ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18) Hồi ký Tống Văn Công Nhà thơ Nguyễn Bính rời quân ngũ, bán sách báo Khoảng hai tháng sau khi công bố Giải thưởng Văn nghệ Cửu long, các báo kháng chiến đưa tin đã phát hành một số tác phẩm được giải, trong đó có bài “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi vội vàng chèo xuồng theo kinh Chắc Băng tới quán sách báo của Nguyễn Bính ở chợ Huyện Sử. Nhìn qua đã thấy các bản nhạc in litô kẹp trên dây treo cùng với một số tờ báo quen thuộc như Nhân Dân Miền Nam, Tiếng Súng Kháng Chiến, Cứu Quốc… Tôi gỡ bản nhạc “Đóng thuế nuôi quân” và lên tiếng xin mua. Ông chủ quán Nguyễn Bính ngừng xem báo ngẩng lên nhìn khách hàng, nhận tiền, rồi hỏi: Anh chơi nhạc à? Dạ, mới học! Ông nói: “Hai tác giả được giải này tên nghe lạ hoắc! Anh mua vì quen biết tác giả, hay chỉ vì là bài được giải?” Tôi lúng túng rồi thưa thật: “Bài này của tôi sáng tác đoạt giải nhì.” Nhà thơ ngạc nhiên, vồn vã: “Nếu không vội đi thì ngồi lại uống chén trà chơi?” Từ lâu tôi đã hâm mộ nhà thơ lãng mạn thời tiền chiến, nay trở thành nhà thơ kháng chiến lừng danh với những bài trường ca “Ông lão mài gươm”, “Đồng Tháp Mười”, “Máu chảy trên đường phố”, đặc biệt là tráng ca “Tiểu đoàn 307” được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc. Được ngồi uống trà với một thiên tài còn vinh hạnh nào hơn! Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông qua bàn trà và thổ lộ niềm cảm phục của mình đối với các tác phẩm kể trên của ông. Nguyễn Bính có vẻ vui vui, ông thay ấm trà mới, hỏi tôi có quen với Bùi Quang Triết, phóng viên Tiếng Súng Kháng Địch không. Hồi này tôi chưa quen Bùi Quang Triết, bút danh Xuân Vũ, nhưng có đọc thơ của anh như “Ngày mai em lớn cầm súng bắn Tây” và “Niềm thương mến”, cả hai bài đều được Phan Vân phổ nhạc. Tôi nói hai bài này điều hay, được phổ biến rộng, nhưng không rõ vì sao không lọt “mắt xanh” của ban chấm Giải Văn nghệ Cửu long. Hình như câu nói của tôi hơi đúng ý của Nguyễn Bính, ông nói: “Không phải không lọt được ‘mắt xanh’ mà vì ban giám khảo không ai có ‘mắt xanh’!” Hồi ấy tuy rất phục tài Nguyễn Bính, nhưng tôi vẫn tin ban giám khảo gồm những cán bộ cao cấp của Đảng nắm vững ý kiến Cụ Hồ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và “phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Nguyễn Bính cho biết, những bài trường ca của ông mà tôi yêu thích đều không được những nhà lãnh đạo chính trị, văn nghệ hoan nghênh. Họ hỏi Nguyễn Bính, vốn là một nhà thơ nổi tiếng từ thể thơ lục bát của dân tộc, tại sao nay ông lại làm thơ tự do, thể thơ lai căng? Trường ca Đồng Tháp Mười có những câu: “… Bông súng ngoài đồng, Bầm gan, tim mạch. Nước phèn chua chat, Lắng nỗi đau thương. Đốc binh Kiều, Thiên Hộ Dương… “… lửa uất hận bùng sôi cùng máu đổ, Mầm đấu tranh vút mọc với sao vàng!…” Họ hỏi, Đồng Tháp Mười toàn là nông dân sao ông không làm thơ lục bát cho họ dễ đọc? Bài “Tiểu đoàn 307”, cả thơ và nhạc đều bị quy là “lai Tây”! Mệt mỏi vì những ý kiến kiểu đó, lại nghe sắp có cuộc “chỉnh phong”, Nguyễn Bính xin rời quân ngũ ra dựng lều bán sách báo. Mặc dù ông chuyển vào ở rất sâu trong vùng kháng chiến Cà Mau, nhưng các nhà lãnh đạo của Đảng vẫn lo ông bỏ về thành. Đó là tấn bi kịch giữa ông với đảng Cộng sản, hai bên hoàn toàn không thể hiểu nhau. Ông rất yêu nước, yêu cách mạng, kính trọng Cụ Hồ. Trong trường ca “Máu chảy trên đường phố” của ông có những câu: “…Sao vàng mọc, núi sông trào ánh sáng, Khắp đô thành nhảy múa một màu son. … các anh ta vượt Trường Sơn ra Việt Bắc, Bác ngoài kia khuya sớm vọng về Nam…” Năm 1953, tại quán sách này ông làm bài thơ “Thư gửi cho cha”: “… Đố ai quét sạch lá rừng, Đố ai xui giục con đừng theo Cha. … Thưa cha giấy vắn tình dài, Viết bao nhiêu vẫn chưa hài lòng con. Còn trời còn nước còn non, Nước non còn đó, con còn theo Cha.” Ông chỉ đòi được tự do sáng tác, viết thì cảm xúc, chọn hình thức thể hiện mà mình thấy thích hợp với nội dung. Đảng Cộng sản luôn luôn dè chừng ông là “nghệ sĩ lãng mạn, lập trường bấp bênh”. Sau hiệp định Geneve, có một danh sách cần phải vận động đi tập kết, trong đó có Nguyễn Bính. Ra Bắc, Đảng giúp tiền cho Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa để chống báo Nhân Văn, nhưng Nguyễn Bính không chịu chống, nên Trăm Hoa phải chết! (Theo Tô Hoài trong hồi ký “Cát bụi trần ai”.) Bà Hồng Châu (Nguyễn Lục Hà), một đảng viên từ thời kỳ trước Cách Mạng Tháng Tám đã kể khá tỉ mỉ trong hồi ký của bà về chuyện ông Lê Duẩn khuyên bà phải lấy cho được Nguyễn Bính làm chồng: “Giọng anh Ba gần như tâm sự: Chị biết, lúc này có chủ trương chỉnh phong của Đảng, được cán bộ tăng cường cho cơ sở. Nguyễn Bính là người xứ lạ lại không có thân thuộc họ hàng ở miền Nam, trừ khi anh ấy bắt rể ở đây. Bọn ngụy quyền đang tìm mọi cách lôi kéo, kêu gọi văn nghệ sĩ về thành. Trong danh sách