Chính trị và cuộc sống nên hay không nên ?? -Chắc hẳn mỗi người Việt chúng ta dù là trong nước hay hải ngoại lúc nào đó cũng tự hỏi và băn khoăn mình có nên tham gia chính trị và bàn luận chính trị hay không? -Người dân VN sau năm 45 và 75 , chính phủ bị tiếm quyền và cai trị bởi chủ nghĩa cs, chính vì lý do muốn cai trị độc đoán và độc tài chỉ 1 đảng nên chúng đã dùng nhiều biện pháp đàn áp dã man , bắt bớ trù dập không thương tiếc những cá nhân hay đoàn thể nào dám phá vỡ cái im lặng và bức màn của chủ đề “ chính trị” cấm kị đó. Chưa hết chúng còn rêu rao và dùng bất kì biện pháp nào từ đê tiện tới cầm thú là tuyên truyền những ai bất đồng chính kiến với chúng là phản động là nhận tiền của bọn thù địch để chống phá nhà nước . Ở đây chúng thực sự đánh trái khái niệm rất trơ trẽn , chúng ta cần phân biệt đảng chính trị không là và mãi mãi không thể là nhà nước hay đất nước hay thậm chí là dân tộc. Đảng phái chính trị theo định nghĩa là 1 tập hợp của 1 nhóm người cùng chung 1 mục đích chính trị nào đó. Và khi nói 1 nhóm người nào đó đại diện cho bạn hay cho cả đất nước bạn mà bạn thực sự không có tiếng nói và quyết định trong đó thì thực sự là láo toét.Tưởng tượng xa hơn nữa là Hoa Kỳ (HK) có 2 đảng chính là dân chủ và cộng hoà , có bao giờ bạn thấy người dân HK nói đảng cộng hoà hay dân chủ là nước HK hay chưa? và họ cũng không bao giờ nói là họ là nước HK cả, cái họ hay đề cập là we the people- chúng ta là tất cả mọi người, thể hiện được HK là của tất cả mọi người chứ không ràng buộc vô 1 thể chế đảng phái chính trị nào. -Trở lại bài viết của mình, cũng chính vì sự tuyên truyền láo lếu đó của đảng cũng như đàn áp mà khi nói đến 2 từ “ chính trị” đó là người dân trong nước ( trừ 1 số anh chị em dân chủ đã biết nhận ra quyền tự do của con người) dựng tóc gáy , sợ như sợ ma và tránh không bao giờ dám nói tới. Bản thân 2 từ “ chính trị” đó không phải là 1 cái gì đó quá xa vời , ghê gớm như chúng ta vẫn thường nghĩ đâu! chính trị là cuộc sống đó các bạn! Thực vậy , có bao giờ bạn băn khoăn tự hỏi là hôm nay đi chợ sao vật giá thức ăn tăng cao vậy? giá điện nước xăng sao đồng loạt lại tăng?? tiền học phí con em chúng ta càng ngày càng tăng? đường phố chúng ta đi sao ngập lụt hoài vậy? thức ăn chúng ta ăn sao độc hại vậy??...... và rất rất nhiều câu hỏi tương tự như vậy. Bạn sẽ bất ngờ khi tôi nói rằng bạn đang tham gia chính trị và bàn luận chính trị rồi đấy! Chính trị ở đây không hẳn là chỉ dùng khi nói về 1 ông 1 bà nào nắm chính quyền và lãnh đạo hay lật đổ 1 thể chế nào cả. Chính trị là những băn khoăn những câu hỏi ở trên cho nhữngchi tiêu , những nhu cầu đời sống hàng ngày của các bạn đấy! tại sao mình lại nói như vậy???Lý do rất đơn giản: lấy ví dụ về băn khoăn về tiền học phí của con em chúng ta. Học phí ai thu? ai chịu trách nhiệm? Thu học phí rồi chất lượng ra sao? bạn mất tiền đóng cho con , bạn thực sự có hài lòng về chất lượng của nó hay không??nếu thực sự bạn không hài lòng thì bạn làm được gì? ai sẽ nghe bạn nói và góp ý ?? Cuối cùng kết quả những góp ý đó như thế nào?? Ở Mỹ hay bất kỳ nước dân chủ nào trên thế giới , giáo dục học phí là miễn phí cho tất cả trẻ em cho đến hết cấp 3 , khi bạn ở 1 khu vực dân cư nào đó bạn sẽ thuộc về 1 khu học chính riêng và bạn sẽ là người bầu ra những người lãnh đạo ở từng khu vực ban ở, nhiệm vụ của những người này là giám sát chất lượng, đề ra những quy định chung cho những trường học ở toàn khu vực học chính đó . Nói dễ hiểu là bạn tưởng tượng bạn sẽ là người bầu ra những người trong phòng giáo dục ( nói theo cách dễ hiểu của vn) những người đó ko quan trọng là thuộc đảng phái nào hay là 1 người dân thường cũng được và đương nhiên họ phải giỏi , sau đó những người đó sẽ thay bạn trả lời và thực hiện những góp ý băn khoăn đó của bạn . Nếu bạn thấy họ không thực hiện được như những gì bạn mong đợi , bạn bầu người khác lên thay thế. Nghe đến đây các bạn VN có thích không?? và đó là làm chính trị đó các bạn ! bầu cho người có tài, băn khoăn cho những ưu tư cơ bản của cuộc sống và tìm ra giải pháp giải quyết cho những băn khoăn ưu tư đó hay thậm chí là sự bất cập trong xã hội là chính trị! Khi bạn không có quyền nói ra những bức xúc , và nhà nước không cho bạn quyền đó chính là họ tước đi sự tự do và sự mưu cầu hạnh phúc của bạn. Bởi vậy kết luận sau cùng là chúng ta hãy cùng quan tâm chính trị, nói chuyện chính trị nhé các bạn! chính trị= cuộc sống và cuộc sống=chính trị ps: like remind góp ý chia sẽ và ủng hộ mình nhé các bạn, Cám ơn!

119Upvotes
2Downvotes
24Reminds
thumb_upthumb_downchat_bubble

More from KHAI TRÍ VIỆT

https://nhatbook.com/wp-content/uploads/2018/08/Nhatbook-Hoa-xuyen-tuyet-Thanh-Tin-1991.pdf ******Hoa Xuyen Tuyết******** Bùi tín Mấy bữa nay mình bận quá nên không viết bài được nên đành chia sẽ cuốn hồi ký này của Bác Bùi Tín , mình có chia sẽ link bạn trẻ nào muốn tìm hiểu hãy tải về đọc nhé, mọi thắc mắc hay trở ngại gì , các bạn cứ inbox nhắn tin mình. Hy vọng sẽ được các bạn ủng hộ nhiều trong tương lai nhé! đừng quên chia sẽ bài viết để nhiều người có thể thấy được link của hồi ký . Like subcribe remind kênh mình nha. cám ơn các bạn . Chúc mọi người 1 ngày làm việc vui và chất lượng nha.

