Nghệ Sĩ Lộc Vàng Và Toán Xồm, Một Thời Đã Xa, Hà Nội Năm 1971 - Chánh án : Anh có nhận là đã đánh nhạc của Tư sản, là đồi truỵ không ? - Toán Xồm : Dạ! Thưa quý toà, con chỉ đánh những gì in trên đĩa của Liên Sô, của Tiệp Khắc, của Cộng Hoà Dân Chủ Đức thôi ạ ! - Chánh án : Anh nói láo ! Thế Paloma, Santa Lucia là của ai ? - Toán Xồm : Dạ ! Paloma là của nước bạn Cuba ạ ! Còn Santa Lucia là dân ca Ý ạ ! Nhà xuất bản của nhà nước đã in và sân khấu nhà nước đã có nhiều ca sỹ biểu diễn ạ ! - Chánh án : Vậy anh có biết Cha Cha Cha là cái gì không ? - Toán Xồm : Dạ ! Có ạ ! Đây là một nhịp điệu xuất xứ cũng tại nước bạn Cuba ạ ! - Chánh án : Thế còn Tango bleu chắc anh cũng đổ cho Cuba hết hả ? - Toán Xồm : Dạ không ! Tango là một điệu nhảy ác-giăng-tin ( Argentina 🇦🇷 ) nhưng đã được quốc tế hoá, vừa rồi đoàn xiếc Tiệp Khắc sang ta và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa đều xử dụng cả ạ ! - Chánh án : Nhưng người ta đánh khác, còn anh đánh khác ! Đừng có ngụy biện ! - Toán Xồm : Dạ ! Đánh y hệt ạ ! Chỉ có thua họ về nhạc cụ họ tốt hơn, chứ nếu chúng con có đầy đủ nhạc cụ như họ thì chúng con chẳng thua gì họ cả ạ ! - Chánh án : Anh hãy im miệng ! Đồ ngoan cố ! ●La Dolce Vita ================= Bổ xung thêm chi tiết rất quan trọng có thể là nguyên nhân chủ yếu khiến 2 bác Lộc Vàng và Toán Xồm bị tù 10 năm. Chi tiết này bác Lộc đã kể cho tôi nghe khi tôi còn đang học Nhạc Viện Hà Nội hồi năm 1994 hay 1995 khi tôi chơi cùng nhóm nhạc với bác. -Chánh Án : Mầu xanh mầu đỏ là mầu của dâm ô trụy lạc, mầu vàng là mầu của hủy hoại bệnh tật. Vậy cớ sao các anh lại hát nhạc Vàng ? -Lộc Vàng : Thưa chánh án ! Ông bảo màu xanh màu đỏ là mầu của dâm ô trụy lạc, màu vàng là màu của hủy hoại bệnh tật như vậy ông đang lăng mạ tổ Quốc Việt Nam với quốc kỳ là màu đỏ sao vàng ? -Chánh án : Anh đừng có xảo biện ! ● Lê Quang Trung =================== Thập niên 60 – 70, khi những ban nhạc trẻ Sài Gòn đang làm mưa làm gió ở những Đại Hội Nhạc Trẻ Lasan Tarberd, Thảo Cầm Viên… thì ở Hà Nội một vụ án liên quan đến âm nhạc được xem là “nghiêm trọng ” thời ấy khiến 2 người đàn ông chịu mức án một người 10 năm, người kia 15 năm tù. Một người còn sống, một người đã chết ngoài đường phố sau khi mãn hạn tù đày. Vụ án “Toán Xồm – Lộc Vàng” những người “dám hát nhạc vàng” vụ án “văn nghệ đồi trụy” do Toán Xồm (Phan Thắng Toán) “chủ mưu” với đồng phạm là một số nghệ sĩ tài tử khác. Vụ án được đem ra xử vào tháng 1 năm 1971. Đây là một vụ án “đặc biệt nghiêm trọng” về văn nghệ, lần đầu tiên được đưa ra xét xử công khai tại Hà Nội. Các bị cáo của vụ án bị cáo buộc đã tụ tập “thành một ban nhạc nghiệp dư tụ tập chơi nhạc vàng. Khi đi biểu diễn nhạc kiếm tiền ở những đám cưới, các cuộc liên hoan, chúng tìm cách đánh xen kẽ những bản nhạc vàng để truyền bá và thăm dò thị hiếu của lứa tuổi thanh niên. Chúng phân chia nhau đi tìm mua đĩa hát loại nhạc vàng lọt vào được, đi sưu tầm các bài hát và nhạc vàng cổ, ghi chép các bản nhạc giật, nhạc tâm lý chiến của đài Mỹ và đài Sài-gòn. Chúng dùng các bản nhạc này để luyện cho nhau những giọng hát, tiếng đàn thật là bi quan, sầu thảm, lả lướt, lãng mạn để đi truyền bá lôi, kéo thanh niên…” (trích bài báo “Phan Thắng Toán và đồng bọn đã bị xét xử”, báo Hà Nội Mới, ngày 12/1/1971). ===================== Hình ca sĩ Lộc Vàng châm thuốc lá cho Toán Xồm, đôi bạn tri kỷ và cùng cảnh ngộ tù đày. Vài ngày sau khi có bức ảnh này, đêm 30 tháng Tư năm 1994, Toán Xồm, cây Guitare Dance nổi tiếng Hà Nội qua đời vì thời cuộc trên vỉa hè Tô Hiến Thành, Hà Nội. Toán Xồm gục chết bên ngoài căn biệt thự nhà mình (đã bị cướp mất). Ảnh: Nguyễn Đình Toán. Fb Quan Nguyen Thanh

