TUYÊN BỐ CỦA NHÓM “LÃO MÀ CHƯA AN” VỀ PHÊ CHUẨN BA CÔNG ƯỚC CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ (ILO) Việt Nam là thành viên của ILO từ lâu và đã phê chuẩn năm trong tám công ước cơ bản của ILO (số 29; số 138; số 182; số 100; và số 111). Ba công ước cơ bản chưa được Việt Nam phê chuẩn là công ước số 87 về quyền tự do liên kết và bảo vệ quyền được tổ chức, công ước số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể, và công ước số 105 về xoá bỏ lao động cưỡng bức. Cả Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) lẫn Hiệp định Tự do thương mại Việt Nam EU (EVFTA) đều yêu cầu Việt Nam phê chuẩn ba công ước cơ bản còn lại của ILO. Giả như còn TPP thì có thể ba công ước này đã được phê chuẩn. Việc tham gia CPTPP và EVFTA là rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam và chúng tôi ủng hộ việc đó. CPTPP đã được ký tháng 3-2018 và đang trong quá trình phê chuẩn. Việt Nam và EU đã thống nhất toàn bộ văn bản của EVFTA và EVFTA dự kiến được ký vào tháng 10-2018. Do phần đầu tư phải được quốc hội của tất cả các nước EU chuẩn y, nên phần này đã được tách riêng thành Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA); như thế EVFTA chỉ cần Quốc hội EU và Quốc hội Việt Nam chuẩn y là xong. Tuy nhiên, phiên họp cuối cùng vào tháng 3-2019 của Quốc hội EU là phiên chót mà EVFTA có thể được chuẩn y (nếu được ký và được trình), ngoài phiên này ra không còn cơ hội nào cho EVFTA trong năm 2019 (do có bầu cử Quốc hội EU vào tháng 5-2019) và sau 2019 thì tương lai EVFTA có thể mờ mịt hơn nhất là trong bối cảnh vụ Trịnh Xuân Thanh có thể gây bất lợi quan hệ Việt Nam – Đức và Việt Nam – EU. Như thế cơ hội cho EVFTA không thật sáng sủa như báo chí chính thống đưa tin. Chúng tôi yêu cầu Quốc hội Việt Nam phê chuẩn ba công ước cơ bản của ILO nói trên càng sớm càng tốt (tốt nhất vào kỳ họp tháng 10-2018) và thực hiện nghiêm túc chúng nếu không muốn lỡ hẹn EVFTA như Việt Nam đã từng bị trễ việc ký kết BTA với Mỹ và việc gia nhập WTO do ảnh hưởng của những người thân Trung Quốc. boxitvn
4Upvotes

More from VuAnhKhoaMusic

AI CHO DÂN LƯƠNG THIỆN ? FB Thái Bá Tân 1 Sau khi bị Bá Kiến Tống vào tù bảy năm, Trở về làng Vũ Đại, Trong lòng đầy hờn căm, Chí Phèo thường uống rượu, Mỗi lần hắn uống say Lại đến nhà Bá Kiên, Kẻ hại mình trước đây. Ném cho vài đồng lẻ, Bá Kiến khuyên Chí Phèo Hãy cố sống lương thiện Và cam chịu cảnh nghèo. Chí Phèo đáp: “Muốn lắm. Nhưng ‘chúng nó’ không cho. ‘Chúng nó’ chặn đường sống, Dù bữa đói bữa no”. ‘Chúng nó’ là Bá Kiến Và chức sắc trong làng. Chúng đã đẩy anh Chí Vào khốn cùng, lang thang. “Ai cho tao lương thiện. Sống có lý, có tình?” Chí Phèo đâm Bá Kiến Rồi đâm chết chính mình. * Các cụ xưa đã dạy: Đáng sợ hơn anh hùng Là những kẻ khốn khổ Bị dồn vào đường cùng. 2 Gần đây, bị cướp đất, Đặng Văn Hiến hận đời, Đã dùng súng hoa cải Bắn chết những ba người. Sau đấy còn bắn tiếp. Mười hai người bị thương. Vì bị triệt đường sống, Bị dồn vào chân tường. Đó là chuyện mới nhất Xẩy ra ở Đắc Nông. Trước đấy, như ta biết, Là anh Vươn, Hải Phòng. Rồi anh Đặng Ngọc Viết Ở thành phố Thái Bình. Nhằm bắn năm cán bộ Gây oan sai cho mình. Tất cả đều do đất, Do bị dồn cùng đường. Người dân phải cầm súng, Và hậu quả đáng thương. Họ, dân bị cướp đất Ăn bữa đói bữa no, Rất muốn sống lương thiện, Nhưng chính quyền không cho. Các dân oan Dương Nội Không rỗi hơi đấu tranh, Nếu không bị cướp đất Và được sống yên lành. Không ai thích tù tội, Cả chị Cấn Thị Thêu, Nếu chính quyền tử tế Và cư xử biết điều. Càng không ai dùng súng Bắn vào người chính quyền. Dân bị chèn ép mãi, Sớm muộn cũng vùng lên.

