Chân dung anh hùng – Đại biểu Quốc hội (Bài 7) Tiếp theo bài 1: Từ truyền thông lề phải; bài 2. Đến sự thật của lịch sử; bài 3: Trả lời bài 1 và bài 2; bài 4: Truyền thống gia đình: Cha, Mẹ; bài 5: “Khí chất của người Anh Hùng …” và bài 6: Nghĩa tình quê hương Bài 7. Kế hoạch lừa siêu hạng qua Nghĩa tình quê hương I. Dừng dự án Với một dự án y tế tư nhân ở miền Trung có quy mô 880 tỷ là một dự án lớn. Tỉnh Quảng Ngãi tập trung cả hệ thống chính trị để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho dự án khởi công và thi công đúng tiến độ, kế hoạch. Tỉnh cấp ngân sách di dời khẩn cấp 8 cơ sở y tế, trong đó có Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi cũ để giao mặt bằng làm lễ khởi công và thi công Dự án. Tuy nhiên, sau ngày làm lễ khởi công, quan chức Trung ương đi hết rồi thì người dân không thấy công trình này triển khai xây dựng ngoài bãi đất trống rộng mênh mông giữa trung tâm thành phố. Hình 7.1. Khu đất trống được giải phóng mặt bằng để xây dựng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Chợ Rẫy Quảng Ngãi. Chín tháng sau sự kiện trọng đại lễ khởi công, vào tháng 3 và tháng 4 năm 2011, Chủ đầu tư rất lịch sự gởi 2 văn bản “Xin không thực hiện dự án”, có lời xin lỗi lãnh đạo và nhân dân trong tỉnh Quảng Ngãi (7.1). Với lý do chung chung: vì gặp một số khó khăn trong quá trình triển khai. Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi ngỡ ngàng! Một mặt lo giải trình với dư luận, một mặt họp với nhau tìm hiểu nguyên nhân thực sự và rút kinh nghiệm. Theo ông Nguyễn Hoàng Sơn – Phó chủ tịch tỉnh, dự án Bệnh viện đa khoa quốc tế Chợ Rẫy là một trong những dự án đầu tư vào tỉnh được thực hiện các qui trình đầu tư, cấp giấy phép và khởi công dự án nhanh nhất từ trước đến nay (2011). Tỉnh thông cáo báo chí: Mặc dù UBND tỉnh và các sở, ngành tạo mọi điều kiện tốt nhất để Công ty cổ phần Bệnh viện đa khoa quốc tế Chợ Rẫy – Quảng Ngãi triển khai dự án, tuy nhiên Công ty đã không làm đúng cam kết, phá vỡ quy hoạch đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố, làm ảnh hưởng đến công trình trọng điểm của tỉnh và ảnh hưởng đến dư luận và uy tín đối với nhân dân, gây thiệt hại và làm tốn thời gian cho 8 đơn vị y tế phải di dời nhường chỗ để xây dựng Bệnh viện. Đồng thời Tỉnh “bắt đền” Công ty phải trả 3,7 tỷ đồng, gồm: giá trị 13 hạng mục công trình mà Công ty đã phá dỡ trên 2,9 tỷ đồng và chi phí di dời, sửa chữa trụ sở làm việc của 8 đơn vị y tế phải di dời là 856 triệu đồng để lấy đất xây dựng bệnh viện. Vậy là chiến lược phát triển ngành y tế Quảng Ngãi với tham vọng “Bệnh viện Đa khoa quốc tế Chợ Rẫy – Quảng Ngãi sau khi hoàn thành sẽ là bệnh viện quốc tế đầu tiên khu vực miền Trung, với thiết bị y tế đạt tiêu chuẩn chất lượng Châu Âu, không chỉ nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mà còn nhân dân các tỉnh lân cận, đồng thời sẽ góp phần giảm tải cho Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh.”(6.11) đành dừng lại. Vậy là “ước vọng thầm kín” của Anh hùng lao động Nguyễn Văn Đông thổ lộ với báo chí nhẹ nhàng bay theo những chùm bong bóng ngày lể khởi công dự án. II. Dư âm Chuyện các đại gia làm dự án: thích thì làm, không thích thì dừng lại, chuyển nhượng là hoàn toàn bình thường, cùng lắm là phạt hợp đồng, cùng lắm là phá sản. Dù sao cũng hơn dự án của Đảng thực hiện bằng ý chí chính trị. Chẳng hạn như dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận (7.2), lúc bà Nguyễn Thị Kim Ngân là Phó Chủ tịch Quốc hội đã quyết tâm thông qua, đến khi làm Chủ tịch Quốc hội lại quyết định dừng. Cả hai lần đều nhờ Đảng lãnh đạo sáng suốt, Đại biểu Quốc hội trí tuệ. Mặc dù trước khi thông qua, các nhà khoa học, dư luận không đồng tình; đầu tư vào dự án cũng không ít, nhưng bà Nguyễn Thị Kim Ngân – đại diện cao nhất cho Quốc hội hai nhiệm kỳ cũng chẳng thèm xin lỗi nhân một tiếng. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Chợ Rẫy Quảng Ngãi chấm dứt, dù sao Chủ đầu tư cũng gởi lời xin lỗi lãnh đạo và nhân dân trong tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, dư âm của nó vẫn còn vọng lại đến ngày nay. Tỉnh Quảng Ngãi, các nhà đầu tư khác, người dân, … cùng đi tìm nguyên nhân thực sự dừng dự án. Thông tin công bố là Công ty Cổ phần bệnh viện Quốc tế Quảng Ngãi làm chủ đầu tư Dự án Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Chợ Rẫy – Quảng Ngãi hình thành trên cơ sở góp vốn của Công ty cổ phần Rạng Đông, Công ty TNHH Phú Thọ, Công ty TNHH Mắt Thái Thành Nam. Nhưng trên thực tế chỉ có mỗi Công ty Rạng Đông bỏ tiền, còn ông Đoàn – Công ty Phú Thọ và Thái Thành Nam chỉ tham gia bằng cái tên (ghi chú: ông Đoàn là cha đẻ của BOT đầu tiên là cầu Cỏ May đi Vũng Tàu, còn Thái Thành Nam là bạn ông Đoàn). Cho nên sau này quyết định dừng thì cũng chẳng ai làm gì với Nguyễn Văn Đông cả. Vào thời điểm đó, với hành lang pháp lý chưa rõ ràng về xã hội hóa y tế, đầu tư theo phương thức hợp tác công tư trong lĩnh vực y tế, cùng với cơ chế xin cho thì phải nói là rủi ro rất lớn. Về quan điềm chung của xã hội, thì đầu tư vào lĩnh vực y tế ở các tỉnh lẻ phải chấp nhận phi lợi nhuận, thời gian hoàn vốn có chiết khấu kéo dài trên 20 năm. Chính vì vậy nhà nước mới kêu gọi xã hội hóa y tế với những chính sách ưu đãi đầu tư về đất đai, các loại thuế, … Rạng Đông là một tập đoàn lớn, với một đội ngũ chuyên gia tài chính, thị trường có kinh nghiệm, đã đầu tư hàng trăm dự án lớn nhỏ. Nên đương nhiên nghiên cứu, tính toán rất kỹ để lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư Bệnh viện đến hơn 880 tỷ đồng trước khi quyết định khởi công. Trong Báo cáo khả thi cũng đã tính toán, xác định thời gian thu hồi hồi vốn, phân tích và xử lý các khả năng rủi ro có thể xảy ra. Hồ sơ năng lực của Chủ đầu tư “rất đẹp”, chứng minh nguồn tài chính và kế hoạch giải ngân khả thi, đồng thời dự án nâng chi phí đầu tư từ 670 tỷ đồng (theo suất đầu tư) lên 880 tỷ nên đã thuyết phục được những chuyên viên thẩm định dự án khó tính nhất của tỉnh. Từ đó tỉnh chấp nhận giao gần 5 ha đất vàng trung tâm thành phố để xây dựng Bệnh viện Quốc tế, còn Bệnh viện đa khoa của tỉnh hiện hữu thì chuyển đi nơi khác. Trong khi theo TCVN 9212:2012 (6.7) với quy mô 500 giường diện tích đất là 3,6 ha. Nghe đâu chi phí chuẩn bị đầu tư, lễ khởi công, bồi thường cho tỉnh (7.3) hơn chục tỷ đồng. Chấp nhận bỏ chục tỷ ra, tổ chức khởi công hoành tráng, mời cả Ủy viên trung ương đảng, Bộ trưởng y tế về cắt băng khánh thành. Xong để đó, 9 tháng sau thông báo dừng! Tốn thời gian, công sức của nhiều bên liên quan. Thương cho người dân Đức Phú, đi đâu cũng khoe Nguyễn Văn Đông về đầu tư Bệnh viện quốc tế. Tội cho nhiều cán bộ y tế và những người đang học ngành y quê Mộ Đức với hy vọng sẽ được làm việc cho Bệnh viện quốc tế do người con của quê hương Đức Phú, Mộ Đức xây dựng. Nhưng quê độ nhất vẫn là chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, đã lỡ huy động cả hệ thống chính trị tuyên truyền cho dự án. Đến khi dừng dự án chẳng biết nói sao, thôi thì đăng bản tin cho dân biết “Ngừng triển khai dự án Bệnh viện đa khoa Quốc tế Chợ Rẫy – Quảng Ngãi”(7.4) với lý do vì gặp một số khó khăn trong quá trình triển khai là xong. Khi khởi công thì tỉnh ủy có mặt lãnh đạo, lúc dừng dự án Đảng chẳng nói năng gì! III. Đi tìm nguyên nhân Theo tính toán độc lập của những nhà đầu tư bệnh viện tư nhân, thì ngay sau khi hoàn thành công suất giường sẽ đạt ngay ít nhất là 95%, thời gian hoàn vốn theo suất đầu tư khoảng 15 năm. Với một quỹ đất dư ra gần 1,4 ha gắn liền với khuôn viên Bệnh viện tại khu trung tâm Thành phố sẽ tạo ra rất nhiều dịch vụ thương mại có giá trị gia tăng cao. Cho nên không thể nói dự án không hiệu quả; còn những vấn đề khác như phương án tài chính, nhân sự, … đã được phân tích và xử lý trong Báo cáo nghiên cứu khả thi trước khi cấp phép. Không bên nào công bố chính thức nguyên nhân, nhưng rò rỉ thông tin ra dư luận thì có nhiều. Bên này