đó, Nguyễn Bính là tên tuổi nổi cộm nhất. Đã có một số văn nghệ sĩ không chịu nổi gian khổ đã dinh tê về thành. Mặc dù một cá nhân không làm nên lịch sử, nhưng kháng chiến cần sự góp mặt của Nguyễn Bính. Chị suy nghĩ đi… … anh Ba Duẩn nói tiếp: “Chúng tôi nhận thấy chị đủ sức giữ con người ấy lại cho công cuộc kháng chiến đến kỳ cùng.” Anh cười nửa đùa nửa thật: “Nếu đây là mệnh lệnh của Đảng thì chị có chấp hành không?” Là “khách đa tình” Nguyễn Bính dễ sa vào cuộc tình do Lê Duẩn sắp đặt vì mục đích chính trị. Nhưng cũng do bản tính nghệ sĩ, ông mau chóng cảm nhận tình trạng “đồng sàng dị mộng”. Thật trớ trêu khi ông nhận giấy ly hôn bà Hồng Châu đúng một tháng trước ngày bà sinh Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó, ông lấy cô nông dân Mai Thị Mới từ Bến Tre tản cư vào ấp Hương Mai xã Khánh Lâm. Khi ông ngồi uống trà với tôi thì Mai Thị Mới đang làm việc ngoài ruộng. Ông cho biết nguồn sống chính của vợ chồng ông là thu hoạch từ hơn một mẫu ruộng do người vợ Mai Thị Mới của ông quán xuyến. Hai năm sau, đứa con gái ra đời “Hương Mai tên xóm quê nhà; Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai”. (Thơ “Gửi vợ miền Nam”) Ngày đó, Nguyễn Bính thẳng thắng bảo tôi: “Nếu lãnh đạo văn nghệ theo kiểu thực dụng thì chỉ đẻ ra những tác phẩm minh họa, nó sẽ chết ngay khi vừa ra đời!” Tôi đang vui với giải thưởng âm nhạc nên không để tâm đến nhận xét của ông. Năm 1954, sau khi tập kết ra Bắc, Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây cho thành lập ban nhạc để chuẩn bị chào mừng ngày thành lập Sư đoàn 38. Các nhạc công đều đem theo tập vở chép nhạc của mình từ thời kháng chiến chống Pháp. Giở tập nhạc của anh Trần Đức Thắng (sau 30 tháng 4 năm 1975 là Phó văn phòng Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh) thấy có bài “Đóng thuế nuôi quân”, tôi kêu lên “A! Thắng có chép bài hát của mình!” Thắng ngạc nhiên hỏi “Đâu, đâu?” Và sau khi xem lại, anh bỉu môi chửi thề: “Nếu biết là bài của mày thì tao đ. chép!” Câu văng tục của Thắng khiến tôi nhớ nhận xét của Nguyễn Bính! Posted on Tháng Ba 31, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/31/tu-theo-cong-den-chong-cong-18-nha-tho-nguyen-binh-roi-quan-ngu-ban-sach-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17) Hồi ký Tống Văn Công Tôi được giải, ông xứ ủy bị “mất lập trường”! Đầu năm 1951, ông nội tôi từ Bến Tre vào thăm và cho tôi khoản tiền bán con heo một tạ. Tôi đem số tiền này mua cây đàn violon, rồi say mê học đàn, học nhạc lý. Từ năm 1952, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ có quyết định thuế nông nghiệp. Nông dân đóng thuế bằng lúa tỷ lệ theo số ruộng canh tác. Tôi sáng tác một bài hát vận động cho phong trào này: “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi được mời tham dự buổi trao Giải Văn nghệ Cửu long. Tôi đi dự, không hề nghĩ mình được giải nhì! Văn xuôi dự giải lần này có một cây bút cực kỳ quan trọng, mọi người nói nhỏ với nhau đó là một “ông gộc”: nhà văn Ngũ Yến (tách đôi chữ Nguyễn là tên và là họ của ông Nguyễn Văn Nguyễn) với tác phẩm “Kén Rể” đã đăng trên tạp chí Lá Lúa của Chi hội Văn nghệ Nam bộ. Trong chiến khu ai cũng biết ông Nguyễn Văn Nguyễn là người đảm trách hàng loạt chức vụ quan trọng: Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên Ban Tuyên huấn, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, Giám đốc Sở thông tin Nam bộ, Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến, chủ bút báo Cứu Quốc Nam Bộ (có thể kể một loại nguyên chức vụ như, nguyên bí thư tỉnh ủy Bến Tre; nguyên bí thư liên tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công; nguyên chủ bút báo Búa Liềm; nguyên ủy viên Ban Biên tập báo La Lutte…) Truyện ngắn “Kén Rể” của Ngũ Yến được đông đảo cán bộ, bộ đội chuyền tay nhau đọc. “Kén Rể” được viết theo lối kể chuyện đời xưa, về một anh nông dân nghèo, cần cù chịu khó rất thông minh cải tạo đất, chọn giống má, cân nhắc mùa vụ, chăm bón đúng cách… Nhờ đó đã mau chóng thoát nghèo, giúp đỡ người kém may mắn, được xóm làng trọng vọng và cuối cùng anh ta giàu có và được sánh duyên với một cô gái tài sắc vẹn toàn con gái một vị quan thanh liêm hồi hưu. Ai cũng đinh ninh “Kén Rể” sẽ được xướng danh vào giải nhứt văn xuôi. Chánh giám khảo Hà Huy Giáp (trưởng ban tuyên huấn Trung ương Cục) biết rõ điều ấy, nhưng ông cho rằng việc bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp còn quan trọng hơn là giữ uy tín của một cá nhân, cho dù đó là một nhà lãnh đạo có tên tuổi. Trước khi mở đầu bài nhận xét tác phẩm, ông có lời xin lỗi đối với người đồng chí đáng kính. Ông cho rằng câu chuyện “Kén Rể” được thể hiện với nghệ thuật bậc thầy, tuy nhiên tư tưởng của tác phẩm là sự thất bại của giai cấp nông dân khi chưa được sự lãnh đạo của Đảng vô sản; do đó từ thân phận tôi đòi, anh ta cố gắng ngoi lên, để cuối cùng gia nhập