LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 20) Lại kể tiếp về những năm tháng cuối cùng của tôi ở Đài Truyền hình. Tôi tiếp tục làm những phim ở ngoài trời để tránh phải vào đấu đá ở trường quay. Nhưng với chính sách hoang tưởng của những người kiêu căng sau chiến thắng 1975 như cải tạo tư sản Sài Gòn, tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH, sáp nhập tỉnh, xây dựng các huyện trong cả nước thành 500 pháo đài XHCN, kể cả tham vọng làm bom nguyên tử, dời thủ đô lên Tây Nguyên làm bá chủ vùng Đông Nam Á của TBT Lê Duẩn vv… vv… đất nước đã đi vào ngõ cụt. Chưa bao giờ cán bộ và nhân dân Hà Nội khốn khổ như thế. Và tất nhiên là các địa phương còn khốn khổ hơn. Viết cuốn sách 1000 trang cũng không thể nói hết về sự đói khát của nhân dân thời đó, tức từ năm 1975 đến cuối năm 1980, đến 1981 khi tôi rời Hà Nội vô Nam. Nghe nói sau đó còn tệ hơn. Một buổi sáng, tôi đèo cái can nhựa sau xe máy đi mua dầu hỏa theo tem phiếu để nấu ăn bằng bếp dầu (thứ bếp thịnh hành thời đó). Khi tôi dừng xe ở chợ Mơ để mua gói thuốc lá chợ đen giá cao, tôi thấy một chị công nhân nhà máy dệt 8-3 mặt xanh xao, người gầy ốm đang ngồi xụt xịt khóc. Lúc đó chị đi làm ca đêm về, tôi hỏi: “Sao chị không về nhà đi?” Chị không trả lời ngay mà vẫn khóc, gặng hỏi mãi chị mới kể cho biết người chồng đã ốm suốt cả tuần nay, anh chỉ thèm có một bát cháo thịt. Cho thuốc gì anh cũng không uống, chỉ nói: cho bát cháo thịt là khỏi ngay! Chị không đủ tiền mua 1kg thịt của “con phe” (thời đó những người bán thịt rong bị gọi là con phe). Chị năn nỉ một “con phe” bán cho 100 gram vì không đủ tiền mua cả 1 kg, và chị sẽ trả cao hơn giá bán (chẳng hạn 10 đồng/kg, chị trả 11 đồng). Nhưng con phe đã không bán mà còn chửi té tát vào mặt chị: không có tiền thì ăn máu L… đừng hỏi mua thịt! Chị tủi thân quá, thương chồng nên khóc… Thời đó những công nhân đi làm ca đêm và những người không có thời gian đi xếp hàng phải bán tem phiếu cho “con phe”. Con phe móc ngoặc với mậu dịch viên để mua được thịt ngon bằng tem phiếu, sau ra ngoài bán lại cho người dân giá cao kiếm chênh lệch. Và đó là nguồn sống của chính họ. Nghe chuyện chị kể, tôi an ủi chị đừng khóc nữa và cứ ngồi yên đó, tôi sẽ đem về cho 100 gram thịt. Nói xong tôi phóng xe lên cửa hàng thực phẩm tận chợ Cửa Nam, nơi bà chị gái thứ hai làm cán bộ mậu dịch ở đó để có được 100 gram thịt nạc. Tôi vẫn còn nhớ rõ sự sung sướng của chị ngày ấy và đó là việc có ích nhất là tôi làm được trong cả đời cầm bút của mình. Có phải thế không, hỡi bạn đọc vĩ đại của tôi! Tình hình kinh tế đất nước ngày một bi đát vào những năm 1978-1979-1980… trong khi đó hai đứa con trai của tôi đang độ tuổi lớn. Một đứa 7 tuổi, một đứa 9 tuổi. Vợ tôi lương giáo viên cấp 2 ít ỏi. Tôi lương phóng viên bậc thấp, không chức không quyền chẳng có bổng lộc gì nên gia đình càng ngày càng túng thiếu. Vợ tôi ngày nghỉ phải nhảy tàu về Cẩm Giàng, nơi cô ta dạy học trước đây để đem mì sợi, thứ bột mì được kéo thành sợi bán vào tiêu chuẩn lương thực hàng tháng của cán bộ công nhân viên nhà nước để đổi lấy gạo ở các chợ quê. Đổi như thế lợi hơn nhiều, vì ở nhà quê bà con mò được con cua con ốc, nấu thành canh ăn với mì sợi thay bún rất lạ miệng, rất ngon. Hàng ngày vợ tôi ngoài công việc ở cơ quan là cắm đầu vào đan len thuê để kiếm thêm chút tiền mua gạo cho hai thằng con đang tuổi ăn, tuổi lớn. Tướng Qua từ ngày được đeo lon tướng, tuy chức vụ vẫn là cục trưởng nhưng hàm thì ngang thứ trưởng nên có xe riêng, được lãnh sổ mua hàng ở cửa hàng cao cấp Tôn Đản. Bà thím tôi vì thương vợ chồng tôi lương ít nên mỗi lần đi mua sắm ở Tôn Đản đều hẹn vợ tôi lên nhà và cho đi theo. Cái gì bà mua thì mua, còn lại cho vợ tôi mua. Vợ tôi mua những thứ linh tinh ở cái “chợ của vua quan” đó, đem ra “chợ của nhân dân anh hùng” là vỉa hè bán kiếm chút chênh lệch, thêm thắt vào cuộc sống khó khăn của gia đình. Nhìn vợ tôi ngồi ở vỉa hè, bán những thứ mà “bọn tư bản giãy chết” vứt đi không hết ấy mà phải “ân huệ” lắm mới được bước chân vào “chợ vua quan” Tôn Đản mua ra… tôi ngán đến tận cổ cái Chủ nghĩa xã hội ưu việt mà tôi đang phải sống. Tôi bắt đầu nẩy sinh ra tư tưởng rời bỏ Hà Nội, nơi tôi sinh ra và lớn lên để vào Nam. Cụ thể hơn là vào Đồng bằng sông Cửu Long mà những lần tôi đi công tác đã được thấy tận mắt cảnh trên bến dưới thuyền, “gạo trắng nước trong” và tính tình cở mở, vô tư của đồng bào Nam Bộ. Một lần, đi máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội, tôi phải dành xuất ăn nhẹ được phát trên máy bay (có một khúc bánh mì kẹp thịt, một cái bánh ngọt, một gói đường nhỏ để uống trà …) mang về làm quà của bố sau một chuyến đi công tác dài ngày cho hai thằng con trai đang đói khát ở nhà. Nhìn hai thằng chia nhau mẩu bánh mì và cái bánh ngọt, còn gói đường nhỏ cũng chia nhau… tôi không còn do dự gì nữa cho sự ra đi của mình. Hồi đó, Hà Nội cũng nở rộ chuyện tiếu lâm. Ở các quán nước, được gọi là quán “trà xụp” ở vỉa hè, đâu đâu cũng được nghe tiếu lâm. Chuyện tiếu lâm chủ yếu mang chủ đề chính trị-xã hội. Những chuyện thời đó mà ai cũng biết như: nhà 5 tầng không hố xí, bạn học của anh Ba (Lê Duẩn) … Có điều đáng chú ý là chuyện về TBT Lê Duẩn chiếm vị trí số 1. Có lẽ vì dân Hà Nội quá đói khổ lúc đó, lại luôn phải nghe những lý thuyết hoang đường như “làm chủ tập thể” và những lời hứa hão huyền “mỗi nhà đều có TV, tủ lạnh” của TBT từ sau cơn bốc đồng chiến thắng 30.4.1975 nên các “sĩ phu Bắc Hà” tập trung sáng tác giai thoại về ông ta. Tạm kể mấy giai thoại “ai cũng biết” thời đó, để đời sau… biết những câu chuyện không “chính sử” này. Chuyện kể rằng: có một ngôi nhà tập thể ở Hà Nội được xây tới 5 tầng lầu. Khi xây xong công ty xây dựng mời khách đến khánh thành và tham quan. Quan khách thắc mắc: vì sao tầng 1 lại không có hố xí? Giải thích: vì tầng 1 bố trí làm nhà trẻ cho các cháu mẫu giáo, các cháu ỉa bô không cần hố xí. Đến tầng 2 khách lại thắc mắc vì sao không có hố xí? Giải thích: tầng 2 giành cho sinh viên ở, sinh viên nó ăn gì mà ỉa! Tầng 3 được giải thích là để bố trí cho các nhà văn, nhà báo ở. Họ quen ỉa vào mồm nhau rồi nên không cần hố xí. Tầng 4 được giải thích là bố trí cho các hộ độc thân, và họ ỉa ở cơ quan rồi. Tầng 5 là để bố trí cho các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước ở, họ quen ỉa lên đầu nhân dân rồi nên cũng không cần đến hố xí. Chuyện thứ hai: có một hôm, một anh chàng đến số 6 phố Hoàng Diệu (nhà riêng Lê Duẩn), xin gặp đồng chí TBT. Bảo vệ hỏi: anh quan hệ với TBT như thế nào? Anh chàng kia trả lời: Bạn học cũ! Anh ta liền bị còng tay ngay vì đồng chí Lê Duẩn có đi học bao giờ đâu mà có bạn học! Chuyện thứ ba: có một nhóm phản động, hàng đêm đem cả bị vứt vào số 6 Hoàng Diệu. Công an mang về điều tra thì thấy toàn là sâm nhung quế phụ. Đem xét nghiệm thỉ thấy đây là thuốc bổ thứ thiệt không phải hàng giả. Công an bố trí bắt được nhóm người vứt đồ vào nhà TBT, tra hỏi mãi chúng mới nói thật là, tổ chức phản động nước ngoài cốt làm thế để TBT Lê Duẩn sống mãi, để phá hoại đất nước Việt Nam! Tôi từng đọc sách Marx thấy ông ta nói: giai đoạn cuối cùng của mỗi một hình thái xã hội bao giờ cũng là những tấn hài kịch của nó. Người ta cười để vui vẻ giã từ quá khứ. Tôi càng nghe nhiều giai thoại ở Hà Nội lúc đó, ý chí đi Nam của tôi càng tăng. Cảnh túng bấn đói khổ của thời bao cấp lúc đó không riêng gì của gia đình tôi. Nhưng với tôi còn cộng thêm những mâu thuẫn về cách sống, lối sống của tôi với ông bố tôi. Những phát biểu về các vấn đề chính trị của tôi khác với quan điểm của nhiều người trong gia tộc nên tôi thấy quyết định ra đi là đúng nhất. Thấy tôi làm đơn đi khỏi Đài truyền hình trung ương, lại đi về một nơi là Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang mà không phải là TP HCM, các bạn bè và đồng nghiệp ở Hà Nội đều rất ngạc nhiên. Vì lúc đó Đài truyền hình trung ương là một cơ quan sáng giá vào loại bậc nhất ở Hà Nội. Truyền hình là phương tiện truyền thông hấp dẫn và thời thượng lúc đó. Các bà vợ, cô chiêu cậu ấm, các ông lớn ở Hà Nội lúc đó đều mê truyền hình. Ông Trần Lâm, chủ nhiệm Ủy ban phát thanh và Truyền hình Việt Nam luôn nhận được điện thoại từ các vị Bộ chính trị, Ban bí thư… là truyền hình ở nhà họ bị trục trặc, cần phải sửa chữa ngay. Chả thế mà Đài TH có cả một đội ngũ kỹ sư giỏi, đứng đầu là ông Trịnh Lý Thản luôn tất bật đi xử lý các sự cố kỹ thuật ở các nhà quan lớn. Phóng viên, biên tập viên của Đài Truyền hình trung ương lúc đó có giá lắm. Hội nghị nào mà truyền hình chưa đến thì dù báo chí đã đến đủ nhưng vẫn chưa khai mạc được. Ai cũng muốn lên truyền hình. Vấn nạn xin xỏ, mè nheo, làm tiền của các nhà báo truyền hình đã nẩy nở từ những ngày đó, mở đầu cho sự tha hóa của báo chí quốc doanh cho đến bây giờ. Đương làm việc ở cơ quan sáng giá như thế giữa thủ đô mà tôi lại xin về một tỉnh lẻ thì bạn bè thắc mắc là phải. Có người bạn thân hỏi tôi đã nghĩ kỹ chưa? Tôi đã trả lời anh bạn tôi là đã nghĩ kỹ lắm rồi. Tôi đã thấy có bệnh viện ở Hà Nội còn đem cả xe cứu thương gắn chữ thập đỏ chạy vào Nam mua gạo… thì còn gì để nói! Thấy ông viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật Đường Hồng Dật phải nuôi lợn trên căn nhà tận gác tư chật hẹp của gia đình ông thì có gì để mà nói nữa! Cái thìa trong cửa hàng café mậu dịch phải đục thủng lỗ để khách hàng khỏi lấy cắp thì có gì mà luyến tiếc nữa! Chỉ có một người ủng hộ việc ra đi của tôi là nhà báo Trần Minh Tân. Anh nói: cậu vô Đồng bằng sông Cửu Long là đúng lắm. Đó là vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước. Nước này muốn sống được phải dựa vào đồng bằng Nam Bộ. Đó là vùng đất mới, còn nhiều vấn đề phải viết, có rất nhiều đề tài để viết. Chúng ta là người cầm bút thì nơi nào có đề tài, nơi đó là nơi phải đến. Anh còn gợi ý tôi cụ tể: người ta có bài hát “Dáng đứng Bến Tre” nổi tiếng. Vậy thì bây giờ “Dáng đi Bến Tre” là gì? Phải trả lời câu hỏi đó. Phải viết một bài với cái “tít” như thế. Anh Tân quả là một nhà báo bậc thầy. Sau này, nhân kỷ niệm 10 năm đất nước thống nhất 1985, tôi đã viết bài báo nhan đề như thế, đăng trang nhất báo Đại đoàn kết, được đồng chí bí thư tỉnh ủy Hai Chung đem bài đó ra đọc trong một phiên họp toàn thể của Đảng bộ Bến Tre. Lúc đó, đồng chí Hai Trung chưa biết tác giả là ai. Lúc tôi lên đường anh Minh Tân lại vỗ vai tôi dặn: ở nước ta ở nơi đâu cũng có nạn cục bộ địa phương, điển hình là tỉnh Hải Hưng của tôi. Hai tỉnh Hải Dương và Hưng yên khi sáp nhập lại đánh nhau quanh năm. Vì thế mà bây giờ mới có tên là tỉnh “Hải Hùng”! Cậu vô trong đó, chỉ làm khách, không làm chủ, tập trung viết (ý anh nói không nên tham gia tranh chấp gì). Tôi đã làm theo đúng lời căn dặn của người bạn vong niên Trần Minh Tân suốt hơn 30 năm sống ở đất Nam Bộ. Tuy nhiên cuộc ra đi của gia đình tôi vẫn gây bất ngờ, gây một cú sốc cho cả dòng họ, vì tôi là “đích tôn”. Bà thím thứ ba của tôi (bà Ba) người mà tôi rất kính trọng về tư duy chính trị (mà lại không phải là nhà chính trị), lúc chia tay đã nắm lấy tay vợ tôi căn dặn rất thiết tha: chị nhớ chị là dâu trưởng, lại có hai đứa con trai, đi đâu thì đi nhưng phải nhớ dắt con về! Thì ra bà đã nhìn thấy trước sự phá sản của CNXH, sự phá sản của cái gọi là “ngày mai đây tất cả sẽ chung, tất cả sẽ là vui và ánh sáng” (Tố Hữu). Bà đã nhìn thấy trước sự tranh chấp gia sản ở chính gia đình tôi và dòng họ của tôi về cái gia tài gần 2000 mét vuông đất và ngôi nhà ngói vào loại to nhất làng Hoàng Mai, nay là quận Hoàng Mai, nội thành Hà Nội! Khi tiễn gia đình tôi lên tàu ở ga Hàng Cỏ để vô nam, cả tướng Qua và nhiều người đã có mặt. Đó là một buổi sáng u ám trong cuộc đời tôi. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 1, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/01/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-20/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 21): https://www.minds.com/newsfeed/1019884908175740928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 19): https://www.minds.com/newsfeed/1019883441955704832?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 19) Nói đến cái gọi là trường quay của Đài truyền hình trung ương, tôi không thể không nhắc đến một nhân vật “độc đáo” của truyền hình Việt Nam là đạo diễn Khải Hưng. Số là, Ban khoa giáo của Đài không có riêng một trường quay để thực hiện các chương trình của Ban như: dậy ngoại ngữ trên Đài, tọa đàm, phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng, thực hiện các tiết mục văn nghệ vv… vv… Mỗi lần ghi hình phải đăng ký trường quay. Đa số các biên tập viên, biên kịch của khoa giáo là những người tốt nghiệp Khoa Học Xã Hội, không thạo về kỹ thuật điện đóm, ánh sáng, âm thanh… Vì thế, mỗi lần thu hình đầu bị các kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật ở trường quay làm khó dễ, “bắt nạt”. Sở dĩ tôi thích đi làm phim ngoài trời từ khi sang truyền hình vì không muốn các nhân viên trường quay, vốn là các “con ông cháu cha” được tuyển vô truyền hình hạnh họe mình. Tình trạng hay cãi lộn thường xảy ra ở trường quay và cuối cùng thì các biên tập viên đều thua vì bị “úm ba la” về kỹ thuật. Trong hoàn cảnh đó của Ban khoa giáo, tôi nghĩ đến Khải Hưng. Anh là giáo viên dậy vật lý ở trường cấp 3 Cẩm Giàng tỉnh Hải Hưng cùng với tôi. Khải Hưng đẹp trai, thông minh, dậy giỏi, và đặc biệt là tính tình của anh rất “du côn”, cuồng loạn. Anh được mệnh danh là “Hưng cuồng” thời còn dạy học cùng tôi. Lúc Khải Hưng bỏ biên chế dạy học về Hà Nội, sống lang thang và chưa có việc làm ổn định. Tôi đề xuất “sếp” Hán nhận Khải Hưng về Ban khoa giáo. Với lý lịch giáo viên cấp 3, anh làm khoa giáo là hợp lý. Với trình độ chuyên môn vật lý (điện, ánh sáng, tiếng động…) của anh, thì các biên tập viên không ai còn bị lo “bắt nạt” khi Khải Hưng có mặt trong trường quay. Rất may là “sếp” Hán nghe bùi tai nên nhận anh về Ban. Nhưng khi nghe tin Khải Hưng sắp được nhận về truyền hình thì chính người cậu của anh là Ph.D Ngoạn, cục trưởng Cục kỹ thuật của Đài lại nói với ông Hán: thằng Khải Hưng mất dậy lắm, không nhận nó về Đài được. Nghe vậy, “sếp” Hán giận lắm, ông gọi tôi lên phòng và nói lại lời của Ph.D Ngoạn. ông còn đay nghiến: Mày giới thiệu cho tao một thằng mất dậy đến nỗi chính cậu nó cũng không muốn nhận. Tôi bình tĩnh nói với thủ trưởng của mình: chúng ta đang rất cần một thằng mất dậy để trị những thằng mất dậy trong trường quay là gì? Tôi đã tìm được đúng người, đúng việc cho Ban ta còn gì nữa. Sau đó “sếp” Hán xuôi tai liền nhận Khải Hưng về Đài. Y như rằng, từ khi có Khải Hưng, trường quay không còn cảnh cãi lộn. Không ai qua mặt được anh về khâu điện, ánh sáng, âm thanh… mà trước đây các biên tập Ban Khoa giáo bị bịp, bị bắt nạt. Thấy Khải Hưng có khả năng, Đài cho anh đi học một khóa đạo diễn. Học xong về Đài anh làm được một phim truyện nổi tiếng, đó là phim “Lời nguyền của dòng sông”, chuyển thể từ truyện ngắn “Mùa hoa cải bên sông”. Công bằng mà nói, công của nghệ sĩ nhân dân Trịnh Thịnh sắm vai ông lão thuyền chài trong phim này rất lớn. Trịnh Thịnh lớn tuổi nên ông hiểu được tâm lý, tác phong của người già nên vào vai diễn rất đạt. Nhờ có diễn viên gạo cội Trịnh Thịnh góp sức mà Khải Hưng làm được phim truyện nổi tiếng này. Khi đã trở thành một đạo diễn nổi tiếng, Khải Hưng vào Đảng và trở thành giám đốc của Hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc Đài THVN). Anh ta vẫn “cuồng” như xưa. Khi làm phim, Khải Hưng luôn mồm chửi diển viên: địt mẹ con đĩ… mày diễn thế à! Có lần gặp một đoàn phóng viên truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ, tôi hỏi chị em: thằng Khải Hưng dạo này còn chửi bới luôn mồm không? Chị em ngạc nhiên quá. Sao ở tận Cần Thơ mà anh rành Khải Hưng thế!? Vợ tôi mỗi lần xem truyền hình thấy Khải Hưng phát biểu, lại bảo tôi: chú Hưng lại ba hoa anh ạ! (chả là khi còn dạy chung ở trường Cấp 3 cùng tôi, vợ tôi vẫn gọi Hưng là chú vì y ít tuổi hơn tôi nhiều). Anh Ngô Như Hà, giáo viên dậy hóa cùng trường với chúng tôi, vì bị bệnh phổi, không dạy học được nữa nên anh xin nghỉ và về Hà Nội. Để kiếm sống, anh ngồi sửa xe ở trước cửa nhà mình (số 102 đường Minh Khai). Nhà Khải Hưng ở làng Quỳnh Lôi, hàng ngày anh đi làm phải qua Minh Khai. Có lần tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội có đến chơi thăm Hà. Vợ anh bảo: chú Hưng ngày nào cũng đi qua đây, nhưng thấy anh Hà nhà em thì quay mặt đi. Người phụ nữ miền Bắc gọi bạn của chồng mình bằng “chú” là thân tình lắm. Tức là có một thời gian dài họ đến nhà nhau chơi, đến mức vợ có thể xưng hô với bạn của chồng một cách thân mật bằng chú! Báo chí “lề phải” nhất là tạp chí truyền hình VTV, nhiều khi “bốc” Khải Hưng đến mức tôi đọc thấy phát ngượng cho cả người viết và người được viết về mình. Một thiết chế đặc quyền phương tiện thông tin thì “bốc” ai lên mà chả được. Nhân cách cứ thế mà xuống thấp dần, tha hóa dần vì không có thông tin đa chiều. Nói đến truyền hình Việt Nam mà không nói đến Tổng giám đốc Vũ Văn Hiến thì thật là thiếu sót. Hiến học ở Ba Lan về. Khi tôi về Ban miền Nam của Đài cuối năm 1974 thì Hiến đang là phóng viên của Ban. So với các cây bút như Trung Ngôn, Viễn Kính, Phan Đắc Lập, Trúc Thông, Nguyễn Thị Quý, … thì Hiến là một phóng viên mờ nhạt. Sau 1975, Ban miền Nam giải tán, Hiến lại về làm việc cùng phòng với tôi ở chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XHCN”. Hiến là đề tài cho cả phòng bình luận về sự ngô nghê, ngớ ngẩn của anh. Vợ đẻ con so, anh hỏi tôi: vợ tôi có ăn cà chua được không? Tôi trả lời: có! Vài bữa sau anh lại hỏi tôi, vì biết tôi đã có 2 con: vợ tôi có ăn cá mè được không? Tôi giả vờ suy nghĩ ít phút rồi vỗ trán trả lời: được! Phòng tôi được phân phối một cái giấy đi viếng lăng Bác. Trong giấy cho phép đi 4 người. Tôi và anh Hiến cầm giấy phép đi lên lăng Bác. Khi vô cửa, công an gác cửa xem giấy hỏi: sao giấy 4 người lại đi có 2 người. Hiến mau miệng trả lời: một đồng chí vì đi ỉa chảy…!!! Viên công an trợn mắt quát: vô ý thức với Bác! Tôi thấy vậy kéo Hiến lại rồi cả 2 ra về. Nhất định tôi lôi anh phải đi về. Đi được một đoạn xa tôi mới bảo hiến: sao mày ngu thế, mình là nhà báo, chỉ cần nói là 2 đồng chí đi tháp tùng các vị lãnh đạo có phải êm không. Thằng công an kia, mình vô ý thức với nó đã đủ chết, đằng này nó lại nâng quan điểm lên là “vô ý thức với Bác” thì chỉ có nước đi tù mọt gông. Tao phải kéo mày về vội là vì thế(!) Hiến vừa đi vừa làu bàu: hồi ở Liên Xô chính tôi đã dẫn các ông lãnh đạo Việt Nam đi viếng lăng Lê Nin. Vậy mà về nước, viếng lăng Bắc củng không được. Ngẫm nghĩ một lát, Hiến than phiền: hễ đi viếng lăng là thế nào cũng có giai thoại, rồi Hiến kể cho tôi nghe câu chuyện đi viếng lăng Lê Nin. Kể: ở Liên Xô hồi đó, thanh niên Nga bắt chước bọn hippy phương Tây để tóc dài, râu dài… lệnh trên xuống là ai tóc dài râu dài không được vô viếng lăng. Thế là một hôm Lê Nin bật nắp quan tài kính dậy, đi ra cửa lăng, tát cho tên thiếu tá chỉ huy canh gác lăng một cái nổ đom đóm mắt. Rồi mắng rằng: từ nay những đứa tóc dài cũng phải cho vào viếng, có phải đứa nào cũng đầu hói như tao đâu(!) Tôi đem câu chuyện đi viếng lăng Bác với Hiến kể cho anh em trong Đài nghe. Ai cũng ôm bụng cười. Chưa hết, khi đoàn nhà báo ở Đài truyền hình Ba Lan sang ta đi thực tế để quay phim về nhà ổ chuột ở Sài Gòn (để tố cáo xã hội Mỹ ngụy), Hiến được cử đi phiên dịch. Quay phim xong, xe chạy ngày đêm từ Sài Gòn ra đến Hà Nội thì trời đã tối không thuê được khách sạn. Một vị trong đoàn Ba Lan đề nghị: về nhà thằng Hiến ngủ tạm một đêm. hiến nghe thấy thế sợ quá, bỏ luôn các bạn đồng nghiệp trên xe… rồi biến mất. Hôm sau anh đến cơ quan kể lại sự việc này với chúng tôi rồi kết kuận: nhà tôi trong khu tập thể ở Đại La còn… hơn cái khu ổ chuột ở Sài Gòn(!). Chưa hết, khu tập thể của Đài “còn hơn cái ổ chuột” bị cháy. Hiến lao về… thì thấy bà mẹ anh đã chạy được hộp đựng tem phiếu ra sân và đang ngồi thở. Anh hỏi: cháu đâu (tức thằng con anh). Bà mẹ mới hoảng hồn chỉ vào trong nhà. Hiến lao vào bê thằng con ra khi lửa đã bén vào gần đến chiếc nôi(!) Kể lại câu chuyện này cho mọi người nghe, tôi vẫn còn nhớ một lời “bình luận” đau điếng thế này: bà mẹ này thật là thông minh khi cứu hộp tem phiếu trước, vì nếu cháy hết tem phiếu thì sẽ chết cả nhà! Có câu chuyện nào tố cáo thời bao cấp lại hay hơn chuyện này? Xin bạn đọc chép lại cho đời sai để con cháu chúng ta biết về một thời XHCH! Khi tôi rời Đài tuyền hình trung ương vô Nam đầu năm 1981 thì Hiến vẫn còn là phóng viên ở Đài THVN. Vậy mà không biết bằng con đường nào mà Vũ Văn Hiến trở thành ủy viên trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài THVN nhanh như thế! Khi là ông ủy viên trung ương rồi, một lần Hiến vô Sài Gòn, Hữu Tính xưa kia là trợ lý của trưởng Ban miền Nam Đài tiếng nói Việt Nam, người đã cùng tôi đi phỏng vấn Gs Tôn Thất Tùng như đã kể ở phần trên, bảo với Hiến: anh Thái Bảo thủ trưởng của tớ và cậu ở Ban miền Nam trước kia hiện đang bệnh nặng bây giờ cậu là ủy viên trung ương rồi, tớ biết nhà anh Thái Bảo để tớ đưa cậu đến thăm động viên anh thì tốt biết mấy… nhưng Hiến lờ đi. Chỉ ít lâu sau, anh Thái Bảo, vị thủ trưởng đáng kính của chúng tôi qua đời. Hôm tiễn đưa anh, Hữu Tính vẫn nhắc đến chuyện “thằng Hiến nhiều lần tôi đã bảo nó đến thăm anh Thái Bảo mà nó cứ lờ đi!” Hiển nổi tiếng là người hay đi thăm hỏi và quà cáp cho cấp trên từ lâu rồi, nhưng chỉ là người còn chức quyền thôi, không phải là người đã nghỉ hưu như anh Thái Bảo (mà anh em ở Đài tiếng nói Việt Nam rất yêu quý, kính trọng). Anh Thái Bảo còn là thư ký riêng cho tướng Nguyễn Bình và là một cán bộ lãnh đạo mẫu mực. Trong các phương tiện truyền thông thì truyền hình phải đầu tư cơ sở vật chất tốn kém nhất. Hiến vướng vào những vụ tham nhũng khi xây dựng các công trình ở Đài truyền hình. Dư luận đã ầm ỉ một thời gian, nhưng giống như hàng ngàn ông quan tham khác, y vẫn hạ cánh an toàn. “Triều đại” của Hiến đã để lại cho Đài truyền hình một lớp cán bộ thật “ấn tượng”. Điển hình là Lại Văn Sâm. Một Việt Kiều ở Pháp vô tình biết tôi từng làm phát thanh và truyền hình đã kể rằng, khi Lại Văn Sâm qua Pháp làm việc, đồng bào yêu quý các nhà báo của quê hương nên đã tổ chức nhau mời Lại Văn Sâm một bữa cơm. Thấy các món ăn sơ sài quá, Lại Văn Sâm đã trừng mắt nói: mời Lại Văn Sâm mà thế này à? Nghe xong tất cả mọi người kinh ngạc về nhân cách văn hóa thấp kém của Sâm. Theo tôi, có lẽ Lại Văn Sâm quen đi các địa phương ở trong nước được các quan chức lấy tiền thuế của dân ra đãi những bữa tiệc vừa ăn vừa đổ đi nên quen thói rồi. Anh chàng MC mồm mép như anh bán thuốc dạo trên tàu điện ở Hà Nội ngày xưa, có hay đâu đồng bào xa xứ của mình phải vất vả mới kiếm được miếng ăn ở xứ người, vì yêu mến quê hương mà gom tiền lại đãi đằng nhà báo Việt Nam. Đồng bào đã bất ngờ khi thấy thái độ của Sâm như thế – một nhà báo XHCN! Khi tôi viết báo “lề trái” trên mạng, đôi lần có nhắc đến “Lại Văn Sâm khua môi múa mép trên truyền hình” thì lập tức có nhiều comment hưởng ứng ngay. Thì ra người xem truyền hình ở Việt Nam rất ghét khi thấy Lại Văn Sâm xuất hiện. Ở các nước văn minh MC truyền hình phải được khán già ưa thích, không thì phải thay ngay, vì người ta luôn luôn thăm dò ý kiến khán giả qua các hình thức trưng cầu dân ý. Ở ta, cứ Đảng phân công là người ta cứ nhâng nháo vác mặt lên truyền hình quốc gia! Trong thời gian công tác ở Đài truyền hình trung ương, có một sự cố lớn ảnh hưởng đến tư tưởng và dẫn đến quyết định sự ra đi của tôi khỏi “miền Bắc XHCN”, khỏi Hà Nội nơi tôi sinh ra. Đó là vào cuối năm 1978, tại nhà hát lớn Hà Nội diễn ra hội nghị khoa học toàn quốc. Tôi đến dự, nói đúng hơn là đến hành nghề. Trí thức cả hai miền Nam Bắc về dự hội nghị quan trọng này. Khi thủ tướng Phạm Văn Đồng đến, cả đại hội đã vỗ tay kiểu “đại hội” như tôi đã giới thiệu kiểu vỗ tay này ở đầu sách. Người trong ban tổ chức giới thiệu: người anh cả của khoa học đã đến dự với chúng ta. Lại vỗ tay. Tôi nói với vị trí thức ngồi cạnh tôi: giả sử lát nữa có đồng chí Lê Duẩn đến thì không biết người ta sẽ giới thiệu thế nào? Không lẽ phải giới thiệu là “người anh cả đỏ đã đến”. Vị đại biểu này không nói gì(!) Khi tham luận có một nữ đại biểu ở Tổng cục khai hoang nêu khó khăn không thể khai hoang 50 vạn héc ta trong một thời gian như chính phủ lên kế hoạch. Phạm Văn Đồng rung chuông đuổi xuống. Chị ta cứ nói: khai hoang 50 vạn héc ta thì xin phép phải được nói dài(!) Lại rung chuông. Vẫn nói. Lại rung chuông… Khi giải lao, các vị đại biểu vây quanh người phụ nữ rắn rỏi này. Có người nói: chị gan quá. Thủ tướng rung chuông nhiều lần mà cứ nói không chịu xuống. Chị trả lời: các anh là đàn ông, nhiều tham vọng. Tôi là phụ nữ, tôi không có tham vọng nên tôi nói thật(!) Ai cũng hiểu chị ta muốn nói đàn ông các anh hèn lắm. Vì tham quyền cao chức trọng, bổng lộc nên ngậm miệng ăn tiền. Viết đến đây tôi nhớ bài thơ mới đọc hôm 18/2/2013 của tướng Phạm Chuyên mang tên “Người hèn”, đăng trên trang mạng Ba Sàm. Vừa mới đọc có đôi lần mà đã thuộc vì nó hay quá: “Đất nước ngàn năm / hiếm kẻ bán nước / có nhiều nhặn gì đâu / một Trần Ích Tắc / một Lê Chiêu Thống / một Hoàng Văn Hoan / đất nước ngàn năm / quá lắm người hèn / hèn vì quyền cao chức trọng / hèn vì nhà cao cửa rộng / hèn vì miếng cơm manh áo / hèn vì vợ dại con thơ / hèn vì danh hão danh hờ / hèn mà còn nhận ra / mình là thằng hèn / là hèn tử tế / hèn ngậm miệng ăn tiền / hèn nhơ bẩn / hèn … / hèn bất nhân / hèn bán đất bán nước / trờ chu đất diệt / hèn ơi! Đất nước ơi!” … Thấy đại biểu túm tụm, Phạm Văn Đồng đến. Ông hỏi một trí thức ở Sài Gòn ra họp: trong ấy tình hình nghiên cứu khoa học thế nào? Vị này thưa: trong phòng thí nghiệm đến H2O cũng không có! Ông hỏi vị trí thức thứ hai, vị này thưa: chúng tôi phải tẩy xóa bằng cái nút lọ penicillin thay cho cục gôm! Thế là thủ tướng cười: Ha ha ha! Cái cười rất Phạm Văn Đồng. Thế là mọi người cười theo. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam là anh Hà Việt đã nhanh tay bấm máy được cái hình mọi người cười rất tươi, cười hết cỡ. Cuối hội nghị, thủ tướng chỉ đạo. Ông ta nói: chúng ta làm khoa học kỹ thuật theo cách của Việt Nam, như Cù Chính Lan chạy tắt rừng để đón đầu đánh xe tăng. Chúng ta phải đi tắt, đón đầu, đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm… Lại vỗ tay! Tôi muốn dừng ít phút ở đây để nói về phương Tây. Tôi vừa đi theo một chuyến máy bay DC chở cá mè bột (cá giống) vào Nam và theo máy bay chở cá giống bố mẹ rô phi ra Bắc cùng mấy anh em cán bộ kỹ thuật của Bộ Thủy Sản và các bác nông dân nuôi cá ở một hợp tác tác xã của huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Lúc lên máy bay, phi công xem giấy tờ thấy tôi là nhà báo. Anh ta không cho đi. Lý do: máy bay cất cánh những giờ cuối cùng rồi cho vào nghĩa địa vì “hết đát”. Tôi là nhà báo, phải bảo vệ tính mạng cho tôi. Tôi cự lại: Đảng và nhà nước đào tạo một phi công như đồng chí tốn kém gấp 10 lần một anh phóng viên ốm yếu như tôi. Các đồng chí quý giá hơn tôi 10 lần, cả về thể chất con người nữa, mà đi được thì sao tôi không đi được? Anh chàng phi công phát cáu: ông nhà báo lắm lý sự quá. Thôi mời ông lên. Thế là tôi được đi những giờ phút cuối cùng của loại máy bay mang mác DC ở Việt Nam. Lên máy bay rồi, tôi lại còn đòi ngồi ở cabin để còn… quan sát. Cabin máy bay DC chỉ ngồi được ba người. Phi công, thợ máy và dẫn đường. Vì máy bay bay ở độ cao 300 mét nên người dẫn đường cầm một xấp bản đồ, nhìn xuống thấy rõ mổn một từng địa phận máy bay bay qua. Máy bay chỉ bay tốc độ 300 km/h nên quan sát rất dễ. Tôi ngồi bệt xuống chân, giữa 2 người thợ máy và dẫn đường. Lúc bay đến Nam Định, anh thợ máy nói: lúc nãy nói chơi vậy thôi, chứ máy bay có tới 56 cái đồng hồ trục trặc cái gì là báo ngay để xử lý. Đi máy bay là an toàn nhất. Tôi nhìn theo ngón tay của người thợ máy và đếm đủ 56 cái đồng hồ trên tableau trước mặt. Cái máy bay như thế mà đã vứt vào nghĩa địa vì nó được bay hết giờ quy định của hãng chế tạo ra nó. Phương Tây là như thế. Tôi nghĩ, 100 năm nữa chưa chắc nước ta đã làm nỗi một chiếc máy bay từ A tới Z như cái DC tôi vừa đi. Tôi chưa thấy ai bốc phét như ông Phạm Văn Đồng “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm nữa…!!!” Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi. Chỉ có phụ nữ là dám nói sự thật. Ôi, phụ nữ Việt Nam anh hùng quá. Đất nước đáng tự hào về họ quá. Họ chính là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu… Ngày hôm sau của cuộc hội nghị quan trọng đó, cô nhân vật đánh máy của cơ quan tôi cầm tờ báo Tiền Phong có tấm hình phóng viên Hà Việt chụp đến khoe với tôi: anh Phú Khải có cái hình đẹp quá, đứng cạnh thủ tướng và đại tướng. Tôi cầm bức hình mà hôm qua “bị” chụp xem. Rồi nói rõ xuất xứ của những cái cười hết cỡ trong ảnh và kết luận: như thế mà cười được thì là vô liêm sỉ, chỉ có tôi là còn chút liêm sỉ nên không cười(!). Mọi người đứng quanh tôi không ai nói gì cả. Vài ngày sau vợ tướng Qua nhắn vợ tôi lên nhà bà gấp. Bà cho hay những gì tôi nói về bức ảnh chụp Phạm Văn Đồng đã đăng báo… đã được phản ánh về Bộ Công An. Bà nói: thằng Thanh, chồng con Tuyết nó đến tận nhà báo cáo với chú chị mà nó vừa nói, vừa thở, vừa run… “thằng Thanh” như lời bà thím tôi là Nguyễn Thanh, cục trưởng Cục xử lý tin tức Bộ Công An. Còn “con Tuyết” là con ông chú thứ hai của tôi, cô đang làm phó Ban tài chính và quản trị trung ương. Nguyễn Thanh phải gọi tướng Qua là bác, (bác vợ). Sự thể là như thế. Bà thím tôi còn nói: mày về bảo chồng mày ăn nói phải giữ mồm giữ miệng không thì mang họa vào thân. Ông Qua ông ấy giận thằng cháu đích tôn lắm. Lúc thằng Thanh báo cáo xong, ông ấy đập tay xuống bàn! Cái hồi tôi đi làm nhà nước hồi đó, lý lịch là số 1. Lý lịch phải khai đầy đủ cả họ nội, họ ngoại. Nên việc tôi là cháu ruột của tướng Qua, bên an ninh họ đều biết (nhất là an ninh được “cài” vào một cơ quan như Đài truyền hình trung ương). Vì thế tướng Qua bực mình là phải. Chủ nhật tuần lễ đó, ông xuống tận nhà tôi ở Hoàng Mai mắng tôi một chập. Tôi cãi “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng 20 năm thì rõ là hoang đường rồi còn gì?” Nghe xong ông nói: “Đúng thế, nhưng người phát ngôn không phải là cháu!” Trời đất thiên địa ơi! Chân lý thì ai nói ra mà chẳng được. Từ trước công nguyên Aristote đã từng nói “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!” Phương Tây là như vậy nên họ mới có máy bay DC. Còn phương Đông thì chỉ thầy mới đúng, còn trò thì không bao giờ được cãi thầy… Thì ra ông chú yêu quý của tôi cũng có một ông Khổng Tử ở trong đầu. Các cụ ta bảo, học nói chỉ mất 3 năm, nhưng học im lặng phải mất 60 năm. Nếu phải như bây giờ thì tôi không cãi, tôi im lặng nhận lỗi thì chú Qua tôi vui lòng ngay. Nhưng tuổi trẻ là thế, tôi cãi. Tướng Qua giận lắm. Sau đó ông còn đến cả Đài Truyền hình gặp lãnh đạo Đài. Khi ông đeo lon tướng vô cửa, đồng chí công an gác đài đã đứng nghiêm chào, không dám hỏi giấy tờ. Sau buổi ông đến Đài, “sếp” Hán vỗ vai tôi cười nói: ông chú mày dọa “bắt” mày đó! … vậy thôi… không nói gì nữa… đúng là “Hán Cao Tổ”!!! Đúng 18 năm sau, năm 1996, tôi gặp ông Phạm Văn Đồng ở tỉnh ủy Cần Thơ, ông đang ngồi nói chuyện với ông Sáu Phan (Nguyễn Hà Phan). Ông đeo một cái kính râm rất to. Lúc đó cả nước đã bước vào thời kỳ đổi mới sau đại hội VI. Các sách vở “lề phải” đều nói đến vấn đề Việt Nam có thể bị tụt hậu so với các nước trong khu vực(!) Vậy là đã gần hết hạn 20 năm để đuổi kịp và vượt phương tây như chỉ đạo của thủ tướng. Vậy tôi có nên vào báo cáo với thủ tướng là ta có khả năng tụt hậu so với các nước láng giềng hơn là “đuổi kịp và vượt phương Tây” như thủ tướng chỉ đạo cách đây vừa đúng 20 năm! Tôi sực nhớ đến dạo ở Hà Nội, mỗi lần thủ tướng đến thăm nơi nào người thư ký đề đến trước dặn mọi người không nên nói điều gì … làm ảnh hưởng đến sức khỏe của ông, nên tôi thôi. Ông Đồng mất vào năm 2000. Tướng Qua, người sĩ quan cận vệ của ông ở hội nghị Geneve năm xưa mất vào năm 2001. Tất cả đã đi vào quá khứ, và kẻ đang viết những dòng này cũng đang trên đường đến… nghĩa trang. Nhưng sự thật lịch sử thì phải rõ ràng công bằng. Chân lý phải quý hơn thầy. Vậy thôi. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 28, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/28/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-19/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 20): https://www.minds.com/newsf...