MỘT NGHỊ ĐỊNH, 60 TRIỆU NÔNG DÂN FB Mai Quốc Ấn Nghị định 109/2010 về xuất khẩu lúa gạo đã được áp dụng 8 năm nay nhưng 60 triệu nông dân lẫn hàng nghìn doanh nghiệp lúa gạo (không phải sân sau) đều than trời. Để trở thành nhà xuất khẩu gạo đáp ứng nghị định 109, trước hết, doanh nghiệp có ít nhất 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc; có ít nhất 1 cơ sở xay, xát thóc, gạo công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ; phải xuất khẩu gạo trong thời gian 12 tháng liên tục… Thật phí lý bởi đầu tư một hạ tầng cơ sở sản xuất lớn đến như vậy rất tốn kém, hoang phí trong khi kinh tế chia sẻ hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu bằng việc thuê hoặc liên kết hạ tầng sản xuất. Cứ cho là có tiền xây kho, đầu tư nơi xay xát thóc gạo nhưng do là doanh nghiệp mới nên không có “lịch sử xuất khẩu” 12 tháng như nói trên nên doanh nghiệp… bó tay. Kể cả khi đã có giấy phép, mỗi khi ký được hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp buộc phải đăng ký với Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) trong vòng 3 ngày làm việc. Nghĩa là, doanh nghiệp phải nộp bản sao hợp đồng, trong đó có giá xuất khẩu, báo cáo về lượng thóc, gạo sẵn có của doanh nghiệp. Điều này là “vẽ rắn thêm chân” bởi doanh nghiệp lúa gạo trong nước sẽ không điên khi đặt bút ký hợp đồng với đối tác nước ngoài nếu không đáp ứng nổi. Một trong những doanh nghiệp làm gạo xuất nhập khẩu đầu tiên tại Việt Nam (xin giấu tên) chia sẻ thế này: “Thị trường gạo xuất khẩu do Nhà nước bảo hộ đầu ra ở một số quốc gia truyền thống nhập gạo (ví dụ như Philippin) khiến doanh nghiệp gặp khó. Chúng tôi có thể bán gạo xá theo bao tải, gạo đã xử lý đóng bao bì cỡ nhỏ, các phụ phẩm của gạo. Nghĩa là chuỗi giá trị xuất khẩu sẽ cao hơn, giá bán xuất khẩu cũng cao hơn so với chỉ bán gạo xá như hiện nay.” Gạo xá Việt Nam được bán xong, ngoài tích trữ kiểu an ninh lương thực, một lượng lớn sẽ được chế biến ra gạo thành phẩm tại quốc gia mua. Quy trình gia công ấy tạo việc làm cho quốc gia nhập khẩu, đóng thuế cho chính phủ nước đó thay vì là các doanh nghiệp gia công trong nước. Quá trình này có trước dù nghị định 109 ra đời khi ông Vũ Huy Hoàng còn làm Bộ trưởng Công thương. Nói có trước vì chính 2 tổng công ty lương thực đặt trụ sở tại Hà Nội và Tp.HCM đã đảm nhiệm xuất khẩu gạo “kiểu bao cấp” từ đầu những năm 2000. Tôi hỏi doanh nghiệp: “Sao Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) không ý kiến?”