thumb_up12thumb_downchat_bubble

More from Gaichongcongsan

KÝ ỨC HÃI HÙNG NĂM 1953 Mùa hè năm 1953, đêm đêm chúng tôi nằm thao thức nghe trong mịt mùng những thôn xóm tối tăm tiếng loa âm u hờ gọi nông dân vùng lên đánh đổ “kẻ thù giai cấp”. Từ sáng sớm tinh mơ, hàng đoàn người rầm rập trên các nẻo đường làng còn tối đất, khản tiếng hô vang những khẩu hiệu có mùi máu. Dân chúng ùn ùn đổ về những sân đình, những bãi rộng, nơi sẽ diễn ra những cuộc đấu tố “bọn địa chủ cường hào gian ác”. Điều làm tôi sửng sốt là những cán bộ kháng chiến trong chính quyền xã bị thẳng cánh gạt ra ngoài lề cuộc đấu tranh. Mà tôi biết rõ họ. Mới hôm trước còn là những người lãnh đạo đầy uy tín ở địa phương, bất thình lình họ không còn được tin cậy nữa, bị tước bỏ mọi quyền hành. Tại sao lại như thế? Tôi hỏi một cán bộ trong đội giảm tô giảm tức và được anh ta giải thích: Đảng bảo phải cảnh giác trước các loại kẻ thù giai cấp. Chúng biết chúng yếu, chúng không thể ra mặt chống phá cách mạng, nên đã tìm đủ mọi cách chui vào trong các tổ chức của ta, nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Hiện nay không thể biết trong các cơ quan Đảng và chính quyền ai là địch, ai là ta, nếu không kiên quyết gạt những người cũ ra thì nông dân được Đảng phát động vẫn bị kẻ thù giấu mặt khống chế, họ sẽ không dám vùng lên giành lấy địa vị lãnh đạo. Đó là quan điểm chính thống được phổ biến đến tận mỗi đảng viên trước khi thực hiện giảm tô giảm tức. Và họ tin theo lời Đảng dạy: ta chỉ có thể trông cậy vào những nông dân bần cùng, bị địa chủ bóc lột đến xương tủy, chỉ có họ mới là chỗ dựa vững chắc và lâu dài của Đảng. Cứ như thể sự nghèo khổ, tự bản thân nó, đã là một phẩm chất cách mạng. Vào thời kỳ ấy tôi, và thế hệ tôi, không hiểu rằng cải cách ruộng đất chỉ là cái vỏ ngoài cho một mưu đồ chính trị. Tất cả những khẩu hiệu ca ngợi nông dân: “nông dân là quân chủ lực”, “giải phóng nông dân”, “tiêu diệt cường hào ác bá, đánh đổ địa chủ, phú nông”; “ruộng đất về tay dân cày”, “nông dân vùng lên giành lấy chính quyền”…, chỉ nhằm để củng cố vị trí cai trị đất nước của Đảng. Đảng cần tiêu diệt những người đi tiên phong trong cuộc kháng chiến chống Pháp là những người mang trong đầu tư tưởng bình đẳng được đề cao trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, vì thế họ không phải, và không thể, là những thần dân ngoan ngoãn. Cái mà Đảng cần là một lớp tay sai tuyệt đối trung thành, gọi dạ bảo vâng. Cái gọi là cải cách ruộng đất hoàn toàn không có mục tiêu cải cách ruộng đất. Không có, và không hề có, một cuộc điều tra nào về tình hình phân bổ ruộng đất trong xã hội, là điều tất yếu phải làm trước khi tiến hành cải cách ruộng đất. Hơn nữa, mâu thuẫn ruộng đất hoàn toàn không phải là vấn đề nóng bỏng ở vùng giải phóng (vùng chính quyền kháng chiến) trong giai đoạn cả nước cần tập trung tinh thần và sức lực vào mục tiêu giành độc lập. Đấu tố diễn ra liên miên, ngày một khốc liệt. Người dân cày dung dị hôm trước, được Đảng phóng tay phát động, vụt trở thành hung tợn, mặt bừng bừng khoái trá trong niềm vui hành hạ đồng loại. Tôi kinh hoàng nhìn cảnh tượng không hiểu nổi: nườm nượp lướt qua mắt tôi từng bày đàn người bị kích thích bởi mùi máu, hăm hở đi dưới lá cờ đỏ sao vàng không phải để chiến đấu với quân xâm lược mà với chính đồng bào mình. Tại xã Ngô Xá, làng Ngò, Thanh Hóa, nơi có dinh cơ gia đình cụ cử Nguyễn Thượng Hiền , người ta trói chặt hai tay rồi dong mẹ một người bạn tôi đi khắp làng chỉ vì bà trót dại nói điều gì đó mất lập trường hoặc không vừa lòng cán bộ giảm tô giảm tức. Tôi biết rõ bà là ai. Khi chiến tranh vừa bùng nổ bà là hội trưởng hay hội phó Hội Liên hiệp Phụ nữ Thái Bình. Mất đất, bà mang con cái chạy vào Thanh Hóa theo chính phủ kháng chiến, làm nghề hàng xáo, buôn thúng bán mẹt. Chúng tôi nghe tiếng kêu khóc chạy tới thì thấy mấy anh du kích quen đang xềnh xệch kéo bà đi. Hai tay bị trói giơ lên trời, bà xiêu vẹo bước sau họ, kêu gào thảm thiết: “Ới cụ Hồ ơi, Cụ trông xuống mà xem người ta đối xử với con dân Cụ thế này đây!” Ở một xã khác, một người đàn bà bị trói vào hai cây nứa bắt chéo, bên dưới là một đống lửa. Con mẹ ni là phú nông phản động, ngoan cố lắm, những người bâu quanh nhao nhao nói thế. Người đàn bà quằn quại mãi, tới khi ngất đi mới được người ta hạ xuống. Cha một người bạn khác của tôi, ông chỉ là một cán bộ quèn trong ngành giáo dục, nhưng hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Khi cuộc Giảm tô giảm tức bắt đầu, ông bị bắt vì tội là đảng viên Quốc dân đảng. Ông thắt cổ tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh: “Oan cho tôi lắm, Cụ Hồ ơi. Tôi trung thành với Cụ, với Đảng. Tôi không phản bội. Hồ Chí Minh muôn năm!” Việt Nam Quốc Dân Đảng, được thành lập từ năm 1925, trước Đảng Cộng Sản 5 năm, cùng chung mục đích đánh Pháp giành độc lập, chưa từng có tranh chấp với Đảng Cộng Sản về vai trò lãnh đạo cách mạng trước năm 1945, mặc dầu một bộ phận lưu vong của đảng này đã mắc sai lầm khi trở về nước đi chung với Hoa quân nhập Việt nhằm dựa vào thế lực của quân Tưởng chống Pháp – một sai lầm cố hữu của những người có xu hướng dựa dẫm vào ngoại bang để giành độc lập - đã gây ra những đụng độ với Việt Minh. Nhưng điều đó không hề có nghĩa là tất cả những đảng viên Quốc Dân Đảng trên toàn quốc đã rời bỏ mục đích giành độc lập, không còn là những người yêu nước. Bằng chứng là họ vẫn tích cực tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Quốc dân đảng được nêu lên như một mục tiêu trấn áp chính trong cải cách ruộng đất, trong thực tế chỉ là cái cớ để quét sạch những người kháng chiến tiên