5.47k views ·

******HOA XUYÊN TUYẾT ******* (phần tiếp theo) Bùi Tín II - Dấn thân Đến nay đã có hàng trăm lá thư từ các nơi trong nước, từ các nước khác nhau (Thái Lan, Hồng Kông ở Châu á, Canada, Hoa Kỳ từ châu Mỹ, Liên Xô, Pháp, Tiệp Khắc, Anh, Đức từ Châu Ấu, Ai Cập, An giê ri từ Châu Phi), hàng trăm cú điện thọai và hàng trăm bạn bè từng quen hoặc mới làm quen trực tiếp hỏi tôi: Vì sao anh làm việc này, từ Paris, vào lúc này? Tại sao tôi lại viết bản "Kiến nghị của một công dân" vào tháng 11-1990 và công bó nó tại Paris? Từ những suy nghĩ dầu tiên dể trở thành ý định, rồi lớn dần thành chủ định và quyết tâm hành động, là cả một quá trình. Tôi đã từng ra nước ngoài gần 20 lần. Năm 1965, tôi sang Trung Quốc rồi Cộng Hòa Dân Chủ Đức (qua Liên Xô) là lần đầu và lần cuối cùng trước khi sang Pháp gần đây là sang Indonexia năm 1989. Tôi dã dến các nước xã hội chủ nghĩa, đến ấn độ, Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Indonexia, Mãlaixia, Philíppin, Nhật Bản, Singapo ở Châu á, đến Angiêri, Ai-cập, £tiôpia, Dimbabuê ở Châu Phi, đến ác-hen-ti-na, Hoa Kỳ ở Châu Mỹ. Còn Pháp thì chưa một lần! Đây là lần đầu. Đã từ lâu tôi hằng mong một chuyến đi Pháp. Nền văn hoá Pháp đã hấp dẫn tôi từ những năm 13 đến 17 tuổi, khi tôi học trường Khải Định (Quốc học Huế), với hiệu trưởng, hiệu phó và gần một nửa giáo viên người Pháp. Đến nay tôi còn nhớ nét mặt, dáng đi, cử chỉ, giọng nói của từng người... Những ký ức thật khó quên của tuổi thơ ấu. Những bài văn của Alfonse Daudet, của Victor Hugo, Anatole France, những luận điểm chính trị của Voltaire, Montesquieu, của Jean Jacques Rousseau là một phần hành trang tinh thần của tôi khi từ giã gia đình, nhà trường để đi kháng chiến. Hàng năm, báo L'Humanité của Đảng Cộng sản Pháp tổ chức ngày hội báo vào tháng 9. Đầu năm 1990, họ gửi giấy mời đích danh tôi, do sứ quán Việt Nam ở Paris chuyển vè Hà Nội. Từ giữa năm 1975, tôi bắt đầu có những ý kiến riêng và thường phát biểu những chính kiến của mình bằng cách này hay cách khác. Với tư cách phóng viên, hồi đó tôi đã hỏi chuyện tất cả viên tướng, các công chức cao cấp Sài Gòn ở các trại Thủ Đức, Long Thành, Quang Trung... Họ được báo đi tập trung học tập "vài ngày", sau đó là "vài tuần", rồi cứ ở lại hoài...Tôi từng gặp ông thứ trưởng Nội Vụ Viễn Chi để góp ý về việc này, và cũng gặp cả bộ trưởng Nội Vụ Phạm Hùng để nói về trường hợp tướng Nguyễn Hữu Có, mới làm quyền Tổng tham mưu trưởng có hơn 38 giờ. Khi cải tạo "tư sản", xoá bỏ "gian thương" ở miền Nam những năm 1977 và 1978, tôi gặp thứ trưởng Nội vụ Sáu Hoàng (Cao Đăng Chiếm) và để xuất đến việc lãnh đạo quá lỏng lẻo, tiền bạc, vàng, kim cương,...thất thoát hết... Sau khi vào Cămpuchia tháng 1,1979 đến năm 1982 tôi cùng mấy phóng viên báo Quân đội nhân dân Việt Nam và báo Quân đội Cămpuchia đi các chiến trường Bát Tam Boong và Xiêm Riệp về; tôi gặp đại sứ Ngô Điền, vốn là bạn của tôi, cùng thiếu tướng Lê Hai phụ trách công tác chính trị quân Tình nguyện Việt Nam và đưa ra nhận xét: "Tình hình hiện nay là bộ đội ta bị sa lầy; chỉ có cách là rút sớm toàn bộ các đơn vị ta về nước, giao lại cho bạn, và chuyển sớm cho Liên Hợp Quốc cùng Cộng đồng quốc tế giải quyết vấn đề Cămpuchia, nếu không tình hình sẽ còn gay go cho đất nước ta hơn nhiều"... Rồi giữa năm 1985, tại giảng đường Bách Khoa Hà Nội, ủy ban khoa học xã hội tổ chức cuộc hội thảo về ""Mối liên minh đặc biệt giữa 3 nước Đông Dương", tôi lên phát biểu ý kiến cho rằng ngay tên của cuộc Hội thảo là không thích hợp, hai chữ "đặc biệt" bao hàm mối quan hệ không bình thường, không bình đẳng giữa một nước lớn hơn 60 triệu dân với 2 nước nhỏ có 6 triệu và 3 triệu dân; chữ Đông Dương cũng không còn thích hợp... Rồi đến năm 1986, sau khi ông Lê Duẩn mất, ông Trường Chinh được cử làm quyền Tổng Bí Thư, tôi đã viết một bản kiến nghị dài 5 trang đánh máy (hiện tôi còn giữ được bản lưu) đề nghị đổi mới một cách mạnh mẽ, dứt khoát cả về kinh tế và chính trị, thực hiện hòa giải với tất cả các nước thù địch cũ (Nhật, Pháp, Trung Quốc, Hoa Kỳ) chủ động cử các đoàn đi theo các hướng trên đây, và mở một cuộc Hội nghị Chính trị đặc biệt làm động lực cho công cuộc đổi mới toàn diện, cả về kinh tế và chính trị, về đối nội và đối ngoại... Trong bản Kiến nghị này, tôi đề nghị giảm số quân từ trên 1, 6 triệu xuống 60 vạn trong 3 năm, ngang với mức trung bình của thế giới. Tôi đưa một bản cho ông Hà Nghiệp, thư ký của ông Trường Chinh và một bản cho ông Trường Chinh. Ông Trường Chinh xem qua, nhận xét: "ý kiến mạnh dạn, nhưng phải trình Trung Ương xem xét..." Thế rồi im lặng! Tôi hiểu ngày càng rõ ràng cái cơ chế này đã trở thành kín mít, có dân chủ chăng chỉ là dân chủ hình thức, lãnh đạo luôn tự cho mình là độc quyền của chân lý, lẽ phải, độc quyền cả lòng yêu nước và sự sáng suốt, yêu cầu mọi người phải tin tưởng, phải tuân theo, không bàn cãi, càng không được có ý kiến ngược, nhân danh" Khối đoàn kết thống nhất vững như bàn thạch của một đảng cộng sản trung kiên và thuần nhất"... Do đó tôi phải tính đi một con đường khác. Một con đường vòng, quanh co, đầy khó khăn, trắc trở, mang tính chất may rủi, lại có phần mạo hiểm nữa... Có thể nói đây là một chuyến đi hồi hộp, đơn thương độc mã tác chiến, khi lên đường còn có nhiều ẩn số ở trước mắt. Nước Pháp ra sao? Thái độ của chính quyèn Pháp ra sao? Người Việt ở bên Pháp thế nào? Có thể dựa vào ai? Sẽ sinh sống ra sao, lại còn lo sức khỏe, vì sau khi tôi bị một trận nhồi máu cơ tim nặng tháng 6 năm 1989, tim tôi luôn có khả năng bị tái phát một cơn đau mới. Có những đêm trằn trọc lo âu. Đang làm việc ổn định, có khí thế nữa, nhất là từ tháng 2, 1989 tôi trực tiếp đảm nhận nội dung xuất bản tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật, đến nay đã gần 2 năm. Tôi lên kế hoạch, định hướng từng thời kỳ, xây dựng một lực lượng rất gọn, nhẹ, chỉ có 12 người, tin cậy nhau và tôn trọng nhau trên ý thức "niềm vui làm báo"; một tờ báo kiểu mới, "có ích", không dạy đời, không đại ngôn, cố gắng tăng những lượng thông tin phong phú và bổ ích, với những bài thật ngắn gọn - Xã luận trang 1 chỉ 200 đến 300 chữ (so với báo Nhân dân hàng ngày thường từ 1500 đến 2000 chữ). Cố gắng đưa lên những ý kiến khác nhau, là diển đàn tự do cho bạn đọc... Báo in nhiều trang 4, 5 màu, cố tìm ảnh màu đẹp...và quả nhiên tờ báo ăn khách. Tháng 2, 1989 ra thử 60,000 số, tháng 4, 1989 lên đến 82,000 số, tháng 9, 1989 lên 120,000 và cuối năm lên trên 140,000 số. Giá từ đầu 350 đồng một số, lãi mỗi số hơn 100 đồng, được thị trường cả nước chấp nhận. Và chúng tôi được lãi lớn, không những chấm dứt thời kỳ bao cấp, bù lỗ triền miên, mà còn lập được quỹ phúc lợi, quỹ thưởng, quỹ đầu tư kỹ thuật, từ đó xây dựng được một quán ăn trưa với khá nhiều thiết bị. Cứ những dịp đầu năm, kỷ niệm, lễ lạc, như những ngày Phụ nữ, Thanh Niên, Thiếu Niên, Nhà báo, Quốc tế lao động, Quốc Khánh...đều là những cớ hợp pháp để phát tiền thưởng cho toàn thể cán bộ, công nhân viên, gồm gần 300 người của toàn toà soạn. Đời sống dể thở hẳn từ đó. Toàn tòa soạn đều quan tâm đến số phận của Nhân Dân Chủ Nhật, và lòng quý mến đối với những anh em trực tiếp làm báo Nhân Dân Chủ Nhật cũng biểu hiện rõ rệt, đặc biệt với cá nhân tôi. Lòng say mê nghề nghiệp làm cho tôi vui bao nhiêu với tờ báo mới, thì những cản trở gặp phải làm cho tôi nản lòng. Vì tôi tuy là Trưởng ban biên tập tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật, trên thực tế làm hết mọi công việc của một Tổng biên tập, nhưng Tổng biên tập báo Nhân Dân lại là người phụ trách cả Nhân dân và Nhân dân chủ nhật trên danh nghĩa. Có những bài báo tôi muốn đưa lên, đã duyệt sơ bộ rồi, như bài của nhà sử học Trần Quốc Vượng nói về thế hệ trẻ, thì lại không được duyệt ở khâu cuối cùng! Và có cả bài tôi viết cũng bị kiểm duyệt 1. Tất nhiên đó là 2 bài gai góc, nói về bệnh kiêu ngạo, hoành hành từ năm 1975 đến nay và bài bàn về đa nguyên... Hiện tôi còn giữ được bản thảo của cả 2 bài báo này. Chính cuộc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo nội dung của Nghị quyết trung ương lần thứ 8 (tháng 3, 1990), được tiến hành ở tòa soạn báo Nhân dân tháng 6 năm 1990 đã làm tôi nhận thấy cần một thái độ dứt khoát và mạnh dạn để đưa đất nước ra khỏi một cuộc khủng hoảng toàn diện, nghiêm trọng chưa từng có; và cũng từ đó cứu số phận của báo chí, của những người làm báo nước ta. Sức chịu đựng của nhân dân, của bản thân tôi đều đã quá mức, đạt đến độ quá tải rồi. Tôi lên đường, từ biệt gia đình, từ biệt bạn bè thân thiết trong tâm trạng lẫn lộn. Niềm vui có cơ hội làm một việc có ích cho đời. Nỗi lo dấn thân vào một nơi vô định. Nỗi buồn xa vắng cô đơn, Tôi gạt nước mắt ôm hôn 2 cháu ngoại, Hoài Anh lên 4 và Quỳnh Anh lên 8. Hai đứa coi ông ngoại như bạn, hay đòi ông ngoại đưa đi mua tranh, mua sách vẽ, mua báo nhi đồng và thiếu nhi, đi vườn hoa ăn kem, nhất là đi vào khu "Kính dị dạng", nơi thì người soi cao vút lên, nơi thì người soi béo ụ, lùn tịt, cả 3 ông cháu cười sặc sụa... Có những chuyện "hệ trọng", bí mật của trẻ thơ, truyện ở vườn trẻ, ở lớp học, về cô giáo, về bạn bè, chúng không kể cho bố mẹ mà chỉ kể cho ông ngoại thôi. Nhưng trên tất cả những đắn đo, lo âu, buồn nhớ là mộtniềm tin tuy chưa sâu sắc, chưa vững chãi, nhưng là niềm tin mang theo hy vọng. Vì những chính kiến mang dần tính hệ thống của tôi, tôi nhiều lần đưa ra trao đổi với bạn bè, với các đồng nghiệp, những người viết báo lớn tuổi hay còn trẻ, ở Hà Nội hay SàiGòn, ở Thái bình, Hà Sơn Bình hay Hà Nam Ninh, ở Vũng tầu hay ở Sông Bé...tôi đều nhận được những sự đồng tình khá sâu sắc. Rồi những buổi nói chuyện rộng rãi tại trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc, ở trường Tuyên huấn trung ương, ở lớp Báo chí, ở một số cơ sở kinh tế địa phương (những nơi này đều có ghi âm), tôi cố vượt ra ngoài khuôn phép, nói lên chính kiến riêng của mình. Và tôi ngỡ ngàng một cách thú vị nhận ra rằng hầu hết người nghe đều tán đồng những chính kiến của tôi, hầu như không có ai phản đối cả. ở Trường đảng Nguyễn ái Quốc, tôi nói rõ: "Đảng cộng sản Việt Nam đã vi phạm có hệ thống hiến pháp vì trong một thời gian dài đã coi những nghị quyết Đại hội Đảng, Nghị quyết bộ Chính trị, Nghị quyết Trung Ương như là những quyết định có tính chất pháp luật, bắt buộc Nhà nước và nhân dân phải chấp hành. Hiến pháp chỉ rõ: Toàn bộ quyền lực của nhà nước nằm trong tay nhân dân và các cơ quan dân cử. Dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, ra Quốc hội, chứ đâu có bầu ra Trung Ương và Bộ Chính trị..." Tôi còn nói rõ: các cơ quan dân cử vẫn không thật sự do nhân dân lựa chọn và cử ra; việc bầu cử đều là hình thức; hơn nữa các đại biểu Quốc Hội phần lớn đều nắm chính quyền, là thứ trưởng, là bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân, tổng cục trưởng các tổng cục...thành ra vừa nắm quyền lập pháp, vừa nắm quyền hành pháp và quyền giám sát chính quyền, nghĩa là vừa đá bóng vừa thổi còi, gây nên bất lực và hỗn loạn... Tất cả những chuyện này là những điều bất hợp lý nhất, đã được nêu lên phê phán, nhưng không ai chịu sửa cả! Tôi đã nói chuyện ở các trường của Đảng, ở các tỉnh về cái tệ phi pháp đã hình thành từ lâu là Đảng bao biện làm thay và tệ hơn nữa là lấn át chính quyền. Các bí thư Tỉnh ủy hay ủy viên thường vụ Tỉnh ủy tự cho mình có quyền tối cao giải quyết mọi việc. Các vị này đi đến đâu cũng được "xin ý kiến quyết định của các đồng chí", nào là dựng nên nhà máy gì, ở nơi nào; chổ kia xây dựng trường học hay bệnh viện; xuất khẩu ra sao; thay đổi nhân sự thế nào, các vị cứ cho ý kiến tuốt! Rất nhiều khi việc ấy Chủ tịch ủy ban, phó chủ tịch ủy ban không hề biết gì cả! Các hội đồng nhân dân lại càng lép vế, không có quyền hành gì hết. Tất cả các chuyện này tôi nêu lên, anh chị em học viên các trường cao cấp của đảng là thứ trưởng, tổng cục trưởng đều tán thành và nhiệt liệt hoan nghênh, mong mỏi đảng sớm từ bỏ tệ bao biện, gia trưởng, chuyên quyền. Đặc biệt là ở các tỉnh, anh chị em trí thức làm việc ở các cơ quan chuyên môn không còn chịu đựng được sự kém cỏi và phải nói là dốt nát của một số khá lớn các vị lảnh đạo trong cấp ủy đảng, họ chỉ có trình độ hiểu biết và văn hoá cấp trung học; tiểu học. Chính anh chị em nói những câu chí lý là: Sự dốt nát cộng với nhiệt tình thành ra phá hoại và phản động. Vì thường các vị dốt lại thích tỏ ra ta đây không dốt, cứ giải quyết bừa mọi việc và chỉ gây nên khó khăn và đổ vỡ ở địa phương... Niềm tin mang nhiều hy vọng của tôi còn dựa vào thực tế từ cuối năm 1986, sau Đại hội 6 anh chị em cán bộ trẻ đã dám mạnh dạn nói lên những điều mình nghĩ, không còn e dè, sợ sệt như trước. Khẩu hiệu: "Nói hết; nhìn thẳng vào sự thật" đã có tác dụng rõ rệt. Những khẩu hiệu mới mẻ ấy lợi hại vô cùng. Khi đã nói ra rồi, công bố rầm rộ trên báo, trên đài rồi, dù có muốn thu về, muốn hạn chế, hoặc xí xoá đi thì cũng thật là khó. Hơn nữa, có những điều đã mở ra rồi không sao có thể quay ngược lại được. Trước năm 1975, ai nghe đài BBC, đài tiếng nói Hoa Kỳ đều là phải vặn rất nhỏ, chỉ vừa đủ nghe trong nhà. Hàng xóm láng giềng biết được là không ổn, có khi rất phiền. Cán bộ, công an nghe thấy được lại càng rầy rà, sinh chuyện... Từ năm 1975, người ta nghe tự do hơn, cả những băng nhạc cải lương bị cấm lưu hành. Rồi từ năm 1986 quyền tự do được khẳng định thêm một bước lớn, quyền đòi hỏi bình đẳng, chống đặc quyền, đặc lợi được cất lên mạnh mẽ. ở nhiều chi bộ, các đảng viên chất vấn những người lãnh đạo: "Chúng tôi là kỹ sư, tốt nghiệp đại học, có phải là trẻ con đâu mà chúng tôi không được đọc các tài liệu tham khảo kia của Thông tấn xã Việt Nam? Chúng tôi chỉ là cán sự, các vị chuyên viên ăn lương cao hơn chúng tôi, nhưng chưa chắc về hiểu biết, cũng như về nhân cách ai hơn ai đâu! Nói là chống đẳng cấp mà cái đảng này chúa là chia theo đẳng cấp...mỗi đảng viên phải bình đẳng! Mỗi công dân phải bình đẳng!" Thế là từ đó, khó còn có thể ngăn chia thứ, bậc như trước được nữa. Mọi nguồn thông tin được tự do tiếp nhận qua đài phát thanh nước ngoài, qua các tài liệu, báo chí của nước ngoài, tuy còn rất hiếm hoi. Một cửa sổ nhìn ra thế giới khá quan trọng là 10 đến 15 phút tóm tắt tình hình thế giới hàng ngày trên màn truyền hình Việt Nam, được chuyển tiếp từ Đài truyền hình (Liên Xô) qua đài thu phát Hoa Sen. Người xem truyền hình Việt Nam được biết qua hình ảnh sống những biến động của thế giới, như bức tường Berlin sụp đổ, Ceaucescu bị xử bắn ở Rumani, tổng thống Havel xuất hiện ở Tiệp Khắc, cuộc bầu cử đa nguyên ở Mông cổ... Tuy hiện nay sự kiểm soát, lựa chọn nội dung truyền hình có chặt chẽ hơn, cố tránh những sự thật gai góc, nhưng không còn có thể trở về lối cũ, bịt mắt, bịt tai nhân dân như trước. Sự hiểu biết về thế giới là một lợi thế sâu sắc của nhân dân, họ hiểu rõ những sự kiện của thế giới - trông người lại nghĩ đến ta nuôi dưỡng những hy vọng lành mạnh cho tương lai. Chính những thay đổi tích cực trong nhận thức, tư duy của hàng triệu con người đang vươn tới cái tiến bộ, cái thiện, vươn lên đòi quyền tự do, dân chủ, bình đẳng, quyết từ bỏ cái gì là bảo thủ, trí tuệ, cũ kỹ...đã tạo nên sức mạnh động viên tôi cố gắng làm một cái gì đó để đất nước thân yêu của tôi có thể thoát ra khỏi cơn khủng hoảng hiễm nghèo. Và tôi đã tính toán kỹ, cân nhắc kỹ để dấn thân một cách kiên quyết và quả đoán trong chuyến đi Paris, thủ đô nước Pháp vào cuối năm 1990. Trong suy tính của tôi, công cuộc đổi mới như hiện nay là bế tắc. Kinh tế đổi mới, mà chính trị như cũ thì không ổn, hai chân đi khập khiểng sẽ vấp ngã lăn kềnh. Mà lãnh đạo thì rất sợ đổi mới về chính trị, họ sẽ mất quyền, cả quyền lãnh đạo và quyền lợi riêng. Đất nước bất hạnh chính là vì thế - "Thế cùng tất biến", nhiều người nói như vậy. Vì đó là quy luật. Nhưng lại là quy luật xã hội. Cứ chờ thì không ổn, biết bao giờ mới thay đổi! Phải có sự thức tỉnh, có ý chí, có hành động của con người! Nếu không sức ỳ sẽ lì lợm tồn tại. Đông đảo nhân dân vốn có sẵn lương tri sẽ thức tỉnh khi có người trình bầy lý lẽ và thuyết phục. Tôi không mong chờ gì ở sự tỉnh ngộ, thức thời của những người lãnh đạo. Họ đã khác xưa quá nhiều rồi! Có hai đức tính cần thiết nhất cho người lãnh đạo thì ở họ quá ngèo nàn. Đó là đức tính biết lắng nghe, tiếp nhận những điều hay, lẽ phải, và đức tính biết thích ứng một cách chủ động với những biến chuyển đi lên của thế giới ngày nay. Tai hoạ của đất nước phải chịu đựng là từ đó, từ hai lỗ hổng tai hại ấy. Vậy chỉ có nguyện vọng của nhân dân được thức tỉnh, và nguyện vọng đó được bộc lộ rõ ràng, rộng khắp, họa chăng mới tạo lên được áp lực xã hội cần thiết để buộc lãnh đạo phải thay đổi. Nhiều thế lực ở nước ngoài cho rằng chế độ mất lòng dân và độc đoán chỉ có thể lật đỏ bằng bạo lực từ bên ngoài đưa vào. Tôi hoàn toàn không tán thành chủ trương này. Nhân dân đã quá khổ trong chiến tranh, trong đối địch bằng bạo lực rồi. Đấy chỉ là ảo tưởng rất nguy hiểm, xét cho cùng chỉ là trò thiêu thân vô ích. Ngay cả những lực lượng ở ngoài nước, có tinh thần dân tộc và dân chủ, đề xướng hoặc tán thành hòa giải và hòa hợp cũng hầu như không có tác dụng gì đối với trong nước. Những tổ chức , những nhân vật của họ hầu như chẳng mấy ai ở trong nước biết đến. Họ không có tiếng nói, không có lực lượng, không có quần chúng. ý muốn của họ mãi mãi chỉ là ý muốn, dù cho có thiện ý đến đâu. Thông tin từ ngoài vào trong nước, từ trong nước ra ngoài, vẫn còn bị kiểm soát, bưng bít, phong tỏa một cách gắt gao. Tôi nghĩ có thể làm được gì để cưú vãn tình thế hiểm nghèo, đưa đất nước vào con đường dân chủ thực sự, tạo điều kiện để phát triển? Lực lượng quan trọng trực tiếp nhất phải là số đảng viên có lương tâm, có nhân cách và có hiểu biết, cùng với anh em trí thức ngoài đảng và đông đảo tuổi trẻ có tâm huyết với đất nước; cùng chung sức, chung lòng tạo nên sức ép để thay đổi. Dù cho số này ước lượng chỉ độ 10 phần trăm tổng số đảng viên hiện nay là 2 triệu, nhưng cái chất là chính. Khi tình thế biến động họ có thể lôi kéo đông đảo đảng viên khác và đông đảo nhân dân hòa nhập vào một phong trào chung. Cho nên tôi viết "Bản kiến nghị của một công dân" với 12 điểm chính là hướng về nhà, để gợi ý cho đồng bào và một số đông đảng viên lương thiện một phương hướng suy nghĩ mới. Tôi biết khả năng lãnh đạo chấp nhận đề nghị của tôi là rất ít ỏi. Tôi đã tìm ra cách để ý kiến của tôi đến được với đồng bào ở trong nước. Đó là qua đài BBC. Tôi nghĩ đến khả năng này từ khi ở trong nước, khi nghe đài BBC, thấy làn sóng ổn định, tiếng nói rõ ràng, ít khi bị nhiễu; thời gian buổi sáng và buổi chiều, tối, đều thích hợp cho đông đảo người nghe; tôi trực tiếp thấy cán bộ, đảng viên, các gia đình bình thường cho đến thanh niên, nông dân...