LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 16) Sau 30/4, không chỉ ở Đài tôi mà ở bất kỳ đơn vị nào, cán bộ tập kết là dân Nam Bộ đều xin về quê sạch hết. Chỉ có cán bộ là dân miền trung và khu 5 thì đa phần là ở lại. Và lúc này, Ban miền Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam giải thể vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Phóng viên, biên tập viên, người thì xin về Nam, người thì sang các bộ phận khác của Đài. Tôi được phân về chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XHCN”, một chương trình phát thanh “nối tiếp” các chương trình phát thanh vào Nam của Ban miền Nam trước đây, nhằm giới thiệu các “thành tựu” xây dựng CHXH ở miền Bắc cho đồng bào miền Nam mới được giải phóng(!) Đề tài thật là rộng lớn, đủ mọi lãnh vực. Các phóng viên của chương trình thỏa sức vẫy vùng. Mới ngoài 30, đang sức lực trẻ, tôi hăm hở đi mọi nơi, mọi vùng trên miền Bắc, từ vùng than Quảng Ninh đến miền núi, miền xuôi. Ngoài viết cho Đài tôi còn viết cho báo Nhân Dân mục “Nông thôn mới”, do nhà báo Trần Minh Tân ở Ban nông nghiệp báo phụ trách. Rồi còn viết cho mục “Đó đây cuộc sống con người” của báo Văn Nghệ Hội Nhà văn do nhà văn Trần Hoài Dương phụ trách. Tôi còn viết cho cả báo QĐND do các anh Thụy Vũ, Trịnh Tường của báo đặt bài. Được các đồng nghiệp ở báo Nhân Dân động viên là người “đi đâu viết đó, viết đâu ra đó”, tôi càng hăng say có mặt “trên từng cây số”. Bây giờ, “những chiều gió tím mây xanh” rảnh rỗi ngồi đọc những bài báo còn giữ được, nhớ lại những nơi mình đã đi, đã đến, tiếp xúc với bà con cô bác để lấy tin, viết bài… sao tôi nhớ những ngày ấy quá. Những ngày đó tôi vô tư, tin tưởng vào hy vọng cuộc sống sẽ ngày một tốt đẹp hơn. Qua lao động say sưa và lăn lộn với cuộc sống nên tay nghề của tôi được nâng lên rõ rệt. Các bậc đàn anh cho tôi nhiều kinh nghiệm làm báo. Có lần, tôi đưa một bản thảo viết tay dập xóa nhiều lần cho trung tá Thụy Vũ ở báo QĐND với băn khoăn là bản thảo của mình dập xóa nhiều quá (tôi không biết đánh máy). Anh Thụy Vũ cười nói: mình lại thích những bản thảo viết tay dập xóa như thế. Nhìn vào, mình sẽ biết cậu đã nghĩ gì, rồi nghĩ lại mà xóa đi. Biết được dòng chảy tư duy của cậu. Nhìn một bản thảo đánh máy sạch sẽ, không thấy được điều đó. Cái thời ấy, các anh lớn tuổi ở các tòa báo làm việc đầy trách nhiệm như thế, nâng niu cộng tác viên như thế. Tôi đã theo nhà báo đàn anh Trần Minh Tân trên mọi nẻo đường vất vả. Theo anh từ lúc đi lấy tài liệu, cách hỏi han đối tượng khai thác tin tức, rồi đọc bản thào anh viết, đọc bài của anh khi đã đăng trên báo … và rút ra được nhiều điều bổ ích. Đặc biệt, tôi học tập được ở các nhà báo thế hệ đó đạo đức nghề nghiệp. Có lần, tôi đi với bác Minh Tân đến vùng trồng rau xanh của huyện Thanh Trì, vành đai cung cấp rau quả cho thủ đô Hà Nội. Trời rét như cắt ruột mà phải lội bộ hàng cây số ngoài đê sông Hồng. Đến trưa đói thắt ruột mà bí thư huyện ủy chỉ đưa cho bác Minh Tân vài các bánh quy rắn như đá. Vậy mà bác vừa đi vừa ăn trong gió rét. Đến chiều, chiếc xe com-măng-ca ọc ạch của báo Nhân Dân đưa bác về thẳng tòa soạn để bác làm việc ngay. Thế là sáng hôm sau tôi đã được đọc bài của bác trên báo. Bài viết nói về những vấn đề đặt ra cho vành đai rau xanh của Hà Nội, bài viết “đâu ra đó”! Trong gần ba năm 76,77 và đầu năm 78 làm việc ở chương trình này, tôi thâm nhập tầng lớp trí thức của Hà Nội để viết, quen biết nhiều vị trí thức danh tiếng bấy giờ. Một lần tôi đến gặp GS bác sĩ Hồ Đắc Di tại nhà riêng của ông là một biệt thự ở đường Lý Thái Tổ. Ông là hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Y khoa. Nhà Gs Di ở dưới, tầng trên là BS Tôn Thất Tùntg ở. Nghe nói vợ Bs Tùng gọi vợ Gs Di là cô ruột và cùng là người Huế. Tôi muốn phỏng vấn Gs bác sĩ Hồ Đắc Di về sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức. Giáo sư người nhỏ bé, ăn nói nhỏ nhẹ, ông nhìn tôi từ tốn nói: cậu cứ viết về câu hỏi, rồi tự viết câu trả lời, muốn viết gì thì viết… rồi đem máy ghi âm đến đây, tôi đọc vào rồi đem về đài phát!!! Tôi bẽ bàng quá, không ngờ nhận được kết quả như thế với một vị giáo sư điềm đạm như ông Hồ Đắc Di. Tôi ra về lòng buồn rười rượi, thà cứ quát mắng chúng tôi như giáo sư Tùng còn hơn là nhận được một lời nhã nhặn mà đau như thế. Tôi đem câu chuyện này kể cho một đồng nghiệp lớn tuổi ở báo Đại Đoàn Kết. Nhà báo lão thành này nói với tôi: là vì cậu chưa hiểu giáo sư Di đấy thôi. Hồi mới giải phóng thủ đô 1954, khi đó ông là hiệu trưởng trường Đại học Y. Có người đến xin gặp chính quyền nhà trường. Giáo sư Di đã trả lời: chính là tôi, còn quyền là vị bí thư Đảng ủy ngồi ở phòng bên cạnh! Bà bí thư đó là một cán bộ xã mới học hết lớp 2 trường làng cậu có biết không. Kể xong câu chuyện đó cho tôi nghe, vị nhà báo lão thành kia vỗ vai tôi bảo: buồn làm gì, chúng tao nhiều tuổi hơn nên hiểu chế độ này hơn mày! Trong khi các vị trí thức miền Bắc đã chán chường sự lãnh đạo của Đảng như giáo sư Di thì thời điểm mới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đó, các vị trí thức Sài Gòn lại rất hồ hởi, tin tưởng ở tương lai của đất nước. Ngày ấy, tôi được phân công một công việc khá nặng nề là làm cuộc tọa đàm thu thanh với các vị trí thức miền Nam là đại biểu quốc hội thống nhất khóa đầu tiên. Buổi tối, từ làng Hoàng Mai cuối thành phố, tôi chạy cái xe mobilet màu xám, còn gọi là xe “cá xám” lên tận khách sạn Thắng Lợi ở Hồ Tây, nơi các đại biểu miền Nam ra ở tại đó trong thời gian quốc hội họp. Tôi đưa thẻ nhà báo, xưng danh là của Đài TNVN xin được gặp giáo sư Lý Chánh Trung. Công an gác cửa gọi điện vào và tôi nhận được lời từ chối của ông. Hai ngày sau, tôi lại chạy xe lên khách sạn Thắng Lợi, lần này tôi yêu cầu cảnh vệ cho tôi được nói chuyện qua điện thoại trực tiếp với giáo sư Lý Chánh Trung. Tôi nói rõ yêu cầu của Đài và tha thiết xin ông cho gặp. Nhưng từ đầu giây bên kia giáo sư Trung kiên quyết từ chối với lý do ông đang rất bận, phải viết tham luận thay mặt trí thức miền Nam đọc trước quốc hội trong những ngày tới. Tôi vô cùng buồn bã. Khách sạn Thắng Lợi ở bên hồ Tây rộng mênh mông. Buổi tối, khi có ánh đèn, côn trùng từ không gian Hồ Tây bay về nơi có ánh sáng đã trở thành một vấn nạn cho khách sạn lúc đó. Vậy mà muỗi mòng hay rầy (còn gọi là thiêu thân) bay vô mặt tôi mà tôi cũng không buồn muốn đuổi… Về đến nhà, tôi nằm vật ra giường, người như lên cơn sốt. Với một phóng viên mới vào nghề, thử thách này quả là lớn đối với tôi. Nếu không làm được cuộc tọa đàm phỏng vấn này với các đại biểu quốc hội là trí thức miền Nam thì tôi còn “mặt mũi nào” mà vác mặt về Đài. Nhưng trò đời “cùng tắc biến”, tôi đã nghĩ ra một “mẹo” để có thể tiếp cận giáo sư Trung. Tối hôm sau, tôi lại phóng xe lên khách sạn Thắng Lợi. Lần này tôi nói với giáo sư Trung qua điện thoại: tôi bỏ ý định phỏng vấn giáo sư mà chỉ muốn gặp ông để nói những nhận xét, ý kiến độc giả, trí thức miền Bắc về các bài viết của giáo sư đăng trên văn đàn Sài Gòn và đặc biệt là bài viết về Hồ Chí Minh của giáo sư khi Bác Hồ mất trên báo chí Sài Gòn năm 1969… Quả là tôi đã “thắng lợi”. Có người cầm bút nào lại nỡ từ chối một lời đề nghị như thế của độc giả về những tác phẩm của mình. Nhất là những độc giả ở trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt hai miền như hai nước khác nhau? Giáo sư Trung đã đồng ý tiếp tôi. Trước khi vào câu chuyện, tôi còn giả bộ xem đồng hồ và nói: để khỏi làm mất thì giờ của giáo sư, tôi chỉ trình bày ý kiến trong 30 phút. Tôi nêu những nhận xét của bạn đọc miền Bắc về những bài SG Trung đã viết ở Sài Gòn. Tôi đi sâu nhận xét về cuối “Những ngày buồn nôn”. Đây là tập hợp những bài giáo sư đã viết trong một năm, mỗi tuần một bài, khi giáo sư ngồi chờ máy bay trong mỗi lần lên giảng bài ở đại học Đà Lạt. GS Trung không ngờ tôi lại đọc kỹ cuốn sách này như thế. Đây là điều rất bất ngờ đối với ông, một giáo sư ở tận Sài Gòn lại có độc giả như thế ở Hà Nội. Tôi có được những tác phẩm đó nhờ công tác ở Ban miền Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam, có đường dây đặc biệt mang sách báo Sài Gòn ra Bắc. Khi chiếm được cảm tình của giáo sư rồi, tôi lại giả bộ xem đồng hồ và nói: đã hết 30 phút, xin phép giáo sư… Nghe vậy, ông ngăn tôi lại và nói: cứ tiếp tục đi… tôi lại nói về bài viết của ông về Hồ Chí Minh năm 1969 khi ông Hồ qua đời. Bài báo đó được đăng và đọc trên đài, báo Sài Gòn sau ngày 3/9/1969. Trong bài đó, giáo sư Trung đã ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh và cuối cùng ông kết luận: chỉ tiếc là ông Hồ Chí Minh lại là cộng sản mà thôi! Chính cái kết luận này đã gây tranh cãi trong giới làm tuyên giáo, làm tuyên truyền ở Hà Nội. Có người khen, có người chê. Cuối cùng thì ông Trường Chinh kết luận, đại ý nói, người ta phải viết thế thì mới đăng được trên các báo ở Sài Gòn chứ. Đó là nghệ thuật của người ta, mình phải phục chứ! Tôi kể những chi tiết về “vụ” ấy cho giáo sư Lý Chánh Trung nghe, ông vô cùng thích thú. Cuối cùng tôi chân thành nhờ giáo sư giúp tôi làm một cuộc tọa đàm với anh em trí thức miền Nam là đại biểu quốc hội. Giáo sư đã vui vẻ đi các phòng gọi các anh: Nguyễn Long, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm… để cho tôi làm một cuộc tọa đàm thật vui vẻ. Máy ghi âm của tôi chạy ro ro… Tôi vui mừng được thấy những con người rất nổi tiếng như anh Nuôi, anh Mẫm… của phong trào sinh viên đấu tranh chống Mỹ Thiệu ở Sài Gòn trước 1975. Thật bất ngờ đến ngạc nhiên là hôm nay, 36 năm sau, trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam ngày 9/12/2012 tạo TP HCM tôi lại đứng cạnh anh Huỳnh Tấn Mẫm trên thềm nhà hát lớn thành phố, nơi cách đây 40 năm anh đã xuất phát để dẫn đầu đoàn sinh viên năm xưa. Trái đất quả là tròn! Cuộc tọa đàm này đã cho tôi một kinh nghiệm quý, bổ sung vào bài học “phỏng vấn-tọa đàm” mà các giáo trình báo chí chỉ dạy lý thuyết, chỉ nêu yêu cầu nội dung của một cuộc phỏng vấn hoặc tọa đàm mà không ai dậy, không ai nêu câu hỏi và trả lời cho các sinh viên đại học báo chí rằng: làm thế nào để gặp được người mình muốn phỏng vấn… khi họ đều là VIP, những người nổi tiếng, rất khó gặp. Nếu không tiếp xúc được với họ, nếu họ từ chối, hoặc có gặp được nhưng họ không “mở miệng” thì phỏng vấn cái gì? Chính vì thế mà các trường đại học báo chí trên thế giới họ không mời các giáo sư mà chỉ mời các phóng viên nổi tiếng đến giảng cho các lớp báo chí của họ. Còn ở ta, giảng dạy ở các trường tuyên huấn, báo chí, người dậy nếu không phải là một giáo sư văn học thì lại là một cán bộ chính trị, tuyên huấn chưa từng là ký giả bao giờ(!) Nghĩ lại cuộc tọa đàm, tôi quá hài lòng nhưng vẫn thấy tiêng tiếc vì không gặp được một gương mặt cũng rất tiêu biểu nữa là bà Ngô Bá Thành. Trước khi đem băng ghi âm về Đài và viết lời giới thiệu cuộc tọa đàm, tôi quyết định đến Quốc hội, tìm gặp bà. Tôi nói (và cũng để là xin phép) là xin bà cho tôi “ăn gian” ghi tên bà vào lời giới thiệu cuộc tọa đàm “Trí thức Nam Bộ” tại Quốc hội thống nhất, vì bà là một trí thức rất nổi tiếng. Bà Ngô Bá Thành đã cười ngặt nghẽo rồi nói: Tôi là con mẹ Bắc kỳ, sinh ra ở phố Nhà thương chó Hà Nội chứ Nam Bộ cái nỗi gì! Anh muốn giới thiệu tôi vào đâu cũng được. Nghe xong, tôi mừng quá, vậy là cuộc tọa đàm của tôi thật “hoành tráng”. Báo Hà Nội mới ngày ấy đã đăng bài tường thuật của tôi về cuộc tọa đàm này. Cũng xin mở ngoặc nói dông dài một chút. Phố “nhà thương chó” là phố Yersin ở gần vườn hoa Pasteur Hà Nội. Xưa kia thời Pháp là nơi nhốt chó dại để nghiên cứu. Dân mình gọi là “phố nhà thương chó” rồi chết tên luôn. Cũng như phố “Cây đa nhà bò” ở gần ô Đống mác, như “Ngã năm chuồng chó” ở Gò Vấp TP HCM, như ngõ “Cô ba chìa” ở Hải Phòng, hay như phố “Lò bánh mì”, phố “Cửa hàng thịt” ở Paris mà tôi đã biết. Trên thế gian này, ở đâu cũng có những cái tên “bình dân” như thế bên cạnh tên những anh hùng hào kiệt. Cũng tại Quốc hội thống nhất, lần đầu tiên tôi được nhìn tận mắt bà Nguyễn Thị Định. Trước đây chỉ thấy bà trên phim, ảnh. Bà Định hôm ấy mặc chiếc áo bà ba màu trắng, cổ quàng chiếc khăn rằn Nam Bộ. Bà đẹp lạ lùng, một vẻ đẹp phúc hậu, nền nếp giản dị mà kiêu sa dũng mãnh. Chỉ có phụ nữ Nam Bộ mới có vẻ đẹp lạ lùng đến thế. Kết thúc đợt tuyên truyền về Quốc Hội thống nhất, trong một cuộc giao Ban của Đài, tôi được tuyên dương về cuộc tọa đàm phỏng vấn trí thứ Nam Bộ, còn chị Thanh Hương đồng nghiệp của tôi thì bị phê bình vì không hoàn thành nhiệm vụ. Thật oan uổng cho chị Hương. Chị được phân công phỏng vấn một đại biểu Quốc hội là chị công nhân quét rác trong đoàn đại biểu TP HCM. Ngày ấy, mỗi đại biểu Quốc hội đều được phát một cái phiếu để đi mua hàng cung cấp. Thời bao cấp, “bán như cho, mua như cướp”. Cái phiếu ấy mua được nhiều hàng quý, có cả áo len nữa, Chị công nhân kia tất bật đi mua hàng trong các giờ giải lao, tối về lại đi chơi phố phường hà Nội nên chị Hương không sao gặp để phỏng vấn được. Còn các vị trí thức thì họ không quan tâm mua bán như chị công nhân và cũng không thiết đi xem “Hàng Đào không lụa…” của Hà Nội vì thế gặp trí thức dễ hơn gặp chị quét rác nhiều! Nhưng có một chuyện không dễ quên đó là, không hiểu vì lý do gì hay sơ xuất mà trong khi mỗi nhân viên phục vụ ở Quốc hội lại được phát một phiếu mua hàng, còn ba nhà báo mới được một phiếu nên phải bốc thăm để loại nhau! Một đồng nghiệp của tôi ở TTXVN mới phán một câu xanh rờn: thì ra ba thằng bồi bút mới bằng một con bồi bàn! Câu nói đó đến tai chủ tịch Quốc hội Trường Chinh. Ông lập tức họp báo vào cuối giờ phiên họp đó để xin lỗi các nhà báo. Ngày ấy văn hóa xin lỗi còn giữ được, chứ như ngày nay thì dễ gì anh hói, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng xin lỗi ai! Cuối năm 1976, cũng trong không khí hồ hởi thống nhất đất nước, Việt Nam đã tổ chức một hội nghị toán học lớn, có rất nhiều nhà toán học giỏi gốc Việt các nước về dự. Tôi phải ra tận sân bay để đón các trí thức Việt Kiều về dự hội nghị. Tôi nhớ đã đón tiến sĩ toán học Lê Dũng Tráng, 29 tuổi người Thanh Hóa, Gs Federic Phạm, cha