Nhân ngày mất của Nhà báo Bùi Tín -1 nhà báo quân đội CSVN, mình xin chia sẽ cho các bạn hồi ký của ông trên mục đích kính trọng ông -1 người dù đã sai lầm lỡ bước nhưng cuối cùng dám thừa nhận mình sai và dành năm cuối đời để chuộc lỗi thông qua việc vạch mặt và tố cáo những tội lỗi của cs, đáng kính đáng kính, chắc chắc ông đã yên tâm nhắm mắt . Mình không có ý định câu views hay gì , chỉ muốn chia sẽ trí thức cho mọi người , đọc sách là 1 cách nâng cao tri thức và suy nghĩ ********HOA XUYÊN TUYẾT******* Tôi Kính tặng cuốn sách này: Tất cả những người cộng sản, quốc gia, không đảng phái, các tôn giáo...bị tù đầy, bất công và oan ức do chế độ độc đảng chuyên quyền. Các chiến sĩ kiên cường đang đấu tranh cho một nền dân chủ- đa nguyên. Các bạn trẻ thân yêu trong cả nước sắp đưa tổ quốc vào kỷ nguyên dân chủ, tự do, hòa hợp và phát triển. Paris mùa thu 1991 Bùi Tín **Lời mở đâu Các bạn đọc thân mến! Sau khi tôi đưa ra "Bản kiến nghị của một công dân", nhiều bạn bè khuyến khích tôi viết một cuốn hồi ký, kể lại cuộc có ích cho sự đổi thay của đất nước, tôi đã viết một mạch liền đời mình và những suy ngẩm bản thân. Với ước vọng việc làm này sẽ trong cuốn sách này. Tôi khởi đầu trong những ngày đầu xuân Tân Mùi 1991 ở Paris, khi những lớp tuyết dầy mùa đông tan dần, vô vàn, những đóa hoa bật dậy từ những hạt mầm im dưới băng giá, xuyên tuyết (tiếng Việt ta chưa có tên), dịch theo tiếng Pháp: perce-neige. Hình ảnh của hoa xuyên tuyết cổ vũ tôi suốt cuộc hành trình đi ngược dòng đời tôi, cũng là đi ngược một phần nào cuộc hành trình của đất nước, để nhớ lại và suy ngẩm... Tôi viết với niềm tin rằng lẽ phải, tâm huyết và sự hiểu biết của tất cả những người Việt có tấm lòng ưu ái với đất nước, dù cho có gặp những hoàn cảnh khó khăn đến khốc liệt, cuối cùng cũng sẽ bật dậy trong một cuộc tập hợp rộng lớn và xúc động, cùng đua Tổ quốc thân yêu vào một mùa Xuân mới của đoàn kết, dựng xây và phát triển. Tình hình đất nước Việt Nam ta đang làm băng khoăn lo lắng mỗi con em đất Việt ở trong và ngoài nước. Cuộc khủng hoãng về mọi mặt dai dẳng đè nặng lên cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân, từ trẻ em, phụ nữ, người già, người nghĩ hưu, người tàn tật để các thương binh trong chiến tranh ở các phía... Người lao động, bà con nông dân, anh chị em trí thức, văn nghệ sĩ...ngày đêm mong mỏi một cuộc đổi thay tốt đẹp, đất nước sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn, chậm tiến về chính trị, kinh tế và đời sống thoát khỏi hỗn loạn và bất công xã hội. Tôi viết cuốn hồi ký này trong sự tĩnh tâm và tĩnh táo. Nhớ thế nào kể thế ấy, nghĩ thế nào viết thế ấy. Tâm niệm lấy sự thật làm nội dung. Tôi coi những trang sách như những buổi tâm sự cởi mở và chân thành với bạn đọc, đặc biệt là những bạn trẻ trên mọi miền của đất nước, với lòng mong mỏi từ những chuyện của quá khứ đầy biến động có thể gợi mở những suy nghĩ phong phú về hiện tại và tương lai của Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Mong muốn tốt đẹp ấy vấp phải những khó khăn về hoàn cảnh sống, về thời gian eo hẹp của người viết chỉ dựa vào trí nhớ và nhất là do tầm nhìn còn hạn chế,một cách viết còn vụng về,xin được sự lượng thứ của bạn đọc xa gần. Paris 5 tháng 6, 1991 Bùi Tín I - Từ những nỗi đau. Đã 15 năm nay, từ những ngày Hòa Bình, nhiều nỗi đau giằng xé lòng tôi. Những nỗi đau không vật chất, không thể xác. Những nỗi đau ngấm sâu trong tâm linh. Không phải nỗi đau của sinh, lão, bệnh, tử. Dù cho lưỡi hái của Tử thần đã kề cổ tôi vào đêm 2-6-1989 ấy trong một cơn nhồi máu cơ tim cực hiểm. Đó là nỗi đau của tinh thần, của trí tuệ... Lý tưởng xâm nhập tôi tự nhiên, sâu sắc ở tuổi 18. Tôi sống từ đó lạc quan, hừng hực cả thời tuổi trẻ. Vào bộ đội, nhẹ tênh, phơi phới, chỉ một bộ quần áo cũ, một chiếc áo len nâu cụt tay, thủng một lỗ ổ bên ngực. Đại đội trưởng ở dịch hậu (hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, Quảng Trị), khi chưa tới 19 tuổi, lo chuyện súng đạn, gạo, muối, lo chuyện trinh sát đồn địch, dẫn anh em đi phục kích, chan hòa với đồng bào sống dọc những bãi cát, sung sướng với củ khoai luộc ăn cùng cà muối của các bọ, các mạ (các bố, các mẹ); cũng có hồi cả đại đội bị sốt rét, bị bệnh ghẻ lở sâu quảng-những vết lở tròn sâu hoắm - mà vẫn vui hát náo nức trong các buổi lửa trại quân dân... Nhiều lúc vuốt mắt cho đồng chí; xé lòng tiễn đưa cậu đại đội phó Dung, cùng dân học trò, bạn thân, để sau đó lại phơi phới, hăm hở, lao vào những trận đánh mới dọc đường số 9, từ Khe Sanh lên Lao Bảo, rồi Sê-Pôn, Mường Phìn... Nghĩa làm trai, thời buổi loạn ly. Mang sức trẻ đền bồi non nước... Lòng yêu nước, tình đồng chí, nghĩa đồng bào, lòng tự tin dân tộc, niềm tin vững chắc ở chính nghĩa...là nguồn vui sống đẹp của cả một thời tuổi trẻ. Vào đảng ở tuổi 19, tôi tuyên thệ dưới ánh đèn dầu mãi mãi trung thành với lý tưởng: Giải phóng nhân dân, giải phóng nhân loại. Ôi, thật là sung sướng, là hạnh phúc trong đấu tranh và tin tưởng. Cuộc sống sôi nổi mà giản đơn, lẽ đòi vằng vặc sáng trong, không gợn chút ngần ngại băn khoăn... Từ sau 1975, sau những ngày hoan hỉ tràn đày hứng khởi, vào tuổi gần 50, tôi sinh ra nghĩ ngợi, đăm chiêu, lòng chẳng thấy mấythư thái và thanh thản. Những câu hỏi khá gay gắt cứ xoáy sâu vào tâm trí để tìm sự lý giải của chính mình, đúng ra là tìm sự lý giải về số phận của đồng bào mình. Lạ vậy, khi chiến đấu căng thẳng, vất vả, cuộc sống nội tâm khá giản đơn; còn trong hòa binh mới thật lắm chuyện, mà lại những chuyện lạ lùng, khó hiểu, cần tìm cho ra nhẽ. Đã bao lần tôi thầm thốt lên: Ôi! Số phận của con người! Cuộc chiến tranh đã hao phí hàng triệu sinh linh, đều là con em đất Việt, đồng bào ruột thịt cả. Để làm gì? Để đến nỗi này chăng? Nói là giải phóng đất nước, giải phóng đồng bào, mà sao hàng trăm nghìn người lại phải vào ngồi tù trong các trại tập trung cải tạo, kéo dài hàng trăm, hàng ngàn ngày, với biết bao tủi cực và khổ đau... Nhân danh lẽ phải? Nhân danh lẽ công bằng? Nhân danh cách mạng? Tôi chẳng sao lý giải nỗi nữa! Và cách mạng, hy sinh, chiến đấu để làm gì? Để sau toàn thắng, cuộc sống của nhân dân ta còn lầm than, bi đát hơn cả thời chiến tranh, để Nguyễn Du sống lại sẽ còn phải khóc cho thân phận hàng chục vạn nàng Kiều hiện đại, đang nhan nhản trên các hè phố Hà Nội, Sài Gòn khi nắng chiều vừa tắt,... Tôi đã vào Campuchia ngày 7-1-1979 cùng một mũi tiến quân lớn của bộ đội Việt Nam; sáng sớm đến sân bay Pochentong, trưa vào Hoàng Cung và sau đó vào sứ quán Tàu, ngôi nhà lớn nhất của Pnompenh. Hàng vạn người gầy ốm, ghẻ lở, ngơ ngác như ở địa ngục trở về, lang thang suốt hơn 3 tháng trời trên các nẻo đường cát bụi, không giầy guốc, giữa nắng gắt và mưa rào. Những hố chôn người tập thể rộng lớn, những cánh đồng đầy đầu lâu, xương sọ vỡ của những người bị đánh chết, ám ảnh tôi hàng chục ngày đêm ròng rã... Tất cả những điều rùng rợn ấy là từ một chủ trương "xây dựng một xã hộ cộng sản trong sạch nhất, công bằng nhất, tinh khiết nhất... "Tôi sững sờ tìm đọc và nhờ mấy anh bạn Cămpuchia dịch những tập nguyệt san lý luận "Cờ đỏ" xuất bản trong những năm 1977 và 1978 để hiểu rõ những cơ sở lý luận của những hành động tột cùng man rợ ấy, suy nghĩ về khả năng tha hóa đến mức nào của những tư duy bệnh hoạn. Sau đó, tôi sống trên các chốt tiền tiêu dọc biên giới Cămpuchia, Thái Lan với người lính "tình nguyện" Việt Nam, 2 chữ tình nguyện này ngày càng trở nên khó nghe và mĩa mai đối với tôi;,chúng tôi chắt từng giọt nước đọng trên lá chuối và lá cây báng súng vào chiếc đĩa nhôm để uống, lau mặt và nấu cơm... Trên những chuyến bay định kỳ An-to-nốp 24 của Liên xô, tôi từng trở về thành phố Hồ Chí Minh cùng