14 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 18) Sau phim đầu tay “Con rắn hổ mang” khá thành công, tôi viết kịch bản phim tài liệu “Nghề nuôi cá ở nước ta”. Lúc đó, đang có phong trào “Ao cá Bác Hồ” rất rầm rộ. Nghề nuôi cá phát triển mạnh sau khi những loài cá mới ở miền Nam như cá rô phi được chuyển cá giống ra Bắc, cá bột mè giống được chuyển vô Nam bằng máy bay vận tải DC. Tôi đã được Bộ Thủy sản mời đi những chuyến chuyển cá giống vào Nam ra Bắc bằng những chuyến bay như thế. Máy bay cánh quạt DC bay 4 giờ đồng hồ từ Gia Lâm mới vô đến Tân Sơn Nhất. Rất vất vả vì phải ngồi chung với những bao ni long bơm ôxy chở cá giống, ướt át, tanh tưởi. Để thực hiện được phim tài liệu 20 phút này, chúng tôi phải quay được các hình thức nuôi cá. Từ cách nuôi cá hồ chứa ở miền núi phía Bắc, nuôi trong ao hồ ở các hợp tác xã đồng bằng Bắc Bộ và cả hình ảnh nuôi cá bè ở Châu Đốc-An Giang v.v… Khi phát sóng, lần đầu tiên khán già miền Bắc được thấy hình ảnh nuôi cá bè ở miền Nam trên sông Hậu rất hấp dẫn. Minh Đại, phóng viên quay phim của ê kíp chúng tôi đã reo lên khi anh quay cận cảnh hàng trăm con cá nhao lên đớp mồi khi các chủ bè cá cho chúng ăn… Cũng trong chuyến đi này, chúng tôi được sang thăm cù lao Mỹ Hòa Hưng, quê hương Bác Tôn và quay được những thước phim tư liệu giá trị. Khi Bác Tôn qua đời, Đài truyền hình trung ương có ngay được những thước phim về quê hương của ông do chúng tôi cung cấp để phát sóng vào chương trình thời sự ngày đưa tiễn bác. Khi phát sóng phim “Nghề nuôi cá ở nước ta”, có một chuyện đáng nhớ với một người làm báo như tôi. Và, có lẽ cả cho các đồng nghiệp của tôi nữa. Đó là, trước giờ phát sóng chừng vài tiếng, bỗng Tổng biên tập Đài là anh Lý Văn Sáu kêu tôi lên hỏi: con cá tra viết “ch” hay “tr”? Tôi hoảng quá, vì lúc đi làm phim, lúc viết kịch bản tôi không để ý đến chi tiết “nhỏ” này! Lần đầu tiên đồng bào miền Bắc biết đến con cá tra ở Nam Bộ. Phát âm “cá tra” như thế nào? (ch hay tr không ai biết cả). Kể cả Tổng biên tập Lý Văn Sáu người Nghệ Tĩnh cũng không biết. Anh Sáu là một nhà báo dày dạn kinh nghiệm, từng đi học báo chí bài bản ở Liên Xô. Anh thông thạo nhiều ngoại ngữ, nói được tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. Nghe nói khi anh là phát ngôn viên cho đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ở hội nghị Paris, khi họp báo anh nói rất mạch lạc, từ tốn, dễ nghe, dễ hiểu những vấn đề phức tạp nhất nên các nhà báo phương Tây rất thích. Anh bảo tôi: phài xác minh được từ “tra” có uốn lưỡi hay không uốn lưỡi để phát thanh viên phát âm cho chuẩn. Anh còn nhấn mạnh: cậu nhớ Đài ta là Đài Truyền hình trung ương cơ mà. Trung ương phải làm gương cho các Đài địa phương phát ầm cho đúng từ nghữ tiếng Việt. Tôi xin phép anh Sáu 1 giờ để đi xác minh từ “cá tra”. Anh Sáu lại nói: nếu 1 giờ cậu không trả lời được, tôi sẽ cho thay chương trình khác. Nghe vậy tôi lo cuống cuồng vì đã trót khoe khoang và báo cho nhiều người biết giờ phát sóng chương trình, kể cả báo cho thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Tấn Trịnh biết để xem, vậy mà chương trình bị cắt thì… còn mặt mũi nào! Tôi chạy bang qua ruộng rau muống rất rộng để đi tắt sang Bộ Thủy sản ở ngay khu Giảng Võ, sau lưng Đài Truyền hình. Nếu đi cổng chính thì xa hàng cây số vì “gần nhà xa ngõ”. Nhớ lại, lúc đó tôi quần áo lấm lem đứng bên hàng rào gọi vọng vô tên anh Ánh, vụ trưởng vụ nuôi cá của Bộ. Phòng anh Ánh ở ngay cạnh hàng rào nên anh ra ngay. Anh mời tôi trèo qua hàng rào vô nhà anh uống trà. Thường ngày thì tôi hưởng ứng ngay nhưng hôm nay tôi không còn bụng dạ nào để trà lá nữa. Tôi chỉ hỏi anh về các viết từ “cá tra” dùng “ch” hay “tr”. Anh cười và bảo: có thế mà cũng phải hỏi, viết “tr” nhà báo ạ. Nghe xong tôi mừng rơn, không kịp chào anh, cứ thế cắm đầu chạy về Đài (chắc là anh Ánh lúc đó cứ tưởng tôi bị lên cơn thần kinh!) Vẫn quần áo lấm lem vì bùn, tôi lên gặp ông Sáu để báo cáo cách phát âm cho con cá là “tr”. Ông Sáu nhìn tôi cười tươi! Khỏi phải bình luận nhiều. Người làm báo phải có tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng dân tộc trong sự “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Đó là câu chuyện của “ngôn từ” như nhà báo Phan Quang đã viết. Các nhà báo thế hệ trước tôi, các anh đã nêu một tấm gương sáng về sự nghiêm túc của nghề cầm bút. Tôi không “thù” gì anh Sáu cả, trái lại mỗi lần đi qua một hồ nuôi cá tra, được xem là mặt hàng thủy sản xuát khẩu quan trọng sau lúa gạo ở Nam Bộ ngày nay, tôi lại bất giác nhớ đến Tổng biên tập Lý Văn Sáu (giờ này ông đang ở đâu?) Sau phim tài liệu nghề nuôi cá, tôi viết kịch bản “Cây hồi Lạng Sơn”. Với truyền hình – hình ảnh động – thì làm phim về động vật dễ hơn làm phim về thế giới thực vật (vì khó tạo nên hình ảnh sinh động như con rắn hổ mang múa, con cá quẫy từng đàn). Vì thế, kịch bản phải chuẩn bị kỹ về nội dung khoa học và cảnh quay phải đa dạng phong phú. Chúng tôi phải thuê xe com-măng-ca của Đoàn 12 để đi dài ngày. Để quay được toàn cảnh rừng hồi Lạng Sơn, trời rét như cắt ruột, chúng tôi phải vác máy leo lên tận đỉnh của những quả núi cao. Khi bắt đầu leo núi thì rét run, nhưng khi leo lên đến đỉnh thì phải cởi bớt quần áo ấm vì mồ hôi vã ra như tắm. Nhưng ngồi đợi suốt cả ngày vẫn không quay được thước phim nào vì trời âm u không đủ sáng. Quay phim nhựa là như thế. Cứ thế, mấy ngày trời leo núi mới quay được một cảnh vài giây. Vì vậy khi đi đường số 4 sang Cao Bằng để phỏng vấn ghi hình lãnh đạo tỉnh Cao lạng về chương trình phát triển rừng hồi thì đồng chí chủ tịch tỉnh nói ngay: mấy ngày các anh leo lên núi quay phim, bộ đội biên phòng đều theo dõi và báo cáo chúng tôi, biết các anh vất vả lắm! Xin mở ngoặc nói thêm, khi hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng sát nhập thành tỉnh Cao lạng theo ý đồ của tổng bí thư Lê Duẩn thì dân tình khốn khổ vô cùng. Thủ phủ của tỉnh mới Cao Lạng đóng ở Cao Bằng nên người dân muốn xin giấy tờ phải đi đường núi số 4 cheo leo vực sâu, vách đá từ Lạng Sơn sang Cao bằng và phải ngủ lại vì không thể về ngay trong ngày. Thằng thực dân Pháp đểu cáng là thế, nhưng chúng có khoa học cai trị. Các tỉnh lỵ trên toàn cõi Đông Dương chỉ cách nhau 60 km. Người dân ở nơi giáp ranh có đi xin giấy tờ cũng chỉ phải đi 30 km là cùng và có thể về ngay trong ngày. Cả nước Việt Nam chúng ta, dưới thời thực dân Pháp, chỉ có 2 tỉnh lỵ là Mỹ Tho và Bến Tre là cách nhau hơn 10 km vì cách con sông Tiền rộng lớn. Nay có cầu Rạch Miễu rồi thì 2 trung tâm Mỹ Tho và Bến Tre chỉ nửa tiếng xe máy là có thể gặp nhau. Về phương diện địa lý, thổ nhưỡng, tập quán canh tác… người Tây khi lập tỉnh họ cũng tính kỹ. Tỉnh Gò Công là vùng nhiễm mặn, tỉnh Mỹ Tho là vùng nước ngọt. Hệ canh tác của 2 vùng này khác nhau. Khi vô cớ sáp nhập 2 tỉnh này thành tỉnh Tiền Giang thì mỗi lần tỉnh họp để chỉ đạo canh tác, cán bộ Mỹ Tho cũ phải nghe cả phần chỉ đạo về vùng mặn Gò Công. Cuối cùng phải triệu tập 2 cuộc họp khác nhau để chỉ đạo hai vùng mặn-ngọt khác nhau… Có xe hơi mà chúng tôi đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng để gặp lãnh đạo Cao Lạng phải toát mồ hôi hột thì nhân dân, cán bộ trong tỉnh miền núi này đi lại vất vả biết nhường nào. Chỉ sau một giấc ngủ, các nhà lãnh đạo trong thể chế toàn trị độc tài hứng chí lên là có thể sáp nhập các tỉnh trong cả nước một cách vô lối và điên rồ như thế. Sau đó thấy tai hại quá lại chi tỉnh về như cũ, như thời Tây đã làm. Tốn kém nhân dân chịu! Về chuyện đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng, ba anh em trong ê kíp làm phim chúng tôi đã quyết định đi từ sớm, nhưng cậu lái xe của đoàn 12 mà chúng tôi đã thuê lại bảo để đến tối mới đi. Trời đất thiên địa ơi, đi cả trăm cây số đường núi vòng vèo cheo leo vách đá vực sâu mà ban ngày ban mặt lại không đi, phải đợi đến tối mới đi thì ra làm sao? Chúng tôi vặn hỏi cậu lái xe, cậu ta bảo: các anh là nhà báo thì biết gì, lái xe là việc của em để em lo, khi nào đi thì em sẽ nói. Giục mãi, xế chiều cậu ta mới cho xe lăn bánh. Đi được vài chục cây số thì một chiếc xe tải chở gỗ lao ầm ầm vào chúng tôi khiến xe phải nép sát vào vách đá. Tài xế cho xe đỗ lại và chờ đến tối mịt mới đi. Cậu ta giải thích cho lũ chúng tôi – “các nhà báo thì biết gì” – rằng: ở trên này, các lái xe người dânh tộc đi chở gỗ cho lâm trường, uống rượu xong rồi lên ca bin cầm vô lăng chạy như bay. Xe của họ chở gỗ nặng lấn đường của xe con, hất xe bọn chúng em xuống vực là chuyện thường. Tai nạn xảy ra thường xuyên, bị hất xuống vực là chuyện cơm bữa. Người miền xuôi không ai chịu lên lái xe ở đây cả, nên lâm trường vẫn phải mượn người dân tộc lái vì thế cánh lái xe con chúng em phải đợi ban đêm mới dám đi đường này, khi các xe tải lâm trường nghỉ hết đã mới dám đi. Thì ra là vậy. Xe chúng tôi bật đèn sáng quắc, dò dẫm đi trên con đường quanh co vòng vèo, có chỗ vừa đi qua lại như vòng lại chỗ cũ vì đường phải men theo các triền núi. Từ ánh đèn của xe, trong đêm tối chúng tôi nhìn thấy nhiều biển chỉ dẫn có dấu chấm than(!), cậu tài xế giải thích đó là những chỗ rất nguy hiểm. Đá từ trên núi có thể lăn xuống bất kỳ lúc nào. Khi xe vào một hang đá, cậu lái xe nhá còi thì một tiếng vang như sét đánh ngang tai làm chúng tôi giật bắn. Cậu ta cười rồi nói, đó là tiếng dội lại của vách đá. Có điều lạ là, tiếng vọng ấy vang lên đủ ba lần mới tôi. Cậu lại cho biết, chỉ có núi đá ở đây mới có tiếng vọng ba lần như thế. Đi suốt đêm, gần sáng chúng tôi mới đến được thị xã Cao bằng còn đầm đìa trong sương đêm. Chúng tôi phải ngủ gục trên xe chờ đến giờ hành chính mới vào trong Ủy ban nhân dân tỉnh xin làm việc. Chánh văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh tiếp chúng tôi rất niềm nở. Tôi nhìn thấy trên bàn của ông có tờ tạp chí “Thời mới” của Liên Xô bằng tiếng Pháp. Tôi cầm lên khen: đồng chí chánh văn phòng đọc được “Temps Nouveaux” thì giỏi quá rồi. Ông kể với tôi, xưa kia nhà cũng khá giả nên được gia đình cho về Hà Nội học trường Bưởi cạnh Hồ Tây. Tôi nói: vậy là đồng chí cũng học một trường với bố tôi rồi. Chúng tôi trở nên thân mật và chính ông đã bố trí lịch để chúng tôi được gặp, ghi hình, cảnh (dựng lại) Ban thường vụ tỉnh ủy Cao Lạng họp để bàn về việc duy trì và phát triển rừng hồi ở Lạng Sơn. Cũng chính ông là người đã lục lại văn bản từ thời Pháp về quyết định trồng cây hồi ở Lạng Sơn để chúng tôi ghi hình. Nếu hình ảnh con hổ mang bành cổ múa điệu nghê thường với cô y tá mặc blu trắng, đàn cá basa hàng trăm con lao lên đớp mồi ở bè cá Châu Đốc … làm nên sự sinh động hấp dẫn cho phim truyền hình thì những văn bản được giới thiệu trên màn ảnh nhỏ về cây hồi Lạng Sơn tăng thêm chất lượng thông tin cho phim tài liệu mà chúng tôi làm. Trước khi về, tôi thấy cậu lái xe Đoàn 12 vay được 100 lít xăng của văn phòng ủy ban tỉnh Cao Lạng một cách ngon ơi. Tôi hỏi cậu ta: xa xôi thế này biết đến bao giờ Đoàn 12 các cậu trả được xăng cho người ta? Cậu giải thích: cán bộ các tỉnh miền núi về Hà Nội họp phải chở theo xăng trên xe, có lần do đường xóc, phi xăng đã nổ tung, gây tai nạn chết người. Vì thế họ đã nghĩ ra cách khi về Hà Nội thì vay xăng của chúng tôi để đi, khi nào chúng tôi chở khách thuê lên làm việc ở trên này thì họ trả lại. Lợi cả đôi đường nên đã thành lệ như thế lâu rồi. Cậu còn phán: “Các anh nhà báo thì biết gì” mà hỏi về chuyện xăng dầu! Kết thúc công việc, cậu lái xe về Hà Nội bằng đường Thái Nguyên cho gần hơn. Chúng tôi mừng rơn vì không phải quay lại đường 4, phải đi đêm. Nhưng có một sự việc làm chúng tôi nhớ đời: vừa rời thị xã Cao bằng được chục cây số thì thấy một cảnh rợn người. Một chiếc xe tải bị lật xuống ruộng, bốn bánh chổng lên trời. Tài xế và lơ xe mặt mày dính đầy dầu mỡ chỉ còn thấy 2 con mắt. Họ ngồi bên chiếc xe bị lật ngược như 2 pho tượng. Chúng tôi xuống xe và hỏi thăm nhưng không ai trả lời, rồi một người chỉ tay ra mé bờ ruộng. Tôi thất kinh thấy bốn cái xác chết xếp liền nhau. Mặt các nạn nhân được úp cái nón lên. Tôi lần lượt nhấc nón lên thì được biết ba người phụ nữ, một đàn ông, Mặt mũi họ đều lành lặn không chút xây xước. Cả đoàn quay phim chúng tôi đứng cúi đầu 1 phút mặc niệm họ, sau đó tôi bảo Minh Đại quay toàn cảnh tai nạn này để làm tư liệu. Người tài xế thấy chúng tôi có thiện ý như vậy nên bây giờ anh mới kể: một chiếc xe tải chở gỗ chạy ngược chiều, lấn đường lao rất nhanh về phía xe chúng tôi. Vì vội tránh dạt sang bên, nên bánh xe lọt khỏi mặt đường, xe lật ngược … Bốn người dân tộc đi nhờ xe họ ngồi trên các bao xi măng chất đầy thùng xe ở phía sau. Khi xe lật, cả bốn người bị xi măng đè lên. Lúc đó, tài xế và lơ xe bị choáng ngất đi ít lâu. Khi tỉnh lại cả hai vác xi măng ra để cứu họ như vì va đập mạnh và ngộp thở lâu nên đã tắt thở hết. Tôi hỏi: “Cái xe gây tai nạn đâu rồi?” Người tài xế không nhìn rõ mặt chỉ thấy 2 con mắt than phiền: tài xế gây tai nạn bỏ chạy rồi! Họ đã nhờ người đi đường chạy xe về phía thị xã Cao Bằng báo công an đến làm biên bản nhưng công an chưa tới (!) Tới lúc này thì chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào vốn sống của cậu lái xe. Chúng tôi đã chia tay các nạn nhân trong buổi sáng ảm đạm đó. Nhưng điều đau xót nhất với chúng tôi là khi phim tài liệu khoa giáo “Cây hồi Lạng Sơn” được phát sóng thì ngày 17/2 năm 1979 bọn Trung Quốc xâm lược tràn sang đã cướp phá, đã san bằng nhà máy tinh dầu hồi Lạng Sơn của ta nhập toàn bộ thiết bị hiện đại từ Pháp vừa mới được xây dựng xong. Cái nhà máy xinh đẹp mà từ xa chúng tôi đã ngửi thấy hương hoa hồi thơm nức cả núi rừng khi đến ghi hình nó. Cả ngôi trường phổ thông cấp 3 Việt Bắc, ngôi trường trung học lâu đời nhất của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vừa mới xây dựng xong, chờ năm học mới cũng bị san phẳng. Tôi đã chụp được hình ngôi trường này và viết một bài đăng trên báo “Người giáo viên nhân dân” sẽ ra ngày 15/8/1978. Bài có ảnh minh họa ấy, tôi còn giữ đến hôm nay, vừa tròn 34 năm khi tôi viết những dòng hồi ký này (17/2/2013). Bài viết có tên là: Ngôi trường nhiều tuổi nhất và “mới” nhất. Ngôi trường như tôi viết trong bài: Tên trường do bác Hồ đặt cho trong lễ khai giảng năm học 1946-1947 tại Kéo Kong. Đó là trường cấp 3 đầu tiên của nước Việt Nam mới. Hồi đó trường nhận học sinh của 6 tỉnh chiến khu Cao, Bắc, Lạng, Hà Tuyên, Thái và cả Quảng Ninh, Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Mỹ lại dời đi Cao Lộc… Năm 1973 về lại thị xã lạng Sơn. Yêu mến ngôi trường đầu tiên do Bác Hồ đặt tên, nhân dânthị xã Lạng Sơn đã cử cán bộ đi nhiều nơi để nghiên cứu mẫu trường đẹp. Đoàn đã chọn trường cấp 3 Hồng Quang thị xã Hải Dương. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Hưng đã cử một đoàn cán bộ xây dựng gồm 45 người lên giúp thị xã Lạng Sơn xây trường. Năm học 1978-1979 này, học sinh các dân tộc thị xã Lạng Sơn sẽ chính thức làm lễ khai giảng ngôi trường to và đẹp, vừa được xây dựng xong. Vậy mà, sau ngày 17/2/1979 ngôi trường vừa xây xong còn thơm mùi vôi vữa đã bị quân Tàu san phẳng. Có lẽ đây là bài viết mang kỷ niệm buồn nhất trong đời làm báo của tôi. Ít lâu sau ngày 17/2 quân Trung Quốc thua trận rút khỏi các tỉnh vùng núi phía Bắc của ta, “sếp” Hán đưa tôi một truyện ngắn mag tên “Người con gái bản Nà Lầu” của nhà văn Hoàng Quốc Hải đăng trên báo Văn Nghệ Hội nhà văn, ông bảo tôi; mày chuyển thể cái truyện ngắn này sang kịch truyền hình để dựng. Tôi đọc kỹ và thấy đây là một truyện ngắn hay, mang tính nhân văn sâu sắc. Câu chuyện về bi kịch của một cặp vợ chồng trẻ, vợ người dân tộc, chồng là người gốc Hoa sống ở một làng biên giới 2 nước Việt-trung. Cặp vợ chồng này đã trở thành nạn nhân rất bi thương khi hai nhà nước có chiến tranh với nhau. Đầu năm 1979, Đài truyền hình trung ương nhập thiết bị truyền hình màu đầu tiên và làm thử chương trình màu. Lúc này Ban khoa giáo Đài truyền hình đã được “sếp” Hán tổ chức thành Trung tâm nghe nhìn trực thuộc Đài, chuyên sản xuất các chương trình văn hóa-xã hội-văn nghệ cho Đài. Chính nó là tiền thân của VTV3 sau này. Vở kịch “Người con gái bản Nà Lầu” được trung tâm nghe nhìn sản xuất. Đây là một trong những chương trình màu đầu tiên của Đài. Khi ghi hình vở kịch này trong trường quay, các chuyên gia kỹ thuật truyền hình màu Cộng hòa Dân chủ Đức – nước giúp ta thiết bị này – cũng có mặt. Vở kịch diễn ra khá sinh động. Đạo diễn Trần Đức, sắm vai tên sĩ quan Trung Quốc xâm lược rút súng bắng đoàng đoàng trên sân khấu… Một vị chuyên gia hỏi “sếp” Hán, ai là tác giả kịch bản này? “Sếp” Hán trỏ tay vào tôi, gã đàn ông gầy còm ốm yếu chưa đến 40 tuổi đang đứng ở một góc trường quay. Vị chuyên gia lại gần, bắt tay tôi, rồi nói (qua phiên dịch): ở đất nước chúng tôi, viết kịch cho Đài truyền hình quốc gia phải là những nhà văn nổi tiếng và đã lớn tuổi. Tôi giải thích: tôi chỉ là tác giả chuyển thể một truyện ngắn cùng tên của một nhà văn cùng tuổi với tôi. Nghe xong ông tỏ ý rất vui và kéo tôi ra hành lang trường quay chụp hình. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 25, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/25/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-18/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 19): https://www.minds.com/newsfeed/1019883441955704832?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 17): https://www.minds.com/newsfeed/1019882624677130240?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
14 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 17) Chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XNCH” đã đưa tôi đến nhiều nơi ở phía Bắc vĩ tuyến 17. Từ vùng vàng đen Đông Bắc của tổ quốc đến đồng bằng Bắc Bộ, miền núi phía Bắc… Tôi nhớ mãi chuyến đi viết phóng sự dài ngày ở Lạng Sơn. Nếu miền Tây Bắc “vời vợi nghìn trùng”, vùng núi Cao bằng hùng vĩ, miền cao nguyên đá Hà Giang cheo leo hiểm trở thì miền núi xứ Lạng là một “bình nguyên” của núi đồi, được hình thành bởi những tầng địa chất của tâm linh, của ca dao và cổ tích. “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh Ai lên xứ lạng cùng anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…” Quả thật là chúng tôi cũng không bõ công lên xứ Lạng. Tôi viết được những phóng sự thu thanh có tiếng nói của bà con Tày, Nùng rất thiết thực cho đài quốc gia. Bà con dân tộc ở quanh thị xã Lạng Sơn đã trồng được đậu tương với năng suất cao hơn miền xuôi nhiều. Rồi, một hợp tác xã nhỏ trong mấy tháng đã bán cho nhà nước hàng chục tấn thuốc lá Lạng Sơn thái mỏng vàng ươm, thứ nguyên liệu rất cần cho nhà máy thuốc lá Thăng Long ở Hà Nội. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có giao lưu với bên ngoài từ lâu đời nên con người ở đây lịch lãm. Tôi và anh bạn đồng nghiệp ngủ trên gác nhà công quán, nguyên là nhà cổ từ thời Pháp mới sang ta đặt nền cai trị. Sàn nhà bằng gỗ, chỉ khi nào khách thức giấc, nện gót giầy lên sàn gỗ cộp cộp… thì cô phục vụ mới mang bình thủy nước nóng lên, đặt trước cửa ra vào gõ nhẹ vào cửa báo cho khách biết. Ở nơi này, từ cô nhân viên phục vụ đến người đứng đầu thị xã đều tỏ ra là những nhà ngoại giao từng trải mà chân thành. Buổi làm việc với bí thư thị xã cũng đầy ấn tượng, ông đứng hẳn dậy để nói lời “thay mặt nhân dân” cám ơn hai nhà báo, rồi lại ngồi xuống ghế. Cách tiếp khách của ông thật giản dị và chu đáo, là món quà tinh thần theo mãi chúng tôi về xuôi. Đó là 2 gói xôi đậu đen nóng gói trong lá chuối tươi buộc lạt rơm cẩn thận. Ông nói: chúng tôi tặng 2 nhà báo đi tàu về xuôi ăn đường. Dạo ấy tàu lạng Sơn-Hà Nội chạy mất cả ngày. Đến trưa chúng tôi giở ra ăn thấy cả gói muối vừng… Sau chuyến đi ấy, ngoài những bài phát trên đài, tôi đã viết cho báo Nhân Dân số ra ngày 28/12/1977 ở mục “Hình ảnh nông thôn mới”, bào “Đồng rau Khỏn Thác” có ảnh kèm theo. Chỉ hơn sau 2 năm công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi đã nhận được sự đánh giá tốt của lãnh đạo Đài. Một hôm, trưởng phòng biên tập chương trình “Trên miền Bắc XHCN” bảo tôi: cậu mới về Đài mà đã được Tổng biên tập Trần Lâm khen bài viết trong một cuộc giao ban. Ít khi ông Lâm khen cụ thể một bài viết. Tôi sẽ đề bạt cậu lên phó phòng và chắc chắn lãnh đạo sẽ ủng hộ. Nghe xong ý kiến của ông trưởng phòng tôi đã bỏ đi chơi suốt một tuần. Nghe Đào Cảng đọc thơ, nghe Vân Long tán hươu tán vượn trên đất Cảng! Khi về cơ quan, trưởng phòng tôi là anh VB, người rất hám quyền lực đã lắc đầu nói: Ông vô kỷ luật quá, không làm lãnh đạo được! Sở dĩ tôi cố tình bỏ đi chơi một tuần lễ như thế để gián tiếp nói với ông trưởng phòng là tôi không hám gì chức vụ, đừng bao giờ đặt vấn đề đó với tôi – một người chỉ thích cầm bút. Đây cũng chính là vấn đề then chốt của báo chí, của văn học. Nó chứng tỏ rằng ở Việt Nam và nhiều nước XHCN khác, không có báo chí, văn học đích thực. Ở các nước có tự do báo chí, tờ báo, đài phát thanh, truyền hình do tư nhân quản lý. Tổng biên tập, chủ báo cần bán được báo, cần người xem đài, nghe đài để có nhiều quảng cáo… nên người ta cần các ký giả, các cây bút có tiếng tăm, “sản xuất” ra nhiều bài vở hay, chương trình hay cho họ. Các nhà báo nổi tiếng như Burchett hay Jean Lacouture… suốt đời làm phóng viên. Burchett từng có mặt ở Hiroshima khi Mỹ ném bom nguyên tử, từng đến vùng giải phóng ở miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Jean Lacouture làm phóng viên cho tờ nhật báo “Combat” do văn hào từng đoạt giải Nobel Albert Camus làm chủ bút và ông từng làm phóng viên cho tờ báo nổi tiếng “Le Monde”. Khi cuộc xung đột ở kênh đào Suez nổ ra, ông làm phóng viên thường trú cho báo “France Soir” tại Ai Cập (1953-1956). Về Pháp ông làm bình luận viên, phóng viên cao cấp ch otờ tuần báo “Le Nouvel Observateur” … Ông được xem là nhà sử học lớn, chuyên viết tiểu sử các danh nhân (trong đó có cuốn về Hồ Chí Minh, xuất bản 1967). Ông là tác giả của trên 60 đầu sách có danh mục các tác phẩm của mình trên các mạng điện tử. Cả Burchett và Jean Lacouture chưa bao giờ làm phó phòng hay trưởng phòng biên tập như ở nước ta cả. Ở nước ta báo chí chỉ có một thang bậc giá trị là chức vụ hành chính. Và thực chất, các nhà báo của chúng ta là những ông công chức trong cơ quan nhà nước. Họ chỉ có thể tiến thân bằng con đường quan chức báo chí. Vì thế, có thể nói nước ta chưa có báo chí, chưa có “nhà báo” đúng nghĩa vì chỉ có báo quốc doanh. Thậm chí, có nơi chẳng “doanh” gì cả. Họ lấy tiền công quỹ ra để in báo rồi biếu không cũng chẳng ai đọc. Một phóng viên dù tài giỏi đến đâu nếu không có một chức ssắc gì trong cơ qua, thì cũng chỉ là nhân viên hạng… chót! Tôi còn nhớ, năm 1998 tôi được giải B (không có giải A) của giải báo chí toàn quốc. Tôi được huy chương vàng trong liên hoan phát thanh toàn quốc, được cơ quan thường trú tại TP HCM cử ra Hà Nội nhận giải. Khi đi, ông cán bộ trưởng phòng cùng đi thì được cơ quan mua vé cho đi máy bay. Còn tôi, nhân vật chính trong đoàn đi nhận giải phải đi xe lửa… vì không có tiêu chuẩn đi công tác bằng máy bay (tôi chỉ là anh phóng viên, không phải cán bộ cấp phòng(!)). Mặc dù sống trong một cơ chế đầy rẫy sự vô lý và bất công, biết vậy nhưng tôi vẫn muốn làm phóng viên suốt đời, ví tôi thích đi và thích viết. Tôi cũng thừa hiểu, là anh cán bộ quèn thì “khổ” suốt đời (như phải đi xe lửa suốt đời). Nhưng điều băn khoăn nhất của tôi là báo chí nước ta không thể có những Burchett, những Lacouture được, vì ở cơ quan báo chí của ta, chỉ có một thang bậc giá trị là cấp bậc hành chính, chức vụ. Nói rộng sang lĩnh vực khác như ngành Y chẳng hạn, cũng khốn nạn không kém. Một vị bác sĩ giỏi có khi phải rời phòng mổ, rời phòng khám để… phấn đấu làm chủ nhiệm khoa, làm phó giám đốc, rồi giám đốc bệnh viện thì mới “khá” được! Có một chuyện đáng buồn như thế này, khi chiến sự ở Irak nổ ra, một tờ báo ở TP HCM năng nổ cử phóng viên thạo tiếng Anh đi Iraq viết tin, bài… thì lập tức bị cấp trên phê phán là chưa báo cáo xin phép! Những năm về sau này, mỗi khi diễn ra đại hội nhà báo thì nhìn vào thành phần tham dự là 100% tổng biên tập các báo, các đài phát thanh và truyền hình trung ương và địa phương, không hề có một phóng viên, một nhà báo có tên tuổi nào, một cây bút được giải báo chí nào được cử đi đại hội. Các vị Tổng biên tập xúng xính comple, caravat đi Hà Nội dự đại hội. Độc giả, thính giả trên cả nước chẳng hề biết họ là ai, chẳng nghe thấy tên tuổi họ trên các bài báo, các chương trình phát thanh truyền hình nào. Đến nỗi, báo Tuổi Trẻ ở TP HCm có lần phải viết bài chỉ trích là đại hội các tổng biên tập, không phải đại hội nhà báo! Đầu năm 1978 tôi được điều động sang Đài Truyền hình trung ương (truyền hình Việt Nam sau này) ở Giảng Võ. Truyền hình nước ta được làm thí điểm, phát sóng từ Đài Tiếng nói Việt Nam trước 1975 sau tách thành một đài riêng lấy tên là Đài truyền hình trung ương. Ủy ban phát thanh và truyền hình VN được thành lập bao gồm 2 Đài, phát thanh và truyền hình do ông Trần Lâm làm chủ nhiệm. Đa số cán bộ phóng viên của truyền hình trung ương là của Đài Tiếng nói Việt Nam điều động sang. Tôi và một số đồng nghiệp được đưa sang truyền hình trung ương để “tăng cường” chất lượng cho truyền hình. Thật là khôi hài, không được học hành một ngày nào về nghiệp vụ truyền hình vậy mà lại được đưa sang đó để “tăng cường”. Sau buổi tiếp xúc đầu tiên, phó Tổng biên tập Đài Truyền hình trung ương là Nguyễn Văn Hán, một con người từng trải, nhiều mưu lược được mệnh danh là “Hán Cao Tổ” tuyên bố với chúng tôi: các cậu là những thằng không biết bơi, nhưng tớ cứ đạp các cậu xuống sông, bơi kiểu gì cũng được, miễn là sang được bở bên kia, thằng nào không bơi được thì… chết đuối! Chúng tôi, trong đó có nhà báo Trường Phước, một phóng viên truyền hình rất nổi tiếng sau này, đã bước vào lãnh vực truyền hình bằng những lời giáo huấn đầy chất humour (khôi hài) của “Hán Cao Tổ” như thế. Xét cho cùng thì, như nhà báo Phan Quang viết: “… Đến thời đại tin học, thông tin bùng nổ, báo chí ngày càng đa dạng, vậy mà cho đến ngày hôm nay chưa một loại hình truyền thông nào dám tuyệt đối không sử dụng đến ngôn từ”. (Tầm nhìn. NXB Lao Động, 2013. Tr. 98). Đó là một nhận xét rất căn cơ. Làm báo viết cũng như làm báo nói phát thanh – cái cốt lõi vẫn là nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Truyền hình là hình ảnh động, nhưng muốn có một tác phẩm truyền hình chất lượng thì phóng viên vẫn phải sử dụng đến ngôn từ trong khi viết kịch bản và vẫn rất cần đến lời (ngôn từ) thuyết minh cho hình ảnh một cách khúc chiết, sáng sủa, đanh thép, sinh động. Đó là gì, nếu không phải là nghệ thuật của ngôn từ. Những phóng viên “cứng tay” trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ phát thanh sẽ mau chóng biết làm truyền hình. Nếu để ý, người ta sẽ thấy hai phóng viên truyền hình nổi tiếng ở miền Bắc là Trường Phước và ở miền Nam là chị Minh Thu Đài Truyền hình TPHCM đều rất thành công cho các chương trình truyền hình của mình, dù là phim tài liệu hay phóng sự… Khi tôi rời Đài Truyền hình trung ương, vô Nam làm ở Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang, rồi lại trở về Đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ quan thường trú tại TP HCM, tôi thường được các phóng viên Đài THVN “thuê” viết lời thuyết minh cho các chương trình truyền hình họ vừa dàn dựng xong phần hình ảnh. Tôi hỏi nữ phóng viên quay phim gạo cội Bạch Vân của cơ quan thường trú Đài THVN tại TP HCM: vì sao các vị đi quay về, dàn dựng xong, nắm vấn đề từ khi viết lịch bản, chỉ còn khâu cuối cùng là thuyết minh lại phải kêu tôi làm…? Chị trả lời: viết thuyết minh là khâu chúng tôi ngại nhất! Rõ ràng là động tới ngôn từ. Lời thuyết minh phải ăn nhập với hình ảnh truyền hình, ngắn gọn và dễ hiểu, nâng chất lượng thông tin của hình ảnh lên, làm nổi bật chủ đề của kịch bản. Người Pháp có câu ngạn ngữ: “Không gì khó bằng viết cho dễ hiểu” là vậy. (Rien n’est plus difficileque d’ecrire facille). Khi giảng dạy ở trường trung học phát thanh truyền hình trực thuộc Đài TNVN tại Tp HCM tôi đã đưa ra câu hỏi như sau: cho các em xem một bản tin truyền hình, nhưng chỉ được xem hình mà không được nghe phát tiếng hoặc không cho xem hình (che màn hình lại) chỉ cho nghe tiếng… rồi các em phải cho biết nội dung của bản tin truyền hình đó, các em chọn hình thức nào? Tất cả đều chọn không xem hình mà được nghe tiếng. Rõ ràng ngôn từ có một vai trò đặc biệt trong các loại hình thông tin đại chúng, cho dù đó là loại hình lấy hình ảnh làm ngôn ngữ chính như truyền hình. Các cụ ta xưa kia dậy: “Học thầy không tầy học bạn”. Tôi đã chọn cách “học bạn” để làm truyền hình. Tôi đi theo đạo diễn kiêm biên tập viên Trần Cương để học nghề. Trần Cương học hành bài bản về báo chí từ Liên Xô về, anh rất giỏi tiếng Nga. Tôi đi theo Trần Cương từ lúc anh đi thu thập tài liệu để viết kịch bản rồi đọc kịch bản anh viết, rồi theo ê kíp làm phim của anh (thường là ba người: biên tập viên viết kịch bản 7 biên tập viên, đạo diễn và quy phim) cho đến khi quay ở