cáo buộc bên kia: – Người của phía Rạng Đông cho rằng quan chức Quảng Ngãi gây khó khăn, các sếp muốn gởi cổ phần ảo nhiều quá. Người trong Ban quản lý dự án thì nói các đối tác không chịu góp vốn. Một số nhân sự cấp cao thì nói chưa thu xếp được nguồn vốn. – Quan chức phía địa phương cho rằng Chủ dự án đòi ưu đãi nhiều quá; trong đó có yêu cầu khu đất ở trung tâm tỉnh lỵ để xây dựng nhà ở cho cán bộ công nhân viên gần trường Cao đẳng sư phạm (nay là Đại học Phạm Văn Đồng) … Thời gian trôi qua, các lãnh đạo tỉnh ngày đó như ông Nguyễn Xuân Huế, Cao Khoa đến nay cũng đã nghỉ hưu. Lúc đó cũng không thể hiểu nổi tại sao phải Chủ đầu tư quyết định dừng dự án, còn chuyện tỷ lệ phần trăm dự án thì ở đâu mà chẳng có, không phải là nguyên nhân chính. Cũng có người nói, mục đích chính của Rạng Đông là chuyển nhượng dự án nhưng không được nên rút; hoặc Rạng Đông không có kinh nghiệm đầu tư, quản lý bệnh viện nên phải dừng là đúng; … Bây giờ khu đất này được xây dựng hai bệnh viện mới là Bệnh viện Sản nhi và Bệnh viện Bệnh viện Y học cổ truyền (hình 7.2). Hình 7.2. Khu đất gần 5ha xây dựng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Chợ Rẫy Quảng Ngãi hiện nay là Bệnh viện Sản nhi và Bệnh viện Y học cổ truyền. Với độ trễ thời gian đủ dài, nhiều quan chức của tỉnh nghỉ hưu vẫn tiếp tục theo dõi Rạng Đông, tìm hiểu Nguyễn Văn Đông cố gắng xác định nguyên nhân thực sự Nguyễn Văn Đông quyết định chấm dứt đầu tư bệnh viện ở Quảng Ngãi. Đau nhất trong vụ này có lẽ là ông Nguyễn Xuân Huế, ông cũng là Anh hùng Lao động thời kỳ làm Giám đốc Công ty Đường Quảng Ngãi (nhà nước), sau này làm Chủ tịch tỉnh. Nhưng anh hùng trong chốn quan trường làm sao bằng anh hùng của cơ chế thị trường hoang dã theo định hướng xã hội chủ nghĩa được. Tuy nhiên Anh hùng của Đảng rất biết thù dai đúng nghĩa “quân tử trả thù mười năm chưa muộn”. Nói về ông Nguyễn Xuân Huế, cán bộ Quảng Ngãi thời đó nói đùa: trước khi nghỉ hưu ông tranh thủ ký quyết định chủ trương đầu tư để kiếm việc làm cho dân Quảng Ngãi 20 năm nữa. Còn đối với dự án Bệnh viện Quốc tế Chợ Rẫy – Quảng Ngãi, ông Huế đã chỉ đạo các sở ngành tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư. Ông hy vọng để lại danh tiếng là người mời gọi đầu tư Bệnh viện Quốc tế và kiếm ít cổ phần trong Bệnh viện sau khi nghỉ hưu. Không như quan chức khác tranh trủ “vặt lông”, ông Nguyễn Xuân Huế muốn nuôi con “vịt bầu” Nguyễn Văn Đông về quê đẻ trứng, nhưng cuối cùng lại thành con “vịt trời”, bay đi mất! Hình 7.3. Anh hùng lao động, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Xuân Huế (đứng); Phó Chủ tịch tỉnh Cao Khoa (thứ 2 từ trái qua) – ảnh tư liệu 2011 IV. Nguyên nhân thực sự là gì? Nhiều người còn nhớ, giai đoạn thẩm tra lý lịch để phong Anh hùng lao động, Nguyễn Văn Đông hay về Quảng Ngãi hứa hẹn giúp đỡ, đầu tư cho quê hương của một người con xa xứ mà tổ tiên đã sống hơn 500 năm. Hai lĩnh vực đầu tư khó sinh lợi nhất ở những tỉnh lẻ là giáo dục và y tế, cho thấy Đông rất nặng tình với quê hương. Tình người với tiền nhiều, nên chuyện cũ bỏ qua. Các vướng mắc, khiếu nại về lý lịch đều được giải quyết ổn thỏa, đẹp đẽ. Anh hùng lao động Nguyễn Văn Đông đã thực hiện lời hứa: – Đó là xây tặng cho xã Đức Phú ngôi trường Mẫu giáo với kinh phí 2,3 tỷ đồng (xem Bài 5). – Và đầu tư dự án Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Chợ Rẫy Quảng Ngãi: 880 tỷ đồng. Anh hùng Nguyễn Văn Đông bỏ ra hàng chục tỷ đồng để thực hiện chuẩn bị đầu tư, tổ chức lễ khởi công hoành tránh để chứng minh là thực sự quyết tâm đầu tư. Đến lúc anh Đông cần dứt bỏ thì cũng rất đơn giản. Tìm lý do abc nào đó, không được thì tạo ra lý do xyz, mà nhà đầu tư muốn tạo ra lý do trong thể chế quan liêu và tham nhũng này thì không quá khó. Ví dụ, chỉ cần ngưng bôi trơn là guồng máy chạy ì ạch ngay – vậy là có lý do la làng “rải thảm trên đinh” và xin rút. Vào thời điểm đầu năm 2011, thì AHLĐ Nguyễn Văn Đông đã ngồi ghế Đại biểu quốc hội được 5 năm. Chừng đó thời gian với quyền hạn một ĐBQH (7.5), với nguồn lực đại gia, với tố chất được di truyền từ gia đình; Nguyễn Văn Đông đã hiểu được cơ chế vận hành của cơ quan Trung ương, thiết lập quan hệ thân hữu được với các thế lực siêu quyền lực. Mục tiêu chiến lược hướng đến bây giờ là những “quả đấm thép” sẽ được trình bày trong các bài sau. Nếu so sánh với đầu tư làm Đại biểu Quốc hội như bà Đặng Thị Hoàng Yến hay Châu Thị Thu Nga hết 1,5 triệu USD. Thì tính ra, dự án “đầu tư giảm thiểu rủi ro” này quá thấp, nhưng hiệu quả cao. AHLĐ-ĐBQH Nguyễn Văn Đông không còn trăn trở bởi những nỗi lo như Tăng Minh Phụng (xem Bài 5). Ngoài ra còn cơ hội mở đường tiếp cận cấp Trung ương sau này nữa. Đó mới chính “Khí chất của người Anh Hùng luôn khác với người thường”. Cả guồng máy của tỉnh và người dân Quảng Ngãi đều bị lừa mà không biết bị lừa. Quả lừa của vị anh hùng luôn khác người. Không phải một hai tấn xi măng, vài ba trăm ký sắt, hay mấy đồng lẻ tiền qua đò như người cha Nguyễn Trung. Không riêng gì quê hương Quảng Ngãi, người dân Bình Thuận cũng đã nhận được những cú lừa ngoạn mục của vị anh hùng, chúng tôi sẽ phân tích trong các bài sau. Như một ván cờ mà Đông là người duy nhất điều khiển cuộc chơi, ngay các các đối tác như ông Đoàn – Công ty Phú Thọ và Thái Thành Nam cũng chỉ là những quân xanh bày ra cho đẹp bàn cờ mà thôi. Quan chức tham lam bị lừa đã đành, đằng này người dân Mộ Đức – Quảng Ngãi ngây thơ cũng bị lừa. Từ lừa sơ cấp lại sinh ra lừa thứ cấp: đó là những người đi xin việc, muốn chuyển đến bệnh viện quốc tế, đã cố chạy tìm gặp người quen anh Đông, những người trong Ban Quản lý dự án, cán bộ Sở Y tế của các sở ngành có liên quan dự án để nhờ giúp đỡ, và tất nhiên … không phải bằng nước bọt. Chính vì vậy mà người dân mới phong cho: nào là AHLĐ là Anh hùng lừa đảo; nào là: làm đĩ chín phương, chừa một phương làm … tiền; nào là lừa đảo cấp quốc gia; … Chính vì vậy mà người dân và chính quyền xã Đức Phú mới từ chối con đường mang tên: AHLĐ Nguyễn Văn Đông. Ghi chú (7.1) Một chủ dự án xin lỗi dân: https://tuoitre.vn/mot-chu-du-an-xin-loi-dan-436516.htm (7.2) Tra Google Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận (7.3) Chủ đầu tư BV đa khoa quốc tế Chợ Rẫy-Quảng Ngãi phải chi trả hơn 3,7 tỷ đồng: http://baoquangngai.vn/channel/2022/201106/Chu-dau-tu-BV-da-khoa-quoc-te-Cho-Ray-Quang-Ngai-phai-chi-tra-hon-37-ty-dong-2033091/ (7.4) Ngừng triển khai dự án Bệnh viện đa khoa Quốc tế Chợ Rẫy – Quảng Ngãi: http://baoquangngai.vn/channel/2022/201103/Ngung-trien-khai-du-an-Benh-vien-da-khoa-Quoc-te-Cho-Ray-Quang-Ngai-1985007/ (7.5) Chúng tôi đang tìm kiếm thông tin Đại biểu quốc hội Nguyễn Văn Đông trong suốt một nhiệm kỳ đã làm gì với vai trò là người đại diện của nhân dân tỉnh Bình Thuận, nhưng quá hiếm hoi. Bạn đọc có thông tin, xin cung cấp giúp, cám ơn. Được biết Nguyễn Văn Đông bao luôn chi phí cho đoàn tỉnh Bình Thuận. Đông ít khi họp Quốc hội, chủ yếu ra Hà Nội thiết lập quan hệ, gặp gỡ cán bộ cấp cao ở Trung ương. Bình Thuận Minh Bạch 17-9-2019 Bởi AdminTD - 17/09/2019 Link: https://baotiengdan.com/2019/09/17/chan-dung-anh-hung-dai-bieu-quoc-hoi-bai-7/ - Bài 1: https://www.minds.com/newsfeed/1015867099847045120?referrer=HoangVanLam - Bài 2: https://www.minds.com/newsfeed/1015867522765373440?referrer=HoangVanLam - Bài 3: https://www.minds.com/newsfeed/1016510756642373632?referrer=HoangVanLam - Bài 4: https://www.minds.com/newsfeed/1018631938132463616?referrer=HoangVanLam - Bài 5: https://www.minds.com/newsfeed/1018632509991657472?referrer=HoangVanLam - Bài 6: https://www.minds.com/newsfeed/1019566725942181888?referrer=HoangVanLam - Bài 7: https://www.minds.com/newsfeed/1020646461764562944?referrer=HoangVanLam
2Upvotes

More from HoangVanLam

VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Lời Bạt Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng”. Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tàu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại màu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế taxi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chiếc tàu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Góp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tàu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng Sản bên Đông và Dân Chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ? Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị tổng thống Ronald Reagan và George H.W. Bush, của thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ xô viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác cũng vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa sai lầm trong khối Xô viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy. Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của Phương Tây đã diễn tả sự kiện cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc giải phóng, từ đó đã đưa đến câu nói đáng khinh rẻ, có thể là vô tình của vị giáo sư trường Harvard John Kenneth Galbraith, ngạo mạng chúc cho miền Nam Việt Nam “hãy trở về niềm thinh không mà nó đáng được hiện diện.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được giải phóng khỏi sự áp đặt một nhà nước độc tài toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và nó buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối? Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ 1 triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của nhóm học giả quốc tế do bác sĩ tâm thần Richard F. Monila của đại học Harvard dẫn đầu? Ai là kẻ giải phóng? Có ai mất công tìm hiểu tiểu sử, lịch sử và những câu nói của nhân vật đã khởi xướng cuộc chiến xâm lăng này? Một trong những biệt danh mà đám trẻ ngưỡng mộ hò reo trong hầu hết các trường đại học Tây Phương là Hồ-Hồ-Hồ-Chí-Minh… Nhưng đó không phải là tên thật của hắn. Ngày nay chúng ta biết đó chỉ là một trong 170 (!) biệt danh mà Hồ Chí Minh đã tự phong cho mình với tư cách là một nhân viên cấp cao của tổ chức Comintern hay Quốc tế Cộng sản từ những năm của thập niên 1920. Điều này chẳng có gì là bí mật lúc tôi đến Việt Nam vào năm 1965. Ai cũng có thể thấy điều đó trong những cuốn sách giáo khoa gối đầu giường của hầu hết các phóng viên. Những ai muốn tìm hiểu đều có thể tìm ra dễ dàng từ những nguồn thông tin trung thực, đáng tin cậy, mơ ước đích thật của Hồ Chí Minh là gì. Hắn đã tự nhủ rằng mong ước duy nhất là giúp mang lại chiến thắng của Chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít trên toàn cầu. Nếu nền độc lập của Việt Nam từ tay người Pháp là mục tiêu chính thì Hồ Chí Minh đã không sốt sắng phản bội và thanh trừng tất cả các chiến sĩ tự do không nằm trong quỹ đạo của phe Liên Xô, bao gồm những người quốc gia, những người theo hoàng gia và nhóm Trotskyist. Khi tôi đang sống tại Sài Gòn, tất cả mọi người đều biết chắc chắn là Hồ chịu trách nhiệm trong việc thảm sát ít nhất là 200.000 địa chủ trong vụ cải cách ruộng đất theo lối Stalin tại Bắc Việt từ 1953 đến 1956. Nhiều nguồn tin còn cho rằng đã có 500.000 người bị giết. Hằng hà sa số người khác thì thà tự tử còn hơn bị tra tấn đến chết. Theo kinh nghiệm của Stalin và Mao Trạch Đông, lý do chính của Hồ Chí Minh trong các cuộc thảm sát này chẳng phải là để phân chia của cải gì cả mà nhằm vô hiệu hóa tất cả các mối hiểm họa của những “tầng lớp thù nghịch.” Một điều đáng ghi nhớ khi chúng ta gần đến kỷ niệm 40 năm ngày Sài Gòn thất thủ là đã có một âm mưu chính trị lạnh người trong lịch sử, là việc Quốc Hội Hoa Kỳ đã bán đứng Nam Việt Nam bằng cách bỏ phiếu chấm dứt mọi viện trợ quân sự phụ trội cho quốc gia đang dãy chết này, tức chấp nhận quan điểm của giáo sư Galbraith và các đầu óc trí thức tương tự, rằng “chúng ta đã giả định một kẻ thù không hề có thật.” Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của Phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân”. Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive quy định thì chiến tranh nhân dân phải được hiểu là cuộc chiến tranh của nhân dân. Thực tế không phải như vậy. Đã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam bị giết chết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường đại học Hawaii. Ngũ Giác Đài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không phải là một cuộc chiến tranh của nhân dân và chính là chiến tranh chống nhân dân. Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường xuyên trong vòng 40 năm qua, câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là vắng mặt không phép, câu hỏi đó là: dân Việt Nam có mong muốn một chế độ cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần 1.000.000 người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954 trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại? Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái của họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối xô viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không. Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối của người Mỹ là “I have no dog in this fight” (Tôi chẳng có con chó nào trong vụ đánh lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp còn mãi mê giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các goá phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặng méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau cùng với những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay chôn sống trong những ngôi mộ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa. Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xảy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927). Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp thuộc loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách nêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lại có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung Úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời McNamara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội. Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị vô kỷ luật Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: Tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết chết các bác sĩ người Đức ở Huế? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện thuộc hội Hiệp Sĩ Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự vấn lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki? Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt những người lính đó và cô viết là chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chặn họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự hận thù chỉ có thể có được do dạy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên lực lượng tàn độc đó gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kìm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế đang ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả. Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân lê dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên để tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xảy ra như sau: Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa đại tá!” Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi cùng sự hỗ trợ mà các ông đã nhận được từ người dân qua các phương tiện khủng bố.” Võ Nguyên giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến lâu dài. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành cột trụ trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này. Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khỏe về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xảy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam Hoa Kỳ. Tác động của sự khiếm khuyết này đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này một cách rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do. Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Kitô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản trắc. Hiển nhiên tôi không biện minh cho việc tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tinh là cuối cùng họ sẽ tìm ra phương cách ôn hòa và những thủ lĩnh chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ phải xảy ra. Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng? ./. Link: https://phanba.wordpress.com/vinh-quang-cua-phi-ly/ --- Chương trước: - VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Chương 15: https://www.minds.com/newsfeed/1020609488594735104?referrer=HoangVanLam - VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Chương 1: https://www.minds.com/newsfeed/1020600957691256832?referrer=HoangVanLam ===0=== TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
