TRONG KHÓ KHĂN NGUY NAN MIỀN TRUNG, ĐẤT NƯỚC MÌNH XIN CHÚNG TA ĐỪNG QUÊN TỬ TÙ CHỜ TỬ HÌNH! Fb. Trương Thanh Tùng: Xin mọi người hãy dành ra 5 phút để đọc status này của tôi được không ? Đừng vội like rồi bỏ đi khi chưa đọc hết nhé ! Mới đây, tôi đọc báo biết được toà án nhân dân cấp cao tp Hồ Chí Minh đã tuyên y án tử hình với Đặng Văn Hiến - người nông dân vì bảo vệ đất đai của mình mà giết người, sau khi anh bị tuyên án trên ở toà sơ thẩm Vậy anh Hiến giết người vì lý do gì và hoàn cảnh ra sao? Anh Hiến cùng gia đình sinh sống tại xã Đak Ngo. Cuộc sống của 1 người nông dân hiền như đất, không hút thuốc, uống rượu đã thay đổi hoàn toàn khi tài sản, đất đai của anh bị công ty Long Sơn cho người vào tính cướp sạch. Chúng huy động tổng cộng 34 người, dùng xe ủi, máy cày tiến hành san ủi vườn điều và cà phê của anh. Chúng đập phá nhà cửa anh, đánh đập người thân của anh. Anh quyết định liều mạng và bắn chỉ thiên. 34 tên côn đồ vẫn tiếp tục lao vào tấn công anh. Tiếng súng khác đã nổ, và lần này 3 người nằm xuống Anh Hiến không còn sự lựa chọn nào khác để bảo vệ người thân và đất đai của mình ! Vậy anh Hiến đúng hay sai? Hãy bớt chút thời gian trở ngược về 1 vụ án tương tự, cách đây 90 năm, lúc chúng ta còn " Pháp thuộc " Vụ án Đồng Nọc Nạn khi xưa cũng như thế. Khi 2 công chức Pháp cùng sai nha đến tịch thu lúa của những nông dân ngày 16/02/1928, quá uất ức vì thành quả lao động bị cướp sạch, họ vùng lên chống trả và Tournier- tên công chức của Pháp - dẫn đầu đã bị đâm thủng bụng Ngày 17/08/1928, toà đại hình Cần Thơ được mở. Ông Dde Rozario ngồi ghế chánh thẩm, sau khi thảo luận bàn cãi rất lâu, đã tuyên án: TẤT CẢ NGƯỜI NÔNG DÂN ĐƯỢC TRẢ TỰ DO! Và đó, là cách người Pháp xử án người Việt ... 90 năm sau, người Việt xử người Việt, mặc dù đã ra đầu thú, phạm tội trong khi tinh thần bị kích động, uất ức dồn nén 8 năm và bảo vệ tài sản của mình, sau 2 phiên toà, những tên thủ phạm được giảm án, còn anh, vẫn y án: TỬ HÌNH! *_Tôi chưa từng thấy "tên giết người" nào mà khi đi đầu thú, người dân đến ôm tiễn và khóc cả *_Tôi chưa từng thấy "tên giết người " nào mà khi trên đường áp giải, khi xe lên đến đoạn dốc không qua nổi, tên đó lại cùng những người áp giải mình đẩy xe lên *_Tôi cũng chưa thấy "tên giết người" nào mà bật khóc 1 cách ngon lành khi công an tới vỗ vai và hỏi: có đói không ? *_Tôi càng chưa thấy 1 "tên giết người" mà ngày hắn ra đầu thú, có nhiều bàn tay nắm lấy, nhiều cái ôm, và thậm chí còn lội rừng cả chục km để ra tiễn cả Thư của anh đang được gửi đến chủ tịch nước để xin ân xá. Tôi và gia đình của anh không có chút quan hệ họ hàng hay gì khác cả. Nhưng....... * Tôi viết cho anh - người nông dân kham khổ * Tôi viết cho anh - người cha của đứa nhỏ nay được 4 tuổi * Tôi viết cho anh - người nông dân sinh ra nhầm thời Và tôi cầu nguyện cho anh - Đặng Văn Hiến- người đồng bào của tôi. Trương Thanh Tùng P/S: Tôi không mong mọi người sẽ like bài viết này. Tôi chỉ cầu xin mọi người hãy chia sẻ bài viết này vì với tôi mỗi một chia sẻ là một lời cầu nguyện, một lời xin cho anh ấy được giảm tội để anh Hiến có ngày trở về bên gia đình, người thân. Con anh ấy còn quá nhỏ, cháu bé sẽ lớn nên như thế nào đây khi thiếu đi tình thương, sự dạy bảo của một người cha. Tôi lo cho tương lai sau này của cháu !!! Cảm ơn các bạn,nhờ sự lan toả của cộng đồng mạng bước đầu cũng có chút hy vọng cho anh Hiến

thumb_up8thumb_downchat_bubble

More from DuongTrung271

MỘT NỬA SỰ THẬT Khi tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu của đặc công Nguyễn Văn Lém, nó là một khoảnh khắc báo tử cho chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Người Mỹ bắt đầu thấy rằng họ đã đầu tư vào một chính quyền công nhiên xử bắn tù binh ngay giữa thủ đô và giữa thanh thiên bạch nhật. Họ càng ngày càng kêu gào sự rút quân từ phía quân đội nước mình về nước và bắt đầu giơ những khẩu hiệu phản chiến và có người còn đeo hình con rối để mô tả mối quan hệ giữa chính quyền VNCH và Mỹ. Chính quyền Mỹ thì bắt đầu chửi rủa những con người trong chính quyền miền Nam là tệ hại và kém cỏi. Họ không biết rằng tất cả những gì họ biết chỉ là một nửa của sự thật. Khi Eddie Adams nhận giải Pulitzer