BÊN THẮNG CUỘC Tác giả: Huy Đức Tập I – Chương 1 BA MƯƠI THÁNG TƯ Diễn biến quân sự và chính trị trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến và những gì xảy ra trong dinh Độc Lập trong ngày 30-4 (Đi từ bưng biền/ Xuân Lộc/ Tướng Big Minh/ Trại Davis/ Nguyễn Hữu Hạnh/ Sài Gòn trong vòng vây/ Xe tăng 390/ Đầu hàng/ Tuẫn tiết) Ba mươi tháng Tư năm 1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn hai mươi năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”. Nhưng, không phải cứ súng ống vứt đi là sẽ có hòa bình. Đi từ bưng biền Sáng sớm ngày 30-4-1975, “cánh” của ông Võ Văn Kiệt về tới một khu “đám lá tối trời” thuộc huyện Bình Chánh. Hai mươi hai ngày trước, ông Lê Đức Thọ vào Trung ương Cục, sau đó, công bố quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh6, đồng thời trao quyết định cử ông Võ Văn Kiệt làm bí thư Đảng ủy Đặc biệt Ủy ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định, cử ông Lê Đức Anh làm phó bí thư kiêm chủ tịch Ủy ban Quân quản, và ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh đảm trách lực lượng nổi dậy phối hợp với quân chủ lực. Từ R, căn cứ Trung ương Cục ở huyện Lộc Ninh, ông Kiệt cùng một bộ phận phục vụ gọn, khoảng hai trung đội, chạy xe Honda 67 bọc qua phía Campuchia, tới cửa biên giới Mỏ Vẹt, Long An thì bỏ xe lại, đi bộ. Ông Kiệt không lúc nào rời chiếc radio ba làn sóng hiệu JVC của Nhật. Đài Hà Nội lúc đó gần như liên tục phát Bão Nổi Lên Rồi, một bài hát mà nhịp điệu thì hối hả, lời lẽ thì thôi thúc: “Từ Trị Thiên băng qua Tây Nguyên đi tới bưng biền lòng người bừng bừng, cùng tiến lên thời cơ đã đến rồi”. Thời cơ đã đến! Anh em phục vụ quan sát thủ trưởng, trong lòng cảm thấy lần này chắc ăn. Nhưng thủ trưởng vẫn im lặng. Ngày 27-4, đoàn vượt qua sông Vàm Cỏ Đông, tới xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, gặp cánh ông Mai Chí Thọ đã về trước ém quân ở đó. Ông Năm Xuân Mai Chí Thọ, phó bí thư Khu uỷ Sài Gòn-Gia Định vào thời điểm đó, là người thông thạo các đầu mối hoạt động nội thành. Hai đoàn bắt đầu nhập lại làm một. Ít ai nghĩ rồi những người đàn ông mặc đồ bà ba đen, đi dép râu, mặt mũi khắc khổ, đang xắn quần lội ruộng đó, chỉ vài ngày nữa sẽ nắm quyền lãnh đạo Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông. Sáng hôm sau, khi sương sớm còn phủ trắng, từ nơi tạm dừng nhìn qua phía bên kia cánh đồng, cánh ông Kiệt nhìn thấy lố nhố xe pháo. Lúc đầu có người tưởng là xe tăng “địch”, tới khi sương mù bớt đi mới nhận ra: “Cơ man tăng. Tăng mình!”. Ông Kiệt viết thư, niêm kín, ra lệnh cho thư ký riêng là ông Phạm Văn Hùng (Ba Hùng), đi kiếm Trung tướng Lê Đức Anh. Tướng Lê Đức Anh tới lúc ấy vẫn là phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, được giao chỉ huy Đoàn 232, một lực lượng tương đương quân đoàn, tiến vô Sài Gòn ở hướng Tây Nam. Dọc đường Ba Hùng đi, đạn pháo nằm la liệt trên các bờ ruộng, bờ kênh; dân công rầm rập, bộ đội, xe tăng lớp lớp. Tướng Lê Đức Anh viết thư trả lời “Anh Sáu Dân” (bí danh của ông Kiệt), rồi cũng niêm kín, đưa Ba Hùng cầm về. Sau này ông Phạm Văn Hùng mới biết đó là thông tin về giờ G. Giờ G, ngày N, tức 00 giờ 00 phút ngày 29-4-1975, là giờ quy định cho tất cả năm cánh quân của quân Giải phóng đồng loạt nổ súng tấn công vào Sài Gòn. Trưa 29-4, đoàn lội bưng, băng vô vườn thơm Tân Nhựt, Bình Chánh, hạ trại nấu cơm. Bếp rơm có khói, một chiếc trực thăng trờ tới, lia vài băng đạn vu vơ. Cách đó không xa lắm là đồn Lý Văn Mạnh, nhưng lính trong đồn giờ đó đã không còn dám ra ngoài. Đêm ấy, ở lại Tân Nhựt, Ba Hùng mắc võng bên cạnh ông Kiệt, nằm nghe tiếng pháo, sau biết là “ta pháo kích vô Tân Sơn Nhất”, hai thầy trò trăn trở không làm sao ngủ được. Sáng 30-4, ông Kiệt, trong khi trao đổi tình hình với ông Mai Chí Thọ, không quên phân công người theo dõi đài phát thanh và cho phép anh em nấu ăn. Từ đêm trước, chưa ai có hột cơm nào vô bụng. Tới khoảng 9 giờ 30 phút sáng, Đài Sài Gòn im lặng rất lạ, rồi tiếng phát thanh viên: “Mời đồng bào nghe tuyên bố của Tổng thống”. Mọi người xúm lại quanh chiếc radio theo dõi phát biểu của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sỹ Cộng hoà hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng, và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sỹ Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”. Lời Tướng Minh vừa dứt, Võ Văn Kiệt ra lệnh: “Giản chính đồ đạc. Đi!”. Đoàn người lúc đó chẳng kịp ăn uống mà vẫn no tới tận cổ, băng đồng ra lộ, đi về hướng Phú Lâm, cửa ngõ phía Tây Thành phố. Dọc đường, lính Sài Gòn bắt đầu trút bỏ quân phục, súng ống, binh khí vất la liệt. Anh em bảo vệ lúc đầu còn khệ nệ xách, sau thấy lếch thếch quá, lại vứt đi. Có nơi lính Sài Gòn ra hàng cả tiểu đoàn. Quân Giải phóng chỉ kịp giải thích chính sách rồi ai ở đâu về đó. Sự tan rã của chế độ Sài Gòn diễn ra gấp gáp khiến ông Kiệt quá sốt ruột. Ông gọi Tư Thạch và Chín Anh, hai người cận vệ vốn là dân thành phố, đến, ra lệnh: “Hai đồng chí tìm cách kiếm xe, nhanh chóng đưa Đại quân vô Sài Gòn!”. Chín Anh cùng Tư Thạch ra lộ, gặp hai người bận đồ công nhân, chạy xe máy từ phía Sài Gòn ra. Chín Anh nói: “Tụi tôi là Giải phóng. Nhờ mấy anh quay lại, đưa tụi tôi vô Sài Gòn”. Hai người này sốt sắng: “Mời mấy anh”. Chín Anh tính đi thẳng vô Phú Lâm nhưng mới tới xa lộ vành đai thì thấy một chiếc xe tải quân sự hiệu GMC mới cáu đậu sẵn bên lề đường. Trên xe không biết lực lượng nào đã cắm sẵn một lá cờ Giải phóng. Chín Anh hỏi: “Mấy anh biết lái xe không?”. Một người nói liền: “Tôi là tài xế nè”. Chín Anh cho kiểm tra lại xe, thấy xe tốt, kêu hai “chiến sỹ” vừa được “trưng dụng” đưa xe máy vô nhà dân cạnh đường gửi, rồi lái chiếc xe quay lại. “Đại quân” lúc này vẫn đi bộ theo Lộ 10, gặp xe mừng quá, nhanh chóng leo lên. Chín Anh ngồi bên cạnh tài xế, ông Kiệt và ông Năm Xuân ngồi kế bên. Bốn, năm anh em khác bám hai bên thùng xe để bảo vệ. Một tốp thanh niên thấy chiếc GMC cắm cờ Giải phóng chạy vô phố, cứ thế phóng xe máy theo. Dọc đường, chỗ nào cũng có lính Việt Nam Cộng hoà cởi áo, cởi giày, chạy. Người dân gom vô, lấy chỗ cho chiếc xe quân sự Mỹ chở một trong những nhà lãnh đạo “Việt cộng” đầu tiên tiến vào Sài Gòn. Ông Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và những người trên chiếc xe GMC hôm đó, có người đã suốt ba mươi năm mắc võng nằm rừng. Giờ ngắm phố xá chạy vùn vụt bên cửa xe, mắt họ cay xè vì sung sướng. Không ai trong số họ, sau đó, có thể diễn đạt lại được cảm giác khi ấy của mình, nhưng cuộc đời họ rồi sẽ khó lòng có lại một niềm vui nào lớn lao hơn niềm vui trong cái ngày 30-4 đó. Xuân Lộc Trong khoảng thời gian cánh ông Võ Văn Kiệt tìm cách di chuyển vô nội thành, chính những chiếc tăng của Lữ đoàn 203, Quân đoàn II đã viết nốt những dòng cuối cùng của một trang sử. Kế hoạch “bao vây chiến lược Sài Gòn” bắt đầu từ ngày N. Lúc đầu, theo Tướng Trần Văn Trà, ở phía Tây, Đoàn 232 do Tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh cũng gặp không ít khó khăn; phía Đông, đêm ngày 9 rạng sáng ngày 10-4, Quân đoàn IV gồm hai sư đoàn tấn công thị xã Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Cuộc tấn công đã chọc thủng tuyến phòng ngự thị xã bằng nhiều mũi, nhanh chóng phát triển vào trung tâm. Tuy nhiên, sau khi cắm cờ trên dinh tỉnh trưởng và làm chủ một loạt các căn cứ khác, ngày 10-4, một lữ đoàn dù của Việt Nam Cộng hòa được trực thăng vận đưa tới thị xã để chi viện gấp và “giữ tinh thần cho Sư đoàn 18”. Cho đến ngày 15-4, gần hết tăng thiết giáp của Quân đoàn III và một lực lượng tương đương một sư đoàn thuộc quân trù bị dù và thủy quân lục chiến của Sài Gòn đã được điều về. Trận Xuân Lộc được được coi là khốc liệt nhất trong toàn chiến dịch. Quân đội Sài Gòn đã ném xuống đây hai loại bom có khả năng sát thương hàng loạt: Daisy Cutler và CBU7. “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”, mọi sức mạnh có thể đều được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sử dụng. Hãng UPI (Mỹ), ngày 12-4, cho rằng, Xuân Lộc được chọn làm nơi thí nghiệm khả năng chiến đấu của quân Nam Việt Nam. Khi quân Giải phóng gặp khó khăn, thương vong rất lớn ở Xuân Lộc, báo chí Sài Gòn đánh giá khả năng chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã hồi phục, và còn đủ mạnh để giữ vững chế độ. Theo Tướng Trần Văn Trà, tình hình đó khiến cho “các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng và cả anh Lê ĐứcThọ rất lo lắng”. Tướng Trà viết: “Trận đánh quá ác liệt, e rằng các đơn vị ta bị thương vong nặng trong thời điểm này không lợi. Vì vậy các anh gợi ý có thể cho anh em rút ra khỏi thị xã… tôi đề nghị cho tôi đến tận nơi, nắm rõ tình hình cụ thể tại chỗ và cùng anh em nghiên cứu cách đánh. Các anh đều đồng ý”8. Chiều 11-4, Tướng Trà đến chỉ huy sở của Quân đoàn IV đóng trên bờ sông La Ngà. Sau khi nghe ý kiến của các tướng chỉ huy ở đây, Tướng Trà kết luận: “Xuân Lộc là điểm then chốt, hết sức quan trọng trong tuyến phòng ngự, nên địch đã tập trung nhiều lực lượng cố giữ. Hiện nay lực lượng chúng đã chiếm ưu thế so với ta. Ta cũng không còn giữ được yếu tố bất ngờ. Vì vậy tiếp tục đánh vào Xuân Lộc là không lợi… Nếu ta chiếm ngã ba Dầu Giây và giữ vững luôn… thì Xuân Lộc tự dưng mất hết tác dụng vì bị đặt ra ngoài tuyến phòng thủ. Biên Hòa thì sẽ lập tức bị uy hiếp”9. Tất cả nhất trí với phương án tác chiến này. Để chuẩn bị cho chiến dịch được đặt tên là Hồ Chí Minh, Quân đoàn I được điều từ miền Bắc vào; Quân đoàn II thì vừa hành quân vừa tác chiến dọc theo bờ biển. Tướng Trà viết: “Có đơn vị vào tới, nhưng đạn dược chưa tới, có xe tăng đến nơi nhưng xăng dầu hết, đạn pháo chỉ còn một hai viên, cần phải bổ sung chấn chỉnh. Cán bộ tham mưu và hậu cần vùi đầu với công việc, mỗi ngày làm việc gấp mấy lần ngày thường. Nhưng tinh thần phơi phới”10. Ngày 18-4, ông Lê Đức Thọ, đại diện Bộ Chính trị đã cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch duyệt lại kế hoạch lần cuối. Trước đó, trong Điện số 07, ông Lê Duẩn viết: “Tôi đã bàn với anh Văn (Võ Nguyên Giáp), nhận thấy cần chuẩn bị thêm mấy ngày nữa, đến khi phần lớn lực lượng của Quân đoàn III và Quân đoàn I (cả bộ binh và binh khí kỹ thuật) đến nơi sẽ bắt đầu cuộc tấn công lớn, chưa nên làm bây giờ”11. Rạng sáng ngày 21-4, các tuyến phòng thủ cuối cùng của chính quyền Sài Gòn tại Xuân Lộc sụp đổ. Bốn tiểu đoàn còn sống sót của Sư đoàn 18 quân đội Việt Nam Cộng hòa với Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo đã phải thoát khỏi thành phố đổ nát ấy bằng máy bay lên thẳng. Đầu tháng 4-1975, trong một cuộc họp báo tại Nhà Trắng, khi các phóng viên đặt vấn đề loại bỏ Nguyễn Văn Thiệu mở đường cho một chính phủ “có thể nói chuyện với Hà Nội” lên cầm quyền, Tổng thống Mỹ Gerald Ford nói: “Tôi không tin là tôi có quyền ra lệnh cho một nguyên thủ quốc gia được dân bầu rời nhiệm sở”12. Tuy nhiên, hơn hai tuần sau, vào ngày 20-4-1975, cả Tổng thống Gerald Ford và Ngoại trưởng Henry Kissinger đều đồng ý để đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin nói bóng gió với ông Thiệu về việc nên “cân nhắc từ chức”. Nhà Trắng hy vọng với việc từ chức của ông Thiệu, Liên Xô có thể giúp nói với miền Bắc đàm phán để có “thêm vài ngày sơ tán những người Việt Nam có liên hệ với Mỹ”. “Với một điệu bộ khá lạnh lùng, Thiệu trả lời rằng ông sẽ làm tất cả những gì tốt đẹp cho đất nước của ông”13. Tuy nhiên, vào buổi trưa hôm sau, ngày 21-4- 1975, khi không còn Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương đến văn phòng, thông báo là ông từ chức. Chiều tối hôm đó, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình công khai quyết định của mình và giao quyền cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Lúc 3 giờ 30 phút chiều ngày 22-4-1975, từ Hà Nội, một bức điện ký tên Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn được chuyển vào chiến trường: “Các anh ra chỉ thị ngay cho các hướng hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng, sự hợp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định giành toàn thắng”14. Ngày 26-4-75, Tướng Văn Tiến Dũng, tư lệnh Chiến dịch, và Tướng Trần Văn Trà di chuyển xuống Sở Chỉ huy tiền phương; hai ngày sau, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng tới. Đến lúc ấy thì tình hình đã ngã ngũ. Sài Gòn hoàn toàn bị vây hãm. Phía Tây, Sư đoàn 5 của Đoàn 232 bắt đầu tấn công vào Sư đoàn 22, từ Tân An lên đến Cầu Voi; Trung đoàn 16 đánh chiếm cầu Bình Điền và cầu An Lạc; hai Trung đoàn đặc công 115 và 117 chiếm Phú Lâm. Xa hơn về phía tây, Lộ 4 bị cắt ở Cai Lậy. Cũng từ ngày 26-4, Sư đoàn 8 Quân khu VIII đã cắt hoàn toàn Lộ 4 đoạn từ ngã ba Trung Lương lên giáp Tân An. Lực lượng Quân khu IX cũng khống chế được đoạn Cái Vồn-Ba Càng. Con đường chiến lược độc nhất xuyên suốt đồng bằng Cửu Long bị băm nát. Về phía Đông, Quân đoàn II ngày 26-4 cũng nổ súng tấn công căn cứ huấn luyện thiết giáp Nước Trong, đánh chi khu Long Thành; ngày 27-4 chiếm thị xã Bà Rịa. Đường 15 bị cắt đứt hoàn toàn. Cùng đêm 26-4, Trung đoàn đặc công 116 bắt đầu đánh cầu xa lộ Đồng Nai; Trung đoàn 10 đặc công đánh từ Phước Khánh đến ngã ba Đồng Tranh, khóa chặt đường sông. Sân bay Biên Hòa bị bắn phá bằng pháo 130 ly. Ngày 23-4, sân bay Biên Hòa bị đóng cửa cùng lúc với tòa lãnh sự Mỹ ở thị xã Biên Hòa. Sài Gòn chỉ còn kiểm soát hai sân bay cuối cùng: Lộ Tẻ (Cần Thơ) và Tân Sơn Nhất”15. Tướng Big Minh Đầu tháng 4-1975, có những thông tin cho thấy người Mỹ quan tâm tới “phương án Big Minh”. Tài liệu của CIA nói là ngày 2-4-1975, trùm CIA tại Sài Gòn Thomas Polgar gửi một bức điện về Tổng Hành dinh đề xuất lật Thiệu để đưa Dương Văn Minh lên thay, hy vọng thành lập được một chính phủ liên hiệp “có khả năng làm chậm lại cuộc xâm lược của Bắc Việt”16. Theo Polgar, trưởng đoàn Hungary trong Ủy ban Kiểm soát Bốn bên nói Hà Nội cho biết nếu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bị loại thì Bắc Việt sẵn sàng thương thuyết. Tại Dinh Hoa Lan (vốn là một dinh thự của Đức Từ Cung ở số 3 Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần, được Tổng thống Ngô Đình Diệm ban tặng cho Tướng Minh), nhóm ông Minh bắt đầu thảo luận về khả năng chấp chính. Đại tướng Dương Văn Minh17 sinh năm 1916 tại Mỹ Tho. Cha ông, Đốc phủ sứ Dương Văn Huề, có bảy người con. Em kế ông Minh, Dương Thanh Nhựt, “tập kết” ra Bắc năm 1954. Ông Minh, vốn là một sỹ quan trong quân đội Pháp, sau Cách mạng tháng Tám đã từng tham gia kháng Pháp. Từ năm 1960, Xứ ủy Nam Bộ, khi ấy được lãnh đạo bởi ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh, đã yêu cầu Cục trưởng Cục Địch vận Võ Văn Thời giao nhiệm vụ cho Dương Thanh Nhựt về Nam để tiếp cận với Dương Văn Minh. Tháng 3-1961, Dương Thanh Nhựt, bấy giờ mang bí danh Mười Ty, về đến miền Nam, và tới tháng 8-1962 thì móc nối được với cậu ruột và vợ là Sử Thị Hương. Ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh, người hùng của Ngô Đình Diệm, đã nhân danh chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng phát lệnh đảo chính tổng thống. Năm 1967, khi Dương Văn Minh đi Pháp, ông Mười Cúc cũng đã cử Mười Ty qua Paris; trước đó, Mười Ty cũng được đưa qua Hồng Kông tìm Dương Văn Minh, nhưng cả hai lần đều không gặp18. Giữa tháng 4-1975, tại một nhà hàng đặc sản của Tướng Mai Hữu Xuân nằm trong rừng cao su trên xa lộ Đại Hàn có tên là Đường Sơn Quán, ông Dương Văn Minh tổ chức họp mặt với đông đủ báo giới trong và ngoài nước, tuyên bố “sẵn sàng thay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như một giải pháp tình huống để tìm cơ hội hòa bình cho miền Nam”. Sau cuộc họp báo, ngày 17-4, Đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon đã đến Dinh Hoa Lan bằng xe có cắm quốc kỳ Pháp. Hành động của ông Đại sứ được báo chí Sài Gòn bình luận là cố tình vi phạm nguyên tắc ngoại giao nhằm công khai lập trường của Pháp đối với tình hình chính trị miền Nam. Sau khi từ chức, ngày 21-4-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và gia đình vẫn sống trong Dinh Độc Lập. Phe đối lập và Đài Hà Nội liền gọi Sài Gòn là “Chính phủ Thiệu mà không có Thiệu”. Cả Tổng thống tạm quyền Trần Văn Hương và Tướng Big Minh đều đánh tiếng để Đại sứ Martin thu xếp đưa ông Thiệu đi. Về mặt công khai, chuyến đi của ông Nguyễn Văn Thiệu và Đại tướng Trần Thiện Khiêm là “công cán”. Buổi chiều ngày 25-4-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với sự tháp tùng của một sỹ quan tùy viên, Trung tá Tôn Thất Ái Chiêu, đi một vòng “hậu dinh”, nơi ở của gia đình ông, và chỉ ra yêu cầu chuẩn bị đồ đạc cá nhân để đưa về tư gia. Sau đó, ông đến văn phòng tổng thống. Sỹ quan tùy viên của ông Hương nói “Tổng thống đang họp”. Ông Thiệu đưa cho viên sỹ quan một phong thư, dặn khi nào Tổng thống họp xong thì trình. Theo ông Nguyễn Đức Từ, một trợ tá và là em rể họ của ông Thiệu, bức thư viết: “Thưa cụ, theo chỉ thị của cụ, tôi và Đại tướng Trần Thiện Khiêm đi giải độc tại các quốc gia bạn, cùng với đoàn tùy tùng gồm: Đại tá Đức, Đại tá Thiết, Đại tá Diên, Trung tá Chiêu…”. Sau đó, ông Nguyễn Văn Thiệu cùng tùy tùng đến nhà Tướng Khiêm ở Bộ Tổng Tham mưu; tại đây, một tiệc nhẹ đã dọn sẵn. Ăn xong, Tướng Nguyễn Văn Thiệu cùng Trung tá Chiêu đi bộ về nhà, cũng trong khuôn viên Bộ Tổng. Khi họ quay lại thì bàn ăn nhà Tướng Khiêm đã được dùng làm bàn thủ tục cho chuyến bay. Khoảng 9 giờ tối, ông Nguyễn Văn Thiệu cùng tùy tùng được đưa ra phi trường bằng ba chiếc xe do hai sỹ quan CIA lái. Đoàn xe ra khỏi cổng Bộ Tổng Tham mưu, thay vì rẽ phải vào phi trường, đã rẽ trái đi ngược ra Sài Gòn, vào Chợ Lớn, qua trường đua Phú Thọ, Lăng Cha Cả… qua cổng Phi Long, Bộ Tư lệnh Không quân, theo đường ngược chiều chạy vào sân bay. Tại “cổng nhà kính” của Không quân, đèn tắt, không có nhân viên Việt Nam nào làm việc, chỉ có thủy quân lục chiến và quân cảnh Mỹ. Sau khi nhận tín hiệu bằng đèn pin, đoàn xe đi qua, chạy thẳng tới cầu thang một chiếc máy bay C-118. Ở đó, Đại sứ Mỹ Martin đã đứng chờ đưa tiễn. Đêm ấy, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bay đi Đài Loan19. Những ngày ấy, trong Dinh Hoa Lan, theo mô tả của một người kề vai sát cánh với ông Dương Văn Minh, Dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận, là “những ngày dài như vô tận”. Tổng thống tạm quyền Trần Văn Hương, người trước đó được Tướng Nguyễn Văn Thiệu phong hàm “hạ sỹ danh dự” đã “quyết tử thủ dù Sài Gòn có phải tắm máu”. Tướng Big Minh nói với Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận: “Toa (anh) làm thế nào đó thì làm, nếu ông Hương cứ kéo dài hoài thì moa (tôi) không nhận đâu!”. Ông Hồ Ngọc Nhuận hiểu đại từ tiếng Pháp “toi” mà ông Tướng nói là nhằm chỉ ông Nhuận và nhóm dân biểu đối lập đang “quậy” ở Quốc hội để ông Hương từ chức. Nghe ông Tướng nói “moa không nhận”, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận nghĩ tới cái ghế tổng thống mà tới giờ đó “ai cũng thấy là không còn cái chân nào”, ông Nhuận xót xa nghĩ: “Ông Tướng đã từng muốn xua đi chén đắng để cuối cùng chấp nhận uống chén đắng cho tới cặn sao”20. Sau đó, trong một cuộc họp ở Dinh Hoa Lan, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận khuyên Tướng Big Minh “thôi”. Ông Dương Văn Minh ngạc nhiên: “Giờ này mà toa còn nói đâm bang!”. Ông Hồ Ngọc Nhuận bỏ phòng họp lên sân thượng. Dân biểu Dương Văn Ba sau đó theo lên nói: “Anh đừng buồn”. Ông Hồ Ngọc Nhuận nói: “Nếu ông Tướng nhận, người ta sẽ làm nhục, giờ này thì chỉ có đầu hàng thôi. Cho dù lâu nay hoạt động của chúng ta có gián tiếp tiếp tay cho họ (phía Cách mạng), nhưng tôi không muốn đứng trong hàng ngũ những người sẽ bị họ bắt quỳ gối, đầu hàng”. Kể từ đó, ông Nhuận không tham gia các cuộc họp bàn thành lập “nội các” nữa, cho dù nhiều người muốn ông Nhuận, người đã từng là quận trưởng Quận 8 và đang là một dân biểu đối lập hàng đầu, ra tay “giúp ông Tướng” mà nhận lãnh vai trò “đô trưởng”. Ngày 27-4-1975, Quốc hội Sài Gòn nhóm họp. Chỉ còn 136 nghị sỹ trên tổng số 219 của lưỡng viện có mặt, phần đông trong số họ đã di tản ra nước ngoài. Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn và Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã đến để thuyết trình tình hình chiến sự. Mãi tới 8 giờ 54 phút tối hôm ấy, các nghị sỹ mới biểu quyết thông qua nghị quyết: “Yêu cầu ông Trần Văn Hương trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh để mưu cầu hòa bình cho dân tộc”. Ngày 28-4, Tướng Dương Văn Minh chính thức công bố thành phần chính phủ: Luật sư Nguyễn Văn Huyền, cựu chủ tịch Thượng viện, giữ chức phó tổng thống; luật sư Vũ Văn Mẫu giữ chức thủ tướng. N...