anh em thương binh ta,phần lớn bị cụt một hoặc hai chân do vấp mìn cá nhân của Trung Quốc chế tạo, ở bên trong biên giới. Có hôm cùng chờ với anh em trong nhà chứa máy bay ở sân bay Pochentong, tôi tranh thủ làm một cuộc phỏng vấn điều tra nhỏ. Cả 16 anh đều là con em các gia đình nông dân ở Long An, Trà Vinh và Long Xuyên. Không một ai là con đảng viên, con cán bộ cả. Những cuộc điều tra tiếp theo làm tôi sững sờ và day dứt không nguôi. Thì ra gánh nặng của cuộc chiến tranh này đè lên vai một tầng lớp xã hội nằm ngoài quyền lực! Con cái của các quan lớn nhỏ hình như không phải sinh ra để đi làm cái "nghĩa vụ quốc tế cao cả" này, như chính cha anh họ không ngớt loan truyền. Các gia đình "thượng lưu" về chính trị đã có nhã tâm "nhường" lại vinh quang này cho kẻ khác, cho những người thấp cổ, bé họng trong xã hội, để giành lấy phần mình cái "gánh nặng" lo lắng cho con em đi xuất ngoại, nghĩa là gánh nặng "tiền" và "hàng" về cho gia đình. Những bất công xã hội đang lan rộng một cách cụ thể nhãn tiền như vậy đó... Những nấm mộ quân "Tình Nguyện" Việt Nam rải rộng từ bến Sỏi (Tây Ninh) đến Hồng Ngự, Long An, từ ngoại ô Pnom Pênh đến Xiêm Riệp và Bát Tam Bang, ở Pai Lin, Xằm Lốt... ám ảnh tôi suốt hơn 10 năm! Đã có tới 52 ngàn liệt sĩ và gần 200 ngàn thương binh Việt Nam cần có chính sách trợ cấp,từ giải đất Khờ Me bất hạnh này! Đi trên đường phố Hà Nội những năm này là chịu một sự tra tấn tinh thần dữ dội và triền miên. Trẻ em gầy còm, nói năng tục tĩu. Các chị phụ nữ hốc hắc, tức tưởi, đăm chiêu; cống rảnh ngập ngụa. Đây đó, bất cứ lúc nào, đều có thể bùng nổ những cuộc cãi cọ, chửi bới, đánh đập, đến cả đâm chém, thanh toán lẫn nhau... Cờ bạc, số đề, trộm cắp, đĩ điềm, hút sách nhan nhản... Tôi ở số nhà 221C Khâm Thiên, một phố sầm uất từ thời xa xưa, nay là phố thợ may với gần 200 hiệu bán và đo may quần áo. Tôi có những người bạn lâu năm khá thân thiết, qua đó có thể bắt mạch được xã hội theo nhu cầu của người viết báo. Đó là một anh công nhân hơn 40 tuổi đã có 4 con, 3 trai, 1 gái, bị thải hồi từ một nhà máy quốc doanh; vợ anh là công nhân vệ sinh, quét hè phố thủ đô. Anh làm đủ nghề, mà nghề nào cũng có hoa tay: xây nhà, đắp nền; đóng bàn, tủ, giường; sửa chữa xe đạp, xe máy, may quần áo; nhất là chớm đông, may áo NATO lót vải len y hệt như áo nhập từ Thái Lan. Chiều đến anh cùng đứa con trai nhỏ dọn hàng ra bán nước chè, thuốc lá trước ngôi nhà của tài chính quận, khi họ thu hồi vé xổ số; đó là bà hàng bán cháo lòng to béo mà hiền lành, xởi lởi, ông chồng vừa chết vì ung thư vòm họng. Đó là bà cụ hơn 80 tuổi với gánh quà vặt cho trẻ em. Đó còn là ông đại tá chuyên nghiên cứu lịch sử quân chủng phòng không không quân, vừa về hưu, bán sữa chua. Đó cũng là ông trung tá về hưu từng đánh trận phá máy bay Pháp ở sân bay Bạch Mai thời Điện Biên Phủ, nay sống bằng chiếc bơm xe đạp cũ, đầu vòi bơm luôn quấn một sợi cao su đỏ cũ; và một ông bác sĩ y khoa tốt nghiệp từ Paris (Pháp) trở về làm việc tại bệnh viện mắt trung ương, sống cô đơn trong một căn phòng 12 mét vuông, cặm cụi đọc sách, cặm cụi nấu cơm bằng chiếc bếp đầu cũ kỹ, cặm cụi xách từng xô nước vẩn đục, chảy thất thường; ông không còn thói quen ăn sáng để đi làm... Những con người sống nhẫn nại, chịu đựng, đăm chiêu, chẳng mấy hào hứng với cuộc đời, chai lỳ với cúp điện, cúp nước, với môi trường hôi hám xung quanh. người ta thét vang lên sung sướng khi điện tắt ngầm bổng vụt sáng. Ôi! Những niềm đau cháy lòng khi nghĩ đến thân phận con người. Đã hơn 15 năm nay, cho đến tận hôm nay, khi cầm bút để khởi đầu một cuốn sách, tôi cảm thấy ngày càng rõ ràng vàỵsâu sắc nhân dân Việt Nam đang là cả một khối bất hạnh lớn trên thế gian này. Nỗi đau này không của riêng ai, nó ắt phải có căn nguyên của nó. Hay là ông cha ta đã phạm tội gì tầy đình lắm để con cháu ngày nay phải gánh chịu món nợ tiền kiếp? ẻt không phải như vậy. Đã mấy năm nay tôi cố tìm ra lời giải. Tai họa chồng chất trên đất nước này không phải do hoàn cảnh ngẫu nhiên, do sơ xuất hoặc vụng dại nhất thời; cũng chẳng phải do đế quốc, phong kiến, chiến tranh và thiên tai như lập luận chính trị hay nói đến. Nó ắt phải có nguyên nhân sâu xa lắm! Không cùng nhau nhận ra thật rõ ràng và đày đủ thì không thể sửa đổi và thoát khỏi tai họa! Vâng. Tai họa, nỗi bất công và thống khổ vô cùng mà người Việt Nam đang phải chịu đựng phải chăng là do từ những cách nghĩ, cách làm, những quan điểm sai trái về con người, về xã hội; từ ý muốn làm cách mạng để cho cuộc sống tốt đẹp hơn thì trên thực tế lại làm cho cuộc sống tủi nhục và cùng cực, nhân danh giải phóng con người lại dẫn đến kềm kẹp con người, nhân danh tập thể, cổ xúy tập thể mà thủ tiêu mọi cá tính sáng tạo của con người và dìm cả tập thể nhân dân và đất nước vào thế khốn cùng. Và có lẽ điều tệ hại nhất là một cơ chế, một hệ thống chính trị, xã hội đã đè nặng, chụp lên số phận của mỗi con người, thủ tiêu một cách tinh vi và trắng trợn và-thật khủng khiếp-một cách triệt để nữa, nhân cách của mỗi công dân. Một sự hủy diệt rất ác độc. Có thể nói trong mấy chục năm qua, xã hội Việt Nam ta đã bị giam hãm trong những quan niệm sai lầm, dẫn đến những bất hạnh rộng lớn. Đã đến lúc bỏ hết những chấn song của nhà tù vô hình này, điều tiên quyết để có tự do và chân lý, mở đường cho tương lai. Tôi viết cuốn sách này trong nỗi đau lòng của một người cộng sản ở trong Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tròn 45 năm, sau khi bị khai trừ tháng 3, 1991. Tôi không chút cay đắng hoặc căm hờn. Tôi cố viết trong sự tỉnh trí và sáng suốt. Tôi cố nói lên sự thật như nó vốn là thế, không chút thổi phồng, thêu dệt, bóp méo. Tôi nghĩ đến tất cả tuổi trẻ Việt Nam ta khi viết cuốn hồi ký này. Các bạn trẻ là tương lai của đất nước. Hãy tìm hiểu quá khứ và hiện tại, cố lý giải cho mimh bạch mọi vấn đề và từ đó bắt tay xây dựng tương lai gần và xa. Các bạn hãy coi đây là tâm sự, là lời tâm huyết của một người đi trước nhận tội lỗi của thế hệ mình, của chính mình trước thế hệ trẻ thân yêu và tin cậy. Lịch sử luôn sòng phẳng. Tư duy xã hội luôn sòng phẳng. Nó rất công bằng trong đánh giá đúng sai, tốt xấu, công tội, vượt qua những nhiễu loạn của thế hệ đương thời. Một anh bạn thân ở Hà Nội biết tôi viết sách liền gửi thư sang khuyến khích. Anh dặn tôi hãy viết lên sự thật một cách ngay thẳng chớ ngại nói thật mất lòng. Cuối thư, anh lấy từ cuốn cổ học tinh hoa câu chuyện tu thân của Tuân Tử, chép gửi cho tôi như sau: Thấy người hay thì phải cố mà bất chước; thấy người dở thì phải tự xem mình có dở như thế không? Chính mình có điều hay thì cố mà giữ lấy; chính mình có điều dở thì cố mà trừ đi. Người chê ta, mà chê phải, ấy là thầy ta. Người khen ta, mà khen phải, ấy là bạn ta. Còn người nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy. Cho nên quân tử trọng thầy, quý bạn, ghét cừu địch, thích mà không chán điều phải, nghe lời can mà biết răn mình, như thế là muốn không hay cũng không được. Kẻ tiểu nhân không thế; đã bậy lại ghét người chê mình, đã dở lại thích người khen mình. Bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú. Thấy người không phục mình lại không bằng lòng; thân với kẻ xiểm nịnh, xa cách kẻ can ngăn; thấy người chính trực thì chê, thấy người trung tín thì cười, như thế dù muốn không dở cũng không được. Đây là sự đúc kết rất sâu sắc thâm thúy sự cư xử ở đời tôi ghi nhận, suy ngẫm và cố gắng làm đúng: khen, chê cho đúng sự thật; không nói quá, không tâng bốc, cũng không dèm pha. Xin cám ơn anh bạn về sự hổ trợ quý báu này. Nếu cuốn sách này làm thay đổi được những nếp nghĩ cũ sai lệch đã hằn sâu trong thời gian dài của bạn đọc, thì người viết cảm thấy hạnh phúc và biết ơn.