là nhà toán học Việt Nam mẹ là người Pháp. Giáo sư Phạm sinh ra ở Pháp nên nói tiếng Việt rất khó khăn, chỉ nói được từng từ một, không thành câu. Đa số các vị là những nhà toán học lý thuyết. Một nữ giáo sư toán học ở trường ĐHSP Hà Nội dự hội nghị đó, bà là một người rất nổi tiếng, rất tâm huyết với nền toàn học của nước nhà rất được mọi người kính trọng vì tính tình thẳng thắn cương trực. Bà đã nói với tôi: toán lý thuyết rất quan trọng, rất vĩ đại nhưng với nước ta thì chẳng có tác dụng thiết thực là bao, thế cho nên ngày nào tôi cũng phải xếp hàng mua bắp cải để ăn! Rồi bà hỏi tôi: anh có biết trường phái “Toán học kỳ dị” là thế nào không, anh có biết thế nào là “Bài toán bốn màu không”? Rồi bà giải thích “Bài toán bốn màu là, tôi cho anh bốn màu khác nhu anh phải tô được bản đồ thế giới mà các nước ở xung quanh một nướclại không trùng màu nhau. Nhưng trên thực tế, có nước giáp ranh tới 5-6 nước thì làm sao mà tô được bản đồ thế giới, khi trong tay chỉ có bốn màu! Ấy vậy mà trên lý thuyết bài toán đó lại giải được. Thế nên giới toán học lý thuyết gọi bài toán đó là “Bài toán bốn màu”! Toán lý thuyết là thế đấy anh ạ! Nó chỉ làm người nghiên cứu nó vinh thần phì gia, với một nước nghèo và lạc hậu như nước ta thì… vô ích. Được vị giáo sư đáng kính này giảng giải tôi mới vỡ lẽ, tại làm sao trong hội nghị đó, đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc đó là Phó thủ tướng, phụ trách công tác khoa học đã kêu gọi các nhà toán học Việt Nam mà tuyệt đại là toán học lý thuyết chuyển sang nghiên cứu toán học ứng dụng cho đất nước được nhờ. Nhưng chẳng ai làm theo lời khuyên của tướng Giáp(!) Vì thế sau này, người ta làm rùm beng việc đón GS Ngô Bảo Châu, hòng lừa mị lớp trẻ, xem như cái lý thuyết “Bổ đề” là tất cả, toán lý thuyết là tất cả, họ quên mất rằng ở cái nước Việt Nam nghèo đói này, cơm áo, ruộng đất của nông dân, dân chủ với nhân dân còn cần gấp triệu lần cái “Bổ đề” kia. Vì thế, nhà văn Đào Hiếu mới lên tiếng. Và, tôi đã viết bài trên mạng INTERNET với đầu đề: “Trí thức, trí ngủ và trí trá” với cái kết luận: “Toán học rất vĩ đại. Viện nghiên cứu toán học cao cấp mà GS Ngô Bảo Châu đang làm viện trưởng rất sang trọng. Nhưng các bệnh viện nhi đồng ở nước ta các cháu thiếu nhi phải nằm chung 2-3 cháu một giường, các bà mẹ phải nằm dưới đất. Khi một em bé bị đau ruột thừa, mẹ em vừa khóc vừa bế em đến bệnh viện, van lạy các BS cứu nhân độ thế. Nhưng bệnh viện còn chờ bố em đi bán bò có tiền nộp viện phía thì mới mổ ruột thừa cứu em… thì mọi sự sang trọng phải xem lại, mọi vật trang trí phải xem lại”! Bài viết trên mạng tháng 4/2011 này của tôi đã gây nhiều tranh cãi. Cuối năm 1976, sau đại hội Đảng lần thứ 4, nhiều nhân vật bị loại dần khỏi chính trường. Giáo sư Tạ Quang Bửu là một điển hình. Ông Bửu là một người có cá tính mạnh và thuộc loại “cứng đầu”. Ông là tác giả của những câu nói nổi tiếng một thời. Ông tuyên bố: tôi là một nhà toán học, tiếp xúc nhiều với khái niệm trừu tượng, nhưng tôi chưa thấy cái gì trừu tượng bằng khái niệm “làm chủ tập thể”! (tác giả của “làm chủ tập thể” là TBT Lê Duẩn). Về cá nhân, tôi có may mắn được gặp giáo sư Bửu trong nhiệm vụ đi làm thu thanh cuộc bảo vệ luận án Ph. D lần đầu tiên trong nước. Trước đó học vị này là đem từ nước ngoài về. Đề tài bảo vệ thuộc chuyên ngành toán nên GS Bửu nằm trong ban giám khảo. Khi ông xuất hiện, cả hội trường đã đứng lên vỗ tay theo kiểu “đại hội”. Có nghĩa là vỗ tay theo kiểu đồng loạt theo nhịp, cách vỗ tay trong chế độ toàn trị chỉ dành riêng cho các vị lãnh tụ tối cao của Đảng và nhà nước. Tiếng vỗ tay kéo dài không dứt đến nỗi giáo sư Bửu phải ra hiệu nhiều lần xin ngừng. Sau khi hội trường im lặng, ông Bửu tiến đến chiếc micro và nói: tôi có gì oan ức mà các anh các chị phải làm như vậy(!) Số là, lúc đó GS Tạ Quang Bửu vừa mất chức Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Mọi người đã vỗ tay như thế để biểu thị thái độ “phản kháng” việc cách chức giáo sư! Một cách thức mà ngày nay người ta gọi là đấu tranh bất bạo động hợp pháp. Đến giờ giải lao, mọi người quay lấy GS Bửu, vòng trong vòng ngoài. Có người hỏi: thưa giáo sư, vì sao GS lại thôi giữ chức Bộ trưởng? Trả lời: vì lý do sức khỏe, nhưng người thay tôi thì đang nằm bệnh viện! Mọi người đã cười ồ! lại có người hỏi: thưa giáo sư, hiện nay GS làm gì? Trả lời: tôi làm chồng bà Bửu! Mọi người lại cười ồ. Tôi đã tường thuật thu thanh tạo chỗ cuộc bảo vệ luận án Ph. D đầu tiên này và cố tình để rất lâu tiếng “vỗ tay đại hội” khi làm hậu ký để phát sóng. Ngày ấy, phát thanh có vai trò chủ lực trong hệ thống thông tin đại chúng khi báo viết còn hạn chế, truyền hình mới ra đời và rất ít người có TV, còn INTERNET thì chưa có. Vì thế, không phải vô tình mà trang bìa tập 1 cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức lại in hình cái cột điện có gắn loa phóng thanh. Tôi được thính giả của Đài biết danh nhờ những chương trình phát thanh như các tường thuật thu thanh kể trên, vì trước khi phát bài đều có giới thiệu tên phóng viên thực hiện. Thật trớ trêu, ngay sau đó tôi lại bị phân công đi phỏng vấn vị bộ trưởng mới lên thay GS Bửu là GS phó tiến sĩ vật lý hạt nhân Nguyễn Đình Tứ. Vì ông Tứ mới lên bộ trưởng nên nhà ông còn ở gác 5 của khu tập thể Kim Liên Hà Nội. Tôi leo lên được gác 5 mệt muốn chết! Nhưng tôi hoàn toàn thất bại. Vì tất cả các câu hỏi được soạn sẵn ở nhà đại loại như bộ trưởng có dự định gì để khắc phục những tồn tại của ngành đại học và trung học hiện nay… đều bị tân bộ trưởng từ chối. Hầu như ông không trả lời gì cả (bất cứ một câu hỏi nào) và còn né tránh mọi lý do vì sao không trả lời. Ở một nền báo chí tự do thì nhà Đài có thể công bố tất cả những câu hỏi và công bố sự từ chối của vị tân bộ trưởng đối với những câu được hỏi. Như thế cũng là một chương trình phát thanh hay. Hay theo một nghĩa là nó đa dạng và tôi cũng vẫn được trả nhuận bút về cái chương trình đó. Nếu công bằng mà nói cho dù Đài TNVN tuy không chấp nhận quan điểm báo chí tự do nên không thể phát sóng thì Đài vẫn phải tính công lao động cho tôi, vẫn phải tính buổi làm việc đó vào số lượng tin bài đã được giao khoán cho phóng viên hàng tháng. Đằng này không. Tôi mất trắng chuyến đi phỏng vấn phải leo gác 5 và phải soạn câu hỏi cả buổi. Khi được lãnh đạo Đài hỏi về cuộc phỏng vấn, do bực tức, tôi đã trả lời không chút do dự: tôi vừa đi phỏng vấn một anh học trò giỏi, không phải đi phỏng vấn một ông bộ trưởng! Với một phóng viên mới vô nghề được một, hai năm mà dám trả...

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 15) Chương Bảy Ba mươi tám năm làm báo “lề phải” và “lề trái” Trong thời gian từ 1969 đến 1974 dạy học ở Cẩm Giàng, tôi tham gia Hội văn nghệ tỉnh, lại viết bài cho các báo ở Hà Nội nên tôi có quen biết một số nhà văn, nhà báo. Đó là cái cầu để tôi, từ một thầy giáo làng bước sang một sân chơi rộng hơn là làm báo ở cơ quan báo chí thuộc trung ương. Có lần, nhà thơ Thanh Thảo từ chiến trường ra Bắc điều dưỡng ở trại điều dưỡng Nam Sách-Hải Dương, không biết ai giới thiệu, anh Thảo đã “trốn trại” về Cẩm Giàng chơi với tôi. Anh đem theo một tập bản thảo thơ còn chưa in ấn ở đâu. Tôi đã được đọc bài thơ “Dấu chân trên trảng cỏ” của anh trước khi nó nổi tiếng trên cả nước. Nhưng Thảo cũng có những ý thơ “khác thường” nên không được giới chính thống ưa. Tôi nhớ một câu “khác thường” ấy trong tập thơ chép tay của anh: thế hệ tôi bùng cháy ngọn lửa của chính mình/ không dựa dẫm những hào quang có sẵn… Ai cho phép nhà thơ “bùng cháy ngọn lửa của chính mình”? Chữ “dựa dẫm” nhằm mỉa mai ai? “Hào quang có sẵn” nhằm ám chỉ cái gì? … Cứ thế người ta đặt câu hỏi với tác giả. Câu chuyện về Thanh Thảo có liên quan đến câu chuyện của Chế Lan Viên mà tôi sẽ kể ở những phần sau. Một lần khác, vào năm 1974, nhà thơ Trúc Thông ở Ban miền Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam về Hải Hưng công tác. Anh Thông có hỏi nhà thơ Mai Thanh Chương ở tỉnh rằng, ở đây có ai “chơi được”, có thể “chứa chấp” anh trong vài ngày…? Mai Thanh Chương giới thiệu tôi, giáo viên dạy văn ở trường cấm 3 huyện Cẩm Giàng, hội viên Hội Văn nghệ tỉnh. Trúc Thông là nhà thơ đã có danh ở Hà Nội nhưng anh chưa được in một tập thơ riêng nào cho mình ngoài những bài thơ đã đăng đây đó trên báo, đọc trên đài… Hồi ấy in được một tập thơ lớn chuyện lắm, không như bây giờ (2013), có tiền triệu rồi mua cái giấy phép xuất bản là in được ngay một hoặc vài ba tập thơ một lúc. Thậm chí ai có tiền, nhất là các đại gia, còn có thể thuê người khác làm vài chục bài thơ rồi xuất bản lấy tên mình! Nếu sang hơn, sau khi thơ in rồi, có thể mở cuộc hội thảo mời ông Hữu Thỉnh chủ tịch Hội nhà văn về dự, miễn là tác giả chuẩn bị vài cái bao thơ cho nằng nặng một chút. Thơ muốn nói gì thì nói miễn là không nói đến những đề tài “nhạy cảm” như nỗi đau của nông dân bị cướp đất hay nói chuyện dân chủ, bảo vệ chủ quyền đất nước là được. Anh Trúc Thông được in tập thơ đầu tay vào năm 1985, do nhà xuất bản Tác phẩm mới Hội nhà văn ấn hành, số lượng 5000 cuốn, giá 4 đồng. Nhưng là in chung với anh Đào Cảnh ở Hải Phòng. Bìa tập thơ phải chia làm hai. Phần trên, tên tác giả Đào Cảnh với tên tập thơ “Thời yêu thương”. Phần dưới là của Trúc Thông với tên tập thơ “Chầm chậm tới mình”. Có 98 trang sách mà phải chia hai, thật khốn khổ! Có ai hỏi vì sao lại đặt tên là “Chầm chậm tới mình”, thì anh giải thích, chầm chậm rồi cũng đến lượt mình được in thơ! Trúc Thông đến Cẩm Giàng ở chơi với tôi gần cả tuần lễ. Hồi ấy tôi có khẩu súng hơi Tiệp Khắc, mua lại của ông Nguyễn Đình Thiên, anh ruột của nhà khoa học Nguyễn Đình Tứ nên ngày nào cũng bắn được chim về đãi khách. Sau những ngày “nhàn đàm”, trước khi về Hà Nội anh Trúc Thông bảo với tôi: làm một cái đơn xin về Ban miền Nam của Đài TNVN. Theo anh Thông, Ban đang cần người, tìm chưa được. Tôi có khả năng về Ban miền Nam của Đài, vì anh thấy tôi tỏ ra có kiến thức, nhạy cảm, có khả năng viết lách… Tôi nghe lời Trúc Thông và làm đơn. Mấy tuần sau anh Thông nhắn tôi về Đài ở 58 Quán Sứ Hà Nội để lãnh đạo… “sát hạch”! Tại cơ quan Đài TNVN, phó Ban miền Nam Mai Thúc Long yêu cầu tôi viết một bài với đề tài: kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9 trong bối cảnh chính sự miền Nam năm ấy (1974). Anh Long bảo tôi, cậu về viết rồi gửi lên cho Đài. Nếu đúng ngày 23/9 theo dõi Đài TNVn, thấy phát bài ấy vào ngày… giờ… thì coi như Đài nhận cậu về làm phóng viên. Khi tôi định ra về thì Trúc Thông bảo tôi: ông Long này thích nhanh, anh nên quay lại bảo ông ấy cho anh được ngồi viết ngay tại Đài, viết xong nộp cho ông ấy. Như thế ông ấy khoái lại khỏi nghi ngờ anh về nhờ người khác viết hộ. Tôi làm như lời Trúc Thông, Phó ban bảo tôi ngồi ngay bàn của ông ấy mà viết. Đi đâu đó độ 2 giờ đồng hồ, ông Long quay lại pha cho tôi một ly nước chanh rồi lại đi. Khoảng 12 giờ ông quay về thì tôi vừa viết xong bài, độ 3 trang giấy học trò loại “5 hào 2”. Đó là thứ giấy trắng khổ to giá 5 hào 2 phổ biến và sang trọng thời ấy, tương đương khổ giấy A 4 bây giờ. Tôi ra về nhưng không hy vọng lắm về cuộc “sát hạch” này, vì trợ lý của Ban là anh Hữu Tính cho biết Ban đã đặt bài nhà báo Lưu Quý Kỳ viết bài với nội dung như thế để phát vào ngày 23/9 sắp tới. Nhưng thật không ngờ, bài của tôi được phát sóng trên đài đúng ngày giờ như ông Long đã nói. Tôi còn nghe được bài của nhà báo Lưu Quý Kỳ phát trên đài cũng vào dịp đó. Chỉ một tuần sau tôi nhận được công văn tiếp nhận về Đài Tiếng nói Việt Nam do bà phó Ban tổ chức Đài đem xuống tận trường. Việc chuyển công tác của tôi rất chật vật vì Ty Giáo Dục Hải Hưng không đồng ý. Ty Giáo dục lấy lý do giáo viên cấp 3 do Bộ Giáo dục đào tạo và chỉ phân về các địa phương. Ủy ban nhân dân các tỉnh không được chuyển giáo viên cấp 3 ra khỏi ngành. Đó là quy định của Bộ. Tôi lại phải dùng đến thế lực của tướng Qua mới có được quyết định về Đài do chủ tịch UBND tỉnh Hải Hưng Nguyễn Bắc ký. Những năm ở Đài TNVN và Đài Truyền hình Trung ương Về Đài tôi được phân công vào tổ “Thành thị miền Nam” nơi làm các chương trình phát thanh cho đô thị miền Nam. Ban khi đó tập trung những cây bút xuất sắc của Đài vì lúc đó ưu tiên số 1 là công tác tuyên truyền đấu tranh thống nhất đất nước. Suốt một thời kỳ dài, báo viết hiếm hoi, lại vận chuyển khó khăn, truyền hình chưa có nên tất cả thông tin đều trông vào làn sóng của Đài (kể cả ca nhạc, sân khấu). Thể tài sân khấu truyền thanh, đặc biệt là “câu chuyện truyền thanh” và “tiếng thơ” là những thể tài chỉ phát triển ở ngành phát thanh Việt Nam do những đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội ở Việt Nam. 40% dân số Pháp biết chơi một nhạc cụ, người nông dân Pháp có thể tự biểu diễn và thưởng thức văn nghệ trong làng quê của mình khi có thời gian nghỉ ngơi hoặc hội hè. Nhu cầu tin tức và nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật của dân ta trong một thời kỳ dài chỉ có thể trông vào Đài phát thanh và hệ thống loa công cộng, loa kim dẫn đến từng nhà trong thời kỳ của hai cuộc kháng chiến. Hình ảnh nhiều người tập trung để nghe một vở sân khấu truyền thanh dưới một cái loa là hình ảnh chỉ có ở Việt Nam. Tôi về công tác ở Đài TNVN trong thời kỳ mà nhu cầu nghe đài của nhân dân lớn hơn bao giờ hết. Đó là thời gian cuối 1974, đầu 1975 chiến sự ở miền Nam diễn biến dồn dập, công việc ở Ban miền Nam của Đài cũng dồn dập, tất bật theo với diễn tiến của chiến trường, chính trường miền Nam. Từ sáng sớm, những cây bút lão luyện của Ban như Trung Ngôn, Viễn Kinh, Phan Đắc Lập… vừa bốc xôi (hay gặm bánh mì), vừa liếc mắt trên những trang báo xuất bản ở Sài Gòn như: Tiền Tuyến, Đại Dân Tộc, Chính Luận, Điện Tín… do một đường dây đặc biệt chuyển ra. Khoảng 9-10 giờ, các anh xoay trần trên máy chữ gõ bài rồi chuyển ngay đi thu âm, phát sóng. Những tin bài nóng hổi tính thời sự như thế là không thể thiếu được với bạn nghe đài cả nước, cả ở miền Nam nữa. Tôi nhìn các anh làm việc mà thán phục. Nghĩ rằng mình không biết đến bao giờ mới trở thành một nhà