phong, như tôi đã trình bày ở trên. Người ta vu cho bất cứ ai mà họ muốn giết là Quốc dân đảng. Trong một ngôi đình, tôi thấy người ta lấy gai bưởi cắm vào đầu ngón tay một cô gái. Có trời biết cô ta bị tội gì, có thể cô ta chỉ có một tội duy nhất là con địa chủ, cứ mỗi câu hỏi những kẻ tra tấn lại nhấn những cái gai sâu thêm một chút làm cho cô gái rú lên vì đau, quằn quại trong dây trói. Một cụ già tóc bạc phơ bị tròng dây vào cổ, bị lôi xềnh xệch trên đường như một con chó. Lũ trẻ làng rùng rùng chạy theo sau. Chúng vỗ tay, chúng reo hò, chúng cười ngặt nghẽo. Tôi nhìn chúng, rùng mình - những đứa trẻ này chắc chắn sẽ lớn lên với trái tim không phải của giống người. Rồi đây, với tâm hồn chai sạn, làm sao chúng có thể sống chung với những anh em khác màu da và tiếng nói trong một thế giới đại đồng mà chủ nghĩa cộng sản hứa hẹn? Tôi cảm thấy trong mình cục cựa một cảm giác bất bình, điềm báo trước sự thức tỉnh. Không phải ai cũng có một cảm nhận như thế trước những gì Đảng đang làm. Niềm tin ở Đảng ăn sâu trong lòng mỗi đảng viên cộng sản, đến nỗi vừa buông miệng khuyên tôi trốn, lúc chia tay anh Luật lại vớt vát: “Nói thì nói vậy thôi, chứ anh không thể nào tin được Đảng lại có thể nhẫn tâm bắt một lúc cả hai cha con một gia đình cách mạng kiên cường như gia đình chú. Mình không nên nghĩ quá ra như thế!”. Mẹ tôi không muốn tôi trốn, nhưng tôi không trốn thì bà lo. Tôi mà cũng bị bắt thì trong nhà không còn người đàn ông nào. Hai em trai tôi đều còn nhỏ. Lại đang có chiến tranh. Bà cảm thấy những gì xảy ra với người khác nay đang xảy ra với mình. Mẹ tôi nhớ đến bà bạn có chồng bị mất tích trong những ngày Cách mạng Tháng Tám. Người đàn bà khốn khổ lang thang đi đến hết đền này phủ nọ cầu xin Trời Phật cho chồng bà trở về với bà. Bà gần như mất trí. Khi còn trẻ, ông Nguyễn Thế Vinh, chồng bà, gia nhập Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội . Bị lộ, ông chạy sang Pháp, gia nhập Đảng cộng sản Pháp. Từ Pháp ông sang Nga. Tốt nghiệp trường Đại học phương Đông , ông hăm hở trở về Tổ quốc tiếp tục cuộc chiến đấu. Vừa bước xuống cảng Hải Phòng ông sa vào tay mật thám. Xa nước quá lâu, ông trở về không quen biết ai, chưa kịp liên lạc với ai trong các tổ chức cách mạng. Mật thám tra tấn ông, ông chẳng có gì để khai, đơn giản vì ông không biết những gì họ muốn biết. Tra mãi không được gì, chính quyền thuộc địa thả ông, thậm chí để cột chân ông lại, chính quyền này còn chiếu cố cho ông được tòng sự tại Phủ Thống sứ. Trong chuyện này tất nhiên không thể thiếu sự chạy chọt của bà vợ con nhà khá giả. Làm việc trong phủ Thống sứ, ông Vinh vẫn không ngừng tìm mọi cách liên lạc với những người cộng sản. Nhưng không ai dám giao thiệp với ông, kể cả cha tôi. Với ông, cha tôi đóng vai người đã nhụt chí, nay trở về với vợ con làm ăn chân chỉ. Người Pháp đến lúc đó đã hoàn toàn không còn nghi ngờ gì ông Vinh, ông là một công chức mẫn cán. Nhưng đó chỉ là bề ngoài. Lòng yêu nước trong lòng ông không bao giờ tắt. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông hăng hái xuống đường tham gia cướp chính quyền. Thế rồi trong những ngày sôi nổi ấy, như một hòn đá rơi xuống nước, ông biệt tích. Không ai biết ông biến đi đâu nếu như một hôm ông Trường Chinh không nói riêng với mẹ tôi: “Chị Huỳnh ạ, chị liệu cách an ủi chị Vinh kẻo chị ấy cứ xem bói, xin xăm mãi, tội nghiệp! Nói riêng để chị biết: ta “thịt” anh ấy rồi!” Mẹ tôi lạnh toát người: “Sao các anh nhẫn tâm thế, sao các anh tàn ác thế? - bà kêu lên - Anh thừa biết: anh Vinh tuy có không kiên định cách mạng thật, nhưng anh ấy có phản bội xưng khai gì đâu, có gây hại gì cho đoàn thể đâu, mà các anh nỡ giết anh ấy?” Trường Chinh lúng túng phân trần rằng ông không hề chủ trương giết ông Vinh, người ta giết rồi ông mới biết. Lúc đó ông có muốn can thiệp thì đã muộn. Về cái chết của ông Vinh, mẹ tôi không buộc tội Trường Chinh. Bà hiểu rằng trong cuộc cách mạng những việc tương tự có thể xảy ra, bởi những người kém hiểu biết nhưng lại quá hăng hái. Riêng tội để cấp dưới lộng hành, thái độ coi thường sinh mạng con người, thì bà không bao giờ tha thứ cho Trường Chinh. Ở cương vị ông, một chỉ thị kiên quyết không cho phép cấp dưới tự quyền xử tử bất cứ ai thì việc ấy chắc chắn không thể xảy ra. Khốn nỗi, thủ tiêu đối thủ và những người tình nghi phản bội là chuyện thường tình trong Cách mạng Tháng Tám. Người ta không coi việc làm đó là tội ác. Nhà văn Lan Khai bị bỏ rọ trôi sông ở khúc Ghềnh Quýt trên sông Lô chỉ vì vào thời gian Nhật cai trị, ông làm thư ký cho một hãng buôn của người Nhật là một thí dụ. Cha tôi quen Lan Khai từ những ngày ông còn đi học ở Tuyên Quang. Kể cho tôi nghe về cái chết của Lan Khai, ông tỏ ra rất đau lòng. Bà ngoại tôi thường gặp các đồng chí của cha mẹ tôi tại nhà tôi khi bà tôi đến chơi với các cháu. Không hiểu vì lẽ gì một số người trong bọn họ không gây được cảm tình nơi bà. Bà ngoại nói thẳng cho mẹ tôi biết bà không thích họ. Đến nỗi mẹ tôi giận bà vì sự không thích ấy. Hóa ra bà ngoại tôi có lý khi nhận xét người này người kia trong bọn họ không phải là những người tử tế. Bằng sự mẫn cảm của phụ nữ, bà thấy trước được cách sống không nhân nghĩa, không có trước có sau, không có tình người, như cách ta thường nói bây giờ, của những người về sau trở thành những nhà lãnh đạo cách mạng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt . Theo hồi ký Đêm giữa ban ngày - Vũ Thư Hiên Ảnh: Nông dân mít tinh hoan nghênh chính sách Cải cách Ruộng đất bên ảnh lãnh tụ 3 nước XHCN Liên Xô, VNDCCH và CHND Trung Hoa. Ảnh bởi Sohu Nguồn Lịch Sử Hiện Đại. Fb Huu Hong