41Upvotes

More from KHAI TRÍ VIỆT

*Đấu tranh bất bạo động phần 7 ——————-TUYÊN TRUYỀN —————— Mọi người trên thế giới đều biết về “người đàn ông Marlboro”. Đó là một người đàn ông nam tính, cứng rắn, mạnh mẽ, độc lập và điển trai. Nếu bạn hút thuốc Marlboro, tưởng như bạn cũng đang ngầu như anh ấy? Nhưng bạn nhầm rồi. Marlboro đã chết vì ung thư phổi. Công ty Philip Morris đã thực hiện một trong những chiến dịch tâm lý thành công nhất trong lịch sử, để bán cho chúng ta một thứ thuốc hủy hoại sức khỏe, được quảng cáo thông qua hình ảnh của một người đàn ông có vẻ khỏe mạnh và nam tính. Hành động tuyên truyền dối trá như vậy nhan nhản khắp nơi. Để đối mặt với chúng, và để học cách truyền tải những thông điệp lành mạnh của mình, chúng ta cần phải hiểu rõ về tuyên truyền. Trong tiếng Anh, có một câu cách ngôn nổi tiếng rằng “Ngòi bút sắc hơn thanh gươm”. Và có vẻ ai trong chúng ta cũng đều nghe qua câu “Một bức hình đáng giá bằng cả ngàn lời nói”. Khi kết hợp lại, những bức hình và lời nói có thể trở thành một vũ khí cực kỳ mạnh mẽ. Và “tuyên truyền” chính là một cách sử dụng vũ khí ấy. Trước hết, tuyên truyền là một dạng đặc biệt của truyền thông, nó là hành động truyền tải thông điệp tới người khác. Đối tượng nhận thông điệp chính là bộ phận thiết yếu trong chiến lược của một phong trào bất bạo động. Để tuyên truyền, chúng ta cần phải truyền tải được tầm nhìn và mục tiêu của phong trào bất bạo động của mình dưới dạng thông điệp. Những thông điệp này cần được truyền tải đến các nhóm khác nhau trong xã hội thông qua nhiều kênh khác nhau. Tại đó, chúng ta có thể mở ra các cuộc tranh luận công khai, phơi bày những thông tin và dữ kiện mà đối thủ của chúng ta đang che giấu. Trên hết, điều quan trọng cần làm là phải tiếp cận và tác động tới những trụ cột tạo ra sức mạnh của đối thủ. Tuy nhiên, đối thủ của bạn có thể cũng sở hữu một bộ máy tuyên truyền khổng lồ. Ngay lúc phong trào của bạn bắt đầu trở nên mạnh mẽ, những kẻ đối đầu sẽ kích hoạt bộ máy tuyên truyền. Bất cứ khi nào họ cũng có thể dán nhãn cho bạn là “đồ quá khích”, “bọn phản động”, “tay sai của ngoại bang”, “phản bội quốc gia”, hay thậm chí là “bọn khủng bố”. Trước nay, những thế lực xấu thường sử dụng kiểu tuyên truyền tiêu cực này để làm mất uy tín các phong trào và ngăn chặn mọi người tham gia. Đối thủ của bạn cũng có thể dễ dàng làm mất uy tín của bạn và phong trào của bạn bằng cách tương tự. Vì thế, bên cạnh việc truyền tải thông điệp CỦA BẠN đến mọi người, đôi khi bạn cũng phải đối mặt với sự tuyên truyền của đối phương. Trước đây, khi các nhà đấu tranh của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan phải đối mặt với những lời tuyên truyền dối trá từ phía chính quyền cộng sản, thì thay vì cố gắng bác bỏ những lời dối trá đó, họ chỉ đơn giản “mang theo ti vi” để đi dạo. Thay vì xem các chương trình truyền hình bị nhà nước kiểm soát, các nhà hoạt động rất có khiếu hài hước của Ba Lan đã biến những chương trình tuyên truyền chính của nhà nước thành một dịp để tụ họp và vui vẻ. Nhưng trước khi đối mặt với những thách thức ấy, điều bạn cần làm là phải đảm bảo cho việc tuyên truyền của chính mình. Để thực hiện được thành công một phong trào, bạn sẽ phải đóng vai trò “tuyên truyền viên”, suy nghĩ về khán giả và nắm bắt quá trình PHÁT TRIỂN THÔNG ĐIỆP. Để truyền tải thông điệp, bạn cần phải xác định ba điều: chúng ta muốn tác động đến ai (đối tượng); cần phải nói những gì (thông điệp); và làm thế nào để truyền tải những điều đó (hình thức truyền tải thông điệp). Trước hết, cần xác định “đối tượng mục tiêu” bằng cách chia họ thành bốn nhóm, rồi mới bắt đầu phát triển các thông điệp đối với từng nhóm. Nhóm thứ nhất là thành viên và cảm tình viên. Họ là những người đang chia sẻ tầm nhìn của bạn. Bạn cần phải giữ cho họ can đảm, có động lực, sẵn sàng hành động, chấp nhận rủi ro và kết nối với nhau. Họ cũng cần được khích lệ liên tục và có cảm giác “thuộc về” đội ngũ. Nhóm thứ hai là đối tượng người nghe ở phạm vi rộng hơn. Nhóm này trải dài trên diện rộng, từ những người có tiềm năng gần gũi với bạn, cho tới cả những người ủng hộ cho đối thủ của bạn. Bạn cần thay đổi quan điểm của họ và khiến họ tin tưởng vào tầm nhìn cho tương lai của bạn. Bạn cũng có thể phải nỗ lực rút ngắn khoảng cách xã hội giữa bạn và những người gần gũi với đối thủ của bạn. Hãy nhớ rằng: 1 phần trăm cũng là đáng quý. Nhóm thứ ba là những đồng minh tiềm năng. Hãy tưởng tượng về tất cả các đồng minh khả dĩ, bao gồm tất cả các nhóm có tổ chức trong xã hội, từ các đảng phái chính trị và tổ chức phi chính phủ, cho tới các câu lạc bộ đọc sách và các hội nhóm của ngư dân. Sau đó, bạn hãy tự hỏi mình, rằng làm thế nào để lôi kéo được nhóm này lại gần hơn với tầm nhìn tương lai của mình? Những mong muốn, động cơ và lợi ích của họ có thể là gì? Và làm sao để tìm ra điểm chung với họ? Một bài học quan trọng là, “khi chưa có dân chủ thì hãy quên đi những khác biệt.” Bạn phải tạo ra một liên minh rộng rãi, tạo ra sự thỏa hiệp và gắn bó với nhau cho đến khi có thể đạt được mục tiêu chiến lược và đối thủ của bạn bị loại khỏi vị trí quyền lực. Và nhóm cuối cùng là bên thứ ba. Bạn sẽ cần phải mở rộng mặt trận truyền thông của mình bằng cách nói chuyện với những đối tượng vốn không liên quan trực tiếp đến cuộc xung đột. Chúng ta gọi họ là “các bên thứ ba”. Họ là tất cả những ai ở vị trí trung lập, hoặc chưa có lập trường. Họ có thể đến từ các tổ chức phi chính phủ trong nước hoặc quốc tế đang hoạt động nhằm thúc đẩy nhân quyền, từ phương tiện truyền thông trong nước và nước ngoài, có khi từ cả những định chế quốc tế hùng mạnh, như cái thời cả thế giới đã giúp đỡ cuộc đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Bạn phải xác định, truyền thông, và lôi kéo các bên thứ ba để họ ủng hộ cho công cuộc tranh đấu và tầm nhìn của bạn. Khi xác định được các đối tượng là lúc bạn cần tập trung về vấn đề thông điệp. Nhưng thông điệp là gì? “Thông điệp là một tập hợp giới hạn bao gồm các thông tin trung thực được truyền tải đi một cách nhất quán bởi một ứng viên, đảng phái, hoặc một phong trào bất bạo động, nhằm đưa ra lý do thuyết phục đối tượng người nghe, để họ lựa chọn và hành động theo sự lựa chọn đó”. Bạn có thể nhận thấy rằng, bạn cần phải tìm kiếm nhiều thông điệp đa dạng để truyền tải tầm nhìn của mình. Bạn phải nắm chắc hai nguyên tắc vàng: thứ nhất, bám sát vào thông điệp của bạn và lặp đi lặp lại nó thường xuyên; thứ hai, không nói dối. Vì nếu bạn để cho việc truyền thông làm mất uy tín của bạn, thì chẳng còn gì hiệu quả nữa. Cuối cùng, một khi bạn đã nghiên cứu về đối tượng mục tiêu của mình và tìm ra được thông điệp để phát đi, thì tiếp theo bạn cần lựa chọn hình thức truyền tải thông điệp. Cũng giống như chúng tôi đã trình bày trong bài trước, bàn về các chiến thuật đấu tranh bất bạo động, bạn có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau. Bạn có thể thể hiện thông điệp của mình bằng graffiti, biển quảng cáo, áp phích, báo chí, internet, kể cả lan truyền dưới dạng tin đồn. Nhưng khi chọn hình thức truyền tải thông điệp, cần phải đảm bảo cho nó phù hợp với đối tượng mà bạn nhắm tới. Một số câu hỏi cần đặt ra khi lựa chọn hình thức truyền tải thông điệp là: Họ là ai? Họ là những người giống nhau hay đa dạng? Các chuẩn mực văn hóa của họ là gì? Đâu là các giá trị xã hội của họ? Ngôn ngữ họ sử dụng? Kỳ vọng của họ? Và khoảng cách giữa những kỳ vọng và cuộc sống thực tế của họ là bao nhiêu? Khi đã phân tích đối tượng mục tiêu, và xác lập các mục tiêu truyền thông, đồng thời xây dựng các thông điệp và lựa chọn cách thức truyền tải chúng, thì khi đó, bạn có thể sẵn sàng khởi động “bộ máy tuyên truyền” Nguồn: dịch từ tài liệu sưu tầm nc ngoài

5.66k views ·
Bài viết hay và chính xác , thế mới thấy hiếp pháp nước đông lào chỉ phục vụ mục đích của đảng chứ ko phải là tiếng nói toàn dân , gì cũng nói dân dân bầu ra quốc hội nhưng lại là đảng chỉ định, có mấy người trong quốc hội là ko phải đảng viên , đúng là cquyen xàm xí và láo toét