vào năm 1969, ông không giải thích cho công luận Mỹ biết rằng có 6 con người trong một gia đình trong đó có hai đứa trẻ nít đã chết dưới bàn tay của Lém một cách man rợ chỉ vì viên đại tá ấy không chỉ đường cho hắn để đánh úp một vị trí quân sự. Ông không buồn chụp hình những nạn nhân của cuộc thảm sát man rợ ấy mà chỉ tập trung vào sự kiến bắn tù binh của tướng Loan. Trong bức ảnh của ông Adams, có tổng cộng 8 người đã chết, 6 nạn nhân của Lém, bản thân Lém và tướng Loan, người coi như bị tử hình sống bởi bức ảnh của Adams. Và ở phía sau bức ảnh là một chế độ VNCH hấp hối và chết chỉ 7 năm sau bức ảnh của Adams ra đời vì sự chống đối của công luận phương Tây quá dữ dội dành cho họ. Phóng viên chiến trường cũng có mặt rất sớm ở Mỹ Lai, chụp những tấm ảnh rất chất lượng và rất súc động về một ngôi làng bị thảm sát bởi nguyên một đại đội Mỹ và một tên chỉ huy bị tâm thần. Nhưng không ai có mặt ở Đắk Sơn năm 1967 để ghi lại cuộc thảm sát gần như toàn bộ một ngôi làng ở Tây Nguyên của quân Bắc Việt, những người tự xưng là quân giải phóng. Có lẽ người Mỹ cũng không quan tâm về những sự kiện này. Phóng viên Malcolm Browne rất quan tâm và sốt sắng khi chụp tấm ảnh hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu và bức ảnh cũng làm cho người Mỹ rút đi sự ủng hộ đối với chính quyền của ông Diệm. Nhưng hình như rất ít phóng viên nào chụp hình nguyên một đoàn tăng ni nằm cản đường xe cứu hoả chữa cháy cho đức hoà thượng. Hay cũng không có một phóng viên nào chụp hình những bác sĩ người Đức đã bị giết trong Tết Mậu Thân tại Huế, những người mà chắc đến lúc chết họ cũng không hiểu tại sao họ lại bị giết khi đang cứu chữa cho những đồng bào người Việt Nam của phía bên kia. Phóng viên Mỹ chụp được rất nhiều hình ảnh các cán binh cộng sản bị bắn chết, bị bắt giam những rất ít người quan tâm đến những Cổng Trời, đến những trại giam mà người ta chỉ có thể chết hoặc què quặt khi bước ra khỏi nhà tù vì những tội danh không rõ ràng (xem thêm Đêm giữa ban ngày của cụ Vũ Thư Hiên). Đã có phóng viên nào chụp hình các tù binh VNCH ốm tong teo, người đầy sẹo là những dấu vết của tra tấn với những cán binh cs người đầy khoẻ mạnh khi được trao trả năm 1973 không? Đã có phóng viên nào đoạt giải Pulitzer vì chụp ảnh người chết la liệt do đạn pháo của phía Bắc Việt thay vì bức ảnh chụp bé gái Kim Phúc chạy trốn bom Napalm ở Tây Ninh chưa? Tất cả những gì người Mỹ thấy được qua truyền hình, qua báo chí trong chiến tranh Việt Nam chỉ là những thứ một chiều phơi bày hết cái tệ hại của một chính quyền miền Nam đầy mệt mỏi và một quân đội Mỹ chỉ biết phòng thủ mà bị trói tay trói chân. “Tôi phải đốt lấy thành phố này để cứu nó”, hiện tại vẫn chưa ai biết được tác giả câu nói này là ai và bản ghi âm cuộc nói chuyện của ông ta nằm ở đâu? Chỉ biết câu nói này đã lan truyền khắp mặt báo với tóc độ chóng mặt và làm hại đi những nỗ lực của người Mỹ ở Việt Nam. Những Nguyễn Văn Bảy, bảy ngày học bảy lớp; Lê Văn Tám, tự thiêu để đốt kho xăng Pháp; Đinh Tôn, núp mây để bắn máy bay Mỹ; Clâu Nâm, lấy ná bắn chết vài chục lính Mỹ trang bị đến tận răng nếu là nền tảng cho một sự thật của phía bên kia thì nền tảng cho phía bên này bị tô vẽ là những người trốn lính, hèn nhát, kém cỏi. Báo Mỹ đã bao giờ đưa câu chuyện của Đại tá Nguyễn Đình Bảo, người hy sinh giữ đồi Charlie, hay Lê Văn Hưng, người quyết tâm giữ cửa An Lộc, hay tướng Nguyễn Khoa Nam, người tự sát để giữ một chút gì đó cho quê hương lên trang nhất chưa? Hay trên sách báo của họ tràn ngập những người Bắc Việt dũng cảm và những người miền Nam hèn nhát đã được Mỹ trang bị tới tận răng mà vẫn thua? Rồi những người miền Bắc đó đánh bằng gì và ăn bằng gì? Không thấy sách báo nào nhắc tới. Liệu có sách báo nào đưa ra thông tin có pháo phòng không ở bệnh viện Bạch Mai vào đêm 21 sáng 22.12.1972 chưa? Phía Bắc Việt đã làm quá tốt việc che đi những sự thật bất lợi cho họ còn phía VNCH lại làm quá tồi trong việc phơi bày hết những mặt trái của chiến tranh. Tôi gọi tất cả những việc phía trên là một nửa sự thật, thậm chí có cái dối trá tuyệt đối. Tất cả những thứ trên vẫn đang ám ảnh các thế hệ mới của Việt Nam khi muốn biết rõ hơn về chiến tranh Việt Nam.