More from HoangVanLam

BÊN THẮNG CUỘC Tác giả: Huy Đức Tập I - GIẢI PHÓNG Phần mở đầu Mấy lời của tác giả Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra. Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối. Nhưng hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy, thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ. Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn. Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày1, Thép Đã Tôi Thế Đấy2. Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi. Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kênh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất, sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam, rồi chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới. Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong3, một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù đã kiệt quệ sau tám năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy. Mùa hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ, gồm Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Tuấn Khanh, Huỳnh Thanh Diệu, Huy Đức. Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích. Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Không ai để ý đến câu nói này của Tuấn Khanh, nhưng tôi lại bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách. Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình. Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”4, như “Z30”5 cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ Chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm. Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế, chính trị học, và xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ kể lại những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, và về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc. Tư liệu cho cuốn sách được thu thập trong hơn hai mươi năm. Trong vòng ba năm, từ tháng 8-2009 đến tháng 8-2012, tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để viết. Bản thảo cuốn sách đã được gửi tới một số thân hữu và một số nhà sử học, trong đó có năm nhà sử học uy tín của Mỹ chuyên nghiên cứu về Việt Nam. Sau khi sửa chữa, bổ sung, tháng 11-2012, bản thảo hoàn chỉnh đã được gửi đến một số nhà xuất bản trong nước, tuy nhiên, nó đã bị từ chối. Cho dù một số nhà xuất bản tiếng Việt có uy tín tại Mỹ và Pháp đồng ý in, nhưng để lãnh trách nhiệm cá nhân và giữ cho cuốn sách một vị trí khách quan, tác giả quyết định tự mình đưa cuốn sách này đến tay bạn đọc. Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, và sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra, và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc. Sài Gòn – Boston, 2009-2012 Lời cám ơn Trong quá trình thu thập tư liệu để viết cuốn sách này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ chí tình của nhiều nhân vật lịch sử, sự hợp tác của các nhân chứng, sự đóng góp của các đồng nghiệp, và sự ủng hộ của rất nhiều bè bạn. Tác giả đặc biệt cám ơn các nhà lãnh đạo đã trả lời phỏng vấn trực tiếp cho cuốn sách này: Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch Nước Lê Đức Anh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Ủy viên Thường trực Thường vụ Bộ chính trị Phạm Thế Duyệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng Vũ Khoan, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Bí thư Trung ương Đảng Hoàng Tùng, các Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Đình Liệu, Trần Phương, Đoàn Duy Thành, Ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Hà Phan, Bí thư Trung ương Đảng Phan Minh Tánh, Bí thư Trung ương Đảng Trần Quốc Hương, Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Trung tướng Võ Viết Thanh… Xin cám ơn các nhà lãnh đạo đã trả lời các cuộc phỏng vấn của tác giả với tư cách là một nhà báo mà một phần nội dung được sử dụng trong cuốn sách này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương, Đại tướng Đoàn Khuê, Đại tướng Phạm Văn Trà, Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình, Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị Phan Diễn… Cuốn sách không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ, hợp tác và tư vấn của những người giúp việc, những người có nhiều năm gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng như ông Trần Việt Phương, ông Vũ Kỳ…; của nhóm giúp việc Tổng Bí thư Lê Duẩn: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Phương, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Đậu Ngọc Xuân, thư ký tổng bí thư, ông Đống Ngạc; của nhóm giúp việc và chuyên gia tư vấn của Tổng Bí thư Trường Chinh: Tiến sỹ Hà Nghiệp, Giáo sư Trần Nhâm, Giáo sư Đặng Xuân Kỳ, Giáo sư Dương Phú Hiệp, Giáo sư Đào Xuân Sâm, ông Trần Đức Nguyên…; của những người giúp việc Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: ông Trần Văn Giao, ông Hồng Đăng, ông Dương Đình Thảo, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh; của những người giúp việc Tổng Bí thư Đỗ Mười: Thống đốc Lê Đức Thúy, Tiến sỹ Nguyễn Văn Nam; của những người giúp việc Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Trợ lý Vũ Quốc Tuấn, Trợ lý Nguyễn Trung, Trợ lý Vũ Đức Đam, ông Phạm Văn Hùng, ông Nguyễn Văn Huấn, Bác sỹ Đinh Trần Nhưng, Thư ký Nguyễn Văn Trịnh…; của những người giúp việc Thủ tướng Phan Văn Khải: Trợ lý Nguyễn Thái Nguyên, Trợ lý Nguyễn Đức Hòa, Thư ký Nguyễn Văn Kích; của người viết tự truyện cho Đại tướng Lê Đức Anh, Đại tá Khuất Biên Hòa. Xin chân thành cảm ơn bà Nguyễn Thụy Nga, phu nhân Tổng Bí thư Lê Duẩn, bà Ngô Thị Huệ, phu nhân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, bà Phan Lương Cầm, phu nhân Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trả lời phỏng vấn và cung cấp thông tin, tư liệu. Xin cám ơn sự giúp đỡ của Giáo sư Hồ Ngọc Đại, con rể, và Tiến sỹ Lê Kiên Thành, con trai Tổng Bí thư Lê Duẩn; bà Võ Hiếu Dân, con gái, và ông Phan Thanh Nam, con trai Thủ tướng Võ Văn Kiệt; Giáo sư Đặng Xuân Kỳ, con trai Tổng Bí thư Trường Chinh. Cuốn sách cũng nhận được sự cộng tác rất tận tình của các vị từng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hình thành chính sách ở các giai đoạn khác nhau của Việt Nam như Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe (1946-1960), Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc (1992-2002), Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Trần Xuân Giá, Tổng Cục trưởng Địa Chính Tôn Gia Huyên, các đời chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đoàn Trọng Truyến, Lê Xuân Trinh, Lại Văn Cử, Đoàn Mạnh Giao, Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Trần Trọng Tân, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Hữu Thọ… Đặc biệt cám ơn các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam từng đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh như Cục trưởng Tác chiến, Trung tướng Lê Hữu Đức, Cục phó Tác chiến Thiếu tướng Lê Phi Long, Cục phó Tác chiến Thiếu tướng Phan Hàm, những người trong gia đình Đại tướng Lê Trọng Tấn, Cục trưởng Tình báo Quân đội Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương Đại tá Nguyễn Văn Hiếu, Chánh Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tá Nguyễn Văn Huyên… Xin chân thành cám ơn các nhà cách mạng lão thành đã cung cấp cho tác giả hơn năm mươi cuốn hồi ký, phần lớn chưa từng xuất bản. Có những cuốn có giá trị tham khảo đặc biệt quan trọng, như các tập hồi ký của Bí thư Trung ương Đảng Trần Quốc Hương, một người từng gần gũi với Tổng Bí thư Trường Chinh, từng chỉ huy mạng lưới tình báo miền Bắc ở miền Nam và từng là trưởng Ban Bảo vệ Trung ương Đảng. Có những cuốn rất thẳng thắn của Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV Nguyễn Thành Thơ, người từng chỉ đạo kinh tế mới và hợp tác hóa ở miền Nam. Có những cuốn tiết lộ xung đột đảng phái thời kỳ ngay sau 1945 của Đại tá Công an Trần Tấn Nghĩa, người nhận lệnh trực tiếp ám sát và bắt giữ các thành viên đảng phái không cộng sản trong các năm 1945, 1946. Có những cuốn nói về thời kỳ “giúp bạn” Campuchia của Đại sứ Ngô Điền, Đại sứ Trần Huy Chương. Cũng có những cuốn rất thú vị, giúp tiếp cận với những góc độ khác của các nhà lãnh đạo tối cao như tự truyện của bà Ngô Thị Huệ, phu nhân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, hồi ký của bà Nguyễn Thụy Nga, người vợ miền Nam của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tác giả xin chân thành cám ơn các sỹ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa: Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Chuẩn Đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, người chỉ huy trận hải chiến Hoàng Sa tháng 1-1974; cám ơn Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Hảo, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Dân biểu Ngô Công Đức; cám ơn nhà văn Phan Nhật Nam, các nhà thơ Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, nhà văn Uyên Thao; cám ơn Giáo sư Lê Xuân Khoa, bà Khúc Minh Thơ, những người đã giúp tác giả hiểu thêm về những nỗ lực của cộng đồng để giúp những người tù cải tạo được định cư tại Mỹ. Tác giả cũng chân thành cám ơn Giáo sư Thomas Bass (Đại học Albany-SUNY), người đã thu xếp cuộc phỏng vấn cựu ngoại trưởng Henry Kissinger tại Boston vào tháng 2-2006; chân thành cám ơn các nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải, Yên Ba, Nguyễn Khoa Diệu An, Trần Chí Hùng, Nguyễn Giang, Đinh Quang Anh Thái, Nguyễn Khanh, Lê Thiệp, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà ngoại giao Đinh Hoàng Thắng, nhà nghiên cứu Lưu Thu Hương, Tiến sỹ Trần Tố Loan đã giúp tác giả tiếp cận với nhiều nhân vật và nhiều tài liệu lịch sử quan trọng. Tác giả cũng xin chân thành cám ơn hàng trăm chính khách, sỹ quan, nhà tư sản, nhà báo, thường dân, các thuyền nhân và nạn nhân của những biến động sau năm 1975, những người đã giúp tác giả có được những câu chuyện sinh động. Những trích dẫn không có chú thích trong cuốn sách này được lấy từ những cuộc trò chuyện do tác giả thực hiện trực tiếp với các nhân chứng. Xin cảm ơn nhà thơ Bùi Khương Hà, người đã đọc những chương đầu tiên trong bản thảo đầu tiên và có những ý kiến xác đáng giúp tác giả điều chỉnh nội dung và cấu trúc cuốn sách. Tác giả cũng xin chân thành cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc, nhà sử học Dương Trung Quốc, Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu, Giáo sư Trần Hữu Dũng (Đại học Wright, Ohio), Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (Đại học George Mason, Virginia), nhà sử học Sophie Quinn Judge (Đại học Temple), Giáo sư Shawn McHale (Đại học George Washington), Giáo sư Hồ Huệ Tâm (Đại học Harvard), Giáo sư Peter Zinoman (Đại học UC Berkeley), Giáo sư Ngô Thanh Nhàn (Đại học New York) đã đọc và tận tình góp ý để tác giả hoàn chỉnh bản thảo cuốn sách này. Cuốn sách cũng không thể hoàn thành nếu không có nhóm giúp việc gồm một số trí thức trẻ, một số sinh viên mà trong lần xuất bản này tác giả chưa thể nêu tên họ. Trong quá trình thực hiện cuốn sách tác giả đã luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của những người bạn như Nguyễn Thanh Toại, Đặng Cao Thắng, Lê Hải, Đỗ Trung Quân, Hà Tân Cương, Nguyễn Quang Lập, Đặng Tâm Chánh, Bùi Nguyên Cẩm Ly, Trần Minh Khôi, Võ Văn Điểm, Huỳnh Kim Phụng, Đào Ngọc Lâm, Bùi Đức Thịnh, Nguyễn Văn Diễn, B.V.D, N.T.H, Nguyễn Đức Quang, Trần Ngọc Phong, Mai Kỳ, Xuân Bình, Nguyễn Hải Phong, Lê Thị Hoàng Anh, Phùng Văn Vinh, Trần Minh Triết … Tác giả hy vọng tiếp tục nhận được sự góp ý chân thành để hoàn chỉnh cuốn sách này trong những lần xuất bản tới. *** BẢN TÓM TẮT PHẦN I: MIỀN NAM Chương I: Ba Mươi Tháng Tư Diễn biến quân sự và chính trị trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến và những gì xảy ra trong dinh Độc Lập trong ngày 30-4 (Đi từ bưng biền/ Xuân Lộc/ Tướng Big Minh/ Trại Davis/ Nguyễn Hữu Hạnh/ Sài Gòn trong vòng vây/ Xe tăng 390/ Đầu hàng/ Tuẫn tiết) Chương II: Cải Tạo Những bàn bạc bên trong, quan điểm của chính quyền trong việc đối xử với “ngụy quân, ngụy quyền”, những thủ thuật được áp dụng để đưa sĩ quan vào trại cải tạo; số phận của những người tù không án, không biết ngày về và những bi kịch mà người thân của họ phải nhiều năm gánh chịu. (Những ngày đầu/ “Ngụy Quyền”/ “Ngụy Quân”/ “Đoàn tụ”/ “Phản động”/ Tù và cải tạo/ “Thăm nuôi”/ “Học tập”). Chương III: Đánh Tư Sản Những công cụ chuyên chính vô sản áp dụng ngay sau ngày 30-4-1975: Đánh tư sản vào tháng 9-1975 và liền sau đó là đổi tiền lần thứ nhất 22-9-1975; Cải tạo tư sản tháng 3-1978… Sự khác nhau của cải tạo tư sản và đánh tư sản (“Chiến dịch X-2”/ Đổi tiền/ “Gian thương”/ “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh”/ Hai gia đình tư sản/ Kinh tế mới) Chương IV: Nạn Kiều Sự thật về vấn đề người Hoa năm 1978 (Đội quân thứ năm/ Hiệp định Geneve/ “chổi ngắn không quét xa”/ Hoàng Sa/ Sợ “con ngựa thành Troy”/ ‘Nạn Kiều”/ “Phương án II”/ “Ban 69”/ Vụ Cát Lái). Chương V: Chiến Tranh Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh ở CPC và biên giới phía Bắc năm 1979 (Biên giới Tây Nam/ Pol Pot/ Đi dây/ Khmer Đỏ và Campuchia dân chủ/ “Kẻ Thù Lịch Sử”/ Thất bại trong tấn công ngăn chặn [Pre-emptive War]/ “Nhất biên đảo”/ “Áo lính lại khoác vào ngay”). Chương VI: Vượt Biên Điều gì đã khiến cho hàng triệu người VN phải bỏ nước ra đi. Bi kịch của người dân và thái độ chính quyền trước cuộc tị nạn lớn nhất của người Việt Nam trong lịch sử (“Vượt biên”/ Từ “trí thức yêu nước”/ Đến “thường dân”/ Trước khi tới biển/ Trại tị nạn). Chương VII: “Giải Phóng” Cuộc chiến tranh được gọi là giải phóng có thực sự giải phóng sau những gì mà những người cộng sản áp dụng tại miền Nam (Sài Gòn thay đổi/ Kinh tế mới/ Đốt sách/ Cạo râu/ “Cách mạng là đảo lộn”/ Lòng người/ Những người sinh ra không đúng cửa/ “Cánh cửa” Thanh niên xung phong/ Cửa không đủ rộng/ “Nổi loạn”/ “Sài Gòn lại bắt đầu ghẻ lở”). PHẦN II: THỜI LÊ DUẨN Chương VIII: Thống Nhất Những lo lắng từ hai phía đặc biệt là của ông Lê Duẩn dẫn đến quyết định thống nhất hai miền cả về chính trị và kinh tế, áp dụng mô hình miền Bắc vào miền Nam một cách vội vã, mặc dù, nhiều người lúc đó, kể cả ông Lê Duẩn, nhận thấy nền kinh tế tư nhân miền Nam hiệu quả hơn những gì áp dụng trên miền Bắc (Nước Việt Nam là một/ “Bắc hóa”/ Chủ nghĩa xã hội/ “Con đường của Bác”/ “Mỗi người làm việc bằng hai”/ Lê Duẩn và mối tình miền Nam/ Chấp chính và chuyên chính). Chương IX: Xé Rào Chính sách kinh tế kế hoạch hóa và sản xuất lớn nhằm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” đã dẫn đất nước đến chỗ kiệt quệ. Người dân và chính quyền các địa phương, thay vì tuân thủ các nguyên tắc của nền kinh tế “kế hoạch hóa tập trung” chấp nhận một số quy luật của kinh tế thị trường, tiến trình này bị coi là “xé rào” nhưng chính những “lỗ thủng” đó đã trở thành lối thoát cho dân chúng (Bế tắc/ Mậu dịch quốc doanh/ Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng/ Tháo gỡ/ Nghị quyết Trung ương Sáu/ Bù giá vào lương/ Cắm cờ xé rào/ Khoán chui/ Ông Kiệt xé rào, ông Linh lãnh đạn/ “Ai thắng ai”). Chương X: Đổi Mới Vai trò của Trường Chinh trong việc tiếp thu thực tiễn và chuẩn bị về mặt lý luận để những người cộng sản chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, điều mà về sau gọi là đổi mới (Hội nghị Đà Lạt/ Nhóm giúp việc mới/ Người của những khúc quanh lịch sử/ Từ chính sách Kinh Tế Mới/ Đến chọc thủng bức tường bao cấp/ Giá-Lương-Tiền/ Nã pháo vào bộ tổng/ Khép lại trang sử Lê Duẩn/ Vai trò của Mikhail Gorbachev/ Tuyên ngôn đổi mới/ Bàn tay Lê Đức Thọ/ Phút 89). Chương XI: Campuchia Dù muốn hay không, Campuchia đã “nằm trong một trang sử” của Việt Nam. Không gian chiến tranh trong thập niên 1980s và cách mà Việt Nam đã làm để thoát ra khỏi hai cuộc chiến: Biên giới phía Bắc và Campuchia (“Pot ở đầu phum ta cuối phum”/ “Xuất khẩu cách mạng”/ Tư tưởng nước lớn/ Bị cô lập/ Phương Bắc/ Hội nghị Thành Đô/ Campuchia thời hậu Việt Nam). HUY ĐỨC Link: https://daohieuvn.wordpress.com/2000/05/15/huy-duc-ben-thang-cuoc-tap-mot-giai-phong/ --- - BÊN THẮNG CUỘC - Tập I – Chương 1: https://www.minds.com/newsfeed/1022836722195058688?referrer=HoangVanLam   === 0 ===   TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
66 views ·