46 views ·
VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Chương 15 Cuộc chia tay dài lâu với niềm phi lý Trong những tuần lễ sau Tết Mậu Thân tôi bắt đầu nhận thức được rằng kịch trường của sự phi lý không còn là một đề tài để vui đùa nữa, ngay cả đối với các quan sát viên có đầu óc châm biếm nhất. Tất nhiên là anh chàng Eberhard Budelwitz, cái thước đo cho sự phi lý chưa hề sai bao giờ của tôi, đã cảm nhận điều này từ lâu rồi. Bằng một hành động kỳ quái trước khi bị triệu hồi về lại Đức để đi cai rượu, và từ đó bổ nhiệm qua thủ đô của một quốc gia Á châu khác, anh đã biểu lộ nhận thức này không phải bằng cách múa lưỡi trước khi trình bày ý kiến như trong quá khứ nữa. Anh không đặt những câu hỏi ngớ ngẩn tại các “buổi họp điên rồ vào lúc 5 giờ” chẳng hạn như các thắc mắc về tàu ngầm cho các nhà sư Phật giáo như là một phương tiện để ngăn ngừa lính Thủy Quân Lục Chiến đái bậy vào chùa. Không, lần này Budelwitz đã thể hiện quan điểm của mình bằng hành động tuyệt vọng trong một cơn điên cuồng say xỉn. Chuyện xảy ra trong khách sạn Continental chỉ vài ngày trước khi tôi đi về Hồng Kông, nếu tôi nhớ không lầm. Văn phòng tạp chí Time-Life tổ chức một buổi tiệc chia tay náo nhiệt cho phóng viên James Wilde, một tay mặt đỏ gay, nóng tính, người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã được lên bảng phong thần của những cách ngôn về Chiến Tranh Việt Nam bằng một câu nhận xét lạnh người: “Tử khí đã quyện vào da thịt tôi, phải mất hàng năm trời mới gột sạch nổi.” Jim Được chuyến đi Canada và chúng tôi chọc phá anh bằng những câu hỏi về nhiệm sở mới của anh. “Làm sao anh có thể giữ huyết áp ở mức cao được trong những ngày chủ nhật khô khan ở Ottawa?” Có người hỏi anh ta như vậy. Rồi đột nhiên anh ta biến đâu mất. Sau một vài chầu rượu chúng tôi bắt đầu lo lắng nên tổ chức đi tìm anh, dĩ nhiên là bắt đầu trong phòng ngủ. Cửa phòng khép hờ. Ghé mắt vào trong, chúng tôi thấy một bãi chiến trường. Tủ quần áo mở toang và đồ đạc vương vãi khắp nơi. Một trong những cánh cửa sổ lớn kiểu Pháp đã bị giật ra khỏi khung và bị đập vỡ trên sàn. Có những dấu chân đẫm máu khắp chỗ dẫn đến cửa sổ. James Wilde đang nằm run rẩy trên giường với tấm chăn trùm kín tận đầu. “ Đi đi, đi đi!” Anh ta khóc. “Jim, chúng tôi đây mà, bạn của anh đây! Chuyện gì xảy ra vậy?” Chúng tôi nói. “Ồ, các bạn đó hả? Cảm ơn Chúa!” Anh nói, “Tôi mới vào phòng tắm lên giường nằm nghỉ ngơi một chút rồi ngủ thiếp đi. Cửa phòng mở ra và cái thằng Đức cởi truồng bước vào làm tôi sợ vãi cả đái…” “Thằng Đức trần truồng nào, Jim?” tôi hỏi, “Tao đứng ngay đây mà, và tao có mặc quần áo đàng hoàng mà.” “Không, đồ ngu, tao có nói mày đâu! Tao nói cái thằng Đức cứ hay hỏi những câu say khướt về tàu ngầm cho sư Phật giáo và những chuyện khác tại follies. Tóm lại, hắn đi thẳng vào tủ quần áo của tao, lôi tất cả đồ ra, mặc cái áo khoác vào, đến gỡ cửa sổ ra đập xuống đất, dẫm một cách khùng điên lên những mảnh kính vỡ rồi đâm đầu nhảy ra ngoài cửa sổ. Thật là kinh quá, kinh khủng quá!” “Hắn bây giờ đâu rồi?” William Touhy của tờ Los Angeles Times hỏi. “Tôi không biết, có lẽ nó chết trên vỉa hè rồi. Tôi nghe một tiếng bụp.” Chúng tôi ra ngoài cửa sổ nhìn xuống cái tán lớn che thêm bóng mát cho khách của mái hiên Continental bên dưới. Nằm trên cái tán đó là đồng nghiệp Eberhard Budelwitz của chúng tôi đang ngủ say, trên người chỉ bận cái áo khoác của Jim Wilde. Tay và chân của anh ta dính đầy máu nhưng ngoài ra thì anh không sao cả. Chúng tôi khiêng anh vào trong nhà, mặc cho anh đồ lót của Jim và mang vào phòng anh mà vẫn không làm anh thức dậy. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Budelwitz. Tôi vẫn luôn trân trọng anh vì những câu hỏi sắc bén dù có phần kỳ quặc và đặc biệt là cho thành tích cuối cùng của anh tại Sài Gòn mà suy nghĩ cho cùng không làm cho chúng tôi ngạc nhiên chút nào. Sự thôi thúc ném mình ra khỏi cửa sổ như là một dấu chấm than đằng sau sự nghiệp ký giả của anh tại Việt Nam đã gây được tiếng vang lớn đối với một số đồng nghiệp của anh. Không phải bất cứ ai trong chúng tôi cũng mang ý tưởng tự vẫn trong đầu. Trường hợp tôi chắc chắn là không rồi, còn tôi không tin là Budelwitz cũng nghĩ như vậy. Cho dù trong tình trạng say xỉn anh cũng đủ thông minh để biết một cú nhảy qua cửa sổ xuống cái tán không thể gây chết người được. Nhưng bằng một cách lập dị riêng, anh đã nói lên một điều mạnh mẽ: những gì chúng tôi vừa trải qua trong dịp Tết Mậu Thân là mức độ lố bịch nhất của kịch trường cho sự phi lý. Biến cố này đã thuyết phục tôi là câu định lý La tinh “in vino veritas” (Sự thật nằm trong chén rượu) có thể áp dụng cho các ly rượu pha “screwdriver”, ít nhất là trong trường hợp của Budelwitz. Sáu tuần trong nhà ở Hồng Kông sau kỳ thử thách Tết Mậu Thân không giúp gì mấy cho lòng mong muốn của tôi được tỉnh táo trở lại. Hai diễn biến chính trị song song với nhau đã khiến cho một số phóng viên đóng tại Hồng Kông tự nhủ ai thực sự đang bị hoảng loạn đây: chúng tôi hay là thế giới mà chúng tôi có nhiệm vụ phải tường thuật? Trong xứ cộng sản Trung Quốc bên cạnh, cuộc Cách Mạng Văn Hóa vô sản vĩ đại đã đạt đến cực điểm. Chúng tôi nhận được các báo cáo rằng sông Châu Giang bị tắc nghẽn bởi xác các cán bộ Cộng sản bị các vệ binh cách mạng còn trẻ măng đập đầu chết. Một số được tìm thấy trong vùng biển Hồng Kông với tay bị trói quặc ra sau lưng bằng dây kẽm và túi thì nhét Hồng Bảo Thư của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, với một khía cạnh địa chính trị, các tin tức về một sự chia rẽ Liên Xô Trung Cộng và sự kiện Bắc Kinh đã từ chối không cho vũ khí Liên Xô cung cấp cho Bắc Việt được vận chuyển bằng xe lửa xuyên qua lãnh thổ Trung Quốc lại càng quan trọng hơn nữa. Điều này đáng lẽ phải được tiếp nhận như là tin tốt đối với Hoa Kỳ nhưng hầu như không được chú trọng trong giới truyền thông Mỹ. Tiếp sau đó lại còn một mẩu tin động trời hơn nữa. Gillian và tôi đi dự một buổi tiệc nhỏ tại tư gia của tay trưởng trạm một cơ quan tình báo Tây Âu. Khách danh dự là một đại tá Hoa Kỳ thông thạo sáu thổ ngữ Trung Hoa và có bằng tiến sĩ về Hán học. Chúng tôi biết anh là sỹ quan tình báo quân đội Mỹ phụ trách phân tích các chương trình phát sóng trong phạm vi tỉnh và thông tin liên lạc nội bộ trong Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chỗ làm việc của anh, cái trạm nghe lén khổng lồ của Mỹ chỉ cách chỗ ở của chúng tôi vài phút đồng hồ. “Nói cho tôi biết đi, thưa quý vị, anh đột nhiên hỏi hai ký giả có mặt, quý vị thỉnh thoảng có thấy khó khăn như tôi khi muốn gây sự chú ý của các sếp biên tập viên khi nắm trong tay một số tin tức sốt dẻo hay không?” “Tôi thì chẳng bao giờ!” Tôi trả lời. “Tôi không,” anh đồng nghiệp Mỹ nói, “nhưng tại sao anh lại hỏi?” “Bạn thấy đấy, hiếm khi những gì tôi gửi về Washington đến được tay tổng thống trong bất cứ hình thức thích hợp nào, bất kể tin tức đó có thể quan trọng hay không.” “Chẳng hạn như?” Tôi hỏi. “Ví dụ như tôi đã báo với cấp trên rằng có bằng chứng càng lúc càng nhiều là một cuộc xung đột vũ trang sẽ nổ ra giữa người Hoa và người Nga. Mấy đứa nào đó ở Ngũ Giác Đài làm nhẹ nó đi