LUCKY LUKE KHÔNG LỚN LÊN Ở VIỆT NAM Tuổi thơ của nhiều người Việt, đặc biệt là ở miền Nam, đều chẳng xa lạ với bộ truyện tranh trứ danh Lucky Luke của hoạ sĩ Moris người Bỉ. Bộ truyện tranh kể về cuộc phiêu lưu của chàng cao bồi Lucky Luke với chú ngựa Jolly Jumper khắp miền Viễn Tây Hoa Kỳ. Bộ truyện sau đó còn có góp sức của tác giả René Goscinny và nhiều hoạ sĩ khác nhưng chưa bao giờ mất đi tinh thần gốc: Sự tự do phóng khoáng và nghĩa hiệp của chàng cao bồi Lucky Luke. Điều khiến nhiều người nhớ đến bộ truyện không chỉ ở nội dung mà còn ở nét vẽ hài hước và cách sử dụng màu sắc kỳ lạ của tác giả. Bầu trời trong truyện có khi là màu tím, vàng, hồng, đỏ, xanh lá cây... tác giả không câu nệ những khuôn phép màu sắc đóng khung. Chính vì lẽ đó, Lucky Luke mang lại cho người đọc tự do hưởng thụ mỹ thuật, khiến bao thế hệ say mê. Thế nhưng, 74 năm sau kể từ ngày bộ sách Lucky Luke ra đời, học trò Việt Nam vẫn chưa được dạy tự do chơi đùa với màu sắc. Câu chuyện "Tô màu cho đúng", dạy "khi em vẽ tranh, nhớ tô màu cho đúng", với cái đúng được định nghĩa là "nắng màu vàng hoe, hoa cúc vàng tươi, hoa hoè vàng nhạt" là đơn cử tiêu biểu nhất của tư duy áp đặt trong bộ sách Tiếng Việt 1 của nhóm "Bình đẳng và dân chủ trong giáo dục" của NXB Giáo Dục. Sự áp đặt đó vạch giới hạn cho trí tưởng tưởng của trẻ, giết chết sáng tạo, bắt ép trẻ chấp nhận một tiêu chuẩn thẩm mỹ đóng khung của người lớn. Và xa hơn, là giá trị đạo đức. Như câu chuyện "Cò và vạc" dạy rằng "Cò ngoan ngoãn, chăm chỉ... ai cũng khen" còn "vạc thì lười biếng, ngủ suốt ngày... ai cũng chê cười", nhằm biến "ngoan ngoãn chăm chỉ" thành giá trị tốt, còn "lười biếng" thành giá trị đáng xấu hổ. Hay dạy "ăn miếng trả miếng" qua bài Cò và Cáo: Cáo mời cò đến ăn tối với cháo loãng đổ ra đĩa, cò trả miếng bằng cách mời cáo đến nhà ăn tối nhưng để thức ăn vào cái lọ cổ hẹp. Hay như bài “Vì sao” có thông điệp: "Hè đến, da Tí đen nhẻm, chả đẹp..." không chỉ là áp đặt một tiêu chí thẩm mỹ, mà còn còn thể coi là gieo mầm cho tư tưởng phân biệt màu da. Đấy là chưa kể bộ sách còn có bài xiển dương cho cách dạy con bằng đe doạ vũ lực như Mèo con đi học: Vì mèo con không muốn đi học nên lấy lý do cái đuôi bị ốm, bác cừu trong câu chuyện đã lập tức mang kéo đến doạ cắt đuôi mèo. Nếu ai đã đọc bộ truyện Lucky Luke hẳn đều biết có rất nhiều sự kiện có thật của miền Viễn Tây được đưa vào sách. Ở đó chàng cao bồi Luke phải chiến đấu với những thế lực xấu nhưng chưa bao giờ yếu tố bạo lực được nhấn mạnh trong bộ truyện, ngược lại bạo lực trở nên hài hước. Bao nhiêu thế hệ độc giả trẻ trên thế giới tìm đến với chàng cao bồi đã học được ở anh sự phóng khoáng, hiệp nghĩa và yêu tự do. Bộ truyện tranh ấy là nhân sinh quan của những con người tiến bộ muốn để lại cho thế hệ đi sau. Thật buồn khi phải so sánh những bộ sách giáo khoa như “Bình đẳng và dân chủ trong giáo dục” với bộ truyện tranh Lucky Luke để thấy nhận thức của một nhóm người trong xã hội Việt Nam hôm nay chậm lụt thế nào. Có thể nói rằng bộ sách Tiếng Việt 1 của nhóm Cánh Diều có nhiều lỗi ngôn từ và bài học sai, nhưng bộ sách "Bình đẳng và dân chủ trong giáo dục" lại cho thấy một tư duy gia trưởng, áp đặt cho trẻ những giá trị cũ kỹ và lạc hậu, ngược chiều với xu hướng cởi mở của nhân loại. Còn những bộ sách và tư duy giáo dục như vậy thì chắc chắn một điều rằng chàng cao bồi lãng tử “bắn nhanh hơn cái bóng của mình” cũng đành chịu thua ở Việt Nam dù từng tung hoành khắp miền Viễn Tây hoang dã. Phải học những bộ sách như vậy thì đến bao giờ một cậu bé Việt mới lớn lên với mơ ước về con người tự do cưỡi ngựa đi về phía hoàng hôn và nghêu ngao câu hát “Tôi là gã cao bồi nghèo, đơn độc rong ruổi trên đường dài xa quê hương”, thay vì trở thành một thứ công cụ hùng hục kiếm tiền và năng nổ đi kiềm chế tự do của người khác! Thật buồn, Lucky Luke không thể lớn lên ở Việt Nam.