6 views · Apr 24th

THUYỀN NHÂN & THÙNG NHÂN Rảnh nên tôi tạt ngang qua Manila vài bữa, dù chả hẹn hò hay quen biết với bất cứ ai ở hải đảo này. Cứ cách ngày tôi đổi khách sạn một lần, và mỗi lần lại chuyển qua một quận hạt khác (Makati, Malabon, Parañaque) thế mà nguyên tuần không gặp được một người đồng hương nào ráo. Rời thủ đô của Philippines, điều tôi nhớ nhất là bữa ăn cuối cùng ở Oyster Plaza Hotel. Khách sạn bình dân, tuy cũng có cả bar rượu với restaurant nhưng lụp xụp trông đến tội. Thực khách vắng teo, thực đơn lèo tèo chỉ hơn chục món với giá khá bèo. Vốn tính hà tiện nên tôi chỉ đại vào món cá nướng chỉ vì… giá tiền thấp nhất. Con cá nhỏ xíu xiu (rẻ là phải) được bọc kín trong giấy bạc, ướp đủ thứ gia vị lạ mắt nhưng trông không hấp dẫn gì cho lắm. Tôi không hảo cá, và cũng chả đói nên không đụng đũa. Cứ ngồi uống bia xuông cho đến khi thấy hơi xót ruột, tôi mới ngần ngại xêu nhẹ một chút cá bỏ vào mồm. Má ơi, sao mà nó ngon dữ vậy nè. Tôi gọi thêm chén cơm trắng nữa. Lâu lắm rồi tôi mới có một bữa ăn chiều tử tế! Ngoài ra, ấn tượng đậm nét hơn cả của tôi về Phi Luật Tân chỉ là sự nghèo nàn của xứ sở này. Nhà cửa, đường xá, cầu cống, và mọi phương tiện giao thông đều chật chội/ cũ kỹ/ tàn tạ … ngó mà thương. Manila không thể nào so sánh với Bangkok, chỉ ngang cỡ Rangoon, và có lẽ hơi đỡ nhếch nhác hơn Phnom Penh với Vientiane chút xíu. Dân Phi được tự trị từ 1935, hoàn toàn độc lập từ năm 1946. Hiến pháp và chính phủ của xứ sở này được tổ chức theo khuôn mẫu Hoa Kỳ. Tam quyền phân lập đàng hoàng. Người dân có tất tần tật mọi quyền tự do căn bản: cư trú, di chuyển, ngôn luận, tín ngưỡng, sở hữu tài sản đất đai … Có thể đổ lỗi cho chế độ độc tài/ toàn trị/ quân phiệt về sự khốn khó ở Miên, ở Lào (hay ở Miến) nhưng giải thích sao về sự lam lũ ở Phi? Nguyên cả tuần lễ mà tôi không biết làm chi cho hết ngày ở Manila thì Chu Vĩnh Hải cũng có mặt nơi đây. Ông đến tham dự một cuộc Hội Thảo Báo Chí, do Global Investigative Journalism Network tổ chức. Dân chuyên nghiệp có khác. Tuy bận rộn nhưng nhà báo của chúng ta vẫn thực hiện được một bài phóng sự (“Những Tao Ngộ Ở Manila ”) đặc sắc, về nhóm dân Việt tị nạn vẫn còn “kẹt” ở Phi. Xin ghi lại một trường hợp tiêu biểu: Cách đây hàng chục năm, chuyến tàu vượt biên của ông Huỳnh Phong đã mất phương hướng, máy tàu bị hư hỏng, tàu bị trôi dạt vô định và hết sạch thức ăn nước uống. Nhiều người đã chết, trong đó có trẻ em, phụ nữ và người già. Và dĩ nhiên họ trở thành những miếng mồi của lũ cá ở đại dương. Khi không thể chịu đựng đói khát được nữa, người thuyền trưởng đã phải đưa ra một quyết định đau đớn: để tồn tại, để đến được bến bờ, tất cả các thành viên còn sống sót trên tàu phải uống máu và ăn thịt người có nguy cơ chết cao nhất. Và phương thức lựa chọn người chết là bốc số. Em trai của ông Huỳnh Phong là một trong số được chọn. Ông Phong đã phải uống máu và ăn thịt chính người em ruột mà ông yêu quí nhất. Và ông đã điên, đã quên đi gần như tất cả quá khứ. Dễ có đến vài triệu thuyền nhân (*) như ông Phong chứ đâu phải ít. Không kể những kẻ đã vùi thây dưới lòng biển cả, người còn sống sót (đang tứ tán khắp bốn phương trời) tuy không điên loạn nhưng cũng chả muốn ai nhắc nhớ chi đến cái phần đời bi thảm của mình. Với phần lớn dân Việt tị nạn vẫn còn sống sót từ thế kỷ qua thì quên vẫn thường dễ chịu hơn là nhớ, kể cả những kẻ đang cầm quyền ở đất nước này. Những dịch vụ “bán bãi thu vàng” của người vuợt biên, tuy có mang lại lợi nhuận không nhỏ nhưng lại không phải là kỳ tích kinh tế để họ có thể tự hào . Đó là lý do mà nhà nước hiện hành vận động mọi phương thức ngoại giao để yêu cầu các nước Á Châu “đục bỏ bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân.” Chối bỏ quá khứ, tuy thế, không phải là phương cách tích cực để tiếp cận với hiện tại hay hướng đến tương lai. Vết thương của những thuyền nhân vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn chưa kịp khép thì đầu thế kỷ này lại phát sinh ra những thuyền nhân mới. Tuy có tên gọi là nouveaux boat people nhưng họ không di tản bằng đường thủy. “Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày. Khám xét những xe vận tải đầy ắp hàng đi từ nước này qua nước khác làm cho cảnh sát biên phòng phải điên đầu vì không phải là chuyện đơn giản lúc nào cũng làm đươc. Năm ngoái, hải quan Pháp đã khám phá được mười mấy xác chết người Á Châu vì ngột ở trong xe hàng, không biết có phải là Việt Nam không.” (Phương Vũ Võ Tam Anh, “Người Việt khốn khổ tại Paris” – 30 November 2009). Đến nay thì đám “người Việt khốn khổ” này không chỉ có mặt ở Paris. Họ đã xuất hiện khắp Âu Châu, với một tên gọi khác (Người Rơm hoặc Truck People) và đã khiến cho công luận bàng hoàng, sau cuộc phát hiện của cảnh sát nước Anh về 39 xác người chết ngạt (trong một chiếc xe chở hàng đông lạnh) vào ngày 23 tháng 10 năm 2019. Khi được phóng viên báo Nhân Dân (số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987) hỏi về bi kịch thuyền nhân, Trung Tướng Nguyễn Đình Ước – Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) – đã trả lời gọn lỏn: “Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.” Thảm kịch của đám truck people hiện nay cũng thế, cũng đến “từ bên ngoài.” Vụ này nhà nước Việt Nam cũng tuyệt đối vô can, và hoàn toàn không có dính líu gì ráo trọi. Báo Thanh Niên, số ra ngày 13 tháng 3 năm 2021, hớn hở cho hay: Một người Việt bị cáo buộc là “người tổ chức” chính trong vụ vận chuyển lậu người vào Anh khiến 39 nạn nhân Việt thiệt mạng hồi năm 2019. Theo tờ Standard ngày 13.3 dẫn thông tin tại phiên điều trần dẫn độ tại Tòa sơ thẩm Westminster (Anh), người Việt này tên Ngo Sy Tai, được cho là 18 tuổi, sẽ phải đối mặt 20 năm tù nếu bị kết tội vận chuyển lậu người vào Anh. Ngo Sy Tai đã chạy trốn đến thủ đô Berlin (Đức) và sau đó đến thành phố Birmingham (Anh) sau khi nhà chức trách phát hiện thi thể 39 nạn nhân Việt trong container tại Anh hồi tháng 10.2019. Các nạn nhân đã trả tới 13.000 bảng (417 triệu đồng) mỗi người cho chuyến đến Anh bằng “đường VIP”. Tuy cũng thuộc “dạng” thế lực thù địch bên ngoài nhưng thủ phạm lần này, may quá, có tên họ rõ ràng: Ngô Sỹ Tài (18 tuổi) chính phạm trong những vụ chuyển lậu người vào nước Anh, vào năm 2019, khi mới vừa … 16! Thiệt là tài không đợi tuổi! Tin tức (thổ tả) như thế mà cả làng báo Ta, lẫn báo Tây, đều vồ vập phổ biến tùm lu mà chả thấy ai “thắc mắc hay khiếu nại” gì ráo trọi: – Judge orders Vietnamese teenager to be extradited over Essex migrant deaths – Vietnamese teenager, 18, accused of being key ‘organiser’ in people smuggling ring… Ai cũng hân hoan vì đã tìm ra một con dê để mang ra tế, dù chỉ là một chú dê con. Chả hiểu hoàn cảnh của cậu bé mười mấy tuổi đầu này ra sao mà thay vì sống với mẹ cha, và cùng bè bạn ngồi dưới mái trường, lại lạc sang đến trời Âu; rồi trở thành một tay buôn người xuyên quốc gia, với tầm vóc quốc tế, dữ dằn đến thế? Em đúng là một thiên tài, một sản phẩm đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, đến từ một đất nước chuyên sản xuất … thiên tai. Em đã “ứng” vào lời tiên đoán, cách đây không lâu, của Bộ Trưởng Thông Tin Nguyễn Mạnh Hùng: “Tôi có niềm tin là người Việt Nam có thể làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm.” ●Tưởng Năng Tiến (*) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam. Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died. Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for. Estimates for the number of Boat People who died: Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975. The 3 Aug. 1979 Washington Postcites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975. Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.” The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam. Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000. Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))