trước khi chuyển đến tay sếp tình báo quân đội. Hắn làm loãng thêm trước khi bộ trưởng quốc phòng Mc Namara Nhận được tin đó. Mc Namara lại ‘tưới nước’ nó thêm trước khi đưa qua Bạch Cung.” “Như vậy thì Lyndon Johnson còn đọc được cái gì?” Anh đồng nghiệp Mỹ hỏi. “Một dòng chữ vô nghĩa nói rằng theo trạm Hồng Kông, người Nga và người Hoa không hài lòng với nhau hay đại loại một cái gì vớ vẩn như vậy.” “Tại sao anh lại nói cho chúng tôi biết chuyện này?” Tôi muốn biết thêm. “Bởi vì tôi tin rằng tổng thống Hoa Kỳ cần phải được chuẩn bị cho các cuộc đụng độ quân sự giữa hai cường quốc cộng sản thế giới đó. Ông ta sẽ biết khi đọc câu chuyện này trên báo chí. Quý vị viết về sự kiện đó đi nhưng làm ơn viết nhằm loan báo chung và đừng tiết lộ nguồn.” Đêm hôm đó chúng tôi báo cáo mẩu tin này và sáng hôm sau cả thế giới, chắc kể cả LBJ đều biết cuộc xung đột Trung Cộng – Liên Xô thật sự nghiêm trọng như thế nào. Tình trạng nguy hiểm này còn phải mất một thời gian nữa để đạt đến cực điểm. Nhưng một năm sau cuộc trò chuyện trong bữa ăn tối đó của chúng tôi, các lực lượng Trung Cộng và Liên Xô quả nhiên có đụng độ nhau ở sông Ussuri. Lái xe về từ buổi tiệc của các tay gián điệp, tôi làm vui Gillian với mẩu chuyện Eberhard Budelwitz tự phóng mình qua cửa sổ như một màn trình diễn tối hậu của kịch trường của sự phi lý. Nàng cười ngặt nghẽo. “Em hiểu ý anh rồi,” nàng nói, “những gì chúng ta vừa nghe là một màn nữa thuộc kịch trường của sự phi lý.” “Đúng vậy, kịch trường của sự phi lý ở mức độ cao nhất.” “Thật đáng sợ,” nàng nói, “đủ để muốn ném mình ra khỏi cửa sổ.” “Làm ơn theo nghĩa bóng thôi nhé!” Sau đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 1968 tin lớn bùng nổ: phát ngôn viên bản tin buổi chiều của đài truyền hình CBS, Walter Cronkite, trở về nhà sau một chuyến đi thăm chớp nhoáng Việt Nam sau cuộc công kích Tết Mậu Thân đã tuyên bố một cách ồn ào trước một cử tọa khoảng 20 triệu khán thính giả là không thể thắng cuộc chiến Việt Nam được. Điều này chối bỏ tất cả những gì các phóng viên chiến trường, bao gồm cả Peter Breastrup và tôi đã trải qua trong ngày Tết. Chúng tôi đã biết những gì mà bây giờ các sử gia đang tuyên bố: người Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa và các đồng minh đã đánh bại cộng sản về mặt quân sự. Tuy nhiên ý kiến của Walter Cronkite đã chối bỏ thực tế, chuyển một chiến thắng quân sự thành một thất bại về chính trị. “Tôi mất Cronkite, tức đã mất thành phần trung lưu người Mỹ rồi,” Lyndon B. Johnson nói, và một tháng sau ông tuyên bố tạm ngưng ném bom Bắc Việt, cũng như quyết định sẽ không tái tranh cử nữa. Với điều này, kịch trường của sự phi lý đã đạt đến cực độ. Chuyện xảy ra là cùng ngày Johnson ra bản tuyên bố, tức ngày 31 tháng 3 năm 1968, Gillian và tôi đang cùng đi Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nàng đến Việt Nam. Hầu hết các phóng viên chiến trường giữ gia đình của họ tại Hồng Kông, Singapore, Bangkok, không chỉ vì sự an ninh của họ mà còn vì một lý do nghe ra rất nghề nghiệp nữa: ký giả chiến trường phải có khả năng ra ngoài mặt trận với tính cách ứng chiến đột xuất mà không cần phải bàn cãi lâu lắc vào đêm hôm trước với các bà vợ trong bữa ăn tối. Gillian chưa bao giờ tin vào lập luận này một cách thái quá và lại càng không tin nữa khi chúng tôi đáp xuống Sài Gòn. Trên chuyến bay của hãng Cathay Pacific tôi đã cảnh cáo nàng là nhân viên di trú Việt Nam Cộng Hòa có thể rất khó chịu như thế nào. Nhưng khi nàng trình thông hành Anh Quốc ra thì khuôn mặt của viên chức đó lại sáng lên. “Ồ, thưa bà Siemon-Netto, xin chào mừng bà đến đất nước chúng tôi!” Anh ta nói bằng tiếng Pháp, “dĩ nhiên là tôi quen với ông nhà rồi nhưng bây giờ thật là một vinh dự được biết bà.” “Thật là một người dễ mến,” Gillian nói, vừa nguýt tôi. “Anh đã bay đến đây cả vạn lần rồi mà hắn có bao giờ nói một tiếng chào hỏi gì anh đâu,” tôi làu nhàu. “Hãy cứ đợi đến lúc gặp nhân viên quan thuế đi. Họ sẽ gây khó khăn cho em ngay mà.” Rốt cuộc thì anh ta không gây khó khăn nào cho nàng cả mà ngược lại còn tiếp đón Gillian cũng nồng nhiệt y như anh nhân viên nhập cảnh vậy. Anh ta còn không buồn ngó vào hành lý của chúng tôi mà vẫy tay cho đi. Gillian lại còn ngó tôi một cách buồn cười nữa. “Thường thì mấy người này khám xét từng cái quần lót của anh,” tôi lầm bầm. “Nhưng hãy đợi đến khi chúng mình phải vật lộn để có xe về khách sạn Continental. Xe taxi không được phép lấy thẳng vào ga hàng không nữa.” Ngay lúc đó thì có một anh chàng trẻ tuổi, có lẽ là một trung uý Không Quân làm thêm công việc tài xế ngoài giờ, mời đưa chúng tôi về khách sạn trên chiếc Buick có gắn máy lạnh của anh. Đến lúc này thì Gillian nhìn tôi chằm chằm với biểu hiện đã mất niềm tin ở tôi một cách sâu xa. Ông Lợi, quản gia chính của khách sạn Continental đón tiếp chúng tôi với một nụ cười rạng rỡ và đích thân đưa chúng tôi đến căn suite 214, trong đó có sẵn hai mươi lăm bông hồng đỏ chờ đón Gillian với sự ưu ái của chủ nhân. Những bông hồng tuyệt đẹp này đã làm tăng thêm sự nghi ngờ của Gillian. “Tại sao anh lại giữ không cho em đến nơi chốn tuyệt vời này lâu quá vậy?” Nàng yêu cầu muốn biết. Buổi tối hôm đó tại quán Royal, me-sừ Ottavi trải thảm đỏ ra: atisô, súp hành, pa tê gan ngỗng, và vịt nấu cam kèm theo một chai Château Cheval-Blanc loại rượu vang đỏ ngon nhất từ vùng Saint Émillion. Món bánh soufflé tẩm rượu Grand-Marnier lừng danh của Ottavi tiếp theo. chung với một chai sâm banh Dom Perignon. Tay chủ quán này giấu đâu những kho báu này hàng mấy năm trời nay vậy? Trên đường trở về Continental, Gillian nhận xét một cách thẳng thừng: “Thì ra anh mang các cô tình nhân của anh ra đây!” “Nhìn này, em yêu, em có thể nghỉ thế cách nào cũng được, nhưng có một điều hết sức quan trọng em phải nghe anh,” tôi nói khi chúng tôi bước vào phòng. Tôi chỉ tay vào các căn cửa sổ kính kiểu Pháp mà tôi đã dán băng keo trong một lần ở trước đó nhằm phòng ngừa miểng kính vỡ trong trường hợp bị Việt Cộng pháo kích. “Khi nào tối nay em nghe thấy tiếng lụp bụp,” tôi tiếp tục, “em phải theo anh ngay lập tức vào phòng tắm và ở đó cho đến khi cuộc tấn công chấm dứt. Phòng tắm là chỗ an toàn nhất trong căn suite này vì không có cửa sổ và nhờ đó tránh được miếng kính vỡ một cách tốt nhất.” Không màng trả lời tôi, Gillian cuộn mình trên cái giường mà tôi đã có lần kể cho nàng là Graham Greene có lẽ đã từng nằm trên đó. Hai tiếng đồng hồ sau, Việt Cộng rót một loại hoả tiễn từ những dàn phóng thủ công bằng tre qua sông Sài Gòn vào trong thành phố, giết hàng trăm người kể cả 19 phụ nữ và trẻ em đang trú ẩn trong một ngôi nhà thờ Công giáo. Chúng tôi ngồi suốt cả đêm còn lại trong phòng tắm. Đối với Gillian đây là bài học sơ đẳng về Chiến tranh Việt Nam: mặc dù đầy vẻ quyến rũ, Sài Gòn vẫn thật sự là một nơi rất nguy hiểm. Quan trọng hơn nữa, đây là một thông điệp không thể nhầm lẫn được từ bọn Cộng sản đối với phần còn lại của thế giới, đặc biệt cho những người mê sảng rằng hòa bình đã gần kề sau khi Hoa Kỳ ngưng ném bom và cũng trong cái ngày mà Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử nữa. Không cần phải là thành viên của hội Mensa Quốc tế để nắm bắt ý nghĩa của cuộc tấn công này: Với sự giúp đỡ của Cronkite và những tay truyền thông tương tự, một chiến thắng quân sự đã biến thành một sự thất bại về chính trị cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Hơn 100.000 lính cộng sản đã bỏ mạng trong kỳ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân nhưng Việt Cộng đã – theo quan điểm của họ – sử dụng một cách hiệu quả nhất phản ứng vô lý của Hoa Kỳ đối với cuộc tắm máu kinh hoàng này, cái phản ứng xác nhận cho niềm tin của Võ Nguyên Giáp là các chế độ dân chủ không được trang bị về mặt tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài. Bằng thái độ ngạo mạn, thách thức và tàn nhẫn của độc tài toàn trị, Cộng sản đã lấy lại thế chủ động bằng cách tàn sát