đều ưa nghe đài BBC nhất. Tôi còn biết rất rõ ràng rất nhiều ngưới lãnh đạo đất nước như thủ tướng Phạm Văn Đồng trước kia, hay đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đều là người nghe đài chuyên cần của BBC. Trong chiến tranh BBC đưa tin và bình luận về miền Bắc Việt Nam có phần thiên vị. Những năm tháng gần đây, họ đưa tin khách quan, rất đa dạng, phong phú và sớm sủa, chọn nhiều giọng đọc hấp dẫn. Có tiếng nam, tiếng nữ-Các giọng nói đều truyền cảm. Rõ ràng các buổi BBC đã lôi cuốn hàng triệu lượt người nghe đài Việt Nam. Ông Đỗ Văn làm công tác biên tập và phát thanh trong các buổi tiếng Việt của BBC là người tôi quen biết và sau khi tham khảo với đài BBC đã tỏ ra tán thành... Ông ta hỏi chuyện ai là đi thẳng vào vấn đề, kể cả nhữmg vấn đề gai góc. Tôi và ông ta có những buổi tranh luận khá găng ở ngay Tòa soạn báo Nhân dân. Năm 1988, rồi năm 1989 tôi lại gặp ông ta ở Hà Nội. Vốn là dân Hà Nội, có mấy người em còn ở Hà Nội, xuất thân từ một gia đình trí thức thủ đô, ông là người có hiểu biết, xét đoán khá tinh tường, nói chuyện rất bộc trực, còn biểu lộ nỗi lo âu sâu sắc trước hiện tình đất nước lâm vào khủng hoảng: số thất nghiệp đông, trộm cắp lan tràn, phụ nữ phải bán dâm, trẻ em bị suy dinh dưởng, trí thức giỏi không được tin dùng. Tôi nghĩ ông Đỗ Văn có thể hiểu được việc tôi làm và do đó có thể tham gia việc tiếp sức cho tôi, từ lòng yêu nước. Tôi tìm được số điện thoại của BBC ở Luân Đôn và mời ông Đỗ Văn sang Paris để trao đổi ý kiến. Ông ta nhận lời vào giữa tháng 10, trước khi có cuộc Hội thảo về tướng Le Clerc. Cuộc Hội thảo này, ông đại sứ Phạm Bình xin phép Hà Nội cho tôi ở lại để dự, sau khi tôi đã dự Hội báo L'Humanité ở Paris và cuộc Hội nghị bàn tròn về quan hệ Pháp-Việt ở Marseille (cuộc họp này cũng do đại sứ quán Việt Nam ở Paris mời tôi tham dự). Tôi gặp ông Đỗ Văn ở phòng số 2 trên gác một của Foyer Việt Nam, cửa hàng ăn của Hội người Việt tại Pháp, 80, phố Monge, giữa quận 5, một quận trung tâm Paris. Tôi ở đây theo sự sắp đặt của Hội, vì ban chấp hành Hội chính thức mời tôi ở lại vài tuần để gặp gỡ những nhân vật trong Hội và tìm hiểu phong trào người Việt. Ông Đỗ Văn rất quan tâm đến nội dung bản kiến nghị của tôi vừa thảo xong và tỏ ra tán thành việc thực thiện một cuộc phỏng vấn, chừng 4 hoặc 5 câu hỏi, với thời gian độ 25, 30 phút... Tôi nghĩ là chừng đó chưa đủ để nói rõ nội dung, lập luận, chính kiến của mình. Ông Đỗ Văn cho biết xưa nay BBC chưa từng có cuộc phỏng vấn nào đến hơn 30 phút cả! Sau chúng tôi cùng nhau thảo luận là sẽ công bố "Bản kiến nghị của một công dân", làm ngay phần đầu của cuộc phỏng vấn, rồi tùy thuộc vào tình hình, nghe ngóng xem trong nước quan tâm đến đâu để sẽ tính liệu sau; liệu cơm gắp mắm. Kết quả vượt quá dự kiến của chúng tôi. Đài BBC bắt đầu công bố tối thứ tư 28/11/1990 bản kiến nghị của tôi, và tối thứ bảy 31/11 bắt đầu phát về cuộc phỏng vấn với những câu hỏi của Đổ Văn và những câu trả lời của Thành Tín. Ngày 3-12, phóng viên Reuter ở Hà Nội đã điện về Paris và Luân Đôn là: "người nghe đài ở Việt Nam, nhất là ở Hà Nội và Sài Gòn, rất chăm chú nghe các buổi này"; "Bùi Tín đã nói ra những điều mà rất nhiều người, kể cả quan chức trong bộ máy nghĩ đến mà không dám nói ra". Ngày 13-12 một nhà báo Pháp ở Việt Nam mới trở về gọi ngay điện thoại cho tôi: "Xin chúc mừng! Bom nguyên tử ở giữa thành phố Hồ Chí Minh! Ai cũng bàn đến chuyện Bùi Tín suốt hai tuần nay! Thứ bảy và chủ nhật phố xá vắng hẳn vì người ta gọi nhau về nghe BBC!". Tôi rất xúc động, nhưng luôn tỉnh táo. Tôi nói vui trong máy: "Không! Không phải bom, càng không phải bom nguyên tử, cậu cứ hay thổi phồng. Một trái lựu đạn thôi!". Cậu ta cãi lại: "Không đùa đâu! Thật đấy...", rồi anh ta viết thư kể chuyện, ngoài phong bì còn tinh nghịch đề: "Ông bạn bom nguyên tử của tôi!"... Qua Đỗ Văn, tôi được biết anh chị em làm việc trong bộ phận tiếng Việt của đài BBC đều chú ý về các buổi phát thanh ăn khách; đã có thư từ trong nước gửi sang cho đài để hoan nghênh. Và cứ thế là mỗi thứ Bảy và Chủ Nhật, trong 12 tuần lễ liên tiếp, cuộc phỏng vấn của tôi được truyền về với bà con trong nước, mỗi buổi từ 9 đến 22 phút, tùy theo câu trả lời ngắn hoặc dài. Tổng cộng tất cả cuộc phỏng vấn này dài 180 phút, thật là cực hiếm trên một đài phát thanh quốc tế. Đã vậy, mỗi tối thứ tư hàng tuần, BBC còn điểm báo chí quốc tế, điểm dư luận trong nước và thế giới về bản kiến nghị của tôi và nội dung cuộc phỏng vấn. Ngay sau Tết âm lịch, cuối tháng 2, 1991, tôi nhận được một số thư các bạn từ Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần thơ...cho biết: "Khi được biết về bản kiến nghị của anh, anh chị em trí thức, giáo viên, văn nghệ sĩ, cán bộ bàn tán khá sôi nổi và có xu thế là mạnh dạn nói lên sự thật, không e dè, ngần ngại như trước. Những người từng mạnh dạn thì mạnh dạn hơn". Tôi coi đó là một dấu hiệu quan trọng. Tôi không bao giờ cho ý kiến của riêng mình là giải pháp duy nhất đúng. Cần thúc đẩy cho thật nhiều sáng kiến và biện pháp, thật nhiều người nuôi dưỡng hoài bão, góp phần cứu đất nước khỏi họa hiểm nghèo. Có vậy mới hình thành được phong trào mang tâm huyết và trí tuệ của thời đại, mới huy động và tập hợp được lực lượng đấu tranh có hiệu quả theo những giải pháp đúng đắn. Cuối tháng 1, 1991, bản kiến nghị của ông Nguyễn Khắc Viện đến được Paris, tạo nên một làn gió mới. Đây là bức thư tâm huyết ông Viện gửi cho Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Nguyễn Hữu Thọ. Sau đó là bản kiến nghị của ông Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện Triết Học và sau đó là cả một "Chương trình cấp bách nhằm khắc phục khủng hoảng và tạo điều kiện lành mạnh cho sự phát triển đất nước" do ông Phan Đình Diệu, nhà toán học nỗi tiếng, phó Viện trưởng Viện Khoa Học Việt Nam, khởi thảo và kiến nghị...ở phía Nam, ông Lữ Phương, nhà văn hoá có tầm cỡ, vốn là thứ trưởng Văn hoá của Chính Phủ Cộng Hoà miền Nam Việt Nam, đã viết bài báo: "Chủ nghĩa xã hội Việt Nam, di sản và đổi mới", rất được đồng tình vì đã đề xuất một phương hướng rất táo bạo mà lại hợp đạo lý: đảng Cộng Sản phải giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước, trở về với xã hội công dân, tự đặt mình trong luật pháp, bình đẳng với mọi tổ chức chính trị và xã hội, từ đó khẳng định lại năng lực và phẩm chất của mình. Gần đây nhà báo cao niên Vũ Hạnh cũng đã gửi cho đài phát thanh Moscow bài báo nhan đề: Trơ trơ đối mặt với nhân dân của họ" (Thư của một nhà văn Việt Nam). Bài báo được đăng trên Tuần báo Tin Tức Moscow ra bằng 12 thứ tiếng (không có tiếng Việt), ngày 31-3-1991, với câu kết luận: "Những người lãnh đạo của chế độ này đang lo sợ vì cảm thấy trơ trọi; họ quen dựa dẫm vào 'sự ủng hộ', và 'tình đoàn kết' của các nước được gọi là xã hội chủ nghĩa, nhưng thật ra là những chế độ độc đoán vừa sụp đổ; họ cảm thấy mình đứng trơ trọi trước mặt nhân dân và sắp phải trả lời về những đau khổ và thiếu thốn mà họ đã bắt nhân dân phải chịu đựng trong hàng chục năm qua...". Mỗi tiếng nói gọi thêm nhiều tiếng nói khác, mới mẻ và cộng hưởng. Mỗi ý nghĩ có trách nhiệm gợi lên hàng nghìn ý kiến xác đáng, thức thời. Tất cả đều bị bộ máy trong nước bưng bít, che dấu, kiểm duyệt. Họ lại giả dối và ăn gian. Báo chí ở Việt Nam, đài phát thanh, đài truyền hình đều im lìm về những kiến nghị của những Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Minh Chính, Phan Đình Diệu và tôi... Họ sợ sự thay đổi thật. Vì ở họ có "đổi" nhưng không có "mới", có "thay" mà không có "đổi"; thay một hồi lại quay về cái cũ rích! Tức nước ắt phải vỡ Sức bị dồn nén lâu ắt phải Cùng tất biến, là một qui luật của tạo hóa. Con giun xéo lắm phải quằn, là một sự thật được nhận thức trong nhân gian. Cuộc khủng hoảng toàn diện đã đến mức cùng cực. ở Hà Nội tôi từng nghe mấy vị làm báo hóm hỉnh kháo nhau: "Cuộc sống tưởng là hạnh phúc, vì có thể ngoi lên. Thế mà có đến 10 tầng đáy. Và các đáy đều thủng! Cuối cùng là thùng không có đáy!" Để nói lên sự sa sút vẫn còn tiếp tục, đến độ thê thảm; bất bình và phẩn nộ đang lan rộng và ăn sâu trong toàn xã hội! Không chịu được nổi nữa. Sắp đến lúc lịch sử sẽ đi rảo bước, một ngày bằng vài chục năm... Phải làm tất cả để chuẩn bị, tạo điều kiện và thúc đẩy lịch sử bước vào điểm nút quyết định... Cần tính đến sự lợi hại của khoa học kỹ thuật viễn thông trong thế giới ngày nay. Không còn như ngày xưa, ngày xửa, tin tức từ Thăng Long vào Đàng Trong hoặc từ kinh đô Huế ra Bắc Hà phải chuyển bằng chạy bộ hoặc đi bằng ngựa trạm; rồi có xe lửa, xe ô tô... Cũng không còn là thời kỳ ở rừng núi Việt Bắc, báo chí thư từ đi về mất đến hàng tuần, hàng tháng và tin tức thế giới đến được thì lõm bõm chậm chạp. Ngày nay đồng bào cả nước có máy thu thanh, thu hình hiện đại, có thể biết ngay lập tức mọi diễn biến thời sự sốt dẻo ở trong nước và thế giới; không ai có thể bịt tai, bịt mắt đông đảo nhân dân được. Đây là một lợi thế to lớn luôn luôn phải tính đến và tận dụng. Đầu tháng 12, 1990, một ông bạn cũ làm việc ở sứ quán Việt Nam ở Paris trách cứ tôi: "Ông làm cái việc này để làm gì thế? Ông dại dột quá thế. Bỗng chốc đổ xuống sông, xuống bể tất cả thành tích, uy tín, công lao gần hết một đời người!" Tháng 2.1991, một anh bạn trẻ ở báo Nhân Dân từ Hà Nội gửi thư cho tôi, viết: "Chú ơi, ở đây rất nhiều anh chị em nhớ chú, giữ một niềm tin ở tâm huyết và sự sáng suốt của chú. Thế nhưng một vài anh em trẻ ít suy nghĩ thì cho rằng chú sang đó rồi ở lại là do tuổi lớn rồi, đã đến tuổi nghỉ hưu rồi, chú ắt phải tìm chỗ an nhàn để lo cho thân mình lúc cuối đời thôi, nhất là khi lại có điều kiện. Cháu không nghĩ thế!" Một nhà báo nước ngoài nhận xét: "Bùi Tín là con người thường có mặt ở địa điểm và thời điểm nỗi bật nhất (the right place at the right time). Lần này cũng vậy. Ông ta lại làm một việc mà ai cũng phải chú ý...". Quả thật, tôi không bao giờ tìm cơ hội để làm nổi mình lên-Không! Đây quả thật là một cuộc dấn thân. Tôi đang có chức có quyền. Từ 4 năm nay, tôi ở bậc lương chuyên viên 8, ngang với một thứ trưởng. Làm báo tôi lại có được một danh tiếng nào đó. Nhất là từ khi phụ trách trực tiếp tờ tuần báo Nhân dân chủ nhật, tôi được hầu như mọi người trong tòa soạn báo Nhân dân (chung cho Nhân dân hàng ngày và Nhân Dân Chủ Nhật) quý trọng hơn. Tờ tuần báo Nhân Dân chủ nhật với chủ trương thoáng đạt, tôn trọng bạn đọc được cả nước đánh giá khá cao, nên anh chị em làm báo Nhân Dân cảm thấy đỡ tủi thân. Báo Nhân Dân vốn vẫn bị chê là khô khan, tẻ nhạt, lên gân hay dạy đời nhất, nghĩa là bảo thủ nhất trong làng báo Việt Nam vốn đã khá bảo thủ. Sao tôi lại bỏ mà đi trong khi tôi đang có uy tín, được quý trọng? Mỗi lần dấn thân lại có một nét riêng, để lại những kỷ niệm khó quên trong cuộc đời. Những ngày trước và sau Cách mạng tháng Tám, tuổi trẻ dấn thân sao mà nhẹ nhàng, thanh thoát, tự nhiên đến thế. ở tuổi 18, những bài hát Tiến quân ca, Nào ta đi hồng binh, Nhớ chiến khu, Chiều Bắc Sơn...có sức thôi thúc rất mạnh mẽ. Chúng tôi nhập cuộc như là hít hơi thở trong lành buổi sáng vậy. Sự nhập cuộc mang tính chất lãng mạn của tuổi trẻ, máu hiệp sĩ nổi dậy, bất chấp khó khăn, gian khổ và hy sinh... Tôi lẳng lặng ra đi, gói một bộ quần áo, một chiếc áo len nâu, một chiếc khăn mặt, tất cả trong chiếc túi vải nhỏ. Anh bạn Việt Minh dắt tôi đến ngôi nhà cạnh Bắc Bộ Phủ, trụ sở của chi đoàn Quang Trung mới ở Việt Bắc về. Tối đầu tiên xa nhà, nằm trên chiếc ghế dài, ngủ ngon lành, không chút trằn trọc. Bữa cơm đầu tiên xa nhà, cơm xới từ một chiếc rá đan bằng tre, ăn ngon lành cùng với các đồng chí trong cùng một tiểu đội quân giải phóng... Sau đó là dấn thân vào những trận chiến liên miên. ở địch hậu Quảng trị, ở hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, ở vùng Khe sanh, Đầu Mầu, Lao Bảo trên đường số 9, ở quanh thị trấn Mường Phìn, gần các bản Nam-Cha-Lo, bản Đông trên đất Lào... Những trận phục kích bắn cối, tiến công các đồn bốt địch... Rồi các trận đánh của sư đoàn 304, được thành lập từ năm 1950, ở các chiến trường Hà Nam Ninh, Hòa Bình, rồi Điện Biên Phủ... Những cuộc hội nghị quân chính, những cuộc học tập nghị quyết về các chiến dịch Thu Đông, Xuân Hè,những cuộc hành quân đêm, rét lạnh, lầy lội, buồn ngủ rũ người... Những cuộc nghiên cứu chiến trường trên bản đồ, trên sa bàn, trên thực địa... Những trận tấn công đồn địch trong tầm phi pháo (máy bay và pháo địch ném nom, bắn phá)..., những cuộc hỏi cung tù binh, binh lính và sĩ quan lê dương, lính dù, cơ quan tham mưu địch; những công việc thường ngày của người lính, báo động tập hợp, hành quân, dừng chân, làm bếp, nấu cơm, giặt giũ, cắm trại, tắm rửa, đào hố vệ sinh...vất vả liên miên, đầy lo toan mà cũng nhẹ nhàng, chẳng mấy nặng nề và cũng không cảm thấy khổ sở vất vả... Vẫn cười, vẫn hát, vẫn kể chuyện tiếu lâm, vẫn trêu chọc nhau... Vẫn cứ yêu đời và lạc quan. Hồi đầu năm 1964, sau khi có ngị quyết trung ương lần thứ 9, cũng đúng vào lúc hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bị chết trong một cuộc đảo chính, và sau là vụ bí hiểm giết tổng thống Hoa Kỳ Kennedy, tôi lại "dấn thân" một chuyến vào miền Nam, qua đường mòn Hồ Chí Minh. Hồi năm 1961, tôi đã đi qua con đường này khi nó thực sự còn là đường mòn, cây cối còn rậm rạp, hành quân còn mang ba lô, chống gậy lách đi trong rừng rậm. Đầu 1964, đường mòn đã mở rộng hơn, nhưng cũng chỉ vài tấc, đến một thước rưỡi, cho xe đạp, thồ đi qua. So với những cuộc dấn thân sau này, qua đường mòn Hồ Chí Minh những năm 1972 và 1975 thì nguy hiểm về bom đạn lúc ấy chưa có gì đáng kể cả. Thế nhưng số người hy sinh trên đường mòn không phải là ít. Cách vài binh trạm (mỗi binh trạm cách nhau 20 đến 30 km) lại có một nghĩa trang, chôn cất anh em hy sinh trên đường mòn. Hồi ấy có đến vừa đúng mười kiểu chết khác nhau trên con đường hành quân Nam-Bắc. Lạc đường trong rừng rậm, đi miết, không tìm được lối trở ra, bị chết đói. Đi tốp nhỏ, ngủ đêm bị hổ vồ. Trời mưa, không nhìn rõ, đạp lên rắn độc, bị cắn chết. Bị đau ruột thừa cấp tính, hoặc bị sốt rét ác tính không chữa chạy kịp. Mắc võng dưới cây to, có cơn lốc bất thường, cành cây lớn gẫy hay cả cây to đổ, bị đè chết. Qua suối lớn, nước chảy xiết, cầu trơn, trượt chân, bị cuốn đi, không cứu kịp... Có khi chỉ con vắt xanh, hàng trăm, hàng nghìn con ngọ nguậy trên đường ngửi thấy hơi người, bám vào chân rồi leo lên người ở nơi có động mạch, hay nơi có tĩnh mạch lớn, cắn và hút thỏa sức; thường là ở nách, ở bẹn và cả ở bộ phận sinh dục của nam và nữ, không cầm máu được. Có khi leo núi đá đầy rêu, trời mưa, đất trơn như đổ mỡ, trượt chân nhào xuống vực sâu cùng với ba lô nặng sau lưng. Lại có khi ăn phải nấm độc, rau độc... Không cứu kịp. Chưa nói đến những vụ lụt cực lớn trên rừng như năm 1965 ở Tây Nguyên, nhà cửa, trâu bò, heo, gà và cả người nữa bị nước dâng lên cao và cuốn đi. Vậy mà chúng tôi vẫn nhẹ nhàng dấn thân vì có một niềm tin vững chắc ở thắng lợi, vì luôn nghĩ: "Chí làm trai thời loạn, phải có mặt ở nơi mũi nhọn. Cầu an, bảo mạng, nhường hy sinh gian khổ, cho người khác là sự ươn hèn và ích kỷ đáng hổ thẹn với lương tâm...". Năm 1972 rồi 1975, tôi đi dự các chiến dịch lớn ở chiến trường miền Nam là những cuộc dấn thân do máu nghề nghiệp làm báo. Dù biết rằng chiến sự sẽ rất ác liệt, Mỹ đưa vào cả một bộ máy chiến tranh lớn, vối đủ loại vũ khí tân kỳ: Xe tăng Abrams, pháo bầy, xe bọc thép, máy bay Con ma, Thần sấm, pháo đài bay B52, các loại mìn dây, mìn bướm...tôi vẫn nhẹ nhàng khoác ba lô lên đường. Hồi ấy tôi còn ở báo Quân đội nhân dân. Tất cả các chuyến đi ấy là tự tôi nêu ý định ra hỏa tuyến, không có lần nào do cấp trên hay tập thể yêu cầu. Nghiệp vụ làm báo thôi thúc tôi lên đường, tôi quen khá nhiều các nhà báo quốc tế, từ Burchett đến Walters Conkrite, từ Peter Arnett đến Nayan Chanda hay Felix Bolo và Tiziano Terzani... Sao báo chí phương Tây họ xông xáo, họ sưu tầm tài liệu và các sự kiện lớn, họ đưa tin nhanh nhậy, họ viết sách ăn khách...mà phóng viên Việt Nam ta không làm được. Trong những cuộc ra mặt trận ấy, quả thật có những lúc tôi lo và phảng phất một nỗi sợ. Đó là khi B52 rải thảm bom đầu tiên vào đội hình hành quân hồi 1972, không khí bị lay động như dông bão, cây cối đổ rầm rầm, ánh chớp lóe lên rồi tắt ngấm trong đêm đen... Đó còn là hồi đầu năm 1973, tôi đi trên máy bay lên thẳng chở các phóng viên của ủy ban Quân Sự Bốn Bên thi hành Hiệp Định Paris, đi Lộc Ninh, Cần Thơ, Mỹ Tho, Đà Nẵng, Nha Trang... Những ngày đầu qua Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ bị súng ở dưới bắn lên, súng của cả hai bên, có những viên trúng vỏ ngoài của máy bay... Nhất là ngồi trong xe tăng đang hành quân, nghe trưởng xe nhận định: Phía trước ta bên phải, cách một ngàn tám trăm mét, một ổ tên lửa chống tăng xuất hiện, yêu cầu cối và pháo ta diệt những hỏa điểm ấy... Những nỗi lo sợ thoáng qua... Năm 1979, tôi lại dấn thân trong cuộc hành quân vào Cămpuchia. Cho đến nay, ít người được biết sự kiện quân sự này. Sau ngày giải phóng miền Nam, tôi ở lại phía Nam. Các cuộc xung đột ở biên giới Việt Nam - Cămpuchia nổ ra ngay sau ngày 30.4.1975 và ngày một ác liệt. Đặc biệt là sau đó hai năm, từ đêm 30.4.1977, nổ ra những cuộc thảm sát ở Châu Đốc, rồi suốt cả năm 1978 dọc biên giới các tỉnh Minh Hải, An Giang, Long An và Tây Ninh, quân Khơ-me đỏ ngày càng tỏ ra táo tợn và khát máu hơn. Quân ta chống trả rất khó khăn vì chưa được phép đánh hẳn sang bên kia biên giới. So sánh trong một tháng có khi số quân ta bị chết và bị thương cao hơn trong thời kỳ chống Mỹ. Vì quân Khơ-me đỏ quen thuộc địa hình, lại rất quen chịu đựng thủy thổ, cộng với ý thức quá khích được nuôi dưỡng từ lâu. ( còn tiếp)