hiện trường xong, lại theo anh vào phòng dựng phim để làm hậu kỳ. Khi phim được dựng xong, xem cách các anh lồng nhạc và đọc kỹ lời thuyết minh cho phim do biên tập viên viết. Theo từ đầu đến cuối một chu kỳ làm phim cho đến khi chương trìnhz được duyệt và phát sóng, tôi đã nắm được cách làm phim truyền hình. Có thể tự độc lập làm một chương trình cho mình. Cái khó nhất vẩn là tìm kiếm được đề tài, chủ đề hay “ăn khách” cho một tiết mục truyền hình để thực hiện. Riêng khâu viết kịch bản là cả một vấn đề được trao đổi, tranh cãi. Kịch bản cho một phim truyền hình chỉ là một đề cương hay một phân cảnh cụ thể, chi tiết? Rất nhiều ý kiến khác nhau. Riêng “Hán Cao Tổ” thì lại phán một câu xanh rờn: chúng mày muốn viết cái gì thì viết nhưng đừng gọi nó là “kịch bản” để đưa tao duyệt! Làm riết rồi chúng tôi rút ra một kết luận: phải ăn ý nhau trong một ê kíp làm phim. Ý đồ của biên tập viên phải được cả nhóm (đạo diễn và qua phim) hiểu và thực hiện một cách sáng tạo. Tác phẩm truyền hình bao giờ cũng là một sản phẩm của tập thể, mang tính tập thể. Sau này, có tác giả viết kịch bản rồi tự đạo diễn rồi cầm máy quay luôn. Đó là trường hợp hiếm. Tôi đã xa truyền hình ba chục năm nay, không biết hiện nay các đồng nghiệp của mình tác nghiệp ra sao, nhưng cái thời tôi làm truyền hình thì như thế. Thời đó chưa có camera quay băng nhựa video, chưa có kỹ thuật số, phải quay bằng phim nhựa 16 ly. Có chương trình quay cả tháng trời mới xong, đến khi đem phim nhựa về in tráng thì cả đêm, cả nhóm làm phim không ai ngủ được. Mong đến sáng để đến Đài xem kết quả tráng phim thế nào. Đi quay phim việc đầu tiên trước khi về cơ quan là lo mua quà cho chị em ở bộ phận tráng phim. Chỉ sợ chị em “mất lòng”, pha thuốc hiện hình không cẩn thận rồi đổ lỗi cho quay phim thiếu sáng thừa sáng là… đi đứt cả tháng trời lao động! Với cái lý lịch từng là thầy giáo 9 năm, khi sang làm việc ở Đài truyền hình tôi được phân công về Ban khoa giáo, để làm phim về các đề tái giáo dục và khoa học. Tôi chọn một đề tài khá hấp dẫn là làm một phim khoa học có tên là “Con rắn hổ mang”. Do quen biết với Ph.D Trần Kiên, chủ nhiệm khoa Sinh học trường ĐHSP HN. Tôi chọn một đề tài làm phim khoa học từ bản báo cáo khoa học của Trần Kiên: “Nghiên cứu sinh học rắn hổ mang để chăn nuôi lấy nọc làm thuốc và xuất khẩu”. Đây là một đề tài khoa học lý thú vì từ xưa đến nay, con người ác cảm với con rắn, đặc biệt là rắn độc. Ca dao ta có câu: “Rắn đến nhà không đánh cũng quái, gái đến nhà không chơi cũng kỳ!” Trần Kiên đã nói với tôi một câu rất hình ảnh và sâu sắc: con người thật sai lầm khi gọi kẻ thù nguy hiểm nhất của mình là rắn độc. Con rắn chỉ độc khi người ta không biết gì về nó, không tranh thủ được gì ở nó mà thôi. Chúng ta phải thay đổi tư duy về loài rắn. Đọc bản báo cáo khoa học của Trần Kiên tôi mới vỡ lẽ ra rằng, mỗi con rắn độc một khác. Rắn lục độc vào máu. Rắn hổ mang độc vào hệ thần kinh. Khi bị rắn hổ mang cắn, chỉ sau vài phút nạn nhân bị nhiễm độc vào hệ thần kinh đau quằn quại và chết. Chỉ cần một gam nọc độc của rắn hổ đủ làm chết 1000 con thỏ nặng 2000 kg, một số ngựa nặng 20.000kg, 160 người trung bình mỗi người nặng 60 kg. Vì thế hổ mang được xem là vua của các loài rắn độc. Hai cái túi không khí ở hai bên cổ của nó bành ra làm tăng thêm vẻ hung tợn khi cần áp đảo đối phương. Người ta thống kê ở Úc từ năm 1910 đến 1926 có 195 người chết vì rắn độc. Ở Ấn Độ con số này còn lớn hơn nhiều. Ngày nay Y học hiện đại đã dựa vào tính độc thần kinh của rắn hổ để chế thuốc giảm đau trong bệnh ung thư, viêm khớp, đau thắt lồng ngực. Gần đây người ta còn tách từ nọc rắn hổ một chất có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Nọc rắn hổ trở thành một dược liệu quý có giá trị xuất khẩu cao. Giá rắn hổ sống trên thị trường quốc tế là 16 Mỹ kim 1kg và 1 gram nọc rắn tương đương 23 gram vàng. Rắn hổ ở nước ta nhiều hơn ở bất kỳ một nước nào trên thế giới vì thế anh Trấn Kiên đã chọn đề tài nghiên cứu để bảo tồn loại sinh vậy quý này, cảnh báo xu hướng săn bắt bừa bãi có nguy cơ làm diệt chủng loài hổ mang. Từ khi tốt nghiệp về nước, Trần Kiên đã hơn 20 năm cùng học trò của mình tìm kiếm, đào bới hang ổ, nghiên cứu con rắn từ hình thức nuôi tại nhà đến phẫu thuật trong phòng thí nghiệm để phân tích máu. Bản báo cáo của anh đã chỉ rõ những quy luật sống, tập tính tập quán của loài rắn hổ và đề xuất một phương pháp chăn nuôi con vật hoang dã này. Từ công trình nghiên cứu của Trần Kiên một loạt xí nghiệp dược phẩm ở Hà Sơn Bình, Quảng Nam Đà Nẵng, ở xã Vĩnh Sơn huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú đã ra đời. Theo kịch bản của tôi, tốp làm phim của Ban khoa giáo Đài đã theo chân Trần Kiên từ Hà Sơn Bình vào xứ Quảng quay các cảnh đào bới, chăn nuôi, lấy nọc… và cả những điệu múa rắn nghê thường của các cô y tá ở trại rắn của xí nghiệp dược Quảng Nam với bầy rắn hổ mang… bành cổ khiêu vũ!!! Có lần chúng tôi phải nằm chờ cả tuần ở xã Vinh Sơn để quay cảnh con rắn hổ mới nở, chui từ trong trứng ra. Nó chỉ bé bằng que đũa mà đã bạnh cổ phun phì phì! Có cả cảnh quay trong phòng ngủ của Trần Kiên, thức dậy việc đầu tiên là anh quờ trong gầm giường để nâng niu con rắn hổ lên. Anh tuyên bố: nó hiền như đất… nếu ta không tấn công nó. Năm 1986, bản luận án về rắn hổ mang ở đồng bằng Bắc Bộ của anh được công nhận loại ưu ở Mátxcơva. Một GS Mỹ trong hội đồng chấm đã cho rằng, nghiên cứu loài bò sát thì nhiều, nhưng riêng con rắn hổ (cobra) hung dữ thì phải cấp thêm một bằng tiến sĩ nữa về lòng dũng cảm cho Trần Kiên. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 22, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/22/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-17/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 18): https://www.minds.com/newsfeed/1019883056841072640?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 16): https://www.minds.com/newsfeed/1019882351137206272?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 19) Nói đến cái gọi là trường quay của Đài truyền hình trung ương, tôi không thể không nhắc đến một nhân vật “độc đáo” của truyền hình Việt Nam là đạo diễn Khải Hưng. Số là, Ban khoa giáo của Đài không có riêng một trường quay để thực hiện các chương trình của Ban như: dậy ngoại ngữ trên Đài, tọa đàm, phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng, thực hiện các tiết mục văn nghệ vv… vv… Mỗi lần ghi hình phải đăng ký trường quay. Đa số các biên tập viên, biên kịch của khoa giáo là những người tốt nghiệp Khoa Học Xã Hội, không thạo về kỹ thuật điện đóm, ánh sáng, âm thanh… Vì thế, mỗi lần thu hình đầu bị các kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật ở trường quay làm khó dễ, “bắt nạt”. Sở dĩ tôi thích đi làm phim ngoài trời từ khi sang truyền hình vì không muốn các nhân viên trường quay, vốn là các “con ông cháu cha” được tuyển vô truyền hình hạnh họe mình. Tình trạng hay cãi lộn thường xảy ra ở trường quay và cuối cùng thì các biên tập viên đều thua vì bị “úm ba la” về kỹ thuật. Trong hoàn cảnh đó của Ban khoa giáo, tôi nghĩ đến Khải Hưng. Anh là giáo viên dậy vật lý ở trường cấp 3 Cẩm Giàng tỉnh Hải Hưng cùng với tôi. Khải Hưng đẹp trai, thông minh, dậy giỏi, và đặc biệt là tính tình của anh rất “du côn”, cuồng loạn. Anh được mệnh danh là “Hưng cuồng” thời còn dạy học cùng tôi. Lúc Khải Hưng bỏ biên chế dạy học về Hà Nội, sống lang thang và chưa có việc làm ổn định. Tôi đề xuất “sếp” Hán nhận Khải Hưng về Ban khoa giáo. Với lý lịch giáo viên cấp 3, anh làm khoa giáo là hợp lý. Với trình độ chuyên môn vật lý (điện, ánh sáng, tiếng động…) của anh, thì các biên tập viên không ai còn bị lo “bắt nạt” khi Khải Hưng có mặt trong trường quay. Rất may là “sếp” Hán nghe bùi tai nên nhận anh về Ban. Nhưng khi nghe tin Khải Hưng sắp được nhận về truyền hình thì chính người cậu của anh là Ph.D Ngoạn, cục trưởng Cục kỹ thuật của Đài lại nói với ông Hán: thằng Khải Hưng mất dậy lắm, không nhận nó về Đài được. Nghe vậy, “sếp” Hán giận lắm, ông gọi tôi lên phòng và nói lại lời của Ph.D Ngoạn. ông còn đay nghiến: Mày giới thiệu cho tao một thằng mất dậy đến nỗi chính cậu nó cũng không muốn nhận. Tôi bình tĩnh nói với thủ trưởng của mình: chúng ta đang rất cần một thằng mất dậy để trị những thằng mất dậy trong trường quay là gì? Tôi đã tìm được đúng người, đúng việc cho Ban ta còn gì nữa. Sau đó “sếp” Hán xuôi tai liền nhận Khải Hưng về Đài. Y như rằng, từ khi có Khải Hưng, trường quay không còn cảnh cãi lộn. Không ai qua mặt được anh về khâu điện, ánh sáng, âm thanh… mà trước đây các biên tập Ban Khoa giáo bị bịp, bị bắt nạt. Thấy Khải Hưng có khả năng, Đài cho anh đi học một khóa đạo diễn. Học xong về Đài anh làm được một phim truyện nổi tiếng, đó là phim “Lời nguyền của dòng sông”, chuyển thể từ truyện ngắn “Mùa hoa cải bên sông”. Công bằng mà nói, công của nghệ sĩ nhân dân Trịnh Thịnh sắm vai ông lão thuyền chài trong phim này rất lớn. Trịnh Thịnh lớn tuổi nên ông hiểu được tâm lý, tác phong của người già nên vào vai diễn rất đạt. Nhờ có diễn viên gạo cội Trịnh Thịnh góp sức mà Khải Hưng làm được phim truyện nổi tiếng này. Khi đã trở thành một đạo diễn nổi tiếng, Khải Hưng vào Đảng và trở thành giám đốc của Hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc Đài THVN). Anh ta vẫn “cuồng” như xưa. Khi làm phim, Khải Hưng luôn mồm chửi diển viên: địt mẹ con đĩ… mày diễn thế à! Có lần gặp một đoàn phóng viên truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ, tôi hỏi chị em: thằng Khải Hưng dạo này còn chửi bới luôn mồm không? Chị em ngạc nhiên quá. Sao ở tận Cần Thơ mà anh rành Khải Hưng thế!? Vợ tôi mỗi lần xem truyền hình thấy Khải Hưng phát biểu, lại bảo tôi: chú Hưng lại ba hoa anh ạ! (chả là khi còn dạy chung ở trường Cấp 3 cùng tôi, vợ tôi vẫn gọi Hưng là chú vì y ít tuổi hơn tôi nhiều). Anh Ngô Như Hà, giáo viên dậy hóa cùng trường với chúng tôi, vì bị bệnh phổi, không dạy học được nữa nên anh xin nghỉ và về Hà Nội. Để kiếm sống, anh ngồi sửa xe ở trước cửa nhà mình (số 102 đường Minh Khai). Nhà Khải Hưng ở làng Quỳnh Lôi, hàng ngày anh đi làm phải qua Minh Khai. Có lần tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội có đến chơi thăm Hà. Vợ anh bảo: chú Hưng ngày nào cũng đi qua đây, nhưng thấy anh Hà nhà em thì quay mặt đi. Người phụ nữ miền Bắc gọi bạn của chồng mình bằng “chú” là thân tình lắm. Tức là có một thời gian dài họ đến nhà nhau chơi, đến mức vợ có thể xưng hô với bạn của chồng một cách thân mật bằng chú! Báo chí “lề phải” nhất là tạp chí truyền hình VTV, nhiều khi “bốc” Khải Hưng đến mức tôi đọc thấy phát ngượng cho cả người viết và người được viết về mình. Một thiết chế đặc quyền phương tiện thông tin thì “bốc” ai lên mà chả được. Nhân cách cứ thế mà xuống thấp dần, tha hóa dần vì không có thông tin đa chiều. Nói đến truyền hình Việt Nam mà không nói đến Tổng giám đốc Vũ Văn Hiến thì thật là thiếu sót. Hiến học ở Ba Lan về. Khi tôi về Ban miền Nam của Đài cuối năm 1974 thì Hiến đang là phóng viên của Ban. So với các cây bút như Trung Ngôn, Viễn Kính, Phan Đắc Lập, Trúc Thông, Nguyễn Thị Quý, … thì Hiến là một phóng viên mờ nhạt. Sau 1975, Ban miền Nam giải tán, Hiến lại về làm việc cùng phòng với tôi ở chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XHCN”. Hiến là đề tài cho cả phòng bình luận về sự ngô nghê, ngớ ngẩn của anh. Vợ đẻ con so, anh hỏi tôi: vợ tôi có ăn cà chua được không? Tôi trả lời: có! Vài bữa sau anh lại hỏi tôi, vì biết tôi đã có 2 con: vợ tôi có ăn cá mè được không? Tôi giả vờ suy nghĩ ít phút rồi vỗ trán trả lời: được! Phòng tôi được phân phối một cái giấy đi viếng lăng Bác. Trong giấy cho phép đi 4 người. Tôi và anh Hiến cầm giấy phép đi lên lăng Bác. Khi vô cửa, công an gác cửa xem giấy hỏi: sao giấy 4 người lại đi có 2 người. Hiến mau miệng trả lời: một đồng chí vì đi ỉa chảy…!!! Viên công an trợn mắt quát: vô ý thức với Bác! Tôi thấy vậy kéo Hiến lại rồi cả 2 ra về. Nhất định tôi lôi anh phải đi về. Đi được một đoạn xa tôi mới bảo hiến: sao mày ngu thế, mình là nhà báo, chỉ cần nói là 2 đồng chí đi tháp tùng các vị lãnh đạo có phải êm không. Thằng công an kia, mình vô ý thức với nó đã đủ chết, đằng này nó lại nâng quan điểm lên là “vô ý thức với Bác” thì chỉ có nước đi tù mọt gông. Tao phải kéo mày về vội là vì thế(!) Hiến vừa đi vừa làu bàu: hồi ở Liên Xô chính tôi đã dẫn các ông lãnh đạo Việt Nam đi viếng lăng Lê Nin. Vậy mà về nước, viếng lăng Bắc củng không được. Ngẫm nghĩ một lát, Hiến than phiền: hễ đi viếng lăng là thế nào cũng có giai thoại, rồi Hiến kể cho tôi nghe câu chuyện đi viếng lăng Lê Nin. Kể: ở Liên Xô hồi đó, thanh niên Nga bắt chước bọn hippy phương Tây để tóc dài, râu dài… lệnh trên xuống là ai tóc dài râu dài không được vô viếng lăng. Thế là một hôm Lê Nin bật nắp quan tài kính dậy, đi ra cửa lăng, tát cho tên thiếu tá chỉ huy canh gác lăng một cái nổ đom đóm mắt. Rồi mắng rằng: từ nay những đứa tóc dài cũng phải cho vào viếng, có phải đứa nào cũng đầu hói như tao đâu(!) Tôi đem câu chuyện đi viếng lăng Bác với Hiến kể cho anh em trong Đài nghe. Ai cũng ôm bụng cười. Chưa hết, khi đoàn nhà báo ở Đài truyền hình Ba Lan sang ta đi thực tế để quay phim về nhà ổ chuột ở Sài Gòn (để tố cáo xã hội Mỹ ngụy), Hiến được cử đi phiên dịch. Quay phim xong, xe chạy ngày đêm từ Sài Gòn ra đến Hà Nội thì trời đã tối không thuê được khách sạn. Một vị trong đoàn Ba Lan đề nghị: về nhà thằng Hiến ngủ tạm một đêm. hiến nghe thấy thế sợ quá, bỏ luôn các bạn đồng nghiệp trên xe… rồi biến mất. Hôm sau anh đến cơ quan kể lại sự việc này với chúng tôi rồi kết kuận: nhà tôi trong khu tập thể ở Đại La còn… hơn cái khu ổ chuột ở Sài Gòn(!). Chưa hết, khu tập thể của Đài “còn hơn cái ổ chuột” bị cháy. Hiến lao về… thì thấy bà mẹ anh đã chạy được hộp đựng tem phiếu ra sân và đang ngồi thở. Anh hỏi: cháu đâu (tức thằng con anh). Bà mẹ mới hoảng hồn chỉ vào trong nhà. Hiến lao vào bê thằng con ra khi lửa đã bén vào gần đến chiếc nôi(!) Kể lại câu chuyện này cho mọi người nghe, tôi vẫn còn nhớ một lời “bình luận” đau điếng thế này: bà mẹ này thật là thông minh khi cứu hộp tem phiếu trước, vì nếu cháy hết tem phiếu thì sẽ chết cả nhà! Có câu chuyện nào tố cáo thời bao cấp lại hay hơn chuyện này? Xin bạn đọc chép lại cho đời sai để con cháu chúng ta biết về một thời XHCH! Khi tôi rời Đài tuyền hình trung ương vô Nam đầu năm 1981 thì Hiến vẫn còn là phóng viên ở Đài THVN. Vậy mà không biết bằng con đường nào mà Vũ Văn Hiến trở thành ủy viên trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài THVN nhanh như thế! Khi là ông ủy viên trung ương rồi, một lần Hiến vô Sài Gòn, Hữu Tính xưa kia là trợ lý của trưởng Ban miền Nam Đài tiếng nói Việt Nam, người đã cùng tôi đi phỏng vấn Gs Tôn Thất Tùng như đã kể ở phần trên, bảo với Hiến: anh Thái Bảo thủ trưởng của tớ và cậu ở Ban miền Nam trước kia hiện đang bệnh nặng bây giờ cậu là ủy viên trung ương rồi, tớ biết nhà anh Thái Bảo để tớ đưa cậu đến thăm động viên anh thì tốt biết mấy… nhưng Hiến lờ đi. Chỉ ít lâu sau, anh Thái Bảo, vị thủ trưởng đáng kính của chúng tôi qua đời. Hôm tiễn đưa anh, Hữu Tính vẫn nhắc đến chuyện “thằng Hiến nhiều lần tôi đã bảo nó đến thăm anh Thái Bảo mà nó cứ lờ đi!” Hiển nổi tiếng là người hay đi thăm hỏi và quà cáp cho cấp trên từ lâu rồi, nhưng chỉ là người còn chức quyền thôi, không