13 views · Oct 28th, 2020
MỘT NỬA SỰ THẬT Khi tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu của đặc công Nguyễn Văn Lém, nó là một khoảnh khắc báo tử cho chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Người Mỹ bắt đầu thấy rằng họ đã đầu tư vào một chính quyền công nhiên xử bắn tù binh ngay giữa thủ đô và giữa thanh thiên bạch nhật. Họ càng ngày càng kêu gào sự rút quân từ phía quân đội nước mình về nước và bắt đầu giơ những khẩu hiệu phản chiến và có người còn đeo hình con rối để mô tả mối quan hệ giữa chính quyền VNCH và Mỹ. Chính quyền Mỹ thì bắt đầu chửi rủa những con người trong chính quyền miền Nam là tệ hại và kém cỏi. Họ không biết rằng tất cả những gì họ biết chỉ là một nửa của sự thật. Khi Eddie Adams nhận giải Pulitzer vào năm 1969, ông không giải thích cho công luận Mỹ biết rằng có 6 con người trong một gia đình trong đó có hai đứa trẻ nít đã chết dưới bàn tay của Lém một cách man rợ chỉ vì viên đại tá ấy không chỉ đường cho hắn để đánh úp một vị trí quân sự. Ông không buồn chụp hình những nạn nhân của cuộc thảm sát man rợ ấy mà chỉ tập trung vào sự kiến bắn tù binh của tướng Loan. Trong bức ảnh của ông Adams, có tổng cộng 8 người đã chết, 6 nạn nhân của Lém, bản thân Lém và tướng Loan, người coi như bị tử hình sống bởi bức ảnh của Adams. Và ở phía sau bức ảnh là một chế độ VNCH hấp hối và chết chỉ 7 năm sau bức ảnh của Adams ra đời vì sự chống đối của công luận phương Tây quá dữ dội dành cho họ. Phóng viên chiến trường cũng có mặt rất sớm ở Mỹ Lai, chụp những tấm ảnh rất chất lượng và rất súc động về một ngôi làng bị thảm sát bởi nguyên một đại đội Mỹ và một tên chỉ huy bị tâm thần. Nhưng không ai có mặt ở Đắk Sơn năm 1967 để ghi lại cuộc thảm sát gần như toàn bộ một ngôi làng ở Tây Nguyên của quân Bắc Việt, những người tự xưng là quân giải phóng. Có lẽ người Mỹ cũng không quan tâm về những sự kiện này. Phóng viên Malcolm Browne rất quan tâm và sốt sắng khi chụp tấm ảnh hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu và bức ảnh cũng làm cho người Mỹ rút đi sự ủng hộ đối với chính quyền của ông Diệm. Nhưng hình như rất ít phóng viên nào chụp hình nguyên một đoàn tăng ni nằm cản đường xe cứu hoả chữa cháy cho đức hoà thượng. Hay cũng không có một phóng viên nào chụp hình những bác sĩ người Đức đã bị giết trong Tết Mậu Thân tại Huế, những người mà chắc đến lúc chết họ cũng không hiểu tại sao họ lại bị giết khi đang cứu chữa cho những đồng bào người Việt Nam của phía bên kia. Phóng viên Mỹ chụp được rất nhiều hình ảnh các cán binh cộng sản bị bắn chết, bị bắt giam những rất ít người quan tâm đến những Cổng Trời, đến những trại giam mà người ta chỉ có thể chết hoặc què quặt khi bước ra khỏi nhà tù vì những tội danh không rõ ràng (xem thêm Đêm giữa ban ngày của cụ Vũ Thư Hiên). Đã có phóng viên nào chụp hình các tù binh VNCH ốm tong teo, người đầy sẹo là những dấu vết của tra tấn với những cán binh cs người đầy khoẻ mạnh khi được trao trả năm 1973 không? Đã có phóng viên nào đoạt giải Pulitzer vì chụp ảnh người chết la liệt do đạn pháo của phía Bắc Việt thay vì bức ảnh chụp bé gái Kim Phúc chạy trốn bom Napalm ở Tây Ninh chưa? Tất cả những gì người Mỹ thấy được qua truyền hình, qua báo chí trong chiến tranh Việt Nam chỉ là những thứ một chiều phơi bày hết cái tệ hại của một chính quyền miền Nam đầy mệt mỏi và một quân đội Mỹ chỉ biết phòng thủ mà bị trói tay trói chân. “Tôi phải đốt lấy thành phố này để cứu nó”, hiện