vào giai cấp bóc lột mà cứ tưởng rằng đó là sự thành đạt tột cùng! Không phải riêng tôi mà cả hội trường đều tỏ ra vô cùng bái phục sự “phân tích sâu sắc” của ông Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục, chánh giám khảo. Hóa ra lập trường giai cấp là một lãnh vực phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, chỉ sơ sểnh là bị trượt chân dù một người đã tự nguyện “đầu hàng giai cấp vô sản”, đã vào tù đế quốc như đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, ủy viên Thường vụ Trung ương Cục! Giải nhất về văn được trao cho: “Bên rừng Cù lao Dung” của Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam). Giải nhì về văn được trao cho: “Tây đầu đỏ” cũng của Phạm Anh Tài và “Cái lu” của Trần Kim Trắc. Về thơ không có giải nhất, giải nhì được trao cho tập truyện thơ lục bát “Chú Hai Neo” của Nguyễn Hải Trừng. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội văn nghệ Việt Nam đã trao giải khuyến khích cho tác phẩm này). Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đại diện ban giám khảo xướng tên bài nhạc “Đóng thuế nuôi quân” của Tống Văn Công đoạt giải nhì. Bạn ca nhạc trình bày bản nhạc và cũng được cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Giờ đây, nhớ lại bài hát tôi cảm thấy ngượng vì nhạc thì đơn điệu, lời thì thô thiển. …”Quạt cho sạch, rồi ta phơi lúa khô. Phơi lúa khô, Dành nuôi quân của mình. Quân ta đem màu hồng diệt thù giữ nước non. Ta căm ghét Tây càng yêu thương lính mình. Quần có ấm no vì dân xong lên diệt thù!” Sau khi công bố giải nhì mọi người hồi hộp chờ nghe giải nhất. Bài hát có tên là “Thành đô khổ lắm ai ơi”. Bao nhiêu năm đã qua tôi vẫn còn nhớ lời của bài hát nhưng không sao nhớ được tên tác giả! Trước khi viết đoạn này tôi hỏi người bạn có mặt hôm đó là anh Lê Văn Chánh (Hải Phong) hiện là Phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, anh cũng nhớ tên và thuộc lời bài hát, nhưng không nhớ tên tác giả. Hồi công bố giải thưởng, khi nghe trình bày bản nhạc đoạt giải nhất “Thành đô khổ lắm ai ơi”, ông chủ tịch Chi hội Văn nghệ Nam bộ Lưu Quý Kỳ gục gặc đầu, nhấp nháy mắt, giần giật môi theo từng câu hát: “… Thành đô khổ lắm, ai ơi! Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than. Tây muốn bắt, Tây tràn tới bắt. Lính muốn giam, lính dắt đem giam. Người ta mà như loài thú cầm! Mắt đui, tai điếc, miệng câm, chân què!…” Posted on Tháng Ba 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-17-toi-duoc-giai-ong-xu-uy-bi-mat-lap-truong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16) Hồi ký Tống Văn Công Bài hát tiểu đoàn 307 – Bị phê bình lai Tây! Từ năm 1950, Chi hội Văn nghệ Nam bộ bắt đầu xét tặng Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long. Ban giám khảo gồm: Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương, Ca Văn Thỉnh, Lưu Quý Kỳ. Từng bộ môn bình xét xong trình lên ban giám khảo quyết định. Giải thưởng Cửu Long đợt đầu tiên 1950 – 1951 được xét tặng: Văn: giải nhất, truyện ngắn “Con đường sống” và tập luyện “Anh Tư dân quân” của Minh Lộc, khu 8 (Trung Nam Bộ). Không có giải nhì. Giải ba: tập truyện ngắn “Lòng dân” của Phạm Hữu Tùng. Giải khuyến khích: tập truyện của Phạm Anh Tài (sau 1954 là Sơn Nam). Thơ: không có giải nhứt. Giải nhì: “Bức thơ tình” của Ba Dân (bộ đội khu 9). Giải ba: “Chiến dịch mùa xuân” của Nguyễn Bính, “Tập thơ” của Việt Ánh, “Tập thơ” của Truy Phong (bộ đội khu 8), tập “Hương đồng nội” của Nguyễn Ngọc Tấn (sau này đổi bút danh là Nguyễn Thi); Giải khuyến khích: “Hò lờ thi đua” của Nguyễn Quốc Nhân, “Thơ và ca dao” của Bảo Định Giang, thơ của Phương Viễn (sau 1954 là Viễn Phương). Kịch: không có giải nhứt. Giải nhì: “Vì Dân” của Lê Minh (bộ đội khu 8), “Quyết rửa thù” của Phạm Công Minh. Giải khuyến khích: “Giờ tôi mới hiểu” của Duy Phương (Gia Định). Giải cho tác giả: nhà thơ Việt Ánh lâm bệnh hiểm nghèo vẫn sáng tác; họa sĩ Huỳnh văn Gấm có công “hướng dẫn nền hội hoa đại chúng”; Xích Liên (tức nhà sư Thiện Chiếu) tuổi già vẫn mãi mê dịch sách Liên Xô, Trung Quốc cho bộ đội đọc; họa sĩ Nguyễn Cao Thương có công đào tạo hơn 300 “cán bộ hội họa” vẽ tranh cổ động; nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bạch trưởng đoàn kịch lưu động. Giải thưởng văn xuôi tiểu thuyết “Vỡ Đất” của Hoàng văn Bổn (khu 7). Thơ: giải nhất, truyện thơ thể lục bát “Anh Ba Thắng” của Việt Ánh. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam trao giải khuyến khích cho tập thơ này). Việc bình chọn trao giải ở bộ môn âm nhạc không suôn sẻ. Tiểu ban sơ khảo gồm các nhạc sĩ (trưởng thành sau tháng Tám 1945) chia thành hai phe tranh cãi rất quyết liệt về bài “Tiểu đoàn 307” nhạc của Nguyễn Hữu Trí, lời Nguyễn Bính. Một bên cho là bản hùng ca tuyệt tác. Một bên phê phán “một bài lai Tây tiêu biểu” vì “không đạt ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng theo đường lối văn nghệ của Đảng ta”! Bài hát này ra đời là do ông Trần Văn Trà, Tư lệnh khu 8 phát động sáng tác bài hát ca ngợi Tiểu đoàn 307 mới thành lập giữa năm 1948 đã liên tục chiến thắng nhiều trận vang dội. Nguyễn Hữu Trí đại đội phó của tiểu đoàn này và là phó ban quân nhạc Khu 8, phổ nhạc bài thơ “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Bính đăng trên báo Tổ Quốc của khu 8. (Trước đó Nguyễn Hữu Trí đã có bài Phá Đường khá nổi tiếng). Lúc này Tiểu đoàn 307 đang đóng quân ở bờ sông Nhị Mỹ, Cao Lãnh. Anh em chiến sĩ hát vang bài “cây nhà lá vườn”, không ngờ chỉ vài hôm sau bài hát đã lan nhanh khắp các vùng kháng chiến Nam bộ. Ngày 1 tháng 10 năm 1950, Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến phát sóng bài này do Tổ quân nhạc Khu 8 biểu diễn dưới sự chỉ huy của Phó ban Quân nhạc Nguyễn Hữu Trí. Vậy mà bài hát bị quy là “sai lầm nghiêm trọng về quan điểm sáng tác”! Không biết có phải vì sự kiện không vui này mà Nguyễn Hữu Trí bỏ quân đội lui về ở ẩn nơi quê vợ (Vĩnh Mỹ A, Hậu Giang), không bao giờ nhắc tới chuyện mình từng đi kháng chiến và là tác giả các bài “Tiểu đoàn 307”, “Phá đường”… Viết nhật ký, ông cũng viết bằng tiếng Pháp. Mãi sau khi ông qua đời 18 năm, các đồng đội thời kháng Pháp mới tìm thấy mộ ông để thắp nén nhang! Cũng thời gian ấy Nguyễn Bính bỏ ngũ ra mở quán bán sách báo bên bờ kinh Huyện Sĩ. Các nhạc sĩ làm việc sơ khảo đã ghi biên bản đầy đủ ý kiến tranh luận về bài “Tiểu đoàn 307” của hai phe: “Bản hùng ca tuyệt tác” và “bản nhạc lai Tây tiêu biểu” trình lên ban giám khảo. Ban giám khảo không có ý kiến phân xử cụ thể, nhưng không chấp nhận trao giải cho bài “Tiểu đoàn 307” mà quyết định trao giải nhất cho bài ca “Tự Túc” của Dương Ninh Minh phổ thơ Lưu Trùng Dương. Bài “Tự Túc” gồm 5 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu thơ và 2 câu điệp khúc. Xin chỉ chép lại khổ thơ bốn câu cuối cùng: “… Núi sông đang ngóng chờ, kìa ai chớ ngồi yên; Quyết thi đua cấy cày, sản xuất cho nhiều lên; Toàn dân ta góp tình, góp công xây dựng đời; Ngày mai trên nước Nam một bầu trời sáng tươi.” Hai câu điệp khúc: “…Anh em ơi, chúng ta góp muônn bàn tay. Gắng sức làm, sướng vui rồi đây có ngày.” Posted on Tháng Ba 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-16-bai-hat-tieu-doan-307-bi-phe-binh-lai-tay/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15) Hồi ký Tống Văn Công Bỏ tù nhạc tài tử! Do có nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân miền Nam, tôi được coi là một “cây bút” và được mời tham dự sinh hoạt Chi hội Văn nghệ Nam bộ, do đó có điều kiện tìm hiểu các hoạt động ở lĩnh vực này. Sau tháng Tám 1945, ca nhạc tài tử bị cấm trong toàn Nam bộ với lý do “ủy mị có tác dụng xấu, làm sa sút, lung lạc tinh thần kháng chiến”. Hồi Pháp thuộc, tôi đã được học và rất thích tân nhạc, do đó tôi không quan tâm đến ca nhạc tài tử, dù nó bị giết chết tôi cũng không tiếc nuối. Năm 1950, khi đến các vùng nông thôn ở Cà Mau, Bạc Liêu, tôi mới biết làng nào cũng có người bị tù vì lén lút chơi ca nhạc tài tử. Cuối cùng các ông thầy đờn đành phải treo nhạc cụ lên giàn bếp. Hình thức sinh hoạt văn nghệ giải trí chủ yếu của nông dân bị cấm đã làm cho nông thôn Nam bộ buồn hiu. Để lấp khoảng trống đó các nhạc sĩ tài tử đã sáng tạo hình thức “nói thơ Bạc Liêu” theo thể lục bát, nghe cũng “mùi mẫn”, nhưng né được sự quy chụp về quan điểm lập trường! Đề tài “nói thơ” bám vào nội dung phục vụ kháng chiến, như ca ngợi những cô vợ bộ đội thương nhớ chồng càng chăm lo tăng gia sản xuất. Thơ tự do, thơ mới cũng bị phê bình là “thiếu tính dân tộc”. Ở Nam bộ đi theo kháng chiến chỉ có hai văn nghệ sĩ có tên tuổi từ trước năm 1945 là nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Lê Trực (tác giả Tiếng Còi Trong Sương Đêm. Sau khi tham gia kháng chiến, ông lấy nghệ danh là Hoàng Việt). Hai người này chỉ là nghệ sĩ sáng tác chứ không có địa vị lãnh đạo. Nguyễn Bính là bậc thầy thể thơ lục bát và thơ bảy chữ, vào kháng chiến, ông làm nhiều bản trường ca theo thể thơ tự do rất hay, như “Đồng Tháp Mười” (ca ngợi truyền thống yêu nước của nhân dân vùng đất này), “Máu chảy trên đường phố” (Ca ngợi cuộc xuống đường của sinh viên học sinh Sài Gòn Chợ Lớn ngày 19 tháng 1 năm 1950), nhưng cả hai tác phẩm này không được giới lãnh đạo văn nghệ hoan nghênh. Số đông văn nghệ sĩ kháng chiến và người có cương vị lãnh đạo đều xuất thân từ cán bộ, bộ đội, vào kháng chíiến mới tập sự làm văn nghệ. Bộ môn viết nhạc có Nguyễn Ngọc Bạch (cha của tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu), Lưu Cầu, Quách Vũ, Trương Bỉnh Tòng, Trần Kiết Tường. Sau khi tập kết ra Bắc, Hoàng Hiệp mới xuất hiện với “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Ca sỹ thời này có Quốc Hương, Khánh Vân, Xuân Mai. Các nhà thơ có Việt Ánh, Nguyễn Hải Trừng, Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Phường Viễn (tức Viễn Phương), Hà Mậu Nhai. Một người làm thơ hay nhứt Nam Bộ thời đó là Hoàng Tố Nguyên không được nhắc tới, có lẽ vì ông làm thơ tự do và thiếu sự rổn rảng của tiếng gươm khua! Đội ngũ viết văn có Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Phạm Hữu Tùng, Phạm Anh Tài (sau 1954 lấy bút danh Sơn Nam). Ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng mới xuất hiện. Viết kịch có Ngọc Cung, Trần Bạch Đằng, Lưu Chi Lăng. Để đội ngũ văn nghệ sĩ tập sự này trở thành công cụ đắc lực của cách mạng, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đã mở lớp lý luận văn nghệ. Địa điểm lớp học tại lẫm lúa cũ của ông Cả Đài ở Đầm Cùng gần cuối mũi Cà Mau. Giảng viên là các ông Hà Huy Giáp ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Nguyễn Kim Cương phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục; Lưu Quý Kỳ chi hội trưởng Văn nghệ Nam bộ. Các bài giảng nhằm làm rõ tư tưởng Cụ Hồ trong lá thư gửi các họa sĩ năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là tiến sĩ trên mặt trận ấy.” “… Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.” Cụ Hồ rất giỏi trong việc chọn nội dung và cách diễn đạt dễ được chấp nhận trong kho lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Stalin đã nêu ra cho văn nghệ sĩ Liên Xô thực hiện từ năm 1934: – Tính Đảng và nguyên tắc chỉ đạo – Nhân vật tích cực là những “con người mới”, những chiến sĩ đấu tranh, sáng tạo thế giới mới xã hội chủ nghĩa – Sự kết hợp phương pháp hiện thực với phương pháp lãng mạn cách mạng, từ cảm hứng anh hùng trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm ấy, ở Việt Bắc các văn nghệ sĩ thời “tiền chiến” đang phản tỉnh xin từ bỏ những đứa “con hoang” của mình. Năm 1942 Hoài Thanh viết về thơ mới: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực”. Sau khi được trang bị quan điểm mác xít, Hoài Thanh tự phê bình: “Nhìn chung thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc. Đó là chưa nói đến phần hiển nhiên là sa đọa”. Phải mất hơn nửa thế kỷ, những văn nghệ sĩ ưu tú nhất của Đảng như Nguyễn Khải mới suy ngẫm lại: “Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh… Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập, thành giấy lộn cho con cháu bán cân”. (Tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông dặn con mình, chỉ công bố sau khi bố qua đời, năm 2006). Đó là những chuyện mãi sau này, còn ở thời điểm 1950 – 1954, tôi cũng nghe theo Cụ Hồ, và vô cùng hăng hái phấn đấu, mong được trở thành “chiến sĩ trên mặt trận ấy”! Ở lớp học này, trong buổi thảo luận bài nói của Cụ Hồ, bất chợt anh Phạm Hữu Tùng phát biểu lạc đề: “Tại sao lại cấm ca nhạc tài tử? Bao nhiêu nhạc cụ bị treo, thôn xóm buồn hiu, dân chúng bất bình?” Lớp học đàn tẻ lạnh bóng sôi lên, chia ra hai phe, tán thành cấm vào phản đối cấm nhạc tài tử, mất hai ngày vẫn bất phân thắng bại. Phe phản đối thay chiến thuật, không tranh cãi mà thức suốt đêm sáng tác lời mới cho nhạc tài tử như đóng thuế nuôi quân, đánh du kích. Soạn giả Ngọc Cung viết vở cải lương “Nợ nước tình nhà”. Sau đó tổ chức biểu diễn, mời cả lãnh đạo và giảng viên xem. Qua đêm diễn “bình cũ rượu mới”, số người yêu cầu xóa bỏ chủ trương cấm nhạc tài tử tăng áp đảo. Cuối năm 1951, luật sư Phạm Văn Bạch, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ ký văn bản “cho phép đồng bào mình được chơi vọng cổ, hát cải lương”! Posted on Tháng Ba 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-15-bo-tu-nhac-tai-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17) Hồi ký Tống Văn Công Tôi được giải, ông xứ ủy bị “mất lập trường”! Đầu năm 1951, ông nội tôi từ Bến Tre vào thăm và cho tôi khoản tiền bán con heo một tạ. Tôi đem số tiền này mua cây đàn violon, rồi say mê học đàn, học nhạc lý. Từ năm 1952, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ có quyết định thuế nông nghiệp. Nông dân đóng thuế bằng lúa tỷ lệ theo số ruộng canh tác. Tôi sáng tác một bài hát vận động cho phong trào này: “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi được mời tham dự buổi trao Giải Văn nghệ Cửu long. Tôi đi dự, không hề nghĩ mình được giải nhì! Văn xuôi dự giải lần này có một cây bút cực kỳ quan trọng, mọi người nói nhỏ với nhau đó là một “ông gộc”: nhà văn Ngũ Yến (tách đôi chữ Nguyễn là tên và là họ của ông Nguyễn Văn Nguyễn) với tác phẩm “Kén Rể” đã đăng trên tạp chí Lá Lúa của Chi hội Văn nghệ Nam bộ. Trong chiến khu ai cũng biết ông Nguyễn Văn Nguyễn là người đảm trách hàng loạt chức vụ quan trọng: Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên Ban Tuyên huấn, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, Giám đốc Sở thông tin Nam bộ, Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến, chủ bút báo Cứu Quốc Nam Bộ (có thể kể một loại nguyên chức vụ như, nguyên bí thư tỉnh ủy Bến Tre; nguyên