BÀI DIỄN VĂN OAN NGHIỆT CỦA LS NGUYỄN MẠNH TƯỜNG GIỚI THIỆU Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), năm 23 tuổi đă đậu hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa ở Đại học Montpellier, Pháp. Sau khi về nước năm 1936, ông dạy học tại trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat). và mở văn phòng luật sư. Tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông đến. Ông kể: “Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói: “Như Ngài đã biết, Chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới, giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn giùm cho một bản lập trường của Chính phủ (thèse gouvernemental) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp: “Công việc này quan trọng quá, xin Cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”. Cụ Hồ nói: “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi” Ông theo chính phủ Hồ Chí Minh kháng chiến chống Pháp tới ngày ký Hiệp định Genève 1954 thì trở về Hà Nội dạy học và làm Phó Giám đốc Đại học Văn khoa, làm Chủ tịch Hội đồng luật sư, Ủy viên UB Bảo về hòa bình và nhiều chức vụ quan trọng khác… Với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, L.S. Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn trong một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, ngày 30 tháng Mười, 1956. Bài diễn văn này được đọc sau khi Trung ương Đảng hạ lệnh chấm dứt chiến dịch Cải cách Ruộng đất ngày 20.7.1956 và sau đó ban hành các biện pháp sửa sai. Ông Trường Chinh đã đến UB MTTQ kêu gọi các trí thức phản biện, góp ý kiền giúp Đảng sửa sai. Tổ chức Đảng đã dựa vào nội dung bài diễn văn này để qui kết ông là kẻ phản động, chống Đảng, chống chế độ, tước bỏ hết mọi chức vụ của ông, cắt hết mọi tiêu chuẩn lương thực thực phẩm của bản thân và gia đình (mà mọi công dân được hưởng), bao vây , không cho ông làm bất kỳ việc gì để kiếm sông… Nếu không có sự giúp đỡ bí mật, vô tư của nhiều người thì có lé cả gia đính ông đã chết đói giữa thú đô- Năm 1991, nhân dịp được phép sang Pháp ông đưa cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn sách tự thuật L’excommunié (Kẻ bị khai trừ) năm 1992. Ông trở về Hà Nội và mất năm 1996, thọ 87 tuổi. Xin mời các bạn đọc bài Diễn văn của ông Tường, tìm xem ông chống đảng, chống chế độ chỗ nào, dựa vào đâu để kết tội ông, để hãm hại ông, đẩy ông vào cảnh dở sống dở chết. Việc vùi dâp NMT chủ yếu liên quan đến Trường Chinh. Nhưng liệu Hồ Chí Minh có biết không. Phải chăng Lời kêu gọi của Trường Chinh chỉ là cái bẫy. Phải chăng CS đã chủ ý triệt hạ NMT từ trước, để răn đe các trí thức muốn phản biện,đòi dân chủ. Bài diễn văn chỉ là một cái cớ, một giọt nước làm tràn ly. NỘI DUNG BÀI DIỄN VĂN Thưa các quí vị, Hội nghị Mặt trận Trung ương họp để nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chính sách sửa chữa sai lầm ấy. Hôm nay tôi được đúc kết trước toàn thể Hội nghị các ý kiến mà trong mười ngày vừa qua tôi đã trình bày trong tổ thảo luận, với tinh thần thận trọng của người trí thức không bao giờ quên trách nhiệm của mình trước nhân dân và lịch sử nước nhà. Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được? Nếu chúng ta duy tâm và tin rằng linh hồn còn tồn tại thì một phần nào ta chuộc lại được tội lỗi của ta. Nhưng ta duy vật và các người ấy lúc chết cũng là duy vật. Do đó, cái nỗi khổ cực của họ ta biết rõ rằng bây giờ ta không thể nào thủ tiêu được nữa. Quyền hạn của ta không tới đó. Nhưng cái gì ta có thể làm được, ta cần làm, để như là đền bù một phần nào sự tổn thiệt của các người ấy, và chứng minh ta thấm thía nỗi đau khổ của họ khi họ từ trần là ta cương quyết rút bài học kinh nghiệm đau đớn và sửa chữa các sai lầm nghiêm trọng mà họ là nạn nhân. Với tinh thần của một người trong quần chúng, của một người công dân đau khổ trước bao nhiêu cái chết oan của người vô tội, tôi xin phép trình bày mấy ý kiến xây dựng. Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, nhưng theo ý tôi các sai lầm này chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những thiếu sót trong sự lãnh đạo của Đảng Lao động. Do đó tôi xin được góp ý kiến xây dựng quan điểm lãnh đạo của Đảng Lao động. Tại sao tôi lại tin như vậy? Là vì, không những trong Cải cách Ruộng đất chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết thê thảm. Do đó, nếu chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không thể rút được bài học kinh nghiệm, chúng ta sẽ khiếm khuyết với sự tín nhiệm của tất cả các đảng viên Đảng Lao động, với sự mong đợi của toàn dân. Chúng ta phải kiên quyết không cho các sai lầm ấy tái diễn và tác hại nữa. Đó là nhiệm vụ tối thiểu của chúng ta đối với các người đã chết oan. Tình hình nước ta hiện thời ra sao? Tình hình ấy có bi quan không? Đó là vấn đề nhận định thôi. Nhưng cái chủ yếu là ta không nhìn tình hình ây với con mắt bi quan. Vậy sự thật khách quan như thế nào? Nhìn vào nông thôn, ta thấy hiện thời tình trạng thiếu đoàn kết rất phổ biến. Vì thi hành sai chính sách cải cách, ta đối lập các từng lớp trong giai cấp nông dân, cán bộ cũ và mới, chi bộ cũ và mới của Đảng. Trong khi đập tan giai cấp địa chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt. Ta chỉ cần đọc lại các bài giáo huấn cho đồng bào nông thôn trong báo Nhân Dân là ta đủ hiểu mặt mũi nông thôn hiện giờ ra sao. Nhìn vào các công xưởng, công trường, ta thấy gì? Cứ đọc báo Nhân Dân thôi, ta thấy Chính phủ gửi các phái đoàn đi thăm các anh chị em công nhân, ủy lạo họ, bắt buộc thi hành quy chế lao động mà Chính phủ đã ban ra. Nghĩa là thế nào? Nghĩa là giai cấp công nhân đã phải lao động sản xuất hai năm nay mà không được bồi dưỡng đúng mức. Lắng nghe dư luận đồng bào Hà Nội thôi, ta được biết rằng có it ra một doanh nghiệp quốc gia lãng phí bao nhiêu triệu trong khi dưới chế độ Pháp thuộc, cũng doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc các số lãi khổng lồ. Về Mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình, nào đưa ra thị trường sữa hư mà không bao giờ nghĩ đến tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ sinh, nào tung ra bơ hỏng, thuốc lá mốc, phạm đến sức khỏe của nhân dân, nào bất lực trước hiện tượng vật giá ngày càng lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình ổn nó. Có thể nói được, suốt ngày đêm không đâu là không có lời oán trách Mậu dịch. Về hộ khẩu thì cán bộ tỏ vẻ không phải là nhằm duy trì trật tự an ninh, phá vỡ cơ sở của địch, trái lại quấy nhiễu nhân dân, tạo ra một đời sống thành thị điêu đứng cho tất cả. Nếu các vị cần những dẫn chứng cụ thể, tôi chỉ xin nhắc lại hồ sơ mênh mông, thu lượm các thắc mắc cay đắng của đồng bào Thủ đô trong Đại hội lần thứ ba của nhân dân Hà Nội vừa họp cách đây hai tháng. Nói về chính sách khôi phục kinh tế, ta thấy gì? Số vốn mà các nhà công thương mang ra kinh doanh chỉ là một phần ti tiểu, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý gì. Trái lại ta thấy tất cả một phong trào các nhà tư bản thu hẹp hoạt động của họ, hoặc “chuyển hướng” bằng cách đâm ra quay chỉ, bán nước mía, hay dệt vài thước vải vớ vẩn, hoặc đóng cửa ăn vào vốn để khỏi đụng chạm đến Sở Lao động vì vấn đề công nhân, với Sở Công thương vì vấn đề đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với Sở Tài chính vì thuế khoá đặc biệt. Thuế bổ sung đã đưa bao nhiêu người đến chỗ phá sản, có kẻ đến chỗ tự sát. Các người tiểu thương buôn thúng bán mẹt, đẩy chiếc xe hàng tiều tụy trong phố, cũng “được” nộp thuế, cũng như các người suốt ngày làm việc ở công sở hay công xưởng, tối về thức đêm dệt vài thước kiếm thêm tiền độ thân. Hàng trăm, hàng nghìn công chức cũ về hưu, với gia đình của họ, trước đây sống bằng lương hưu trí, hai năm nay không được ai chiếu cố đến, chết dần chết mòn, có người đâm đầu xuống sông tự tử, có người hai lần uống độc dược để quyên sinh. Còn như các cán bộ thì ta có cần nói đến không? Ta cứ trông mặt mũi, quần áo họ, ta chỉ cần hỏi con số những người qua các phòng khám bệnh, các bệnh viện, ta liếc mắt nhìn họ ăn uống những gì trong bữa cơm, là ta đủ hiểu khổ cực của họ. Ta quên thế nào được các đồng bào tập kết ra ngoài Bắc, số phận con cái họ ở Hà Nội, Hải Phòng, số phận chính của họ bi đát quá nỗi! Khổ cực nhất cho các anh chị em là không nương tưa đuợc vào một đời sống gia đình đề khuây khỏa trong lúc thảm sầu. Các hiện tượng trên đây có đúng không, tôi chỉ yêu cầu các vị đọc báo Nhân Dân, nghiên cứu các hồ sơ chồng chất lên ở Mặt trận Thành Hà Nội sau Đại hội lần thứ 3 vừa rồi, nghe ngóng lời than phiền của quần chúng, nhìn nhận các quang cảnh diễn ra dưới mắt của các vị là các vị đủ hiểu rồi. Quả thực như ông Trường Chinh đã tuyên bố, uy tín của chính phủ, của Đảng bị tổn thiệt rất nhiều. Thế tại sao đồng bào chúng ta lại khổ cực? Phải chăng vì cán bộ của chúng ta non, hẹp hòi, chưa thấm nhuần lý luận cách mạng, không tôn trọng giá trị của con người, các nhu cầu và đòi hỏi chính đáng của nó? Phải chăng vì ta đang mắc trầm trọng bệnh ấu trĩ của cách mạng? Các điều đó là có, ta không hề chối và ta cũng không thể chối cãi được. Nhưng nhận định như vậy vẫn còn hời hợt. Ta phải đi sâu hơn nữa. Khi trong Cải cách Ruộng đất của ta, ta thấy bao nhiêu người bị tù tội, bị giết oan, trong đó bao nhiêu người dân ưu tú đã từng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng, khi hiện thời ở nông thôn vẫn có người bị đánh đập, ngược đãi, khi ta không xây dựng được đoàn kết giữa các đồng bào, thì ta phải nhận định rằng các sai lầm ta đã mắc trong cuộc Cải cách Ruộng đất này chỉ là những biểu hiệu cực độ của các sai lầm ta đã phạm, và các sai lầm ấy nêu lên, như tôi trình bày trên đây, một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo của Đảng Lao động. Do đó, tôi yêu cầu các vị cho phép tôi bắt đầu nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách đã rồi sau khi truy nguyên các sai lầm ấy, đề đạt mấy ý kiến về vấn đề lãnh đạo. I. Vấn đề pháp lý trong Cải cách Ruộng đất Ta đã sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách Ruộng đất, ta có thể tránh được sai lầm ấy mà vẫn bảo đảm được đường lối căn bản của cách mạng không? Tôi giả nhời cương quyết rằng có. Đường lối cách mạng của ta đòi hỏi gì? Ruộng phải trở về người cày. Điều này rất đúng không ai có thể chối cãi được. Nông dân là đại đa số trong nhân dân, nông dân là quân đội chủ lực của cách mạng, nhất định cách mạng không thể nào thành công được nếu ta không thỏa mãn nhu cầu thiết yếu và cấp bách của nông dân. Không cần phải là một nhà chính trị cao, một nhà cách mạng thạo, cũng nhận thấy điều ấy. Chỉ cần nhìn lịch sử cách mạng từ thời kỳ cổ đại đến giờ là đủ hiểu rồi. Như vậy về nguyên tắc, ta tán thành chủ trương Cải cách Ruộng đất. Về phương pháp, ta có nên ban ơn cho nông dân không? Nhất định là không. Nông dân ta trong bao nghìn năm đã khổ cực dưới chế độ bóc lột phong kiến và một trăm năm nay dưới chế độ bóc lột thực dân. Đồng bào nông thôn ta lầm than như vậy, đã mất hết khí thế con người. Ta cần khôi phục khí thế của người nông dân, xây dựng cho họ tinh thần chủ nhân ông trên đất nước. Do đó ta thấy cần thiết phải phát động tư tưởng của họ để họ nhận được phân minh kẻ thù của họ, để họ vùng giậy nắm lấy quyền thế ở nông thôn. Nhưng từ đây trở đi, ta thấy khởi phát các sai lầm. Sai lầm này, ông Trường Chinh đã nhận thấy là ở chỗ: ta quên hẳn ta hiện thời nắm chính quyền và chính quyền ấy, nếu ta biết sử dụng nó, khai thác nó một cách sáng suốt, nhất định ta vẫn thành công nhưng ta tránh được bao tai họa làm ta đau khổ hiện thời. Con đường ông Trường Chinh đã đi để tiến tới kết luận ấy là con đường chính trị. Các anh em tôi là những nhà luật học, chỉ là nhà chuyên môn và lý luận trên cơ sở chuyên môn thôi, đã trông thấy kết luận ấy ngay từ khi chính sách phát động và Cải cách được đề ra. Tại sao? Vì giải pháp chính quyền cụ thể là giải pháp pháp lý, đảm bảo thắng lợi hoàn toàn của cách mạng nếu ta biết mang nó ra phục vụ chính trị và cách mạng. Ta muốn gì? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách mạng để tiêu diệt nó. Nhưng đồng thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên rằng công lý của cách mạng, muốn bảo toàn được uy tín và thắng lợi của cách mạng, phải biết đánh đúng địch. Khi đưa ra khẩu hiệu “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch” thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác nữa. Muốn chứng minh điều này ta chỉ cần nhìn thực tế: kết quả sai lầm ta đã phạm khi thực hiện khẩu hiệu này rất tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho bản thân bao nhiêu chiến sĩ cách mạng. Nếu không phải đó là phản lại cách mạng thì là gì? Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: “Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”. Thế ta có lo ngại rằng 10 địch sót không? Không, vì ta nắm chính quyền, vì cách mạng ta đã thành công. Như vậy kẻ thù của cách mạng chẳng sớm thì chậm, nhất định hoặc cải thiện, giác ngộ, hoặc lọt vào lưới của ta. Khẩu hiệu này lợi ở chỗ: không một người oan nào bị kết án. Do đó, không có các kết quả cực kỳ tai hại diễn ra hiện thời. Làm thế nào thực hiện được khẩu hiệu ấy? Kinh nghiệm pháp lý của hàng nghìn năm lịch sử thế giới cho ta biết rằng ta có phương pháp để tìm đúng địch mà đánh, không đánh tràn lan, không đánh người vô tội. Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây các nguyên tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt mục đích ấy. Một nguyên tắc đầu tiên là không hình phạt các tội đã phạm quá lâu rồi mà bây giờ mới khám phá ra.Tại sao? Vì rằng vấn đề bằng chứng khó giải quyết được, tang vật đã mất, nhân chứng có người đã từ trần, có người không nhớ rõ các sự việc họ đã mục kích. Hơn nữa, sở dĩ hình luật phạt các tội, là vì các tội ấy đã xâm phạm vào trật tự xã hội: tác hại cho nạn nhân và gây tác dụng xấu trong quần chúng. Nhưng khi tội đã phạm quá lâu, trật tự xã hội hết bị xâm phạm rồi, nạn nhân không còn đau khổ, tác dụng xấu của tội cũng hết, thời gian đã hàn gắn các vết thương. Bây giờ lại vạch chuyện cũ thì không những khó thu thập được bằng chứng kết tội mà lại gây một sự náo động trong xã hội không cần thiết. Chính xã hội thấy “quên” lợi hơn là “nhớ”. Một nguyên tắc thứ hai là trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân phải chịu, không có trách nhiệm chung của vợ con, của gia đình. Nêu trách nhiệm truớc hình luật của các người “có quan hệ” với phạm nhân không những là bất công mà lại còn gây các sự rung động vô ích trong xã hội. Hơn 400 năm nay không một nước Tây phương nào làm việc đó nữa. Trách nhiệm trước hình luật chỉ là một trách nhiệm cá nhân mà thôi. Không những thế, về phương diện nhân đạo, thì các phạm nhân quá già được miễn nghị, miễn tố và các vị thành niên được chiếu cố. Môt nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Phải có nhân chứng là những kẻ đã mục kích sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ ràng, chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ, ít ra cũng phải có hai nhân chứng cung khai phù hợp với nhau mới được coi là đáng kể. Cung khai của các nhân chứng phải ăn khớp với nhau và trong quá trình phạm pháp các tang vật thu được phải có tác dụng hợp lý, sát hợp với kết quả do cuộc điêù tra mang lại. Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu điều kiện nhờ luật sư, khi nào là một trọng tội, Tòa phải cử luật sư bào chữa không, cho bị can. Trong tất cả, giai đoạn điều tra ở trình độ công an thẩm vấn trong phòng dự thẩm, buộc tội trước tòa, quyền lợi của công tố viện ngang với quyền lợi bị can, nghĩa là nếu công tố viện đưa hết lý lẽ để buộc tội, bị can đưa hết lý lẽ để minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa công tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán ngồi xét xử phải là vô tư, đứng giữa để theo rõi cuộc đấu lý diễn ra dưới mắt mình. Như thế mới nhận định đúng và xử công minh. Toà án xét xử không chịu lệnh của ai trong khi xét xử, chỉ biết xét xử theo lương tâm của mình và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi nghe hai tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người thẩm phán phải được đủ đảm bảo để làm nhiệm vụ của mình mà không sợ ai khiển trách hay gây khó khăn cho mình được. Khi điều tra thẩm vấn, tuyệt đối cấm không được dùng phương pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị can, mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn. Khi nào có điều nghi ngờ thì bị can được miễn nghị. Nếu bị kết án thì còn quyền chống án lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình thì lại còn quyền xin ân giảm trước vị Chủ tịch Chính phủ. Con người của bị can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử phải được tôn trọng triệt để, khi bị can ra trước tòa thì không được xiềng xích họ và không lúc nào được dùng nhục hình đối xử với họ. Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì một người tác hại cho một người khác mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu trách nhiệm về phương diện dân sự, nghĩa là bồi thường thôi — của người đã tác hại. Muốn truy tố người ấy để thi hành hình luật đối với hắn thì phải chứng minh rằng hắn phạm một tội, nghĩa là phạm vào một điều khoản nào qui định trong hình luật, và hình luật không bao giờ có tác dụng đối với quá khứ cả: nếu hành động của một người diễn ra trong thời kỳ mà hình luật chưa quan niệm là một tội thì người ấy không thể mang ra truy tố được. Không những bị can phải phạm một tội đã qui định rồi trong pháp luật, mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc phạm tội ấy bị can có ý thức, có ý chí phạm pháp hay không, hay là vô tình mà phạm pháp. Sự đối xử trong hai trường hợp ấy khác nhau. Lúc tôi nhắc lại các nguyên tắc này thì có vị cho rằng như thế là phiền phức, phức tạp. Dĩ nhiên rồi, nhưng tất cả vấn đề là: ta có muốn giết người vô tội không? Nếu không thì không thể nào làm khác được. Hơn nữa, muốn nhận định vấn đề cho đúng, ta không nên đứng vào vị trí một người hiện thời không dây dưa với pháp luật, một người ở một cương vị chính quyền. Ta phải đứng vào cương vị của bị tố nhân; lúc ấy vấn đề rất sáng tỏ, không những ta đòi thi hành các nguyên tắc pháp luật, ta còn cố gắng tìm hiểu thêm các nguyên tắc mới để đảm bảo người oan khỏi bị chết. Nếu mang ra áp dụng các nguyên tắc ấy vào cuộc Cải cách ruộng đất của ta, ta sẽ làm thế nào? Thủ tục cải cách cứ diễn bài nhưng sự trừng trị bọn cường hào gian ác hay phản động, ta sẽ không giao cho một tòa án nhân dân, đặc biệt như ta đã làm với tất cả sự thiếu sót về phương diện pháp lý mà ta đã biết. Trái lại, sau khi phát động tư tưởng của nông dân, ta sẽ nghe lời họ tố cáo kẻ thù của họ. Ta sẽ ủy nhiệm toà án nhân dân thường lập các hồ sơ, để tòa án, với bộ máy và kinh nghiệm của nó, tiếp tục điều tra, kiểm tra, lấy cung chứng, truy tố, luận tội, xét xử. Ta đảm bảo triệt để cho bị tố nhân quyền bào chữa của họ, ta yêu cầu các luật sư làm tròn nhiệm vụ của họ, ta tôn trọng triệt để con người của bị tố nhân. Ta chỉ thù ghét và kết án, trừng phạt tội của nó đã phạm thôi. Ta tin tưởng ở tòa án, ta đảm bảo cho các vị thẩm phán làm việc ngoài sự điều khiển của chính quyền, một các...