tại vẫn chưa ai biết được tác giả câu nói này là ai và bản ghi âm cuộc nói chuyện của ông ta nằm ở đâu? Chỉ biết câu nói này đã lan truyền khắp mặt báo với tóc độ chóng mặt và làm hại đi những nỗ lực của người Mỹ ở Việt Nam. Những Nguyễn Văn Bảy, bảy ngày học bảy lớp; Lê Văn Tám, tự thiêu để đốt kho xăng Pháp; Đinh Tôn, núp mây để bắn máy bay Mỹ; Clâu Nâm, lấy ná bắn chết vài chục lính Mỹ trang bị đến tận răng nếu là nền tảng cho một sự thật của phía bên kia thì nền tảng cho phía bên này bị tô vẽ là những người trốn lính, hèn nhát, kém cỏi. Báo Mỹ đã bao giờ đưa câu chuyện của Đại tá Nguyễn Đình Bảo, người hy sinh giữ đồi Charlie, hay Lê Văn Hưng, người quyết tâm giữ cửa An Lộc, hay tướng Nguyễn Khoa Nam, người tự sát để giữ một chút gì đó cho quê hương lên trang nhất chưa? Hay trên sách báo của họ tràn ngập những người Bắc Việt dũng cảm và những người miền Nam hèn nhát đã được Mỹ trang bị tới tận răng mà vẫn thua? Rồi những người miền Bắc đó đánh bằng gì và ăn bằng gì? Không thấy sách báo nào nhắc tới. Liệu có sách báo nào đưa ra thông tin có pháo phòng không ở bệnh viện Bạch Mai vào đêm 21 sáng 22.12.1972 chưa? Phía Bắc Việt đã làm quá tốt việc che đi những sự thật bất lợi cho họ còn phía VNCH lại làm quá tồi trong việc phơi bày hết những mặt trái của chiến tranh. Tôi gọi tất cả những việc phía trên là một nửa sự thật, thậm chí có cái dối trá tuyệt đối. Tất cả những thứ trên vẫn đang ám ảnh các thế hệ mới của Việt Nam khi muốn biết rõ hơn về chiến tranh Việt Nam.

More from DuongTrung271

MỘT NỬA SỰ THẬT Khi tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu của đặc công Nguyễn Văn Lém, nó là một khoảnh khắc báo tử cho chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Người Mỹ bắt đầu thấy rằng họ đã đầu tư vào một chính quyền công nhiên xử bắn tù binh ngay giữa thủ đô và giữa thanh thiên bạch nhật. Họ càng ngày càng kêu gào sự rút quân từ phía quân đội nước mình về nước và bắt đầu giơ những khẩu hiệu phản chiến và có người còn đeo hình con rối để mô tả mối quan hệ giữa chính quyền VNCH và Mỹ. Chính quyền Mỹ thì bắt đầu chửi rủa những con người trong chính quyền miền Nam là tệ hại và kém cỏi. Họ không biết rằng tất cả những gì họ biết chỉ là một nửa của sự thật. Khi Eddie Adams nhận giải Pulitzer vào năm 1969, ông không giải thích cho công luận Mỹ biết rằng có 6 con người trong một gia đình trong đó có hai đứa trẻ nít đã chết dưới bàn tay của Lém một cách man rợ chỉ vì viên đại tá ấy không chỉ đường cho hắn để đánh úp một vị trí quân sự. Ông không buồn chụp hình những nạn nhân của cuộc thảm sát man rợ ấy mà chỉ tập trung vào sự kiến bắn tù binh của tướng Loan. Trong bức ảnh của ông Adams, có tổng cộng 8 người đã chết, 6 nạn nhân của Lém, bản thân Lém và tướng Loan, người coi như bị tử hình sống bởi bức ảnh của Adams. Và ở phía sau bức ảnh là một chế độ VNCH hấp hối và chết chỉ 7 năm sau bức ảnh của Adams ra đời vì sự chống đối của công luận phương Tây quá dữ dội dành cho họ. Phóng viên chiến trường cũng có mặt rất sớm ở Mỹ Lai, chụp những tấm ảnh rất chất lượng và rất súc động về một ngôi làng bị thảm sát bởi nguyên một đại đội Mỹ và một tên chỉ huy bị tâm thần. Nhưng không ai có mặt ở Đắk Sơn năm 1967 để ghi lại cuộc thảm sát gần như toàn bộ một ngôi làng ở Tây Nguyên của quân Bắc Việt, những người tự xưng là quân giải phóng. Có lẽ người Mỹ cũng không quan tâm về những sự kiện này. Phóng viên Malcolm Browne rất quan tâm và sốt sắng