420 views ·

MONG LẮM MỖI NGƯỜI GÓP 1 TAY. TẨY CHAY! Mong mọi người hãy ý thức mình là người Việt. Mọi chiến lược Hán hóa nước Việt của ĐCS phải bị ngăn chặn bằng ý thức mỗi người chúng ta. Việc này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được. Rất đơn giản, hãy tẩy chay không đi phương tiện này. Và tẩy chay mọi chiến lược âm mưu Hán hóa dân tộc. Chúng ta nên nhớ, chính quyền vay tiền của Trung Cộng để thực hiện dự án. Trung Cộng chẳng cho không, đất nước này đã gánh khoản nợ ấy thì dự án này phải được xem là của người Việt. Tại sao dự án của Việt Nam lại được Trung Cộng chỉ đạo in Tiếng Tàu lên đó? Nếu hôm nay chúng ta lùi bước bằng cách chấp nhận điều này, thì mai kia nhà nước CS cho in Tiếng Hoa lên tiền Việt Nam thì sao? Và khi in Tiếng Hoa được thì họ cũng rút Tiếng Việt ra khỏi tiền Việt Nam được. Khi đó thì sao? Mong! Rất mong mỗi người chung tay thực hiện một việc nhỏ nhoi nhưng ý nghĩa lớn. Đó là hãy tẩy chay mọi âm mưu của ĐCS nhằm dọn đường giặc phương Bắc thò tay vào quê hương để thôn tính từng bước. Mong lắm, mong mỗi người giúp một tay đánh động xã hội tẩy chay! (Đỗ Ngà)

277 views ·

More from KHAI TRÍ VIỆT

https://nhatbook.com/wp-content/uploads/2018/08/Nhatbook-Hoa-xuyen-tuyet-Thanh-Tin-1991.pdf ******Hoa Xuyen Tuyết******** Bùi tín Mấy bữa nay mình bận quá nên không viết bài được nên đành chia sẽ cuốn hồi ký này của Bác Bùi Tín , mình có chia sẽ link bạn trẻ nào muốn tìm hiểu hãy tải về đọc nhé, mọi thắc mắc hay trở ngại gì , các bạn cứ inbox nhắn tin mình. Hy vọng sẽ được các bạn ủng hộ nhiều trong tương lai nhé! đừng quên chia sẽ bài viết để nhiều người có thể thấy được link của hồi ký . Like subcribe remind kênh mình nha. cám ơn các bạn . Chúc mọi người 1 ngày làm việc vui và chất lượng nha.