và khủng bố thêm nhiều người dân thường nữa. Lần này thời gian nghỉ của chúng tôi ở Sài Gòn khá ngắn vì chúng tôi được cấp giấy nhập cảnh đến Campuchia, một điều hiếm khi xảy ra. Hoàng thân Norodom Sihanouk, Người đứng đầu chính phủ Campuchia khi nào cho phép các ký giả Tây âu được vào vương quốc ông mà phần cực Đông của nó bị Việt Cộng sử dụng như là một khu vực bàn đạp và tiếp cận cho cuộc chiến chống lại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên trước khi lên máy bay đi Phnom Penh, tôi đến thăm xã giao Wilhelm Kopf, Đại sứ Tây Đức tại Sài Gòn. Thật bất ngờ, Hasso Rüdt von Collenberg bước vào, xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc nói chuyện của chúng tôi. Khuôn mặt vị nam tước trẻ tuổi trong tái hơn bình thường. Nam tước thì thầm điều gì đó nghe giống như mật mã. Mặt của Kopf dài ra trông thấy. Theo linh tính, tôi mạo hiểm đoán: “Họ đã tìm ra thi thể của các bác sĩ Đức tại Huế rồi phải không?” Tôi nói. Với vẻ bối rối, Hasso von Collenberg nhìn tôi trả lời, “đúng vậy, nhưng chưa chính thức. Chúng tôi phải báo cho Bonn trước.” “Tôi hiểu. Cho tôi biết không chính thức vậy: Chuyện gì đã xảy ra?” “Người ta đã tìm thấy thi thể của giáo sư và bà Krainick, của bác sĩ Discher và bác sĩ Alteköster trong một một chôn tập thể khoảng 20 dặm về phía Tây của Huế. Họ đã bị bịt mắt và tay bị trói quặt ra sau bằng dây kém. Họ đã bị buộc phải quỳ gối trước khi bị bắn vào sau gáy rồi bị đầy xuống mương.” Khi ông đại sứ và tôi chăm chú nghe anh kể, chúng tôi không thể nào biết rằng lời diễn tả đó lại đúng là số phận của von Collenberg một vài tuần lễ sau, khi bọn Việt Cộng sát hại anh trên một con đường nhỏ trong Chợ lớn, khu phố tàu của Sài Gòn, không xa tòa đại sứ bao nhiêu. Viên ngoại giao trẻ kể cho chúng tôi là Viện trưởng Viện Đại học Huế đã nhận diện được thi hài của các đồng nghiệp người Đức và tình trạng của họ cho phép một kết luận sơ khởi quan trọng: họ phải còn sống ít nhất sáu tuần lễ sau khi bị bắt cóc. Với cơ cấu chỉ huy sắt máu của Hà Nội, cuộc hành quyết bốn người Tây Đức này không thể là một sự nhầm lẫn trong lúc cuộc chiến hỗn loạn được; Họ không phải là nạn nhân vô tình của chiến tranh. Bất chấp những lời cầu xin từ khắp nơi trên thế giới, Hà Nội đã không hề hành động điều gì để cứu những người vô tội này mặc dù họ có thừa thời gian để làm chuyện đó. Do đó, chúng ta có thể giả định rằng những vụ hành quyết như thế này và hàng ngàn người vô tội khác là có chủ đích và từ đó, được xếp hạng là những hành vi tội ác chiến tranh gây ra bởi một chế độ hay có sự đồng lõa của chế độ đó. Một năm sau, tại hội nghị Hòa Bình Paris, nơi cuối cùng đã dẫn tới sự triệt thoái của Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, tôi chạm trán với một phóng viên Giải Phóng, cơ quan thông tấn của Việt Cộng. Anh ta nói với tôi là anh có tường thuật về cuộc Công Kích Tết Mậu Thân tại Huế. So sánh các ghi chép với nhau, chúng tôi nhận thấy là có một lúc chúng tôi chỉ cách nhau không đầy 100 thước. Tôi rất muốn hỏi anh ta: Tại sao các anh lại tàn sát hàng ngàn phụ nữ và trẻ em? Tại sao họ lại giết hại các bạn người Đức của tôi mà ‘tội ác’ của họ chỉ là chữa trị cho người dân Việt Nam, bất kể chính kiến của họ?” Buồn thay tôi đã không làm điều đó. Thật là vô ích nếu hỏi anh ta những câu hỏi như vậy vì anh ta không bao giờ đi một mình. Luôn luôn có những tay công an quanh quẩn trong tầm tai nghe. Vả lại, trong những buổi tiếp tân tại các tiệm ăn sang trọng ở Paris, bọn Việt cộng đã cho các ký giả Tây âu nghe luận điệu vô lý của họ về những gì đã xảy ra tại Huế rồi. Họ nói đó là tội ác của CIA. Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không rõ nguồn gốc của sự láo khoét phi lý đó. Có phải đó là sản phẩm từ bộ óc ngu xuẩn của một số đảng viên cực đoan ở Hà Nội? Hay lại là phát minh của một bác sĩ Tây Đức khác, bác sĩ tâm thần Erich Wulff điên rồ? Hắn đã đóng một vai trò khó chịu trong thời gian dạy học tại Huế. Năm 1963 hắn đã xách động chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ, cũng như lén lút chuyển thuốc men và dụng cụ y khoa cho Việt Cộng. Sau này khi bị buộc phải rời xứ, hắn đã ra làm chứng trước tòa án quốc tế Bertrand Russel về tội phạm chiến tranh tại Việt Nam. Khi tôi gặp hắn vào năm 1965, hắn đã tố cáo ông hàng xóm của hắn, Horst-Günter Krainick, là đã nuôi dưỡng một sự kỳ thị chủng tộc đối với người Việt. Hắn còn bày tỏ sự phẫn nộ đối với người vợ của Krainick hằng ngày đi bơi tại câu lạc bộ thể thao và làm thân với người Mỹ. Bản thân tôi cũng như bất cứ những người quen nào của gia đình Krainick đều không thấy điều gì khác lạ ngoài tình thương tuyệt vời dành cho dân tộc mà họ đến để giúp đỡ. Năm 1968, Wulff viết dưới bút hiệu Georg W. Alsheimer một lập luận kinh tởm với tiêu đề Vietnamesische Wanderjahre – Những năm tháng chu du tại Việt Nam (Frankfurt: Suhrkamp 1968). Trong cuốn sách này, hắn cho là một nhân viên tình báo hạng nhất của CIA với tên Bob Kelly đã kể cho hắn nghe về chương trình khủng bố của CIA gọi là những chiến thuật đen. Theo Wulff chương trình này cho những thanh niên mặc quần áo như Việt Cộng đi sát hại người già, phụ nữ và trẻ em để kích động lòng thù hận đối với Cộng sản. Lời giải thích của Bắc Việt và Việt Cộng cho cuộc tàn sát tại Huế phù hợp với luận điệu của Wulff. Nói một cách công bằng cho hầu hết các phóng viên Tây Âu, họ thấy chuyện này không có sức thuyết phục. Trong khi đó, Erich Wulff đưa ra một lý luận điên khùng khác trong những buổi hội họp của cánh tả tại Tây Đức: hắn cho là bác sĩ Discher, bác ...
Chương 14 Tết Mậu Thân 1968: hỏa ngục Huế Đà Nẵng là một thành phố khốn cùng vào đầu tháng 2 năm 1968. Lạnh lẽo và mưa phùn chẳng khác nào như tôi vừa bay đến một vùng Bắc Âu. Các đường phố vắng tanh, ngoại trừ xe quân đội. Tôi đã ôm ấp hy vọng được qua đêm trên chiếc Helgoland tại Đà Nẵng để biết tình trạng chiếc tàu này ra sao trong vụ Tổng công kích Mậu Thân và được ăn thức ăn Đức bổ dưỡng mà tôi đang thèm. Từ lúc rời khỏi Vientiane tôi chưa hề có được một bữa ăn ra hồn nào. Tuy nhiên, viên thuyền trưởng đã khôn ngoan mang chiếc tàu ra vùng an toàn của hải phận quốc tế rồi. Vì vậy tôi đến trại báo chí MACV tuy thiếu hấp dẫn nhưng có một nhà ăn tạm được và có một quầy rượu rất đầy đủ. Tôi gọi một ly Dry Martini, ăn một miếng steak kèm một chai rượu vang, đi tắm nước nóng và cảm thấy sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu mà sau này hóa là không thể có những thứ xa xỉ này trong một thời gian nữa. Trời vẫn còn tối khi tôi gia nhập một đoàn xe Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ sáng sớm hôm sau. Tôi bận hai bộ đồ trận chồng lên nhau, chẳng bao lâu sau thì còn tròng thêm một cái thứ ba nữa và tôi hài lòng là chiếc áo giáp còn giúp tôi ấm thêm chút ít. Một số nhà báo từ trại báo chí đã can đảm dùng đường bộ đầy nguy hiểm để đến vùng phụ cận của cố đô Huế vẫn còn nằm trong tay của cộng quân. Vì đây là cơ hội tốt nhất để chúng tôi có thể sớm đến nơi đó. Màn mây rất thấp và tình hình an ninh chung quanh phi trường Phú Bài bất ổn đến nỗi chúng tôi có thể sẽ phải chờ đợi nhiều ngày để có được một cái vé đi máy bay quân sự. Trước khi được phép leo lên xe vận tải, mỗi người trong chúng tôi được phát một khẩu M.16. “Chúng tôi biết là điều này trái với thông lệ,” viên thượng sĩ giải thích, ý nói là hiệp định Geneva quy định rằng phóng viên chiến trường không được mang súng. “Nhưng,” ông ta nói thêm, “chúng ta sẽ phải đi qua những vùng hết sức nguy hiểm và có thể bị phục kích. Trong trường hợp đó quý vị phải tự bảo vệ lấy. Vậy quý vị có hai sự lựa chọn: mang theo súng hay ở lại phía sau.” Chúng tôi đến Phú Bài phía Nam Huế không hề hấn gì, ngoại trừ một cảnh tượng đã làm nổi dậy tính hài hước của tôi. Ngồi cạnh tôi đằng sau chiếc xe vận tải có một cặp phóng viên tạp chí Stern gồm một nhiếp ảnh gia và một ký giả. Người chụp hình là Hilmar Pabel, một trong những người nổi