ĐỐT CỜ MỸ KHÔNG BỊ PHẠT VÌ MỸ LÀ MỘT QUỐC GIA TỰ DO. Bởi Thesaigonpost CHỈ CÓ CÁC QUỐC GIA THẬT SỰ TỰ DO MỚI CÓ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN THÔNG QUA VIỆC XÚC PHẠM MỘT LÁ CỜ. Đối với người Mỹ, quốc kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần. Quốc kỳ Hoa Kỳ trở thành biểu tượng của tự do, lá cờ đã nói lên sự hy sinh của biết bao thế hệ để giành lấy nền độc lập. Lá cờ đầu tiên của Hoa Kỳ gồm có 13 ngôi sao và 13 sọc tượng trưng cho 13 tiểu bang thuộc địa thời bấy giờ. Quốc kỳ Hoa Kỳ có hai phần. Một phần nhỏ ở góc trái trên cùng có hình ảnh của 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai. Ý nghĩa của ba màu xanh, trắng, đỏ trên lá cờ Hoa Kỳ vẫn không thay đổi cho đến hiện nay. Màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và nhiệt huyết, màu trắng nói lên niềm hy vọng trong sáng, nét tinh khiết của cuộc sống và tinh thần kỷ luật, trong khi màu xanh là hiện thân của màu sắc thiên đàng, biểu tượng của Thượng đế, lòng trung thành, niềm chân thành, công lý, và chân lý. Ngôi sao, theo như biểu tượng xa xưa trong văn hóa Ấn Ðộ, Ba Tư, và Ai Cập, tượng trưng cho chủ quyền. Trên lá cờ Hoa Kỳ, mỗi một ngôi sao tượng trưng cho chủ quyền của một tiểu bang, do đó ngày nay lá cờ Mỹ gồm có 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang, trong khi số sọc trên lá cờ vẫn được giữ ở con số 13, tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên của ngày lập quốc. Lễ chào cờ có ý nghĩa quan trọng cho mỗi công dân Hoa Kỳ vì nó nói lên lòng trung thành với tổ quốc. Có một chuyện xảy ra vào năm 1984 ở tiểu bang Texas ở miền Nam nước Mỹ. Một nam thanh niên tên là Gregory Lee “Joey” Johnson, thành viên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Cách mạng, một tổ chức của Đảng Cộng sản Cách mạng Mỹ, đốt cờ Mỹ bên ngoài khu vực tổ chức đại hội của đảng Cộng hoà. Hành động của Johnson nằm trong một cuộc biểu tình phản đối các chính sách của đương kim Tổng thống Ronald Reagan. Không ai bị thương nhưng nhiều nhân chứng nói rằng họ cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Johnson sau đó bị bắt và bị toà án bang Taxas xử một năm tù giam cùng với một khoản tiền phạt 2.000 USD. Vụ án sau đó lần lượt được cả hai bên kháng cáo lên đến tận Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tại toà, luật sư của Johnson lập luận rằng, việc đốt cờ là một hành vi ngôn luận có tính biểu tượng (symbolic speech) vốn được xem như là cách Johnson biểu đạt quan điểm chính trị của mình và do đó hành vi ngôn luận này phải được bảo vệ bởi Tu chính án thứ Nhất của Hiến pháp Mỹ. Bên cạnh đó, lá cờ bị đốt thuộc sở hữu của Johnson, anh ta có quyền dùng nó để biểu đạt quan điểm của mình bằng bất cứ cách nào, kể cả đốt. Chừng nào hành vi đốt cờ này không xâm phạm đến quyền lợi hay tài sản của người khác thì nó không thể bị coi là bất hợp pháp. Một chi tiết thú vị nữa là, phe Johnson cho rằng bản thân việc đốt cờ không những không xúc phạm lá cờ Mỹ, mà còn tôn vinh giá trị tự do mà lá cờ đó đại diện. Nếu đốt cờ mà không bị trừng phạt có nghĩa là lá cờ đó thực sự đại diện cho những giá trị tự do mà người Mỹ thường rao giảng. Kết quả, Johnson thắng khi năm trong số chín thẩm phán của Tối cao Pháp viện cho rằng luật cấm đốt cờ của tiểu bang Texas là vi phạm Hiến pháp Mỹ. Phán quyết ghi rõ quan điểm của phe đa số của Tối cao Pháp viện như sau: “Chính quyền không được cấm đoán việc bày tỏ quan điểm bằng lời nói hay không bằng lời nói chỉ vì xã hội cảm thấy bị xúc phạm và không thể chấp nhận được quan điểm đó, ngay cả khi việc này liên quan đến lá cờ của chúng ta”. Điều đó có nghĩa là, cho dù xã hội có cảm thấy bị xúc phạm đi chăng nữa thì hành vi đốt cờ cũng phải được coi làm một phần của quyền tự do ngôn luận. Các án lệ của Mỹ quy định rằng, để cấm đoán một hành vi ngôn luận nào đó thì hành vi đó phải có khả năng kích động bạo lực và gây tổn hại cho người khác, ví dụ hô “cháy” giữa một rạp hát đông người mặc dù không có đám cháy nào cả. Án lệ Texas v. Johnson cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Các bang ở Mỹ về sau đã bãi bỏ luật cấm xúc phạm quốc kỳ. Đồ lót cách điệu quốc kỳ Mỹ cũng được bày bán công khai trên trang thương mại điện tử lớn nhất thế giới Amazon. Trong khi đó ở Việt Nam điều 25 hiến pháp CHXHCNVN đã cho phép người dân có quyền tự do ngôn luận. Nhưng theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì: Người nào cố ý xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Điều luật này rõ ràng là vi hiến. Do Việt Nam không có một cơ quan bảo hiến nên điều luật này vẫn ngang nhiên tồn tại như một sự phỉ nhổ vào tính logic của những người làm luật Việt Nam. Nó tố cáo là "quốc hội" chỉ là một phường ăn hại, chẳng có một chút tư duy hợp lý khi luật cơ bản dành cho người dân(hiến pháp) lại đá nhau chan chát với luật do 96% đảng viên tạo ra. Trong khi một quốc gia dân tộc chỉ có một lá quốc kỳ mà thôi. Bởi cờ nước mang tính biểu tượng liên tục cho một quốc gia từ thời lập quốc theo sự biến thiên của lịch sử chứ không hề đại diện cho một triều đại. Nói rằng lá cờ đỏ sao vàng là "quốc kỳ" là một điều phi lý vì chế độ cộng sản mới chỉ có 73 năm trong khi nước Việt đã tồn tại hơn 2000 năm. Chính do nhận thức được điều này nên các nước như Nga, Đức và Bungari sau khi thoát họa cộng sản đều lấy lá cờ của chính thể trước đó làm quốc kỳ và bỏ biểu tượng do các đảng cộng sản nặn ra vào thùng rác. Quốc kỳ của Việt Nam chỉ có một. Đó chính là lá cờ do Quốc gia Việt Nam lấy làm biểu tượng và được hơn 90 nước dân chủ trên thế giới công nhận. Lá cờ đỏ sao vàng thật ra chỉ là đảng kỳ. Vì nó chỉ là lá cờ đại diện cho 4 triệu đảng viên. Bởi lẻ lá cờ này chưa hề được thông qua bởi một quốc hội đa đảng nên chỉ là ý chí của một đảng cầm quyền duy nhất được áp đặt lên dân tộc Việt Nam. Do vậy việc xịt sơn lên đảng kỳ của Huỳnh Thục Vy chỉ là một quyền tự do ngôn luận. Bất cứ người dân nào cũng có quyền xúc phạm lá cờ do một đảng chính trị tạo ra, bởi lẻ đảng phái chỉ là nhất thời dân tộc mới mãi mãi trường tồn. Việc làm của Huỳnh Thục Vy được điều 25 hiến pháp CHXHCNVN cho phép. Nhưng tiếc là Việt Nam chứ không phải Mỹ và do tư duy logic kém nên đã có đến 30 con khỉ khoác áo công an cho xe cày nát sân nhà của một phụ nữ nuôi con 22 tháng tuổi để làm một việc được gọi là : vi hiến. Nhưng suy cho cùng xứ rừng Việt Nam làm gì có hiến mà vi ? Dương Hoài Linh

242 views ·
những người ở vn bị chính quyền tra tấn hay đàn áp hay người thân bị giết bởi chính quyền có thể tham khảo điều luận này thử , kiện tụi nó khi tụi nó qua Mỹ thăm con cái, hay du lịch hay định cư sau khi đã không còn tại nhiệm ( kiện là phải có nhân chứng, vật chứng này nọ đàng hoàng nha, cphu mỹ ko quan tâm có bao nhiêu ng ký tên ủng hộ , chỉ cần nhân, vật chứng) ,chính phủ Mỹ sẽ làm chủ cho bạn và gia đình ban , du bạn ko là quốc tịch Mỹ đi chăng nữa