5.47k views ·

******HOA XUYÊN TUYẾT ******* (phần tiếp theo) Bùi Tín II - Dấn thân Đến nay đã có hàng trăm lá thư từ các nơi trong nước, từ các nước khác nhau (Thái Lan, Hồng Kông ở Châu á, Canada, Hoa Kỳ từ châu Mỹ, Liên Xô, Pháp, Tiệp Khắc, Anh, Đức từ Châu Ấu, Ai Cập, An giê ri từ Châu Phi), hàng trăm cú điện thọai và hàng trăm bạn bè từng quen hoặc mới làm quen trực tiếp hỏi tôi: Vì sao anh làm việc này, từ Paris, vào lúc này? Tại sao tôi lại viết bản "Kiến nghị của một công dân" vào tháng 11-1990 và công bó nó tại Paris? Từ những suy nghĩ dầu tiên dể trở thành ý định, rồi lớn dần thành chủ định và quyết tâm hành động, là cả một quá trình. Tôi đã từng ra nước ngoài gần 20 lần. Năm 1965, tôi sang Trung Quốc rồi Cộng Hòa Dân Chủ Đức (qua Liên Xô) là lần đầu và lần cuối cùng trước khi sang Pháp gần đây là sang Indonexia năm 1989. Tôi dã dến các nước xã hội chủ nghĩa, đến ấn độ, Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Indonexia, Mãlaixia, Philíppin, Nhật Bản, Singapo ở Châu á, đến Angiêri, Ai-cập, £tiôpia, Dimbabuê ở Châu Phi, đến ác-hen-ti-na, Hoa Kỳ ở Châu Mỹ. Còn Pháp thì chưa một lần! Đây là lần đầu. Đã từ lâu tôi hằng mong một chuyến đi Pháp. Nền văn hoá Pháp đã hấp dẫn tôi từ những năm 13 đến 17 tuổi, khi tôi học trường Khải Định (Quốc học Huế), với hiệu trưởng, hiệu phó và gần một nửa giáo viên người Pháp. Đến nay tôi còn nhớ nét mặt, dáng đi, cử chỉ, giọng nói của từng người... Những ký ức thật khó quên của tuổi thơ ấu. Những bài văn của Alfonse Daudet, của Victor Hugo, Anatole France, những luận điểm chính trị của Voltaire, Montesquieu, của Jean Jacques Rousseau là một phần hành trang tinh thần của tôi khi từ giã gia đình, nhà trường để đi kháng chiến. Hàng năm, báo L'Humanité của Đảng Cộng sản Pháp tổ chức ngày hội báo vào tháng 9. Đầu năm 1990, họ gửi giấy mời đích danh tôi, do sứ quán Việt Nam ở Paris chuyển vè Hà Nội. Từ giữa năm 1975, tôi bắt đầu có những ý kiến riêng và thường phát biểu những chính kiến của mình bằng cách này hay cách khác. Với tư cách phóng viên, hồi đó tôi đã hỏi chuyện tất cả viên tướng, các công chức cao cấp Sài Gòn ở các trại Thủ Đức, Long Thành, Quang Trung... Họ được báo đi tập trung học tập "vài ngày", sau đó là "vài tuần", rồi cứ ở lại hoài...Tôi từng gặp ông thứ trưởng Nội Vụ Viễn Chi để góp ý về việc này, và cũng gặp cả bộ trưởng Nội Vụ Phạm Hùng để nói về trường hợp tướng Nguyễn Hữu Có, mới làm quyền Tổng tham mưu trưởng có hơn 38 giờ. Khi cải tạo "tư sản", xoá bỏ "gian thương" ở miền Nam những năm 1977 và 1978, tôi gặp thứ trưởng Nội vụ Sáu Hoàng (Cao Đăng Chiếm) và để xuất đến việc lãnh đạo quá lỏng lẻo, tiền bạc, vàng, kim cương,...thất thoát hết... Sau khi vào Cămpuchia tháng 1,1979 đến năm 1982 tôi cùng mấy phóng viên báo Quân đội nhân dân Việt Nam và báo Quân đội Cămpuchia đi các chiến trường Bát Tam Boong và Xiêm Riệp về; tôi gặp đại sứ Ngô Điền, vốn là bạn của tôi, cùng thiếu tướng Lê Hai phụ trách công tác chính trị quân Tình nguyện Việt Nam và đưa ra nhận xét: "Tình hình hiện nay là bộ đội ta bị sa lầy; chỉ có cách là rút sớm toàn bộ các đơn vị ta về nước, giao lại cho bạn, và chuyển sớm cho Liên Hợp Quốc cùng Cộng đồng quốc tế giải quyết vấn đề Cămpuchia, nếu không tình hình sẽ còn gay go cho đất nước ta hơn nhiều"... Rồi giữa năm 1985, tại giảng đường Bách Khoa Hà Nội, ủy ban khoa học xã hội tổ chức cuộc hội thảo về ""Mối liên minh đặc biệt giữa 3 nước Đông Dương", tôi lên phát biểu ý kiến cho rằng ngay tên của cuộc Hội thảo là không thích hợp, hai chữ "đặc biệt" bao hàm mối quan hệ không bình thường, không bình đẳng giữa một nước lớn hơn 60 triệu dân với 2 nước nhỏ có 6 triệu và 3 triệu dân; chữ Đông Dương cũng không còn thích hợp... Rồi đến năm 1986, sau khi ông Lê Duẩn mất, ông Trường Chinh được cử làm quyền Tổng Bí Thư, tôi đã viết một bản kiến nghị dài 5 trang đánh máy (hiện tôi còn giữ được bản lưu) đề nghị đổi mới một cách mạnh mẽ, dứt khoát cả về kinh tế và chính trị, thực hiện hòa giải với tất cả các nước thù địch cũ (Nhật, Pháp, Trung Quốc, Hoa Kỳ) chủ động cử các đoàn đi theo các hướng trên đây, và mở một cuộc Hội nghị Chính trị đặc biệt làm động lực cho công cuộc đổi mới toàn diện, cả về kinh tế và chính trị, về đối nội và đối ngoại... Trong bản Kiến nghị này, tôi đề nghị giảm số quân từ trên 1, 6 triệu xuống 60 vạn trong 3 năm, ngang với mức trung bình của thế giới. Tôi đưa một bản cho ông Hà Nghiệp, thư ký của ông Trường Chinh và một bản cho ông Trường Chinh. Ông Trường Chinh xem qua, nhận xét: "ý kiến mạnh dạn, nhưng phải trình Trung Ương xem xét..." Thế rồi im lặng! Tôi hiểu ngày càng rõ ràng cái cơ chế này đã trở thành kín mít, có dân chủ chăng chỉ là dân chủ hình thức, lãnh đạo luôn tự cho mình là độc quyền của chân lý, lẽ phải, độc quyền cả lòng yêu nước và sự sáng suốt, yêu cầu mọi người phải tin tưởng, phải tuân theo, không bàn cãi, càng không được có ý kiến ngược, nhân danh" Khối đoàn kết thống nhất vững như bàn thạch của một đảng cộng sản trung kiên và thuần nhất"... Do đó tôi phải tính đi một con đường khác. Một con đường vòng, quanh co, đầy khó khăn, trắc trở, mang tính chất may rủi, lại có phần mạo hiểm nữa... Có thể nói đây là một chuyến đi hồi hộp, đơn thương độc mã tác chiến, khi lên đường còn có nhiều ẩn số ở trước mắt. Nước Pháp ra sao? Thái độ của chính quyèn Pháp ra sao? Người Việt ở bên Pháp thế nào? Có thể dựa vào ai? Sẽ sinh sống ra sao, lại còn lo sức khỏe, vì sau khi tôi bị một trận nhồi máu cơ tim nặng tháng 6 năm 1989, tim tôi luôn có khả năng bị tái phát một cơn đau mới. Có những đêm trằn trọc lo âu. Đang làm việc ổn định, có khí thế nữa, nhất là từ tháng 2, 1989 tôi trực tiếp đảm nhận nội dung xuất bản tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật, đến nay đã gần 2 năm. Tôi lên kế hoạch, định hướng từng thời kỳ, xây dựng một lực lượng rất gọn, nhẹ, chỉ có 12 người, tin cậy nhau và tôn trọng nhau trên ý thức "niềm vui làm báo"; một tờ báo kiểu mới, "có ích", không dạy đời, không đại ngôn, cố gắng tăng những lượng thông tin phong phú và bổ ích, với những bài thật ngắn gọn - Xã luận trang 1 chỉ 200 đến 300 chữ (so với báo Nhân dân hàng ngày thường từ 1500 đến 2000 chữ). Cố gắng đưa lên những ý kiến khác nhau, là diển đàn tự do cho bạn đọc... Báo in nhiều trang 4, 5 màu, cố tìm ảnh màu đẹp...và quả nhiên tờ báo ăn khách. Tháng 2, 1989 ra thử 60,000 số, tháng 4, 1989 lên đến 82,000 số, tháng 9, 1989 lên 120,000 và cuối năm lên trên 140,000 số. Giá từ đầu 350 đồng một số, lãi mỗi số hơn 100 đồng, được thị trường cả nước chấp nhận. Và chúng tôi được lãi lớn, không những chấm dứt thời kỳ bao cấp, bù lỗ triền miên, mà còn lập được quỹ phúc lợi, quỹ thưởng, quỹ đầu tư kỹ thuật, từ đó xây dựng được một quán ăn trưa với khá nhiều thiết bị. Cứ những dịp đầu năm, kỷ niệm, lễ lạc, như những ngày Phụ nữ, Thanh Niên, Thiếu Niên, Nhà báo, Quốc tế lao động, Quốc Khánh...đều là những cớ hợp pháp để phát tiền thưởng cho toàn thể cán bộ, công nhân viên, gồm gần 300 người của toàn toà soạn. Đời sống dể thở hẳn từ đó. Toàn tòa soạn đều quan tâm đến số phận của Nhân Dân Chủ Nhật, và lòng quý mến đối với những anh em trực tiếp làm báo Nhân Dân Chủ Nhật cũng biểu hiện rõ rệt, đặc biệt với cá nhân tôi. Lòng say mê nghề nghiệp làm cho tôi vui bao nhiêu với tờ báo mới, thì những cản trở gặp phải làm cho tôi nản lòng. Vì tôi tuy là Trưởng ban biên tập tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật, trên thực tế làm hết mọi công việc của một Tổng biên tập, nhưng Tổng biên tập báo Nhân Dân lại là người phụ trách cả Nhân dân và Nhân dân chủ nhật trên danh nghĩa. Có những bài báo tôi muốn đưa lên, đã duyệt sơ bộ rồi, như bài của nhà sử học Trần Quốc Vượng nói về thế hệ trẻ, thì lại không được duyệt ở khâu cuối cùng! Và có cả bài tôi viết cũng bị kiểm duyệt 1. Tất nhiên đó là 2 bài gai góc, nói về bệnh kiêu ngạo, hoành hành từ năm 1975 đến nay và bài bàn về đa nguyên... Hiện tôi còn giữ được bản thảo của cả 2 bài báo này. Chính cuộc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo nội dung của Nghị quyết trung ương lần thứ 8 (tháng 3, 1990), được tiến hành ở tòa soạn báo Nhân dân tháng 6 năm 1990 đã làm tôi nhận thấy cần một thái độ dứt khoát và mạnh dạn để đưa đất nước ra khỏi một cuộc khủng hoảng toàn diện, nghiêm trọng chưa từng có; và cũng từ đó cứu số phận của báo chí, của những người làm báo nước ta. Sức chịu đựng của nhân dân, của bản thân tôi đều đã quá mức, đạt đến độ quá tải rồi. Tôi lên đường, từ biệt gia đình, từ biệt bạn bè thân thiết trong tâm trạng lẫn lộn. Niềm vui có cơ hội làm một việc có ích cho đời. Nỗi lo dấn thân vào một nơi vô định. Nỗi buồn xa vắng cô đơn, Tôi gạt nước mắt ôm hôn 2 cháu ngoại, Hoài Anh lên 4 và Quỳnh Anh lên 8. Hai đứa coi ông ngoại như bạn, hay đòi ông ngoại đưa đi mua tranh, mua sách vẽ, mua báo nhi đồng và thiếu nhi, đi vườn hoa ăn kem, nhất là đi vào khu "Kính dị dạng", nơi thì người soi cao vút lên, nơi thì người soi béo ụ, lùn tịt, cả 3 ông cháu cười sặc sụa... Có những chuyện "hệ trọng", bí mật của trẻ thơ, truyện ở vườn trẻ, ở lớp học, về cô giáo, về bạn bè, chúng không kể cho bố mẹ mà chỉ kể cho ông ngoại thôi. Nhưng trên tất cả những đắn đo, lo âu, buồn nhớ là mộtniềm tin tuy chưa sâu sắc, chưa vững chãi, nhưng là niềm tin mang theo hy vọng. Vì những chính kiến mang dần tính hệ thống của tôi, tôi nhiều lần đưa ra trao đổi với bạn bè, với các đồng nghiệp, những người viết báo lớn tuổi hay còn trẻ, ở Hà Nội hay SàiGòn, ở Thái bình, Hà Sơn Bình hay Hà Nam Ninh, ở Vũng tầu hay ở Sông Bé...tôi đều nhận được những sự đồng tình khá sâu sắc. Rồi những buổi nói chuyện rộng rãi tại trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc, ở trường Tuyên huấn trung ương, ở lớp Báo chí, ở một số cơ sở kinh tế địa phương (những nơi này đều có ghi âm), tôi cố vượt ra ngoài khuôn phép, nói lên chính kiến riêng của mình. Và tôi ngỡ ngàng một cách thú vị nhận ra rằng hầu hết người nghe đều tán đồng những chính kiến của tôi, hầu như không có ai phản đối cả. ở Trường đảng Nguyễn ái Quốc, tôi nói rõ: "Đảng cộng sản Việt Nam đã vi phạm có hệ thống hiến pháp vì trong một thời gian dài đã coi những nghị quyết Đại hội Đảng, Nghị quyết bộ Chính trị, Nghị quyết Trung Ương như là những quyết định có tính chất pháp luật, bắt buộc Nhà nước và nhân dân phải chấp hành. Hiến pháp chỉ rõ: Toàn bộ quyền lực của nhà nước nằm trong tay nhân dân và các cơ quan dân cử. Dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, ra Quốc hội, chứ đâu có bầu ra Trung Ương và Bộ Chính trị..." Tôi còn nói rõ: các cơ quan dân cử vẫn không thật sự do nhân dân lựa chọn và cử ra; việc bầu cử đều là hình thức; hơn nữa các đại biểu Quốc Hội phần lớn đều nắm chính quyền, là thứ trưởng, là bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân, tổng cục trưởng các tổng cục...thành ra vừa nắm quyền lập pháp, vừa nắm quyền hành pháp và quyền giám sát chính quyền, nghĩa là vừa đá bóng vừa thổi còi, gây nên bất lực và hỗn loạn... Tất cả những chuyện này là những điều bất hợp lý nhất, đã được nêu lên phê phán, nhưng không ai chịu sửa cả! Tôi đã nói chuyện ở các trường của Đảng, ở các tỉnh về cái tệ phi pháp đã hình thành từ lâu là Đảng bao biện làm thay và tệ hơn nữa là lấn át chính quyền. Các bí thư Tỉnh ủy hay ủy viên thường vụ Tỉnh ủy tự cho mình có quyền tối cao giải quyết mọi việc. Các vị này đi đến đâu cũng được "xin ý kiến quyết định của các đồng chí", nào là dựng nên nhà máy gì, ở nơi nào; chổ kia xây dựng trường học hay bệnh viện; xuất khẩu ra sao; thay đổi nhân sự thế nào, các vị cứ cho ý kiến tuốt! Rất nhiều khi việc ấy Chủ tịch ủy ban, phó chủ tịch ủy ban không hề biết gì cả! Các hội đồng nhân dân lại càng lép vế, không có quyền hành gì hết. Tất cả các chuyện này tôi nêu lên, anh chị em học viên các trường cao cấp của đảng là thứ trưởng, tổng cục trưởng đều tán thành và nhiệt liệt hoan nghênh, mong mỏi đảng sớm từ bỏ tệ bao biện, gia trưởng, chuyên quyền. Đặc biệt là ở các tỉnh, anh chị em trí thức làm việc ở các cơ quan chuyên môn không còn chịu đựng được sự kém cỏi và phải nói là dốt nát của một số khá lớn các vị lảnh đạo