báo lão luyện và hiện đại như thế. Nhưng rồi tôi hòa nhập cũng nhanh. Tin, bài tôi viết đầu được lãnh đạo Ban sử dụng. Với một người mới tập việc như thế xem như là được. Một sự việc mà tôi nhớ mãi là cuối tháng ba, khi ta đánh vào thành phố Huế, ông Trường Chinh gọi điện qua lãnh đạo Đài, yêu cầu cử phóng viên sang bệnh viện Việt-Đức, thu thanh lời nói của GS Tôn Thất Tùng, người Huế… kêu gọi trí thức Huế ở lại với cách mạng, đừng hốt hoảng bỏ chạy theo “địch”. (Tôi viết chữ “địch” trong ngoặc, bởi thời điểm tôi viết hồi ký này là 2013, còn dùng chữ “địch” để chỉ chế độ Việt Nam Cộng hòa e rằng không công bằng. Hôm nay, những kẻ đi cướp đất của Đoàn Văn Vươn, cướp đất ở Văn Giang, ở Vụ Bản… bây giờ có khác gì “địch” mà ta gọi ngày ấy!). Là phóng viên của tổ Đô thị miền Nam, tôi được cử đi gặp GS Tùng. Sau câu chào hỏi và biết rõ lý do, ông nhìn tôi một cách vô tư rồi gật đầu, ngồi xuống bàn, lấy một tờ giấy “5 hào 2”, dùng bút chấm mực và hý hoái viết. Tôi ngồi ngắm SG Tùng, ông rất đẹp tướng, tóc bạc trắng hơi dài chấm ngang vai, da dẻ hồng hào… Trông ông vừa có vẻ một chính khách Phương tây lại pha chút đạo cốt tiên ông của phương Đông dễ làm người ta thấp thỏm. Nghe nói ông nóng tính khi đang mổ cho bệnh nhân, hễ người phụ mổ chậm đưa dao kéo là ông lấy chân đá ngay người ta, dù người “ét” đó là vợ ông cũng thế. Thấy ông hý hoáy viết là tôi mừng. Viết xong, SG Tùng đưa bản thảo cho tôi. Ông viết rất ngắn, chữ xấu như chữ học trò lớp ba, lại to như con gà mái… Tôi vẫn giữ bút tích của ông đến tận bây giờ để làm kỷ niệm (dù nhiều lần dọn nhà). Một đồng chí lãnh đạo của tôi ở cấp phòng đã viết thêm một đoạn nữa vào bản thảo của ông rồi đánh máy để đem lên cấp Ban duyệt. Tôi cầm bản đánh máy đã được duyệt chạy ngay sang bệnh viện Việt Đức để thu thanh lời kêu gọi của GS Tùng. Tôi cẩn thận nhờ thêm anh Hữu Tính cùng đi, vì anh thông thạo thu thanh, phòng có gì bất trắc sẽ có người hỗ trợ. Giáo sư Tùng chăm chú xem bản thảo đã đánh máy và được duyệt, có thêm bớt ở đầu và cuối bài. Đọc xong chẳng nói chẳng rằng, ông xé tờ giấy đánh máy làm đôi và vứt xuống đất, còn dậm chân lên… rồi mắng hai đứa tôi: đồ ngu! Tôi giận run cả người, nhưng vẫn giữ được bình tĩnh và cúi xuống nhặt mảnh giấy đã bị xé làm đôi. Tôi hỏi GS Tùng: xin giáo sư cho biết chúng tôi ngu ở điểm nào? Ông trợn mắt quát: tại sao các anh lại viết thêm vào “nhân dịp này xin chúc đồng bào… nhân dịp gì? Cái gì cũng nhân dịp, người ta đang cực kỳ hoang mang thì mình lại “nhân dịp”. Ngu nó vừa vừa thôi chứ! Ngu thật rồi, cái đoạn ông phó phòng của tôi thêm vào cuối bài kêu gọi của GS Tùng rất trơ trẽn, vô duyên, không ăn nhập gì với lời lẽ ở trên của giáo sư. Một người làm báo phải biết nghe người ta chửi mình là ngu, nếu chửi đúng. Tôi nghĩ vậy nên xin giáo sư được sửa lại đoạn cuối. Ông đồng ý. Tôi cẩn thận cầm cả hai tay đưa lại hai mảnh giấy giáo sư vừa xé có phần cuối bài do tôi vừa sửa lại. Đọc xong ông gật đầu và ra hiệu cho chúng tôi đưa máy lại thu thanh. Đến lúc đó, Hữu Tính vẫn ngồi ung dung như không có gì xảy ra, anh giúp tôi thu thanh. Phòng mổ và phòng kế bên nơi ông làm việc máy lạnh chạy đều đều. Đây là nơi hiếm hoi ở Hà Nội được sử dụng máy lạnh ngày ấy, vậy mà tôi vã mồ hôi do lo sợ không hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ khi xong mọi việc tôi mới biết mình… đã toát mồ hôi. Thấy thế, giáo sư bảo hai đứa: không nên viết dài, viết ngắn thôi, nhưng phát thanh nhiều lần, phát để người ta ngồi ỉa cũng nghe được thì mới tốt. Từ đó trở đi, khi cầm bút đi lang thang trên mọi nẻo đường tươi đẹp và đau khổ của đất nước, bên tai tôi luôn văng vẳng giọng Huế của GS Tùng: đồ ngu, viết ngắn thôi! Sau này khi giảng dạy ở những lớp nghiệp vụ báo chí, về phần phát thanh tôi không quên đưa ý kiến của GS Tùng vào giáo án của mình: viết ngắn, phát nhiều lần. Vậy rõ ràng là, cứ theo lời kêu gọi trí thức Huế ở lại với cách mạng của GS Tùng, được đích thân đồng chí Trường Chinh chỉ đạo cho Đài thực hiện thì đến lúc ta đánh vào Huế, trung ương vẫn chưa có ý định đánh vô Sài Gòn. Nhưng diễn biến tình hình quá nhanh, và chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ được quyết định sau đó. Hàng loạt tỉnh từ Đà Nẵng trở vào lần lượt được giải phóng. Do đất nước bị chia cắt lâu, các tỉnh miền Trung và Nam trung bộ ít được dân miền Bắc biết tới. Tôi được Ban chỉ thị phải giới thiệu về từng tỉnh mới được giải phóng trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Công việc này dễ mà khó. Dễ vì không cần phải đi đâu, ngồi nhà viết cũng được. Khó vì nếu không có tư liệu thì không thể viết được. Nhờ có tủ sách phong phú mà tôi đã góp nhặt được trong 8 năm dạy học nên các tỉnh chạy dài suốt mảnh đất miền Trung đã được tôi giới thiệu về địa lý, văn hóa, kinh tế một cách tóm tắt nhưng khá đầy đủ khi nó lần lượt được giải phóng. Ngày 30/4/1975 là một ngày đáng ghi nhớ ở Hà Nội. Với cơ quan Đài Tiếng nói Việt Nam thì càng nhộn nhịp. Các phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của Đài là dân miền Nam tập kết đều được mọi người chúc mừng. Câu nói cửa miệng của người Hà Nội mỗi khi nhắc đến cái gì đó xa xôi là “chờ đến ngày thống nhất”, thì ngày ấy đã tới. Niềm vui vỡ òa trên đường phố. Ngày ấy không ai ở nhà cả, người ta cứ ra phố. Dù không biết đi đâu nhưng nhất định là không ở nhà. Cứ đi, cứ đi, gặp chỗ nào có người quen là xà vào. Ngày ấy, tôi cứ nghĩ là nhà nước sẽ mở kho, khao dân chúng “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” như các vua chúa ngày xưa mỗi khi thắng trận, nhưng không hề có. Chỉ có các quan là có vật chất mà thôi. Tướng Qua, từ khi lên cấp tướng, tuy chức vụ vẫn là Cục trưởng như hàm ngang với thứ trưởng nên được cấp xe la-đa đi riêng, được cấp sổ mua hàng ở cửa hàng cao cấp Tôn Đản. Thời đó có câu ca dao: Tôn Đản là chợ của vua quan / Nhà thờ là chợ của trung gian nịnh thần / Đồng Xuân là chợ của tư nhân / vỉa hè là chợ của nhân dân anh hùng! Tôi đến nhà tướng Qua với hy vọng là được uống bia và hút thuốc lá Điện Biên bao bạc, và quả đúng như tôi dự đoán. Lúc đó, ông còn ở khu tập thể ngõ Văn Chương. Hàng xóm của ông là trung tá nhà thơ trào phúng Lê Kim làm ở báo QĐDN. Hai vị đang liên hoan bên nhà tướng Qua lúc tôi đến. Chính tại bữa bia bọt đó, tôi được biết trung tá Lê Kim hôm sau sẽ lên đường vô Nam công tác. Ông được phát cho một khẩu súng lục mà theo tướng Qua nhận xét: tay này chưa biết bắn súng thế nào. Và, tôi cũng được biết, Bộ Công An sẽ cử một đoàn đi Nam để tìm kiếm Nguyễn Công Tài, người hùng của Bộ. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 16, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/16/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-15/ *** Đọc tthêm: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 16): https://www.minds.com/newsfeed/1019882351137206272?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 14): https://www.minds.com/newsfeed/1019879547523878912?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 14) Lời Ai Điếu Hơn tám năm dạy học, tôi thấy rõ sự xuống cấp của giáo dục miền Bắc từ những năm đó. Hai yếu tố dậy và học làm nên quá trình giáo dục thì học là quyết định, dậy là quan trọng. Chưa bàn đến quá trình học, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tôi chỉ nói về quá trình dậy, liên quan trực tiếp đến người thầy. Bệnh hình thức, hay nói khác đi, gọi đúng tên của nó là giả dối đã ngự trị trong lao động dạy học. Điều đáng nói là, chính những người lãnh đạo giáo dục ở các cấp đã vì dốt nát và giả dối, chấp nhận chủ nghĩa hình thức. Đối với môn văn thì lại càng nguy hiểm. Học sinh ngày càng chán học môn văn, vì ngoài việc môn này bị chính trị hóa, còn một nguyên nhân rất quan trọng là sự lười biếng được khuyến khích ở thầy dậy văn. Văn học là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo” về cuộc sống. Tác phẩm văn học được đưa vào sách giáo khoa, được đem giảng dạy ở nhà trường, một lần nữa nó phải được thầy cô “khám phá” về cái đẹp để truyền thụ cho học sinh. Sự khám phá này được thầy cô nghiền ngẫm trong từng câu, từng chữ qua nhiều năm. Như người nghệ sĩ đánh đàn, càng lâu năm ngón đàn càng điêu luyện. Vì thế các cụ ta có câu: thầy đờn già, con hát trẻ. Một bài thơ hay như bài “thăm lúa” của Trần Hữu Thung, một thầy giáo dậy văn phải giảng bài thơ này năm này qua năm khác. Nhưng chưa phải là đã khám phá ra hết cái hay, cái đẹp của bài thơ. Vậy mà giáo án của tôi để dậy bài thơ đó được soạn năm trước, năm sau suy nghĩ, rút kinh nghiệm, thêm bớt một số ý, một số từ. Mỗi năm một lần giảng là một lần thêm bớt như thế vào giáo án cũ. Nhưng cán bộ chuyên trách bộ môn văn, một chuyên gia được xem là am hiểu của ty giáo dục về môn văn, về trường kiểm tra đã kịch kiệt phê bình tôi không soạn giáo án mới, đem sử dụng giáo án cũ. Anh ta lại biểu dương một giáo án được chép lại thật sạch sẽ giáo án cũ, có gạch chân các phần bằng mực đỏ nhưng không được bổ sung thêm bớt gì. Anh ta biểu dương công chép lại một giáo án cũ mà phê phán sự trăn trở tìm tòi của người giảng dạy một bộ môn nhgệ thuật đòi hỏi phải luôn sáng tạo và khám phá. Mặt khác, thấy giáo dậy văn phải là diễn viên có tài trên lớp, anh ta phải “thoát ly” được giáo án, phải thuộc “kịch bản” để bằng ngôn từ và ngoại hình cho học sinh “cảm thấy” được cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà bài thơ, bài văn đó đã khám phá. Leonard de Vinci đã từng nói: “Họa thơ là nhìn thấy, thơ là họa cảm thấy” là gì. Học sinh của chúng ta rất chán học văn vì thầy cô chỉ cầm giáo án mà đọc từ năm này qua tháng khác. Tôi đã kịch liệt phản đối cách kiểm tra, chấm điểm đánh giá giáo viên văn qua cách kiểm tra giáo án một cách hình thức như thế. Nhưng tôi đã thua cuộc vì người đánh giá mình là… cấp trên. Nhà trường cũng sợ cấp trên. Năm học đó tôi không được xếp hạng “lao động tiên tiến”, một danh hiệu cho tất cả các cán bộ công nhân viên nhà nước thời đó, trên danh hiệu đó là “chiến sĩ thi đua”. Nhưng cuối niên học đó đã xảy ra một sự kiện “động trời” với ngành giáo dục của tỉnh. Số là, cuối năm khối lớp 10 trong cả tỉnh đều tổ chức thi thử các môn chính cho học sinh lớp 10 trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp phổ thông hệ 10 năm. Thi thử là để đánh giá chất lượng dậy và học, và được tổ chức nghiêm túc như thi thật. Đề do Ty giáo dục ra, giờ thi thống nhất toàn tỉnh. Đầu đề môn văn năm đó là: các em hãy phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu. “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mật trời chân lý chói qua tim Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đượm hương và rất rộn tiếng chim”. Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù tốt nghiệp phổ thông hay thì vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã phán một câu: đây là tà thuyết. Khi kẻng đã đánh, đề thi được chép lên bảng. Các lớp 10 khác của nhà trường đều im phăng phắc, các em cặm cụi làm bài thi. Riêng lớp tôi, theo lệnh của tôi, các em không phải làm bài, cứ ngồi yên. Khi thầy hiệu trưởng đến kiểm tra đã vô cùng kinh ngạc. Ông kéo tôi ra hàng hiên, hỏi: tại sao lớp thầy học sinh không làm bài? Tôi trả lời: đề thi ra sai(!) Thầy hiệu trưởng càng kinh ngạc: sai cái gì? Tôi trả lời: bốn câu thơ trong đề thi chỉ là một khổ thơ trong bài “Từ ấy”. Còn tám câu của hai khổ nữa mới hoàn chỉnh bài. Nói xong tôi đọc tiếp bốn câu thơ tiếp theo của khổ thứ hai: “Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi và bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” Tôi nói tiếp, vậy mà đề thi lại yêu cầu phân tích cả bài thơ Từ ấy của Tố Hữu. Nếu học sinh của tôi, theo yêu cầu của đề thi phân tích xuống cả những câu tiếp theo thì sao? Thầy hiệu trưởng run lên bần bật vì tôi đã đúng. Nhưng nếu một lớp mà không thi với lý do truy ra đề sai thì… “to chuyện lắm”. Thầy hiệu trưởng năm nỉ tôi cứ cho học sinh làm bài. Tôi kiên quyết từ chối, cho học sinh giải tán ra về. Sự việc trên là một trái bom nổ trong ngành giáo dục Hải Hưng lúc đó. Người ra đề thi năm đó, dĩ nhiên phải là cán bộ chuyên trách bộ môn văn của Ty, ông chuyên viên đã từng kiểm tra giáo án của tôi trong đợt “thanh tra” hồi giữa năm! Ông ta bị cách chức “cán bộ chuyên trách” môn văn ngay sau đó. Trong thời gian dạy học ở Cẩm Giàng, tôi tham gia sinh học và trở thành hội viên Hội văn nghệ tỉnh Hải Hưng, dự các trại sáng tác văn thơ do Hội tổ chức. Ngoài ra còn viết cho báo Văn Nghệ đề tài “Phương pháp luận giảng dạy văn học” trong nhà trường. Tôi còn viết cho báo “Người giáo viên nhân dân” của Bộ Giáo dục cũng đề tài giảng dạy văn học… Chính vì tham gia các hoạt động văn học, tôi biết khá rành về nhà thơ tý hon lúc đó là Trần Đăng Khoa. Khoa sinh năm 1958 tại xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách tỉnh Hải Hưng. Tám tuổi cậu đã có thơ đăng báo. Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” được tuyển chọng trong 200 bài thơ Khoa đã làm trong hai năm, được Khoa lấy tên chung là “Từ góc sân nhà em”, Ty giáo dục Hải Hưng xuất bản tháng 2 năm 1968, lúc tác giả vừa tròn 10 tuổi. Từ điển Wikipedia trên mạng Internat sau này đã nhầm lẫn khi giới thiệu “Từ góc sân nhà em” là tập thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa và tập tiếp theo là “Góc sân và khoảng trời” do nhà xuất bản Kim Đồng in ấn(!). Thực ra, tập thơ “Góc sân và khoảng trời” là do Ty Hải Hưng xuất bản dầy 54 trang,, gồm 52 bài thơ. Một cậu học trò của tôi ở trường trung cấp sư phạm tỉnh, sau khi tốt nghiệp và quận Nam sách dạy học đã mua và đem tặng tôi. Tôi đã đọc rất kỹ tập thơ này. Tôi yêu nó đến mức, đi đâu dù phải dọn nhà nhiều lần vẫn mang nó đi theo. Năm 1981, chuyển công tác từ Hà Nội và Đồng bằng sông Cửu Long (Mỹ Tho), tôi đã chọn trong cả trăm cuốn sách của mình và chỉ mang theo ba cuốn, trong đó có tập “Góc sân và khoảng trời”. Tháng 6 năm 1981, tôi đã tặng nó cho thầy giáo Nguyễn Văn Quýt, một nhà chơi sách nổi tiếng ở Tiền Giang. Mỗi lần tỉnh tổ chức triển lãm sách quý, cuốn “Góc sân và khoảng trời” đều được đem ra trưng bày trước sự thích thú của độc giả. Năm 1992, khi chuyển công tác về Sài Gòn, tôi mượn lại cuốn đó của thầy Quý để photo lại. Đến hôm nay khi tôi viết những dòng chữ này, cuốn photo đó vẫn nằm trước mặt tôi. Thế là, tôi đã đem “Góc sân và khoảng trời” theo mình suốt 40 năm. Có thể vì “chơi” như thế nên tôi đã nghèo suốt đời (giống như thầy giáo Quý, người chơi sách nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long). Với tâm hồn bay bổng, tình cảm chan chứa, bằng sự quan sát tinh tế và cách diễn đạt hồn nhiên của một cậu bé sinh ra và lớn lên ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, Trần Đăng Khoa đã làm kinh ngạc cả văn đàn miền Bắc thời đó. Những bài thơ như “Cây dừa”, “Đám ma bác giun”… tác giả đã trở thành một thi sĩ lớn ngay từ lúc tuổi còn nhỏ. Một ngày nắng đẹp đầu thập kỷ 70, tôi đến thăm Trần Đăng Khoa. Tôi phải nhờ cậu học trò cũ của tôi ở trường sư phạm năm nào dẫn đường. Làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn nơi sinh sống của cậu bé Khoa hiện ra trước mắt tôi, nhưng đến nơi thì buổi chiều đó cậu lại đang đi đơm cá. Chúng tôi tìm đến nhà thơ thiếu niên trên cánh đồng. Khoa từ dưới ruộng mò lên, quần áo ướt lướt thướt. Cậu học sinh của tôi (lại là thầy dậy của Khoa) cất tiếng hỏi: Khoa có bài thơ nào mới làm không đưa cho thầy Khải xem? Cậu bé Khoa đặt cái nơm xuống đám cỏ rồi ngả chiếc mũ lá rộng vành xuống, cẩn thận lấy từ trong mũ ra một tập giấy đưa cho tôi. Tôi không tin vào mắt mình nữa khi trước mắt tôi là bản “Trường ca giông bão”. Tôi ngồi xuống ngay vệ cỏ đọc một mạch cho đến hết. Nó chẳng kém gì ILIADE, ODYSSEUS của Homeros! Hơn 40 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ mấy câu cuối cùng của bản trường ca đó: “… Ta nhất định thắng / vì đầu ta có nhiều lẽ phãi / tay ta lấm láp phù sa” Ít lâu sau tôi về Hà Nội, đến báo Nhân Dân gặp nhà báo Quang Đạm. Ông là một trí thức tên tuổi của Hà Nội. Trong làng báo thời đó, có hai người biết nhiều ngoại ngữ nhất là Quangg Đạm ở báo Nhân Dân và Lê Phú Hào ở VNTTX. Tôi “báo cáo” ông Quang Đạm về bản “Trường ca going bão” và được biết ông đã có đọc từ trước. Ông trầm lặng nói: thiên tài! Thiên tài! Rồi ông lại chậm rãi nói tiếp: nhưng Đảng ta tiết kiệm lắm! Tiết kiệm lắm! Tôi hiểu, ý ông muốn nói là không có chuyện khen ai, nhất lại là khen một cậu bé như Trần Đăng Khoa… trên báo Đảng. Không thể lăng-xê ai để người đó có thể qua mặt những người như XYZ… Sau đó không lâu tôi được thấy bài đó được in trên cáo báo nhưng tên bài đã được biên tập dưới cái tên rất ngô nghê và vớ vẩn. Người biên tập đã tầm thường hóa nó với cái tên mới là: “Trường ca đi đánh thần hạn!” Cách biên tập, sửa chữa để các tác phẩm văn học thời đó trước khi ra mắt độc giả của các tòa soạn báo là không để ai “qua mặt” được các cây đa cây đề như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… những người được Đảng và chính quyền đề cao. Tố Hữu khi còn nhỏ đã viết trường ca đâu… mà một cậu bé con như Trần Đăng Khoa lại dám viết “Trường ca giông bão”, nó chỉ có thể mang một cái tên như một bài vè nôm na, tầm thường là “Trường ca đi đánh thần hạn”, một kiểu kêu gọi người ta đi tát nước chống hạn mà thôi. Tôi nói điều này vì tôi đã được nhiều lần từng chứng kiến cái kiểu biên tập vô liêm sỉ ấy của báo chí ngay từ những năm 60-70 của thế kỷ trước. Bài thơ “Hạt gạo làng ta” nổi tiếng của Khoa được ca ngợi, được Xuân Diệu hiệu đính, nhạc sĩ Trần Khiết Bình phổ nhạc vào năm 1971, đã được “biên tập” hạ thấp nó xuống. Phải nói là cố tình hạ thấp nó cho dù người ta biết thừa nếu để nguyên văn thì tác giả lớn hơn nhiều. hạ thấp nó để đúng lập trường quan điểm của Đảng về văn nghệ XHCN không có bi kịch, không có nỗi buồn, không có cái đau. Khi bài “hạt gạo làng ta” đăng báo nó như sau: “Hạt gạo làng ta Có vị phù sa của sông Kinh Thầy Có lời mẹ hát ngọt bùi hôm nay…” Nhưng trước đó, khi tôi đọc bài này trong bản thảo của Khoa thì nó như sau: “Hạt gạo làng ta Có vị phù sa của sông Kinh Thầy Có lời mẹ hát Ngọt bùi, đắng cay…” Chữ “đắng cay” đã được biên tập thành chữ “hôm nay”. Vậy là đã giết chết tác giả của bài thơ rồi. Từ một nghệ sĩ đích thực, kẻ phát ngôn của tâm hồn nhân dân, Khoa đã trở thành một kẻ minh họa tầm thường, một kẻ bồi bút chỉ biết véo von ca ngợi và ca ngợi… Lời mẹ hát “ngọt bùi hôm nay” thì nhạt nhẽo quá. Câu thơ vừa ngớ ngẩn, vừa tầm thường lại dối trá nữa. Người mẹ nghèo ở quê hương của chúng ta vất vả, đắng cay từ ngàn xưa, nay còn “đắng cay” hơn vì đi làm hợp tác xã, một ngày công chỉ được mấy lạng thóc mà lời hát thì chỉ có “ngọt bùi” thôi ư? Trần Đăng Khoa đã không viết thế, nhưng người ta có quyền đăng và có quyền “giết” tác giả như thế. Tiếp theo các “biên tập” sửa chữa tác phẩm vô tội vạ kiểu đó, người ta còn làm một việc áp đặt là mời nhà thơ chuyên viết thơ thiếu nhi là Phạm Hổ về tình để “đỡ đầu” cho Trần Đăng Khoa. Phạm Hổ là nhà thơ mà chẳng ai nhớ một câu nào của ông ta, lại được mời về “đỡ đầu” cho một người làm thơ đã nổi tiếng cả nước. Trong cuộc gặp mặt của Hội Văn nghệ tỉnh với nhà thơ Phạm Hồ được xem như là cái lễ ra mắt chứng nhận sự đỡ đầu của Phạm Hổ đối với Trần Đăng Khoa, có cả phó bí thư tỉnh ủy Lê Quý Quỳnh dự, tôi đã nói đùa với ông Quỳnh: nên để ông Phạm Hổ đỡ cái khác của Trần Đăng Khoa hơn là đỡ đầu nó, vì cái đầu “có nhiều lẽ phải” của nó nặng lắm, sức Phạm Hổ không đỡ nổi đâu. Phó bí thư Quỳnh đã mắng tôi “cậu chỉ nói linh tinh” (ông Quỳnh trước là bí thư hải Hưng, sau vì hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên nhập một, mất đoàn kết nên trung ương mới điều ông Ngôi Duy Đông về là bí thư và ông Quỳnh làm phó). Sau này Khoa còn bị cử đi học viết văn, học lý luận viết văn bên… Liên Xô thì nực cười quá! Ông Anh Đức sau này có tâm sự với tôi, ông đã từng được cử đi học viết văn ở Liên Xô, nhưng theo ông, mình là người Việt Nam thì học viết văn kiểu Liên Xô làm gì? Thay vì đi Liên Xô học viết văn, ông đã đi B (vô Nam) để thâm nhập thực tế Việt Nam, để viết văn cho dân mình đọc. Trần Mạnh Hảo có lần bảo với tôi: Trần Đăng Khoa về hưu từ lúc còn nhỏ(!) Đúng vậy. Nếu đứng từ góc độ một nhà văn, một nhà thơ thì với cách “biên tập” văn thơ như tôi kể ở trên, với cách cử đi Liên Xô học viết văn… nên Trần Đăng Khoa đã không viết được gì nữa. Coi như về hưu nghề văn. Và anh ta đã trở thành một ông quan tầm thường hơn cả sự tầm thường ở Đài tiếng nói Việt Nam. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 13, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/13/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-14/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 15): https://www.minds.com/newsfeed/1019879923109146624?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 13): https://www.minds.com/newsfeed/1019878999822864384?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 13) Chương Sáu Chín năm dạy học ở thôn quê Sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm khóa 1963-1966, thầy Nguyễn Đức Nam bảo tôi có muốn ở lại trường làm cán bộ dạy môn văn học phương tây thì thầy đề xuất khoa văn giữa lại, nhưng phải học tiếp bốn năm tiếng Pháp nữa tại khoa Pháp văn rồi mới trở về khoa văn làm phụ giảng Tôi nghe thầy Nam nói sợ quá vì đời sống sinh viên quá khổ cực. Lúc đó có câu “ăn sư ở phạm”, có nghĩa là sinh viên trường sư phạm ăn như sư, ở như phạm nhân. Tôi xin ra trường đi dạy học vì lý do “gia đình khó khăn” về kinh tế. Tướng Qua bảo với mẹ tôi: Khải đã tốt nghiệp đại học thì không thiếi gì việc để nó làm, để tôi xin cho nó về Bộ (CA), khỏi phải đi xa. Mẹ tôi mừng lắm vì chỉ có mình tôi là con trai (tôi có hai bà chị và một em gái). Tôi được ông nội, bà nội rất cưng chiều. Khi học cấp ba rồi, mà về mùa đông, tối đến tôi vẫn nằm ở giữa, ông nội tôi nằm một bên, bà nội tôi nằm một bên, để tôi nằm giữa cho ấm! Vì thế ông bà nội tôi rất ưng ý để tôi công tác ở ngay Hà Nội. Nhưng, tôi biết rất rõ, tôi không có “máu” làm công chức, nhất là làm công an. Vì thế, tôi kiên quyết cầm quyết định của nhà trường, cắt hộ khẩu Hà Nội để chuyển về Hải Hưng nhận công tác, dù biết chắc sẽ về nông thôn dạy học. Tôi được Ty giáo dục tỉnh Hải Hưng lúc đó phân bố về trường trung cấp sư phạm ở huyện Ninh Giang. Trường sư phạm tỉnh đang sơ tán ở xã vùng sâu của huyện. Hôm nhập trường các sinh viên mới ra trường đến nhận công tac ngồi túm tụm ở địa điểm tập trung ghi trong giấy quyết định của Ty. Bỗng một anh chàng đến sau, gác xe đạp rồi lớn tiếng hỏi: văn phòng Đảng ủy nhà trường ở đâu các anh có biết không? Ý anh là muốn giới thiệu với mọi người, anh ta là một đảng viên, tìm văn phòng Đảng ủy để nộp giấy sinh hoạt Đảng. Để vênh vang khoe mẽ với mọi người ngay từ phút đầu. Hồi đó đảng viên hiếm lắm. Anh chàng này sẽ là một giáo viên sáng giá của nhà trường với các “mác” đảng viên này. Tôi thấy cần phải dậy ngay cho anh ta một bài học… đầu đời! Tôi đứng dậy, bảo anh ta: đi theo tôi. Rồi tôi dẫn anh ta đi vòng vèo trong xóm. Đến một cái nhà xí hai ngăn (một thứ nhà vệ sinh rất thịnh hành thời đó ở nông thôn Bắc Bộ), tôi chỉ vào đó rồi nói: đây là chỗ đi ỉa, đi đái. Cậu mới đến từ xa, cần biết chỗ này trước đã, còn văn phòng Đảng ủy thì thư thư cũng được. Anh ta trợn ngược mắt nhìn tôi đầy vẻ căm thù. Lúc sau tôi quay về chỗ cũ, mọi người hỏi tôi dẫn anh ta đi đâu mà lâu thế? Tôi kể lại câu chuyện dẫn anh ta đến nhà xí hai ngăn, mọi người cười ồ. Từ giờ phút đó trở đi, tôi được Đảng ủy nhà trường xem như là một phần tử “bất trị”! Nhưng khả năng giảng dạy của tôi đã lật ngược thế cờ. Nhà trường có hai hệ đào tạo giáo viên cấp hai. Một là hệ 7+3, tức tốt nghiệp cấp 2 rồi học ba năm nữa để lấy bằng sư phạm trung cấp. Một hệ 10+1, tức tốt nghiệp cấp 3 rồi, học thêm một năm nữa rồi ra trường ngay. Hầu hết các thầy giáo mới tốt nghiệp đại học đều xin dậy năm thứ nhất của hệ 7+3, không ai dám nhận dậy hệ 10+1. Tôi xin nhận dậy 10+1 trước sự vui mừng của thầy hiệu trưởng vì đang thiếu thầy cô dậy hệ này và nhiệm vụ của nhà trường là mau chóng đào tạo giáo viên cấp 2 đang thiếu cho tỉnh. Hồi đó ở ngành giáo dục tình Hải Hưng có câu ca “văn như Quán, toán như Cang”. Có nghĩa là thầy Quán dậy văn giỏi nhất, thầy Cang dậy toán giỏi nhất. Thầy Cang đang dậy một lớp chuyên toán cấp 3 của tỉnh, còn thầy Quán đang dậy lớp 10+1 của trường sư phạm mà tôi đang dậy. Thầy Quán được trường đại học sư phạm Việt Bắc mới mở xin lên làm giảng viên của trường, nhưng vì chưa có ai thay thế thầy ở hệ 10+1 của trường sư phạm trung cấp Hải Hưng nên thầy chưa thể đi được. Sau một học kỳ, thầy Quán mời ban giám hiệu và cán bộ bộ môn văn của tỉnh dự giờ lên lớp của tôi, để chứng minh rằng tôi có thể thay thế thầy đứng lớp 10+1. Kết quả là người ta đã đồng ý để thầy Quán chuyển lên dậy đại học và tôi thay thế thầy dậy lớp 10+1. Tới hết niên học 1969-1970 thì lượng giáo viên cấp 2 trong tỉnh đã đủ, trường trung cấp sư phạm giải tán. Tôi được điều về trường cấp 3 của một huyện vùng xa trong tỉnh Hải Hưng rộng lớn, trong khi tôi cần về trường cấp 3 Cẩm Giàng nơi vợ tôi mới sinh con đầu lòng và đang dậy cấp 2 ở đó, rất cần tôi ở gần để phụ giúp gia đình. Trước tình thế này, tôi phải dùng đến thế lực. Hồi đó có câu ngạn ngữ nổi tiếng “nhất thân nhì thế”. Có nghĩa là thân quen thì việc gì cũng xong. Tôi về Bộ Công An gặp tướng Qua và trình bày sự cần thiết phải về huyện Cẩm Giàng. Nghe xong, tướng Qua không nói gì cả, chỉ lấy một mảnh giấy nhỏ ghi mấy chữ. Trong giấy gửi ông Hoàng Sơn, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong giấy chỉ ghi mấy chữ ngắn gọn, đại ý tôi có thằng cháu đích tôn, muốn xin anh cho cháu về dạy học ở Cẩm Giàng. Khi ông Hoàng Sơn xem xong thư, vỗ vai tôi bảo: ông Qua nổi tiếng ở ngành công an lắm, rồi ông gọi cánh văn phòng UBND tỉnh lên bảo làm quyết định của Ủy ban cho tôi về làm việc ở Cẩm Giàng. Tôi cầm quyết định của ủy ban tình với chữ ký của phó chủ tịch thứ nhất phụ trách nội chính đưa cho trưởng phòng tổ chức Ty giáo dục Hải Hưng. Xem quyết định đó xong, ông Lự, tên của trưởng phòng, nhìn tôi lắc đầu! Theo nguyên tắc thì quyết định điều động giáo viên cho trưởng Ty hay phó trưởng Ty ký. Quyết định của tôi lại do Ủy ban tỉnh ký tên. Ty giáo dục phải làm một quyết định lại, điều cô giáo dậy văn đã được điều về Cẩm Giàng đi một trường khác. Thế mới hay cái câu “nhất thân nhì thế” quả là không sai! Tôi dạy học ở Cẩm Giàng đến đầu năm 1974 thì chuyển về Đài Tiếng nói Việt Nam làm phóng viên. Gần chín năm dạy học ở nông thôn, sống ngay trong nhà dân khi ở trường sư phạm, rồi sống trong khu tập thể ở trường phổ thông cấp 3 Cẩm Giàng cũng sơ tán trong làng… tôi có dịp gẩn gũi để tìm hiểu người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Tôi có thể rút ra những nhận xét, những dẫn chứng, những kết luận mà những nhà xã hội học ngồi ở các Vụ, Viện ở Hà Nội không bao giờ có được chỉ bằng những chuyến “đi thực tế”. Thứ nhất, với chính sách hợp tác hóa, ruộng đất bị đưa vào làm ăn tập thể, cha chung không ai khóc, người nông dân đồng bằng Bắc Bộ bị bần cùng hóa và nghèo khổ đến cùng cực. Khi tôi ở Ninh Giang, “trọ” trong nhà một bà cụ có tên là cụ Kịp. Nhà chỉ có hai mẹ con. Anh con trai tên là Hữu. anh này có lẽ vì mắt kèm nhèm nên không trúng nghĩa vụ quân sự. Đó là trường hợp hãn hữu ở nông thôn lúc bấy giờ. Anh Hữu ngày đi làm hợp tác xã, tối về chỉ xoa hai chân vào nhau là lên giường ngủ, không hề có guốc, dép. Anh cũng không có khái niệm đánh răng rửa mặt. Một lần về Hà Nội, tôi mua tặng anh một cái bàn chải đánh răng, một cái khăn mặt và một tuýp kem [thuốc] đánh răng. Mấy hôm sau, tôi thấy tuýp thuốc đánh răng xẹp lép, tôi hỏi làm sao lại hết nhanh thế. Anh Hữu cười hồn nhiên, anh cho biết, thấy thuốc đánh răng thơm và ngọt nên anh đã… ăn hết rồi! Tôi hú hồn. Chẳng may vì thuốc đánh răng mà Hữu làm sao thì tôi… mang vạ. Tôi đành phải hướng dẫn anh Hữu đánh răng bằng muối. Sau hai năm ở Ninh Giang, trường sư phạm dọn về Gia Lộc. Tôi ở trong nhà một ông cụ tên là Vơn. Nhà xây, có giếng nước đàng hoàng. Xưa