14 views · Apr 24th

( theo Sam Luong )

11 views · Apr 24th

More from Gaichongcongsan

KÝ ỨC HÃI HÙNG NĂM 1953 Mùa hè năm 1953, đêm đêm chúng tôi nằm thao thức nghe trong mịt mùng những thôn xóm tối tăm tiếng loa âm u hờ gọi nông dân vùng lên đánh đổ “kẻ thù giai cấp”. Từ sáng sớm tinh mơ, hàng đoàn người rầm rập trên các nẻo đường làng còn tối đất, khản tiếng hô vang những khẩu hiệu có mùi máu. Dân chúng ùn ùn đổ về những sân đình, những bãi rộng, nơi sẽ diễn ra những cuộc đấu tố “bọn địa chủ cường hào gian ác”. Điều làm tôi sửng sốt là những cán bộ kháng chiến trong chính quyền xã bị thẳng cánh gạt ra ngoài lề cuộc đấu tranh. Mà tôi biết rõ họ. Mới hôm trước còn là những người lãnh đạo đầy uy tín ở địa phương, bất thình lình họ không còn được tin cậy nữa, bị tước bỏ mọi quyền hành. Tại sao lại như thế? Tôi hỏi một cán bộ trong đội giảm tô giảm tức và được anh ta giải thích: Đảng bảo phải cảnh giác trước các loại kẻ thù giai cấp. Chúng biết chúng yếu, chúng không thể ra mặt chống phá cách mạng, nên đã tìm đủ mọi cách chui vào trong các tổ chức của ta, nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Hiện nay không thể biết trong các cơ quan Đảng và chính quyền ai là địch, ai là ta, nếu không kiên quyết gạt những người cũ ra thì nông dân được Đảng phát động vẫn bị kẻ thù giấu mặt khống chế, họ sẽ không dám vùng lên giành lấy địa vị lãnh đạo. Đó là quan điểm chính thống được phổ biến đến tận mỗi đảng viên trước khi thực hiện giảm tô giảm tức. Và họ tin theo lời Đảng dạy: ta chỉ có thể trông cậy vào những nông dân bần cùng, bị địa chủ bóc lột đến xương tủy, chỉ có họ mới là chỗ dựa vững chắc và lâu dài của Đảng. Cứ như thể sự nghèo khổ, tự bản thân nó, đã là một phẩm chất cách mạng. Vào thời kỳ ấy tôi, và thế hệ tôi, không hiểu rằng cải cách ruộng đất chỉ là cái vỏ ngoài cho một mưu đồ chính trị. Tất cả những khẩu hiệu ca ngợi nông dân: “nông dân là quân chủ lực”, “giải phóng nông dân”, “tiêu diệt cường hào ác bá, đánh đổ địa chủ, phú nông”; “ruộng đất về tay dân cày”, “nông dân vùng lên giành lấy chính quyền”…, chỉ nhằm để củng cố vị trí cai trị đất nước của Đảng. Đảng cần tiêu diệt những người đi tiên phong trong cuộc kháng chiến chống Pháp là những người mang trong đầu tư tưởng bình đẳng được đề cao trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, vì thế họ không phải, và không thể, là những thần dân ngoan ngoãn. Cái mà Đảng cần là một lớp tay sai tuyệt đối trung thành, gọi dạ bảo vâng. Cái gọi là cải cách ruộng đất hoàn toàn không có mục tiêu cải cách ruộng đất. Không có, và không hề có, một cuộc điều tra nào về tình hình phân bổ ruộng đất trong xã hội, là điều tất yếu phải làm trước khi tiến hành cải cách ruộng đất. Hơn nữa, mâu thuẫn ruộng đất hoàn toàn không phải là vấn đề nóng bỏng ở vùng giải phóng (vùng chính quyền kháng chiến) trong giai đoạn cả nước cần tập trung tinh thần và sức lực vào mục tiêu giành độc lập. Đấu tố diễn ra liên miên, ngày một khốc liệt. Người dân cày dung dị hôm trước, được Đảng phóng tay phát động, vụt trở thành hung tợn, mặt bừng bừng khoái trá trong niềm vui hành hạ đồng loại. Tôi kinh hoàng nhìn cảnh tượng không hiểu nổi: nườm nượp lướt qua mắt tôi từng bày đàn người bị kích thích bởi mùi máu, hăm hở đi dưới lá cờ đỏ sao vàng không phải để chiến đấu với quân xâm lược mà với chính đồng bào mình. Tại xã Ngô Xá, làng Ngò, Thanh Hóa, nơi có dinh cơ gia đình cụ cử Nguyễn Thượng Hiền , người ta trói chặt hai tay rồi dong mẹ một người bạn tôi đi khắp làng chỉ vì bà trót dại nói điều gì đó mất lập trường hoặc không vừa lòng cán bộ giảm tô giảm tức. Tôi biết rõ bà là ai. Khi chiến tranh vừa bùng nổ bà là hội trưởng hay hội phó Hội Liên hiệp Phụ nữ Thái Bình. Mất đất, bà mang con cái chạy vào Thanh Hóa theo chính phủ kháng chiến, làm nghề hàng xáo, buôn thúng bán mẹt. Chúng tôi nghe tiếng kêu khóc chạy tới thì thấy mấy anh du kích quen đang xềnh xệch kéo bà đi. Hai tay bị trói giơ lên trời, bà xiêu vẹo bước sau họ, kêu gào thảm thiết: “Ới cụ Hồ ơi, Cụ trông xuống mà xem người ta đối xử với con dân Cụ thế này đây!” Ở một xã khác, một người đàn bà bị trói vào hai cây nứa bắt chéo, bên dưới là một đống lửa. Con mẹ ni là phú nông phản động, ngoan cố lắm, những người bâu quanh nhao nhao nói thế. Người đàn bà quằn quại mãi, tới khi ngất đi mới được người ta hạ xuống. Cha một người bạn khác của tôi, ông chỉ là một cán bộ quèn trong ngành giáo dục, nhưng hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Khi cuộc Giảm tô giảm tức bắt đầu, ông bị bắt vì tội là đảng viên Quốc dân đảng. Ông thắt cổ tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh: “Oan cho tôi lắm, Cụ Hồ ơi. Tôi trung thành với Cụ, với Đảng. Tôi không phản bội. Hồ Chí Minh muôn năm!” Việt Nam Quốc Dân Đảng, được thành lập từ năm 1925, trước Đảng Cộng Sản 5 năm, cùng chung mục đích đánh Pháp giành độc lập, chưa từng có tranh chấp với Đảng Cộng Sản về vai trò lãnh đạo cách mạng trước năm 1945, mặc dầu một bộ phận lưu vong của đảng này đã mắc sai lầm khi trở về nước đi chung với Hoa quân nhập Việt nhằm dựa vào thế lực của quân Tưởng chống Pháp – một sai lầm cố hữu của những người có xu hướng dựa dẫm vào ngoại bang để giành độc lập - đã gây ra những đụng độ với Việt Minh. Nhưng điều đó không hề có nghĩa là tất cả những đảng viên Quốc Dân Đảng trên toàn quốc đã rời bỏ mục đích giành độc lập, không còn là những người yêu nước. Bằng chứng là họ vẫn tích cực tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Quốc dân đảng được nêu lên như một mục tiêu trấn áp chính trong cải cách ruộng đất, trong thực tế chỉ là cái cớ để quét sạch những người