trong cấp ủy đảng, họ chỉ có trình độ hiểu biết và văn hoá cấp trung học; tiểu học. Chính anh chị em nói những câu chí lý là: Sự dốt nát cộng với nhiệt tình thành ra phá hoại và phản động. Vì thường các vị dốt lại thích tỏ ra ta đây không dốt, cứ giải quyết bừa mọi việc và chỉ gây nên khó khăn và đổ vỡ ở địa phương... Niềm tin mang nhiều hy vọng của tôi còn dựa vào thực tế từ cuối năm 1986, sau Đại hội 6 anh chị em cán bộ trẻ đã dám mạnh dạn nói lên những điều mình nghĩ, không còn e dè, sợ sệt như trước. Khẩu hiệu: "Nói hết; nhìn thẳng vào sự thật" đã có tác dụng rõ rệt. Những khẩu hiệu mới mẻ ấy lợi hại vô cùng. Khi đã nói ra rồi, công bố rầm rộ trên báo, trên đài rồi, dù có muốn thu về, muốn hạn chế, hoặc xí xoá đi thì cũng thật là khó. Hơn nữa, có những điều đã mở ra rồi không sao có thể quay ngược lại được. Trước năm 1975, ai nghe đài BBC, đài tiếng nói Hoa Kỳ đều là phải vặn rất nhỏ, chỉ vừa đủ nghe trong nhà. Hàng xóm láng giềng biết được là không ổn, có khi rất phiền. Cán bộ, công an nghe thấy được lại càng rầy rà, sinh chuyện... Từ năm 1975, người ta nghe tự do hơn, cả những băng nhạc cải lương bị cấm lưu hành. Rồi từ năm 1986 quyền tự do được khẳng định thêm một bước lớn, quyền đòi hỏi bình đẳng, chống đặc quyền, đặc lợi được cất lên mạnh mẽ. ở nhiều chi bộ, các đảng viên chất vấn những người lãnh đạo: "Chúng tôi là kỹ sư, tốt nghiệp đại học, có phải là trẻ con đâu mà chúng tôi không được đọc các tài liệu tham khảo kia của Thông tấn xã Việt Nam? Chúng tôi chỉ là cán sự, các vị chuyên viên ăn lương cao hơn chúng tôi, nhưng chưa chắc về hiểu biết, cũng như về nhân cách ai hơn ai đâu! Nói là chống đẳng cấp mà cái đảng này chúa là chia theo đẳng cấp...mỗi đảng viên phải bình đẳng! Mỗi công dân phải bình đẳng!" Thế là từ đó, khó còn có thể ngăn chia thứ, bậc như trước được nữa. Mọi nguồn thông tin được tự do tiếp nhận qua đài phát thanh nước ngoài, qua các tài liệu, báo chí của nước ngoài, tuy còn rất hiếm hoi. Một cửa sổ nhìn ra thế giới khá quan trọng là 10 đến 15 phút tóm tắt tình hình thế giới hàng ngày trên màn truyền hình Việt Nam, được chuyển tiếp từ Đài truyền hình (Liên Xô) qua đài thu phát Hoa Sen. Người xem truyền hình Việt Nam được biết qua hình ảnh sống những biến động của thế giới, như bức tường Berlin sụp đổ, Ceaucescu bị xử bắn ở Rumani, tổng thống Havel xuất hiện ở Tiệp Khắc, cuộc bầu cử đa nguyên ở Mông cổ... Tuy hiện nay sự kiểm soát, lựa chọn nội dung truyền hình có chặt chẽ hơn, cố tránh những sự thật gai góc, nhưng không còn có thể trở về lối cũ, bịt mắt, bịt tai nhân dân như trước. Sự hiểu biết về thế giới là một lợi thế sâu sắc của nhân dân, họ hiểu rõ những sự kiện của thế giới - trông người lại nghĩ đến ta nuôi dưỡng những hy vọng lành mạnh cho tương lai. Chính những thay đổi tích cực trong nhận thức, tư duy của hàng triệu con người đang vươn tới cái tiến bộ, cái thiện, vươn lên đòi quyền tự do, dân chủ, bình đẳng, quyết từ bỏ cái gì là bảo thủ, trí tuệ, cũ kỹ...đã tạo nên sức mạnh động viên tôi cố gắng làm một cái gì đó để đất nước thân yêu của tôi có thể thoát ra khỏi cơn khủng hoảng hiễm nghèo. Và tôi đã tính toán kỹ, cân nhắc kỹ để dấn thân một cách kiên quyết và quả đoán trong chuyến đi Paris, thủ đô nước Pháp vào cuối năm 1990. Trong suy tính của tôi, công cuộc đổi mới như hiện nay là bế tắc. Kinh tế đổi mới, mà chính trị như cũ thì không ổn, hai chân đi khập khiểng sẽ vấp ngã lăn kềnh. Mà lãnh đạo thì rất sợ đổi mới về chính trị, họ sẽ mất quyền, cả quyền lãnh đạo và quyền lợi riêng. Đất nước bất hạnh chính là vì thế - "Thế cùng tất biến", nhiều người nói như vậy. Vì đó là quy luật. Nhưng lại là quy luật xã hội. Cứ chờ thì không ổn, biết bao giờ mới thay đổi! Phải có sự thức tỉnh, có ý chí, có hành động của con người! Nếu không sức ỳ sẽ lì lợm tồn tại. Đông đảo nhân dân vốn có sẵn lương tri sẽ thức tỉnh khi có người trình bầy lý lẽ và thuyết phục. Tôi không mong chờ gì ở sự tỉnh ngộ, thức thời của những người lãnh đạo. Họ đã khác xưa quá nhiều rồi! Có hai đức tính cần thiết nhất cho người lãnh đạo thì ở họ quá ngèo nàn. Đó là đức tính biết lắng nghe, tiếp nhận những điều hay, lẽ phải, và đức tính biết thích ứng một cách chủ động với những biến chuyển đi lên của thế giới ngày nay. Tai hoạ của đất nước phải chịu đựng là từ đó, từ hai lỗ hổng tai hại ấy. Vậy chỉ có nguyện vọng của nhân dân được thức tỉnh, và nguyện vọng đó được bộc lộ rõ ràng, rộng khắp, họa chăng mới tạo lên được áp lực xã hội cần thiết để buộc lãnh đạo phải thay đổi. Nhiều thế lực ở nước ngoài cho rằng chế độ mất lòng dân và độc đoán chỉ có thể lật đỏ bằng bạo lực từ bên ngoài đưa vào. Tôi hoàn toàn không tán thành chủ trương này. Nhân dân đã quá khổ trong chiến tranh, trong đối địch bằng bạo lực rồi. Đấy chỉ là ảo tưởng rất nguy hiểm, xét cho cùng chỉ là trò thiêu thân vô ích. Ngay cả những lực lượng ở ngoài nước, có tinh thần dân tộc và dân chủ, đề xướng hoặc tán thành hòa giải và hòa hợp cũng hầu như không có tác dụng gì đối với trong nước. Những tổ chức , những nhân vật của họ hầu như chẳng mấy ai ở trong nước biết đến. Họ không có tiếng nói, không có lực lượng, không có quần chúng. ý muốn của họ mãi mãi chỉ là ý muốn, dù cho có thiện ý đến đâu. Thông tin từ ngoài vào trong nước, từ trong nước ra ngoài, vẫn còn bị kiểm soát, bưng bít, phong tỏa một cách gắt gao. Tôi nghĩ có thể làm được gì để cưú vãn tình thế hiểm nghèo, đưa đất nước vào con đường dân chủ thực sự, tạo điều kiện để phát triển? Lực lượng quan trọng trực tiếp nhất phải là số đảng viên có lương tâm, có nhân cách và có hiểu biết, cùng với anh em trí thức ngoài đảng và đông đảo tuổi trẻ có tâm huyết với đất nước; cùng chung sức, chung lòng tạo nên sức ép để thay đổi. Dù cho số này ước lượng chỉ độ 10 phần trăm tổng số đảng viên hiện nay là 2 triệu, nhưng cái chất là chính. Khi tình thế biến động họ có thể lôi kéo đông đảo đảng viên khác và đông đảo nhân dân hòa nhập vào một phong trào chung. Cho nên tôi viết "Bản kiến nghị của một công dân" với 12 điểm chính là hướng về nhà, để gợi ý cho đồng bào và một số đông đảng viên lương thiện một phương hướng suy nghĩ mới. Tôi biết khả năng lãnh đạo chấp nhận đề nghị của tôi là rất ít ỏi. Tôi đã tìm ra cách để ý kiến của tôi đến được với đồng bào ở trong nước. Đó là qua đài BBC. Tôi nghĩ đến khả năng này từ khi ở trong nước, khi nghe đài BBC, thấy làn sóng ổn định, tiếng nói rõ ràng, ít khi bị nhiễu; thời gian buổi sáng và buổi chiều, tối, đều thích hợp cho đông đảo người nghe; tôi trực tiếp thấy cán bộ, đảng viên, các gia đình bình thường cho đến thanh niên, nông dân...đều ưa nghe đài BBC nhất. Tôi còn biết rất rõ ràng rất nhiều ngưới lãnh đạo đất nước như thủ tướng Phạm Văn Đồng trước kia, hay đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đều là người nghe đài chuyên cần của BBC. Trong chiến tranh BBC đưa tin và bình luận về miền Bắc Việt Nam có phần thiên vị. Những năm tháng gần đây, họ đưa tin khách quan, rất đa dạng, phong phú và sớm sủa, chọn nhiều giọng đọc hấp dẫn. Có tiếng nam, tiếng nữ-Các giọng nói đều truyền cảm. Rõ ràng các buổi BBC đã lôi cuốn hàng triệu lượt người nghe đài Việt Nam. Ông Đỗ Văn làm công tác biên tập và phát thanh trong các buổi tiếng Việt của BBC là người tôi quen biết và sau khi tham khảo với đài BBC đã tỏ ra tán thành... Ông ta hỏi chuyện ai là đi thẳng vào vấn đề, kể cả nhữmg vấn đề gai góc. Tôi và ông ta có những buổi tranh luận khá găng ở ngay Tòa soạn báo Nhân dân. Năm 1988, rồi năm 1989 tôi lại gặp ông ta ở Hà Nội. Vốn là dân Hà Nội, có mấy người em còn ở Hà Nội, xuất thân từ một gia đình trí thức thủ đô, ông là người có hiểu biết, xét đoán khá tinh tường, nói chuyện rất bộc trực, còn biểu lộ nỗi lo âu sâu sắc trước hiện tình đất nước lâm vào khủng hoảng: số thất nghiệp đông, trộm cắp lan tràn, phụ nữ phải bán dâm, trẻ em bị suy dinh dưởng, trí thức giỏi không được tin dùng. Tôi nghĩ ông Đỗ Văn có thể hiểu được việc tôi làm và do đó có thể tham gia việc tiếp sức cho tôi, từ lòng yêu nước. Tôi tìm được số điện thoại của BBC ở Luân Đôn và mời ông Đỗ Văn sang Paris để trao đổi ý kiến. Ông ta nhận lời vào giữa tháng 10, trước khi có cuộc Hội thảo về tướng Le Clerc. Cuộc Hội thảo này, ông đại sứ Phạm Bình xin phép Hà Nội cho tôi ở lại để dự, sau khi tôi đã dự Hội báo L'Humanité ở Paris và cuộc Hội nghị bàn tròn về quan hệ Pháp-Việt ở Marseille (cuộc họp này cũng do đại sứ quán Việt Nam ở Paris mời tôi tham dự). Tôi gặp ông Đỗ Văn ở phòng số 2 trên gác một của Foyer Việt Nam, cửa hàng ăn của Hội người Việt tại Pháp, 80, phố Monge, giữa quận 5, một quận trung tâm Paris. Tôi ở đây theo sự sắp đặt của Hội, vì ban chấp hành Hội chính thức mời tôi ở lại vài tuần để gặp gỡ những nhân vật trong Hội và tìm hiểu phong trào người Việt. Ông Đỗ Văn rất quan tâm đến nội dung bản kiến nghị của tôi vừa thảo xong và tỏ ra tán thành việc thực thiện một cuộc phỏng vấn, chừng 4 hoặc 5 câu hỏi, với thời gian độ 25, 30 phút... Tôi nghĩ là chừng đó chưa đủ để nói rõ nội dung, lập luận, chính kiến của mình. Ông Đỗ Văn cho biết xưa nay BBC chưa từng có cuộc phỏng vấn nào đến hơn 30 phút cả! Sau chúng tôi cùng nhau thảo luận là sẽ công bố "Bản kiến nghị của một công dân", làm ngay phần đầu của cuộc phỏng vấn, rồi tùy thuộc vào tình hình, nghe ngóng xem trong nước quan tâm đến đâu để sẽ tính liệu sau; liệu cơm gắp mắm. Kết quả vượt quá dự kiến của chúng tôi. Đài BBC bắt đầu công bố tối thứ tư 28/11/1990 bản kiến nghị của tôi, và tối thứ bảy 31/11 bắt đầu phát về cuộc phỏng vấn với những câu hỏi của Đổ Văn và những câu trả lời của Thành Tín. Ngày 3-12, phóng viên Reuter ở Hà Nội đã điện về Paris và Luân Đôn là: "người nghe đài ở Việt Nam, nhất là ở Hà Nội và Sài Gòn, rất chăm chú nghe các buổi này"; "Bùi Tín đã nói ra những điều mà rất nhiều người, kể cả quan chức trong bộ máy nghĩ đến mà không dám nói ra". Ngày 13-12 một nhà báo Pháp ở Việt Nam mới trở về gọi ngay điện thoại cho tôi: "Xin chúc mừng! Bom nguyên tử ở giữa thành phố Hồ Chí Minh! Ai cũng bàn đến chuyện Bùi Tín suốt hai tuần nay! Thứ bảy và chủ nhật phố xá vắng hẳn vì người ta gọi nhau về nghe BBC!". Tôi rất xúc động, nhưng luôn tỉnh táo. Tôi nói vui trong máy: "Không! Không phải bom, càng không phải bom nguyên tử, cậu cứ hay thổi phồng. Một trái lựu đạn thôi!". Cậu ta cãi lại: "Không đùa đâu! Thật đấy...", rồi anh ta viết thư kể chuyện, ngoài phong bì còn tinh nghịch đề: "Ông bạn bom nguyên tử của tôi!"... Qua Đỗ Văn, tôi được biết anh chị em làm việc trong bộ phận tiếng Việt của đài BBC đều chú ý về các buổi phát thanh ăn khách; đã có thư từ trong nước gửi sang cho đài để hoan nghênh. Và cứ thế là mỗi thứ Bảy và Chủ Nhật, trong 12 tuần lễ liên tiếp, cuộc phỏng vấn của tôi được truyền về với bà con trong nước, mỗi buổi từ 9 đến 22 phút, tùy theo câu trả lời ngắn hoặc dài. Tổng cộng tất cả cuộc phỏng vấn này dài 180 phút, thật là cực hiếm trên một đài phát thanh quốc tế. Đã vậy, mỗi tối thứ tư hàng tuần, BBC còn điểm báo chí quốc tế, điểm dư luận trong nước và thế giới về bản kiến nghị của tôi và nội dung cuộc phỏng vấn. Ngay sau Tết âm lịch, cuối tháng 2, 1991, tôi nhận được một số thư các bạn từ Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần thơ...cho biết: "Khi được biết về bản kiến nghị của anh, anh chị em trí thức, giáo viên, văn nghệ sĩ, cán bộ bàn tán khá sôi nổi và có xu thế là mạnh dạn nói lên sự thật, không e dè, ngần ngại như trước. Những người từng mạnh dạn thì mạnh dạn hơn". Tôi coi đó là một dấu hiệu quan trọng. Tôi không bao giờ cho ý kiến của riêng mình là giải pháp duy nhất đúng. Cần thúc đẩy cho thật nhiều sáng kiến và biện pháp, thật nhiều người nuôi dưỡng hoài bão, góp phần cứu đất nước khỏi họa hiểm nghèo. Có vậy mới hình thành được phong trào mang tâm huyết và trí tuệ của thời đại, mới huy động và tập hợp được lực lượng đấu tranh có hiệu quả theo những giải pháp đúng đắn. Cuối tháng 1, 1991, bản kiến nghị của ông Nguyễn Khắc Viện đến được Paris, tạo nên một làn gió mới. Đây là bức thư tâm huyết ông Viện gửi cho Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Nguyễn Hữu Thọ. Sau đó là bản kiến nghị của ông Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện Triết Học và sau đó là cả một "Chương trình cấp bách nhằm khắc phục khủng hoảng và tạo điều kiện lành mạnh cho sự phát triển đất nước" do ông Phan Đình Diệu, nhà toán học nỗi tiếng, phó Viện trưởng Viện Khoa Học Việt Nam, khởi thảo và kiến nghị...