phải là người đã nghỉ hưu như anh Thái Bảo (mà anh em ở Đài tiếng nói Việt Nam rất yêu quý, kính trọng). Anh Thái Bảo còn là thư ký riêng cho tướng Nguyễn Bình và là một cán bộ lãnh đạo mẫu mực. Trong các phương tiện truyền thông thì truyền hình phải đầu tư cơ sở vật chất tốn kém nhất. Hiến vướng vào những vụ tham nhũng khi xây dựng các công trình ở Đài truyền hình. Dư luận đã ầm ỉ một thời gian, nhưng giống như hàng ngàn ông quan tham khác, y vẫn hạ cánh an toàn. “Triều đại” của Hiến đã để lại cho Đài truyền hình một lớp cán bộ thật “ấn tượng”. Điển hình là Lại Văn Sâm. Một Việt Kiều ở Pháp vô tình biết tôi từng làm phát thanh và truyền hình đã kể rằng, khi Lại Văn Sâm qua Pháp làm việc, đồng bào yêu quý các nhà báo của quê hương nên đã tổ chức nhau mời Lại Văn Sâm một bữa cơm. Thấy các món ăn sơ sài quá, Lại Văn Sâm đã trừng mắt nói: mời Lại Văn Sâm mà thế này à? Nghe xong tất cả mọi người kinh ngạc về nhân cách văn hóa thấp kém của Sâm. Theo tôi, có lẽ Lại Văn Sâm quen đi các địa phương ở trong nước được các quan chức lấy tiền thuế của dân ra đãi những bữa tiệc vừa ăn vừa đổ đi nên quen thói rồi. Anh chàng MC mồm mép như anh bán thuốc dạo trên tàu điện ở Hà Nội ngày xưa, có hay đâu đồng bào xa xứ của mình phải vất vả mới kiếm được miếng ăn ở xứ người, vì yêu mến quê hương mà gom tiền lại đãi đằng nhà báo Việt Nam. Đồng bào đã bất ngờ khi thấy thái độ của Sâm như thế – một nhà báo XHCN! Khi tôi viết báo “lề trái” trên mạng, đôi lần có nhắc đến “Lại Văn Sâm khua môi múa mép trên truyền hình” thì lập tức có nhiều comment hưởng ứng ngay. Thì ra người xem truyền hình ở Việt Nam rất ghét khi thấy Lại Văn Sâm xuất hiện. Ở các nước văn minh MC truyền hình phải được khán già ưa thích, không thì phải thay ngay, vì người ta luôn luôn thăm dò ý kiến khán giả qua các hình thức trưng cầu dân ý. Ở ta, cứ Đảng phân công là người ta cứ nhâng nháo vác mặt lên truyền hình quốc gia! Trong thời gian công tác ở Đài truyền hình trung ương, có một sự cố lớn ảnh hưởng đến tư tưởng và dẫn đến quyết định sự ra đi của tôi khỏi “miền Bắc XHCN”, khỏi Hà Nội nơi tôi sinh ra. Đó là vào cuối năm 1978, tại nhà hát lớn Hà Nội diễn ra hội nghị khoa học toàn quốc. Tôi đến dự, nói đúng hơn là đến hành nghề. Trí thức cả hai miền Nam Bắc về dự hội nghị quan trọng này. Khi thủ tướng Phạm Văn Đồng đến, cả đại hội đã vỗ tay kiểu “đại hội” như tôi đã giới thiệu kiểu vỗ tay này ở đầu sách. Người trong ban tổ chức giới thiệu: người anh cả của khoa học đã đến dự với chúng ta. Lại vỗ tay. Tôi nói với vị trí thức ngồi cạnh tôi: giả sử lát nữa có đồng chí Lê Duẩn đến thì không biết người ta sẽ giới thiệu thế nào? Không lẽ phải giới thiệu là “người anh cả đỏ đã đến”. Vị đại biểu này không nói gì(!) Khi tham luận có một nữ đại biểu ở Tổng cục khai hoang nêu khó khăn không thể khai hoang 50 vạn héc ta trong một thời gian như chính phủ lên kế hoạch. Phạm Văn Đồng rung chuông đuổi xuống. Chị ta cứ nói: khai hoang 50 vạn héc ta thì xin phép phải được nói dài(!) Lại rung chuông. Vẫn nói. Lại rung chuông… Khi giải lao, các vị đại biểu vây quanh người phụ nữ rắn rỏi này. Có người nói: chị gan quá. Thủ tướng rung chuông nhiều lần mà cứ nói không chịu xuống. Chị trả lời: các anh là đàn ông, nhiều tham vọng. Tôi là phụ nữ, tôi không có tham vọng nên tôi nói thật(!) Ai cũng hiểu chị ta muốn nói đàn ông các anh hèn lắm. Vì tham quyền cao chức trọng, bổng lộc nên ngậm miệng ăn tiền. Viết đến đây tôi nhớ bài thơ mới đọc hôm 18/2/2013 của tướng Phạm Chuyên mang tên “Người hèn”, đăng trên trang mạng Ba Sàm. Vừa mới đọc có đôi lần mà đã thuộc vì nó hay quá: “Đất nước ngàn năm / hiếm kẻ bán nước / có nhiều nhặn gì đâu / một Trần Ích Tắc / một Lê Chiêu Thống / một Hoàng Văn Hoan / đất nước ngàn năm / quá lắm người hèn / hèn vì quyền cao chức trọng / hèn vì nhà cao cửa rộng / hèn vì miếng cơm manh áo / hèn vì vợ dại con thơ / hèn vì danh hão danh hờ / hèn mà còn nhận ra / mình là thằng hèn / là hèn tử tế / hèn ngậm miệng ăn tiền / hèn nhơ bẩn / hèn … / hèn bất nhân / hèn bán đất bán nước / trờ chu đất diệt / hèn ơi! Đất nước ơi!” … Thấy đại biểu túm tụm, Phạm Văn Đồng đến. Ông hỏi một trí thức ở Sài Gòn ra họp: trong ấy tình hình nghiên cứu khoa học thế nào? Vị này thưa: trong phòng thí nghiệm đến H2O cũng không có! Ông hỏi vị trí thức thứ hai, vị này thưa: chúng tôi phải tẩy xóa bằng cái nút lọ penicillin thay cho cục gôm! Thế là thủ tướng cười: Ha ha ha! Cái cười rất Phạm Văn Đồng. Thế là mọi người cười theo. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam là anh Hà Việt đã nhanh tay bấm máy được cái hình mọi người cười rất tươi, cười hết cỡ. Cuối hội nghị, thủ tướng chỉ đạo. Ông ta nói: chúng ta làm khoa học kỹ thuật theo cách của Việt Nam, như Cù Chính Lan chạy tắt rừng để đón đầu đánh xe tăng. Chúng ta phải đi tắt, đón đầu, đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm… Lại vỗ tay! Tôi muốn dừng ít phút ở đây để nói về phương Tây. Tôi vừa đi theo một chuyến máy bay DC chở cá mè bột (cá giống) vào Nam và theo máy bay chở cá giống bố mẹ rô phi ra Bắc cùng mấy anh em cán bộ kỹ thuật của Bộ Thủy Sản và các bác nông dân nuôi cá ở một hợp tác tác xã của huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Lúc lên máy bay, phi công xem giấy tờ thấy tôi là nhà báo. Anh ta không cho đi. Lý do: máy bay cất cánh những giờ cuối cùng rồi cho vào nghĩa địa vì “hết đát”. Tôi là nhà báo, phải bảo vệ tính mạng cho tôi. Tôi cự lại: Đảng và nhà nước đào tạo một phi công như đồng chí tốn kém gấp 10 lần một anh phóng viên ốm yếu như tôi. Các đồng chí quý giá hơn tôi 10 lần, cả về thể chất con người nữa, mà đi được thì sao tôi không đi được? Anh chàng phi công phát cáu: ông nhà báo lắm lý sự quá. Thôi mời ông lên. Thế là tôi được đi những giờ phút cuối cùng của loại máy bay mang mác DC ở Việt Nam. Lên máy bay rồi, tôi lại còn đòi ngồi ở cabin để còn… quan sát. Cabin máy bay DC chỉ ngồi được ba người. Phi công, thợ máy và dẫn đường. Vì máy bay bay ở độ cao 300 mét nên người dẫn đường cầm một xấp bản đồ, nhìn xuống thấy rõ mổn một từng địa phận máy bay bay qua. Máy bay chỉ bay tốc độ 300 km/h nên quan sát rất dễ. Tôi ngồi bệt xuống chân, giữa 2 người thợ máy và dẫn đường. Lúc bay đến Nam Định, anh thợ máy nói: lúc nãy nói chơi vậy thôi, chứ máy bay có tới 56 cái đồng hồ trục trặc cái gì là báo ngay để xử lý. Đi máy bay là an toàn nhất. Tôi nhìn theo ngón tay của người thợ máy và đếm đủ 56 cái đồng hồ trên tableau trước mặt. Cái máy bay như thế mà đã vứt vào nghĩa địa vì nó được bay hết giờ quy định của hãng chế tạo ra nó. Phương Tây là như thế. Tôi nghĩ, 100 năm nữa chưa chắc nước ta đã làm nỗi một chiếc máy bay từ A tới Z như cái DC tôi vừa đi. Tôi chưa thấy ai bốc phét như ông Phạm Văn Đồng “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm nữa…!!!” Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi. Chỉ có phụ nữ là dám nói sự thật. Ôi, phụ nữ Việt Nam anh hùng quá. Đất nước đáng tự hào về họ quá. Họ chính là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu… Ngày hôm sau của cuộc hội nghị quan trọng đó, cô nhân vật đánh máy của cơ quan tôi cầm tờ báo Tiền Phong có tấm hình phóng viên Hà Việt chụp đến khoe với tôi: anh Phú Khải có cái hình đẹp quá, đứng cạnh thủ tướng và đại tướng. Tôi cầm bức hình mà hôm qua “bị” chụp xem. Rồi nói rõ xuất xứ của những cái cười hết cỡ trong ảnh và kết luận: như thế mà cười được thì là vô liêm sỉ, chỉ có tôi là còn chút liêm sỉ nên không cười(!). Mọi người đứng quanh tôi không ai nói gì cả. Vài ngày sau vợ tướng Qua nhắn vợ tôi lên nhà bà gấp. Bà cho hay những gì tôi nói về bức ảnh chụp Phạm Văn Đồng đã đăng báo… đã được phản ánh về Bộ Công An. Bà nói: thằng Thanh, chồng con Tuyết nó đến tận nhà báo cáo với chú chị mà nó vừa nói, vừa thở, vừa run… “thằng Thanh” như lời bà thím tôi là Nguyễn Thanh, cục trưởng Cục xử lý tin tức Bộ Công An. Còn “con Tuyết” là con ông chú thứ hai của tôi, cô đang làm phó Ban tài chính và quản trị trung ương. Nguyễn Thanh phải gọi tướng Qua là bác, (bác vợ). Sự thể là như thế. Bà thím tôi còn nói: mày về bảo chồng mày ăn nói phải giữ mồm giữ miệng không thì mang họa vào thân. Ông Qua ông ấy giận thằng cháu đích tôn lắm. Lúc thằng Thanh báo cáo xong, ông ấy đập tay xuống bàn! Cái hồi tôi đi làm nhà nước hồi đó, lý lịch là số 1. Lý lịch phải khai đầy đủ cả họ nội, họ ngoại. Nên việc tôi là cháu ruột của tướng Qua, bên an ninh họ đều biết (nhất là an ninh được “cài” vào một cơ quan như Đài truyền hình trung ương). Vì thế tướng Qua bực mình là phải. Chủ nhật tuần lễ đó, ông xuống tận nhà tôi ở Hoàng Mai mắng tôi một chập. Tôi cãi “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng 20 năm thì rõ là hoang đường rồi còn gì?” Nghe xong ông nói: “Đúng thế, nhưng người phát ngôn không phải là cháu!” Trời đất thiên địa ơi! Chân lý thì ai nói ra mà chẳng được. Từ trước công nguyên Aristote đã từng nói “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!” Phương Tây là như vậy nên họ mới có máy bay DC. Còn phương Đông thì chỉ thầy mới đúng, còn trò thì không bao giờ được cãi thầy… Thì ra ông chú yêu quý của tôi cũng có một ông Khổng Tử ở trong đầu. Các cụ ta bảo, học nói chỉ mất 3 năm, nhưng học im lặng phải mất 60 năm. Nếu phải như bây giờ thì tôi không cãi, tôi im lặng nhận lỗi thì chú Qua tôi vui lòng ngay. Nhưng tuổi trẻ là thế, tôi cãi. Tướng Qua giận lắm. Sau đó ông còn đến cả Đài Truyền hình gặp lãnh đạo Đài. Khi ông đeo lon tướng vô cửa, đồng chí công an gác đài đã đứng nghiêm chào, không dám hỏi giấy tờ. Sau buổi ông đến Đài, “sếp” Hán vỗ vai tôi cười nói: ông chú mày dọa “bắt” mày đó! … vậy thôi… không nói gì nữa… đúng là “Hán Cao Tổ”!!! Đúng 18 năm sau, năm 1996, tôi gặp ông Phạm Văn Đồng ở tỉnh ủy Cần Thơ, ông đang ngồi nói chuyện với ông Sáu Phan (Nguyễn Hà Phan). Ông đeo một cái kính râm rất to. Lúc đó cả nước đã bước vào thời kỳ đổi mới sau đại hội VI. Các sách vở “lề phải” đều nói đến vấn đề Việt Nam có thể bị tụt hậu so với các nước trong khu vực(!) Vậy là đã gần hết hạn 20 năm để đuổi kịp và vượt phương tây như chỉ đạo của thủ tướng. Vậy tôi có nên vào báo cáo với thủ tướng là ta có khả năng tụt hậu so với các nước láng giềng hơn là “đuổi kịp và vượt phương Tây” như thủ tướng chỉ đạo cách đây vừa đúng 20 năm! Tôi sực nhớ đến dạo ở Hà Nội, mỗi lần thủ tướng đến thăm nơi nào người thư ký đề đến trước dặn mọi người không nên nói điều gì … làm ảnh hưởng đến sức khỏe của ông, nên tôi thôi. Ông Đồng mất vào năm 2000. Tướng Qua, người sĩ quan cận vệ của ông ở hội nghị Geneve năm xưa mất vào năm 2001. Tất cả đã đi vào quá khứ, và kẻ đang viết những dòng này cũng đang trên đường đến… nghĩa trang. Nhưng sự thật lịch sử thì phải rõ ràng công bằng. Chân lý phải quý hơn thầy. Vậy thôi. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 28, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/28/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-19/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 20): https://www.minds.com/newsf...
14 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 18) Sau phim đầu tay “Con rắn hổ mang” khá thành công, tôi viết kịch bản phim tài liệu “Nghề nuôi cá ở nước ta”. Lúc đó, đang có phong trào “Ao cá Bác Hồ” rất rầm rộ. Nghề nuôi cá phát triển mạnh sau khi những loài cá mới ở miền Nam như cá rô phi được chuyển cá giống ra Bắc, cá bột mè giống được chuyển vô Nam bằng máy bay vận tải DC. Tôi đã được Bộ Thủy sản mời đi những chuyến chuyển cá giống vào Nam ra Bắc bằng những chuyến bay như thế. Máy bay cánh quạt DC bay 4 giờ đồng hồ từ Gia Lâm mới vô đến Tân Sơn Nhất. Rất vất vả vì phải ngồi chung với những bao ni long bơm ôxy chở cá giống, ướt át, tanh tưởi. Để thực hiện được phim tài liệu 20 phút này, chúng tôi phải quay được các hình thức nuôi cá. Từ cách nuôi cá hồ chứa ở miền núi phía Bắc, nuôi trong ao hồ ở các hợp tác xã đồng bằng Bắc Bộ và cả hình ảnh nuôi cá bè ở Châu Đốc-An Giang v.v… Khi phát sóng, lần đầu tiên khán già miền Bắc được thấy hình ảnh nuôi cá bè ở miền Nam trên sông Hậu rất hấp dẫn. Minh Đại, phóng viên quay phim của ê kíp chúng tôi đã reo lên khi anh quay cận cảnh hàng trăm con cá nhao lên đớp mồi khi các chủ bè cá cho chúng ăn… Cũng trong chuyến đi này, chúng tôi được sang thăm cù lao Mỹ Hòa Hưng, quê hương Bác Tôn và quay được những thước phim tư liệu giá trị. Khi Bác Tôn qua đời, Đài truyền hình trung ương có ngay được những thước phim về quê hương của ông do chúng tôi cung cấp để phát sóng vào chương trình thời sự ngày đưa tiễn bác. Khi phát sóng phim “Nghề nuôi cá ở nước ta”, có một chuyện đáng nhớ với một người làm báo như tôi. Và, có lẽ cả cho các đồng nghiệp của tôi nữa. Đó là, trước giờ phát sóng chừng vài tiếng, bỗng Tổng biên tập Đài là anh Lý Văn Sáu kêu tôi lên hỏi: con cá tra viết “ch” hay “tr”? Tôi hoảng quá, vì lúc đi làm phim, lúc viết kịch bản tôi không để ý đến chi tiết “nhỏ” này! Lần đầu tiên đồng bào miền Bắc biết đến con cá tra ở Nam Bộ. Phát âm “cá tra” như thế nào? (ch hay tr không ai biết cả). Kể cả Tổng biên tập Lý Văn Sáu người Nghệ Tĩnh cũng không biết. Anh Sáu là một nhà báo dày dạn kinh nghiệm, từng đi học báo chí bài bản ở Liên Xô. Anh thông thạo nhiều ngoại ngữ, nói được tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. Nghe nói khi anh là phát ngôn viên cho đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ở hội nghị Paris, khi họp báo anh nói rất mạch lạc, từ tốn, dễ nghe, dễ hiểu những vấn đề phức tạp nhất nên các nhà báo phương Tây rất thích. Anh bảo tôi: phài xác minh được từ “tra” có uốn lưỡi hay không uốn lưỡi để phát thanh viên phát âm cho chuẩn. Anh còn nhấn mạnh: cậu nhớ Đài ta là Đài Truyền hình trung ương cơ mà. Trung ương phải làm gương cho các Đài địa phương phát ầm cho đúng từ nghữ tiếng Việt. Tôi xin phép anh Sáu 1 giờ để đi xác minh từ “cá tra”. Anh Sáu lại nói: nếu 1 giờ cậu không trả lời được, tôi sẽ cho thay chương trình khác. Nghe vậy tôi lo cuống cuồng vì đã trót khoe khoang và báo cho nhiều người biết giờ phát sóng chương trình, kể cả báo cho thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Tấn Trịnh biết để xem, vậy mà chương trình bị cắt thì… còn mặt mũi nào! Tôi chạy bang qua ruộng rau muống rất rộng để đi tắt sang Bộ Thủy sản ở ngay khu Giảng Võ, sau lưng Đài Truyền hình. Nếu đi cổng chính thì xa hàng cây số vì “gần nhà xa ngõ”. Nhớ lại, lúc đó tôi quần áo lấm lem đứng bên hàng rào gọi vọng vô tên anh Ánh, vụ trưởng vụ nuôi cá của Bộ. Phòng anh Ánh ở ngay cạnh hàng rào nên anh ra ngay. Anh mời tôi trèo qua hàng rào vô nhà anh uống trà. Thường ngày thì tôi hưởng ứng ngay nhưng hôm nay tôi không còn bụng dạ nào để trà lá nữa. Tôi chỉ hỏi anh về các viết từ “cá tra” dùng “ch” hay “tr”. Anh cười và bảo: có thế mà cũng phải hỏi, viết “tr” nhà báo ạ. Nghe xong tôi mừng rơn, không kịp chào anh, cứ thế cắm đầu chạy về Đài (chắc là anh Ánh lúc đó cứ tưởng tôi bị lên cơn thần kinh!) Vẫn quần áo lấm lem vì bùn, tôi lên gặp ông Sáu để báo cáo cách phát âm cho con cá là “tr”. Ông Sáu nhìn tôi cười tươi! Khỏi phải bình luận nhiều. Người làm báo phải có tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng dân tộc trong sự “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Đó là câu chuyện của “ngôn từ” như nhà báo Phan Quang đã viết. Các nhà báo thế hệ trước tôi, các anh đã nêu một tấm gương sáng về