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHỞI KIỆN QUAN CHỨC VIỆT NAM Ở MỸ. Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Năm 1999, khi đang viết khóa luận cao học luật tại Mỹ, giữa nhiều đề tài luật pháp lý thú, tôi lựa chọn nghiên cứu một đạo luật ít nhiều có thể giúp các nạn nhân Việt Nam bị nhà nước cộng sản vi phạm nhân quyền đòi công lý ở nước ngoài, đặc biệt là tại Mỹ. Đó là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài (Alien Tort Statute (28 U.S.C. § 1350), sau đây gọi tắt là “Luật ATS”). Khóa luận đó dài hơn 30 trang, nghiên cứu mọi khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của Luật ATS cùng án lệ được các tòa án Hoa Kỳ phát triển trên cơ sở luật này trong thế kỷ 20, kể từ án lệ Filartiga năm 1980 như sẽ trình bày dưới đây. Bản khóa luận, tiếc thay, đã mất vì nhân viên an ninh tịch thu năm 2009 khi tôi bị bắt giam và khám nhà. Sau năm 1999, đường hướng án lệ Mỹ về Luật ATS đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới mẻ, cũng như có nhiều vấn đề pháp lý mới phát sinh kể từ đầu thế kỷ 21. Do đó, gần đây, trước tình hình vi phạm nhân quyền ngày càng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng tra tấn và giết người phi pháp tại các đồn công an gia tăng trên khắp cả nước, tôi đã nghiên cứu lại Luật ATS và cập nhật thêm sự phát triển mới của các án lệ có liên quan. Tôi cũng thêm xác quyết rằng đây là công cụ pháp lý hữu hiệu giúp nạn nhân bị vi phạm nhân quyền đòi lại công lý cho mình và thân nhân. Bài viết này chỉ giới thiệu một cách vắn tắt nhất những khái niệm và vấn đề liên quan đến Luật ATS, hầu giúp những ai quan tâm có thể chuẩn bị một vụ kiện như vậy cho mình trong tương lai khi có cơ hội. Đạo luật cổ mang tinh thần mới Luật ATS là một luật liên bang được Quốc hội đầu tiên của Hoa Kỳ thông qua lần đầu vào năm 1789 và được Tổng thống George Washington ký ban hành thành luật, nhằm trao cho các tòa án liên bang Mỹ quyền xét xử những vụ kiện mà nguyên đơn là người không mang quốc tịch Mỹ đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của bất kỳ ai.[1] Nước Mỹ khi đó muốn chứng minh trước cộng đồng thế giới rằng tuy là một quốc gia mới xuất hiện nhưng họ là một nước trọng pháp trên phạm vi toàn cầu. Thế kỷ 18, lúc Luật ATS được ban hành, là giai đoạn sơ khai của luật quốc tế vốn chủ yếu quy định quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và chỉ đặt ngoài vòng pháp luật các tội phạm quốc tế như cướp biển mà thôi.[2] Tuy nhiên, luật quốc tế trong thế kỷ 20 và 21 đã hoàn toàn khác, phạm vi áp dụng của nó đã được mở rộng bao gồm cả việc bảo vệ nhân quyền.[3] Trong 70 năm kể từ ngày ký Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền vào năm 1948 đến nay, nhân quyền toàn cầu đã chuyển từ một ý niệm mang tính khích lệ thành một thực tiễn pháp lý. Quá trình phát triển đột phá này đã khiến cho Luật ATS trở nên quan trọng hơn vào cuối thế kỷ 20. Theo đó, những người sống sót sau những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng hoặc thân nhân của nạn nhân đã chết đều có quyền khởi kiện thủ phạm ra trước tòa án Mỹ. Từ năm 1980, Luật ATS đã được áp dụng thành công trong các vụ kiện có liên quan đến bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước, các vụ tra tấn hoặc giết người phi pháp, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh và giam giữ tùy tiện.[4] Bên cạnh Luật ATS còn có Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân bị Tra tấn (Torture Victim Protection Act), được thông qua vào năm 1991 và đã được Tổng thống George H. Will Bush ký ban hành thành luật vào năm 1992, trao các quyền tương tự cho công dân Hoa Kỳ và cả người ngoại quốc trong việc khởi kiện đòi bồi thường đối với các hành vi tra tấn và giết người phi pháp diễn ra ở nước ngoài.[5] Án lệ theo Luật ATS Án lệ Filartiga Vụ án đầu tiên được khởi kiện theo Luật ATS là vụ Filartiga v. Peña-Irala. Năm 1976, cha của một thanh niên từng bị tra tấn đến chết trong đồn cảnh sát ở Paraguay đã trông thấy một trong những kẻ tra tấn con trai ông đang đi bộ trên đường phố ở Manhattan, New York.[6] Người cha đã báo cảnh sát Mỹ bắt giữ tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay đó. Sau đó, người cha và em gái của nạn nhân liền khởi kiện anh ta theo Luật ATS. Năm 1980, một tòa án liên bang ở New York đã tuyên chấp thuận yêu cầu đòi bồi thường hàng triệu USD của họ, từ đó mở ra cơ hội cho những yêu cầu đòi bồi thường tương tự.[7] Kể từ án lệ Filartiga, hàng loạt các vụ kiện theo Luật ATS đã được khởi động chống lại các cá nhân thủ phạm bị phát hiện có mặt ở Hoa Kỳ. Mọi vụ kiện như vậy đều được tòa án Mỹ xét xử vì những người sống sót sau các vụ vi phạm nhân quyền và thân nhân của nạn nhân đã chết thường không còn cách nào đòi lại công lý ở chính quê hương mình. Tiêu chuẩn Sosa: Quan điểm của Tòa án Tối cao Đường hướng của án lệ Hoa Kỳ kể từ vụ Filartiga đã được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xác nhận. Trong phán quyết năm 2004 đối với vụ Sosa v Alvarez-Machain, Tòa tuyên rằng Luật ATS trao cho tòa án liên bang thẩm quyền đối với các đơn kiện dựa trên các tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế. Nói cách khác, Tòa án Tối cao đã bật đèn xanh cho việc sử dụng Luật ATS như một công cụ yêu cầu bồi thường đối với các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.[8] Trách nhiệm cá nhân đối với các vi phạm nhân quyền Tại các quốc gia thường xuyên có xung đột vũ trang hoặc bị cai trị bởi các chế độ độc tài toàn trị, việc miễn trách nhiệm đối với vi phạm nhân quyền hàng ngày có thể nói là một bất hạnh đối với người dân thấp cổ bé họng. Hệ thống tư pháp ở những nơi đó luôn thỏa hiệp hoặc bị giới cầm quyền tác động nhằm ngăn cản khởi tố hình sự những hành vi phạm tội như vậy, bởi trong hầu hết các trường hợp, thủ phạm vẫn đang đương chức. Một yếu tố khác có thể ngăn cản nạn nhân và thân nhân họ đòi bồi thường là thủ phạm có thể đã cao chạy xa bay khỏi đất nước đó. Hàng ngàn kẻ vi phạm nhân quyền như thế đã và đang trú ẩn an toàn tại Hoa Kỳ. Đối với những người tị nạn và người sống sót đang cố gắng xây dựng lại cuộc sống của mình tại Hoa Kỳ, họ có thể bị tổn thương sâu sắc khi tiếp tục nhìn thấy thủ phạm đang sống mà không bị trừng phạt. Do đó, Luật ATS cung cấp một công cụ vạch trần những kẻ vi phạm nhân quyền và không cho chúng sống an nhàn sau bao tội ác gây ra. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hành vi đồng lõa Bắt đầu vào giữa những năm 1990, một loạt các vụ kiện mới theo Luật ATS đã diễn ra nhằm mục đích buộc các tập đoàn đa quốc gia chịu trách nhiệm về hành vi đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền.[9] Mặc dù một bộ phận trong cộng đồng doanh nghiệp đã phản đối dữ dội và do đó dấy lên các chỉ trích nảy lửa về việc áp dụng Luật ATS, nhưng những nỗ lực để bãi bỏ hoặc làm suy yếu đạo luật này đã thất bại. Kể từ năm 2009, hai vụ kiện về trách nhiệm doanh nghiệp, Doe v. Unocal và Wiwa v. Shell, đã đóng vai trò quan trọng trong hệ thống án lệ, dẫn đến các thỏa thuận bồi thường khổng lồ cho những người sống sót và cộng đồng của họ.[10] Khởi kiện để làm gì? Cần lưu ý, các vụ kiện theo Luật ATS không tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự.[11] Do đó, bị đơn không nhất thiết phải bị giam cầm, trừ trường hợp cảnh sát hoặc tòa án phát hiện bị đơn đã thực hiện các hành vi khác vi phạm luật pháp Hoa Kỳ. Chẳng hạn, trong vụ Filartiga, tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay bị bắt giữ vì visa nhập cảnh Mỹ quá hạn. Tố quyền theo Luật ATS được thực hiện nhằm mục đích khởi động các vụ kiện dân sự mà kết quả là một phán quyết buộc bồi thường thiệt hại bằng tiền cho nguyên đơn.[12] Tuy nhiên, những vụ kiện này luôn thể hiện tầm quan trọng vì nhiều lý do khác, như nêu dưới đây, chứ không đơn thuần vì khoản tiền bồi thường mà nguyên đơn đạt được. Sự thật lên tiếng Những vụ kiện này mang đến cho các nguyên đơn cơ hội kể câu chuyện của mình và câu chuyện của nạn nhân đã khuất trong các vụ vi phạm nhân quyền. Sự thật có dịp lên tiếng để toàn thế giới thấy rõ bộ mặt phi nhân của các chế độ độc tài. Chấm dứt bất công Nhiều người sống sót và thân nhân của nạn nhân đã chết muốn đòi lại công lý và không cho phép thủ phạm sống an nhiên không bị trừng phạt như ở quê nhà của họ. Do đó, các vụ kiện này có thể được sử dụng như phương tiện trừng phạt và vạch trần hành vi của kẻ thủ ác trước một tòa án và đưa ra các bằng chứng về hành vi vi phạm trong quá khứ vào hồ sơ lưu trữ công khai. Hơn nữa, một số vụ kiện theo Luật ATS còn khiến thủ phạm bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Đồng thời, sau khi bị trục xuất, bằng chứng tại phiên tòa có thể được dùng để truy theo kẻ thủ ác đến tận quê nhà của chúng trong tương lai nhằm hỗ trợ thủ tục truy tố và xét xử hình sự. Từ chối nơi trú ẩn an toàn Các vụ kiện theo Luật ATS gửi một thông điệp mạnh mẽ đến các viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, rằng không ai có quyền đứng trên pháp luật, bất kể đó là luật pháp nước của họ. Họ phải hiểu rằng Hoa Kỳ không bao giờ cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ vi phạm nhân quyền trên toàn thế giới. Điều kiện để khởi kiện Bị đơn hay thủ phạm phải hiện diện tại Hoa Kỳ Để khởi kiện một cá nhân viên chức chính quyền nước ngoài và buộc cá nhân đó phải chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp về các vi phạm nhân quyền, cá nhân đó phải có thể đích thân tham gia vào vụ kiện lúc đang có mặt ở Hoa Kỳ. Nói cách khác, thủ phạm phải sống hoặc đang đến thăm Hoa Kỳ.[13] Viên chức vi phạm nhân quyền trong khi thi hành công vụ Để có thể khởi kiện theo Luật ATS, các vi phạm phải do viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, thực hiện trong khi thi hành công vụ hay đang thực thi chức trách công quyền của họ.[14] Bị đơn doanh nghiệp Có thể kiện các doanh nghiệp đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền, miễn doanh nghiệp đó có địa chỉ liên lạc ở Hoa Kỳ và đã hành động hoặc phối hợp với một cơ quan nhà nước hoặc viên chức chính quyền có liên quan đến các vi phạm.[15] Nguyên thủ quốc gia và viên chức ngoại giao Theo luật pháp Hoa Kỳ, các nguyên thủ quốc gia đương nhiệm (bao gồm vua, tổng thống và thủ tướng), bộ trưởng ngoại giao hoặc viên chức chính quyền khác có thể yêu cầu hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và, do đó, trong nhiều trường hợp không phải chịu trách nhiệm tham gia các vụ kiện về vi phạm nhân quyền theo Luật ATS. [16] Tuy nhiên, một khi họ thôi chức, các nguyên thủ quốc gia và viên chức chính quyền khác sẽ trở thành đối tượng của các vụ kiện dân sự ngay cả đối với những vi phạm nhân quyền mà họ đã thực hiện trong khi đang tại chức.[17] Hành vi có thể bị kiện bao gồm tra tấn, giết người và vi phạm nhân quyền khác Theo Luật ATS, hành vi có thể bị kiện là mọi vi phạm nhân quyền. Điều thú vị ở đây là tố quyền theo Luật ATS cho phép người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện rộng rãi hơn một công dân Hoa Kỳ. Theo Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Tra tấn (TVPA), công dân Hoa Kỳ chỉ có thể khởi kiện hai loại vi phạm là tra tấn và giết người phi pháp thực hiện ở Mỹ hoặc ở nước ngoài.[18] Trong khi đó, người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện theo Luật ATS đối với các hành vi vi phạm thuộc phạm vi rộng hơn, bao gồm tra tấn; giết người phi pháp; bắt cóc hoặc giam giữ bí mật; tội ác chống nhân loại; đối xử tàn bạo, phi nhân hoặc hạ nhục; giam giữ tùy tiện kéo dài; diệt chủng; tội ác chiến tranh; nô lệ; và bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước.[19] — Người Việt đang sống trong một xã hội mà quyền làm người không được tôn trọng và thậm chí bị nhà cầm quyền vi phạm. Thân thể và tự do của con người có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền muốn. Môi trường sống bị đe dọa bởi các doanh nghiệp chỉ biết kiếm tiền bất chấp quyền được sinh sống một cách lành mạnh của dân cư xung quanh, do nhận được sự bảo trợ và tiếp tay từ các quan chức chính quyền hoặc, nghiêm trọng hơn, từ chính bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, khi quyền làm người bị xâm phạm, người Việt có thể đòi công lý ở các tòa án tại nước mình hay không? Câu trả lời đáng buồn là không. Nguyên nhân là vì hệ thống tư pháp quốc gia bị đảng cầm quyền thao túng, khiến nó không thể mang đến công lý cho đại đa số người Việt Nam một cách độc lập và sáng suốt. Nó được thiết lập để phục dịch công lý cho đảng cầm quyền, chứ không nhằm xiển dương công lý cho toàn xã hội. Đó là lý do vì sao cần đi tìm công lý ở nơi khác và bằng một công cụ pháp lý hữu hiệu. Với mục tiêu như vậy, bài viết này đã cố gắng giới thiệu sơ lược cho mọi người một công cụ pháp lý bảo vệ nhân quyền đáng tin cậy trước tòa án Mỹ, mà tôi tin chắc có thể giúp những ai không phải là công dân Mỹ chạm được vào cánh cửa công đường của vị Bao Công hiện đại, giữa tình cảnh cánh cửa công lý chật hẹp trên quê hương Việt Nam đã khép chặt từ lâu. Công cụ đó chính là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài như được giới thiệu ở trên. Tài liệu tham khảo: [1] [19] Xem “The Alien Tort Statute Introduction” [2] [3] [8] [17] Xem Anthony J. Bellia Jr và Bradford R. Clark, “The Alien Tort Statute and the Law of Nations” (2011), The University of Chicago Law Review, Volume 78, Issue 2. [4] [11] [12] [13] [14] Xem “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”. [5] [6] [10] [16] [18] Xem Beth Stephens, “The Curious History of the Alien Tort Statute” (2014), Notre Dame Law Review, Volume 89, Issue 4. [7] [9] Xem “A Split On Companies’ Liability For Human Rights Crimes”. [15] Xem “Supreme Court Widens Scope Of Case On Corporate Accountability For Human Rights”, và “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”.