khi chụp tấm ảnh hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu và bức ảnh cũng làm cho người Mỹ rút đi sự ủng hộ đối với chính quyền của ông Diệm. Nhưng hình như rất ít phóng viên nào chụp hình nguyên một đoàn tăng ni nằm cản đường xe cứu hoả chữa cháy cho đức hoà thượng. Hay cũng không có một phóng viên nào chụp hình những bác sĩ người Đức đã bị giết trong Tết Mậu Thân tại Huế, những người mà chắc đến lúc chết họ cũng không hiểu tại sao họ lại bị giết khi đang cứu chữa cho những đồng bào người Việt Nam của phía bên kia. Phóng viên Mỹ chụp được rất nhiều hình ảnh các cán binh cộng sản bị bắn chết, bị bắt giam những rất ít người quan tâm đến những Cổng Trời, đến những trại giam mà người ta chỉ có thể chết hoặc què quặt khi bước ra khỏi nhà tù vì những tội danh không rõ ràng (xem thêm Đêm giữa ban ngày của cụ Vũ Thư Hiên). Đã có phóng viên nào chụp hình các tù binh VNCH ốm tong teo, người đầy sẹo là những dấu vết của tra tấn với những cán binh cs người đầy khoẻ mạnh khi được trao trả năm 1973 không? Đã có phóng viên nào đoạt giải Pulitzer vì chụp ảnh người chết la liệt do đạn pháo của phía Bắc Việt thay vì bức ảnh chụp bé gái Kim Phúc chạy trốn bom Napalm ở Tây Ninh chưa? Tất cả những gì người Mỹ thấy được qua truyền hình, qua báo chí trong chiến tranh Việt Nam chỉ là những thứ một chiều phơi bày hết cái tệ hại của một chính quyền miền Nam đầy mệt mỏi và một quân đội Mỹ chỉ biết phòng thủ mà bị trói tay trói chân. “Tôi phải đốt lấy thành phố này để cứu nó”, hiện tại vẫn chưa ai biết được tác giả câu nói này là ai và bản ghi âm cuộc nói chuyện của ông ta nằm ở đâu? Chỉ biết câu nói này đã lan truyền khắp mặt báo với tóc độ chóng mặt và làm hại đi những nỗ lực của người Mỹ ở Việt Nam. Những Nguyễn Văn Bảy, bảy ngày học bảy lớp; Lê Văn Tám, tự thiêu để đốt kho xăng Pháp; Đinh Tôn, núp mây để bắn máy bay Mỹ; Clâu Nâm, lấy ná bắn chết vài chục lính Mỹ trang bị đến tận răng nếu là nền tảng cho một sự thật của phía bên kia thì nền tảng cho phía bên này bị tô vẽ là những người trốn lính, hèn nhát, kém cỏi. Báo Mỹ đã bao giờ đưa câu chuyện của Đại tá Nguyễn Đình Bảo, người hy sinh giữ đồi Charlie, hay Lê Văn Hưng, người quyết tâm giữ cửa An Lộc, hay tướng Nguyễn Khoa Nam, người tự sát để giữ một chút gì đó cho quê hương lên trang nhất chưa? Hay trên sách báo của họ tràn ngập những người Bắc Việt dũng cảm và những người miền Nam hèn nhát đã được Mỹ trang bị tới tận răng mà vẫn thua? Rồi những người miền Bắc đó đánh bằng gì và ăn bằng gì? Không thấy sách báo nào nhắc tới. Liệu có sách báo nào đưa ra thông tin có pháo phòng không ở bệnh viện Bạch Mai vào đêm 21 sáng 22.12.1972 chưa? Phía Bắc Việt đã làm quá tốt việc che đi những sự thật bất lợi cho họ còn phía VNCH lại làm quá tồi trong việc phơi bày hết những mặt trái của chiến tranh. Tôi gọi tất cả những việc phía trên là một nửa sự thật, thậm chí có cái dối trá tuyệt đối. Tất cả những thứ trên vẫn đang ám ảnh các thế hệ mới của Việt Nam khi muốn biết rõ hơn về chiến tranh Việt Nam.