kia cụ Vơn cũng là loại khá giả. Cụ biết chữ Nho võ vẽ. Hai vợ chồng anh con cả làm hợp tác xã, người con thứ hai đi bộ đội vào Nam, được gia đình xem như đã chết vì không có tin tức gì. Cậu con út tên là Mùi, đi học trường làng. Mỗi khi ăn cơm, chị con dâu ngã cái mâm bằng gỗ dựng ở góc tường xuống, bốc rau để lên mâm. Khi ăn xong, cụ Vơn lấy cái chổi lúa vẫn thường quét nhà để quét mâm rồi lại dựng lên như cũ. Cứ thế năm này qua năm khác, cái mâm cáu bẩn còn hơn cả cái nền nhà. Nhà luôn thiếu ăn, ai cũng xanh xao, bủng beo. Năm 1991, tôi ra Hà Nội để đi Liên Xô, khi về có ít quà, tôi mượn Bộ Thủy sản cái xe con về thăm lại gia đình. Xe đậu ở đầu thôn. Tôi xuống xe hỏi bà bán nước. Cụ Vơn còn không? trả lời: chết rồi! Tôi lại hỏi chị vợ anh Khoát còn không? Trả lời: chết rồi. Tôi choáng váng hỏi: thế thằng Mùi đâu…? Từ đằng xa, tôi trông thấy một người đàn ông đầu bạc xóa chạy lại, vừa chạy vừa kêu lớn: thằng Mùi đây! Cái thằng Mùi bé con học trường làng ngày ấy chỉ 20 năm sau đã trở thành một ông già đen đúa, tóc bạc trắng khi chưa đầy 50 tuổi. Tôi thành kính đặt lên bàn thờ những người đã khuất chút hương hoa của kẻ đã từng trú ngụ trong ngôi nhà này, rồi thắp hương khấn cho vong hồn của họ siêu thoát. Ông cụ Vơn và vợ chồng người con trai cả của cụ là những nông dân cần cù chất phác. Họ rất nghèo nhưng tấm lòng luôn rộng mở, sẵn sàng cưu mang những cán bộ ở thành phố về sơ tán trọ trong nhà họ. Sẵn sàng nhường cơm xẻ áo cho chúng tôi. Những đêm tôi thức chấm bài khuya, chị con dâu thường đem vào phòng cho tôi một đĩa khoai luộc hay một góc củ sắn (khoai mì). Nắm bột mì luộc và bát “súp” khẩu phần ăn của tôi được các cô giáo sinh lĩnh hộ từ nhà bếp mang về… được cụ Vơn bắt con cháu ăn hộ và dành cơm cho tôi ăn. Ở nông thôn, người ta rất kiêng kỵ cho vợ chồng người lạ ngủ trong nhà mình, vậy mà khi vợ tôi đến thăm, gia đình vẫn vui vẻ cho vợ tôi ngủ lại. Tôi hỏi Mùi, bây giờ đã là chủ gia đình có một vợ và hai con, tại sao anh chị Khoát lại chết? Chết vì bệnh gì? Mùi thành thật nói chết vì… ăn no! Rồi Mùi kể hết sự tình đoạn trường hơn 20 năm qua của gia đình cụ Vơn. Sau những năm vô cùng đói khổ của thời kỳ bao cấp và duy trì hợp tác xã, đến khi có chính sách khoán ruộng, (trả ruộng lại cho dân) thì nhà thừa thóc ăn. Vụ thu hoạch đầu tiên của năm trả ruộng đó, anh chị Khóa ăn no quá, ngày nào cũng ăn no kềnh no càng… rồi sinh bệnh chết! Tôi đã hiểu. Cả hai vợ chồng nông dân này đềm vạm vỡ. Do phải ăn đói trong nhiều năm liền, nên tuy to xác nhưng bủng beo, một dạng “Tàu phù” như các cụ ta vẫn gọi bọn Tàu Tưởng năm xưa. Đến lúc có ăn thì lại ăn nhiều quá, cơ thể không thích ứng kịp nên sinh bệnh và khi sinh bệnh lại không có thuốc nên bệnh nặng dần mà chết. Câu chuyện của vợ chồng anh Khoát làm người ta nhớ lại nạn đói năm 1945. Có người đói quá, đói cả tháng, đến khi được ăn một bữa no là chết liền. Gọi là chết no. Những năm dạy học ở nông thôn tôi còn được chứng kiến một trận lụt kinh hoàng vào năm 1971. Năm đó vợ tôi vừa sinh đứa con thứ hai, sau kỳ nghỉ hè về lại trường Cẩm Giàng để chuẩn bị năm học mới thì vỡ đê Văn Thai, một con đê nằm trong hệ thống sông Thái Bình. Ai chưa một lần trong đời chứng kiến cảnh vỡ đê thì không thể hình dung sự tàn phá của nạn hồng thủy. Các cụ ta ngày xưa tổng kết “thủy, hỏa, đạo tặc”. Đặt chữ “thủy” lên đầu trong các thứ họa trên đời là hoàn toàn đúng. Buổi sáng tôi còn đi chợ mua vài con cá, cảnh vật vẫn bình yêu thì xế trưa nước đã từ phía bắc đổ về. Kê cái giường lên bàn cho cao còn để đồ đạc thì ngoảnh đi ngoảnh lại nước đã tràn lên giường. Phải phá trần nhà rút lên trần, kê giát giường mà ngồi. Mấy chục con người, đa số là phụ nữ và trẻ con phải sinh sống cả tháng trời trên cái trần nhà cấp 4 ọp ẹp đó, nếu sập trần thì trẻ con chết hết. Cả tỉnh Hải Dương, gồm cả thị xã Hải Dương ngậm chìm trong nước. Suốt ngày tôi phải lội nước đến cổ đi kiếm buồng chuối xanh hoặc nín thở lặn xuống các ruộng rau muống quanh trường để kiếm chút rau xanh cho vợ và hai đứa con nhỏ. Một đứa 2 tuổi, một mới sanh được đầy tháng. Ấn tượng sâu đậm nhất với tất cả chúng tôi là tiếng kêu tuyệt vọng của đàn trâu trong huyện. Chúng cứ bơi, cứ bơi, ngày này qua ngày khác đến khi kiệt sức thì chết nổi lên. Cả một vùng đồng bẳng rộng lớn như Hải Dương lấy đâu ra một gò đất cao cho trâu trú chân. Đàn trâu cứ bơi, vừa bơi vừa kêu. trong đêm khuya thanh vắng tiếng kêu tuyệt vọng của bầy trâu mới bi oán làm sao. Ban đầu còn nghe thấy nhiều tiếng kêu, sau thưa dần, thưa dần rồi im hẳn. Chúng đã chết hết. Khi nước tràn về, nhưng con vật sống dưới lòng đất hoảng hốt bò lên. Mặt đường tàu hỏa thì chuột và rắn bò lên chạy lụt. Chưa bao giờ người ta thấy chuột và rằn nhiều như thế. Trong cơn hốt hoảng rắn không bắt chuột nữa. Chúng “chung sống hòa bình”. Nhưng khi nước tràn lên mặt đường tàu thì số phận của chúng cũng như đàn trâu bò mà thôi. Chỉ còn có các cây cao là chỗ cuối để rắn cố thủ. Đó là những “cây rắn”. Có người trèo lên cây chạy lụt nhìn thấy rắn sợ quá ngả nhào xuống đất. Thiên tai địch họa thường đến với người nông dân Bắc Bộ như thế. Những năm sống ở nông thôn miền Bắc, tôi còn cảm nhận được điều thứ hai là, thế hệ người già ở nông thôn, nhất là người có chút Nho học, họ bị ảnh hưởng sâu đậm của triết thuyết Khổng Mạnh. Khổng giáo thấm sâu đậm vào từng thớ thịt, từng mạch máu của lớp người này. Họ trọng nam khinh nữ, trọng văn khinh võ, thích những điều sao siêu trừu tượng… Ông cụ Vơn, chủ nhà của tôi, có ngôi nhà ngói duy nhất trong cái xóm nhỏ đó. Nhà có một phòng riêng, lại có giếng nước xây. Các giáo viên sơ tán trong làng ai cũng muốn trọ ở nhà cụ vì nó khang trang nhất. Nhưng cụ từ chối nhiều giáo viên xin ở trọ trước khi tôi đến. Người thứ nhất là một giáo viên dậy thể dục. Anh chàng này cao to, khỏe mạnh, đẹp trai nữa… nhưng cụ Vơn từ chối vì anh chàng này có vẻ… võ biền! Người thứ hai bị cụ từ chối là một giáo viên dậy sử. Anh chàng này bé nhỏ, đầu hói, “mồi thối lửa” (tức mồm bé, môi mỏng). Cụ Vơn xem tướng anh chàng một lúc rồi đi vô nhà, không nói không rằng. Tôi quyết định đến xin ở nhà cụ Vơn. Tôi bảo một cô giáo sinh (học sinh sư phạm) gánh một gánh sách của tôi đi sau, tôi đi trước. Đi từ tốn, đĩnh đạc. Thấy cụ đang quét sân, tôi đánh tiếng chào thật to và nói: cụ định đóng vai Lưu Bị quét sân để đánh lừa Tào Tháo phải không? Cụ Vơn dừng tay chổi, ngẩng lên nhìn tôi từ đầu đến chân rồi lại nhìn cô giáo sinh gánh một gánh sách nặng đi sau. Cô giáo cúi rạp đầu chào cụ chủ theo lời dặn từ trước của tôi. Bổng cụ chủ cười khanh khách rồi cất lời mời tiên sinh vào nhà! Thế là tôi đã thắng lợi nhờ biết tâm lý của các cụ nhà ta, vốn “trọng văn khinh võ”. Ở nhà cụ Vơn, tôi không nói những chuyện cụ thể, toàn nói những chuyện cao siêu, trên trời dưới đất… chuyện Lã Vọng câu cá bằng lưỡi câu thẳng, chuyện Lưu Bị, Quan Công “tam anh chiến” Lã Bố, chuyện Từ Hải chết đứng… mà thôi! Cụ khen tôi, đúng là “người quân tử”. Một hôm tôi đi vắng, thầy hiệu trưởng nhà trường đến chơi, có ý thăm dò nhà chủ xem tôi ăn ở với dân có điều gì chê trách không. Vì lúc đó có nhiều thầy cô ở trọ nhà dân, có vài trường hợp không được lòng chủ nhà, bị chê trách, bất lợi cho “công tác dân vận” của nhà trường. Sau khi biết chuyện thầy hiệu trưởng lại thăm nơi tôi trọ, lúc gặp ông, một cán bộ già dặn, tôi hỏi thẳng: cụ chủ nhà có phê bình gì tôi không, thưa thầy? Thầy hiệu trưởng trả lời: ông cụ chỉ cười lớn và bảo với tôi, thầy giáo Khải trừu tượng lắm! Chỉ nhận xét anh “trừu tượng” thôi! Thực ra thì cụ Vơn không hiểu biết gì về thực tế cả, công việc làm ăn cụ đều giao khoán cho vợ chồng anh con cả. Cụ chỉ thích nói chuyện đời xưa với tôi. Mấy người em của cụ đều là những nông dân tháo vát, cần cù. Vậy mà tôi còn thấy cụ còn mắng các em là không biết hầu chuyện, “nhàn đàm” với cụ và tôi những lúc rảnh rỗi. Nhưng có điều lạ là, họ đều rất “phục” ông anh, cho ông anh của mình mới là người cao kiến! Có một câu chuyện khôi hài thế này, một hôm trời rét như cắt ruột. Tôi và cụ Vơn đang ngồi uống trà trong nhà. Bỗng cụ nhìn thấy một anh chàng đang phun thuốc trừ sâu ở cánh đồng trước nhà. Cụ ra lệnh cho chị con dâu đang ngồi sàng gạo ở trước thềm ra mời anh thanh niên đang phun thuốc vào nhà cho cụ gặp. Anh nhận lời và khi gặp cụ bào anh gỡ cái loa kim (hệ thống loa phát thanh bằng dây dẫn), lật ngửa chiếc loa rồi phun thuốc trừ sâu vào đó. Như có phép thần, đến giờ phát thanh buổi chiều, chiếc loa đang im bặt cả tuần bỗng nói oang oang. Chị con dâu khen: thầy em tinh thật, cái gì cũng biết! Thì ra cái loa kim bị sét rỉ, thuốc trừ sâu phun vào làm nó bị ăn mòn và trở nên dẫn điện tốt trở lại. Cụ Vơn có “uy tín” nhờ những “sáng kiến trừu tượng” như thế. Cả nhà, cả xóm rất coi trọng cụ. Chưa hết, một lần hợp tác xã mổ lợn, chia cho nhà cụ 1kg. Khi ngồi ăn cơm, cụ Vơn húp một thìa nước luộc thịt rồi lắc đầu chê: thiếu đạm là không ngọt. Tôi hỏi cụ: đạm là thứ gì mà thiếu? Cụ trả lời: đạm là mì chính (bột ngọt) ông giáo ạ! Anh con trai cũng húp thử một húp rồi khen: thầy em tinh thật! Chưa hết, đúng năm đó Bác Hồ mất. Tôi về Hà Nội mấy hôm. Khi trở lại, tôi đem tặng cụ tấm ảnh chủ tịch nước mới là Tôn Đức Thắng để gia đình treo bên cạnh ảnh cụ Hồ. Xem xong, cụ đi đi lại lại, chắp tay ra sau rồi lại nhìn lên bức hình bác Tôn. Cụ có vẻ băn khoăn lắm. Tôi thấy vậy bèn hỏi: cụ thấy hình bác Tôn thế nào? Cụ khẽ lắc đầu, nhận xét: Hồ Chủ Tịch này cũng già lắm rồi! Nông thôn miền Bắc XHCN cuối thập niên 1960 là như thế. Chỉ có trẻ em, phụ nữ, người già. Thanh niên đi “B” hết. Năm 1972, ở tuổi 30 tôi cũng được gọi đi nghĩa vụ quân sự theo giấy gọi của huyện. Nhà trường, học sinh lớp tôi chủ nhiệm cũng làm liên hoan tiễn thầy đi bộ đội long trọng lắm. Nhưng được có nửa tháng, lên đến tỉnh khám sức khỏe lại, tôi bị loại, lại khoác ba lô về lại trường cũ. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 10, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/10/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-13/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 14): https://www.minds.com/newsfeed/1019879547523878912?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 12): https://www.minds.com/newsfeed/1019878588886253568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 15) Chương Bảy Ba mươi tám năm làm báo “lề phải” và “lề trái” Trong thời gian từ 1969 đến 1974 dạy học ở Cẩm Giàng, tôi tham gia Hội văn nghệ tỉnh, lại viết bài cho các báo ở Hà Nội nên tôi có quen biết một số nhà văn, nhà báo. Đó là cái cầu để tôi, từ một thầy giáo làng bước sang một sân chơi rộng hơn là làm báo ở cơ quan báo chí thuộc trung ương. Có lần, nhà thơ Thanh Thảo từ chiến trường ra Bắc điều dưỡng ở trại điều dưỡng Nam Sách-Hải Dương, không biết ai giới thiệu, anh Thảo đã “trốn trại” về Cẩm Giàng chơi với tôi. Anh đem theo một tập bản thảo thơ còn chưa in ấn ở đâu. Tôi đã được đọc bài thơ “Dấu chân trên trảng cỏ” của anh trước khi nó nổi tiếng trên cả nước. Nhưng Thảo cũng có những ý thơ “khác thường” nên không được giới chính thống ưa. Tôi nhớ một câu “khác thường” ấy trong tập thơ chép tay của anh: thế hệ tôi bùng cháy ngọn lửa của chính mình/ không dựa dẫm những hào quang có sẵn… Ai cho phép nhà thơ “bùng cháy ngọn lửa của chính mình”? Chữ “dựa dẫm” nhằm mỉa mai ai? “Hào quang có sẵn” nhằm ám chỉ cái gì? … Cứ thế người ta đặt câu hỏi với tác giả. Câu chuyện về Thanh Thảo có liên quan đến câu chuyện của Chế Lan Viên mà tôi sẽ kể ở những phần sau. Một lần khác, vào năm 1974, nhà thơ Trúc Thông ở Ban miền Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam về Hải Hưng công tác. Anh Thông có hỏi nhà thơ Mai Thanh Chương ở tỉnh rằng, ở đây có ai “chơi được”, có thể “chứa chấp” anh trong vài ngày…? Mai Thanh Chương giới thiệu tôi, giáo viên dạy văn ở trường cấm 3 huyện Cẩm Giàng, hội viên Hội Văn nghệ tỉnh. Trúc Thông là nhà thơ đã có danh ở Hà Nội nhưng anh chưa được in một tập thơ riêng nào cho mình ngoài những bài thơ đã đăng đây đó trên báo, đọc trên đài… Hồi ấy in được một tập thơ lớn chuyện lắm, không như bây giờ (2013), có tiền triệu rồi mua cái giấy phép xuất bản là in được ngay một hoặc vài ba tập thơ một lúc. Thậm chí ai có tiền, nhất là các đại gia, còn có thể thuê người khác làm vài chục bài thơ rồi xuất bản lấy tên mình! Nếu sang hơn, sau khi thơ in rồi, có thể mở cuộc hội thảo mời ông Hữu Thỉnh chủ tịch Hội nhà văn về dự, miễn là tác giả chuẩn bị vài cái bao thơ cho nằng nặng một chút. Thơ muốn nói gì thì nói miễn là không nói đến những đề tài “nhạy cảm” như nỗi đau của nông dân bị cướp đất hay nói chuyện dân chủ, bảo vệ chủ quyền đất nước là được. Anh Trúc Thông được in tập thơ đầu tay vào năm 1985, do nhà xuất bản Tác phẩm mới Hội nhà văn ấn hành, số lượng 5000 cuốn, giá 4 đồng. Nhưng là in chung với anh Đào Cảnh ở Hải Phòng. Bìa tập thơ phải chia làm hai. Phần trên, tên tác giả Đào Cảnh với tên tập thơ “Thời yêu thương”. Phần dưới là của Trúc Thông với tên tập thơ “Chầm chậm tới mình”. Có 98 trang sách mà phải chia hai, thật khốn khổ! Có ai hỏi vì sao lại đặt tên là “Chầm chậm tới mình”, thì anh giải thích, chầm chậm rồi cũng đến lượt mình được in thơ! Trúc Thông đến Cẩm Giàng ở chơi với tôi gần cả tuần lễ. Hồi ấy tôi có khẩu súng hơi Tiệp Khắc, mua lại của ông Nguyễn Đình Thiên, anh ruột của nhà khoa học Nguyễn Đình Tứ nên ngày nào cũng bắn được chim về đãi khách. Sau những ngày “nhàn đàm”, trước khi về Hà Nội anh Trúc Thông bảo với tôi: làm một cái đơn xin về Ban miền Nam của Đài TNVN. Theo anh Thông, Ban đang cần người, tìm chưa được. Tôi có khả năng về Ban miền Nam của Đài, vì anh thấy tôi tỏ ra có kiến thức, nhạy cảm, có khả năng viết lách… Tôi nghe lời Trúc Thông và làm đơn. Mấy tuần sau anh Thông nhắn tôi về Đài ở 58 Quán Sứ Hà Nội để lãnh đạo… “sát hạch”! Tại cơ quan Đài TNVN, phó Ban miền Nam Mai Thúc Long yêu cầu tôi viết một bài với đề tài: kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9 trong bối cảnh chính sự miền Nam năm ấy (1974). Anh Long bảo tôi, cậu