208 views ·

More from KHAI TRÍ VIỆT

*Đấu tranh bất bạo động phần 7 ——————-TUYÊN TRUYỀN —————— Mọi người trên thế giới đều biết về “người đàn ông Marlboro”. Đó là một người đàn ông nam tính, cứng rắn, mạnh mẽ, độc lập và điển trai. Nếu bạn hút thuốc Marlboro, tưởng như bạn cũng đang ngầu như anh ấy? Nhưng bạn nhầm rồi. Marlboro đã chết vì ung thư phổi. Công ty Philip Morris đã thực hiện một trong những chiến dịch tâm lý thành công nhất trong lịch sử, để bán cho chúng ta một thứ thuốc hủy hoại sức khỏe, được quảng cáo thông qua hình ảnh của một người đàn ông có vẻ khỏe mạnh và nam tính. Hành động tuyên truyền dối trá như vậy nhan nhản khắp nơi. Để đối mặt với chúng, và để học cách truyền tải những thông điệp lành mạnh của mình, chúng ta cần phải hiểu rõ về tuyên truyền. Trong tiếng Anh, có một câu cách ngôn nổi tiếng rằng “Ngòi bút sắc hơn thanh gươm”. Và có vẻ ai trong chúng ta cũng đều nghe qua câu “Một bức hình đáng giá bằng cả ngàn lời nói”. Khi kết hợp lại, những bức hình và lời nói có thể trở thành một vũ khí cực kỳ mạnh mẽ. Và “tuyên truyền” chính là một cách sử dụng vũ khí ấy. Trước hết, tuyên truyền là một dạng đặc biệt của truyền thông, nó là hành động truyền tải thông điệp tới người khác. Đối tượng nhận thông điệp chính là bộ phận thiết yếu trong chiến lược của một phong trào bất bạo động. Để tuyên truyền, chúng ta cần phải truyền tải được tầm nhìn và mục tiêu của phong trào bất bạo động của mình dưới dạng thông điệp. Những thông điệp này cần được truyền tải đến các nhóm khác nhau trong xã hội thông qua nhiều kênh khác nhau. Tại đó, chúng ta có thể mở ra các cuộc tranh luận công khai, phơi bày những thông tin và dữ kiện mà đối thủ của chúng ta đang che giấu. Trên hết, điều quan trọng cần làm là phải tiếp cận và tác động tới những trụ cột tạo ra sức mạnh của đối thủ. Tuy nhiên, đối thủ của bạn có thể cũng sở hữu một bộ máy tuyên truyền khổng lồ. Ngay lúc phong trào của bạn bắt đầu trở nên mạnh mẽ, những kẻ đối đầu sẽ kích hoạt bộ máy tuyên truyền. Bất cứ khi nào họ cũng có thể dán nhãn cho bạn là “đồ quá khích”, “bọn phản động”, “tay sai của ngoại bang”, “phản bội quốc gia”, hay thậm chí là “bọn khủng bố”. Trước nay, những thế lực xấu thường sử dụng kiểu tuyên truyền tiêu cực này để làm mất uy tín các phong trào và ngăn chặn mọi người tham gia. Đối thủ của bạn cũng có thể dễ dàng làm mất uy tín của bạn và phong trào của bạn bằng cách tương tự. Vì thế, bên cạnh việc truyền tải thông điệp CỦA BẠN đến mọi người, đôi khi bạn cũng phải đối mặt với sự tuyên truyền của đối phương. Trước đây, khi các nhà đấu tranh của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan phải đối mặt với những lời tuyên truyền dối trá từ phía chính quyền cộng sản, thì thay vì cố gắng bác bỏ những lời dối trá đó, họ chỉ đơn giản “mang theo ti vi” để đi dạo. Thay vì xem các chương trình truyền hình bị nhà nước kiểm soát, các nhà hoạt động rất có khiếu hài hước của Ba Lan đã biến những chương trình tuyên truyền chính của nhà nước thành một dịp để tụ họp và vui vẻ. Nhưng trước khi đối mặt với những thách thức ấy, điều bạn cần làm là phải đảm bảo cho việc tuyên truyền của chính mình. Để thực hiện được thành công một phong trào, bạn sẽ phải đóng vai trò “tuyên truyền viên”, suy nghĩ về khán giả và nắm bắt quá trình PHÁT TRIỂN THÔNG ĐIỆP. Để truyền tải thông điệp, bạn cần phải xác định ba điều: chúng ta muốn tác động đến ai (đối tượng); cần phải nói những gì (thông điệp); và làm thế nào để truyền tải những điều đó (hình thức truyền tải thông điệp). Trước hết, cần xác định “đối tượng mục tiêu” bằng cách chia họ thành bốn nhóm, rồi mới bắt đầu phát triển các thông điệp đối với từng nhóm. Nhóm thứ nhất là thành viên và cảm tình viên. Họ là những người đang chia sẻ tầm nhìn của bạn. Bạn cần phải giữ cho họ can đảm, có động lực, sẵn sàng hành động, chấp nhận rủi ro và kết nối với nhau. Họ cũng cần được khích lệ liên tục và có cảm giác “thuộc về” đội ngũ. Nhóm thứ hai là đối tượng người nghe ở phạm vi rộng hơn. Nhóm này trải dài trên diện rộng, từ những người có tiềm năng gần gũi với bạn, cho tới cả những người ủng hộ cho đối thủ của bạn. Bạn cần thay đổi quan điểm của họ và khiến họ tin tưởng vào tầm nhìn cho tương lai của bạn. Bạn cũng có thể phải nỗ lực rút ngắn khoảng cách xã hội giữa bạn và những người gần gũi với đối thủ của bạn. Hãy nhớ rằng: 1 phần trăm cũng là đáng quý. Nhóm thứ ba là những đồng minh tiềm năng. Hãy tưởng tượng về tất cả các đồng minh khả dĩ, bao gồm tất cả các nhóm có tổ chức trong xã hội, từ các đảng phái chính trị và tổ chức phi chính phủ, cho tới các câu lạc bộ đọc sách và các hội nhóm của ngư dân. Sau đó, bạn hãy tự hỏi mình, rằng làm thế nào để lôi kéo được nhóm này lại gần hơn với tầm nhìn tương lai của mình? Những mong muốn, động cơ và lợi ích của họ có thể là gì? Và làm sao để tìm ra điểm chung với họ? Một bài học quan trọng là, “khi chưa có dân chủ thì hãy quên đi những khác biệt.” Bạn phải tạo ra một liên minh rộng rãi, tạo ra sự thỏa hiệp và gắn bó với nhau cho đến khi có thể đạt được mục tiêu chiến lược và đối thủ của bạn bị loại khỏi vị trí quyền lực. Và nhóm cuối cùng là bên thứ ba. Bạn sẽ cần phải mở rộng mặt trận truyền thông của mình bằng cách nói chuyện với những đối tượng vốn không liên quan trực tiếp đến cuộc xung đột. Chúng ta gọi họ là “các bên thứ ba”. Họ là tất cả những ai ở vị trí trung lập, hoặc chưa có lập trường. Họ có thể đến từ các tổ chức phi chính phủ trong nước hoặc quốc tế đang hoạt động nhằm thúc đẩy nhân quyền, từ phương tiện truyền thông trong nước và nước ngoài, có khi từ cả những định chế quốc tế hùng mạnh, như cái thời cả thế giới đã giúp đỡ cuộc đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Bạn phải xác định, truyền thông, và lôi kéo các bên thứ ba để họ ủng hộ cho công cuộc tranh đấu và tầm nhìn của bạn. Khi xác định được các đối tượng là lúc bạn cần tập trung về vấn đề thông điệp. Nhưng thông điệp là gì? “Thông điệp là một tập hợp giới hạn bao gồm các thông tin trung thực được truyền tải đi một cách nhất quán bởi một ứng viên, đảng phái, hoặc một phong trào bất bạo động, nhằm đưa ra lý do thuyết phục đối tượng người nghe, để họ lựa chọn và hành động theo sự lựa chọn đó”. Bạn có thể nhận thấy rằng, bạn cần phải tìm kiếm nhiều thông điệp đa dạng để truyền tải tầm nhìn của mình. Bạn phải nắm chắc hai nguyên tắc vàng: thứ nhất, bám sát vào thông điệp của bạn và lặp đi lặp lại nó thường xuyên; thứ hai, không nói dối. Vì nếu bạn để cho việc truyền thông làm mất uy tín của bạn, thì chẳng còn gì hiệu quả nữa. Cuối cùng, một khi bạn đã nghiên cứu về đối tượng mục tiêu của mình và tìm ra được thông điệp để phát đi, thì tiếp theo bạn cần lựa chọn hình thức truyền tải thông điệp. Cũng giống như chúng tôi đã trình bày trong bài trước, bàn về các chiến thuật đấu tranh bất bạo động, bạn có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau. Bạn có thể thể hiện thông điệp của mình bằng graffiti, biển quảng cáo, áp phích, báo chí, internet, kể cả lan truyền dưới dạng tin đồn. Nhưng khi chọn hình thức truyền tải thông điệp, cần phải đảm bảo cho nó phù hợp với đối tượng mà bạn nhắm tới. Một số câu hỏi cần đặt ra khi lựa chọn hình thức truyền tải thông điệp là: Họ là ai? Họ là những người giống nhau hay đa dạng? Các chuẩn mực văn hóa của họ là gì? Đâu là các giá trị xã hội của họ? Ngôn ngữ họ sử dụng? Kỳ vọng của họ? Và khoảng cách giữa những kỳ vọng và cuộc sống thực tế của họ là bao nhiêu? Khi đã phân tích đối tượng mục tiêu, và xác lập các mục tiêu truyền thông, đồng thời xây dựng các thông điệp và lựa chọn cách thức truyền tải chúng, thì khi đó, bạn có thể sẵn sàng khởi động “bộ máy tuyên truyền” Nguồn: dịch từ tài liệu sưu tầm nc ngoài

5.66k views ·
Bài viết hay và chính xác , thế mới thấy hiếp pháp nước đông lào chỉ phục vụ mục đích của đảng chứ ko phải là tiếng nói toàn dân , gì cũng nói dân dân bầu ra quốc hội nhưng lại là đảng chỉ định, có mấy người trong quốc hội là ko phải đảng viên , đúng là cquyen xàm xí và láo toét