LUCKY LUKE KHÔNG LỚN LÊN Ở VIỆT NAM Tuổi thơ của nhiều người Việt, đặc biệt là ở miền Nam, đều chẳng xa lạ với bộ truyện tranh trứ danh Lucky Luke của hoạ sĩ Moris người Bỉ. Bộ truyện tranh kể về cuộc phiêu lưu của chàng cao bồi Lucky Luke với chú ngựa Jolly Jumper khắp miền Viễn Tây Hoa Kỳ. Bộ truyện sau đó còn có góp sức của tác giả René Goscinny và nhiều hoạ sĩ khác nhưng chưa bao giờ mất đi tinh thần gốc: Sự tự do phóng khoáng và nghĩa hiệp của chàng cao bồi Lucky Luke. Điều khiến nhiều người nhớ đến bộ truyện không chỉ ở nội dung mà còn ở nét vẽ hài hước và cách sử dụng màu sắc kỳ lạ của tác giả. Bầu trời trong truyện có khi là màu tím, vàng, hồng, đỏ, xanh lá cây... tác giả không câu nệ những khuôn phép màu sắc đóng khung. Chính vì lẽ đó, Lucky Luke mang lại cho người đọc tự do hưởng thụ mỹ thuật, khiến bao thế hệ say mê. Thế nhưng, 74 năm sau kể từ ngày bộ sách Lucky Luke ra đời, học trò Việt Nam vẫn chưa được dạy tự do chơi đùa với màu sắc. Câu chuyện "Tô màu cho đúng", dạy "khi em vẽ tranh, nhớ tô màu cho đúng", với cái đúng được định nghĩa là "nắng màu vàng hoe, hoa cúc vàng tươi, hoa hoè vàng nhạt" là đơn cử tiêu biểu nhất của tư duy áp đặt trong bộ sách Tiếng Việt 1 của nhóm "Bình đẳng và dân chủ trong giáo dục" của NXB Giáo Dục. Sự áp đặt đó vạch giới hạn cho trí tưởng tưởng của trẻ, giết chết sáng tạo, bắt ép trẻ chấp nhận một tiêu chuẩn thẩm mỹ đóng khung của người lớn. Và xa hơn, là giá trị đạo đức. Như câu chuyện "Cò và vạc" dạy rằng "Cò ngoan ngoãn, chăm chỉ... ai cũng khen" còn "vạc thì lười biếng, ngủ suốt ngày... ai cũng chê cười", nhằm biến "ngoan ngoãn chăm chỉ" thành giá trị tốt, còn "lười biếng" thành giá trị đáng xấu hổ. Hay dạy "ăn miếng trả miếng" qua bài Cò và Cáo: Cáo mời cò đến ăn tối với cháo loãng đổ ra đĩa, cò trả miếng bằng cách mời cáo đến nhà ăn tối nhưng để thức ăn vào cái lọ cổ hẹp. Hay như bài “Vì sao” có thông điệp: "Hè đến, da Tí đen nhẻm, chả đẹp..." không chỉ là áp đặt một tiêu chí thẩm mỹ, mà còn còn thể coi là gieo mầm cho tư tưởng phân biệt màu da. Đấy là chưa kể bộ sách còn có bài xiển dương cho cách dạy con bằng đe doạ vũ lực như Mèo con đi học: Vì mèo con không muốn đi học nên lấy lý do cái đuôi bị ốm, bác cừu trong câu chuyện đã lập tức mang kéo đến doạ cắt đuôi mèo. Nếu ai đã đọc bộ truyện Lucky Luke hẳn đều biết có rất nhiều sự kiện có thật của miền Viễn Tây được đưa vào sách. Ở đó chàng cao bồi Luke phải chiến đấu với những thế lực xấu nhưng chưa bao giờ yếu tố bạo lực được nhấn mạnh trong bộ truyện, ngược lại bạo lực trở nên hài hước. Bao nhiêu thế hệ độc giả trẻ trên thế giới tìm đến với chàng cao bồi đã học được ở anh sự phóng khoáng, hiệp nghĩa và yêu tự do. Bộ truyện tranh ấy là nhân sinh quan của những con người tiến bộ muốn để lại cho thế hệ đi sau. Thật buồn khi phải so sánh những bộ sách giáo khoa như “Bình đẳng và dân chủ trong giáo dục” với bộ truyện tranh Lucky Luke để thấy nhận thức của một nhóm người trong xã hội Việt Nam hôm nay chậm lụt thế nào. Có thể nói rằng bộ sách Tiếng Việt 1 của nhóm Cánh Diều có nhiều lỗi ngôn từ và bài học sai, nhưng bộ sách "Bình đẳng và dân chủ trong giáo dục" lại cho thấy một tư duy gia trưởng, áp đặt cho trẻ những giá trị cũ kỹ và lạc hậu, ngược chiều với xu hướng cởi mở của nhân loại. Còn những bộ sách và tư duy giáo dục như vậy thì chắc chắn một điều rằng chàng cao bồi lãng tử “bắn nhanh hơn cái bóng của mình” cũng đành chịu thua ở Việt Nam dù từng tung hoành khắp miền Viễn Tây hoang dã. Phải học những bộ sách như vậy thì đến bao giờ một cậu bé Việt mới lớn lên với mơ ước về con người tự do cưỡi ngựa đi về phía hoàng hôn và nghêu ngao câu hát “Tôi là gã cao bồi nghèo, đơn độc rong ruổi trên đường dài xa quê hương”, thay vì trở thành một thứ công cụ hùng hục kiếm tiền và năng nổ đi kiềm chế tự do của người khác! Thật buồn, Lucky Luke không thể lớn lên ở Việt Nam.

