai/ --- - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22): https://www.minds.com/newsfeed/1020179678219112448?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20): https://www.minds.com/newsfeed/1020178691488124928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
19 views ·
close
Minds LIVESTREAM Tonight at 7pm ET with Tulsi Gabbard, Tim Pool, Cornel West and more!