TRONG THÂM CUNG ĐẢNG CSVN: VỤ AN CHÍNH TRỊ LỚN HÉ MỞ... I. BỨC THƯ KHÔNG BÌNH THƯỜNG CỦA VỊ ĐẠI TƯỚNG MỘT THỜI VANG BÓNG: Đầu năm 2004, tướng Võ Nguyên Giáp gửi một bức thư đề ngày 3 tháng 1 cho "Ban chấp hành Trung ương, Đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương". Thư dài 7 trang, về hình thức là đóng góp ý kiến cho cuộc họp Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 9 (khóa IX) nhằm kiểm điểm 3 năm thực hiện nghị quyết của Đại hội đảng khóa IX và đề ra nhiệm vụ cho 2 năm còn lại của nhiệm kỳ này. Đọc thoáng qua, ít ai thấy được rõ nội dung thật sự của bức thư, những vấn đề nó đặt ra, cũng như khả năng tác động của nó đối với nội tình đảng CS và tình hình chính trị trong nước. Có thể hình dung sự bối rối của những nhân vật cầm quyền chóp bu khi thấy bức thư đã "lọt lưới" ra ngoài nước và đang được truyền về cho bà con ta ở trong nước. Bức thư cần được lý giải, phân tích và nhận định một cách khách quan, thấu đáo, dựa vào những thông tin đáng tin cậy, để các lực lương dân chủ trong, ngoài nước rút ra những kết luận cần thiết cho hoạt động của mình. Chúng ta có thể chưa đi sâu vào cả 7 trang thư, vào cả 7 vấn đề lớn được ông Giáp lần lượt góp ý: 1) về xây dựng kinh tế; 2) về giáo dục và khoa học; 3) về quốc phòng và an ninh; 4) về chống tham nhũng, lãng phí; 5) về xây dựng, chỉnh đốn đảng; 6) về công tác cán bộ; 7) về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Có những bức thư dài, nhưng quan trọng hơn cả lại ở vài dòng “tái bút”. Bức thư này cũng vậy. Theo tôi, người viết muốn nhấn mạnh đến vấn đề cuối cùng, là “công tác bảo vệ chính trị nội bộ” (những chữ in đậm dưới đây là nguyên văn trong thư). Trong phần này, ông Giáp nêu bật lên những vụ án chính trị cụ thể: “điển hình nghiêm trọng là vụ Tổng cục II thuộc Bộ Quốc phòng”; “đặc biệt nghiêm trọng là vụ Sáu Sứ mà Hội nghị Trung ương 12 và 13 khóa VI đã bàn giao cho Trung ương khóa VII giải quyết”, và: “nghiêm trọng hơn nữa là vụ T4 mà Bộ Chính trị khóa VIII đã bàn giao lại cho Bộ Chính trị khóa IX; Bộ Chính trị khóa IX đã chỉ đạo Ban điều tra liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã kết luận”. Bức thư kết luận khá mạnh mẽ: “Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương 9 khóa IX xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của Đảng, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất cứ cương vị nào, và thông báo công khai cho Ban chấp hành trung ương khóa IX, cho các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ban bí thư và Ủy ban kiểm tra trung ương các khóa trước. Kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước đòi hỏi không được phép bao che, né tránh, làm qua loa, mà phải kiên quyết xử lý cả những kẻ bao che”. Bức thư còn không bình thường, chưa từng có ở ông Giáp, vì lời lẽ rất mạnh, lên án những việc làm tồi tệ trong quân đội, trong đảng, không phải do kẻ thù nào gây ra, mà chính do các quan chức ở ram bu quyền lực chế độ tạo nên – một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, phá hoại đảng một cách có hệ thống, có tổ chức, kéo dài ram chục năm… II. CÁC VỤ ÁN CHÍNH TRỊ NGHIÊM TRỌNG, CỰC KỲ NGHIÊM TRỌNG VÀ SIÊU NGHIÊM TRỌNG ĐÓ LÀ GÌ? 1) TRƯỚC HẾT LÀ VỤ TỔNG CỤC II THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG. Ông Giáp chỉ rõ: “Những người đứng đầu và những phần tử xấu trong Tổng cục II đã có những hoạt động phá họai Đảng nghiêm trọng, đặt máy nghe trộm các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ cấp cao, sử dụng những thông tin sai lạc để phá rối và chia rẽ nội bộ, cố tình gây ra bè phái trong đảng (đoạn in ngả này được gạch ở dưới), tạo ra chứng cứ giả để hãm hại những cán bộ tốt của đảng …”. Tổng cục II là cơ quan an ninh – tình báo – phản gián bao trùm cả xã hội, nội bộ đảng, nội bộ quân đội và quốc tế, cả về chính trị, kinh tế, quân sự, đối ngoại… do Bộ trưởng quốc phòng trực tiếp nắm. Nó được lập ra từ Cục II, tên gọi của Cục Quân báo, xưa nay vẫn nằm trong Bộ Tổng tham mưu (bao gồm các Cục tác chiến, Cục quân báo, Cục quân lực, Cục quân huấn, Cục động viên, Cục dân quân …). Cục II được đại tướng Lê Đức Anh và đại tướng Đoàn Khuê đôn lên thành Tổng cục II sau Đại hội 7, khi ông Anh lên làm Chủ tịch nước, ông Khuê làm Bộ trưởng Quốc phòng, dựa vào Nghị quyết 96/CP do Chủ tịch Nước ban bố. Nhân vật trung tâm của Tổng cục II là ông Đặng Vũ Chính – thường mang tên Vũ Chính – người tin cẩn của ông Anh từ khi còn ở trong quân khu 9 và bên chiến trường Cambốt. Vũ Chính cậy thế ông Anh đưa người của gia đình vào tổng cục không chút dè dặt; con trai Đặng Vũ Dũng đi lao động nước ngoài về phong luôn cấp thượng úy, rồi lên trung tá, cục trưởng cục 12; 2 con gái Đặng thị Tuyết, Đặng thị Mai đều mang cấp đại úy trong tổng cục; vợ là bà Nguyễn thị Nhẫn, là người thường có ý kiến về nhân sự và hoạt động của các công ty Vasuco, Toseco (buôn bán vũ khí) cũng như khách sạn Hoàng Gia, công ty xây dựng Hồng Bàng đều của Tổng cục; bà Nhẫn từng được Cục tình báo Hoa nam của Trung Quốc (!) mời sang nghỉ ngơi, tham quan và chữa bệnh. Năm 2000, khi ông Vũ Chính về nghỉ hưu, người được ông bàn giao trọng trách tổng cục trưởng không phải ai khác là đại tá Nguyễn Chí Vịnh, con rể ông Vũ Chính và bà Nhẫn, cũng được ông Anh và ông Khuê ưu ái, với lý do đó là con trai duy nhất của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất từ năm 1967, con nhà tông, chẳng giống ram cũng giống cánh; vợ ông Vịnh là Đặng thị Ngọc, con gái đầu của ông Vũ Chính, cũng là người có quyền lực trong Tổng cục. Tổng cục II bị nhiều sỹ quan cấp cao ở Hà Nội ram à một “vương triều”, với ông vua Vũ Chính, hoàng hậu Thị Nhẫn, hoàng tử Chí Dũng, các công chúa Ngọc, Mai, Tuyết và phò mã Chí Vịnh, với sự phù phép của Thái Thượng Hoàng Lê Đức Anh. Ông Giáp tố cáo Tổng cục II về tội phá hoại đảng nghiêm trọng một cách có hệ thống, có tổ chức, kéo dài ram chục năm, đặt máy nghe trộm các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ cấp cao, điều này làm cho một viên tướng ram cận với tướng Giáp thốt lên rằng: chế độ ta đã có một Watergate của mình! Hơn nữa, theo chỉ đạo của ông Anh, Tổng cục 2 đã chĩa mũi nhọn thẳng vào ông Giáp, điều mà ông Giáp nêu rõ là: “tạo ra chứng cớ giả để hãm hại những cán bộ tốt của đảng”. 2) “VỤ SÁU SỨ” MANG NỘI DUNG GÌ, NHẰM HÃM HẠI AI? Thời gian trước đại hội 7 của ĐCS VN, vào tháng 5- 1991, xuất hiện ở Câu lạc bộ Ba Đình, sát hội trường Ba Đình và ở Câu lạc bộ Quân nhân đường Hoàng Diệu một tập tài liệu đánh máy, mang số 541, 11 trang, nhan đề: “Tình hình hoạt động bè phái trong đảng”, với bị chú ở dưới: “Báo cáo của BCT tại Hội nghị TW-12 BCH khóa VI”. Thật ra đây là bản báo cáo do tướng Anh chỉ đạo người của Tổng cục II thảo ra, rồi mang danh nghĩa báo cáo của Bộ Chính trị, vì lẽ trong Bộ Chính trị, tướng Anh được ram công đảm nhận các mặt: nhà nước, quốc phòng, an ninh, tình báo và đối ngoại. Trong lịch sử đảng CS, chưa có ủy viên Bộ Chính trị nào ôm đồm nhiều quyền đến vậy. Bản báo cáo kể lại một loạt hoạt động của một số nhân vật nhằm hạ một số người và đưa một số người lên ở những cương vị then chốt nhất, nhân đại hội VII sắp diễn ra. Hai nhân vật hoạt động ram hái nhất là Hồ văn Châu (bí danh Năm Châu) và Nguyễn thị Sứ (Sáu Sứ); Năm Châu vốn là sỹ quan về hưu trong ban chấp hành Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh, Sáu Sứ là đảng viên lâu năm trong Hội phụ nữ cứu quốc Nam bộ thời trước. Từ đầu năm 1991, Năm Châu và Sáu Sứ đã ra Hànội nhiều lần, với mục đích là vận động các đảng viên kỳ cựu, các sỹ quan cao cấp nhằm đưa tướng Giáp lên, hoặc làm Tổng bí thư, hoặc làm Chủ tịch Nước, và đưa tướng Trần văn Trà ra làm Bộ trưởng Quốc phòng để rồi sẽ thay tướng Giáp làm Tổng bí thư. Họ còn vận động cho tướng Trần văn Danh (Sáu Trần), người đang chỉ huy xây dựng đập Trị An ra làm Bộ trưởng Công an thay Mai Chí Thọ … Ra Hànội, Năm Châu và Sáu Sứ đã bàn bạc “âm mưu” này với bộ hạ của tướng Giáp, gồm có: Lê Hoàng (còn gọi là Hoàng Kè vì mắt luôn đỏ kè), từng là ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên; Thanh Quảng, từng là bí thư của tướng Giáp sau về làm phó bí thư thành ủy Hànội; Hà Kế Tấn, nguyên ủy viên trung ương đảng, bộ trưởng thủy lợi, lúc ấy là phó chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hànội; Phan Phúc Tường ở bộ Vật tư; Trường Giang, cán bộ lão thành của khu Việt Bắc … Theo báo cáo thì mấy người này còn đích ram gặp tướng Giáp để bàn mọi chuyện và xin chỉ thị. Bản báo cáo kể tội nhóm cơ hội, bè phái đã bàn để đưa từ Sàigòn ra Hànội 10 cán bộ lão thành có uy tín nhằm tác động đến các đại biểu dự đại hội đảng, và chi phí cho các vị ấy tiền di chuyển và mỗi ngày 100 ngàn đồng; bản báo cáo viết rằng họ còn có âm mưu sách động quần chúng sinh viên, cựu chiến binh, công nhân xuống đường, biểu tình đưa ra yêu sách về nhân sự như trên, và đặc biệt còn có âm mưu ám sát một số nhân vật, trước hết là ông Lê Đức Anh. Theo bản báo cáo, tướng Giáp nhiều lần được gọi là “a. V.” (anh Văn) trên các bức thư tuyệt mật của “bọn bè phái chống đảng” gửi cho nhau mà cơ quan an ninh đã nắm được. Theo bản báo cáo, Năm Châu và Sáu Sứ - đặc biệt là Sáu Sứ - đã thú nhận và khai báo thêm với Tổng cục II những hoạt động bè phái hết sức nghiêm trọng của họ liên quan đến tướng Giáp. Rõ ram bản báo cáo này có mục đích kết tội tướng Giáp đã hoạt động bè phái, ngoài khuôn khổ của các đại hội đảng các cấp, tổ chức các cuộc vận động riêng lẻ ram à nhân mình, phá hoại khối đoàn kết thống nhất của đảng, dính đến cả âm mưu sách động quần chúng xuống đường biểu tình, cho đến chuẩn bị hành động tội ác nặng nhất là ám sát nhân vật lãnh đạo! Nếu quả là như thế thì tướng Giáp có thể bị điệu ra trước tòa đại hình và lãnh án tử hình! Nhưng điều ấy không diễn ra, vì tướng Giáp vốn rất am hiểu mọi “nanh vuốt” của chế độ, ôm chặt mối “kinh cung chi điểu” suốt hơn 50 năm, sau vụ án hoang tưởng “xét lại, chống đảng, làm gián điệp cho Liên Xô”, nên rất cảnh giác và khôn ngoan; ông bác bỏ mọi lời buộc tội dựa vào lời khai trong hăm dọa và mớm cung của Sáu Sứ, giữ được an toàn cho bản ram, để có cuộc phản kích ngoạn mục hôm nay. Nhiều sỹ quan cao cấp chê trách ông Giáp là quá nhút nhát, chỉ chờ ăn cỗ dọn sẵn, còn bản ram thì bảo mạng bất động, lo sợ đủ thứ! Trong ram ngũ sỹ quan cấp cao trong Quân đội nhân dân hiện còn tồn tại một vướng mắc là bà Sáu Sứ là con người ra sao, là người của Tổng cục II có nhiệm vụ “giăng bẫy” để tạo chứng cớ nhằm hãm hại tướng Giáp, hay bà là người tin cẩn của tướng Trà nhưng khi bị an ninh tra hỏi – vừa mua chuộc vừa đe dọa và mớm cung – đã khai báo hết, như bản báo cáo nêu? Điều tồn tại nữa là bà Sáu hiện ở đâu, có còn sống? sao im hơi lặng tiếng suốt hơn 10 năm nay? 3) VỤ ÁN SIÊU NGHIÊM TRỌNG T4? Bị cáo chính của vụ án chính trị này là Đặng Đình Loan, sinh năm 1943 tại Phong điền tỉnh Thừa thiên, tốt nghiệp trường đại học tổng hợp Hànội ngành văn, phóng viên Thông tấn xã VN, hoạt động thời chiến tranh ở B5 (Trị-Thiên). Loan tự động bỏ việc ra Hanội năm 1974, để vợ con trong quê, lấy vợ khác là bác sĩ Linh, vợ liệt sĩ có 1 con riêng; đầu năm 1994 Loan phóng ra một tác phẩm cực dài, hơn một ngàn trang, in làm 4 tập, tiểu thuyết lịch sử, nhan đề “Đường thời đại”, có ram mấy ram nhân vật từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng… đến Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Ngô Quang Trưởng, rồi đến Johnson, Nixon, Kissinger, Ford… Cuốn sách được Nhà Xuất bản QĐND, mà giám đốc là tướng Đoàn Chương em ruột bộ trưởng Quốc phòng đại tướng Đoàn Khuê in và phát hành; sách còn được Thư viện QĐND trên đường Lý Nam Đế tổ chức giới thiệu rộng rãi, với lời ram bốc: tác phẩm văn học đich thực, ngang tầm với tác phẩm “Chiến tranh và Hòa binh” của đại văn hào xô-viết Léon Tolstoi! Trước khi in, Loan đã được Tổng cục chính trị (QĐND) mà chủ nhiệm hồi ấy là tướng Lê Khả Phiêu trợ cấp 300 triệu đồng (chừng 20 ngàn đôla), đồng thời được bộ trưởng thông tin văn hóa Trần Hoàn còn hào phóng cấp cho 6OO triệu đồng (chừng 40 ngàn đôla). Tôi đã đọc một mạch hơn ngàn trang sách “Đường thời đại”, nội dung nhặt nhạnh từ sách trong và ngoài nước, thêm mắm muối, thêm các chuyện tình ly kỳ, rất rẻ tiền, với ý định chính trị khá lộ liễu, hạ những nhân vật này, ram bốc các nhân vật khác; nó “vô giá” đến độ Tổng cục chính trị của ông Phiêu nài ép Hội nhà văn cấp giải thưởng cho “tác phẩm lịch sử” này, kết nạp Loan vào Hội, nhưng Ban chấp hành Hội lờ tịt, không nhắc gì đến chuyện này! Giữa năm 1996, Loan vào Sàigòn, lên Thủ Đức nói chuyện tại Trường sỹ quan lục quân 2, với thư giới thiệu của Văn phòng Tổng cục chính trị. Loan luôn trưng ra ảnh chụp Loan đứng bên 3 tướng: Lê Đức Anh, Đoàn Khuê và Lê Khả Phiêu, 3 ngôi sao sáng chói trên bàu trời chính trị VN. Tháng 11-1996, Loan ghé Huế và tỉnh ủy Thừa thiên tổ chức cho Loan 2 cuộc nói chuyện hẹp, với lời giới thiệu trang trọng là “phái viên đặc biệt của Bộ Chính trị”, và còn ghé tai thầm thì với nhau: đồng chí Loan là trợ lý của các anh trong Bộ Chính trị, nhất là của anh Sáu Nam (bí danh ông Lê Đức Anh), hưởng lương chuyên viên 8 (cấp thứ trưởng). Loan từng là đảng viên CS, bỏ đảng gần chục năm, nay lại được văn phòng tỉnh ủy cấp giấy giới thiệu sinh hoạt đảng. Trong các buổi nói chuyện, Loan lên bổng xuống trầm, có khi như thầm thì, rằng: đây là những điều cơ mật của đảng, đồng chí Sáu Nam cho phép chỉ phổ biến riêng cho các anh lãnh đạo các tỉnh thành, chờ sẽ phổ biến công khai sau. Điều ly kỳ nhất là những điều Loan nói về tướng Giáp; nào ông Gờ (G.) là con nuôi thật sự của tên trùm mật thám Marty; bác Hồ chọn đồng chí Phùng Chí Kiên để giao việc thành lập Quân giải phóng, ông G. đã tiếm quyền ấy; ở chiến dịch biên giới, ông G. không chỉ huy, chứ để ông G. chỉ huy thì thua, may nhờ tướng Trần Canh chọn Đông khê làm điểm đột phá; ở Điện Biên, ông G. sợ chết, nằm dưới hầm suốt, may có các anh Nguyễn Chí Thanh và Hoàng văn Thái chỉ huy nên thắng to, thắng rồi ông G. liền dành vinh quang cho riêng mình; ông G. có tội theo Khrouthchev, cầm đầu nhóm “xét lại chống đảng”, thậm thụt với Sherbacov đại sứ kiêm tình báo Liên xô; ông G. chỉ giỏi nịnh bác Hồ; sau hiệp định Giơnevơ, ông G. cho phục viên 8 vạn quân, đưa 2 vạn quân ra nông trường là sai lầm chiến lược; ông G. bịa chuyện ông ấy có tên trong 10 vị tướng tài nhất thế giới được in trên Bách khoa toàn thư, thật ra là không có, đáng xấu hổ! Khi đánh Mỹ, ông G. sợ chết, không vào Nam, hay sang Liên xô vì sợ Mỹ ram bom nguyên tử; năm 1974, làm kế hoạch chiến lược, ông G. đề ra kế hoạch 4 năm (75-79) bị ông Duẩn bác bỏ: “nếu 4 năm thì đừng có đánh nữa!”; lẽ ra ông G. đã bị loại bỏ từ lâu, nhưng chỉ vì muốn giữ viện trợ của Liên xô mà tạm để lại, nhưng không có thực quyền; về đạo đức, ông G. rất bê bối, tằng tịu với vợ nhà văn Đào Vũ khi bà ấy dạy đàn ram tại nhà riêng! Theo một báo cáo gửi ra Tổng cục chính trị ngay sau đó, sau cuộc nói chuyện của Loan, vài cán bộ chủ chốt trong tỉnh ủy, đặc biệt là giám đốc Công an, thường vụ tỉnh ủy hết lời ram bốc tướng Anh, và về nhà gỡ ngay ảnh chụp chung có mặt tướng Giáp treo trong nhà, và gọi tướng Giáp bằng “thằng”. Một số hoài nghi những điều Loan nói và yêu cầu tỉnh ủy thẩm tra ngay và báo cáo ra trung ương. Vụ án