. Họ trả lời xong tôi chỉ biết thở dài vì những cái tên “con anh Sáu, cháu chú Ba, người nhà cô Tám”. “Đáp ứng” các điều kiện như vậy chỉ có các doanh nghiệp “em cháu” có máu mặt, có “quan hệ lịch sử”. Đã có doanh nghiệp nhỏ tức giận nói xẵng: “Anh cứ hỏi bên an ninh xem có sân sau, có cổ phần trong vận chuyển, chế biến gạo hay không? Việc thao túng chính sách hay không bắt đầu từ điểm này.” VFA với 2 trụ cột là Vinafood 1, Vinafood 2 đã làm gì để xứng với vai trò của mình trong khi Việt Nam chịu sức ép rất lớn của Campuchia, Thái Lan về xuất khẩu gạo? Kết quả báo cáo Kết thúc niên độ 2016 có ghi: “Xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm 24,8% về khối lượng, 21,2% về giá trị so với năm 2015 và là mức giảm kỷ lục trong vòng 10 năm qua”. việc khống chế giá thu mua gạo trong nước, “khống chế quota” xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ qua các hợp đồng ủy thác có thể gọi là giấy phép con trong… giấy phép con. Khống chế giá thu mua thì nông dân chịu thiệt. Một nông dân trồng lúa làm gạo xuất khẩu lâu năm tổng kết vầy cho dễ hiểu: “Họ ăn trên xương máu nông dân. Một ha lúa làm với thời tiết lý tưởng, không sâu bệnh, không thiên tai, không tính công của chủ ruộng thì một vụ lời 20 triệu là siêu giỏi. Chỉ cần có một biến cố nhỏ, nông dân tay trắng và gán ruộng cầm cố cho các doanh nghiệp phân bón, giống cây là thường xuyên.” (Tôi sẽ viết về mafia ngành phân bón trong bài khác.) Nghị định 109 đã từng được sửa đổi và vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng tăng cơ hội xuất khẩu gạo, tăng giá trị hợp đồng xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp… không phải sân sau. Nghị định này cần tiếp tục được sửa đổi để bãi bỏ các “điều kiện tai quái” nói trên. Chính phủ muốn tăng xuất khẩu thành phẩm thay vì chỉ là sản phẩm thô, đó là chủ trương chung. Và chủ trương này chỉ có ích khi người nông dân- nhà sản xuất tạo ra thặng dư, và nhà kinh doanh chế biến, xuất khẩu hiệu quả được đặt ở vị trí trung tâm chuỗi giá trị ở lĩnh vực lương thực. Không biết các bộ phận tham mưu của Chính phủ nói chung và Bộ Công thương nói riêng sẽ nghĩ gì về việc rhay đổi này. Những nỗ lực mang tính minh bạch đã được doanh nghiệp tỏ bày nhiều lần song cách làm hội thảo chung chung nên các ý kiến cũng loãng đi. Nếu các chính khách chịu nghe theo từng lĩnh vực quản lý thì chỉ riêng việc nghe thôi cũng khiến các đại diện “sân sau” có mặt trong hội thảo phải đổ mồ hôi hột trong phòng máy lạnh. Một nghị định bất hợp lý như nghị định 109 với một bên là các lợi ích “gốc to” và một bên là doanh nghiệp xuất khẩu gạo làm thật cudng 60 triệu nông dân lam lũ, chọn bên nào là việc của Bộ trưởng Bộ công thương và Thủ tướng. Ý nghĩa kiến tạo hay không phải nhìn vào thực chất của cuộc “tiêu diệt giấy phép con” mà các nhiệm kỳ trước sinh ra. P/s: Tôi viết “các nhiệm kỳ trước” vì mục đích lập ra các Tổng công ty lương thực của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt ở giai đoạn hội hập là đúng đắn. Nhưng nó đã lỗi thời khi nghị định 109 ra đời và nay vẫn còn lỗi thời hơn nữa. Chú thích: Nông dân- người sản xuất và tạo thặng dư cho lúa gạo- lại là người hưởng lợi ích ít nhất trong chuỗi giá trị xuất khẩu lúa gạo. Nghịch lý của một quốc gia nông nghiệp với nền kinh tế “có đuôi”.