ở phía Nam, ông Lữ Phương, nhà văn hoá có tầm cỡ, vốn là thứ trưởng Văn hoá của Chính Phủ Cộng Hoà miền Nam Việt Nam, đã viết bài báo: "Chủ nghĩa xã hội Việt Nam, di sản và đổi mới", rất được đồng tình vì đã đề xuất một phương hướng rất táo bạo mà lại hợp đạo lý: đảng Cộng Sản phải giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước, trở về với xã hội công dân, tự đặt mình trong luật pháp, bình đẳng với mọi tổ chức chính trị và xã hội, từ đó khẳng định lại năng lực và phẩm chất của mình. Gần đây nhà báo cao niên Vũ Hạnh cũng đã gửi cho đài phát thanh Moscow bài báo nhan đề: Trơ trơ đối mặt với nhân dân của họ" (Thư của một nhà văn Việt Nam). Bài báo được đăng trên Tuần báo Tin Tức Moscow ra bằng 12 thứ tiếng (không có tiếng Việt), ngày 31-3-1991, với câu kết luận: "Những người lãnh đạo của chế độ này đang lo sợ vì cảm thấy trơ trọi; họ quen dựa dẫm vào 'sự ủng hộ', và 'tình đoàn kết' của các nước được gọi là xã hội chủ nghĩa, nhưng thật ra là những chế độ độc đoán vừa sụp đổ; họ cảm thấy mình đứng trơ trọi trước mặt nhân dân và sắp phải trả lời về những đau khổ và thiếu thốn mà họ đã bắt nhân dân phải chịu đựng trong hàng chục năm qua...". Mỗi tiếng nói gọi thêm nhiều tiếng nói khác, mới mẻ và cộng hưởng. Mỗi ý nghĩ có trách nhiệm gợi lên hàng nghìn ý kiến xác đáng, thức thời. Tất cả đều bị bộ máy trong nước bưng bít, che dấu, kiểm duyệt. Họ lại giả dối và ăn gian. Báo chí ở Việt Nam, đài phát thanh, đài truyền hình đều im lìm về những kiến nghị của những Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Minh Chính, Phan Đình Diệu và tôi... Họ sợ sự thay đổi thật. Vì ở họ có "đổi" nhưng không có "mới", có "thay" mà không có "đổi"; thay một hồi lại quay về cái cũ rích! Tức nước ắt phải vỡ Sức bị dồn nén lâu ắt phải Cùng tất biến, là một qui luật của tạo hóa. Con giun xéo lắm phải quằn, là một sự thật được nhận thức trong nhân gian. Cuộc khủng hoảng toàn diện đã đến mức cùng cực. ở Hà Nội tôi từng nghe mấy vị làm báo hóm hỉnh kháo nhau: "Cuộc sống tưởng là hạnh phúc, vì có thể ngoi lên. Thế mà có đến 10 tầng đáy. Và các đáy đều thủng! Cuối cùng là thùng không có đáy!" Để nói lên sự sa sút vẫn còn tiếp tục, đến độ thê thảm; bất bình và phẩn nộ đang lan rộng và ăn sâu trong toàn xã hội! Không chịu được nổi nữa. Sắp đến lúc lịch sử sẽ đi rảo bước, một ngày bằng vài chục năm... Phải làm tất cả để chuẩn bị, tạo điều kiện và thúc đẩy lịch sử bước vào điểm nút quyết định... Cần tính đến sự lợi hại của khoa học kỹ thuật viễn thông trong thế giới ngày nay. Không còn như ngày xưa, ngày xửa, tin tức từ Thăng Long vào Đàng Trong hoặc từ kinh đô Huế ra Bắc Hà phải chuyển bằng chạy bộ hoặc đi bằng ngựa trạm; rồi có xe lửa, xe ô tô... Cũng không còn là thời kỳ ở rừng núi Việt Bắc, báo chí thư từ đi về mất đến hàng tuần, hàng tháng và tin tức thế giới đến được thì lõm bõm chậm chạp. Ngày nay đồng bào cả nước có máy thu thanh, thu hình hiện đại, có thể biết ngay lập tức mọi diễn biến thời sự sốt dẻo ở trong nước và thế giới; không ai có thể bịt tai, bịt mắt đông đảo nhân dân được. Đây là một lợi thế to lớn luôn luôn phải tính đến và tận dụng. Đầu tháng 12, 1990, một ông bạn cũ làm việc ở sứ quán Việt Nam ở Paris trách cứ tôi: "Ông làm cái việc này để làm gì thế? Ông dại dột quá thế. Bỗng chốc đổ xuống sông, xuống bể tất cả thành tích, uy tín, công lao gần hết một đời người!" Tháng 2.1991, một anh bạn trẻ ở báo Nhân Dân từ Hà Nội gửi thư cho tôi, viết: "Chú ơi, ở đây rất nhiều anh chị em nhớ chú, giữ một niềm tin ở tâm huyết và sự sáng suốt của chú. Thế nhưng một vài anh em trẻ ít suy nghĩ thì cho rằng chú sang đó rồi ở lại là do tuổi lớn rồi, đã đến tuổi nghỉ hưu rồi, chú ắt phải tìm chỗ an nhàn để lo cho thân mình lúc cuối đời thôi, nhất là khi lại có điều kiện. Cháu không nghĩ thế!" Một nhà báo nước ngoài nhận xét: "Bùi Tín là con người thường có mặt ở địa điểm và thời điểm nỗi bật nhất (the right place at the right time). Lần này cũng vậy. Ông ta lại làm một việc mà ai cũng phải chú ý...". Quả thật, tôi không bao giờ tìm cơ hội để làm nổi mình lên-Không! Đây quả thật là một cuộc dấn thân. Tôi đang có chức có quyền. Từ 4 năm nay, tôi ở bậc lương chuyên viên 8, ngang với một thứ trưởng. Làm báo tôi lại có được một danh tiếng nào đó. Nhất là từ khi phụ trách trực tiếp tờ tuần báo Nhân dân chủ nhật, tôi được hầu như mọi người trong tòa soạn báo Nhân dân (chung cho Nhân dân hàng ngày và Nhân Dân Chủ Nhật) quý trọng hơn. Tờ tuần báo Nhân Dân chủ nhật với chủ trương thoáng đạt, tôn trọng bạn đọc được cả nước đánh giá khá cao, nên anh chị em làm báo Nhân Dân cảm thấy đỡ tủi thân. Báo Nhân Dân vốn vẫn bị chê là khô khan, tẻ nhạt, lên gân hay dạy đời nhất, nghĩa là bảo thủ nhất trong làng báo Việt Nam vốn đã khá bảo thủ. Sao tôi lại bỏ mà đi trong khi tôi đang có uy tín, được quý trọng? Mỗi lần dấn thân lại có một nét riêng, để lại những kỷ niệm khó quên trong cuộc đời. Những ngày trước và sau Cách mạng tháng Tám, tuổi trẻ dấn thân sao mà nhẹ nhàng, thanh thoát, tự nhiên đến thế. ở tuổi 18, những bài hát Tiến quân ca, Nào ta đi hồng binh, Nhớ chiến khu, Chiều Bắc Sơn...có sức thôi thúc rất mạnh mẽ. Chúng tôi nhập cuộc như là hít hơi thở trong lành buổi sáng vậy. Sự nhập cuộc mang tính chất lãng mạn của tuổi trẻ, máu hiệp sĩ nổi dậy, bất chấp khó khăn, gian khổ và hy sinh... Tôi lẳng lặng ra đi, gói một bộ quần áo, một chiếc áo len nâu, một chiếc khăn mặt, tất cả trong chiếc túi vải nhỏ. Anh bạn Việt Minh dắt tôi đến ngôi nhà cạnh Bắc Bộ Phủ, trụ sở của chi đoàn Quang Trung mới ở Việt Bắc về. Tối đầu tiên xa nhà, nằm trên chiếc ghế dài, ngủ ngon lành, không chút trằn trọc. Bữa cơm đầu tiên xa nhà, cơm xới từ một chiếc rá đan bằng tre, ăn ngon lành cùng với các đồng chí trong cùng một tiểu đội quân giải phóng... Sau đó là dấn thân vào những trận chiến liên miên. ở địch hậu Quảng trị, ở hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, ở vùng Khe sanh, Đầu Mầu, Lao Bảo trên đường số 9, ở quanh thị trấn Mường Phìn, gần các bản Nam-Cha-Lo, bản Đông trên đất Lào... Những trận phục kích bắn cối, tiến công các đồn bốt địch... Rồi các trận đánh của sư đoàn 304, được thành lập từ năm 1950, ở các chiến trường Hà Nam Ninh, Hòa Bình, rồi Điện Biên Phủ... Những cuộc hội nghị quân chính, những cuộc học tập nghị quyết về các chiến dịch Thu Đông, Xuân Hè,những cuộc hành quân đêm, rét lạnh, lầy lội, buồn ngủ rũ người... Những cuộc nghiên cứu chiến trường trên bản đồ, trên sa bàn, trên thực địa... Những trận tấn công đồn địch trong tầm phi pháo (máy bay và pháo địch ném nom, bắn phá)..., những cuộc hỏi cung tù binh, binh lính và sĩ quan lê dương, lính dù, cơ quan tham mưu địch; những công việc thường ngày của người lính, báo động tập hợp, hành quân, dừng chân, làm bếp, nấu cơm, giặt giũ, cắm trại, tắm rửa, đào hố vệ sinh...vất vả liên miên, đầy lo toan mà cũng nhẹ nhàng, chẳng mấy nặng nề và cũng không cảm thấy khổ sở vất vả... Vẫn cười, vẫn hát, vẫn kể chuyện tiếu lâm, vẫn trêu chọc nhau... Vẫn cứ yêu đời và lạc quan. Hồi đầu năm 1964, sau khi có ngị quyết trung ương lần thứ 9, cũng đúng vào lúc hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bị chết trong một cuộc đảo chính, và sau là vụ bí hiểm giết tổng thống Hoa Kỳ Kennedy, tôi lại "dấn thân" một chuyến vào miền Nam, qua đường mòn Hồ Chí Minh. Hồi năm 1961, tôi đã đi qua con đường này khi nó thực sự còn là đường mòn, cây cối còn rậm rạp, hành quân còn mang ba lô, chống gậy lách đi trong rừng rậm. Đầu 1964, đường mòn đã mở rộng hơn, nhưng cũng chỉ vài tấc, đến một thước rưỡi, cho xe đạp, thồ đi qua. So với những cuộc dấn thân sau này, qua đường mòn Hồ Chí Minh những năm 1972 và 1975 thì nguy hiểm về bom đạn lúc ấy chưa có gì đáng kể cả. Thế nhưng số người hy sinh trên đường mòn không phải là ít. Cách vài binh trạm (mỗi binh trạm cách nhau 20 đến 30 km) lại có một nghĩa trang, chôn cất anh em hy sinh trên đường mòn. Hồi ấy có đến vừa đúng mười kiểu chết khác nhau trên con đường hành quân Nam-Bắc. Lạc đường trong rừng rậm, đi miết, không tìm được lối trở ra, bị chết đói. Đi tốp nhỏ, ngủ đêm bị hổ vồ. Trời mưa, không nhìn rõ, đạp lên rắn độc, bị cắn chết. Bị đau ruột thừa cấp tính, hoặc bị sốt rét ác tính không chữa chạy kịp. Mắc võng dưới cây to, có cơn lốc bất thường, cành cây lớn gẫy hay cả cây to đổ, bị đè chết. Qua suối lớn, nước chảy xiết, cầu trơn, trượt chân, bị cuốn đi, không cứu kịp... Có khi chỉ con vắt xanh, hàng trăm, hàng nghìn con ngọ nguậy trên đường ngửi thấy hơi người, bám vào chân rồi leo lên người ở nơi có động mạch, hay nơi có tĩnh mạch lớn, cắn và hút thỏa sức; thường là ở nách, ở bẹn và cả ở bộ phận sinh dục của nam và nữ, không cầm máu được. Có khi leo núi đá đầy rêu, trời mưa, đất trơn như đổ mỡ, trượt chân nhào xuống vực sâu cùng với ba lô nặng sau lưng. Lại có khi ăn phải nấm độc, rau độc... Không cứu kịp. Chưa nói đến những vụ lụt cực lớn trên rừng như năm 1965 ở Tây Nguyên, nhà cửa, trâu bò, heo, gà và cả người nữa bị nước dâng lên cao và cuốn đi. Vậy mà chúng tôi vẫn nhẹ nhàng dấn thân vì có một niềm tin vững chắc ở thắng lợi, vì luôn nghĩ: "Chí làm trai thời loạn, phải có mặt ở nơi mũi nhọn. Cầu an, bảo mạng, nhường hy sinh gian khổ, cho người khác là sự ươn hèn và ích kỷ đáng hổ thẹn với lương tâm...". Năm 1972 rồi 1975, tôi đi dự các chiến dịch lớn ở chiến trường miền Nam là những cuộc dấn thân do máu nghề nghiệp làm báo. Dù biết rằng chiến sự sẽ rất ác liệt, Mỹ đưa vào cả một bộ máy chiến tranh lớn, vối đủ loại vũ khí tân kỳ: Xe tăng Abrams, pháo bầy, xe bọc thép, máy bay Con ma, Thần sấm, pháo đài bay B52, các loại mìn dây, mìn bướm...tôi vẫn nhẹ nhàng khoác ba lô lên đường. Hồi ấy tôi còn ở báo Quân đội nhân dân. Tất cả các chuyến đi ấy là tự tôi nêu ý định ra hỏa tuyến, không có lần nào do cấp trên hay tập thể yêu cầu. Nghiệp vụ làm báo thôi thúc tôi lên đường, tôi quen khá nhiều các nhà báo quốc tế, từ Burchett đến Walters Conkrite, từ Peter Arnett đến Nayan Chanda hay Felix Bolo và Tiziano Terzani... Sao báo chí phương Tây họ xông xáo, họ sưu tầm tài liệu và các sự kiện lớn, họ đưa tin nhanh nhậy, họ viết sách ăn khách...mà phóng viên Việt Nam ta không làm được. Trong những cuộc ra mặt trận ấy, quả thật có những lúc tôi lo và phảng phất một nỗi sợ. Đó là khi B52 rải thảm bom đầu tiên vào đội hình hành quân hồi 1972, không khí bị lay động như dông bão, cây cối đổ rầm rầm, ánh chớp lóe lên rồi tắt ngấm trong đêm đen... Đó còn là hồi đầu năm 1973, tôi đi trên máy bay lên thẳng chở các phóng viên của ủy ban Quân Sự Bốn Bên thi hành Hiệp Định Paris, đi Lộc Ninh, Cần Thơ, Mỹ Tho, Đà Nẵng, Nha Trang... Những ngày đầu qua Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ bị súng ở dưới bắn lên, súng của cả hai bên, có những viên trúng vỏ ngoài của máy bay... Nhất là ngồi trong xe tăng đang hành quân, nghe trưởng xe nhận định: Phía trước ta bên phải, cách một ngàn tám trăm mét, một ổ tên lửa chống tăng xuất hiện, yêu cầu cối và pháo ta diệt những hỏa điểm ấy... Những nỗi lo sợ thoáng qua... Năm 1979, tôi lại dấn thân trong cuộc hành quân vào Cămpuchia. Cho đến nay, ít người được biết sự kiện quân sự này. Sau ngày giải phóng miền Nam, tôi ở lại phía Nam. Các cuộc xung đột ở biên giới Việt Nam - Cămpuchia nổ ra ngay sau ngày 30.4.1975 và ngày một ác liệt. Đặc biệt là sau đó hai năm, từ đêm 30.4.1977, nổ ra những cuộc thảm sát ở Châu Đốc, rồi suốt cả năm 1978 dọc biên giới các tỉnh Minh Hải, An Giang, Long An và Tây Ninh, quân Khơ-me đỏ ngày càng tỏ ra táo tợn và khát máu hơn. Quân ta chống trả rất khó khăn vì chưa được phép đánh hẳn sang bên kia biên giới. So sánh trong một tháng có khi số quân ta bị chết và bị thương cao hơn trong thời kỳ chống Mỹ. Vì quân Khơ-me đỏ quen thuộc địa hình, lại rất quen chịu đựng thủy thổ, cộng với ý thức quá khích được nuôi dưỡng từ lâu. ( còn tiếp)