khởi đầu như vậy. Tại sao Loan chọn Huế - Thừa thiên để loan truyền những tin tức cơ mật động trời ấy? Đây là theo tùy hứng của Loan, hay theo lệnh của ai đó? Hay của nhóm nào? Cuộc điều tra của vụ án sẽ kết luận. Chỉ có thể phỏng đoán là một mình Loan thì khó có gan làm cái việc ghê gớm ấy, vì ai cũng biết thế của tướng Giáp vẫn còn lớn, tuy ông đã ra khỏi Bộ Chính trị từ Đại hội V (1981) và ra khỏi trung ương từ Đại hội VII (1991). Chỗ dựa của Loan rõ ram là bộ 3 vị tướng Anh, Khuê, Phiêu, đều quê miền Trung, đặc biệt là tướng Anh quê ở Thừa thiên Huế. Tất nhiên ai cũng biết tướng Giáp quê ở Quảng Bình, và giữa Thừa thiên – Huế với Quảng bình, tuy cùng trong ram khu, sau này là tỉnh Bình – Trị - Thiên nhưng luôn đố kỵ nhau khá là sâu sắc, giữa kinh thành cố đô và vùng nhà quê. Nhà báo quân đội đã về hưu đại tá Nguyễn Trần Thiết đã đưa ra công khai hoạt động khả nghi của Đặng Đình Loan, “truyền bá tin sai lạc có tính chất vu cáo để hãm hại một bậc công thần của chế độ” trong bức thư gửi Tổng cục chính trị đề ngày 22 tháng 8 năm 1997; đại tá Thiết vốn tính tình ngay thẳng, xông xáo, từng cùng tôi đi các chiến trường trong chiến tranh. Ngay sau đó nhiều lá đơn của các vị tướng gửi đến Đảng ủy quân sự trung ương, Ban kiểm tra Quân ủy, Thanh tra Quân đội, Tòa án quân sự trung ương… nêu rõ những hành vi phạm pháp, vi phạm kỷ luật quân đội của Loan, có tính chất vu cáo xuyên tạc, phá hoại đảng, phá hoại quân đội, yêu cầu điều tra ngay và xử lý nghiêm minh bị can và cả những kẻ liên quan. Đến gần Đại hội IX (giữa năm 2001), đơn tố cáo gửi tới Bộ Chính trị, Ban kiểm tra trung ương càng thêm nhiều, có sao gửi khá rộng, truyền tay ở câu lạc bộ quân nhân đường Hoàng Diệu Hànội, chỉ rõ người đỡ đầu cho Đặng Đình Loan là tướng Lê Đức Anh, lại còn yêu cầu thẩm tra lý lịch và việc vào đảng CS của ông Anh, vì có đại tá Nguyễn văn Hội từng ở cùng đơn vị ông Anh hồi chống Pháp năm 1947-1949 kể rằng hồi ấy ông Anh chưa vào đảng, mà nay lại thấy trong tiểu sử công bố ông Anh vào đảng CS từ năm 1942 (gần 60 tuổi đảng!); nhiều khả năng ông Anh tự chui vào đảng mà không có ai kết nạp! Lại còn mấy lá đơn từ một số đảng viên lão thành vốn là công nhân cao su đồn điền Dầu tiếng của thực dân Pháp thời trước gửi ra cho Bộ Chính trị và báo Nhân dân yêu cầu làm rõ tiểu sử ông Lê Đức Anh, với lời nghi ngờ rằng phải chăng đó là “viên cai Anh” vốn nói tiếng Huế, mặt rỗ hoa, chột một mắt do bệnh đậu mùa, tuy còn trẻ hồi ấy nhưng khá nghiêm và ác đối với phu đồn điền nên ram à nhớ lâu? Trong ram ngũ cao cấp QĐND, đòi hỏi làm rõ về Loan và tướng Anh càng mạnh mẽ khi ông Anh sau khi ra khỏi Bộ Chính trị tháng 12-1997, mất luôn chức cố vấn ở đại hội IX, nghĩa là từ một kẻ đầy ắp quyền uy nay lâm vào cảnh thất thế rồi! III. BA VỤ ÁN HÒA THÀNH MỘT: CUỘC ĐỌ SỨC GIỮA 2 ĐẠI TƯỚNG: Một nét ly kỳ của vụ án chính trị này là bên nguyên và bên bị đều không nêu tên tuổi của nhau một cách rõ ram minh bạch như dưới một chế độ có luật pháp nghiêm minh. Tổng cục II, Sáu Sứ, Năm Châu, Đặng Đình Loan, hay cả Trần Quỳnh (nguyên là phó thủ tướng những năm 1976-1984, ủy viên trung ương đảng khóa IV, người cùng quê và tin cẩn của Lê Duẩn, năm 1994 đưa ra hồi ký đánh máy, kể rằng tướng Giáp phạm tội làm gián điệp cho Liên xô, đã bị loại ra ngoài Bộ Chính trị nhưng không công bố; trong hồi ký, ông Quỳnh khinh thị gọi ông Giáp bằng “y”; hiện đã có đơn tố cáo ông Quỳnh phạm tội vu cáo cán bộ cao nhất của quân đội, xúc phạm danh dự toàn quân, phải được xử trước tòa án quân sự). Những người có tên nêu trên đều chỉ là nhân vật phụ, rất phụ trong vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này. Có thể nói đây thực chất là keo vật lộn ác liệt giữa 2 đại tướng, kế thừa một cuộc đấu dai dẳng trong nội bộ triều đình Cộng sản Hànội từ sau Đại hội XX của đảng CS Liên xô năm 1956, giữa những đồng chí thù địch (les camarades – ennemis). Hồi ấy sau Cải cách ruộng đất với những sai lầm kinh khủng, tổng bí thư Trường Chinh mất chức, 2 ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ở miền Nam ra, bắt đầu có chức trọng quyền cao, ra sức củng cố quyền lực; tướng Giáp với hào quang Điện Biên Phủ, lại được chủ tịch Hồ Chí Minh tín nhiệm chọn để đứng ra ổn định tình hình là trở ngại tiềm ram trên con đường thâu tóm quyền lực của cặp Duẩn – Thọ, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh về già. Thế là vụ án tưởng tượng “xét lại – chống đảng, làm gían điệp cho nước ngoài” hình thành, với hơn 30 vị công thần bị thí bỏ, riêng tướng Giáp yên vị vì được lãnh tụ che chở; ông hú vía, dửng ram trước bi kịch tra vấn tù đày của đồng chí ram cận, miễn là riêng mình an toàn (cho đến nay những ngôi sao tướng trên vai ông như xỉn hẳn vì cái sự thiếu “ ram” này). Sau toàn thắng 30/4/75, cặp 2 ông Duẩn – Thọ vẫn chiếu tướng ông Giáp, không để ông nắm quân đội nữa ngay từ đầu năm 1976, loại các tướng gần với ông Giáp ở cơ quan Bộ quốc phòng-Tổng Tham mưu, đưa một loạt tướng địa phương – tướng các quân khu xa – về Bộ. Do đó tướng Chu Huy Mân (quân khu 5), Lê Đức Anh (quân khu 9) được lên vượt 2 cấp và các đại tá Đoàn Khuê, ...
24 views ·

More from HoangVanLam

BÊN THẮNG CUỘC Tác giả: Huy Đức Tập I - GIẢI PHÓNG Phần mở đầu Mấy lời của tác giả Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra. Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối. Nhưng hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy, thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ. Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn. Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày1, Thép Đã Tôi Thế Đấy2. Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi. Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kênh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất, sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam, rồi chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới. Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong3, một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù đã kiệt quệ sau tám năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy. Mùa hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ, gồm Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Tuấn Khanh, Huỳnh Thanh Diệu, Huy Đức. Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích. Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Không ai để ý đến câu nói này của Tuấn Khanh, nhưng tôi lại bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách. Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình. Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”4, như “Z30”5 cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ Chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm. Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế, chính trị học, và xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ kể lại những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, và về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc. Tư liệu cho cuốn sách được thu thập trong hơn hai mươi năm. Trong vòng ba năm, từ tháng 8-2009 đến tháng 8-2012, tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để viết. Bản thảo cuốn sách đã được gửi tới một số thân hữu và một số nhà sử học, trong đó có năm nhà sử học uy tín của Mỹ chuyên nghiên cứu về Việt Nam. Sau khi sửa chữa, bổ sung, tháng 11-2012, bản thảo hoàn chỉnh đã được gửi đến một số nhà xuất bản trong nước, tuy nhiên, nó đã bị từ chối. Cho dù một số nhà xuất bản tiếng Việt có uy tín tại Mỹ và Pháp đồng ý in, nhưng để lãnh trách nhiệm cá nhân và giữ cho cuốn sách một vị trí khách quan, tác giả quyết định tự mình đưa cuốn sách này đến tay bạn đọc. Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, và sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra, và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc. Sài Gòn – Boston, 2009-2012 Lời cám ơn Trong quá trình thu thập tư liệu để viết cuốn sách này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ chí tình của nhiều nhân vật lịch sử, sự hợp tác của các nhân chứng, sự đóng góp của các đồng nghiệp, và sự ủng hộ của rất nhiều bè bạn. Tác giả đặc biệt cám ơn các nhà lãnh đạo đã trả lời phỏng vấn trực tiếp cho cuốn sách này: Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch Nước Lê Đức Anh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Ủy viên Thường trực Thường vụ Bộ chính trị Phạm Thế Duyệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng Vũ Khoan, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Bí thư Trung ương Đảng Hoàng Tùng, các Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Đình Liệu, Trần Phương, Đoàn Duy Thành, Ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Hà Phan, Bí thư Trung ương Đảng Phan Minh Tánh, Bí thư Trung ương Đảng Trần Quốc Hương, Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Trung tướng Võ Viết Thanh… Xin cám ơn các nhà lãnh đạo đã trả lời các cuộc phỏng vấn của tác giả với tư cách là một nhà báo mà một phần nội dung được sử dụng trong cuốn sách này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương, Đại tướng Đoàn Khuê, Đại tướng Phạm Văn Trà, Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình, Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị Phan Diễn… Cuốn sách không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ, hợp tác và tư vấn của những người giúp việc, những người có nhiều năm gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng như ông Trần Việt Phương, ông Vũ Kỳ…; của nhóm giúp việc Tổng Bí thư Lê Duẩn: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Phương, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Đậu Ngọc Xuân, thư ký tổng bí thư, ông Đống Ngạc; của nhóm giúp việc và chuyên gia tư vấn của Tổng Bí thư Trường Chinh: Tiến sỹ Hà Nghiệp, Giáo sư Trần Nhâm, Giáo sư Đặng Xuân Kỳ, Giáo sư Dương Phú Hiệp, Giáo sư Đào Xuân Sâm, ông Trần Đức Nguyên…; của những người giúp việc Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: ông Trần Văn Giao, ông Hồng Đăng, ông Dương Đình Thảo, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh; của những người giúp việc Tổng Bí thư Đỗ Mười: Thống đốc Lê Đức Thúy, Tiến sỹ Nguyễn Văn Nam; của những người giúp việc Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Trợ lý Vũ Quốc Tuấn, Trợ lý Nguyễn Trung, Trợ lý Vũ Đức Đam, ông Phạm Văn Hùng, ông Nguyễn Văn Huấn, Bác sỹ Đinh Trần Nhưng, Thư ký Nguyễn Văn Trịnh…; của những người giúp việc Thủ tướng Phan Văn Khải: Trợ lý Nguyễn Thái Nguyên, Trợ lý Nguyễn Đức Hòa, Thư ký Nguyễn Văn Kích; của người viết tự truyện cho Đại tướng Lê Đức Anh, Đại tá Khuất Biên Hòa. Xin chân thành cảm ơn bà Nguyễn Thụy Nga, phu nhân Tổng Bí thư Lê Duẩn, bà Ngô Thị Huệ, phu nhân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, bà Phan Lương Cầm, phu nhân Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trả lời phỏng vấn và cung cấp thông tin, tư liệu. Xin cám ơn sự giúp đỡ của Giáo sư Hồ Ngọc Đại, con rể, và Tiến sỹ Lê Kiên Thành, con trai Tổng Bí thư Lê Duẩn; bà Võ Hiếu Dân, con gái, và ông Phan Thanh Nam, con trai Thủ tướng Võ Văn Kiệt; Giáo sư Đặng Xuân Kỳ, con trai Tổng Bí thư Trường Chinh. Cuốn sách cũng nhận được sự cộng tác rất tận tình của các vị từng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hình thành chính sách ở các giai đoạn khác nhau của Việt Nam như Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe (1946-1960), Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc (1992-2002), Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Trần Xuân Giá, Tổng Cục trưởng Địa Chính Tôn Gia Huyên, các đời chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đoàn Trọng Truyến, Lê Xuân Trinh, Lại Văn Cử, Đoàn Mạnh Giao, Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Trần Trọng Tân, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Hữu Thọ… Đặc biệt cám ơn các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam từng đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh như Cục trưởng Tác chiến, Trung tướng Lê Hữu Đức, Cục phó Tác chiến Thiếu tướng Lê Phi Long, Cục phó Tác chiến Thiếu tướng Phan Hàm, những người trong gia đình Đại tướng Lê Trọng Tấn, Cục trưởng Tình báo Quân đội Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương Đại tá Nguyễn Văn Hiếu, Chánh Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tá Nguyễn Văn Huyên… Xin chân thành cám ơn các nhà cách mạng lão thành đã cung cấp cho tác giả hơn năm mươi cuốn hồi ký, phần lớn chưa từng xuất bản. Có những cuốn có giá trị tham khảo đặc biệt quan trọng, như các tập hồi ký của Bí thư Trung ương Đảng Trần Quốc Hương, một người từng gần gũi với Tổng Bí thư Trường Chinh, từng chỉ huy mạng lưới tình báo miền Bắc ở miền Nam và từng là trưởng Ban Bảo vệ Trung ương Đảng. Có những cuốn rất thẳng thắn của Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV Nguyễn Thành Thơ, người từng chỉ đạo kinh tế mới và hợp tác hóa ở miền Nam. Có những cuốn tiết lộ xung đột đảng phái thời kỳ ngay sau 1945 của Đại tá Công an Trần Tấn Nghĩa, người nhận lệnh trực tiếp ám sát và bắt giữ các thành viên đảng phái không cộng sản trong các năm 1945, 1946. Có những cuốn nói về thời kỳ “giúp bạn” Campuchia của Đại sứ Ngô Điền, Đại sứ Trần Huy Chương. Cũng có những cuốn rất thú vị, giúp tiếp cận với những góc độ khác của các nhà lãnh đạo tối cao như tự truyện của bà Ngô Thị Huệ, phu nhân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, hồi ký của bà Nguyễn Thụy Nga, người vợ miền Nam của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tác giả xin chân thành cám ơn các sỹ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa: Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Chuẩn Đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, người chỉ huy trận hải chiến Hoàng Sa tháng 1-1974; cám ơn Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Hảo, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Dân biểu Ngô Công Đức; cám ơn nhà văn Phan Nhật Nam, các nhà thơ Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, nhà văn Uyên Thao; cám ơn Giáo sư Lê Xuân Khoa, bà Khúc Minh Thơ, những người đã giúp tác giả hiểu thêm về những nỗ lực của cộng đồng để giúp những người tù cải tạo được định cư tại Mỹ. Tác giả cũng chân thành cám ơn Giáo sư Thomas Bass (Đại học Albany-SUNY), người đã thu xếp cuộc phỏng vấn cựu ngoại trưởng Henry Kissinger tại Boston vào tháng 2-2006; chân thành cám ơn các nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải, Yên Ba, Nguyễn Khoa Diệu An, Trần Chí Hùng, Nguyễn Giang, Đinh Quang Anh Thái, Nguyễn Khanh, Lê Thiệp, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà ngoại giao Đinh Hoàng Thắng, nhà nghiên cứu Lưu Thu Hương, Tiến sỹ Trần Tố Loan đã giúp tác giả tiếp cận với nhiều nhân vật và nhiều tài liệu lịch sử quan trọng. Tác giả cũng xin chân thành cám ơn hàng trăm chính khách, sỹ quan, nhà tư sản, nhà báo, thường dân, các thuyền nhân và nạn nhân của những biến động sau năm 1975, những người đã giúp tác giả có được những câu chuyện sinh động. Những trích dẫn không có chú thích trong cuốn sách này được lấy từ những cuộc trò chuyện do tác giả thực hiện trực tiếp với các nhân chứng. Xin cảm ơn nhà thơ Bùi Khương Hà, người đã đọc những chương