ĐỐT CỜ MỸ KHÔNG BỊ PHẠT VÌ MỸ LÀ MỘT QUỐC GIA TỰ DO. Bởi Thesaigonpost CHỈ CÓ CÁC QUỐC GIA THẬT SỰ TỰ DO MỚI CÓ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN THÔNG QUA VIỆC XÚC PHẠM MỘT LÁ CỜ. Đối với người Mỹ, quốc kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần. Quốc kỳ Hoa Kỳ trở thành biểu tượng của tự do, lá cờ đã nói lên sự hy sinh của biết bao thế hệ để giành lấy nền độc lập. Lá cờ đầu tiên của Hoa Kỳ gồm có 13 ngôi sao và 13 sọc tượng trưng cho 13 tiểu bang thuộc địa thời bấy giờ. Quốc kỳ Hoa Kỳ có hai phần. Một phần nhỏ ở góc trái trên cùng có hình ảnh của 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai. Ý nghĩa của ba màu xanh, trắng, đỏ trên lá cờ Hoa Kỳ vẫn không thay đổi cho đến hiện nay. Màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và nhiệt huyết, màu trắng nói lên niềm hy vọng trong sáng, nét tinh khiết của cuộc sống và tinh thần kỷ luật, trong khi màu xanh là hiện thân của màu sắc thiên đàng, biểu tượng của Thượng đế, lòng trung thành, niềm chân thành, công lý, và chân lý. Ngôi sao, theo như biểu tượng xa xưa trong văn hóa Ấn Ðộ, Ba Tư, và Ai Cập, tượng trưng cho chủ quyền. Trên lá cờ Hoa Kỳ, mỗi một ngôi sao tượng trưng cho chủ quyền của một tiểu bang, do đó ngày nay lá cờ Mỹ gồm có 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang, trong khi số sọc trên lá cờ vẫn được giữ ở con số 13, tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên của ngày lập quốc. Lễ chào cờ có ý nghĩa quan trọng cho mỗi công dân Hoa Kỳ vì nó nói lên lòng trung thành với tổ quốc. Có một chuyện xảy ra vào năm 1984 ở tiểu bang Texas ở miền Nam nước Mỹ. Một nam thanh niên tên là Gregory Lee “Joey” Johnson, thành viên của Đoàn Thanh niên Cộng sản Cách mạng, một tổ chức của Đảng Cộng sản Cách mạng Mỹ, đốt cờ Mỹ bên ngoài khu vực tổ chức đại hội của đảng Cộng hoà. Hành động của Johnson nằm trong một cuộc biểu tình phản đối các chính sách của đương kim Tổng thống Ronald Reagan. Không ai bị thương nhưng nhiều nhân chứng nói rằng họ cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Johnson sau đó bị bắt và bị toà án bang Taxas xử một năm tù giam cùng với một khoản tiền phạt 2.000 USD. Vụ án sau đó lần lượt được cả hai bên kháng cáo lên đến tận Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Tại toà, luật sư của Johnson lập luận rằng, việc đốt cờ là một hành vi ngôn luận có tính biểu tượng (symbolic speech) vốn được xem như là cách Johnson biểu đạt quan điểm chính trị của mình và do đó hành vi ngôn luận này phải được bảo vệ bởi Tu chính án thứ Nhất của Hiến pháp Mỹ. Bên cạnh đó, lá cờ bị đốt thuộc sở hữu của Johnson, anh ta có quyền dùng nó để biểu đạt quan điểm của mình bằng bất cứ cách nào, kể cả đốt. Chừng nào hành vi đốt cờ này không xâm phạm đến quyền lợi hay tài sản của người khác thì nó không thể bị coi là bất hợp pháp. Một chi tiết thú vị nữa là, phe Johnson cho rằng bản thân việc đốt cờ không những không xúc phạm lá cờ Mỹ, mà còn tôn vinh giá trị tự do mà lá cờ đó đại diện. Nếu đốt cờ mà không bị trừng phạt có nghĩa là lá cờ đó thực sự đại diện cho những giá trị tự do mà người Mỹ thường rao giảng. Kết quả, Johnson thắng khi năm trong số chín thẩm phán của Tối cao Pháp viện cho rằng luật cấm đốt cờ của tiểu bang Texas là vi phạm Hiến pháp Mỹ. Phán quyết ghi rõ quan điểm của phe đa số của Tối cao Pháp viện như sau: “Chính quyền không được cấm đoán việc bày tỏ quan điểm bằng lời nói hay không bằng lời nói chỉ vì xã hội cảm thấy bị xúc phạm và không thể chấp nhận được quan điểm đó, ngay cả khi việc này liên quan đến lá cờ của chúng ta”. Điều đó có nghĩa là, cho dù xã hội có cảm thấy bị xúc phạm đi chăng nữa thì hành vi đốt cờ cũng phải được coi làm một phần của quyền tự do ngôn luận. Các án lệ của Mỹ quy định rằng, để cấm đoán một hành vi ngôn luận nào đó thì hành vi đó phải có khả năng kích động bạo lực và gây tổn hại cho người khác, ví dụ hô “cháy” giữa một rạp hát đông người mặc dù không có đám cháy nào cả. Án lệ Texas v. Johnson cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Các bang ở Mỹ về sau đã bãi bỏ luật cấm xúc phạm quốc kỳ. Đồ lót cách điệu quốc kỳ Mỹ cũng được bày bán công khai trên trang thương mại điện tử lớn nhất thế giới Amazon. Trong khi đó ở Việt Nam điều 25 hiến pháp CHXHCNVN đã cho phép người dân có quyền tự do ngôn luận. Nhưng theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì: Người nào cố ý xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Điều luật này rõ ràng là vi hiến. Do Việt Nam không có một cơ quan bảo hiến nên điều luật này vẫn ngang nhiên tồn tại như một sự phỉ nhổ vào tính logic của những người làm luật Việt Nam. Nó tố cáo là "quốc hội" chỉ là một phường ăn hại, chẳng có một chút tư duy hợp lý khi luật cơ bản dành cho người dân(hiến pháp) lại đá nhau chan chát với luật do 96% đảng viên tạo ra. Trong khi một quốc gia dân tộc chỉ có một lá quốc kỳ mà thôi. Bởi cờ nước mang tính biểu tượng liên tục cho một quốc gia từ thời lập quốc theo sự biến thiên của lịch sử chứ không hề đại diện cho một triều đại. Nói rằng lá cờ đỏ sao vàng là "quốc kỳ" là một điều phi lý vì chế độ cộng sản mới chỉ có 73 năm trong khi nước Việt đã tồn tại hơn 2000 năm. Chính do nhận thức được điều này nên các nước như Nga, Đức và Bungari sau khi thoát họa cộng sản đều lấy lá cờ của chính thể trước đó làm quốc kỳ và bỏ biểu tượng do các đảng cộng sản nặn ra vào thùng rác. Quốc kỳ của Việt Nam chỉ có một. Đó chính là lá cờ do Quốc gia Việt Nam lấy làm biểu tượng và được hơn 90 nước dân chủ trên thế giới công nhận. Lá cờ đỏ sao vàng thật ra chỉ là đảng kỳ. Vì nó chỉ là lá cờ đại diện cho 4 triệu đảng viên. Bởi lẻ lá cờ này chưa hề được thông qua bởi một quốc hội đa đảng nên chỉ là ý chí của một đảng cầm quyền duy nhất được áp đặt lên dân tộc Việt Nam. Do vậy việc xịt sơn lên đảng kỳ của Huỳnh Thục Vy chỉ là một quyền tự do ngôn luận. Bất cứ người dân nào cũng có quyền xúc phạm lá cờ do một đảng chính trị tạo ra, bởi lẻ đảng phái chỉ là nhất thời dân tộc mới mãi mãi trường tồn. Việc làm của Huỳnh Thục Vy được điều 25 hiến pháp CHXHCNVN cho phép. Nhưng tiếc là Việt Nam chứ không phải Mỹ và do tư duy logic kém nên đã có đến 30 con khỉ khoác áo công an cho xe cày nát sân nhà của một phụ nữ nuôi con 22 tháng tuổi để làm một việc được gọi là : vi hiến. Nhưng suy cho cùng xứ rừng Việt Nam làm gì có hiến mà vi ? Dương Hoài Linh

242 views ·
những người ở vn bị chính quyền tra tấn hay đàn áp hay người thân bị giết bởi chính quyền có thể tham khảo điều luận này thử , kiện tụi nó khi tụi nó qua Mỹ thăm con cái, hay du lịch hay định cư sau khi đã không còn tại nhiệm ( kiện là phải có nhân chứng, vật chứng này nọ đàng hoàng nha, cphu mỹ ko quan tâm có bao nhiêu ng ký tên ủng hộ , chỉ cần nhân, vật chứng) ,chính phủ Mỹ sẽ làm chủ cho bạn và gia đình ban , du bạn ko là quốc tịch Mỹ đi chăng nữa