kháng chiến tiên phong, như tôi đã trình bày ở trên. Người ta vu cho bất cứ ai mà họ muốn giết là Quốc dân đảng. Trong một ngôi đình, tôi thấy người ta lấy gai bưởi cắm vào đầu ngón tay một cô gái. Có trời biết cô ta bị tội gì, có thể cô ta chỉ có một tội duy nhất là con địa chủ, cứ mỗi câu hỏi những kẻ tra tấn lại nhấn những cái gai sâu thêm một chút làm cho cô gái rú lên vì đau, quằn quại trong dây trói. Một cụ già tóc bạc phơ bị tròng dây vào cổ, bị lôi xềnh xệch trên đường như một con chó. Lũ trẻ làng rùng rùng chạy theo sau. Chúng vỗ tay, chúng reo hò, chúng cười ngặt nghẽo. Tôi nhìn chúng, rùng mình - những đứa trẻ này chắc chắn sẽ lớn lên với trái tim không phải của giống người. Rồi đây, với tâm hồn chai sạn, làm sao chúng có thể sống chung với những anh em khác màu da và tiếng nói trong một thế giới đại đồng mà chủ nghĩa cộng sản hứa hẹn? Tôi cảm thấy trong mình cục cựa một cảm giác bất bình, điềm báo trước sự thức tỉnh. Không phải ai cũng có một cảm nhận như thế trước những gì Đảng đang làm. Niềm tin ở Đảng ăn sâu trong lòng mỗi đảng viên cộng sản, đến nỗi vừa buông miệng khuyên tôi trốn, lúc chia tay anh Luật lại vớt vát: “Nói thì nói vậy thôi, chứ anh không thể nào tin được Đảng lại có thể nhẫn tâm bắt một lúc cả hai cha con một gia đình cách mạng kiên cường như gia đình chú. Mình không nên nghĩ quá ra như thế!”. Mẹ tôi không muốn tôi trốn, nhưng tôi không trốn thì bà lo. Tôi mà cũng bị bắt thì trong nhà không còn người đàn ông nào. Hai em trai tôi đều còn nhỏ. Lại đang có chiến tranh. Bà cảm thấy những gì xảy ra với người khác nay đang xảy ra với mình. Mẹ tôi nhớ đến bà bạn có chồng bị mất tích trong những ngày Cách mạng Tháng Tám. Người đàn bà khốn khổ lang thang đi đến hết đền này phủ nọ cầu xin Trời Phật cho chồng bà trở về với bà. Bà gần như mất trí. Khi còn trẻ, ông Nguyễn Thế Vinh, chồng bà, gia nhập Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội . Bị lộ, ông chạy sang Pháp, gia nhập Đảng cộng sản Pháp. Từ Pháp ông sang Nga. Tốt nghiệp trường Đại học phương Đông , ông hăm hở trở về Tổ quốc tiếp tục cuộc chiến đấu. Vừa bước xuống cảng Hải Phòng ông sa vào tay mật thám. Xa nước quá lâu, ông trở về không quen biết ai, chưa kịp liên lạc với ai trong các tổ chức cách mạng. Mật thám tra tấn ông, ông chẳng có gì để khai, đơn giản vì ông không biết những gì họ muốn biết. Tra mãi không được gì, chính quyền thuộc địa thả ông, thậm chí để cột chân ông lại, chính quyền này còn chiếu cố cho ông được tòng sự tại Phủ Thống sứ. Trong chuyện này tất nhiên không thể thiếu sự chạy chọt của bà vợ con nhà khá giả. Làm việc trong phủ Thống sứ, ông Vinh vẫn không ngừng tìm mọi cách liên lạc với những người cộng sản. Nhưng không ai dám giao thiệp với ông, kể cả cha tôi. Với ông, cha tôi đóng vai người đã nhụt chí, nay trở về với vợ con làm ăn chân chỉ. Người Pháp đến lúc đó đã hoàn toàn không còn nghi ngờ gì ông Vinh, ông là một công chức mẫn cán. Nhưng đó chỉ là bề ngoài. Lòng yêu nước trong lòng ông không bao giờ tắt. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông hăng hái xuống đường tham gia cướp chính quyền. Thế rồi trong những ngày sôi nổi ấy, như một hòn đá rơi xuống nước, ông biệt tích. Không ai biết ông biến đi đâu nếu như một hôm ông Trường Chinh không nói riêng với mẹ tôi: “Chị Huỳnh ạ, chị liệu cách an ủi chị Vinh kẻo chị ấy cứ xem bói, xin xăm mãi, tội nghiệp! Nói riêng để chị biết: ta “thịt” anh ấy rồi!” Mẹ tôi lạnh toát người: “Sao các anh nhẫn tâm thế, sao các anh tàn ác thế? - bà kêu lên - Anh thừa biết: anh Vinh tuy có không kiên định cách mạng thật, nhưng anh ấy có phản bội xưng khai gì đâu, có gây hại gì cho đoàn thể đâu, mà các anh nỡ giết anh ấy?” Trường Chinh lúng túng phân trần rằng ông không hề chủ trương giết ông Vinh, người ta giết rồi ông mới biết. Lúc đó ông có muốn can thiệp thì đã muộn. Về cái chết của ông Vinh, mẹ tôi không buộc tội Trường Chinh. Bà hiểu rằng trong cuộc cách mạng những việc tương tự có thể xảy ra, bởi những người kém hiểu biết nhưng lại quá hăng hái. Riêng tội để cấp dưới lộng hành, thái độ coi thường sinh mạng con người, thì bà không bao giờ tha thứ cho Trường Chinh. Ở cương vị ông, một chỉ thị kiên quyết không cho phép cấp dưới tự quyền xử tử bất cứ ai thì việc ấy chắc chắn không thể xảy ra. Khốn nỗi, thủ tiêu đối thủ và những người tình nghi phản bội là chuyện thường tình trong Cách mạng Tháng Tám. Người ta không coi việc làm đó là tội ác. Nhà văn Lan Khai bị bỏ rọ trôi sông ở khúc Ghềnh Quýt trên sông Lô chỉ vì vào thời gian Nhật cai trị, ông làm thư ký cho một hãng buôn của người Nhật là một thí dụ. Cha tôi quen Lan Khai từ những ngày ông còn đi học ở Tuyên Quang. Kể cho tôi nghe về cái chết của Lan Khai, ông tỏ ra rất đau lòng. Bà ngoại tôi thường gặp các đồng chí của cha mẹ tôi tại nhà tôi khi bà tôi đến chơi với các cháu. Không hiểu vì lẽ gì một số người trong bọn họ không gây được cảm tình nơi bà. Bà ngoại nói thẳng cho mẹ tôi biết bà không thích họ. Đến nỗi mẹ tôi giận bà vì sự không thích ấy. Hóa ra bà ngoại tôi có lý khi nhận xét người này người kia trong bọn họ không phải là những người tử tế. Bằng sự mẫn cảm của phụ nữ, bà thấy trước được cách sống không nhân nghĩa, không có trước có sau, không có tình người, như cách ta thường nói bây giờ, của những người về sau trở thành những nhà lãnh đạo cách mạng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt . Theo hồi ký Đêm giữa ban ngày - Vũ Thư Hiên Ảnh: Nông dân mít tinh hoan nghênh chính sách Cải cách Ruộng đất bên ảnh lãnh tụ 3 nước XHCN Liên Xô, VNDCCH và CHND Trung Hoa. Ảnh bởi Sohu Nguồn Lịch Sử Hiện Đại. Fb Huu Hong