đầu tiên trong bản thảo đầu tiên và có những ý kiến xác đáng giúp tác giả điều chỉnh nội dung và cấu trúc cuốn sách. Tác giả cũng xin chân thành cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc, nhà sử học Dương Trung Quốc, Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu, Giáo sư Trần Hữu Dũng (Đại học Wright, Ohio), Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (Đại học George Mason, Virginia), nhà sử học Sophie Quinn Judge (Đại học Temple), Giáo sư Shawn McHale (Đại học George Washington), Giáo sư Hồ Huệ Tâm (Đại học Harvard), Giáo sư Peter Zinoman (Đại học UC Berkeley), Giáo sư Ngô Thanh Nhàn (Đại học New York) đã đọc và tận tình góp ý để tác giả hoàn chỉnh bản thảo cuốn sách này. Cuốn sách cũng không thể hoàn thành nếu không có nhóm giúp việc gồm một số trí thức trẻ, một số sinh viên mà trong lần xuất bản này tác giả chưa thể nêu tên họ. Trong quá trình thực hiện cuốn sách tác giả đã luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của những người bạn như Nguyễn Thanh Toại, Đặng Cao Thắng, Lê Hải, Đỗ Trung Quân, Hà Tân Cương, Nguyễn Quang Lập, Đặng Tâm Chánh, Bùi Nguyên Cẩm Ly, Trần Minh Khôi, Võ Văn Điểm, Huỳnh Kim Phụng, Đào Ngọc Lâm, Bùi Đức Thịnh, Nguyễn Văn Diễn, B.V.D, N.T.H, Nguyễn Đức Quang, Trần Ngọc Phong, Mai Kỳ, Xuân Bình, Nguyễn Hải Phong, Lê Thị Hoàng Anh, Phùng Văn Vinh, Trần Minh Triết … Tác giả hy vọng tiếp tục nhận được sự góp ý chân thành để hoàn chỉnh cuốn sách này trong những lần xuất bản tới. *** BẢN TÓM TẮT PHẦN I: MIỀN NAM Chương I: Ba Mươi Tháng Tư Diễn biến quân sự và chính trị trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến và những gì xảy ra trong dinh Độc Lập trong ngày 30-4 (Đi từ bưng biền/ Xuân Lộc/ Tướng Big Minh/ Trại Davis/ Nguyễn Hữu Hạnh/ Sài Gòn trong vòng vây/ Xe tăng 390/ Đầu hàng/ Tuẫn tiết) Chương II: Cải Tạo Những bàn bạc bên trong, quan điểm của chính quyền trong việc đối xử với “ngụy quân, ngụy quyền”, những thủ thuật được áp dụng để đưa sĩ quan vào trại cải tạo; số phận của những người tù không án, không biết ngày về và những bi kịch mà người thân của họ phải nhiều năm gánh chịu. (Những ngày đầu/ “Ngụy Quyền”/ “Ngụy Quân”/ “Đoàn tụ”/ “Phản động”/ Tù và cải tạo/ “Thăm nuôi”/ “Học tập”). Chương III: Đánh Tư Sản Những công cụ chuyên chính vô sản áp dụng ngay sau ngày 30-4-1975: Đánh tư sản vào tháng 9-1975 và liền sau đó là đổi tiền lần thứ nhất 22-9-1975; Cải tạo tư sản tháng 3-1978… Sự khác nhau của cải tạo tư sản và đánh tư sản (“Chiến dịch X-2”/ Đổi tiền/ “Gian thương”/ “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh”/ Hai gia đình tư sản/ Kinh tế mới) Chương IV: Nạn Kiều Sự thật về vấn đề người Hoa năm 1978 (Đội quân thứ năm/ Hiệp định Geneve/ “chổi ngắn không quét xa”/ Hoàng Sa/ Sợ “con ngựa thành Troy”/ ‘Nạn Kiều”/ “Phương án II”/ “Ban 69”/ Vụ Cát Lái). Chương V: Chiến Tranh Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh ở CPC và biên giới phía Bắc năm 1979 (Biên giới Tây Nam/ Pol Pot/ Đi dây/ Khmer Đỏ và Campuchia dân chủ/ “Kẻ Thù Lịch Sử”/ Thất bại trong tấn công ngăn chặn [Pre-emptive War]/ “Nhất biên đảo”/ “Áo lính lại khoác vào ngay”). Chương VI: Vượt Biên Điều gì đã khiến cho hàng triệu người VN phải bỏ nước ra đi. Bi kịch của người dân và thái độ chính quyền trước cuộc tị nạn lớn nhất của người Việt Nam trong lịch sử (“Vượt biên”/ Từ “trí thức yêu nước”/ Đến “thường dân”/ Trước khi tới biển/ Trại tị nạn). Chương VII: “Giải Phóng” Cuộc chiến tranh được gọi là giải phóng có thực sự giải phóng sau những gì mà những người cộng sản áp dụng tại miền Nam (Sài Gòn thay đổi/ Kinh tế mới/ Đốt sách/ Cạo râu/ “Cách mạng là đảo lộn”/ Lòng người/ Những người sinh ra không đúng cửa/ “Cánh cửa” Thanh niên xung phong/ Cửa không đủ rộng/ “Nổi loạn”/ “Sài Gòn lại bắt đầu ghẻ lở”). PHẦN II: THỜI LÊ DUẨN Chương VIII: Thống Nhất Những lo lắng từ hai phía đặc biệt là của ông Lê Duẩn dẫn đến quyết định thống nhất hai miền cả về chính trị và kinh tế, áp dụng mô hình miền Bắc vào miền Nam một cách vội vã, mặc dù, nhiều người lúc đó, kể cả ông Lê Duẩn, nhận thấy nền kinh tế tư nhân miền Nam hiệu quả hơn những gì áp dụng trên miền Bắc (Nước Việt Nam là một/ “Bắc hóa”/ Chủ nghĩa xã hội/ “Con đường của Bác”/ “Mỗi người làm việc bằng hai”/ Lê Duẩn và mối tình miền Nam/ Chấp chính và chuyên chính). Chương IX: Xé Rào Chính sách kinh tế kế hoạch hóa và sản xuất lớn nhằm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” đã dẫn đất nước đến chỗ kiệt quệ. Người dân và chính quyền các địa phương, thay vì tuân thủ các nguyên tắc của nền kinh tế “kế hoạch hóa tập trung” chấp nhận một số quy luật của kinh tế thị trường, tiến trình này bị coi là “xé rào” nhưng chính những “lỗ thủng” đó đã trở thành lối thoát cho dân chúng (Bế tắc/ Mậu dịch quốc doanh/ Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng/ Tháo gỡ/ Nghị quyết Trung ương Sáu/ Bù giá vào lương/ Cắm cờ xé rào/ Khoán chui/ Ông Kiệt xé rào, ông Linh lãnh đạn/ “Ai thắng ai”). Chương X: Đổi Mới Vai trò của Trường Chinh trong việc tiếp thu thực tiễn và chuẩn bị về mặt lý luận để những người cộng sản chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, điều mà về sau gọi là đổi mới (Hội nghị Đà Lạt/ Nhóm giúp việc mới/ Người của những khúc quanh lịch sử/ Từ chính sách Kinh Tế Mới/ Đến chọc thủng bức tường bao cấp/ Giá-Lương-Tiền/ Nã pháo vào bộ tổng/ Khép lại trang sử Lê Duẩn/ Vai trò của Mikhail Gorbachev/ Tuyên ngôn đổi mới/ Bàn tay Lê Đức Thọ/ Phút 89). Chương XI: Campuchia Dù muốn hay không, Campuchia đã “nằm trong một trang sử” của Việt Nam. Không gian chiến tranh trong thập niên 1980s và cách mà Việt Nam đã làm để thoát ra khỏi hai cuộc chiến: Biên giới phía Bắc và Campuchia (“Pot ở đầu phum ta cuối phum”/ “Xuất khẩu cách mạng”/ Tư tưởng nước lớn/ Bị cô lập/ Phương Bắc/ Hội nghị Thành Đô/ Campuchia thời hậu Việt Nam). HUY ĐỨC Link: https://daohieuvn.wordpress.com/2000/05/15/huy-duc-ben-thang-cuoc-tap-mot-giai-phong/ --- - BÊN THẮNG CUỘC - Tập I – Chương 1: https://www.minds.com/newsfeed/1022836722195058688?referrer=HoangVanLam   === 0 ===   TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
66 views ·
BÀI DIỄN VĂN OAN NGHIỆT CỦA LS NGUYỄN MẠNH TƯỜNG GIỚI THIỆU Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), năm 23 tuổi đă đậu hai bằng Tiến sĩ Văn khoa và Luật khoa ở Đại học Montpellier, Pháp. Sau khi về nước năm 1936, ông dạy học tại trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat). và mở văn phòng luật sư. Tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông đến. Ông kể: “Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói: “Như Ngài đã biết, Chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới, giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn giùm cho một bản lập trường của Chính phủ (thèse gouvernemental) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp: “Công việc này quan trọng quá, xin Cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”. Cụ Hồ nói: “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi” Ông theo chính phủ Hồ Chí Minh kháng chiến chống Pháp tới ngày ký Hiệp định Genève 1954 thì trở về Hà Nội dạy học và làm Phó Giám đốc Đại học Văn khoa, làm Chủ tịch Hội đồng luật sư, Ủy viên UB Bảo về hòa bình và nhiều chức vụ quan trọng khác… Với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, L.S. Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn trong một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, ngày 30 tháng Mười, 1956. Bài diễn văn này được đọc sau khi Trung ương Đảng hạ lệnh chấm dứt chiến dịch Cải cách Ruộng đất ngày 20.7.1956 và sau đó ban hành các biện pháp sửa sai. Ông Trường Chinh đã đến UB MTTQ kêu gọi các trí thức phản biện, góp ý kiền giúp Đảng sửa sai. Tổ chức Đảng đã dựa vào nội dung bài diễn văn này để qui kết ông là kẻ phản động, chống Đảng, chống chế độ, tước bỏ hết mọi chức vụ của ông, cắt hết mọi tiêu chuẩn lương thực thực phẩm của bản thân và gia đình (mà mọi công dân được hưởng), bao vây , không cho ông làm bất kỳ việc gì để kiếm sông… Nếu không có sự giúp đỡ bí mật, vô tư của nhiều người thì có lé cả gia đính ông đã chết đói giữa thú đô- Năm 1991, nhân dịp được phép sang Pháp ông đưa cho nhà xuất bản Quê Mẹ ở Paris in và phát hành cuốn sách tự thuật L’excommunié (Kẻ bị khai trừ) năm 1992. Ông trở về Hà Nội và mất năm 1996, thọ 87 tuổi. Xin mời các bạn đọc bài Diễn văn của ông Tường, tìm xem ông chống đảng, chống chế độ chỗ nào, dựa vào đâu để kết tội ông, để hãm hại ông, đẩy ông vào cảnh dở sống dở chết. Việc vùi dâp NMT chủ yếu liên quan đến Trường Chinh. Nhưng liệu Hồ Chí Minh có biết không. Phải chăng Lời kêu gọi của Trường Chinh chỉ là cái bẫy. Phải chăng CS đã chủ ý triệt hạ NMT từ trước, để răn đe các trí thức muốn phản biện,đòi dân chủ. Bài diễn văn chỉ là một cái cớ, một giọt nước làm tràn ly. NỘI DUNG BÀI DIỄN VĂN Thưa các quí vị, Hội nghị Mặt trận Trung ương họp để nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chính sách sửa chữa sai lầm ấy. Hôm nay tôi được đúc kết trước toàn thể Hội nghị các ý kiến mà trong mười ngày vừa qua tôi đã trình bày trong tổ thảo luận, với tinh thần thận trọng của người trí thức không bao giờ quên trách nhiệm của mình trước nhân dân và lịch sử nước nhà. Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được, chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được? Nếu chúng ta duy tâm và tin rằng linh hồn còn tồn tại thì một phần nào ta chuộc lại được tội lỗi của ta. Nhưng ta duy vật và các người ấy lúc chết cũng là duy vật. Do đó, cái nỗi khổ cực của họ ta biết rõ rằng bây giờ ta không thể nào thủ tiêu được nữa. Quyền hạn của ta không tới đó. Nhưng cái gì ta có thể làm được, ta cần làm, để như là đền bù một phần nào sự tổn thiệt của các người ấy, và chứng minh ta thấm thía nỗi đau khổ của họ khi họ từ trần là ta cương quyết rút bài học kinh nghiệm đau đớn và sửa chữa các sai lầm nghiêm trọng mà họ là nạn nhân. Với tinh thần của một người trong quần chúng, của một người công dân đau khổ trước bao nhiêu cái chết oan của người vô tội, tôi xin phép trình bày mấy ý kiến xây dựng. Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, nhưng theo ý tôi các sai lầm này chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những thiếu sót trong sự lãnh đạo của Đảng Lao động. Do đó tôi xin được góp ý kiến xây dựng quan điểm lãnh đạo của Đảng Lao động. Tại sao tôi lại tin như vậy? Là vì, không những trong Cải cách Ruộng đất chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết thê thảm. Do đó, nếu chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không thể rút được bài học kinh nghiệm, chúng ta sẽ khiếm khuyết với sự tín nhiệm của tất cả các đảng viên Đảng Lao động, với sự mong đợi của toàn dân. Chúng ta phải kiên quyết không cho các sai lầm ấy tái diễn và tác hại nữa. Đó là nhiệm vụ tối thiểu của chúng ta đối với các người đã chết oan. Tình hình nước ta hiện thời ra sao? Tình hình ấy có bi quan không? Đó là vấn đề nhận định thôi. Nhưng cái chủ yếu là ta không nhìn tình hình ây với con mắt bi quan. Vậy sự thật khách quan như thế nào? Nhìn vào nông thôn, ta thấy hiện thời tình trạng thiếu đoàn kết rất phổ biến. Vì thi hành sai chính sách cải cách, ta đối lập các từng lớp trong giai cấp nông dân, cán bộ cũ và mới, chi bộ cũ và mới của Đảng. Trong khi đập tan giai cấp địa chủ, ta không phân biệt đối xử, ta để cho chết chóc thê thảm những người hoặc già cả hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt. Ta chỉ cần đọc lại các bài giáo huấn cho đồng bào nông thôn trong báo Nhân Dân là ta đủ hiểu mặt mũi nông thôn hiện giờ ra sao. Nhìn vào các công xưởng, công trường, ta thấy gì? Cứ đọc báo Nhân Dân thôi, ta thấy Chính phủ gửi các phái đoàn đi thăm các anh chị em công nhân, ủy lạo họ, bắt buộc thi hành quy chế lao động mà Chính phủ đã ban ra. Nghĩa là thế nào? Nghĩa là giai cấp công nhân đã phải lao động sản xuất hai năm nay mà không được bồi dưỡng đúng mức. Lắng nghe dư luận đồng bào Hà Nội thôi, ta được biết rằng có it ra một doanh nghiệp quốc gia lãng phí bao nhiêu triệu trong khi dưới chế độ Pháp thuộc, cũng doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc các số lãi khổng lồ. Về Mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình, nào đưa ra thị trường sữa hư mà không bao giờ nghĩ đến tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ sinh, nào tung ra bơ hỏng, thuốc lá mốc, phạm đến sức khỏe của nhân dân, nào bất lực trước hiện tượng vật giá ngày càng lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình ổn nó. Có thể nói được, suốt ngày đêm không đâu là không có lời oán trách Mậu dịch. Về hộ khẩu thì cán bộ tỏ vẻ không phải là nhằm duy trì trật tự an ninh, phá vỡ cơ sở của địch, trái lại quấy nhiễu nhân dân, tạo ra một đời sống thành thị điêu đứng cho tất cả. Nếu các vị cần những dẫn chứng cụ thể, tôi chỉ xin nhắc lại hồ sơ mênh mông, thu lượm các thắc mắc cay đắng của đồng bào Thủ đô trong Đại hội lần thứ ba của nhân dân Hà Nội vừa họp cách đây hai tháng. Nói về chính sách khôi phục kinh tế, ta thấy gì? Số vốn mà các nhà công thương mang ra kinh doanh chỉ là một phần ti tiểu, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý gì. Trái lại ta thấy tất cả một phong trào các nhà tư bản thu hẹp hoạt động của họ, hoặc “chuyển hướng” bằng cách đâm ra quay chỉ, bán nước mía, hay dệt vài thước vải vớ vẩn, hoặc đóng cửa ăn vào vốn để khỏi đụng chạm đến Sở Lao động vì vấn đề công nhân, với Sở Công thương vì vấn đề đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với Sở Tài chính vì thuế khoá đặc biệt. Thuế bổ sung đã đưa bao nhiêu người đến chỗ phá sản, có kẻ đến chỗ tự sát. Các người tiểu thương buôn thúng bán mẹt, đẩy chiếc xe hàng tiều tụy trong phố, cũng “được” nộp thuế, cũng như các người suốt ngày làm việc ở công sở hay công xưởng, tối về thức đêm dệt vài thước kiếm thêm tiền độ thân. Hàng trăm, hàng nghìn công chức cũ về hưu, với gia đình của họ, trước đây sống bằng lương hưu trí, hai năm nay không được ai chiếu cố đến, chết dần chết mòn, có người đâm đầu xuống sông tự tử, có người hai lần uống độc dược để quyên sinh. Còn như các cán bộ thì ta có cần nói đến không? Ta cứ trông mặt mũi, quần áo họ, ta chỉ cần hỏi con số những người qua các phòng khám bệnh, các bệnh viện, ta liếc mắt nhìn họ ăn uống những gì trong bữa cơm, là ta đủ hiểu khổ cực của họ. Ta quên thế nào được các đồng bào tập kết ra ngoài Bắc, số phận con cái họ ở Hà Nội, Hải Phòng, số phận chính của họ bi đát quá nỗi! Khổ cực nhất cho các anh chị em là không nương tưa đuợc vào một đời sống gia đình đề khuây khỏa trong lúc thảm sầu. Các hiện tượng trên đây có đúng không, tôi chỉ yêu cầu các vị đọc báo Nhân Dân, nghiên cứu các hồ sơ chồng chất lên ở Mặt trận Thành Hà Nội sau Đại hội lần thứ 3 vừa rồi, nghe ngóng lời than phiền của quần chúng, nhìn nhận các quang cảnh diễn ra dưới mắt của các vị là các vị đủ hiểu rồi. Quả thực như ông Trường Chinh đã tuyên bố, uy tín của chính phủ, của Đảng bị tổn thiệt rất nhiều. Thế tại sao đồng bào chúng ta lại khổ cực? Phải chăng vì cán bộ của chúng ta non, hẹp hòi, chưa thấm nhuần lý luận cách mạng, không tôn trọng giá trị của con người, các nhu cầu và đòi hỏi chính đáng của nó? Phải chăng vì ta đang mắc trầm trọng bệnh