bí thư liên tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công; nguyên chủ bút báo Búa Liềm; nguyên ủy viên Ban Biên tập báo La Lutte…) Truyện ngắn “Kén Rể” của Ngũ Yến được đông đảo cán bộ, bộ đội chuyền tay nhau đọc. “Kén Rể” được viết theo lối kể chuyện đời xưa, về một anh nông dân nghèo, cần cù chịu khó rất thông minh cải tạo đất, chọn giống má, cân nhắc mùa vụ, chăm bón đúng cách… Nhờ đó đã mau chóng thoát nghèo, giúp đỡ người kém may mắn, được xóm làng trọng vọng và cuối cùng anh ta giàu có và được sánh duyên với một cô gái tài sắc vẹn toàn con gái một vị quan thanh liêm hồi hưu. Ai cũng đinh ninh “Kén Rể” sẽ được xướng danh vào giải nhứt văn xuôi. Chánh giám khảo Hà Huy Giáp (trưởng ban tuyên huấn Trung ương Cục) biết rõ điều ấy, nhưng ông cho rằng việc bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp còn quan trọng hơn là giữ uy tín của một cá nhân, cho dù đó là một nhà lãnh đạo có tên tuổi. Trước khi mở đầu bài nhận xét tác phẩm, ông có lời xin lỗi đối với người đồng chí đáng kính. Ông cho rằng câu chuyện “Kén Rể” được thể hiện với nghệ thuật bậc thầy, tuy nhiên tư tưởng của tác phẩm là sự thất bại của giai cấp nông dân khi chưa được sự lãnh đạo của Đảng vô sản; do đó từ thân phận tôi đòi, anh ta cố gắng ngoi lên, để cuối cùng gia nhập vào giai cấp bóc lột mà cứ tưởng rằng đó là sự thành đạt tột cùng! Không phải riêng tôi mà cả hội trường đều tỏ ra vô cùng bái phục sự “phân tích sâu sắc” của ông Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục, chánh giám khảo. Hóa ra lập trường giai cấp là một lãnh vực phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, chỉ sơ sểnh là bị trượt chân dù một người đã tự nguyện “đầu hàng giai cấp vô sản”, đã vào tù đế quốc như đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, ủy viên Thường vụ Trung ương Cục! Giải nhất về văn được trao cho: “Bên rừng Cù lao Dung” của Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam). Giải nhì về văn được trao cho: “Tây đầu đỏ” cũng của Phạm Anh Tài và “Cái lu” của Trần Kim Trắc. Về thơ không có giải nhất, giải nhì được trao cho tập truyện thơ lục bát “Chú Hai Neo” của Nguyễn Hải Trừng. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội văn nghệ Việt Nam đã trao giải khuyến khích cho tác phẩm này). Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đại diện ban giám khảo xướng tên bài nhạc “Đóng thuế nuôi quân” của Tống Văn Công đoạt giải nhì. Bạn ca nhạc trình bày bản nhạc và cũng được cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Giờ đây, nhớ lại bài hát tôi cảm thấy ngượng vì nhạc thì đơn điệu, lời thì thô thiển. …”Quạt cho sạch, rồi ta phơi lúa khô. Phơi lúa khô, Dành nuôi quân của mình. Quân ta đem màu hồng diệt thù giữ nước non. Ta căm ghét Tây càng yêu thương lính mình. Quần có ấm no vì dân xong lên diệt thù!” Sau khi công bố giải nhì mọi người hồi hộp chờ nghe giải nhất. Bài hát có tên là “Thành đô khổ lắm ai ơi”. Bao nhiêu năm đã qua tôi vẫn còn nhớ lời của bài hát nhưng không sao nhớ được tên tác giả! Trước khi viết đoạn này tôi hỏi người bạn có mặt hôm đó là anh Lê Văn Chánh (Hải Phong) hiện là Phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, anh cũng nhớ tên và thuộc lời bài hát, nhưng không nhớ tên tác giả. Hồi công bố giải thưởng, khi nghe trình bày bản nhạc đoạt giải nhất “Thành đô khổ lắm ai ơi”, ông chủ tịch Chi hội Văn nghệ Nam bộ Lưu Quý Kỳ gục gặc đầu, nhấp nháy mắt, giần giật môi theo từng câu hát: “… Thành đô khổ lắm, ai ơi! Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than. Tây muốn bắt, Tây tràn tới bắt. Lính muốn giam, lính dắt đem giam. Người ta mà như loài thú cầm! Mắt đui, tai điếc, miệng câm, chân què!…” Posted on Tháng Ba 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-17-toi-duoc-giai-ong-xu-uy-bi-mat-lap-truong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16) Hồi ký Tống Văn Công Bài hát tiểu đoàn 307 – Bị phê bình lai Tây! Từ năm 1950, Chi hội Văn nghệ Nam bộ bắt đầu xét tặng Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long. Ban giám khảo gồm: Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương, Ca Văn Thỉnh, Lưu Quý Kỳ. Từng bộ môn bình xét xong trình lên ban giám khảo quyết định. Giải thưởng Cửu Long đợt đầu tiên 1950 – 1951 được xét tặng: Văn: giải nhất, truyện ngắn “Con đường sống” và tập luyện “Anh Tư dân quân” của Minh Lộc, khu 8 (Trung Nam Bộ). Không có giải nhì. Giải ba: tập truyện ngắn “Lòng dân” của Phạm Hữu Tùng. Giải khuyến khích: tập truyện của Phạm Anh Tài (sau 1954 là Sơn Nam). Thơ: không có giải nhứt. Giải nhì: “Bức thơ tình” của Ba Dân (bộ đội khu 9). Giải ba: “Chiến dịch mùa xuân” của Nguyễn Bính, “Tập thơ” của Việt Ánh, “Tập thơ” của Truy Phong (bộ đội khu 8), tập “Hương đồng nội” của Nguyễn Ngọc Tấn (sau này đổi bút danh là Nguyễn Thi); Giải khuyến khích: “Hò lờ thi đua” của Nguyễn Quốc Nhân, “Thơ và