về viết rồi gửi lên cho Đài. Nếu đúng ngày 23/9 theo dõi Đài TNVn, thấy phát bài ấy vào ngày… giờ… thì coi như Đài nhận cậu về làm phóng viên. Khi tôi định ra về thì Trúc Thông bảo tôi: ông Long này thích nhanh, anh nên quay lại bảo ông ấy cho anh được ngồi viết ngay tại Đài, viết xong nộp cho ông ấy. Như thế ông ấy khoái lại khỏi nghi ngờ anh về nhờ người khác viết hộ. Tôi làm như lời Trúc Thông, Phó ban bảo tôi ngồi ngay bàn của ông ấy mà viết. Đi đâu đó độ 2 giờ đồng hồ, ông Long quay lại pha cho tôi một ly nước chanh rồi lại đi. Khoảng 12 giờ ông quay về thì tôi vừa viết xong bài, độ 3 trang giấy học trò loại “5 hào 2”. Đó là thứ giấy trắng khổ to giá 5 hào 2 phổ biến và sang trọng thời ấy, tương đương khổ giấy A 4 bây giờ. Tôi ra về nhưng không hy vọng lắm về cuộc “sát hạch” này, vì trợ lý của Ban là anh Hữu Tính cho biết Ban đã đặt bài nhà báo Lưu Quý Kỳ viết bài với nội dung như thế để phát vào ngày 23/9 sắp tới. Nhưng thật không ngờ, bài của tôi được phát sóng trên đài đúng ngày giờ như ông Long đã nói. Tôi còn nghe được bài của nhà báo Lưu Quý Kỳ phát trên đài cũng vào dịp đó. Chỉ một tuần sau tôi nhận được công văn tiếp nhận về Đài Tiếng nói Việt Nam do bà phó Ban tổ chức Đài đem xuống tận trường. Việc chuyển công tác của tôi rất chật vật vì Ty Giáo Dục Hải Hưng không đồng ý. Ty Giáo dục lấy lý do giáo viên cấp 3 do Bộ Giáo dục đào tạo và chỉ phân về các địa phương. Ủy ban nhân dân các tỉnh không được chuyển giáo viên cấp 3 ra khỏi ngành. Đó là quy định của Bộ. Tôi lại phải dùng đến thế lực của tướng Qua mới có được quyết định về Đài do chủ tịch UBND tỉnh Hải Hưng Nguyễn Bắc ký. Những năm ở Đài TNVN và Đài Truyền hình Trung ương Về Đài tôi được phân công vào tổ “Thành thị miền Nam” nơi làm các chương trình phát thanh cho đô thị miền Nam. Ban khi đó tập trung những cây bút xuất sắc của Đài vì lúc đó ưu tiên số 1 là công tác tuyên truyền đấu tranh thống nhất đất nước. Suốt một thời kỳ dài, báo viết hiếm hoi, lại vận chuyển khó khăn, truyền hình chưa có nên tất cả thông tin đều trông vào làn sóng của Đài (kể cả ca nhạc, sân khấu). Thể tài sân khấu truyền thanh, đặc biệt là “câu chuyện truyền thanh” và “tiếng thơ” là những thể tài chỉ phát triển ở ngành phát thanh Việt Nam do những đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội ở Việt Nam. 40% dân số Pháp biết chơi một nhạc cụ, người nông dân Pháp có thể tự biểu diễn và thưởng thức văn nghệ trong làng quê của mình khi có thời gian nghỉ ngơi hoặc hội hè. Nhu cầu tin tức và nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật của dân ta trong một thời kỳ dài chỉ có thể trông vào Đài phát thanh và hệ thống loa công cộng, loa kim dẫn đến từng nhà trong thời kỳ của hai cuộc kháng chiến. Hình ảnh nhiều người tập trung để nghe một vở sân khấu truyền thanh dưới một cái loa là hình ảnh chỉ có ở Việt Nam. Tôi về công tác ở Đài TNVN trong thời kỳ mà nhu cầu nghe đài của nhân dân lớn hơn bao giờ hết. Đó là thời gian cuối 1974, đầu 1975 chiến sự ở miền Nam diễn biến dồn dập, công việc ở Ban miền Nam của Đài cũng dồn dập, tất bật theo với diễn tiến của chiến trường, chính trường miền Nam. Từ sáng sớm, những cây bút lão luyện của Ban như Trung Ngôn, Viễn Kinh, Phan Đắc Lập… vừa bốc xôi (hay gặm bánh mì), vừa liếc mắt trên những trang báo xuất bản ở Sài Gòn như: Tiền Tuyến, Đại Dân Tộc, Chính Luận, Điện Tín… do một đường dây đặc biệt chuyển ra. Khoảng 9-10 giờ, các anh xoay trần trên máy chữ gõ bài rồi chuyển ngay đi thu âm, phát sóng. Những tin bài nóng hổi tính thời sự như thế là không thể thiếu được với bạn nghe đài cả nước, cả ở miền Nam nữa. Tôi nhìn các anh làm việc mà thán phục. Nghĩ rằng mình không biết đến bao giờ mới trở thành một nhà báo lão luyện và hiện đại như thế. Nhưng rồi tôi hòa nhập cũng nhanh. Tin, bài tôi viết đầu được lãnh đạo Ban sử dụng. Với một người mới tập việc như thế xem như là được. Một sự việc mà tôi nhớ mãi là cuối tháng ba, khi ta đánh vào thành phố Huế, ông Trường Chinh gọi điện qua lãnh đạo Đài, yêu cầu cử phóng viên sang bệnh viện Việt-Đức, thu thanh lời nói của GS Tôn Thất Tùng, người Huế… kêu gọi trí thức Huế ở lại với cách mạng, đừng hốt hoảng bỏ chạy theo “địch”. (Tôi viết chữ “địch” trong ngoặc, bởi thời điểm tôi viết hồi ký này là 2013, còn dùng chữ “địch” để chỉ chế độ Việt Nam Cộng hòa e rằng không công bằng. Hôm nay, những kẻ đi cướp đất của Đoàn Văn Vươn, cướp đất ở Văn Giang, ở Vụ Bản… bây giờ có khác gì “địch” mà ta gọi ngày ấy!). Là phóng viên của tổ Đô thị miền Nam, tôi được cử đi gặp GS Tùng. Sau câu chào hỏi và biết rõ lý do, ông nhìn tôi một cách vô tư rồi gật đầu, ngồi xuống bàn, lấy một tờ giấy “5 hào 2”, dùng bút chấm mực và hý hoái viết. Tôi ngồi ngắm SG Tùng, ông rất đẹp tướng, tóc bạc trắng hơi dài chấm ngang vai, da dẻ hồng hào… Trông ông vừa có vẻ một chính khách Phương tây lại pha chút đạo cốt tiên ông của phương Đông dễ làm người ta thấp thỏm. Nghe nói ông nóng tính khi đang mổ cho bệnh nhân, hễ người phụ mổ chậm đưa dao kéo là ông lấy chân đá ngay người ta, dù người “ét” đó là vợ ông cũng thế. Thấy ông hý hoáy viết là tôi mừng. Viết xong, SG Tùng đưa bản thảo cho tôi. Ông viết rất ngắn, chữ xấu như chữ học trò lớp ba, lại to như con gà mái… Tôi vẫn giữ bút tích của ông đến tận bây giờ để làm kỷ niệm (dù nhiều lần dọn nhà). Một đồng chí lãnh đạo của tôi ở cấp phòng đã viết thêm một đoạn nữa vào bản thảo của ông rồi đánh máy để đem lên cấp Ban duyệt. Tôi cầm bản đánh máy đã được duyệt chạy ngay sang bệnh viện Việt Đức để thu thanh lời kêu gọi của GS Tùng. Tôi cẩn thận nhờ thêm anh Hữu Tính cùng đi, vì anh thông thạo thu thanh, phòng có gì bất trắc sẽ có người hỗ trợ. Giáo sư Tùng chăm chú xem bản thảo đã đánh máy và được duyệt, có thêm bớt ở đầu và cuối bài. Đọc xong chẳng nói chẳng rằng, ông xé tờ giấy đánh máy làm đôi và vứt xuống đất, còn dậm chân lên… rồi mắng hai đứa tôi: đồ ngu! Tôi giận run cả người, nhưng vẫn giữ được bình tĩnh và cúi xuống nhặt mảnh giấy đã bị xé làm đôi. Tôi hỏi GS Tùng: xin giáo sư cho biết chúng tôi ngu ở điểm nào? Ông trợn mắt quát: tại sao các anh lại viết thêm vào “nhân dịp này xin chúc đồng bào… nhân dịp gì? Cái gì cũng nhân dịp, người ta đang cực kỳ hoang mang thì mình lại “nhân dịp”. Ngu nó vừa vừa thôi chứ! Ngu thật rồi, cái đoạn ông phó phòng của tôi thêm vào cuối bài kêu gọi của GS Tùng rất trơ trẽn, vô duyên, không ăn nhập gì với lời lẽ ở trên của giáo sư. Một người làm báo phải biết nghe người ta chửi mình là ngu, nếu chửi đúng. Tôi nghĩ vậy nên xin giáo sư được sửa lại đoạn cuối. Ông đồng ý. Tôi cẩn thận cầm cả hai tay đưa lại hai mảnh giấy giáo sư vừa xé có phần cuối bài do tôi vừa sửa lại. Đọc xong ông gật đầu và ra hiệu cho chúng tôi đưa máy lại thu thanh. Đến lúc đó, Hữu Tính vẫn ngồi ung dung như không có gì xảy ra, anh giúp tôi thu thanh. Phòng mổ và phòng kế bên nơi ông làm việc máy lạnh chạy đều đều. Đây là nơi hiếm hoi ở Hà Nội được sử dụng máy lạnh ngày ấy, vậy mà tôi vã mồ hôi do lo sợ không hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ khi xong mọi việc tôi mới biết mình… đã toát mồ hôi. Thấy thế, giáo sư bảo hai đứa: không nên viết dài, viết ngắn thôi, nhưng phát thanh nhiều lần, phát để người ta ngồi ỉa cũng nghe được thì mới tốt. Từ đó trở đi, khi cầm bút đi lang thang trên mọi nẻo đường tươi đẹp và đau khổ của đất nước, bên tai tôi luôn văng vẳng giọng Huế của GS Tùng: đồ ngu, viết ngắn thôi! Sau này khi giảng dạy ở những lớp nghiệp vụ báo chí, về phần phát thanh tôi không quên đưa ý kiến của GS Tùng vào giáo án của mình: viết ngắn, phát nhiều lần. Vậy rõ ràng là, cứ theo lời kêu gọi trí thức Huế ở lại với cách mạng của GS Tùng, được đích thân đồng chí Trường Chinh chỉ đạo cho Đài thực hiện thì đến lúc ta đánh vào Huế, trung ương vẫn chưa có ý định đánh vô Sài Gòn. Nhưng diễn biến tình hình quá nhanh, và chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ được quyết định sau đó. Hàng loạt tỉnh từ Đà Nẵng trở vào lần lượt được giải phóng. Do đất nước bị chia cắt lâu, các tỉnh miền Trung và Nam trung bộ ít được dân miền Bắc biết tới. Tôi được Ban chỉ thị phải giới thiệu về từng tỉnh mới được giải phóng trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Công việc này dễ mà khó. Dễ vì không cần phải đi đâu, ngồi nhà viết cũng được. Khó vì nếu không có tư liệu thì không thể viết được. Nhờ có tủ sách phong phú mà tôi đã góp nhặt được trong 8 năm dạy học nên các tỉnh chạy dài suốt mảnh đất miền Trung đã được tôi giới thiệu về địa lý, văn hóa, kinh tế một cách tóm tắt nhưng khá đầy đủ khi nó lần lượt được giải phóng. Ngày 30/4/1975 là một ngày đáng ghi nhớ ở Hà Nội. Với cơ quan Đài Tiếng nói Việt Nam thì càng nhộn nhịp. Các phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của Đài là dân miền Nam tập kết đều được mọi người chúc mừng. Câu nói cửa miệng của người Hà Nội mỗi khi nhắc đến cái gì đó xa xôi là “chờ đến ngày thống nhất”, thì ngày ấy đã tới. Niềm vui vỡ òa trên đường phố. Ngày ấy không ai ở nhà cả, người ta cứ ra phố. Dù không biết đi đâu nhưng nhất định là không ở nhà. Cứ đi, cứ đi, gặp chỗ nào có người quen là xà vào. Ngày ấy, tôi cứ nghĩ là nhà nước sẽ mở kho, khao dân chúng “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” như các vua chúa ngày xưa mỗi khi thắng trận, nhưng không hề có. Chỉ có các quan là có vật chất mà thôi. Tướng Qua, từ khi lên cấp tướng, tuy chức vụ vẫn là Cục trưởng như hàm ngang với thứ trưởng nên được cấp xe la-đa đi riêng, được cấp sổ mua hàng ở cửa hàng cao cấp Tôn Đản. Thời đó có câu ca dao: Tôn Đản là chợ của vua quan / Nhà thờ là chợ của trung gian nịnh thần / Đồng Xuân là chợ của tư nhân / vỉa hè là chợ của nhân dân anh hùng! Tôi đến nhà tướng Qua với hy vọng là được uống bia và hút thuốc lá Điện Biên bao bạc, và quả đúng như tôi dự đoán. Lúc đó, ông còn ở khu tập thể ngõ Văn Chương. Hàng xóm của ông là trung tá nhà thơ trào phúng Lê Kim làm ở báo QĐDN. Hai vị đang liên hoan bên nhà tướng Qua lúc tôi đến. Chính tại bữa bia bọt đó, tôi được biết trung tá Lê Kim hôm sau sẽ lên đường vô Nam công tác. Ông được phát cho một khẩu súng lục mà theo tướng Qua nhận xét: tay này chưa biết bắn súng thế nào. Và, tôi cũng được biết, Bộ Công An sẽ cử một đoàn đi Nam để tìm kiếm Nguyễn Công Tài, người hùng của Bộ. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 16, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/16/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-15/ *** Đọc tthêm: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 16): https://www.minds.com/newsfeed/1019882351137206272?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 14): https://www.minds.com/newsfeed/1019879547523878912?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 14) Lời Ai Điếu Hơn tám năm dạy học, tôi thấy rõ sự xuống cấp của giáo dục miền Bắc từ những năm đó. Hai yếu tố dậy và học làm nên quá trình giáo dục thì học là quyết định, dậy là quan trọng. Chưa bàn đến quá trình học, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tôi chỉ nói về quá trình dậy, liên quan trực tiếp đến người thầy. Bệnh hình thức, hay nói khác đi, gọi đúng tên của nó là giả dối đã ngự trị trong lao động dạy học. Điều đáng nói là, chính những người lãnh đạo giáo dục ở các cấp đã vì dốt nát và giả dối, chấp nhận chủ nghĩa hình thức. Đối với môn văn thì lại càng nguy hiểm. Học sinh ngày càng chán học môn văn, vì ngoài việc môn này bị chính trị hóa, còn một nguyên nhân rất quan trọng là sự lười biếng được khuyến khích ở thầy dậy văn. Văn học là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo” về cuộc sống. Tác phẩm văn học được đưa vào sách giáo khoa, được đem giảng dạy ở nhà trường, một lần nữa nó phải được thầy cô “khám phá” về cái đẹp để truyền thụ cho học sinh. Sự khám phá này được thầy cô nghiền ngẫm trong từng câu, từng chữ qua nhiều năm. Như người nghệ sĩ đánh đàn, càng lâu năm ngón đàn càng điêu luyện. Vì thế các cụ ta có câu: thầy đờn già, con hát trẻ. Một bài thơ hay như bài “thăm lúa” của Trần Hữu Thung, một thầy giáo dậy văn phải giảng bài thơ này năm này qua năm khác. Nhưng chưa phải là đã khám phá ra hết cái hay, cái đẹp của bài thơ. Vậy mà giáo án của tôi để dậy bài thơ đó được soạn năm trước, năm sau suy nghĩ, rút kinh nghiệm, thêm bớt một số ý, một số từ. Mỗi năm một lần giảng là một lần thêm bớt như thế vào giáo án cũ. Nhưng cán bộ chuyên trách bộ môn văn, một chuyên gia được xem là am hiểu của ty giáo dục về môn văn, về trường kiểm tra đã kịch kiệt phê bình tôi không soạn giáo án mới, đem sử dụng giáo án cũ. Anh ta lại biểu dương một giáo án được chép lại thật sạch sẽ giáo án cũ, có gạch chân các phần bằng mực đỏ nhưng không được bổ sung thêm bớt gì. Anh ta biểu dương công chép lại một giáo án cũ mà phê phán sự trăn trở tìm tòi của người giảng dạy một bộ môn nhgệ thuật đòi hỏi phải luôn sáng tạo và khám phá. Mặt khác, thấy giáo dậy văn phải là diễn viên có tài trên lớp, anh ta phải “thoát ly” được giáo án, phải thuộc “kịch bản” để bằng ngôn từ và ngoại hình cho học sinh “cảm thấy” được cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà bài thơ, bài văn đó đã khám phá. Leonard de Vinci đã từng nói: “Họa thơ là nhìn thấy, thơ là họa cảm thấy” là gì. Học sinh của chúng ta rất chán học văn vì thầy cô chỉ cầm giáo án mà đọc từ năm này qua tháng khác. Tôi đã kịch liệt phản đối cách kiểm tra, chấm điểm đánh giá giáo viên văn qua cách kiểm tra giáo án một cách hình thức như thế. Nhưng tôi đã thua cuộc vì người đánh giá mình là… cấp trên. Nhà trường cũng sợ cấp trên. Năm học đó tôi không được xếp hạng “lao động tiên tiến”, một danh hiệu cho tất cả các cán bộ công nhân viên nhà nước thời đó, trên danh hiệu đó là “chiến sĩ thi đua”. Nhưng cuối niên học đó đã xảy ra một sự kiện “động trời” với ngành giáo dục của tỉnh. Số là, cuối năm khối lớp 10 trong cả tỉnh đều tổ chức thi thử các môn chính cho học sinh lớp 10 trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp phổ thông hệ 10 năm. Thi thử là để đánh giá chất lượng dậy và học, và được tổ chức nghiêm túc như thi thật. Đề do Ty giáo dục ra, giờ thi thống nhất toàn tỉnh. Đầu đề môn văn năm đó là: các em hãy phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu. “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mật trời chân lý chói qua tim Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đượm hương và rất rộn tiếng chim”. Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù tốt nghiệp phổ thông hay thì vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã phán một câu: đây là tà thuyết. Khi kẻng đã đánh, đề thi được chép lên bảng. Các lớp 10 khác của nhà trường đều im phăng phắc, các em cặm cụi làm bài thi. Riêng lớp tôi, theo lệnh của tôi, các em không phải làm bài, cứ ngồi yên. Khi thầy hiệu trưởng đến kiểm tra đã vô cùng kinh ngạc. Ông kéo tôi ra hàng hiên, hỏi: tại sao lớp thầy học sinh không làm bài? Tôi trả lời: đề thi ra sai(!) Thầy hiệu trưởng càng kinh ngạc: sai cái gì? Tôi trả lời: bốn câu thơ trong đề thi chỉ là một khổ thơ trong bài “Từ ấy”. Còn tám câu của hai khổ nữa mới hoàn chỉnh bài. Nói xong tôi đọc tiếp bốn câu thơ tiếp theo của khổ thứ hai: “Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi và bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” Tôi nói tiếp, vậy mà đề thi lại yêu cầu phân tích cả bài thơ Từ ấy của Tố Hữu. Nếu học sinh của tôi, theo yêu cầu của đề thi phân tích xuống cả những câu tiếp theo thì sao? Thầy hiệu trưởng run lên bần bật vì tôi đã đúng. Nhưng nếu một lớp mà không thi với lý do truy ra đề sai thì… “to chuyện lắm”. Thầy hiệu trưởng năm nỉ tôi cứ cho học sinh làm bài. Tôi kiên quyết từ chối, cho học sinh giải tán ra về. Sự việc trên là một trái bom nổ trong ngành giáo dục Hải Hưng lúc đó. Người ra đề thi năm đó, dĩ nhiên phải là cán bộ chuyên trách bộ môn văn của Ty, ông chuyên viên đã từng kiểm tra giáo án của tôi trong đợt “thanh tra” hồi giữa năm! Ông ta bị cách chức “cán bộ chuyên trách” môn văn ngay sau đó. Trong thời gian dạy học ở Cẩm Giàng, tôi tham gia sinh học và trở thành hội viên Hội văn nghệ tỉnh Hải Hưng, dự các trại sáng tác văn thơ do Hội tổ chức. Ngoài ra còn viết cho báo Văn Nghệ đề tài “Phương pháp luận giảng dạy văn học” trong nhà trường. Tôi còn viết cho báo “Người giáo viên nhân dân” của Bộ Giáo dục cũng đề tài giảng dạy văn học… Chính vì tham gia các hoạt động văn học, tôi biết khá rành về nhà thơ tý hon lúc đó là Trần Đăng Khoa. Khoa sinh năm 1958 tại xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách tỉnh Hải Hưng. Tám tuổi cậu đã có thơ đăng báo. Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” được tuyển chọng trong 200 bài thơ Khoa đã làm trong hai năm, được Khoa lấy tên chung là “Từ góc sân nhà em”, Ty giáo dục Hải Hưng xuất bản tháng 2 năm 1968, lúc tác giả vừa tròn 10 tuổi. Từ điển Wikipedia trên mạng Internat sau này đã nhầm lẫn khi giới thiệu “Từ góc sân nhà em” là tập thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa và tập tiếp theo là “Góc sân và khoảng trời” do nhà xuất bản Kim Đồng in ấn(!). Thực ra, tập thơ “Góc sân và khoảng trời” là do Ty Hải Hưng xuất bản dầy 54 trang,, gồm 52 bài thơ. Một cậu học trò của tôi ở trường trung cấp sư phạm tỉnh, sau khi tốt nghiệp và quận Nam sách dạy học đã mua và đem tặng tôi. Tôi đã đọc rất kỹ tập thơ này. Tôi yêu nó đến mức, đi đâu dù phải dọn nhà nhiều lần vẫn mang nó đi theo. Năm 1981, chuyển công tác từ Hà Nội và Đồng bằng sông Cửu Long (Mỹ Tho), tôi đã chọn trong cả trăm cuốn sách của mình và chỉ mang theo ba cuốn, trong đó có tập “Góc sân và khoảng trời”. Tháng 6 năm 1981, tôi đã tặng nó cho thầy giáo Nguyễn Văn Quýt, một nhà chơi sách nổi tiếng ở Tiền Giang. Mỗi lần tỉnh tổ chức triển lãm sách quý, cuốn “Góc sân và khoảng trời” đều được đem ra trưng bày trước sự thích thú của độc giả. Năm 1992, khi chuyển công tác về Sài Gòn, tôi mượn lại cuốn đó của thầy Quý để photo lại. Đến hôm nay khi tôi viết những dòng chữ này, cuốn photo đó vẫn nằm trước mặt tôi. Thế là, tôi đã đem “Góc sân và khoảng trời” theo mình suốt 40 năm. Có thể vì “chơi” như thế nên tôi đã nghèo suốt đời (giống như thầy giáo Quý, người chơi sách nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long). Với tâm hồn bay bổng, tình cảm chan chứa, bằng sự quan sát tinh tế và cách diễn đạt hồn nhiên của một cậu bé sinh ra và lớn lên ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, Trần Đăng Khoa đã làm kinh ngạc cả văn đàn miền Bắc thời đó. Những bài thơ như “Cây dừa”, “Đám ma bác giun”… tác giả đã trở thành một thi sĩ lớn ngay từ lúc tuổi còn nhỏ. Một ngày nắng đẹp đầu thập kỷ 70, tôi đến thăm Trần Đăng Khoa. Tôi phải nhờ cậu học trò cũ của tôi ở trường sư phạm năm nào dẫn đường. Làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn nơi sinh sống của cậu bé Khoa hiện ra trước mắt tôi, nhưng đến nơi thì buổi chiều đó cậu lại đang đi đơm cá. Chúng tôi tìm đến nhà thơ thiếu niên trên cánh đồng. Khoa từ dưới ruộng mò lên, quần áo ướt lướt thướt. Cậu học sinh của tôi (lại là thầy dậy của Khoa) cất tiếng hỏi: Khoa có bài thơ nào mới làm không đưa cho thầy Khải xem? Cậu bé Khoa đặt cái nơm xuống đám cỏ rồi ngả chiếc mũ lá rộng vành xuống, cẩn thận lấy từ trong mũ ra một tập giấy đưa cho tôi. Tôi không tin vào mắt mình nữa khi trước mắt tôi là bản “Trường ca giông bão”. Tôi ngồi xuống ngay vệ cỏ đọc một mạch cho đến hết. Nó chẳng kém gì ILIADE, ODYSSEUS của Homeros! Hơn 40 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ mấy câu cuối cùng của bản trường ca đó: “… Ta nhất định thắng / vì đầu ta có nhiều lẽ phãi / tay ta lấm láp phù sa” Ít lâu sau tôi về Hà Nội, đến báo Nhân Dân gặp nhà báo Quang Đạm. Ông là một trí thức tên tuổi của Hà Nội. Trong làng báo thời đó, có hai người biết nhiều ngoại ngữ nhất là Quangg Đạm ở báo Nhân Dân và Lê Phú Hào ở VNTTX. Tôi “báo cáo” ông Quang Đạm về bản “Trường ca going bão” và được biết ông đã có đọc từ trước. Ông trầm lặng nói: thiên tài! Thiên tài! Rồi ông lại chậm rãi nói tiếp: nhưng Đảng ta tiết kiệm lắm! Tiết kiệm lắm! Tôi hiểu, ý ông muốn nói là không có chuyện khen ai, nhất lại là khen một cậu bé như Trần Đăng Khoa… trên báo Đảng. Không thể lăng-xê ai để người đó có thể qua mặt những người như XYZ… Sau đó không lâu tôi được thấy bài đó được in trên cáo báo nhưng tên bài đã được biên tập dưới cái tên rất ngô nghê và vớ vẩn. Người biên tập đã tầm thường hóa nó với cái tên mới là: “Trường ca đi đánh thần hạn!” Cách biên tập, sửa chữa để các tác phẩm văn học thời đó trước khi ra mắt độc giả của các tòa soạn báo là không để ai “qua mặt” được các cây đa cây đề như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… những người được Đảng và chính quyền đề cao. Tố Hữu khi còn nhỏ đã viết trường ca đâu… mà một cậu bé con như Trần Đăng Khoa lại dám viết “Trường ca giông bão”, nó chỉ có thể mang một cái tên như một bài vè nôm na, tầm thường là “Trường ca đi đánh thần hạn”, một kiểu kêu gọi người ta đi tát nước chống hạn mà thôi. Tôi nói điều này vì tôi đã được nhiều lần từng chứng kiến cái kiểu biên tập vô liêm sỉ ấy của báo chí ngay từ những năm 60-70 của thế kỷ trước. Bài thơ “Hạt gạo làng ta” nổi tiếng của Khoa được ca ngợi, được Xuân Diệu hiệu đính, nhạc sĩ Trần Khiết Bình phổ nhạc vào năm 1971, đã được “biên tập” hạ thấp nó xuống. Phải nói là cố tình hạ thấp nó cho dù người ta biết thừa nếu để nguyên văn thì tác giả lớn hơn nhiều. hạ thấp nó để đúng lập trường quan điểm của Đảng về văn nghệ XHCN không có bi kịch, không có nỗi buồn, không có cái đau. Khi bài “hạt gạo làng ta” đăng báo nó như sau: “Hạt gạo làng ta Có vị phù sa của sông Kinh Thầy Có lời mẹ hát ngọt bùi hôm nay…” Nhưng trước đó, khi tôi đọc bài này trong bản thảo của Khoa thì nó như sau: “Hạt gạo làng ta Có vị phù sa của sông Kinh Thầy Có lời mẹ hát Ngọt bùi, đắng cay…” Chữ “đắng cay” đã được biên tập thành chữ “hôm nay”. Vậy là đã giết chết tác giả của bài thơ rồi. Từ một nghệ sĩ đích thực, kẻ phát ngôn của tâm hồn nhân dân, Khoa đã trở thành một kẻ minh họa tầm thường, một kẻ bồi bút chỉ biết véo von ca ngợi và ca ngợi… Lời mẹ hát “ngọt bùi hôm nay” thì nhạt nhẽo quá. Câu thơ vừa ngớ ngẩn, vừa tầm thường lại dối trá nữa. Người mẹ nghèo ở quê hương của chúng ta vất vả, đắng cay từ ngàn xưa, nay còn “đắng cay” hơn vì đi làm hợp tác xã, một ngày công chỉ được mấy lạng thóc mà lời hát thì chỉ có “ngọt bùi” thôi ư? Trần Đăng Khoa đã không viết thế, nhưng người ta có quyền đăng và có quyền “giết” tác giả như thế. Tiếp theo các “biên tập” sửa chữa tác phẩm vô tội vạ kiểu đó, người ta còn làm một việc áp đặt là mời nhà thơ chuyên viết thơ thiếu nhi là Phạm Hổ về tình để “đỡ đầu” cho Trần Đăng Khoa. Phạm Hổ là nhà thơ mà chẳng ai nhớ một câu nào của ông ta, lại được mời về “đỡ đầu” cho một người làm thơ đã nổi tiếng cả nước. Trong cuộc gặp mặt của Hội Văn nghệ tỉnh với nhà thơ Phạm Hồ được xem như là cái lễ ra mắt chứng nhận sự đỡ đầu của Phạm Hổ đối với Trần Đăng Khoa, có cả phó bí thư tỉnh ủy Lê Quý Quỳnh dự, tôi đã nói đùa với ông Quỳnh: nên để ông Phạm Hổ đỡ cái khác của Trần Đăng Khoa hơn là đỡ đầu nó, vì cái đầu “có nhiều lẽ phải” của nó nặng lắm, sức Phạm Hổ không đỡ nổi đâu. Phó bí thư Quỳnh đã mắng tôi “cậu chỉ nói linh tinh” (ông Quỳnh trước là bí thư hải Hưng, sau vì hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên nhập một, mất đoàn kết nên trung ương mới điều ông Ngôi Duy Đông về là bí thư và ông Quỳnh làm phó). Sau này Khoa còn bị cử đi học viết văn, học lý luận viết văn bên… Liên Xô thì nực cười quá! Ông Anh Đức sau này có tâm sự với tôi, ông đã từng được cử đi học viết văn ở Liên Xô, nhưng theo ông, mình là người Việt Nam thì học viết văn kiểu Liên Xô làm gì? Thay vì đi Liên Xô học viết văn, ông đã đi B (vô Nam) để thâm nhập thực tế Việt Nam, để viết văn cho dân mình đọc. Trần Mạnh Hảo có lần bảo với tôi: Trần Đăng Khoa về hưu từ lúc còn nhỏ(!) Đúng vậy. Nếu đứng từ góc độ một nhà văn, một nhà thơ thì với cách “biên tập” văn thơ như tôi kể ở trên, với cách cử đi Liên Xô học viết văn… nên Trần Đăng Khoa đã không viết được gì nữa. Coi như về hưu nghề văn. Và anh ta đã trở thành một ông quan tầm thường hơn cả sự tầm thường ở Đài tiếng nói Việt Nam. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 13, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/13/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-14/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 15): https://www.minds.com/newsfeed/1019879923109146624?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 13): https://www.minds.com/newsfeed/1019878999822864384?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 13) Chương Sáu Chín năm dạy học ở thôn quê Sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm khóa 1963-1966, thầy Nguyễn Đức Nam bảo tôi có muốn ở lại trường làm cán bộ dạy môn văn học phương tây thì thầy đề xuất khoa văn giữa lại, nhưng phải học tiếp bốn năm tiếng Pháp nữa tại khoa Pháp văn rồi mới trở về khoa văn làm phụ giảng Tôi nghe thầy Nam nói sợ quá vì đời sống sinh viên quá khổ cực. Lúc đó có câu “ăn sư ở phạm”, có nghĩa là sinh viên trường sư phạm ăn như sư, ở như phạm nhân. Tôi xin ra trường đi dạy học vì lý do “gia đình khó khăn” về kinh tế. Tướng Qua bảo với mẹ tôi: Khải đã tốt nghiệp đại học thì không thiếi gì việc để nó làm, để tôi xin cho nó về Bộ (CA), khỏi phải đi xa. Mẹ tôi mừng lắm vì chỉ có mình tôi là con trai (tôi có hai bà chị và một em gái). Tôi được ông nội, bà nội rất cưng chiều. Khi học cấp ba rồi, mà về mùa đông, tối đến tôi vẫn nằm ở giữa, ông nội tôi nằm một bên, bà nội tôi nằm một bên, để tôi nằm giữa cho ấm! Vì thế ông bà nội tôi rất ưng ý để tôi công tác ở ngay Hà Nội. Nhưng, tôi biết rất rõ, tôi không có “máu” làm công chức, nhất là làm công an. Vì thế, tôi kiên quyết cầm quyết định của nhà trường, cắt hộ khẩu Hà Nội để chuyển về Hải Hưng nhận công tác, dù biết chắc sẽ về nông thôn dạy học. Tôi được Ty giáo dục tỉnh Hải Hưng lúc đó phân bố về trường trung cấp sư phạm ở huyện Ninh Giang. Trường sư phạm tỉnh đang sơ tán ở xã vùng sâu của huyện. Hôm nhập trường các sinh viên mới ra trường đến nhận công tac ngồi túm tụm ở địa điểm tập trung ghi trong giấy quyết định của Ty. Bỗng một anh chàng đến sau, gác xe đạp rồi lớn tiếng hỏi: văn phòng Đảng ủy nhà trường ở đâu các anh có biết không? Ý anh là muốn giới thiệu với mọi người, anh ta là một đảng viên, tìm văn phòng Đảng ủy để nộp giấy sinh hoạt Đảng. Để vênh vang khoe mẽ với mọi người ngay từ phút đầu. Hồi đó đảng viên hiếm lắm. Anh chàng này sẽ là một giáo viên sáng giá của nhà trường với các “mác” đảng viên này. Tôi thấy cần phải dậy ngay cho anh ta một bài học… đầu đời! Tôi đứng dậy, bảo anh ta: đi theo tôi. Rồi tôi dẫn anh ta đi vòng vèo trong xóm. Đến một cái nhà xí hai ngăn (một thứ nhà vệ sinh rất thịnh hành thời đó ở nông thôn Bắc Bộ), tôi chỉ vào đó rồi nói: đây là chỗ đi ỉa, đi đái. Cậu mới đến từ xa, cần biết chỗ này trước đã, còn văn phòng Đảng ủy thì thư thư cũng được. Anh ta trợn ngược mắt nhìn tôi đầy vẻ căm thù. Lúc sau tôi quay về chỗ cũ, mọi người hỏi tôi dẫn anh ta đi đâu mà lâu thế? Tôi kể lại câu chuyện dẫn anh ta đến nhà xí hai ngăn, mọi người cười ồ. Từ giờ phút đó trở đi, tôi được Đảng ủy nhà trường xem như là một phần tử “bất trị”! Nhưng khả năng giảng dạy của tôi đã lật ngược thế cờ. Nhà trường có hai hệ đào tạo giáo viên cấp hai. Một là hệ 7+3, tức tốt nghiệp cấp 2 rồi học ba năm nữa để lấy bằng sư phạm trung cấp. Một hệ 10+1, tức tốt nghiệp cấp 3 rồi, học thêm một năm nữa rồi ra trường ngay. Hầu hết các thầy giáo mới tốt nghiệp đại học đều xin dậy năm thứ nhất của hệ 7+3, không ai dám nhận dậy hệ 10+1. Tôi xin nhận dậy 10+1 trước sự vui mừng của thầy hiệu trưởng vì đang thiếu thầy cô dậy hệ này và nhiệm vụ của nhà trường là mau chóng đào tạo giáo viên cấp 2 đang thiếu cho tỉnh. Hồi đó ở ngành giáo dục tình Hải Hưng có câu ca “văn như Quán, toán như Cang”. Có nghĩa là thầy Quán dậy văn giỏi nhất, thầy Cang dậy toán giỏi nhất. Thầy Cang đang dậy một lớp chuyên toán cấp 3 của tỉnh, còn thầy Quán đang dậy lớp 10+1 của