6 views · Apr 24th

THUYỀN NHÂN & THÙNG NHÂN Rảnh nên tôi tạt ngang qua Manila vài bữa, dù chả hẹn hò hay quen biết với bất cứ ai ở hải đảo này. Cứ cách ngày tôi đổi khách sạn một lần, và mỗi lần lại chuyển qua một quận hạt khác (Makati, Malabon, Parañaque) thế mà nguyên tuần không gặp được một người đồng hương nào ráo. Rời thủ đô của Philippines, điều tôi nhớ nhất là bữa ăn cuối cùng ở Oyster Plaza Hotel. Khách sạn bình dân, tuy cũng có cả bar rượu với restaurant nhưng lụp xụp trông đến tội. Thực khách vắng teo, thực đơn lèo tèo chỉ hơn chục món với giá khá bèo. Vốn tính hà tiện nên tôi chỉ đại vào món cá nướng chỉ vì… giá tiền thấp nhất. Con cá nhỏ xíu xiu (rẻ là phải) được bọc kín trong giấy bạc, ướp đủ thứ gia vị lạ mắt nhưng trông không hấp dẫn gì cho lắm. Tôi không hảo cá, và cũng chả đói nên không đụng đũa. Cứ ngồi uống bia xuông cho đến khi thấy hơi xót ruột, tôi mới ngần ngại xêu nhẹ một chút cá bỏ vào mồm. Má ơi, sao mà nó ngon dữ vậy nè. Tôi gọi thêm chén cơm trắng nữa. Lâu lắm rồi tôi mới có một bữa ăn chiều tử tế! Ngoài ra, ấn tượng đậm nét hơn cả của tôi về Phi Luật Tân chỉ là sự nghèo nàn của xứ sở này. Nhà cửa, đường xá, cầu cống, và mọi phương tiện giao thông đều chật chội/ cũ kỹ/ tàn tạ … ngó mà thương. Manila không thể nào so sánh với Bangkok, chỉ ngang cỡ Rangoon, và có lẽ hơi đỡ nhếch nhác hơn Phnom Penh với Vientiane chút xíu. Dân Phi được tự trị từ 1935, hoàn toàn độc lập từ năm 1946. Hiến pháp và chính phủ của xứ sở này được tổ chức theo khuôn mẫu Hoa Kỳ. Tam quyền phân lập đàng hoàng. Người dân có tất tần tật mọi quyền tự do căn bản: cư trú, di chuyển, ngôn luận, tín ngưỡng, sở hữu tài sản đất đai … Có thể đổ lỗi cho chế độ độc tài/ toàn trị/ quân phiệt về sự khốn khó ở Miên, ở Lào (hay ở Miến) nhưng giải thích sao về sự lam lũ ở Phi? Nguyên cả tuần lễ mà tôi không biết làm chi cho hết ngày ở Manila thì Chu Vĩnh Hải cũng có mặt nơi đây. Ông đến tham dự một cuộc Hội Thảo Báo Chí, do Global Investigative Journalism Network tổ chức. Dân chuyên nghiệp có khác. Tuy bận rộn nhưng nhà báo của chúng ta vẫn thực hiện được một bài phóng sự (“Những Tao Ngộ Ở Manila ”) đặc sắc, về nhóm dân Việt tị nạn vẫn còn “kẹt” ở Phi. Xin ghi lại một trường hợp tiêu biểu: Cách đây hàng chục năm, chuyến tàu vượt biên của ông Huỳnh Phong đã mất phương hướng, máy tàu bị hư hỏng, tàu bị trôi dạt vô định và hết sạch thức ăn nước uống. Nhiều người đã chết, trong đó có trẻ em, phụ nữ và người già. Và dĩ nhiên họ trở thành những miếng mồi của lũ cá ở đại dương. Khi không thể chịu đựng đói khát được nữa, người thuyền trưởng đã phải đưa ra một quyết định đau đớn: để tồn tại, để đến được bến bờ, tất cả các thành viên còn sống sót trên tàu phải uống máu và ăn thịt người có nguy cơ chết cao nhất. Và phương thức lựa chọn người chết là bốc số. Em trai của ông Huỳnh Phong là một trong số được chọn. Ông Phong đã phải uống máu và ăn thịt chính người em ruột mà ông yêu quí nhất. Và ông đã điên, đã quên đi gần như tất cả quá khứ. Dễ có đến vài triệu thuyền nhân (*) như ông Phong chứ đâu phải ít. Không kể những kẻ đã vùi thây dưới lòng biển cả, người còn sống sót (đang tứ tán khắp bốn phương trời) tuy không điên loạn nhưng cũng chả muốn ai nhắc nhớ chi đến cái phần đời bi thảm của mình. Với phần lớn dân Việt tị nạn vẫn còn sống sót từ thế kỷ qua thì quên vẫn thường dễ chịu hơn là nhớ, kể cả những kẻ đang cầm quyền ở đất nước này. Những dịch vụ “bán bãi thu vàng” của người vuợt biên, tuy có mang lại lợi nhuận không nhỏ nhưng lại không phải là kỳ tích kinh tế để họ có thể tự hào . Đó là lý do mà nhà nước hiện hành vận động mọi phương thức ngoại giao để yêu cầu các nước Á Châu “đục bỏ bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân.” Chối bỏ quá khứ, tuy thế, không phải là phương cách tích cực để tiếp cận với hiện tại hay hướng đến tương lai. Vết thương của những thuyền nhân vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn chưa kịp khép thì đầu thế kỷ này lại