52 views ·

More from VuAnhKhoaMusic

AI CHO DÂN LƯƠNG THIỆN ? FB Thái Bá Tân 1 Sau khi bị Bá Kiến Tống vào tù bảy năm, Trở về làng Vũ Đại, Trong lòng đầy hờn căm, Chí Phèo thường uống rượu, Mỗi lần hắn uống say Lại đến nhà Bá Kiên, Kẻ hại mình trước đây. Ném cho vài đồng lẻ, Bá Kiến khuyên Chí Phèo Hãy cố sống lương thiện Và cam chịu cảnh nghèo. Chí Phèo đáp: “Muốn lắm. Nhưng ‘chúng nó’ không cho. ‘Chúng nó’ chặn đường sống, Dù bữa đói bữa no”. ‘Chúng nó’ là Bá Kiến Và chức sắc trong làng. Chúng đã đẩy anh Chí Vào khốn cùng, lang thang. “Ai cho tao lương thiện. Sống có lý, có tình?” Chí Phèo đâm Bá Kiến Rồi đâm chết chính mình. * Các cụ xưa đã dạy: Đáng sợ hơn anh hùng Là những kẻ khốn khổ Bị dồn vào đường cùng. 2 Gần đây, bị cướp đất, Đặng Văn Hiến hận đời, Đã dùng súng hoa cải Bắn chết những ba người. Sau đấy còn bắn tiếp. Mười hai người bị thương. Vì bị triệt đường sống, Bị dồn vào chân tường. Đó là chuyện mới nhất Xẩy ra ở Đắc Nông. Trước đấy, như ta biết, Là anh Vươn, Hải Phòng. Rồi anh Đặng Ngọc Viết Ở thành phố Thái Bình. Nhằm bắn năm cán bộ Gây oan sai cho mình. Tất cả đều do đất, Do bị dồn cùng đường. Người dân phải cầm súng, Và hậu quả đáng thương. Họ, dân bị cướp đất Ăn bữa đói bữa no, Rất muốn sống lương thiện, Nhưng chính quyền không cho. Các dân oan Dương Nội Không rỗi hơi đấu tranh, Nếu không bị cướp đất Và được sống yên lành. Không ai thích tù tội, Cả chị Cấn Thị Thêu, Nếu chính quyền tử tế Và cư xử biết điều. Càng không ai dùng súng Bắn vào người chính quyền. Dân bị chèn ép mãi, Sớm muộn cũng vùng lên.

MỘT NGHỊ ĐỊNH, 60 TRIỆU NÔNG DÂN FB Mai Quốc Ấn Nghị định 109/2010 về xuất khẩu lúa gạo đã được áp dụng 8 năm nay nhưng 60 triệu nông dân lẫn hàng nghìn doanh nghiệp lúa gạo (không phải sân sau) đều than trời. Để trở thành nhà xuất khẩu gạo đáp ứng nghị định 109, trước hết, doanh nghiệp có ít nhất 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc; có ít nhất 1 cơ sở xay, xát thóc, gạo công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ; phải xuất khẩu gạo trong thời gian 12 tháng liên tục… Thật phí lý bởi đầu tư một hạ tầng cơ sở sản xuất lớn đến như vậy rất tốn kém, hoang phí trong khi kinh tế chia sẻ hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu bằng việc thuê hoặc liên kết hạ tầng sản xuất. Cứ cho là có tiền xây kho, đầu tư nơi xay xát thóc gạo nhưng do là doanh nghiệp mới nên không có “lịch sử xuất khẩu” 12 tháng như nói trên nên doanh nghiệp… bó tay. Kể cả khi đã có giấy phép, mỗi khi ký được hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp buộc phải đăng ký với Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) trong vòng 3 ngày làm việc. Nghĩa là, doanh nghiệp phải nộp bản sao hợp đồng, trong đó có giá xuất khẩu, báo cáo về lượng thóc, gạo sẵn có của doanh nghiệp. Điều này là “vẽ rắn thêm chân” bởi doanh nghiệp lúa gạo trong nước sẽ không điên khi đặt bút ký hợp đồng với đối tác nước ngoài nếu không đáp ứng nổi. Một trong những doanh nghiệp làm gạo xuất nhập khẩu đầu tiên tại Việt Nam (xin giấu tên) chia sẻ thế này: “Thị trường gạo xuất khẩu do Nhà nước bảo hộ đầu ra ở một số quốc gia truyền thống nhập gạo (ví dụ như Philippin) khiến doanh nghiệp gặp khó. Chúng tôi có thể bán gạo xá theo bao tải, gạo đã xử lý đóng bao bì cỡ nhỏ, các phụ phẩm của gạo. Nghĩa là chuỗi giá trị xuất khẩu sẽ cao hơn, giá bán xuất khẩu cũng cao hơn so với chỉ bán gạo xá như hiện nay.” Gạo xá Việt Nam được bán xong, ngoài tích trữ kiểu an ninh lương thực, một lượng lớn sẽ được chế biến ra gạo thành phẩm tại quốc gia mua. Quy trình gia công ấy tạo việc làm cho quốc gia nhập khẩu, đóng thuế cho chính phủ nước đó thay vì là các doanh nghiệp gia công trong nước. Quá trình này có trước dù nghị định 109 ra đời khi ông Vũ Huy Hoàng còn làm Bộ trưởng Công thương. Nói có trước vì chính 2 tổng công ty lương thực đặt trụ sở tại Hà Nội và Tp.HCM đã đảm nhiệm xuất khẩu gạo “kiểu bao cấp” từ đầu những năm 2000. Tôi hỏi doanh nghiệp: “Sao Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) không ý kiến?”