sự nghiêm túc của nghề cầm bút. Tôi không “thù” gì anh Sáu cả, trái lại mỗi lần đi qua một hồ nuôi cá tra, được xem là mặt hàng thủy sản xuát khẩu quan trọng sau lúa gạo ở Nam Bộ ngày nay, tôi lại bất giác nhớ đến Tổng biên tập Lý Văn Sáu (giờ này ông đang ở đâu?) Sau phim tài liệu nghề nuôi cá, tôi viết kịch bản “Cây hồi Lạng Sơn”. Với truyền hình – hình ảnh động – thì làm phim về động vật dễ hơn làm phim về thế giới thực vật (vì khó tạo nên hình ảnh sinh động như con rắn hổ mang múa, con cá quẫy từng đàn). Vì thế, kịch bản phải chuẩn bị kỹ về nội dung khoa học và cảnh quay phải đa dạng phong phú. Chúng tôi phải thuê xe com-măng-ca của Đoàn 12 để đi dài ngày. Để quay được toàn cảnh rừng hồi Lạng Sơn, trời rét như cắt ruột, chúng tôi phải vác máy leo lên tận đỉnh của những quả núi cao. Khi bắt đầu leo núi thì rét run, nhưng khi leo lên đến đỉnh thì phải cởi bớt quần áo ấm vì mồ hôi vã ra như tắm. Nhưng ngồi đợi suốt cả ngày vẫn không quay được thước phim nào vì trời âm u không đủ sáng. Quay phim nhựa là như thế. Cứ thế, mấy ngày trời leo núi mới quay được một cảnh vài giây. Vì vậy khi đi đường số 4 sang Cao Bằng để phỏng vấn ghi hình lãnh đạo tỉnh Cao lạng về chương trình phát triển rừng hồi thì đồng chí chủ tịch tỉnh nói ngay: mấy ngày các anh leo lên núi quay phim, bộ đội biên phòng đều theo dõi và báo cáo chúng tôi, biết các anh vất vả lắm! Xin mở ngoặc nói thêm, khi hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng sát nhập thành tỉnh Cao lạng theo ý đồ của tổng bí thư Lê Duẩn thì dân tình khốn khổ vô cùng. Thủ phủ của tỉnh mới Cao Lạng đóng ở Cao Bằng nên người dân muốn xin giấy tờ phải đi đường núi số 4 cheo leo vực sâu, vách đá từ Lạng Sơn sang Cao bằng và phải ngủ lại vì không thể về ngay trong ngày. Thằng thực dân Pháp đểu cáng là thế, nhưng chúng có khoa học cai trị. Các tỉnh lỵ trên toàn cõi Đông Dương chỉ cách nhau 60 km. Người dân ở nơi giáp ranh có đi xin giấy tờ cũng chỉ phải đi 30 km là cùng và có thể về ngay trong ngày. Cả nước Việt Nam chúng ta, dưới thời thực dân Pháp, chỉ có 2 tỉnh lỵ là Mỹ Tho và Bến Tre là cách nhau hơn 10 km vì cách con sông Tiền rộng lớn. Nay có cầu Rạch Miễu rồi thì 2 trung tâm Mỹ Tho và Bến Tre chỉ nửa tiếng xe máy là có thể gặp nhau. Về phương diện địa lý, thổ nhưỡng, tập quán canh tác… người Tây khi lập tỉnh họ cũng tính kỹ. Tỉnh Gò Công là vùng nhiễm mặn, tỉnh Mỹ Tho là vùng nước ngọt. Hệ canh tác của 2 vùng này khác nhau. Khi vô cớ sáp nhập 2 tỉnh này thành tỉnh Tiền Giang thì mỗi lần tỉnh họp để chỉ đạo canh tác, cán bộ Mỹ Tho cũ phải nghe cả phần chỉ đạo về vùng mặn Gò Công. Cuối cùng phải triệu tập 2 cuộc họp khác nhau để chỉ đạo hai vùng mặn-ngọt khác nhau… Có xe hơi mà chúng tôi đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng để gặp lãnh đạo Cao Lạng phải toát mồ hôi hột thì nhân dân, cán bộ trong tỉnh miền núi này đi lại vất vả biết nhường nào. Chỉ sau một giấc ngủ, các nhà lãnh đạo trong thể chế toàn trị độc tài hứng chí lên là có thể sáp nhập các tỉnh trong cả nước một cách vô lối và điên rồ như thế. Sau đó thấy tai hại quá lại chi tỉnh về như cũ, như thời Tây đã làm. Tốn kém nhân dân chịu! Về chuyện đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng, ba anh em trong ê kíp làm phim chúng tôi đã quyết định đi từ sớm, nhưng cậu lái xe của đoàn 12 mà chúng tôi đã thuê lại bảo để đến tối mới đi. Trời đất thiên địa ơi, đi cả trăm cây số đường núi vòng vèo cheo leo vách đá vực sâu mà ban ngày ban mặt lại không đi, phải đợi đến tối mới đi thì ra làm sao? Chúng tôi vặn hỏi cậu lái xe, cậu ta bảo: các anh là nhà báo thì biết gì, lái xe là việc của em để em lo, khi nào đi thì em sẽ nói. Giục mãi, xế chiều cậu ta mới cho xe lăn bánh. Đi được vài chục cây số thì một chiếc xe tải chở gỗ lao ầm ầm vào chúng tôi khiến xe phải nép sát vào vách đá. Tài xế cho xe đỗ lại và chờ đến tối mịt mới đi. Cậu ta giải thích cho lũ chúng tôi – “các nhà báo thì biết gì” – rằng: ở trên này, các lái xe người dânh tộc đi chở gỗ cho lâm trường, uống rượu xong rồi lên ca bin cầm vô lăng chạy như bay. Xe của họ chở gỗ nặng lấn đường của xe con, hất xe bọn chúng em xuống vực là chuyện thường. Tai nạn xảy ra thường xuyên, bị hất xuống vực là chuyện cơm bữa. Người miền xuôi không ai chịu lên lái xe ở đây cả, nên lâm trường vẫn phải mượn người dân tộc lái vì thế cánh lái xe con chúng em phải đợi ban đêm mới dám đi đường này, khi các xe tải lâm trường nghỉ hết đã mới dám đi. Thì ra là vậy. Xe chúng tôi bật đèn sáng quắc, dò dẫm đi trên con đường quanh co vòng vèo, có chỗ vừa đi qua lại như vòng lại chỗ cũ vì đường phải men theo các triền núi. Từ ánh đèn của xe, trong đêm tối chúng tôi nhìn thấy nhiều biển chỉ dẫn có dấu chấm than(!), cậu tài xế giải thích đó là những chỗ rất nguy hiểm. Đá từ trên núi có thể lăn xuống bất kỳ lúc nào. Khi xe vào một hang đá, cậu lái xe nhá còi thì một tiếng vang như sét đánh ngang tai làm chúng tôi giật bắn. Cậu ta cười rồi nói, đó là tiếng dội lại của vách đá. Có điều lạ là, tiếng vọng ấy vang lên đủ ba lần mới tôi. Cậu lại cho biết, chỉ có núi đá ở đây mới có tiếng vọng ba lần như thế. Đi suốt đêm, gần sáng chúng tôi mới đến được thị xã Cao bằng còn đầm đìa trong sương đêm. Chúng tôi phải ngủ gục trên xe chờ đến giờ hành chính mới vào trong Ủy ban nhân dân tỉnh xin làm việc. Chánh văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh tiếp chúng tôi rất niềm nở. Tôi nhìn thấy trên bàn của ông có tờ tạp chí “Thời mới” của Liên Xô bằng tiếng Pháp. Tôi cầm lên khen: đồng chí chánh văn phòng đọc được “Temps Nouveaux” thì giỏi quá rồi. Ông kể với tôi, xưa kia nhà cũng khá giả nên được gia đình cho về Hà Nội học trường Bưởi cạnh Hồ Tây. Tôi nói: vậy là đồng chí cũng học một trường với bố tôi rồi. Chúng tôi trở nên thân mật và chính ông đã bố trí lịch để chúng tôi được gặp, ghi hình, cảnh (dựng lại) Ban thường vụ tỉnh ủy Cao Lạng họp để bàn về việc duy trì và phát triển rừng hồi ở Lạng Sơn. Cũng chính ông là người đã lục lại văn bản từ thời Pháp về quyết định trồng cây hồi ở Lạng Sơn để chúng tôi ghi hình. Nếu hình ảnh con hổ mang bành cổ múa điệu nghê thường với cô y tá mặc blu trắng, đàn cá basa hàng trăm con lao lên đớp mồi ở bè cá Châu Đốc … làm nên sự sinh động hấp dẫn cho phim truyền hình thì những văn bản được giới thiệu trên màn ảnh nhỏ về cây hồi Lạng Sơn tăng thêm chất lượng thông tin cho phim tài liệu mà chúng tôi làm. Trước khi về, tôi thấy cậu lái xe Đoàn 12 vay được 100 lít xăng của văn phòng ủy ban tỉnh Cao Lạng một cách ngon ơi. Tôi hỏi cậu ta: xa xôi thế này biết đến bao giờ Đoàn 12 các cậu trả được xăng cho người ta? Cậu giải thích: cán bộ các tỉnh miền núi về Hà Nội họp phải chở theo xăng trên xe, có lần do đường xóc, phi xăng đã nổ tung, gây tai nạn chết người. Vì thế họ đã nghĩ ra cách khi về Hà Nội thì vay xăng của chúng tôi để đi, khi nào chúng tôi chở khách thuê lên làm việc ở trên này thì họ trả lại. Lợi cả đôi đường nên đã thành lệ như thế lâu rồi. Cậu còn phán: “Các anh nhà báo thì biết gì” mà hỏi về chuyện xăng dầu! Kết thúc công việc, cậu lái xe về Hà Nội bằng đường Thái Nguyên cho gần hơn. Chúng tôi mừng rơn vì không phải quay lại đường 4, phải đi đêm. Nhưng có một sự việc làm chúng tôi nhớ đời: vừa rời thị xã Cao bằng được chục cây số thì thấy một cảnh rợn người. Một chiếc xe tải bị lật xuống ruộng, bốn bánh chổng lên trời. Tài xế và lơ xe mặt mày dính đầy dầu mỡ chỉ còn thấy 2 con mắt. Họ ngồi bên chiếc xe bị lật ngược như 2 pho tượng. Chúng tôi xuống xe và hỏi thăm nhưng không ai trả lời, rồi một người chỉ tay ra mé bờ ruộng. Tôi thất kinh thấy bốn cái xác chết xếp liền nhau. Mặt các nạn nhân được úp cái nón lên. Tôi lần lượt nhấc nón lên thì được biết ba người phụ nữ, một đàn ông, Mặt mũi họ đều lành lặn không chút xây xước. Cả đoàn quay phim chúng tôi đứng cúi đầu 1 phút mặc niệm họ, sau đó tôi bảo Minh Đại quay toàn cảnh tai nạn này để làm tư liệu. Người tài xế thấy chúng tôi có thiện ý như vậy nên bây giờ anh mới kể: một chiếc xe tải chở gỗ chạy ngược chiều, lấn đường lao rất nhanh về phía xe chúng tôi. Vì vội tránh dạt sang bên, nên bánh xe lọt khỏi mặt đường, xe lật ngược … Bốn người dân tộc đi nhờ xe họ ngồi trên các bao xi măng chất đầy thùng xe ở phía sau. Khi xe lật, cả bốn người bị xi măng đè lên. Lúc đó, tài xế và lơ xe bị choáng ngất đi ít lâu. Khi tỉnh lại cả hai vác xi măng ra để cứu họ như vì va đập mạnh và ngộp thở lâu nên đã tắt thở hết. Tôi hỏi: “Cái xe gây tai nạn đâu rồi?” Người tài xế không nhìn rõ mặt chỉ thấy 2 con mắt than phiền: tài xế gây tai nạn bỏ chạy rồi! Họ đã nhờ người đi đường chạy xe về phía thị xã Cao Bằng báo công an đến làm biên bản nhưng công an chưa tới (!) Tới lúc này thì chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào vốn sống của cậu lái xe. Chúng tôi đã chia tay các nạn nhân trong buổi sáng ảm đạm đó. Nhưng điều đau xót nhất với chúng tôi là khi phim tài liệu khoa giáo “Cây hồi Lạng Sơn” được phát sóng thì ngày 17/2 năm 1979 bọn Trung Quốc xâm lược tràn sang đã cướp phá, đã san bằng nhà máy tinh dầu hồi Lạng Sơn của ta nhập toàn bộ thiết bị hiện đại từ Pháp vừa mới được xây dựng xong. Cái nhà máy xinh đẹp mà từ xa chúng tôi đã ngửi thấy hương hoa hồi thơm nức cả núi rừng khi đến ghi hình nó. Cả ngôi trường phổ thông cấp 3 Việt Bắc, ngôi trường trung học lâu đời nhất của chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vừa mới xây dựng xong, chờ năm học mới cũng bị san phẳng. Tôi đã chụp được hình ngôi trường này và viết một bài đăng trên báo “Người giáo viên nhân dân” sẽ ra ngày 15/8/1978. Bài có ảnh minh họa ấy, tôi còn giữ đến hôm nay, vừa tròn 34 năm khi tôi viết những dòng hồi ký này (17/2/2013). Bài viết có tên là: Ngôi trường nhiều tuổi nhất và “mới” nhất. Ngôi trường như tôi viết trong bài: Tên trường do bác Hồ đặt cho trong lễ khai giảng năm học 1946-1947 tại Kéo Kong. Đó là trường cấp 3 đầu tiên của nước Việt Nam mới. Hồi đó trường nhận học sinh của 6 tỉnh chiến khu Cao, Bắc, Lạng, Hà Tuyên, Thái và cả Quảng Ninh, Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Mỹ lại dời đi Cao Lộc… Năm 1973 về lại thị xã lạng Sơn. Yêu mến ngôi trường đầu tiên do Bác Hồ đặt tên, nhân dânthị xã Lạng Sơn đã cử cán bộ đi nhiều nơi để nghiên cứu mẫu trường đẹp. Đoàn đã chọn trường cấp 3 Hồng Quang thị xã Hải Dương. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Hưng đã cử một đoàn cán bộ xây dựng gồm 45 người lên giúp thị xã Lạng Sơn xây trường. Năm học 1978-1979 này, học sinh các dân tộc thị xã Lạng Sơn sẽ chính thức làm lễ khai giảng ngôi trường to và đẹp, vừa được xây dựng xong. Vậy mà, sau ngày 17/2/1979 ngôi trường vừa xây xong còn thơm mùi vôi vữa đã bị quân Tàu san phẳng. Có lẽ đây là bài viết mang kỷ niệm buồn nhất trong đời làm báo của tôi. Ít lâu sau ngày 17/2 quân Trung Quốc thua trận rút khỏi các tỉnh vùng núi phía Bắc của ta, “sếp” Hán đưa tôi một truyện ngắn mag tên “Người con gái bản Nà Lầu” của nhà văn Hoàng Quốc Hải đăng trên báo Văn Nghệ Hội nhà văn, ông bảo tôi; mày chuyển thể cái truyện ngắn này sang kịch truyền hình để dựng. Tôi đọc kỹ và thấy đây là một truyện ngắn hay, mang tính nhân văn sâu sắc. Câu chuyện về bi kịch của một cặp vợ chồng trẻ, vợ người dân tộc, chồng là người gốc Hoa sống ở một làng biên giới 2 nước Việt-trung. Cặp vợ chồng này đã trở thành nạn nhân rất bi thương khi hai nhà nước có chiến tranh với nhau. Đầu năm 1979, Đài truyền hình trung ương nhập thiết bị truyền hình màu đầu tiên và làm thử chương trình màu. Lúc này Ban khoa giáo Đài truyền hình đã được “sếp” Hán tổ chức thành Trung tâm nghe nhìn trực thuộc Đài, chuyên sản xuất các chương trình văn hóa-xã hội-văn nghệ cho Đài. Chính nó là tiền thân của VTV3 sau này. Vở kịch “Người con gái bản Nà Lầu” được trung tâm nghe nhìn sản xuất. Đây là một trong những chương trình màu đầu tiên của Đài. Khi ghi hình vở kịch này trong trường quay, các chuyên gia kỹ thuật truyền hình màu Cộng hòa Dân chủ Đức – nước giúp ta thiết bị này – cũng có mặt. Vở kịch diễn ra khá sinh động. Đạo diễn Trần Đức, sắm vai tên sĩ quan Trung Quốc xâm lược rút súng bắng đoàng đoàng trên sân khấu… Một vị chuyên gia hỏi “sếp” Hán, ai là tác giả kịch bản này? “Sếp” Hán trỏ tay vào tôi, gã đàn ông gầy còm ốm yếu chưa đến 40 tuổi đang đứng ở một góc trường quay. Vị chuyên gia lại gần, bắt tay tôi, rồi nói (qua phiên dịch): ở đất nước chúng tôi, viết kịch cho Đài truyền hình quốc gia phải là những nhà văn nổi tiếng và đã lớn tuổi. Tôi giải thích: tôi chỉ là tác giả chuyển thể một truyện ngắn cùng tên của một nhà văn cùng tuổi với tôi. Nghe xong ông tỏ ý rất vui và kéo tôi ra hành lang trường quay chụp hình. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 25, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/25/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-18/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 19): https://www.minds.com/newsfeed/1019883441955704832?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 17): https://www.minds.com/newsfeed/1019882624677130240?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