tiếng nhất trong nghề chụp ảnh của giới báo chí Đức, và là một cựu chiến binh lão luyện phi thường. Bức hình chụp tôi trên bìa của cuốn sách này chính là tác phẩm của anh. Hilmar đã chụp nó trong một lúc tạm lắng giao tranh trong khu phố Huế. Tay đồng nghiệp của anh là một chuyện khác. Hắn là một ký giả trẻ tuổi người Áo đặc trưng cho cái khuôn mẫu tả khuynh thổ tả đã từng nhiễm độc đời sống trí thức Tây Âu vào thời gian đó để đạt đến cực độ với cuộc nổi dậy của giới sinh viên trong đại nạn tháng 5 năm 1968 tại Paris, và nó đã lần lượt nhiễm độc toàn bộ lục địa và một phần lớn những gì còn lại của thế giới Tây Phương. Tên hắn là Peter Neuhauser. Bỏ qua ý thức hệ Mác xít thì hắn lại là một gã vạm vỡ dễ mến không khác gì những người lính Thủy Quân Lục Chiến mà chúng tôi đang tháp tùng đi chung. Vì vậy họ rất thích hắn mà không hề biết gì về quan điểm thân cộng của hắn cả. “Anh trông giống như bọn tôi lắm,” đám lính nói. “Chỉ cần cắt mái tóc thôi,” họ tiếp. Do đó khi chúng tôi đến tiền trạm của Sư đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đàng sau phi trường Phú Bài, họ lôi Peter vào một cái lều, cạo đầu hắn, dí một cây M.16 vào tay hắn và reo lên khoái chí: “Chào mừng anh tân trung sĩ của chúng ta!” Từ đó họ gọi hắn là “Gunny”, và dưới mắt bao nhiêu người, gã Peter thân Cộng này lại có vẻ thích thú với “cấp bậc” mới của mình vô cùng, mà ta có thể thấy rõ qua các bức hình Hilmar Pabel đã chụp cho hắn. Điều này đã chẳng giúp được gì cho sự nghiệp của hắn. Những tấm hình chụp Neuhauser trong tư thế tác chiến cùng với những tấm khác cụ thể hơn trong bộ sưu tập phim của Pabel rốt cuộc đã đến văn phòng chính của tạp chí Stern tại Hamburg vài ngày sau đó và đã gây phẫn nộ trong các đồng nghiệp của hắn. Không một ai thấy có gì đáng buồn cười cả. Hắn không bao giờ được phái đi công tác ở ngoại quốc nữa. Sáng hôm sau, khi Peter và tôi tháp tùng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến vật vã tác chiến từng tấc đất vào Huế, hắn có vẻ được giác ngộ, dù chỉ là trong khoảng khắc. Trên con lộ dẫn vào cố đồ của Việt Nam chúng tôi thấy cơ man xác chết của dân thường, riêng rẻ hay từng nhóm, toàn là phụ nữ, cụ già và trẻ em. Họ đều ăn mặc tươm tất nhân dịp đầu năm mới. Qua vị thế của các tử thi chúng tôi thấy có nhiều phụ nữ đã cố gắng dùng thân mình để che chở cho con, chống lại bọn sát nhân. “Bọn cộng sản bạn mày đã làm điều này, Peter!” Tôi mắng Peter một cách tàn nhẫn. Mặt hắn biến sắc trắng bệch. “Chắc chắn không phải đâu,” hắn trả lời, “những người này bị máy bay Mỹ giết.” “Không đâu,” Peter, “thương vong vì không tập chẳng như thế này,” tôi vặn lại, “trông những vết thương trên đầu và trên mình của họ kìa. Nhìn cách một số người phụ nữ đang giơ tay che mặt đi. Họ bị bắn ở cự li rất gần. Tin tôi đi, tôi đã thấy chuyện này rồi: đây là thành tích của những toán chuyện giết người. Những gì chúng ta đang thấy nơi đây là bằng chứng tội ác chiến tranh. Những người này đã bị thanh toán vì bất cứ lý do điên rồ nào đó mà bọn cộng sản phải thủ tiêu cả đàn bà, trẻ em và người già.” Peter Neuhauser giữ im lặng, nhưng tôi biết đã không thuyết phục được hắn. Chính hắn đã xác nhận với tôi khi chúng tôi gặp lại nhau vài tháng sau tại Hamburg. Neuhauser qua đời vài năm sau đó vì nguyên nhân tự nhiên, nhưng vẫn trong tâm trạng tả khuynh không sao cứu vãn được. Suốt vài chục năm sau, thỉnh thoảng tôi cảm thấy một nỗi buồn đau đớn là mặc dù đã chứng kiến hàng loạt người vô tội bị thảm sát trên con lộ đến Huế, vậy mà điều này vẫn không lay chuyển nổi tâm trí của một gã mà đáng lẽ ra là một con người dễ mến. Những ngày bên cạnh hắn đã dạy tôi một trong những bài học đáng sợ trong sự kiện Tết Mậu Thân là: chẳng có gì, ngay cả những bằng chứng không thể chối cãi nhất, có thể mong làm thay đổi tốt được những ý tưởng cố chấp về ý thức hệ. Phú Bài và Huế chỉ cách nhau khoảng 10 dặm nhưng chúng tôi mất gần một ngày trời để vào đến khu trại MACV gần bờ Đông Nam của dòng sông Hương có lẽ đã được đặt sai tên. Các cuộc đụng độ lẻ tẻ thiếu không trợ vì thời tiết không lưu xấu và nhu cầu phải dọn dẹp các xác chết trên đường đã khiến chúng tôi bị chậm trễ. Doanh trại nằm trong khu vực mới của thành phố, xây dựng theo lối Âu châu với những đại lộ rộng rãi và những căn biệt thự kiểu Pháp đầy tiện nghi, một cơ sở Cercle Sportif, tức Câu Lạc Bộ Thể Thao xinh xắn và một cư xá đại học với những tòa nhà chung cư theo phong cách thập niên 1950 cho nhân viên giảng huấn được xây dựng theo kiểu mẫu xấu xí đặc thù trong thời kỳ đó của các dự án và cư rẻ tiền đầy rẫy ở vùng ngoại ô phía bắc Paris. Vào thời điểm chúng tôi đến, quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã tạm ổn định phần nào khu vực này của thành phố, ít nhất là vào ban ngày. Trong khi đó thì Cổ Thành với vòng thành nội vi hoàng gia, còn gọi là “Purple City” bắt chước theo kiểu mẫu Tử Cấm Thành Bắc Kinh vẫn còn nằm chặt trong tay cộng quân. Doanh trại MACV gồm một khách sạn khi xưa với khu vực ăn uống ở tầng trệt, phòng ngủ của sĩ quan ở hai tầng trên và một ngôi nhà phụ với 20 căn phòng. Bên cạnh tòa nhà phụ là những cái gọi là “hootches” tức những căn lều tạm bợ, khu vực mở rộng cho lính tráng. Khu vực này chật cứng với tạp nham đủ loại người khác nhau: Quân nhân, ký giả, tình báo viên, nhân viên cứu trợ, nhân viên Việt Nam làm việc cho Mỹ và các viên chức chính quyền cùng gia đình tìm nơi trú ẩn tránh vùng giao tranh và tránh những toán ám sát của Cộng sản vẫn còn đang lùng sục để giết tại chỗ những người mà họ quy là phản động trong thành phố. “Xin lỗi quý vị, chúng tôi hết giường tạm rồi, không còn chăn nệm nữa. Quý vị phải tự tìm lấy chỗ nằm thoải mái trên nền xi măng này vậy,” viên trung sĩ quân nhu đón tiếp chúng tôi tại khu vực trước kia là nhà ăn nói. “Có khẩu phần C ở góc đằng kia và rất nhiều túi giấy đựng xác để quý vị giữ ấm. Lấy bao nhiêu cũng được. Tối nay sẽ lạnh lắm đấy.” Khu trại đóng cửa ban đêm. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Chúng tôi nghe tiếng giao tranh mãnh liệt phía bắc dòng sông nhưng thỉnh thoảng cũng có tiếng súng đụng độ ngay bên ngoài chu vi doanh trại. Tôi thu người vào khoảng trống chật hẹp giữa mấy gia đình người Việt, trải ba cái túi đựng xác xuống đất dùng thay nệm, phủ lên mình ba cái túi đựng xác khác đúng ra dùng để chuyển những binh sĩ tử trận, có những lỗ đánh dấu phía nào là đầu phía nào là chân. Tôi gối đầu lên cái ba lô. Những người bên cạnh tôi nói được tiếng Pháp. Họ thì thầm với tôi là trong ngày trước Tết các toán sát thủ cộng sản đã đến từng căn nhà với danh sách những người sẽ bị tội trước cái gọi là tòa án nhân dân và sau đó thì hạ sát họ tại chỗ, không cần xét xử. “Anh có nghĩ là những ông giáo sư người Đức có tên trong các danh sách đó không?” Tôi hỏi người đàn ông bên phải tôi. “Chắc chắn là có, giống như các linh mục người Pháp và những người ngoại quốc khác. Họ đều bị dẫn đi,” anh ấy trả lời tôi. Giữa đêm, hàng loạt tiếng súng liên thanh ngày trong khu vực gần chúng tôi nhất nổi lên tạch tạch tạch, tạch tạch tạch, … (5 lần). “Xử tử,” người đàn ông Việt Nam bên tay phải tôi nói. “Súng AK-47 Kalashnikov.” “Sao anh biết?” Tôi hỏi. “Bây giờ nghe tiếng súng này quen quá rồi. Vừa rồi không phải là đánh nhau. Đó là năm loạt súng từ một khẩu liên thanh có chủ đích rõ ràng.” “Có gần đây không?” Tôi hỏi tiếp. “Không xa hơn 100 thước đâu.” 40 năm sau, tôi kết bạn với anh Tôn Thất Di tại miền Nam California, anh có họ hàng xa với hoàng tộc. Chúng tôi thảo luận về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và khám phá ra là cha anh, hai người chú và hai người anh em họ khác có thể là nạn nhân của vụ thảm sát đêm hôm đó. Cha của anh Di tên là Tôn Thất Nguyên đã từng là thị trưởng thành phố Đà Lạt và sau đó làm công chức Bộ Xã hội tại Sài Gòn mà trụ sở tôi rất quen thuộc vì nằm sát cạnh tiệm cà phê La Pagode trên đường Tự Do. Tháng Giêng 1968, Tôn Thất