13 views · Oct 28th, 2020
MỘT NỬA SỰ THẬT Khi tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào đầu của đặc công Nguyễn Văn Lém, nó là một khoảnh khắc báo tử cho chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Người Mỹ bắt đầu thấy rằng họ đã đầu tư vào một chính quyền công nhiên xử bắn tù binh ngay giữa thủ đô và giữa thanh thiên bạch nhật. Họ càng ngày càng kêu gào sự rút quân từ phía quân đội nước mình về nước và bắt đầu giơ những khẩu hiệu phản chiến và có người còn đeo hình con rối để mô tả mối quan hệ giữa chính quyền VNCH và Mỹ. Chính quyền Mỹ thì bắt đầu chửi rủa những con người trong chính quyền miền Nam là tệ hại và kém cỏi. Họ không biết rằng tất cả những gì họ biết chỉ là một nửa của sự thật. Khi Eddie Adams nhận giải Pulitzer vào năm 1969, ông không giải thích cho công luận Mỹ biết rằng có 6 con người trong một gia đình trong đó có hai đứa trẻ nít đã chết dưới bàn tay của Lém một cách man rợ chỉ vì viên đại tá ấy không chỉ đường cho hắn để đánh úp một vị trí quân sự. Ông không buồn chụp hình những nạn nhân của cuộc thảm sát man rợ ấy mà chỉ tập trung vào sự kiến bắn tù binh của tướng Loan. Trong bức ảnh của ông Adams, có tổng cộng 8 người đã chết, 6 nạn nhân của Lém, bản thân Lém và tướng Loan, người coi như bị tử hình sống bởi bức ảnh của Adams. Và ở phía sau bức ảnh là một chế độ VNCH hấp hối và chết chỉ 7 năm sau bức ảnh của Adams ra đời vì sự chống đối của công luận phương Tây quá dữ dội dành cho họ. Phóng viên chiến trường cũng có mặt rất sớm ở Mỹ Lai, chụp những tấm ảnh rất chất lượng và rất súc động về một ngôi làng bị thảm sát bởi nguyên một đại đội Mỹ và một tên chỉ huy bị tâm thần. Nhưng không ai có mặt ở Đắk Sơn năm 1967 để ghi lại cuộc thảm sát gần như toàn bộ một ngôi làng ở Tây Nguyên của quân Bắc Việt, những người tự xưng là quân giải phóng. Có lẽ người Mỹ cũng không quan tâm về những sự kiện này. Phóng viên Malcolm Browne rất quan tâm và sốt sắng khi chụp tấm ảnh hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu và bức ảnh cũng làm cho người Mỹ rút đi sự ủng hộ đối với chính quyền của ông Diệm. Nhưng hình như rất ít phóng viên nào chụp hình nguyên một đoàn tăng ni nằm cản đường xe cứu hoả chữa cháy cho đức hoà thượng. Hay cũng không có một phóng viên nào chụp hình những bác sĩ người Đức đã bị giết trong Tết Mậu Thân tại Huế, những người mà chắc đến lúc chết họ cũng không hiểu tại sao họ lại bị giết khi đang cứu chữa cho những đồng bào người Việt Nam của phía bên kia. Phóng viên Mỹ chụp được rất nhiều hình ảnh các cán binh cộng sản bị bắn chết, bị bắt giam những rất ít người quan tâm đến những Cổng Trời, đến những trại giam mà người ta chỉ có thể chết hoặc què quặt khi bước ra khỏi nhà tù vì những tội danh không rõ ràng (xem thêm Đêm giữa ban ngày của cụ Vũ Thư Hiên). Đã có phóng viên nào chụp hình các tù binh VNCH ốm tong teo, người đầy sẹo là những dấu vết của tra tấn với những cán binh cs người đầy khoẻ mạnh khi được trao trả năm 1973 không? Đã có phóng viên nào đoạt giải Pulitzer vì chụp ảnh người chết la liệt do đạn pháo của phía Bắc Việt thay vì bức ảnh chụp bé gái Kim Phúc chạy trốn bom Napalm ở Tây Ninh chưa? Tất cả những gì người Mỹ thấy được qua truyền hình, qua báo chí trong chiến tranh Việt Nam chỉ là những thứ một chiều phơi bày hết cái tệ hại của một chính quyền miền Nam đầy mệt mỏi và một quân đội Mỹ chỉ biết phòng thủ mà bị trói tay trói chân. “Tôi phải đốt lấy thành phố này để cứu nó”, hiện tại vẫn chưa ai biết được tác giả câu nói này là ai và bản ghi âm cuộc nói chuyện của ông ta nằm ở đâu? Chỉ biết câu nói này đã lan truyền khắp mặt báo với tóc độ chóng mặt và làm hại đi những nỗ lực của người Mỹ ở Việt Nam. Những Nguyễn Văn Bảy, bảy ngày học bảy lớp; Lê Văn Tám, tự thiêu để đốt kho xăng Pháp; Đinh Tôn, núp mây để bắn máy bay Mỹ; Clâu Nâm, lấy ná bắn chết vài chục lính Mỹ trang bị đến tận răng nếu là nền tảng cho một sự thật của phía bên kia thì nền tảng cho phía bên này bị tô vẽ là những người trốn lính, hèn nhát, kém cỏi. Báo Mỹ đã bao giờ đưa câu chuyện của Đại tá Nguyễn Đình Bảo, người hy sinh giữ đồi Charlie, hay Lê Văn Hưng, người quyết tâm giữ cửa An Lộc, hay tướng Nguyễn Khoa Nam, người tự sát để giữ một chút gì đó cho quê hương lên trang nhất chưa? Hay trên sách báo của họ tràn ngập những người Bắc Việt dũng cảm và những người miền Nam hèn nhát đã được Mỹ trang bị tới tận răng mà vẫn thua? Rồi những người miền Bắc đó đánh bằng gì và ăn bằng gì? Không thấy sách báo nào nhắc tới. Liệu có sách báo nào đưa ra thông tin có pháo phòng không ở bệnh viện Bạch Mai vào đêm 21 sáng 22.12.1972 chưa? Phía Bắc Việt đã làm quá tốt việc che đi những sự thật bất lợi cho họ còn phía VNCH lại làm quá tồi trong việc phơi bày hết những mặt trái của chiến tranh. Tôi gọi tất cả những việc phía trên là một nửa sự thật, thậm chí có cái dối trá tuyệt đối. Tất cả những thứ trên vẫn đang ám ảnh các thế hệ mới của Việt Nam khi muốn biết rõ hơn về chiến tranh Việt Nam.