. Họ trả lời xong tôi chỉ biết thở dài vì những cái tên “con anh Sáu, cháu chú Ba, người nhà cô Tám”. “Đáp ứng” các điều kiện như vậy chỉ có các doanh nghiệp “em cháu” có máu mặt, có “quan hệ lịch sử”. Đã có doanh nghiệp nhỏ tức giận nói xẵng: “Anh cứ hỏi bên an ninh xem có sân sau, có cổ phần trong vận chuyển, chế biến gạo hay không? Việc thao túng chính sách hay không bắt đầu từ điểm này.” VFA với 2 trụ cột là Vinafood 1, Vinafood 2 đã làm gì để xứng với vai trò của mình trong khi Việt Nam chịu sức ép rất lớn của Campuchia, Thái Lan về xuất khẩu gạo? Kết quả báo cáo Kết thúc niên độ 2016 có ghi: “Xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm 24,8% về khối lượng, 21,2% về giá trị so với năm 2015 và là mức giảm kỷ lục trong vòng 10 năm qua”. việc khống chế giá thu mua gạo trong nước, “khống chế quota” xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ qua các hợp đồng ủy thác có thể gọi là giấy phép con trong… giấy phép con. Khống chế giá thu mua thì nông dân chịu thiệt. Một nông dân trồng lúa làm gạo xuất khẩu lâu năm tổng kết vầy cho dễ hiểu: “Họ ăn trên xương máu nông dân. Một ha lúa làm với thời tiết lý tưởng, không sâu bệnh, không thiên tai, không tính công của chủ ruộng thì một vụ lời 20 triệu là siêu giỏi. Chỉ cần có một biến cố nhỏ, nông dân tay trắng và gán ruộng cầm cố cho các doanh nghiệp phân bón, giống cây là thường xuyên.” (Tôi sẽ viết về mafia ngành phân bón trong bài khác.) Nghị định 109 đã từng được sửa đổi và vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng tăng cơ hội xuất khẩu gạo, tăng giá trị hợp đồng xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp… không phải sân sau. Nghị định này cần tiếp tục được sửa đổi để bãi bỏ các “điều kiện tai quái” nói trên. Chính phủ muốn tăng xuất khẩu thành phẩm thay vì chỉ là sản phẩm thô, đó là chủ trương chung. Và chủ trương này chỉ có ích khi người nông dân- nhà sản xuất tạo ra thặng dư, và nhà kinh doanh chế biến, xuất khẩu hiệu quả được đặt ở vị trí trung tâm chuỗi giá trị ở lĩnh vực lương thực. Không biết các bộ phận tham mưu của Chính phủ nói chung và Bộ Công thương nói riêng sẽ nghĩ gì về việc rhay đổi này. Những nỗ lực mang tính minh bạch đã được doanh nghiệp tỏ bày nhiều lần song cách làm hội thảo chung chung nên các ý kiến cũng loãng đi. Nếu các chính khách chịu nghe theo từng lĩnh vực quản lý thì chỉ riêng việc nghe thôi cũng khiến các đại diện “sân sau” có mặt trong hội thảo phải đổ mồ hôi hột trong phòng máy lạnh. Một nghị định bất hợp lý như nghị định 109 với một bên là các lợi ích “gốc to” và một bên là doanh nghiệp xuất khẩu gạo làm thật cudng 60 triệu nông dân lam lũ, chọn bên nào là việc của Bộ trưởng Bộ công thương và Thủ tướng. Ý nghĩa kiến tạo hay không phải nhìn vào thực chất của cuộc “tiêu diệt giấy phép con” mà các nhiệm kỳ trước sinh ra. P/s: Tôi viết “các nhiệm kỳ trước” vì mục đích lập ra các Tổng công ty lương thực của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt ở giai đoạn hội hập là đúng đắn. Nhưng nó đã lỗi thời khi nghị định 109 ra đời và nay vẫn còn lỗi thời hơn nữa. Chú thích: Nông dân- người sản xuất và tạo thặng dư cho lúa gạo- lại là người hưởng lợi ích ít nhất trong chuỗi giá trị xuất khẩu lúa gạo. Nghịch lý của một quốc gia nông nghiệp với nền kinh tế “có đuôi”.

52 views ·