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHỞI KIỆN QUAN CHỨC VIỆT NAM Ở MỸ. Thực Hiện Bureau CTM Media - Âu Châu Năm 1999, khi đang viết khóa luận cao học luật tại Mỹ, giữa nhiều đề tài luật pháp lý thú, tôi lựa chọn nghiên cứu một đạo luật ít nhiều có thể giúp các nạn nhân Việt Nam bị nhà nước cộng sản vi phạm nhân quyền đòi công lý ở nước ngoài, đặc biệt là tại Mỹ. Đó là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài (Alien Tort Statute (28 U.S.C. § 1350), sau đây gọi tắt là “Luật ATS”). Khóa luận đó dài hơn 30 trang, nghiên cứu mọi khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của Luật ATS cùng án lệ được các tòa án Hoa Kỳ phát triển trên cơ sở luật này trong thế kỷ 20, kể từ án lệ Filartiga năm 1980 như sẽ trình bày dưới đây. Bản khóa luận, tiếc thay, đã mất vì nhân viên an ninh tịch thu năm 2009 khi tôi bị bắt giam và khám nhà. Sau năm 1999, đường hướng án lệ Mỹ về Luật ATS đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới mẻ, cũng như có nhiều vấn đề pháp lý mới phát sinh kể từ đầu thế kỷ 21. Do đó, gần đây, trước tình hình vi phạm nhân quyền ngày càng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng tra tấn và giết người phi pháp tại các đồn công an gia tăng trên khắp cả nước, tôi đã nghiên cứu lại Luật ATS và cập nhật thêm sự phát triển mới của các án lệ có liên quan. Tôi cũng thêm xác quyết rằng đây là công cụ pháp lý hữu hiệu giúp nạn nhân bị vi phạm nhân quyền đòi lại công lý cho mình và thân nhân. Bài viết này chỉ giới thiệu một cách vắn tắt nhất những khái niệm và vấn đề liên quan đến Luật ATS, hầu giúp những ai quan tâm có thể chuẩn bị một vụ kiện như vậy cho mình trong tương lai khi có cơ hội. Đạo luật cổ mang tinh thần mới Luật ATS là một luật liên bang được Quốc hội đầu tiên của Hoa Kỳ thông qua lần đầu vào năm 1789 và được Tổng thống George Washington ký ban hành thành luật, nhằm trao cho các tòa án liên bang Mỹ quyền xét xử những vụ kiện mà nguyên đơn là người không mang quốc tịch Mỹ đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của bất kỳ ai.[1] Nước Mỹ khi đó muốn chứng minh trước cộng đồng thế giới rằng tuy là một quốc gia mới xuất hiện nhưng họ là một nước trọng pháp trên phạm vi toàn cầu. Thế kỷ 18, lúc Luật ATS được ban hành, là giai đoạn sơ khai của luật quốc tế vốn chủ yếu quy định quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và chỉ đặt ngoài vòng pháp luật các tội phạm quốc tế như cướp biển mà thôi.[2] Tuy nhiên, luật quốc tế trong thế kỷ 20 và 21 đã hoàn toàn khác, phạm vi áp dụng của nó đã được mở rộng bao gồm cả việc bảo vệ nhân quyền.[3] Trong 70 năm kể từ ngày ký Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền vào năm 1948 đến nay, nhân quyền toàn cầu đã chuyển từ một ý niệm mang tính khích lệ thành một thực tiễn pháp lý. Quá trình phát triển đột phá này đã khiến cho Luật ATS trở nên quan trọng hơn vào cuối thế kỷ 20. Theo đó, những người sống sót sau những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng hoặc thân nhân của nạn nhân đã chết đều có quyền khởi kiện thủ phạm ra trước tòa án Mỹ. Từ năm 1980, Luật ATS đã được áp dụng thành công trong các vụ kiện có liên quan đến bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước, các vụ tra tấn hoặc giết người phi pháp, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh và giam giữ tùy tiện.[4] Bên cạnh Luật ATS còn có Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân bị Tra tấn (Torture Victim Protection Act), được thông qua vào năm 1991 và đã được Tổng thống George H. Will Bush ký ban hành thành luật vào năm 1992, trao các quyền tương tự cho công dân Hoa Kỳ và cả người ngoại quốc trong việc khởi kiện đòi bồi thường đối với các hành vi tra tấn và giết người phi pháp diễn ra ở nước ngoài.[5] Án lệ theo Luật ATS Án lệ Filartiga Vụ án đầu tiên được khởi kiện theo Luật ATS là vụ Filartiga v. Peña-Irala. Năm 1976, cha của một thanh niên từng bị tra tấn đến chết trong đồn cảnh sát ở Paraguay đã trông thấy một trong những kẻ tra tấn con trai ông đang đi bộ trên đường phố ở Manhattan, New York.[6] Người cha đã báo cảnh sát Mỹ bắt giữ tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay đó. Sau đó, người cha và em gái của nạn nhân liền khởi kiện anh ta theo Luật ATS. Năm 1980, một tòa án liên bang ở New York đã tuyên chấp thuận yêu cầu đòi bồi thường hàng triệu USD của họ, từ đó mở ra cơ hội cho những yêu cầu đòi bồi thường tương tự.[7] Kể từ án lệ Filartiga, hàng loạt các vụ kiện theo Luật ATS đã được khởi động chống lại các cá nhân thủ phạm bị phát hiện có mặt ở Hoa Kỳ. Mọi vụ kiện như vậy đều được tòa án Mỹ xét xử vì những người sống sót sau các vụ vi phạm nhân quyền và thân nhân của nạn nhân đã chết thường không còn cách nào đòi lại công lý ở chính quê hương mình. Tiêu chuẩn Sosa: Quan điểm của Tòa án Tối cao Đường hướng của án lệ Hoa Kỳ kể từ vụ Filartiga đã được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xác nhận. Trong phán quyết năm 2004 đối với vụ Sosa v Alvarez-Machain, Tòa tuyên rằng Luật ATS trao cho tòa án liên bang thẩm quyền đối với các đơn kiện dựa trên các tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế. Nói cách khác, Tòa án Tối cao đã bật đèn xanh cho việc sử dụng Luật ATS như một công cụ yêu cầu bồi thường đối với các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.[8] Trách nhiệm cá nhân đối với các vi phạm nhân quyền Tại các quốc gia thường xuyên có xung đột vũ trang hoặc bị cai trị bởi các chế độ độc tài toàn trị, việc miễn trách nhiệm đối với vi phạm nhân quyền hàng ngày có thể nói là một bất hạnh đối với người dân thấp cổ bé họng. Hệ thống tư pháp ở những nơi đó luôn thỏa hiệp hoặc bị giới cầm quyền tác động nhằm ngăn cản khởi tố hình sự những hành vi phạm tội như vậy, bởi trong hầu hết các trường hợp, thủ phạm vẫn đang đương chức. Một yếu tố khác có thể ngăn cản nạn nhân và thân nhân họ đòi bồi thường là thủ phạm có thể đã cao chạy xa bay khỏi đất nước đó. Hàng ngàn kẻ vi phạm nhân quyền như thế đã và đang trú ẩn an toàn tại Hoa Kỳ. Đối với những người tị nạn và người sống sót đang cố gắng xây dựng lại cuộc sống của mình tại Hoa Kỳ, họ có thể bị tổn thương sâu sắc khi tiếp tục nhìn thấy thủ phạm đang sống mà không bị trừng phạt. Do đó, Luật ATS cung cấp một công cụ vạch trần những kẻ vi phạm nhân quyền và không cho chúng sống an nhàn sau bao tội ác gây ra. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hành vi đồng lõa Bắt đầu vào giữa những năm 1990, một loạt các vụ kiện mới theo Luật ATS đã diễn ra nhằm mục đích buộc các tập đoàn đa quốc gia chịu trách nhiệm về hành vi đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền.[9] Mặc dù một bộ phận trong cộng đồng doanh nghiệp đã phản đối dữ dội và do đó dấy lên các chỉ trích nảy lửa về việc áp dụng Luật ATS, nhưng những nỗ lực để bãi bỏ hoặc làm suy yếu đạo luật này đã thất bại. Kể từ năm 2009, hai vụ kiện về trách nhiệm doanh nghiệp, Doe v. Unocal và Wiwa v. Shell, đã đóng vai trò quan trọng trong hệ thống án lệ, dẫn đến các thỏa thuận bồi thường khổng lồ cho những người sống sót và cộng đồng của họ.[10] Khởi kiện để làm gì? Cần lưu ý, các vụ kiện theo Luật ATS không tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự.[11] Do đó, bị đơn không nhất thiết phải bị giam cầm, trừ trường hợp cảnh sát hoặc tòa án phát hiện bị đơn đã thực hiện các hành vi khác vi phạm luật pháp Hoa Kỳ. Chẳng hạn, trong vụ Filartiga, tay cựu viên chức cảnh sát Paraguay bị bắt giữ vì visa nhập cảnh Mỹ quá hạn. Tố quyền theo Luật ATS được thực hiện nhằm mục đích khởi động các vụ kiện dân sự mà kết quả là một phán quyết buộc bồi thường thiệt hại bằng tiền cho nguyên đơn.[12] Tuy nhiên, những vụ kiện này luôn thể hiện tầm quan trọng vì nhiều lý do khác, như nêu dưới đây, chứ không đơn thuần vì khoản tiền bồi thường mà nguyên đơn đạt được. Sự thật lên tiếng Những vụ kiện này mang đến cho các nguyên đơn cơ hội kể câu chuyện của mình và câu chuyện của nạn nhân đã khuất trong các vụ vi phạm nhân quyền. Sự thật có dịp lên tiếng để toàn thế giới thấy rõ bộ mặt phi nhân của các chế độ độc tài. Chấm dứt bất công Nhiều người sống sót và thân nhân của nạn nhân đã chết muốn đòi lại công lý và không cho phép thủ phạm sống an nhiên không bị trừng phạt như ở quê nhà của họ. Do đó, các vụ kiện này có thể được sử dụng như phương tiện trừng phạt và vạch trần hành vi của kẻ thủ ác trước một tòa án và đưa ra các bằng chứng về hành vi vi phạm trong quá khứ vào hồ sơ lưu trữ công khai. Hơn nữa, một số vụ kiện theo Luật ATS còn khiến thủ phạm bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Đồng thời, sau khi bị trục xuất, bằng chứng tại phiên tòa có thể được dùng để truy theo kẻ thủ ác đến tận quê nhà của chúng trong tương lai nhằm hỗ trợ thủ tục truy tố và xét xử hình sự. Từ chối nơi trú ẩn an toàn Các vụ kiện theo Luật ATS gửi một thông điệp mạnh mẽ đến các viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, rằng không ai có quyền đứng trên pháp luật, bất kể đó là luật pháp nước của họ. Họ phải hiểu rằng Hoa Kỳ không bao giờ cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho những kẻ vi phạm nhân quyền trên toàn thế giới. Điều kiện để khởi kiện Bị đơn hay thủ phạm phải hiện diện tại Hoa Kỳ Để khởi kiện một cá nhân viên chức chính quyền nước ngoài và buộc cá nhân đó phải chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp về các vi phạm nhân quyền, cá nhân đó phải có thể đích thân tham gia vào vụ kiện lúc đang có mặt ở Hoa Kỳ. Nói cách khác, thủ phạm phải sống hoặc đang đến thăm Hoa Kỳ.[13] Viên chức vi phạm nhân quyền trong khi thi hành công vụ Để có thể khởi kiện theo Luật ATS, các vi phạm phải do viên chức chính quyền, bao gồm các sĩ quan quân đội và công an, thực hiện trong khi thi hành công vụ hay đang thực thi chức trách công quyền của họ.[14] Bị đơn doanh nghiệp Có thể kiện các doanh nghiệp đồng lõa trong các vụ vi phạm nhân quyền, miễn doanh nghiệp đó có địa chỉ liên lạc ở Hoa Kỳ và đã hành động hoặc phối hợp với một cơ quan nhà nước hoặc viên chức chính quyền có liên quan đến các vi phạm.[15] Nguyên thủ quốc gia và viên chức ngoại giao Theo luật pháp Hoa Kỳ, các nguyên thủ quốc gia đương nhiệm (bao gồm vua, tổng thống và thủ tướng), bộ trưởng ngoại giao hoặc viên chức chính quyền khác có thể yêu cầu hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và, do đó, trong nhiều trường hợp không phải chịu trách nhiệm tham gia các vụ kiện về vi phạm nhân quyền theo Luật ATS. [16] Tuy nhiên, một khi họ thôi chức, các nguyên thủ quốc gia và viên chức chính quyền khác sẽ trở thành đối tượng của các vụ kiện dân sự ngay cả đối với những vi phạm nhân quyền mà họ đã thực hiện trong khi đang tại chức.[17] Hành vi có thể bị kiện bao gồm tra tấn, giết người và vi phạm nhân quyền khác Theo Luật ATS, hành vi có thể bị kiện là mọi vi phạm nhân quyền. Điều thú vị ở đây là tố quyền theo Luật ATS cho phép người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện rộng rãi hơn một công dân Hoa Kỳ. Theo Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Tra tấn (TVPA), công dân Hoa Kỳ chỉ có thể khởi kiện hai loại vi phạm là tra tấn và giết người phi pháp thực hiện ở Mỹ hoặc ở nước ngoài.[18] Trong khi đó, người không phải công dân Hoa Kỳ lại có quyền khởi kiện theo Luật ATS đối với các hành vi vi phạm thuộc phạm vi rộng hơn, bao gồm tra tấn; giết người phi pháp; bắt cóc hoặc giam giữ bí mật; tội ác chống nhân loại; đối xử tàn bạo, phi nhân hoặc hạ nhục; giam giữ tùy tiện kéo dài; diệt chủng; tội ác chiến tranh; nô lệ; và bạo lực tình dục và hiếp dâm có sự tiếp tay của nhà nước.[19] — Người Việt đang sống trong một xã hội mà quyền làm người không được tôn trọng và thậm chí bị nhà cầm quyền vi phạm. Thân thể và tự do của con người có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền muốn. Môi trường sống bị đe dọa bởi các doanh nghiệp chỉ biết kiếm tiền bất chấp quyền được sinh sống một cách lành mạnh của dân cư xung quanh, do nhận được sự bảo trợ và tiếp tay từ các quan chức chính quyền hoặc, nghiêm trọng hơn, từ chính bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, khi quyền làm người bị xâm phạm, người Việt có thể đòi công lý ở các tòa án tại nước mình hay không? Câu trả lời đáng buồn là không. Nguyên nhân là vì hệ thống tư pháp quốc gia bị đảng cầm quyền thao túng, khiến nó không thể mang đến công lý cho đại đa số người Việt Nam một cách độc lập và sáng suốt. Nó được thiết lập để phục dịch công lý cho đảng cầm quyền, chứ không nhằm xiển dương công lý cho toàn xã hội. Đó là lý do vì sao cần đi tìm công lý ở nơi khác và bằng một công cụ pháp lý hữu hiệu. Với mục tiêu như vậy, bài viết này đã cố gắng giới thiệu sơ lược cho mọi người một công cụ pháp lý bảo vệ nhân quyền đáng tin cậy trước tòa án Mỹ, mà tôi tin chắc có thể giúp những ai không phải là công dân Mỹ chạm được vào cánh cửa công đường của vị Bao Công hiện đại, giữa tình cảnh cánh cửa công lý chật hẹp trên quê hương Việt Nam đã khép chặt từ lâu. Công cụ đó chính là Đạo luật Trách nhiệm Dân sự phạm của Người nước ngoài như được giới thiệu ở trên. Tài liệu tham khảo: [1] [19] Xem “The Alien Tort Statute Introduction” [2] [3] [8] [17] Xem Anthony J. Bellia Jr và Bradford R. Clark, “The Alien Tort Statute and the Law of Nations” (2011), The University of Chicago Law Review, Volume 78, Issue 2. [4] [11] [12] [13] [14] Xem “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”. [5] [6] [10] [16] [18] Xem Beth Stephens, “The Curious History of the Alien Tort Statute” (2014), Notre Dame Law Review, Volume 89, Issue 4. [7] [9] Xem “A Split On Companies’ Liability For Human Rights Crimes”. [15] Xem “Supreme Court Widens Scope Of Case On Corporate Accountability For Human Rights”, và “Alien Tort Statute Returns To Supreme Court”.

208 views ·
close
Speak freely and earn crypto.