ấu trĩ của cách mạng? Các điều đó là có, ta không hề chối và ta cũng không thể chối cãi được. Nhưng nhận định như vậy vẫn còn hời hợt. Ta phải đi sâu hơn nữa. Khi trong Cải cách Ruộng đất của ta, ta thấy bao nhiêu người bị tù tội, bị giết oan, trong đó bao nhiêu người dân ưu tú đã từng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng, khi hiện thời ở nông thôn vẫn có người bị đánh đập, ngược đãi, khi ta không xây dựng được đoàn kết giữa các đồng bào, thì ta phải nhận định rằng các sai lầm ta đã mắc trong cuộc Cải cách Ruộng đất này chỉ là những biểu hiệu cực độ của các sai lầm ta đã phạm, và các sai lầm ấy nêu lên, như tôi trình bày trên đây, một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo của Đảng Lao động. Do đó, tôi yêu cầu các vị cho phép tôi bắt đầu nghiên cứu các sai lầm trong Cải cách đã rồi sau khi truy nguyên các sai lầm ấy, đề đạt mấy ý kiến về vấn đề lãnh đạo. I. Vấn đề pháp lý trong Cải cách Ruộng đất Ta đã sai lầm nghiêm trọng trong Cải cách Ruộng đất, ta có thể tránh được sai lầm ấy mà vẫn bảo đảm được đường lối căn bản của cách mạng không? Tôi giả nhời cương quyết rằng có. Đường lối cách mạng của ta đòi hỏi gì? Ruộng phải trở về người cày. Điều này rất đúng không ai có thể chối cãi được. Nông dân là đại đa số trong nhân dân, nông dân là quân đội chủ lực của cách mạng, nhất định cách mạng không thể nào thành công được nếu ta không thỏa mãn nhu cầu thiết yếu và cấp bách của nông dân. Không cần phải là một nhà chính trị cao, một nhà cách mạng thạo, cũng nhận thấy điều ấy. Chỉ cần nhìn lịch sử cách mạng từ thời kỳ cổ đại đến giờ là đủ hiểu rồi. Như vậy về nguyên tắc, ta tán thành chủ trương Cải cách Ruộng đất. Về phương pháp, ta có nên ban ơn cho nông dân không? Nhất định là không. Nông dân ta trong bao nghìn năm đã khổ cực dưới chế độ bóc lột phong kiến và một trăm năm nay dưới chế độ bóc lột thực dân. Đồng bào nông thôn ta lầm than như vậy, đã mất hết khí thế con người. Ta cần khôi phục khí thế của người nông dân, xây dựng cho họ tinh thần chủ nhân ông trên đất nước. Do đó ta thấy cần thiết phải phát động tư tưởng của họ để họ nhận được phân minh kẻ thù của họ, để họ vùng giậy nắm lấy quyền thế ở nông thôn. Nhưng từ đây trở đi, ta thấy khởi phát các sai lầm. Sai lầm này, ông Trường Chinh đã nhận thấy là ở chỗ: ta quên hẳn ta hiện thời nắm chính quyền và chính quyền ấy, nếu ta biết sử dụng nó, khai thác nó một cách sáng suốt, nhất định ta vẫn thành công nhưng ta tránh được bao tai họa làm ta đau khổ hiện thời. Con đường ông Trường Chinh đã đi để tiến tới kết luận ấy là con đường chính trị. Các anh em tôi là những nhà luật học, chỉ là nhà chuyên môn và lý luận trên cơ sở chuyên môn thôi, đã trông thấy kết luận ấy ngay từ khi chính sách phát động và Cải cách được đề ra. Tại sao? Vì giải pháp chính quyền cụ thể là giải pháp pháp lý, đảm bảo thắng lợi hoàn toàn của cách mạng nếu ta biết mang nó ra phục vụ chính trị và cách mạng. Ta muốn gì? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách mạng để tiêu diệt nó. Nhưng đồng thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên rằng công lý của cách mạng, muốn bảo toàn được uy tín và thắng lợi của cách mạng, phải biết đánh đúng địch. Khi đưa ra khẩu hiệu “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch” thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác nữa. Muốn chứng minh điều này ta chỉ cần nhìn thực tế: kết quả sai lầm ta đã phạm khi thực hiện khẩu hiệu này rất tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho bản thân bao nhiêu chiến sĩ cách mạng. Nếu không phải đó là phản lại cách mạng thì là gì? Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: “Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”. Thế ta có lo ngại rằng 10 địch sót không? Không, vì ta nắm chính quyền, vì cách mạng ta đã thành công. Như vậy kẻ thù của cách mạng chẳng sớm thì chậm, nhất định hoặc cải thiện, giác ngộ, hoặc lọt vào lưới của ta. Khẩu hiệu này lợi ở chỗ: không một người oan nào bị kết án. Do đó, không có các kết quả cực kỳ tai hại diễn ra hiện thời. Làm thế nào thực hiện được khẩu hiệu ấy? Kinh nghiệm pháp lý của hàng nghìn năm lịch sử thế giới cho ta biết rằng ta có phương pháp để tìm đúng địch mà đánh, không đánh tràn lan, không đánh người vô tội. Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây các nguyên tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt mục đích ấy. Một nguyên tắc đầu tiên là không hình phạt các tội đã phạm quá lâu rồi mà bây giờ mới khám phá ra.Tại sao? Vì rằng vấn đề bằng chứng khó giải quyết được, tang vật đã mất, nhân chứng có người đã từ trần, có người không nhớ rõ các sự việc họ đã mục kích. Hơn nữa, sở dĩ hình luật phạt các tội, là vì các tội ấy đã xâm phạm vào trật tự xã hội: tác hại cho nạn nhân và gây tác dụng xấu trong quần chúng. Nhưng khi tội đã phạm quá lâu, trật tự xã hội hết bị xâm phạm rồi, nạn nhân không còn đau khổ, tác dụng xấu của tội cũng hết, thời gian đã hàn gắn các vết thương. Bây giờ lại vạch chuyện cũ thì không những khó thu thập được bằng chứng kết tội mà lại gây một sự náo động trong xã hội không cần thiết. Chính xã hội thấy “quên” lợi hơn là “nhớ”. Một nguyên tắc thứ hai là trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân phải chịu, không có trách nhiệm chung của vợ con, của gia đình. Nêu trách nhiệm truớc hình luật của các người “có quan hệ” với phạm nhân không những là bất công mà lại còn gây các sự rung động vô ích trong xã hội. Hơn 400 năm nay không một nước Tây phương nào làm việc đó nữa. Trách nhiệm trước hình luật chỉ là một trách nhiệm cá nhân mà thôi. Không những thế, về phương diện nhân đạo, thì các phạm nhân quá già được miễn nghị, miễn tố và các vị thành niên được chiếu cố. Môt nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Phải có nhân chứng là những kẻ đã mục kích sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ ràng, chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ, ít ra cũng phải có hai nhân chứng cung khai phù hợp với nhau mới được coi là đáng kể. Cung khai của các nhân chứng phải ăn khớp với nhau và trong quá trình phạm pháp các tang vật thu được phải có tác dụng hợp lý, sát hợp với kết quả do cuộc điêù tra mang lại. Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu điều kiện nhờ luật sư, khi nào là một trọng tội, Tòa phải cử luật sư bào chữa không, cho bị can. Trong tất cả, giai đoạn điều tra ở trình độ công an thẩm vấn trong phòng dự thẩm, buộc tội trước tòa, quyền lợi của công tố viện ngang với quyền lợi bị can, nghĩa là nếu công tố viện đưa hết lý lẽ để buộc tội, bị can đưa hết lý lẽ để minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa công tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán ngồi xét xử phải là vô tư, đứng giữa để theo rõi cuộc đấu lý diễn ra dưới mắt mình. Như thế mới nhận định đúng và xử công minh. Toà án xét xử không chịu lệnh của ai trong khi xét xử, chỉ biết xét xử theo lương tâm của mình và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi nghe hai tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người thẩm phán phải được đủ đảm bảo để làm nhiệm vụ của mình mà không sợ ai khiển trách hay gây khó khăn cho mình được. Khi điều tra thẩm vấn, tuyệt đối cấm không được dùng phương pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị can, mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn. Khi nào có điều nghi ngờ thì bị can được miễn nghị. Nếu bị kết án thì còn quyền chống án lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình thì lại còn quyền xin ân giảm trước vị Chủ tịch Chính phủ. Con người của bị can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử phải được tôn trọng triệt để, khi bị can ra trước tòa thì không được xiềng xích họ và không lúc nào được dùng nhục hình đối xử với họ. Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì một người tác hại cho một người khác mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu trách nhiệm về phương diện dân sự, nghĩa là bồi thường thôi — của người đã tác hại. Muốn truy tố người ấy để thi hành hình luật đối với hắn thì phải chứng minh rằng hắn phạm một tội, nghĩa là phạm vào một điều khoản nào qui định trong hình luật, và hình luật không bao giờ có tác dụng đối với quá khứ cả: nếu hành động của một người diễn ra trong thời kỳ mà hình luật chưa quan niệm là một tội thì người ấy không thể mang ra truy tố được. Không những bị can phải phạm một tội đã qui định rồi trong pháp luật, mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc phạm tội ấy bị can có ý thức, có ý chí phạm pháp hay không, hay là vô tình mà phạm pháp. Sự đối xử trong hai trường hợp ấy khác nhau. Lúc tôi nhắc lại các nguyên tắc này thì có vị cho rằng như thế là phiền phức, phức tạp. Dĩ nhiên rồi, nhưng tất cả vấn đề là: ta có muốn giết người vô tội không? Nếu không thì không thể nào làm khác được. Hơn nữa, muốn nhận định vấn đề cho đúng, ta không nên đứng vào vị trí một người hiện thời không dây dưa với pháp luật, một người ở một cương vị chính quyền. Ta phải đứng vào cương vị của bị tố nhân; lúc ấy vấn đề rất sáng tỏ, không những ta đòi thi hành các nguyên tắc pháp luật, ta còn cố gắng tìm hiểu thêm các nguyên tắc mới để đảm bảo người oan khỏi bị chết. Nếu mang ra áp dụng các nguyên tắc ấy vào cuộc Cải cách ruộng đất của ta, ta sẽ làm thế nào? Thủ tục cải cách cứ diễn bài nhưng sự trừng trị bọn cường hào gian ác hay phản động, ta sẽ không giao cho một tòa án nhân dân, đặc biệt như ta đã làm với tất cả sự thiếu sót về phương diện pháp lý mà ta đã biết. Trái lại, sau khi phát động tư tưởng của nông dân, ta sẽ nghe lời họ tố cáo kẻ thù của họ. Ta sẽ ủy nhiệm toà án nhân dân thường lập các hồ sơ, để tòa án, với bộ máy và kinh nghiệm của nó, tiếp tục điều tra, kiểm tra, lấy cung chứng, truy tố, luận tội, xét xử. Ta đảm bảo triệt để cho bị tố nhân quyền bào chữa của họ, ta yêu cầu các luật sư làm tròn nhiệm vụ của họ, ta tôn trọng triệt để con người của bị tố nhân. Ta chỉ thù ghét và kết án, trừng phạt tội của nó đã phạm thôi. Ta tin tưởng ở tòa án, ta đảm bảo cho các vị thẩm phán làm việc ngoài sự điều khiển của chính quyền, một các...
TRONG THÂM CUNG ĐẢNG CSVN: VỤ AN CHÍNH TRỊ LỚN HÉ MỞ... I. BỨC THƯ KHÔNG BÌNH THƯỜNG CỦA VỊ ĐẠI TƯỚNG MỘT THỜI VANG BÓNG: Đầu năm 2004, tướng Võ Nguyên Giáp gửi một bức thư đề ngày 3 tháng 1 cho "Ban chấp hành Trung ương, Đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương". Thư dài 7 trang, về hình thức là đóng góp ý kiến cho cuộc họp Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 9 (khóa IX) nhằm kiểm điểm 3 năm thực hiện nghị quyết của Đại hội đảng khóa IX và đề ra nhiệm vụ cho 2 năm còn lại của nhiệm kỳ này. Đọc thoáng qua, ít ai thấy được rõ nội dung thật sự của bức thư, những vấn đề nó đặt ra, cũng như khả năng tác động của nó đối với nội tình đảng CS và tình hình chính trị trong nước. Có thể hình dung sự bối rối của những nhân vật cầm quyền chóp bu khi thấy bức thư đã "lọt lưới" ra ngoài nước và đang được truyền về cho bà con ta ở trong nước. Bức thư cần được lý giải, phân tích và nhận định một cách khách quan, thấu đáo, dựa vào những thông tin đáng tin cậy, để các lực lương dân chủ trong, ngoài nước rút ra những kết luận cần thiết cho hoạt động của mình. Chúng ta có thể chưa đi sâu vào cả 7 trang thư, vào cả 7 vấn đề lớn được ông Giáp lần lượt góp ý: 1) về xây dựng kinh tế; 2) về giáo dục và khoa học; 3) về quốc phòng và an ninh; 4) về chống tham nhũng, lãng phí; 5) về xây dựng, chỉnh đốn đảng; 6) về công tác cán bộ; 7) về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Có những bức thư dài, nhưng quan trọng hơn cả lại ở vài dòng “tái bút”. Bức thư này cũng vậy. Theo tôi, người viết muốn nhấn mạnh đến vấn đề cuối cùng, là “công tác bảo vệ chính trị nội bộ” (những chữ in đậm dưới đây là nguyên văn trong thư). Trong phần này, ông Giáp nêu bật lên những vụ án chính trị cụ thể: “điển hình nghiêm trọng là vụ Tổng cục II thuộc Bộ Quốc phòng”; “đặc biệt nghiêm trọng là vụ Sáu Sứ mà Hội nghị Trung ương 12 và 13 khóa VI đã bàn giao cho Trung ương khóa VII giải quyết”, và: “nghiêm trọng hơn nữa là vụ T4 mà Bộ Chính trị khóa VIII đã bàn giao lại cho Bộ Chính trị khóa IX; Bộ Chính trị khóa IX đã chỉ đạo Ban điều tra liên ngành tiến hành điều tra và Bộ Chính trị đã kết luận”. Bức thư kết luận khá mạnh mẽ: “Tôi đề nghị Hội nghị Trung ương 9 khóa IX xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của Đảng, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất cứ cương vị nào, và thông báo công khai cho Ban chấp hành trung ương khóa IX, cho các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ban bí thư và Ủy ban kiểm tra trung ương các khóa trước. Kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước đòi hỏi không được phép bao che, né tránh, làm qua loa, mà phải kiên quyết xử lý cả những kẻ bao che”. Bức thư còn không bình thường, chưa từng có ở ông Giáp, vì lời lẽ rất mạnh, lên án những việc làm tồi tệ trong quân đội, trong đảng, không phải do kẻ thù nào gây ra, mà chính do các quan chức ở ram bu quyền lực chế độ tạo nên – một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, phá hoại đảng một cách có hệ thống, có tổ chức, kéo dài ram chục năm… II. CÁC VỤ ÁN CHÍNH TRỊ NGHIÊM TRỌNG, CỰC KỲ NGHIÊM TRỌNG VÀ SIÊU NGHIÊM TRỌNG ĐÓ LÀ GÌ? 1) TRƯỚC HẾT LÀ VỤ TỔNG CỤC II THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG. Ông Giáp chỉ rõ: “Những người đứng đầu và những phần tử xấu trong Tổng cục II đã có những hoạt động phá họai Đảng nghiêm trọng, đặt máy nghe trộm các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ cấp cao, sử dụng những thông tin sai lạc để phá rối và chia rẽ nội bộ, cố tình gây ra bè phái trong đảng (đoạn in ngả này được gạch ở dưới), tạo ra chứng cứ giả để hãm hại những cán bộ tốt của đảng …”. Tổng cục II là cơ quan an ninh – tình báo – phản gián bao trùm cả xã hội, nội bộ đảng, nội bộ quân đội và quốc tế, cả về chính trị, kinh tế, quân sự, đối ngoại… do Bộ trưởng quốc phòng trực tiếp nắm. Nó được lập ra từ Cục II, tên gọi của Cục Quân báo, xưa nay vẫn nằm trong Bộ Tổng tham mưu (bao gồm các Cục tác chiến, Cục quân báo, Cục quân lực, Cục quân huấn, Cục động viên, Cục dân quân …). Cục II được đại tướng Lê Đức Anh và đại tướng Đoàn Khuê đôn lên thành Tổng cục II sau Đại hội 7, khi ông Anh lên làm Chủ tịch nước, ông Khuê làm Bộ trưởng Quốc phòng, dựa vào Nghị quyết 96/CP do Chủ tịch Nước ban bố. Nhân vật trung tâm của Tổng cục II là ông Đặng Vũ Chính – thường mang tên Vũ Chính – người tin cẩn của ông Anh từ khi còn ở trong quân khu 9 và bên chiến trường Cambốt. Vũ Chính cậy thế ông Anh đưa người của gia đình vào tổng cục không chút dè dặt; con trai Đặng Vũ Dũng đi lao động nước ngoài về phong luôn cấp thượng úy, rồi lên trung tá, cục trưởng cục 12; 2 con gái Đặng thị Tuyết, Đặng thị Mai đều mang cấp đại úy trong tổng cục; vợ là bà Nguyễn thị Nhẫn, là người thường có ý kiến về nhân sự và hoạt động của các công ty Vasuco, Toseco (buôn bán vũ khí) cũng như khách sạn Hoàng Gia, công ty xây dựng Hồng Bàng đều của Tổng cục; bà Nhẫn từng được Cục tình báo Hoa nam của Trung Quốc (!) mời sang nghỉ ngơi, tham quan và chữa bệnh. Năm 2000, khi ông Vũ Chính về nghỉ hưu, người được ông bàn giao trọng trách tổng cục trưởng không phải ai khác là đại tá Nguyễn Chí Vịnh, con rể ông Vũ Chính và bà Nhẫn, cũng được ông Anh và ông Khuê ưu ái, với lý do đó là con trai duy nhất của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất từ năm 1967, con nhà tông, chẳng giống ram cũng giống cánh; vợ ông Vịnh là Đặng thị Ngọc, con gái đầu của ông Vũ Chính, cũng là người có quyền lực trong Tổng cục. Tổng cục II bị nhiều sỹ quan cấp cao ở Hà Nội ram à một “vương triều”, với ông vua Vũ Chính, hoàng hậu Thị Nhẫn, hoàng tử Chí Dũng, các công chúa Ngọc, Mai, Tuyết và phò mã Chí Vịnh, với sự phù phép của Thái Thượng Hoàng Lê Đức Anh. Ông Giáp tố cáo Tổng cục II về tội phá hoại đảng nghiêm trọng một cách có hệ thống, có tổ chức, kéo dài ram chục năm, đặt máy nghe trộm các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ cấp cao, điều này làm cho một viên tướng ram cận với tướng Giáp thốt lên rằng: chế độ ta đã có một Watergate của mình! Hơn nữa, theo chỉ đạo của ông Anh, Tổng cục 2 đã chĩa mũi nhọn thẳng vào ông Giáp, điều mà ông Giáp nêu rõ là: “tạo ra chứng cớ giả để hãm hại những cán bộ tốt của đảng”. 