ca dao” của Bảo Định Giang, thơ của Phương Viễn (sau 1954 là Viễn Phương). Kịch: không có giải nhứt. Giải nhì: “Vì Dân” của Lê Minh (bộ đội khu 8), “Quyết rửa thù” của Phạm Công Minh. Giải khuyến khích: “Giờ tôi mới hiểu” của Duy Phương (Gia Định). Giải cho tác giả: nhà thơ Việt Ánh lâm bệnh hiểm nghèo vẫn sáng tác; họa sĩ Huỳnh văn Gấm có công “hướng dẫn nền hội hoa đại chúng”; Xích Liên (tức nhà sư Thiện Chiếu) tuổi già vẫn mãi mê dịch sách Liên Xô, Trung Quốc cho bộ đội đọc; họa sĩ Nguyễn Cao Thương có công đào tạo hơn 300 “cán bộ hội họa” vẽ tranh cổ động; nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bạch trưởng đoàn kịch lưu động. Giải thưởng văn xuôi tiểu thuyết “Vỡ Đất” của Hoàng văn Bổn (khu 7). Thơ: giải nhất, truyện thơ thể lục bát “Anh Ba Thắng” của Việt Ánh. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam trao giải khuyến khích cho tập thơ này). Việc bình chọn trao giải ở bộ môn âm nhạc không suôn sẻ. Tiểu ban sơ khảo gồm các nhạc sĩ (trưởng thành sau tháng Tám 1945) chia thành hai phe tranh cãi rất quyết liệt về bài “Tiểu đoàn 307” nhạc của Nguyễn Hữu Trí, lời Nguyễn Bính. Một bên cho là bản hùng ca tuyệt tác. Một bên phê phán “một bài lai Tây tiêu biểu” vì “không đạt ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng theo đường lối văn nghệ của Đảng ta”! Bài hát này ra đời là do ông Trần Văn Trà, Tư lệnh khu 8 phát động sáng tác bài hát ca ngợi Tiểu đoàn 307 mới thành lập giữa năm 1948 đã liên tục chiến thắng nhiều trận vang dội. Nguyễn Hữu Trí đại đội phó của tiểu đoàn này và là phó ban quân nhạc Khu 8, phổ nhạc bài thơ “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Bính đăng trên báo Tổ Quốc của khu 8. (Trước đó Nguyễn Hữu Trí đã có bài Phá Đường khá nổi tiếng). Lúc này Tiểu đoàn 307 đang đóng quân ở bờ sông Nhị Mỹ, Cao Lãnh. Anh em chiến sĩ hát vang bài “cây nhà lá vườn”, không ngờ chỉ vài hôm sau bài hát đã lan nhanh khắp các vùng kháng chiến Nam bộ. Ngày 1 tháng 10 năm 1950, Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến phát sóng bài này do Tổ quân nhạc Khu 8 biểu diễn dưới sự chỉ huy của Phó ban Quân nhạc Nguyễn Hữu Trí. Vậy mà bài hát bị quy là “sai lầm nghiêm trọng về quan điểm sáng tác”! Không biết có phải vì sự kiện không vui này mà Nguyễn Hữu Trí bỏ quân đội lui về ở ẩn nơi quê vợ (Vĩnh Mỹ A, Hậu Giang), không bao giờ nhắc tới chuyện mình từng đi kháng chiến và là tác giả các bài “Tiểu đoàn 307”, “Phá đường”… Viết nhật ký, ông cũng viết bằng tiếng Pháp. Mãi sau khi ông qua đời 18 năm, các đồng đội thời kháng Pháp mới tìm thấy mộ ông để thắp nén nhang! Cũng thời gian ấy Nguyễn Bính bỏ ngũ ra mở quán bán sách báo bên bờ kinh Huyện Sĩ. Các nhạc sĩ làm việc sơ khảo đã ghi biên bản đầy đủ ý kiến tranh luận về bài “Tiểu đoàn 307” của hai phe: “Bản hùng ca tuyệt tác” và “bản nhạc lai Tây tiêu biểu” trình lên ban giám khảo. Ban giám khảo không có ý kiến phân xử cụ thể, nhưng không chấp nhận trao giải cho bài “Tiểu đoàn 307” mà quyết định trao giải nhất cho bài ca “Tự Túc” của Dương Ninh Minh phổ thơ Lưu Trùng Dương. Bài “Tự Túc” gồm 5 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu thơ và 2 câu điệp khúc. Xin chỉ chép lại khổ thơ bốn câu cuối cùng: “… Núi sông đang ngóng chờ, kìa ai chớ ngồi yên; Quyết thi đua cấy cày, sản xuất cho nhiều lên; Toàn dân ta góp tình, góp công xây dựng đời; Ngày mai trên nước Nam một bầu trời sáng tươi.” Hai câu điệp khúc: “…Anh em ơi, chúng ta góp muônn bàn tay. Gắng sức làm, sướng vui rồi đây có ngày.” Posted on Tháng Ba 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-16-bai-hat-tieu-doan-307-bi-phe-binh-lai-tay/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15) Hồi ký Tống Văn Công Bỏ tù nhạc tài tử! Do có nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân miền Nam, tôi được coi là một “cây bút” và được mời tham dự sinh hoạt Chi hội Văn nghệ Nam bộ, do đó có điều kiện tìm hiểu các hoạt động ở lĩnh vực này. Sau tháng Tám 1945, ca nhạc tài tử bị cấm trong toàn Nam bộ với lý do “ủy mị có tác dụng xấu, làm sa sút, lung lạc tinh thần kháng chiến”. Hồi Pháp thuộc, tôi đã được học và rất thích tân nhạc, do đó tôi không quan tâm đến ca nhạc tài tử, dù nó bị giết chết tôi cũng không tiếc nuối. Năm 1950, khi đến các vùng nông thôn ở Cà Mau, Bạc Liêu, tôi mới biết làng nào cũng có người bị tù vì lén lút chơi ca nhạc tài tử. Cuối cùng các ông thầy đờn đành phải treo nhạc cụ lên giàn bếp. Hình thức sinh hoạt văn nghệ giải trí chủ yếu của nông dân bị cấm đã làm cho nông thôn Nam bộ buồn hiu. Để lấp khoảng trống đó các nhạc sĩ tài tử đã sáng tạo hình thức “nói thơ Bạc Liêu” theo thể lục bát, nghe cũng “mùi mẫn”, nhưng né được sự quy chụp về quan điểm lập trường! Đề tài “nói thơ” bám vào nội dung phục vụ kháng chiến, như ca ngợi những cô vợ bộ đội thương nhớ chồng càng chăm lo tăng gia sản xuất. Thơ tự do, thơ mới cũng