trường sư phạm mà tôi đang dậy. Thầy Quán được trường đại học sư phạm Việt Bắc mới mở xin lên làm giảng viên của trường, nhưng vì chưa có ai thay thế thầy ở hệ 10+1 của trường sư phạm trung cấp Hải Hưng nên thầy chưa thể đi được. Sau một học kỳ, thầy Quán mời ban giám hiệu và cán bộ bộ môn văn của tỉnh dự giờ lên lớp của tôi, để chứng minh rằng tôi có thể thay thế thầy đứng lớp 10+1. Kết quả là người ta đã đồng ý để thầy Quán chuyển lên dậy đại học và tôi thay thế thầy dậy lớp 10+1. Tới hết niên học 1969-1970 thì lượng giáo viên cấp 2 trong tỉnh đã đủ, trường trung cấp sư phạm giải tán. Tôi được điều về trường cấp 3 của một huyện vùng xa trong tỉnh Hải Hưng rộng lớn, trong khi tôi cần về trường cấp 3 Cẩm Giàng nơi vợ tôi mới sinh con đầu lòng và đang dậy cấp 2 ở đó, rất cần tôi ở gần để phụ giúp gia đình. Trước tình thế này, tôi phải dùng đến thế lực. Hồi đó có câu ngạn ngữ nổi tiếng “nhất thân nhì thế”. Có nghĩa là thân quen thì việc gì cũng xong. Tôi về Bộ Công An gặp tướng Qua và trình bày sự cần thiết phải về huyện Cẩm Giàng. Nghe xong, tướng Qua không nói gì cả, chỉ lấy một mảnh giấy nhỏ ghi mấy chữ. Trong giấy gửi ông Hoàng Sơn, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong giấy chỉ ghi mấy chữ ngắn gọn, đại ý tôi có thằng cháu đích tôn, muốn xin anh cho cháu về dạy học ở Cẩm Giàng. Khi ông Hoàng Sơn xem xong thư, vỗ vai tôi bảo: ông Qua nổi tiếng ở ngành công an lắm, rồi ông gọi cánh văn phòng UBND tỉnh lên bảo làm quyết định của Ủy ban cho tôi về làm việc ở Cẩm Giàng. Tôi cầm quyết định của ủy ban tình với chữ ký của phó chủ tịch thứ nhất phụ trách nội chính đưa cho trưởng phòng tổ chức Ty giáo dục Hải Hưng. Xem quyết định đó xong, ông Lự, tên của trưởng phòng, nhìn tôi lắc đầu! Theo nguyên tắc thì quyết định điều động giáo viên cho trưởng Ty hay phó trưởng Ty ký. Quyết định của tôi lại do Ủy ban tỉnh ký tên. Ty giáo dục phải làm một quyết định lại, điều cô giáo dậy văn đã được điều về Cẩm Giàng đi một trường khác. Thế mới hay cái câu “nhất thân nhì thế” quả là không sai! Tôi dạy học ở Cẩm Giàng đến đầu năm 1974 thì chuyển về Đài Tiếng nói Việt Nam làm phóng viên. Gần chín năm dạy học ở nông thôn, sống ngay trong nhà dân khi ở trường sư phạm, rồi sống trong khu tập thể ở trường phổ thông cấp 3 Cẩm Giàng cũng sơ tán trong làng… tôi có dịp gẩn gũi để tìm hiểu người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Tôi có thể rút ra những nhận xét, những dẫn chứng, những kết luận mà những nhà xã hội học ngồi ở các Vụ, Viện ở Hà Nội không bao giờ có được chỉ bằng những chuyến “đi thực tế”. Thứ nhất, với chính sách hợp tác hóa, ruộng đất bị đưa vào làm ăn tập thể, cha chung không ai khóc, người nông dân đồng bằng Bắc Bộ bị bần cùng hóa và nghèo khổ đến cùng cực. Khi tôi ở Ninh Giang, “trọ” trong nhà một bà cụ có tên là cụ Kịp. Nhà chỉ có hai mẹ con. Anh con trai tên là Hữu. anh này có lẽ vì mắt kèm nhèm nên không trúng nghĩa vụ quân sự. Đó là trường hợp hãn hữu ở nông thôn lúc bấy giờ. Anh Hữu ngày đi làm hợp tác xã, tối về chỉ xoa hai chân vào nhau là lên giường ngủ, không hề có guốc, dép. Anh cũng không có khái niệm đánh răng rửa mặt. Một lần về Hà Nội, tôi mua tặng anh một cái bàn chải đánh răng, một cái khăn mặt và một tuýp kem [thuốc] đánh răng. Mấy hôm sau, tôi thấy tuýp thuốc đánh răng xẹp lép, tôi hỏi làm sao lại hết nhanh thế. Anh Hữu cười hồn nhiên, anh cho biết, thấy thuốc đánh răng thơm và ngọt nên anh đã… ăn hết rồi! Tôi hú hồn. Chẳng may vì thuốc đánh răng mà Hữu làm sao thì tôi… mang vạ. Tôi đành phải hướng dẫn anh Hữu đánh răng bằng muối. Sau hai năm ở Ninh Giang, trường sư phạm dọn về Gia Lộc. Tôi ở trong nhà một ông cụ tên là Vơn. Nhà xây, có giếng nước đàng hoàng. Xưa kia cụ Vơn cũng là loại khá giả. Cụ biết chữ Nho võ vẽ. Hai vợ chồng anh con cả làm hợp tác xã, người con thứ hai đi bộ đội vào Nam, được gia đình xem như đã chết vì không có tin tức gì. Cậu con út tên là Mùi, đi học trường làng. Mỗi khi ăn cơm, chị con dâu ngã cái mâm bằng gỗ dựng ở góc tường xuống, bốc rau để lên mâm. Khi ăn xong, cụ Vơn lấy cái chổi lúa vẫn thường quét nhà để quét mâm rồi lại dựng lên như cũ. Cứ thế năm này qua năm khác, cái mâm cáu bẩn còn hơn cả cái nền nhà. Nhà luôn thiếu ăn, ai cũng xanh xao, bủng beo. Năm 1991, tôi ra Hà Nội để đi Liên Xô, khi về có ít quà, tôi mượn Bộ Thủy sản cái xe con về thăm lại gia đình. Xe đậu ở đầu thôn. Tôi xuống xe hỏi bà bán nước. Cụ Vơn còn không? trả lời: chết rồi! Tôi lại hỏi chị vợ anh Khoát còn không? Trả lời: chết rồi. Tôi choáng váng hỏi: thế thằng Mùi đâu…? Từ đằng xa, tôi trông thấy một người đàn ông đầu bạc xóa chạy lại, vừa chạy vừa kêu lớn: thằng Mùi đây! Cái thằng Mùi bé con học trường làng ngày ấy chỉ 20 năm sau đã trở thành một ông già đen đúa, tóc bạc trắng khi chưa đầy 50 tuổi. Tôi thành kính đặt lên bàn thờ những người đã khuất chút hương hoa của kẻ đã từng trú ngụ trong ngôi nhà này, rồi thắp hương khấn cho vong hồn của họ siêu thoát. Ông cụ Vơn và vợ chồng người con trai cả của cụ là những nông dân cần cù chất phác. Họ rất nghèo nhưng tấm lòng luôn rộng mở, sẵn sàng cưu mang những cán bộ ở thành phố về sơ tán trọ trong nhà họ. Sẵn sàng nhường cơm xẻ áo cho chúng tôi. Những đêm tôi thức chấm bài khuya, chị con dâu thường đem vào phòng cho tôi một đĩa khoai luộc hay một góc củ sắn (khoai mì). Nắm bột mì luộc và bát “súp” khẩu phần ăn của tôi được các cô giáo sinh lĩnh hộ từ nhà bếp mang về… được cụ Vơn bắt con cháu ăn hộ và dành cơm cho tôi ăn. Ở nông thôn, người ta rất kiêng kỵ cho vợ chồng người lạ ngủ trong nhà mình, vậy mà khi vợ tôi đến thăm, gia đình vẫn vui vẻ cho vợ tôi ngủ lại. Tôi hỏi Mùi, bây giờ đã là chủ gia đình có một vợ và hai con, tại sao anh chị Khoát lại chết? Chết vì bệnh gì? Mùi thành thật nói chết vì… ăn no! Rồi Mùi kể hết sự tình đoạn trường hơn 20 năm qua của gia đình cụ Vơn. Sau những năm vô cùng đói khổ của thời kỳ bao cấp và duy trì hợp tác xã, đến khi có chính sách khoán ruộng, (trả ruộng lại cho dân) thì nhà thừa thóc ăn. Vụ thu hoạch đầu tiên của năm trả ruộng đó, anh chị Khóa ăn no quá, ngày nào cũng ăn no kềnh no càng… rồi sinh bệnh chết! Tôi đã hiểu. Cả hai vợ chồng nông dân này đềm vạm vỡ. Do phải ăn đói trong nhiều năm liền, nên tuy to xác nhưng bủng beo, một dạng “Tàu phù” như các cụ ta vẫn gọi bọn Tàu Tưởng năm xưa. Đến lúc có ăn thì lại ăn nhiều quá, cơ thể không thích ứng kịp nên sinh bệnh và khi sinh bệnh lại không có thuốc nên bệnh nặng dần mà chết. Câu chuyện của vợ chồng anh Khoát làm người ta nhớ lại nạn đói năm 1945. Có người đói quá, đói cả tháng, đến khi được ăn một bữa no là chết liền. Gọi là chết no. Những năm dạy học ở nông thôn tôi còn được chứng kiến một trận lụt kinh hoàng vào năm 1971. Năm đó vợ tôi vừa sinh đứa con thứ hai, sau kỳ nghỉ hè về lại trường Cẩm Giàng để chuẩn bị năm học mới thì vỡ đê Văn Thai, một con đê nằm trong hệ thống sông Thái Bình. Ai chưa một lần trong đời chứng kiến cảnh vỡ đê thì không thể hình dung sự tàn phá của nạn hồng thủy. Các cụ ta ngày xưa tổng kết “thủy, hỏa, đạo tặc”. Đặt chữ “thủy” lên đầu trong các thứ họa trên đời là hoàn toàn đúng. Buổi sáng tôi còn đi chợ mua vài con cá, cảnh vật vẫn bình yêu thì xế trưa nước đã từ phía bắc đổ về. Kê cái giường lên bàn cho cao còn để đồ đạc thì ngoảnh đi ngoảnh lại nước đã tràn lên giường. Phải phá trần nhà rút lên trần, kê giát giường mà ngồi. Mấy chục con người, đa số là phụ nữ và trẻ con phải sinh sống cả tháng trời trên cái trần nhà cấp 4 ọp ẹp đó, nếu sập trần thì trẻ con chết hết. Cả tỉnh Hải Dương, gồm cả thị xã Hải Dương ngậm chìm trong nước. Suốt ngày tôi phải lội nước đến cổ đi kiếm buồng chuối xanh hoặc nín thở lặn xuống các ruộng rau muống quanh trường để kiếm chút rau xanh cho vợ và hai đứa con nhỏ. Một đứa 2 tuổi, một mới sanh được đầy tháng. Ấn tượng sâu đậm nhất với tất cả chúng tôi là tiếng kêu tuyệt vọng của đàn trâu trong huyện. Chúng cứ bơi, cứ bơi, ngày này qua ngày khác đến khi kiệt sức thì chết nổi lên. Cả một vùng đồng bẳng rộng lớn như Hải Dương lấy đâu ra một gò đất cao cho trâu trú chân. Đàn trâu cứ bơi, vừa bơi vừa kêu. trong đêm khuya thanh vắng tiếng kêu tuyệt vọng của bầy trâu mới bi oán làm sao. Ban đầu còn nghe thấy nhiều tiếng kêu, sau thưa dần, thưa dần rồi im hẳn. Chúng đã chết hết. Khi nước tràn về, nhưng con vật sống dưới lòng đất hoảng hốt bò lên. Mặt đường tàu hỏa thì chuột và rắn bò lên chạy lụt. Chưa bao giờ người ta thấy chuột và rằn nhiều như thế. Trong cơn hốt hoảng rắn không bắt chuột nữa. Chúng “chung sống hòa bình”. Nhưng khi nước tràn lên mặt đường tàu thì số phận của chúng cũng như đàn trâu bò mà thôi. Chỉ còn có các cây cao là chỗ cuối để rắn cố thủ. Đó là những “cây rắn”. Có người trèo lên cây chạy lụt nhìn thấy rắn sợ quá ngả nhào xuống đất. Thiên tai địch họa thường đến với người nông dân Bắc Bộ như thế. Những năm sống ở nông thôn miền Bắc, tôi còn cảm nhận được điều thứ hai là, thế hệ người già ở nông thôn, nhất là người có chút Nho học, họ bị ảnh hưởng sâu đậm của triết thuyết Khổng Mạnh. Khổng giáo thấm sâu đậm vào từng thớ thịt, từng mạch máu của lớp người này. Họ trọng nam khinh nữ, trọng văn khinh võ, thích những điều sao siêu trừu tượng… Ông cụ Vơn, chủ nhà của tôi, có ngôi nhà ngói duy nhất trong cái xóm nhỏ đó. Nhà có một phòng riêng, lại có giếng nước xây. Các giáo viên sơ tán trong làng ai cũng muốn trọ ở nhà cụ vì nó khang trang nhất. Nhưng cụ từ chối nhiều giáo viên xin ở trọ trước khi tôi đến. Người thứ nhất là một giáo viên dậy thể dục. Anh chàng này cao to, khỏe mạnh, đẹp trai nữa… nhưng cụ Vơn từ chối vì anh chàng này có vẻ… võ biền! Người thứ hai bị cụ từ chối là một giáo viên dậy sử. Anh chàng này bé nhỏ, đầu hói, “mồi thối lửa” (tức mồm bé, môi mỏng). Cụ Vơn xem tướng anh chàng một lúc rồi đi vô nhà, không nói không rằng. Tôi quyết định đến xin ở nhà cụ Vơn. Tôi bảo một cô giáo sinh (học sinh sư phạm) gánh một gánh sách của tôi đi sau, tôi đi trước. Đi từ tốn, đĩnh đạc. Thấy cụ đang quét sân, tôi đánh tiếng chào thật to và nói: cụ định đóng vai Lưu Bị quét sân để đánh lừa Tào Tháo phải không? Cụ Vơn dừng tay chổi, ngẩng lên nhìn tôi từ đầu đến chân rồi lại nhìn cô giáo sinh gánh một gánh sách nặng đi sau. Cô giáo cúi rạp đầu chào cụ chủ theo lời dặn từ trước của tôi. Bổng cụ chủ cười khanh khách rồi cất lời mời tiên sinh vào nhà! Thế là tôi đã thắng lợi nhờ biết tâm lý của các cụ nhà ta, vốn “trọng văn khinh võ”. Ở nhà cụ Vơn, tôi không nói những chuyện cụ thể, toàn nói những chuyện cao siêu, trên trời dưới đất… chuyện Lã Vọng câu cá bằng lưỡi câu thẳng, chuyện Lưu Bị, Quan Công “tam anh chiến” Lã Bố, chuyện Từ Hải chết đứng… mà thôi! Cụ khen tôi, đúng là “người quân tử”. Một hôm tôi đi vắng, thầy hiệu trưởng nhà trường đến chơi, có ý thăm dò nhà chủ xem tôi ăn ở với dân có điều gì chê trách không. Vì lúc đó có nhiều thầy cô ở trọ nhà dân, có vài trường hợp không được lòng chủ nhà, bị chê trách, bất lợi cho “công tác dân vận” của nhà trường. Sau khi biết chuyện thầy hiệu trưởng lại thăm nơi tôi trọ, lúc gặp ông, một cán bộ già dặn, tôi hỏi thẳng: cụ chủ nhà có phê bình gì tôi không, thưa thầy? Thầy hiệu trưởng trả lời: ông cụ chỉ cười lớn và bảo với tôi, thầy giáo Khải trừu tượng lắm! Chỉ nhận xét anh “trừu tượng” thôi! Thực ra thì cụ Vơn không hiểu biết gì về thực tế cả, công việc làm ăn cụ đều giao khoán cho vợ chồng anh con cả. Cụ chỉ thích nói chuyện đời xưa với tôi. Mấy người em của cụ đều là những nông dân tháo vát, cần cù. Vậy mà tôi còn thấy cụ còn mắng các em là không biết hầu chuyện, “nhàn đàm” với cụ và tôi những lúc rảnh rỗi. Nhưng có điều lạ là, họ đều rất “phục” ông anh, cho ông anh của mình mới là người cao kiến! Có một câu chuyện khôi hài thế này, một hôm trời rét như cắt ruột. Tôi và cụ Vơn đang ngồi uống trà trong nhà. Bỗng cụ nhìn thấy một anh chàng đang phun thuốc trừ sâu ở cánh đồng trước nhà. Cụ ra lệnh cho chị con dâu đang ngồi sàng gạo ở trước thềm ra mời anh thanh niên đang phun thuốc vào nhà cho cụ gặp. Anh nhận lời và khi gặp cụ bào anh gỡ cái loa kim (hệ thống loa phát thanh bằng dây dẫn), lật ngửa chiếc loa rồi phun thuốc trừ sâu vào đó. Như có phép thần, đến giờ phát thanh buổi chiều, chiếc loa đang im bặt cả tuần bỗng nói oang oang. Chị con dâu khen: thầy em tinh thật, cái gì cũng biết! Thì ra cái loa kim bị sét rỉ, thuốc trừ sâu phun vào làm nó bị ăn mòn và trở nên dẫn điện tốt trở lại. Cụ Vơn có “uy tín” nhờ những “sáng kiến trừu tượng” như thế. Cả nhà, cả xóm rất coi trọng cụ. Chưa hết, một lần hợp tác xã mổ lợn, chia cho nhà cụ 1kg. Khi ngồi ăn cơm, cụ Vơn húp một thìa nước luộc thịt rồi lắc đầu chê: thiếu đạm là không ngọt. Tôi hỏi cụ: đạm là thứ gì mà thiếu? Cụ trả lời: đạm là mì chính (bột ngọt) ông giáo ạ! Anh con trai cũng húp thử một húp rồi khen: thầy em tinh thật! Chưa hết, đúng năm đó Bác Hồ mất. Tôi về Hà Nội mấy hôm. Khi trở lại, tôi đem tặng cụ tấm ảnh chủ tịch nước mới là Tôn Đức Thắng để gia đình treo bên cạnh ảnh cụ Hồ. Xem xong, cụ đi đi lại lại, chắp tay ra sau rồi lại nhìn lên bức hình bác Tôn. Cụ có vẻ băn khoăn lắm. Tôi thấy vậy bèn hỏi: cụ thấy hình bác Tôn thế nào? Cụ khẽ lắc đầu, nhận xét: Hồ Chủ Tịch này cũng già lắm rồi! Nông thôn miền Bắc XHCN cuối thập niên 1960 là như thế. Chỉ có trẻ em, phụ nữ, người già. Thanh niên đi “B” hết. Năm 1972, ở tuổi 30 tôi cũng được gọi đi nghĩa vụ quân sự theo giấy gọi của huyện. Nhà trường, học sinh lớp tôi chủ nhiệm cũng làm liên hoan tiễn thầy đi bộ đội long trọng lắm. Nhưng được có nửa tháng, lên đến tỉnh khám sức khỏe lại, tôi bị loại, lại khoác ba lô về lại trường cũ. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 10, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/10/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-13/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 14): https://www.minds.com/newsfeed/1019879547523878912?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 12): https://www.minds.com/newsfeed/1019878588886253568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·