phát sinh ra những thuyền nhân mới. Tuy có tên gọi là nouveaux boat people nhưng họ không di tản bằng đường thủy. “Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày. Khám xét những xe vận tải đầy ắp hàng đi từ nước này qua nước khác làm cho cảnh sát biên phòng phải điên đầu vì không phải là chuyện đơn giản lúc nào cũng làm đươc. Năm ngoái, hải quan Pháp đã khám phá được mười mấy xác chết người Á Châu vì ngột ở trong xe hàng, không biết có phải là Việt Nam không.” (Phương Vũ Võ Tam Anh, “Người Việt khốn khổ tại Paris” – 30 November 2009). Đến nay thì đám “người Việt khốn khổ” này không chỉ có mặt ở Paris. Họ đã xuất hiện khắp Âu Châu, với một tên gọi khác (Người Rơm hoặc Truck People) và đã khiến cho công luận bàng hoàng, sau cuộc phát hiện của cảnh sát nước Anh về 39 xác người chết ngạt (trong một chiếc xe chở hàng đông lạnh) vào ngày 23 tháng 10 năm 2019. Khi được phóng viên báo Nhân Dân (số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987) hỏi về bi kịch thuyền nhân, Trung Tướng Nguyễn Đình Ước – Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) – đã trả lời gọn lỏn: “Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.” Thảm kịch của đám truck people hiện nay cũng thế, cũng đến “từ bên ngoài.” Vụ này nhà nước Việt Nam cũng tuyệt đối vô can, và hoàn toàn không có dính líu gì ráo trọi. Báo Thanh Niên, số ra ngày 13 tháng 3 năm 2021, hớn hở cho hay: Một người Việt bị cáo buộc là “người tổ chức” chính trong vụ vận chuyển lậu người vào Anh khiến 39 nạn nhân Việt thiệt mạng hồi năm 2019. Theo tờ Standard ngày 13.3 dẫn thông tin tại phiên điều trần dẫn độ tại Tòa sơ thẩm Westminster (Anh), người Việt này tên Ngo Sy Tai, được cho là 18 tuổi, sẽ phải đối mặt 20 năm tù nếu bị kết tội vận chuyển lậu người vào Anh. Ngo Sy Tai đã chạy trốn đến thủ đô Berlin (Đức) và sau đó đến thành phố Birmingham (Anh) sau khi nhà chức trách phát hiện thi thể 39 nạn nhân Việt trong container tại Anh hồi tháng 10.2019. Các nạn nhân đã trả tới 13.000 bảng (417 triệu đồng) mỗi người cho chuyến đến Anh bằng “đường VIP”. Tuy cũng thuộc “dạng” thế lực thù địch bên ngoài nhưng thủ phạm lần này, may quá, có tên họ rõ ràng: Ngô Sỹ Tài (18 tuổi) chính phạm trong những vụ chuyển lậu người vào nước Anh, vào năm 2019, khi mới vừa … 16! Thiệt là tài không đợi tuổi! Tin tức (thổ tả) như thế mà cả làng báo Ta, lẫn báo Tây, đều vồ vập phổ biến tùm lu mà chả thấy ai “thắc mắc hay khiếu nại” gì ráo trọi: – Judge orders Vietnamese teenager to be extradited over Essex migrant deaths – Vietnamese teenager, 18, accused of being key ‘organiser’ in people smuggling ring… Ai cũng hân hoan vì đã tìm ra một con dê để mang ra tế, dù chỉ là một chú dê con. Chả hiểu hoàn cảnh của cậu bé mười mấy tuổi đầu này ra sao mà thay vì sống với mẹ cha, và cùng bè bạn ngồi dưới mái trường, lại lạc sang đến trời Âu; rồi trở thành một tay buôn người xuyên quốc gia, với tầm vóc quốc tế, dữ dằn đến thế? Em đúng là một thiên tài, một sản phẩm đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, đến từ một đất nước chuyên sản xuất … thiên tai. Em đã “ứng” vào lời tiên đoán, cách đây không lâu, của Bộ Trưởng Thông Tin Nguyễn Mạnh Hùng: “Tôi có niềm tin là người Việt Nam có thể làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm.” ●Tưởng Năng Tiến (*) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam. Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died. Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for. Estimates for the number of Boat People who died: Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975. The 3 Aug. 1979 Washington Postcites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975. Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.” The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam. Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000. Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))

14 views · Apr 24th

( theo Sam Luong )

11 views · Apr 24th