bị phê bình là “thiếu tính dân tộc”. Ở Nam bộ đi theo kháng chiến chỉ có hai văn nghệ sĩ có tên tuổi từ trước năm 1945 là nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Lê Trực (tác giả Tiếng Còi Trong Sương Đêm. Sau khi tham gia kháng chiến, ông lấy nghệ danh là Hoàng Việt). Hai người này chỉ là nghệ sĩ sáng tác chứ không có địa vị lãnh đạo. Nguyễn Bính là bậc thầy thể thơ lục bát và thơ bảy chữ, vào kháng chiến, ông làm nhiều bản trường ca theo thể thơ tự do rất hay, như “Đồng Tháp Mười” (ca ngợi truyền thống yêu nước của nhân dân vùng đất này), “Máu chảy trên đường phố” (Ca ngợi cuộc xuống đường của sinh viên học sinh Sài Gòn Chợ Lớn ngày 19 tháng 1 năm 1950), nhưng cả hai tác phẩm này không được giới lãnh đạo văn nghệ hoan nghênh. Số đông văn nghệ sĩ kháng chiến và người có cương vị lãnh đạo đều xuất thân từ cán bộ, bộ đội, vào kháng chíiến mới tập sự làm văn nghệ. Bộ môn viết nhạc có Nguyễn Ngọc Bạch (cha của tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu), Lưu Cầu, Quách Vũ, Trương Bỉnh Tòng, Trần Kiết Tường. Sau khi tập kết ra Bắc, Hoàng Hiệp mới xuất hiện với “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Ca sỹ thời này có Quốc Hương, Khánh Vân, Xuân Mai. Các nhà thơ có Việt Ánh, Nguyễn Hải Trừng, Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Phường Viễn (tức Viễn Phương), Hà Mậu Nhai. Một người làm thơ hay nhứt Nam Bộ thời đó là Hoàng Tố Nguyên không được nhắc tới, có lẽ vì ông làm thơ tự do và thiếu sự rổn rảng của tiếng gươm khua! Đội ngũ viết văn có Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Phạm Hữu Tùng, Phạm Anh Tài (sau 1954 lấy bút danh Sơn Nam). Ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng mới xuất hiện. Viết kịch có Ngọc Cung, Trần Bạch Đằng, Lưu Chi Lăng. Để đội ngũ văn nghệ sĩ tập sự này trở thành công cụ đắc lực của cách mạng, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đã mở lớp lý luận văn nghệ. Địa điểm lớp học tại lẫm lúa cũ của ông Cả Đài ở Đầm Cùng gần cuối mũi Cà Mau. Giảng viên là các ông Hà Huy Giáp ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Nguyễn Kim Cương phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục; Lưu Quý Kỳ chi hội trưởng Văn nghệ Nam bộ. Các bài giảng nhằm làm rõ tư tưởng Cụ Hồ trong lá thư gửi các họa sĩ năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là tiến sĩ trên mặt trận ấy.” “… Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.” Cụ Hồ rất giỏi trong việc chọn nội dung và cách diễn đạt dễ được chấp nhận trong kho lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Stalin đã nêu ra cho văn nghệ sĩ Liên Xô thực hiện từ năm 1934: – Tính Đảng và nguyên tắc chỉ đạo – Nhân vật tích cực là những “con người mới”, những chiến sĩ đấu tranh, sáng tạo thế giới mới xã hội chủ nghĩa – Sự kết hợp phương pháp hiện thực với phương pháp lãng mạn cách mạng, từ cảm hứng anh hùng trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm ấy, ở Việt Bắc các văn nghệ sĩ thời “tiền chiến” đang phản tỉnh xin từ bỏ những đứa “con hoang” của mình. Năm 1942 Hoài Thanh viết về thơ mới: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực”. Sau khi được trang bị quan điểm mác xít, Hoài Thanh tự phê bình: “Nhìn chung thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc. Đó là chưa nói đến phần hiển nhiên là sa đọa”. Phải mất hơn nửa thế kỷ, những văn nghệ sĩ ưu tú nhất của Đảng như Nguyễn Khải mới suy ngẫm lại: “Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh… Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập, thành giấy lộn cho con cháu bán cân”. (Tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông dặn con mình, chỉ công bố sau khi bố qua đời, năm 2006). Đó là những chuyện mãi sau này, còn ở thời điểm 1950 – 1954, tôi cũng nghe theo Cụ Hồ, và vô cùng hăng hái phấn đấu, mong được trở thành “chiến sĩ trên mặt trận ấy”! Ở lớp học này, trong buổi thảo luận bài nói của Cụ Hồ, bất chợt anh Phạm Hữu Tùng phát biểu lạc đề: “Tại sao lại cấm ca nhạc tài tử? Bao nhiêu nhạc cụ bị treo, thôn xóm buồn hiu, dân chúng bất bình?” Lớp học đàn tẻ lạnh bóng sôi lên, chia ra hai phe, tán thành cấm vào phản đối cấm nhạc tài tử, mất hai ngày vẫn bất phân thắng bại. Phe phản đối thay chiến thuật, không tranh cãi mà thức suốt đêm sáng tác lời mới cho nhạc tài tử như đóng thuế nuôi quân, đánh du kích. Soạn giả Ngọc Cung viết vở cải lương “Nợ nước tình nhà”. Sau đó tổ chức biểu diễn, mời cả lãnh đạo và giảng viên xem. Qua đêm diễn “bình cũ rượu mới”, số người yêu cầu xóa bỏ chủ trương cấm nhạc tài tử tăng áp đảo. Cuối năm 1951, luật sư Phạm Văn Bạch, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ ký văn bản “cho phép đồng bào mình được chơi vọng cổ, hát cải lương”! Posted on Tháng Ba 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-15-bo-tu-nhac-tai-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·