420 views ·

MONG LẮM MỖI NGƯỜI GÓP 1 TAY. TẨY CHAY! Mong mọi người hãy ý thức mình là người Việt. Mọi chiến lược Hán hóa nước Việt của ĐCS phải bị ngăn chặn bằng ý thức mỗi người chúng ta. Việc này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được. Rất đơn giản, hãy tẩy chay không đi phương tiện này. Và tẩy chay mọi chiến lược âm mưu Hán hóa dân tộc. Chúng ta nên nhớ, chính quyền vay tiền của Trung Cộng để thực hiện dự án. Trung Cộng chẳng cho không, đất nước này đã gánh khoản nợ ấy thì dự án này phải được xem là của người Việt. Tại sao dự án của Việt Nam lại được Trung Cộng chỉ đạo in Tiếng Tàu lên đó? Nếu hôm nay chúng ta lùi bước bằng cách chấp nhận điều này, thì mai kia nhà nước CS cho in Tiếng Hoa lên tiền Việt Nam thì sao? Và khi in Tiếng Hoa được thì họ cũng rút Tiếng Việt ra khỏi tiền Việt Nam được. Khi đó thì sao? Mong! Rất mong mỗi người chung tay thực hiện một việc nhỏ nhoi nhưng ý nghĩa lớn. Đó là hãy tẩy chay mọi âm mưu của ĐCS nhằm dọn đường giặc phương Bắc thò tay vào quê hương để thôn tính từng bước. Mong lắm, mong mỗi người giúp một tay đánh động xã hội tẩy chay! (Đỗ Ngà)

277 views ·