2) “VỤ SÁU SỨ” MANG NỘI DUNG GÌ, NHẰM HÃM HẠI AI? Thời gian trước đại hội 7 của ĐCS VN, vào tháng 5- 1991, xuất hiện ở Câu lạc bộ Ba Đình, sát hội trường Ba Đình và ở Câu lạc bộ Quân nhân đường Hoàng Diệu một tập tài liệu đánh máy, mang số 541, 11 trang, nhan đề: “Tình hình hoạt động bè phái trong đảng”, với bị chú ở dưới: “Báo cáo của BCT tại Hội nghị TW-12 BCH khóa VI”. Thật ra đây là bản báo cáo do tướng Anh chỉ đạo người của Tổng cục II thảo ra, rồi mang danh nghĩa báo cáo của Bộ Chính trị, vì lẽ trong Bộ Chính trị, tướng Anh được ram công đảm nhận các mặt: nhà nước, quốc phòng, an ninh, tình báo và đối ngoại. Trong lịch sử đảng CS, chưa có ủy viên Bộ Chính trị nào ôm đồm nhiều quyền đến vậy. Bản báo cáo kể lại một loạt hoạt động của một số nhân vật nhằm hạ một số người và đưa một số người lên ở những cương vị then chốt nhất, nhân đại hội VII sắp diễn ra. Hai nhân vật hoạt động ram hái nhất là Hồ văn Châu (bí danh Năm Châu) và Nguyễn thị Sứ (Sáu Sứ); Năm Châu vốn là sỹ quan về hưu trong ban chấp hành Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh, Sáu Sứ là đảng viên lâu năm trong Hội phụ nữ cứu quốc Nam bộ thời trước. Từ đầu năm 1991, Năm Châu và Sáu Sứ đã ra Hànội nhiều lần, với mục đích là vận động các đảng viên kỳ cựu, các sỹ quan cao cấp nhằm đưa tướng Giáp lên, hoặc làm Tổng bí thư, hoặc làm Chủ tịch Nước, và đưa tướng Trần văn Trà ra làm Bộ trưởng Quốc phòng để rồi sẽ thay tướng Giáp làm Tổng bí thư. Họ còn vận động cho tướng Trần văn Danh (Sáu Trần), người đang chỉ huy xây dựng đập Trị An ra làm Bộ trưởng Công an thay Mai Chí Thọ … Ra Hànội, Năm Châu và Sáu Sứ đã bàn bạc “âm mưu” này với bộ hạ của tướng Giáp, gồm có: Lê Hoàng (còn gọi là Hoàng Kè vì mắt luôn đỏ kè), từng là ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên; Thanh Quảng, từng là bí thư của tướng Giáp sau về làm phó bí thư thành ủy Hànội; Hà Kế Tấn, nguyên ủy viên trung ương đảng, bộ trưởng thủy lợi, lúc ấy là phó chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hànội; Phan Phúc Tường ở bộ Vật tư; Trường Giang, cán bộ lão thành của khu Việt Bắc … Theo báo cáo thì mấy người này còn đích ram gặp tướng Giáp để bàn mọi chuyện và xin chỉ thị. Bản báo cáo kể tội nhóm cơ hội, bè phái đã bàn để đưa từ Sàigòn ra Hànội 10 cán bộ lão thành có uy tín nhằm tác động đến các đại biểu dự đại hội đảng, và chi phí cho các vị ấy tiền di chuyển và mỗi ngày 100 ngàn đồng; bản báo cáo viết rằng họ còn có âm mưu sách động quần chúng sinh viên, cựu chiến binh, công nhân xuống đường, biểu tình đưa ra yêu sách về nhân sự như trên, và đặc biệt còn có âm mưu ám sát một số nhân vật, trước hết là ông Lê Đức Anh. Theo bản báo cáo, tướng Giáp nhiều lần được gọi là “a. V.” (anh Văn) trên các bức thư tuyệt mật của “bọn bè phái chống đảng” gửi cho nhau mà cơ quan an ninh đã nắm được. Theo bản báo cáo, Năm Châu và Sáu Sứ - đặc biệt là Sáu Sứ - đã thú nhận và khai báo thêm với Tổng cục II những hoạt động bè phái hết sức nghiêm trọng của họ liên quan đến tướng Giáp. Rõ ram bản báo cáo này có mục đích kết tội tướng Giáp đã hoạt động bè phái, ngoài khuôn khổ của các đại hội đảng các cấp, tổ chức các cuộc vận động riêng lẻ ram à nhân mình, phá hoại khối đoàn kết thống nhất của đảng, dính đến cả âm mưu sách động quần chúng xuống đường biểu tình, cho đến chuẩn bị hành động tội ác nặng nhất là ám sát nhân vật lãnh đạo! Nếu quả là như thế thì tướng Giáp có thể bị điệu ra trước tòa đại hình và lãnh án tử hình! Nhưng điều ấy không diễn ra, vì tướng Giáp vốn rất am hiểu mọi “nanh vuốt” của chế độ, ôm chặt mối “kinh cung chi điểu” suốt hơn 50 năm, sau vụ án hoang tưởng “xét lại, chống đảng, làm gián điệp cho Liên Xô”, nên rất cảnh giác và khôn ngoan; ông bác bỏ mọi lời buộc tội dựa vào lời khai trong hăm dọa và mớm cung của Sáu Sứ, giữ được an toàn cho bản ram, để có cuộc phản kích ngoạn mục hôm nay. Nhiều sỹ quan cao cấp chê trách ông Giáp là quá nhút nhát, chỉ chờ ăn cỗ dọn sẵn, còn bản ram thì bảo mạng bất động, lo sợ đủ thứ! Trong ram ngũ sỹ quan cấp cao trong Quân đội nhân dân hiện còn tồn tại một vướng mắc là bà Sáu Sứ là con người ra sao, là người của Tổng cục II có nhiệm vụ “giăng bẫy” để tạo chứng cớ nhằm hãm hại tướng Giáp, hay bà là người tin cẩn của tướng Trà nhưng khi bị an ninh tra hỏi – vừa mua chuộc vừa đe dọa và mớm cung – đã khai báo hết, như bản báo cáo nêu? Điều tồn tại nữa là bà Sáu hiện ở đâu, có còn sống? sao im hơi lặng tiếng suốt hơn 10 năm nay? 3) VỤ ÁN SIÊU NGHIÊM TRỌNG T4? Bị cáo chính của vụ án chính trị này là Đặng Đình Loan, sinh năm 1943 tại Phong điền tỉnh Thừa thiên, tốt nghiệp trường đại học tổng hợp Hànội ngành văn, phóng viên Thông tấn xã VN, hoạt động thời chiến tranh ở B5 (Trị-Thiên). Loan tự động bỏ việc ra Hanội năm 1974, để vợ con trong quê, lấy vợ khác là bác sĩ Linh, vợ liệt sĩ có 1 con riêng; đầu năm 1994 Loan phóng ra một tác phẩm cực dài, hơn một ngàn trang, in làm 4 tập, tiểu thuyết lịch sử, nhan đề “Đường thời đại”, có ram mấy ram nhân vật từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng… đến Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Ngô Quang Trưởng, rồi đến Johnson, Nixon, Kissinger, Ford… Cuốn sách được Nhà Xuất bản QĐND, mà giám đốc là tướng Đoàn Chương em ruột bộ trưởng Quốc phòng đại tướng Đoàn Khuê in và phát hành; sách còn được Thư viện QĐND trên đường Lý Nam Đế tổ chức giới thiệu rộng rãi, với lời ram bốc: tác phẩm văn học đich thực, ngang tầm với tác phẩm “Chiến tranh và Hòa binh” của đại văn hào xô-viết Léon Tolstoi! Trước khi in, Loan đã được Tổng cục chính trị (QĐND) mà chủ nhiệm hồi ấy là tướng Lê Khả Phiêu trợ cấp 300 triệu đồng (chừng 20 ngàn đôla), đồng thời được bộ trưởng thông tin văn hóa Trần Hoàn còn hào phóng cấp cho 6OO triệu đồng (chừng 40 ngàn đôla). Tôi đã đọc một mạch hơn ngàn trang sách “Đường thời đại”, nội dung nhặt nhạnh từ sách trong và ngoài nước, thêm mắm muối, thêm các chuyện tình ly kỳ, rất rẻ tiền, với ý định chính trị khá lộ liễu, hạ những nhân vật này, ram bốc các nhân vật khác; nó “vô giá” đến độ Tổng cục chính trị của ông Phiêu nài ép Hội nhà văn cấp giải thưởng cho “tác phẩm lịch sử” này, kết nạp Loan vào Hội, nhưng Ban chấp hành Hội lờ tịt, không nhắc gì đến chuyện này! Giữa năm 1996, Loan vào Sàigòn, lên Thủ Đức nói chuyện tại Trường sỹ quan lục quân 2, với thư giới thiệu của Văn phòng Tổng cục chính trị. Loan luôn trưng ra ảnh chụp Loan đứng bên 3 tướng: Lê Đức Anh, Đoàn Khuê và Lê Khả Phiêu, 3 ngôi sao sáng chói trên bàu trời chính trị VN. Tháng 11-1996, Loan ghé Huế và tỉnh ủy Thừa thiên tổ chức cho Loan 2 cuộc nói chuyện hẹp, với lời giới thiệu trang trọng là “phái viên đặc biệt của Bộ Chính trị”, và còn ghé tai thầm thì với nhau: đồng chí Loan là trợ lý của các anh trong Bộ Chính trị, nhất là của anh Sáu Nam (bí danh ông Lê Đức Anh), hưởng lương chuyên viên 8 (cấp thứ trưởng). Loan từng là đảng viên CS, bỏ đảng gần chục năm, nay lại được văn phòng tỉnh ủy cấp giấy giới thiệu sinh hoạt đảng. Trong các buổi nói chuyện, Loan lên bổng xuống trầm, có khi như thầm thì, rằng: đây là những điều cơ mật của đảng, đồng chí Sáu Nam cho phép chỉ phổ biến riêng cho các anh lãnh đạo các tỉnh thành, chờ sẽ phổ biến công khai sau. Điều ly kỳ nhất là những điều Loan nói về tướng Giáp; nào ông Gờ (G.) là con nuôi thật sự của tên trùm mật thám Marty; bác Hồ chọn đồng chí Phùng Chí Kiên để giao việc thành lập Quân giải phóng, ông G. đã tiếm quyền ấy; ở chiến dịch biên giới, ông G. không chỉ huy, chứ để ông G. chỉ huy thì thua, may nhờ tướng Trần Canh chọn Đông khê làm điểm đột phá; ở Điện Biên, ông G. sợ chết, nằm dưới hầm suốt, may có các anh Nguyễn Chí Thanh và Hoàng văn Thái chỉ huy nên thắng to, thắng rồi ông G. liền dành vinh quang cho riêng mình; ông G. có tội theo Khrouthchev, cầm đầu nhóm “xét lại chống đảng”, thậm thụt với Sherbacov đại sứ kiêm tình báo Liên xô; ông G. chỉ giỏi nịnh bác Hồ; sau hiệp định Giơnevơ, ông G. cho phục viên 8 vạn quân, đưa 2 vạn quân ra nông trường là sai lầm chiến lược; ông G. bịa chuyện ông ấy có tên trong 10 vị tướng tài nhất thế giới được in trên Bách khoa toàn thư, thật ra là không có, đáng xấu hổ! Khi đánh Mỹ, ông G. sợ chết, không vào Nam, hay sang Liên xô vì sợ Mỹ ram bom nguyên tử; năm 1974, làm kế hoạch chiến lược, ông G. đề ra kế hoạch 4 năm (75-79) bị ông Duẩn bác bỏ: “nếu 4 năm thì đừng có đánh nữa!”; lẽ ra ông G. đã bị loại bỏ từ lâu, nhưng chỉ vì muốn giữ viện trợ của Liên xô mà tạm để lại, nhưng không có thực quyền; về đạo đức, ông G. rất bê bối, tằng tịu với vợ nhà văn Đào Vũ khi bà ấy dạy đàn ram tại nhà riêng! Theo một báo cáo gửi ra Tổng cục chính trị ngay sau đó, sau cuộc nói chuyện của Loan, vài cán bộ chủ chốt trong tỉnh ủy, đặc biệt là giám đốc Công an, thường vụ tỉnh ủy hết lời ram bốc tướng Anh, và về nhà gỡ ngay ảnh chụp chung có mặt tướng Giáp treo trong nhà, và gọi tướng Giáp bằng “thằng”. Một số hoài nghi những điều Loan nói và yêu cầu tỉnh ủy thẩm tra ngay và báo cáo ra trung ương. Vụ án khởi đầu như vậy. Tại sao Loan chọn Huế - Thừa thiên để loan truyền những tin tức cơ mật động trời ấy? Đây là theo tùy hứng của Loan, hay theo lệnh của ai đó? Hay của nhóm nào? Cuộc điều tra của vụ án sẽ kết luận. Chỉ có thể phỏng đoán là một mình Loan thì khó có gan làm cái việc ghê gớm ấy, vì ai cũng biết thế của tướng Giáp vẫn còn lớn, tuy ông đã ra khỏi Bộ Chính trị từ Đại hội V (1981) và ra khỏi trung ương từ Đại hội VII (1991). Chỗ dựa của Loan rõ ram là bộ 3 vị tướng Anh, Khuê, Phiêu, đều quê miền Trung, đặc biệt là tướng Anh quê ở Thừa thiên Huế. Tất nhiên ai cũng biết tướng Giáp quê ở Quảng Bình, và giữa Thừa thiên – Huế với Quảng bình, tuy cùng trong ram khu, sau này là tỉnh Bình – Trị - Thiên nhưng luôn đố kỵ nhau khá là sâu sắc, giữa kinh thành cố đô và vùng nhà quê. Nhà báo quân đội đã về hưu đại tá Nguyễn Trần Thiết đã đưa ra công khai hoạt động khả nghi của Đặng Đình Loan, “truyền bá tin sai lạc có tính chất vu cáo để hãm hại một bậc công thần của chế độ” trong bức thư gửi Tổng cục chính trị đề ngày 22 tháng 8 năm 1997; đại tá Thiết vốn tính tình ngay thẳng, xông xáo, từng cùng tôi đi các chiến trường trong chiến tranh. Ngay sau đó nhiều lá đơn của các vị tướng gửi đến Đảng ủy quân sự trung ương, Ban kiểm tra Quân ủy, Thanh tra Quân đội, Tòa án quân sự trung ương… nêu rõ những hành vi phạm pháp, vi phạm kỷ luật quân đội của Loan, có tính chất vu cáo xuyên tạc, phá hoại đảng, phá hoại quân đội, yêu cầu điều tra ngay và xử lý nghiêm minh bị can và cả những kẻ liên quan. Đến gần Đại hội IX (giữa năm 2001), đơn tố cáo gửi tới Bộ Chính trị, Ban kiểm tra trung ương càng thêm nhiều, có sao gửi khá rộng, truyền tay ở câu lạc bộ quân nhân đường Hoàng Diệu Hànội, chỉ rõ người đỡ đầu cho Đặng Đình Loan là tướng Lê Đức Anh, lại còn yêu cầu thẩm tra lý lịch và việc vào đảng CS của ông Anh, vì có đại tá Nguyễn văn Hội từng ở cùng đơn vị ông Anh hồi chống Pháp năm 1947-1949 kể rằng hồi ấy ông Anh chưa vào đảng, mà nay lại thấy trong tiểu sử công bố ông Anh vào đảng CS từ năm 1942 (gần 60 tuổi đảng!); nhiều khả năng ông Anh tự chui vào đảng mà không có ai kết nạp! Lại còn mấy lá đơn từ một số đảng viên lão thành vốn là công nhân cao su đồn điền Dầu tiếng của thực dân Pháp thời trước gửi ra cho Bộ Chính trị và báo Nhân dân yêu cầu làm rõ tiểu sử ông Lê Đức Anh, với lời nghi ngờ rằng phải chăng đó là “viên cai Anh” vốn nói tiếng Huế, mặt rỗ hoa, chột một mắt do bệnh đậu mùa, tuy còn trẻ hồi ấy nhưng khá nghiêm và ác đối với phu đồn điền nên ram à nhớ lâu? Trong ram ngũ cao cấp QĐND, đòi hỏi làm rõ về Loan và tướng Anh càng mạnh mẽ khi ông Anh sau khi ra khỏi Bộ Chính trị tháng 12-1997, mất luôn chức cố vấn ở đại hội IX, nghĩa là từ một kẻ đầy ắp quyền uy nay lâm vào cảnh thất thế rồi! III. BA VỤ ÁN HÒA THÀNH MỘT: CUỘC ĐỌ SỨC GIỮA 2 ĐẠI TƯỚNG: Một nét ly kỳ của vụ án chính trị này là bên nguyên và bên bị đều không nêu tên tuổi của nhau một cách rõ ram minh bạch như dưới một chế độ có luật pháp nghiêm minh. Tổng cục II, Sáu Sứ, Năm Châu, Đặng Đình Loan, hay cả Trần Quỳnh (nguyên là phó thủ tướng những năm 1976-1984, ủy viên trung ương đảng khóa IV, người cùng quê và tin cẩn của Lê Duẩn, năm 1994 đưa ra hồi ký đánh máy, kể rằng tướng Giáp phạm tội làm gián điệp cho Liên xô, đã bị loại ra ngoài Bộ Chính trị nhưng không công bố; trong hồi ký, ông Quỳnh khinh thị gọi ông Giáp bằng “y”; hiện đã có đơn tố cáo ông Quỳnh phạm tội vu cáo cán bộ cao nhất của quân đội, xúc phạm danh dự toàn quân, phải được xử trước tòa án quân sự). Những người có tên nêu trên đều chỉ là nhân vật phụ, rất phụ trong vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này. Có thể nói đây thực chất là keo vật lộn ác liệt giữa 2 đại tướng, kế thừa một cuộc đấu dai dẳng trong nội bộ triều đình Cộng sản Hànội từ sau Đại hội XX của đảng CS Liên xô năm 1956, giữa những đồng chí thù địch (les camarades – ennemis). Hồi ấy sau Cải cách ruộng đất với những sai lầm kinh khủng, tổng bí thư Trường Chinh mất chức, 2 ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ở miền Nam ra, bắt đầu có chức trọng quyền cao, ra sức củng cố quyền lực; tướng Giáp với hào quang Điện Biên Phủ, lại được chủ tịch Hồ Chí Minh tín nhiệm chọn để đứng ra ổn định tình hình là trở ngại tiềm ram trên con đường thâu tóm quyền lực của cặp Duẩn – Thọ, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh về già. Thế là vụ án tưởng tượng “xét lại – chống đảng, làm gían điệp cho nước ngoài” hình thành, với hơn 30 vị công thần bị thí bỏ, riêng tướng Giáp yên vị vì được lãnh tụ che chở; ông hú vía, dửng ram trước bi kịch tra vấn tù đày của đồng chí ram cận, miễn là riêng mình an toàn (cho đến nay những ngôi sao tướng trên vai ông như xỉn hẳn vì cái sự thiếu “ ram” này). Sau toàn thắng 30/4/75, cặp 2 ông Duẩn – Thọ vẫn chiếu tướng ông Giáp, không để ông nắm quân đội nữa ngay từ đầu năm 1976, loại các tướng gần với ông Giáp ở cơ quan Bộ quốc phòng-Tổng Tham mưu, đưa một loạt tướng địa phương – tướng các quân khu xa – về Bộ. Do đó tướng Chu Huy Mân (quân khu 5), Lê Đức Anh (quân khu 9) được lên vượt 2 cấp và các đại tá Đoàn Khuê, ...
24 views ·