14 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 17) Chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XNCH” đã đưa tôi đến nhiều nơi ở phía Bắc vĩ tuyến 17. Từ vùng vàng đen Đông Bắc của tổ quốc đến đồng bằng Bắc Bộ, miền núi phía Bắc… Tôi nhớ mãi chuyến đi viết phóng sự dài ngày ở Lạng Sơn. Nếu miền Tây Bắc “vời vợi nghìn trùng”, vùng núi Cao bằng hùng vĩ, miền cao nguyên đá Hà Giang cheo leo hiểm trở thì miền núi xứ Lạng là một “bình nguyên” của núi đồi, được hình thành bởi những tầng địa chất của tâm linh, của ca dao và cổ tích. “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh Ai lên xứ lạng cùng anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…” Quả thật là chúng tôi cũng không bõ công lên xứ Lạng. Tôi viết được những phóng sự thu thanh có tiếng nói của bà con Tày, Nùng rất thiết thực cho đài quốc gia. Bà con dân tộc ở quanh thị xã Lạng Sơn đã trồng được đậu tương với năng suất cao hơn miền xuôi nhiều. Rồi, một hợp tác xã nhỏ trong mấy tháng đã bán cho nhà nước hàng chục tấn thuốc lá Lạng Sơn thái mỏng vàng ươm, thứ nguyên liệu rất cần cho nhà máy thuốc lá Thăng Long ở Hà Nội. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có giao lưu với bên ngoài từ lâu đời nên con người ở đây lịch lãm. Tôi và anh bạn đồng nghiệp ngủ trên gác nhà công quán, nguyên là nhà cổ từ thời Pháp mới sang ta đặt nền cai trị. Sàn nhà bằng gỗ, chỉ khi nào khách thức giấc, nện gót giầy lên sàn gỗ cộp cộp… thì cô phục vụ mới mang bình thủy nước nóng lên, đặt trước cửa ra vào gõ nhẹ vào cửa báo cho khách biết. Ở nơi này, từ cô nhân viên phục vụ đến người đứng đầu thị xã đều tỏ ra là những nhà ngoại giao từng trải mà chân thành. Buổi làm việc với bí thư thị xã cũng đầy ấn tượng, ông đứng hẳn dậy để nói lời “thay mặt nhân dân” cám ơn hai nhà báo, rồi lại ngồi xuống ghế. Cách tiếp khách của ông thật giản dị và chu đáo, là món quà tinh thần theo mãi chúng tôi về xuôi. Đó là 2 gói xôi đậu đen nóng gói trong lá chuối tươi buộc lạt rơm cẩn thận. Ông nói: chúng tôi tặng 2 nhà báo đi tàu về xuôi ăn đường. Dạo ấy tàu lạng Sơn-Hà Nội chạy mất cả ngày. Đến trưa chúng tôi giở ra ăn thấy cả gói muối vừng… Sau chuyến đi ấy, ngoài những bài phát trên đài, tôi đã viết cho báo Nhân Dân số ra ngày 28/12/1977 ở mục “Hình ảnh nông thôn mới”, bào “Đồng rau Khỏn Thác” có ảnh kèm theo. Chỉ hơn sau 2 năm công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi đã nhận được sự đánh giá tốt của lãnh đạo Đài. Một hôm, trưởng phòng biên tập chương trình “Trên miền Bắc XHCN” bảo tôi: cậu mới về Đài mà đã được Tổng biên tập Trần Lâm khen bài viết trong một cuộc giao ban. Ít khi ông Lâm khen cụ thể một bài viết. Tôi sẽ đề bạt cậu lên phó phòng và chắc chắn lãnh đạo sẽ ủng hộ. Nghe xong ý kiến của ông trưởng phòng tôi đã bỏ đi chơi suốt một tuần. Nghe Đào Cảng đọc thơ, nghe Vân Long tán hươu tán vượn trên đất Cảng! Khi về cơ quan, trưởng phòng tôi là anh VB, người rất hám quyền lực đã lắc đầu nói: Ông vô kỷ luật quá, không làm lãnh đạo được! Sở dĩ tôi cố tình bỏ đi chơi một tuần lễ như thế để gián tiếp nói với ông trưởng phòng là tôi không hám gì chức vụ, đừng bao giờ đặt vấn đề đó với tôi – một người chỉ thích cầm bút. Đây cũng chính là vấn đề then chốt của báo chí, của văn học. Nó chứng tỏ rằng ở Việt Nam và nhiều nước XHCN khác, không có báo chí, văn học đích thực. Ở các nước có tự do báo chí, tờ báo, đài phát thanh, truyền hình do tư nhân quản lý. Tổng biên tập, chủ báo cần bán được báo, cần người xem đài, nghe đài để có nhiều quảng cáo… nên người ta cần các ký giả, các cây bút có tiếng tăm, “sản xuất” ra nhiều bài vở hay, chương trình hay cho họ. Các nhà báo nổi tiếng như Burchett hay Jean Lacouture… suốt đời làm phóng viên. Burchett từng có mặt ở Hiroshima khi Mỹ ném bom nguyên tử, từng đến vùng giải phóng ở miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Jean Lacouture làm phóng viên cho tờ nhật báo “Combat” do văn hào từng đoạt giải Nobel Albert Camus làm chủ bút và ông từng làm phóng viên cho tờ báo nổi tiếng “Le Monde”. Khi cuộc xung đột ở kênh đào Suez nổ ra, ông làm phóng viên thường trú cho báo “France Soir” tại Ai Cập (1953-1956). Về Pháp ông làm bình luận viên, phóng viên cao cấp ch otờ tuần báo “Le Nouvel Observateur” … Ông được xem là nhà sử học lớn, chuyên viết tiểu sử các danh nhân (trong đó có cuốn về Hồ Chí Minh, xuất bản 1967). Ông là tác giả của trên 60 đầu sách có danh mục các tác phẩm của mình trên các mạng điện tử. Cả Burchett và Jean Lacouture chưa bao giờ làm phó phòng hay trưởng phòng biên tập như ở nước ta cả. Ở nước ta báo chí chỉ có một thang bậc giá trị là chức vụ hành chính. Và thực chất, các nhà báo của chúng ta là những ông công chức trong cơ quan nhà nước. Họ chỉ có thể tiến thân bằng con đường quan chức báo chí. Vì thế, có thể nói nước ta chưa có báo chí, chưa có “nhà báo” đúng nghĩa vì chỉ có báo quốc doanh. Thậm chí, có nơi chẳng “doanh” gì cả. Họ lấy tiền công quỹ ra để in báo rồi biếu không cũng chẳng ai đọc. Một phóng viên dù tài giỏi đến đâu nếu không có một chức ssắc gì trong cơ qua, thì cũng chỉ là nhân viên hạng… chót! Tôi còn nhớ, năm 1998 tôi được giải B (không có giải A) của giải báo chí toàn quốc. Tôi được huy chương vàng trong liên hoan phát thanh toàn quốc, được cơ quan thường trú tại TP HCM cử ra Hà Nội nhận giải. Khi đi, ông cán bộ trưởng phòng cùng đi thì được cơ quan mua vé cho đi máy bay. Còn tôi, nhân vật chính trong đoàn đi nhận giải phải đi xe lửa… vì không có tiêu chuẩn đi công tác bằng máy bay (tôi chỉ là anh phóng viên, không phải cán bộ cấp phòng(!)). Mặc dù sống trong một cơ chế đầy rẫy sự vô lý và bất công, biết vậy nhưng tôi vẫn muốn làm phóng viên suốt đời, ví tôi thích đi và thích viết. Tôi cũng thừa hiểu, là anh cán bộ quèn thì “khổ” suốt đời (như phải đi xe lửa suốt đời). Nhưng điều băn khoăn nhất của tôi là báo chí nước ta không thể có những Burchett, những Lacouture được, vì ở cơ quan báo chí của ta, chỉ có một thang bậc giá trị là cấp bậc hành chính, chức vụ. Nói rộng sang lĩnh vực khác như ngành Y chẳng hạn, cũng khốn nạn không kém. Một vị bác sĩ giỏi có khi phải rời phòng mổ, rời phòng khám để… phấn đấu làm chủ nhiệm khoa, làm phó giám đốc, rồi giám đốc bệnh viện thì mới “khá” được! Có một chuyện đáng buồn như thế này, khi chiến sự ở Irak nổ ra, một tờ báo ở TP HCM năng nổ cử phóng viên thạo tiếng Anh đi Iraq viết tin, bài… thì lập tức bị cấp trên phê phán là chưa báo cáo xin phép! Những năm về sau này, mỗi khi diễn ra đại hội nhà báo thì nhìn vào thành phần tham dự là 100% tổng biên tập các báo, các đài phát thanh và truyền hình trung ương và địa phương, không hề có một phóng viên, một nhà báo có tên tuổi nào, một cây bút được giải báo chí nào được cử đi đại hội. Các vị Tổng biên tập xúng xính comple, caravat đi Hà Nội dự đại hội. Độc giả, thính giả trên cả nước chẳng hề biết họ là ai, chẳng nghe thấy tên tuổi họ trên các bài báo, các chương trình phát thanh truyền hình nào. Đến nỗi, báo Tuổi Trẻ ở TP HCm có lần phải viết bài chỉ trích là đại hội các tổng biên tập, không phải đại hội nhà báo! Đầu năm 1978 tôi được điều động sang Đài Truyền hình trung ương (truyền hình Việt Nam sau này) ở Giảng Võ. Truyền hình nước ta được làm thí điểm, phát sóng từ Đài Tiếng nói Việt Nam trước 1975 sau tách thành một đài riêng lấy tên là Đài truyền hình trung ương. Ủy ban phát thanh và truyền hình VN được thành lập bao gồm 2 Đài, phát thanh và truyền hình do ông Trần Lâm làm chủ nhiệm. Đa số cán bộ phóng viên của truyền hình trung ương là của Đài Tiếng nói Việt Nam điều động sang. Tôi và một số đồng nghiệp được đưa sang truyền hình trung ương để “tăng cường” chất lượng cho truyền hình. Thật là khôi hài, không được học hành một ngày nào về nghiệp vụ truyền hình vậy mà lại được đưa sang đó để “tăng cường”. Sau buổi tiếp xúc đầu tiên, phó Tổng biên tập Đài Truyền hình trung ương là Nguyễn Văn Hán, một con người từng trải, nhiều mưu lược được mệnh danh là “Hán Cao Tổ” tuyên bố với chúng tôi: các cậu là những thằng không biết bơi, nhưng tớ cứ đạp các cậu xuống sông, bơi kiểu gì cũng được, miễn là sang được bở bên kia, thằng nào không bơi được thì… chết đuối! Chúng tôi, trong đó có nhà báo Trường Phước, một phóng viên truyền hình rất nổi tiếng sau này, đã bước vào lãnh vực truyền hình bằng những lời giáo huấn đầy chất humour (khôi hài) của “Hán Cao Tổ” như thế. Xét cho cùng thì, như nhà báo Phan Quang viết: “… Đến thời đại tin học, thông tin bùng nổ, báo chí ngày càng đa dạng, vậy mà cho đến ngày hôm nay chưa một loại hình truyền thông nào dám tuyệt đối không sử dụng đến ngôn từ”. (Tầm nhìn. NXB Lao Động, 2013. Tr. 98). Đó là một nhận xét rất căn cơ. Làm báo viết cũng như làm báo nói phát thanh – cái cốt lõi vẫn là nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Truyền hình là hình ảnh động, nhưng muốn có một tác phẩm truyền hình chất lượng thì phóng viên vẫn phải sử dụng đến ngôn từ trong khi viết kịch bản và vẫn rất cần đến lời (ngôn từ) thuyết minh cho hình ảnh một cách khúc chiết, sáng sủa, đanh thép, sinh động. Đó là gì, nếu không phải là nghệ thuật của ngôn từ. Những phóng viên “cứng tay” trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ phát thanh sẽ mau chóng biết làm truyền hình. Nếu để ý, người ta sẽ thấy hai phóng viên truyền hình nổi tiếng ở miền Bắc là Trường Phước và ở miền Nam là chị Minh Thu Đài Truyền hình TPHCM đều rất thành công cho các chương trình truyền hình của mình, dù là phim tài liệu hay phóng sự… Khi tôi rời Đài Truyền hình trung ương, vô Nam làm ở Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang, rồi lại trở về Đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ quan thường trú tại TP HCM, tôi thường được các phóng viên Đài THVN “thuê” viết lời thuyết minh cho các chương trình truyền hình họ vừa dàn dựng xong phần hình ảnh. Tôi hỏi nữ phóng viên quay phim gạo cội Bạch Vân của cơ quan thường trú Đài THVN tại TP HCM: vì sao các vị đi quay về, dàn dựng xong, nắm vấn đề từ khi viết lịch bản, chỉ còn khâu cuối cùng là thuyết minh lại phải kêu tôi làm…? Chị trả lời: viết thuyết minh là khâu chúng tôi ngại nhất! Rõ ràng là động tới ngôn từ. Lời thuyết minh phải ăn nhập với hình ảnh truyền hình, ngắn gọn và dễ hiểu, nâng chất lượng thông tin của hình ảnh lên, làm nổi bật chủ đề của kịch bản. Người Pháp có câu ngạn ngữ: “Không gì khó bằng viết cho dễ hiểu” là vậy. (Rien n’est plus difficileque d’ecrire facille). Khi giảng dạy ở trường trung học phát thanh truyền hình trực thuộc Đài TNVN tại Tp HCM tôi đã đưa ra câu hỏi như sau: cho các em xem một bản tin truyền hình, nhưng chỉ được xem hình mà không được nghe phát tiếng hoặc không cho xem hình (che màn hình lại) chỉ cho nghe tiếng… rồi các em phải cho biết nội dung của bản tin truyền hình đó, các em chọn hình thức nào? Tất cả đều chọn không xem hình mà được nghe tiếng. Rõ ràng ngôn từ có một vai trò đặc biệt trong các loại hình thông tin đại chúng, cho dù đó là loại hình lấy hình ảnh làm ngôn ngữ chính như truyền hình. Các cụ ta xưa kia dậy: “Học thầy không tầy học bạn”. Tôi đã chọn cách “học bạn” để làm truyền hình. Tôi đi theo đạo diễn kiêm biên tập viên Trần Cương để học nghề. Trần Cương học hành bài bản về báo chí từ Liên Xô về, anh rất giỏi tiếng Nga. Tôi đi theo Trần Cương từ lúc anh đi thu thập tài liệu để viết kịch bản rồi đọc kịch bản anh viết, rồi theo ê kíp làm phim của anh (thường là ba người: biên tập viên viết kịch bản 7 biên tập viên, đạo diễn và quy phim) cho đến khi quay ở hiện trường xong, lại theo anh vào phòng dựng phim để làm hậu kỳ. Khi phim được dựng xong, xem cách các anh lồng nhạc và đọc kỹ lời thuyết minh cho phim do biên tập viên viết. Theo từ đầu đến cuối một chu kỳ làm phim cho đến khi chương trìnhz được duyệt và phát sóng, tôi đã nắm được cách làm phim truyền hình. Có thể tự độc lập làm một chương trình cho mình. Cái khó nhất vẩn là tìm kiếm được đề tài, chủ đề hay “ăn khách” cho một tiết mục truyền hình để thực hiện. Riêng khâu viết kịch bản là cả một vấn đề được trao đổi, tranh cãi. Kịch bản cho một phim truyền hình chỉ là một đề cương hay một phân cảnh cụ thể, chi tiết? Rất nhiều ý kiến khác nhau. Riêng “Hán Cao Tổ” thì lại phán một câu xanh rờn: chúng mày muốn viết cái gì thì viết nhưng đừng gọi nó là “kịch bản” để đưa tao duyệt! Làm riết rồi chúng tôi rút ra một kết luận: phải ăn ý nhau trong một ê kíp làm phim. Ý đồ của biên tập viên phải được cả nhóm (đạo diễn và qua phim) hiểu và thực hiện một cách sáng tạo. Tác phẩm truyền hình bao giờ cũng là một sản phẩm của tập thể, mang tính tập thể. Sau này, có tác giả viết kịch bản rồi tự đạo diễn rồi cầm máy quay luôn. Đó là trường hợp hiếm. Tôi đã xa truyền hình ba chục năm nay, không biết hiện nay các đồng nghiệp của mình tác nghiệp ra sao, nhưng cái thời tôi làm truyền hình thì như thế. Thời đó chưa có camera quay băng nhựa video, chưa có kỹ thuật số, phải quay bằng phim nhựa 16 ly. Có chương trình quay cả tháng trời mới xong, đến khi đem phim nhựa về in tráng thì cả đêm, cả nhóm làm phim không ai ngủ được. Mong đến sáng để đến Đài xem kết quả tráng phim thế nào. Đi quay phim việc đầu tiên trước khi về cơ quan là lo mua quà cho chị em ở bộ phận tráng phim. Chỉ sợ chị em “mất lòng”, pha thuốc hiện hình không cẩn thận rồi đổ lỗi cho quay phim thiếu sáng thừa sáng là… đi đứt cả tháng trời lao động! Với cái lý lịch từng là thầy giáo 9 năm, khi sang làm việc ở Đài truyền hình tôi được phân công về Ban khoa giáo, để làm phim về các đề tái giáo dục và khoa học. Tôi chọn một đề tài khá hấp dẫn là làm một phim khoa học có tên là “Con rắn hổ mang”. Do quen biết với Ph.D Trần Kiên, chủ nhiệm khoa Sinh học trường ĐHSP HN. Tôi chọn một đề tài làm phim khoa học từ bản báo cáo khoa học của Trần Kiên: “Nghiên cứu sinh học rắn hổ mang để chăn nuôi lấy nọc làm thuốc và xuất khẩu”. Đây là một đề tài khoa học lý thú vì từ xưa đến nay, con người ác cảm với con rắn, đặc biệt là rắn độc. Ca dao ta có câu: “Rắn đến nhà không đánh cũng quái, gái đến nhà không chơi cũng kỳ!” Trần Kiên đã nói với tôi một câu rất hình ảnh và sâu sắc: con người thật sai lầm khi gọi kẻ thù nguy hiểm nhất của mình là rắn độc. Con rắn chỉ độc khi người ta không biết gì về nó, không tranh thủ được gì ở nó mà thôi. Chúng ta phải thay đổi tư duy về loài rắn. Đọc bản báo cáo khoa học của Trần Kiên tôi mới vỡ lẽ ra rằng, mỗi con rắn độc một khác. Rắn lục độc vào máu. Rắn hổ mang độc vào hệ thần kinh. Khi bị rắn hổ mang cắn, chỉ sau vài phút nạn nhân bị nhiễm độc vào hệ thần kinh đau quằn quại và chết. Chỉ cần một gam nọc độc của rắn hổ đủ làm chết 1000 con thỏ nặng 2000 kg, một số ngựa nặng 20.000kg, 160 người trung bình mỗi người nặng 60 kg. Vì thế hổ mang được xem là vua của các loài rắn độc. Hai cái túi không khí ở hai bên cổ của nó bành ra làm tăng thêm vẻ hung tợn khi cần áp đảo đối phương. Người ta thống kê ở Úc từ năm 1910 đến 1926 có 195 người chết vì rắn độc. Ở Ấn Độ con số này còn lớn hơn nhiều. Ngày nay Y học hiện đại đã dựa vào tính độc thần kinh của rắn hổ để chế thuốc giảm đau trong bệnh ung thư, viêm khớp, đau thắt lồng ngực. Gần đây người ta còn tách từ nọc rắn hổ một chất có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Nọc rắn hổ trở thành một dược liệu quý có giá trị xuất khẩu cao. Giá rắn hổ sống trên thị trường quốc tế là 16 Mỹ kim 1kg và 1 gram nọc rắn tương đương 23 gram vàng. Rắn hổ ở nước ta nhiều hơn ở bất kỳ một nước nào trên thế giới vì thế anh Trấn Kiên đã chọn đề tài nghiên cứu để bảo tồn loại sinh vậy quý này, cảnh báo xu hướng săn bắt bừa bãi có nguy cơ làm diệt chủng loài hổ mang. Từ khi tốt nghiệp về nước, Trần Kiên đã hơn 20 năm cùng học trò của mình tìm kiếm, đào bới hang ổ, nghiên cứu con rắn từ hình thức nuôi tại nhà đến phẫu thuật trong phòng thí nghiệm để phân tích máu. Bản báo cáo của anh đã chỉ rõ những quy luật sống, tập tính tập quán của loài rắn hổ và đề xuất một phương pháp chăn nuôi con vật hoang dã này. Từ công trình nghiên cứu của Trần Kiên một loạt xí nghiệp dược phẩm ở Hà Sơn Bình, Quảng Nam Đà Nẵng, ở xã Vĩnh Sơn huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú đã ra đời. Theo kịch bản của tôi, tốp làm phim của Ban khoa giáo Đài đã theo chân Trần Kiên từ Hà Sơn Bình vào xứ Quảng quay các cảnh đào bới, chăn nuôi, lấy nọc… và cả những điệu múa rắn nghê thường của các cô y tá ở trại rắn của xí nghiệp dược Quảng Nam với bầy rắn hổ mang… bành cổ khiêu vũ!!! Có lần chúng tôi phải nằm chờ cả tuần ở xã Vinh Sơn để quay cảnh con rắn hổ mới nở, chui từ trong trứng ra. Nó chỉ bé bằng que đũa mà đã bạnh cổ phun phì phì! Có cả cảnh quay trong phòng ngủ của Trần Kiên, thức dậy việc đầu tiên là anh quờ trong gầm giường để nâng niu con rắn hổ lên. Anh tuyên bố: nó hiền như đất… nếu ta không tấn công nó. Năm 1986, bản luận án về rắn hổ mang ở đồng bằng Bắc Bộ của anh được công nhận loại ưu ở Mátxcơva. Một GS Mỹ trong hội đồng chấm đã cho rằng, nghiên cứu loài bò sát thì nhiều, nhưng riêng con rắn hổ (cobra) hung dữ thì phải cấp thêm một bằng tiến sĩ nữa về lòng dũng cảm cho Trần Kiên. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 22, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/22/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-17/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 18): https://www.minds.com/newsfeed/1019883056841072640?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 16): https://www.minds.com/newsfeed/1019882351137206272?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·
close
Minds LIVESTREAM Tonight at 7pm ET with Tulsi Gabbard, Tim Pool, Cornel West and more!