Nguyên bay đến Huế để ăn tết với các anh em và các cháu tại biệt thự của họ. Di và tôi đã nghiên cứu tấm bản đồ Huế. “Đây là vị trí căn nhà họ,” anh nói, chỉ vào một điểm cách khu nhà ăn của trại MACV không xa hơn 100 thước. “Chúng tôi chỉ tìm thấy lại xác của một ông chú. Do đó chúng tôi không thể làm đám tang cho ông cụ được.” Tôi không bao giờ biết được rằng tôi thực sự là nhân chứng nói lên cái chết của họ hay đó là một vụ thảm sát khác, tuy nhiên khoảnh khắc đó nằm mãi trong trí nhớ của tôi, chủ yếu bởi vì nó được tiếp nối bằng một kinh nghiệm siêu thực khác đã từng xảy ra quá nhiều với tôi tại Việt Nam: một con gì đó thật to, nóng ấm, kêu quàng quạc chui vào dưới ba chiếc túi đựng xác của tôi. Hóa ra đó là một con ngỗng trắng với cái mỏ màu vàng và lông xám hai bên cánh. Tôi lúc nào cũng thích ngỗng nhất là khi chúng được quay và dọn với bắp cải đỏ vào dịp Giáng Sinh. Nhưng tôi chưa hề có được một con ngỗng nào chui rúc vào mình như vậy cả, mà con này có vẻ hoảng hốt cùng cực. Cùng với hàng đoàn người tị nạn Việt Nam con chim khiếp sợ này đã trốn vào khu trại Mỹ từ lúc đầu cuộc Tổng công kích Tết và chạy lạch bạch chung quanh khu đất từ đó, thỉnh thoảng kiểm tra những chỗ ngủ. Lính Mỹ đặt tên cho nó là Garfield. Như một con ngỗng canh gác, Garfield hằng đêm ra một điểm quan sát luôn luôn tại một chỗ cố định để dòm chừng ra ngoài đường. Nhưng khi nó nghe thấy tiếng súng nổ ngay ngoài cổng, nó đã hoảng hốt tìm chỗ rúc ngay bên cạnh tôi. Tôi đuổi nó ra khỏi khu vực ngủ, cho nó về chỗ canh gác lại. Lúc bình minh, nhóm phóng viên chúng tôi được phép rời khỏi doanh trại với điều kiện phải mang theo súng M.16 để tự vệ. Peter Neuhauser, Hilmar Pabel và tôi nhận mỗi người một khẩu, nhưng theo đề nghị của tôi, chúng tôi đã cãi lệnh và giao lại súng cho lính canh ngoài cổng. Trên đường đến khu chung cư của các giáo sư người Đức đã bị bắt cóc, tôi lý luận: thử hỏi nếu chúng ta chạm trán với một toán tuần tiễu Việt Cộng thì sao? Chúng ta sẽ bị chết ngay. Nếu không mang súng, ít nhất chúng ta còn vin cớ không phải là chiến binh, mặc dù chẳng biết có nghĩa lý gì với họ hay không. Vừa run rẩy trong cơn mưa phùn lạnh lẽo, chúng tôi vừa đi bộ về hướng Tây đường Lê Lợi. Cái đại lộ từng là một con đường lịch sự bây giờ vắng ngắt và trong hết sức tiều tụy. Những căn biệt thự lỗ chỗ vết đạn, cây cối đổ nát hay bị gãy cành hết sống nổi. Khi chúng tôi đến gần Câu Lạc Bộ Thể Thao, nơi mà thỉnh thoảng tôi vẫn ăn tối với các giáo sư Đức và cũng là nơi mà bà Elisabeth Krainick thường đến bơi, tôi mơ màng hy vọng là một người hầu bàn trung thành sẽ có mặt để pha cà phê cho chúng tôi, nhưng đó chỉ là một ý tưởng điên rồ. Không còn một ai nữa, không có ai ngoài trừ lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vượt qua mặt chúng tôi trên xe jeep và thiết vận xa. Trong một lúc, bầu trời mây che phủ sáng ra và chúng tôi nhìn qua phía bên kia sông Hương. Chúng tôi thấy lá cờ Việt Cộng màu đỏ xanh với một ngôi sao vàng ở giữa đang bay trên pháo đài và nghe cả tiếng giao tranh ác liệt nữa. Khu chung cư gia đình Krainick đang ở nhìn qua kinh Phú Cam. Một chiếc xe tăng Mỹ cũng đậu ở mạng Bắc của khu vực này. Đùng! Chiếc xe tăng nã một phát đạn đại bác qua bên kia con kinh. Đùng đoàng! Cả căn chung cư rung chuyển khi chúng tôi đang leo lên chỗ ở của gia đình Krainick trên lầu bốn. Có cả một trung đội Thủy Quân Lục Chiến đang đóng tại chỗ đó và căn phòng trông hoang tàn khủng khiếp. Quần áo, sách vở, tài liệu khoa học và giấy tờ riêng tư bị ném bừa bãi khắp nơi. Tôi hết sức bực mình khi thấy Peter Neuhauser lục lọi đống giấy tờ và lén bỏ vào túi một số hình ảnh của gia đình Krainick. “Mày không mắc cỡ hả?” tôi hỏi anh ta. “Phải làm vậy thôi nếu anh làm việc cho một tạp chí hình ảnh,” hắn lạnh lùng trả lời tôi và bỏ đi. Tay trung đội trưởng là một thiếu úy 23 tuổi dáng dấp chắc nịch quê tại New Mexico. Nhìn thoáng qua, tôi biết ngay hắn là một kẻ ngốc và ăn nói cũng đúng như vậy. Anh ta dương oai diệu võ trong một chiếc áo thun trắng, Chẳng chịu mặc áo giáp hay đội nón sắt gì cả. Đùng! Chiếc xe tăng bắn thêm một phát nữa. “Xe tăng bắn vào cái gì vậy?” Tôi hỏi anh ta. Viên thiếu úy dắt tôi đến một cánh cửa kính mở trông ra ban công và chỉ vào một căn biệt thự xây theo lối Tây bên kia con kinh: “Bọn Việt cộng bắn tỉa,” anh ta nói. “Tụi nó đang bắn về phía chúng ta.” “Thế tại sao anh lại đứng đây với cái áo thun trắng, để làm mục tiêu tuyệt vời cho tụi nó sao?” “Thưa ông, tôi là Thủy Quân Lục Chiến, được huấn luyện để chiến đấu và để chết.” “Có phải là dân đóng thuế bên Mỹ tốn cả nửa triệu bạc để đào tạo một sỹ quan chuyên nghiệp không?” Tôi thách thức anh ta. “Mặc dù anh không thiết mạng sống của anh, bộ anh thật sự nghĩ là anh có quyền đặt cái vốn đầu tư đó một cách cẩu thả như vậy hay sao? Và rồi tạo cơ hội để lính tráng mất người chỉ huy?” Anh ta nhìn tôi chẳng hiểu gì cả. Khi tôi bước ra khỏi cửa chính đi xuống cầu thang thì tôi nghe thấy một tiếng thét hãi hùng như chưa từng nghe thấy bao giờ. Tiếng hét không mang giọng người. Tôi quay lại. Viên thiếu úy loạng choạng tiến về phía tôi tay ôm ngực bên trái máu phun ra có vòi. Anh lảo đảo ngã xuống, lăn nhào xuống cầu thang và chết tức tưởi. Bọn bắn tỉa đã lấy mạng sống của anh. Tôi đi ngang qua bệnh viện trường đại học mà giáo sư Horst Günter Krainick, bác sĩ Raimund Discher và bác sĩ Alois Alteköster từng làm việc. 75 % cơ sở đã bị phá hủy trong cuộc xung đột. Nhìn thấy quân phục tôi, hầu hết những thường dân Việt Nam tránh ánh mắt tôi. Họ quá sợ bị trông thấy đang kết thân với một “người Mỹ”, mặc dù bản tên trên nón sắt của tôi xác định tôi là một phóng viên người Đức, Tây Đức giống như các bác sĩ đã lập nên trường Đại học Y khoa. Rõ ràng là họ ngại rằng bọn cộng sản có thể trở lại và trả thù những người mà họ thấy đã hợp tác với kẻ thù – những người như tôi. Một người đàn ông lớn tuổi lặng lẽ kéo tôi sang một bên để kể lại những câu chuyện kinh hoàng của những phiên tòa khôi hài được gọi là tòa án nhân dân. Nó được bọn Bắc Việt dựng lên để xét xử các cư dân thuộc tầng lớp quý tộc cũ, thành phần tư sản, các công chức Việt Nam Cộng Hòa, những người ngoại quốc, người công giáo Tòa Thánh La Mã, các linh mục, nói chung tất cả những ai bị nghi ngờ không đồng lòng với cách mạng. “Họ không bị bắt một cách tình cờ đâu, thưa ông,” ông ta nhấn mạnh, “tên tuổi của những người đó nằm trong danh sách mà bọn cán bộ Cộng sản mang theo. Tại những phiên tòa như vậy, họ không có cơ hội để bào chữa. Họ bị tuyên án, mang đi và bị bắn bỏ.” “Có bao nhiêu người?” “Làm sao biết được? Hàng trăm, hàng ngàn?” Cho đến ngày hôm nay vẫn không có con số chính xác bao nhiêu nạn nhân. Những con số ước đoán vào khoảng từ 2500 đến 6000 người. Phần tệ hại nhất của cuộc tấn công này là khi giao tranh lan đến khu điều trị tâm thần, ông già tiếp tục câu chuyện. Ông không cho tôi biết tên tuổi hay chức nghiệp nhưng trông ông có vẻ là một người có học qua trường Tây. Các bệnh nhân trở nên điên cuồng, họ chạy khắp nơi, đánh lẫn nhau trong cơn hoảng loạn. Ông không thể nào tưởng tượng được nó ra sao. Nhiều người bị mất mạng vì họ không thể chạy khỏi lằn đạn hai bên bắn nhau. Thật giống như một cảnh tượng trong vở kịch Hỏa Ngục của Dante.” “Lúc đó ông đang ở đâu?” “Tôi trốn trong đám bệnh nhân, thưa ông, và làm bộ cũng là bệnh nhân vậy tuy thật sự không phải, và điều này đã cứu sống tôi.” Ông khuyên tôi nên đi qua thính đường chính của trường đại học lúc đó đang chật cứng hàng trăm người vô gia cư, tất cả vẫn ăn mặc chỉnh tề, còn đang ở trong các trạng thái bàng hoàng với những nét mặt không còn cảm xúc gì nữa. Nhiều người bị thương và có rất ít, nếu có, các y tá và bác sĩ để chăm sóc họ. Không có nước máy, không có điện và không có cả phương tiện vệ sinh. “Hãy qua bên kia trường Quốc Học nữa,” ông già nói với tôi và đây là một lời khuyên đúng. Ngôi trường trung học tuyệt đẹp nằm trên mạng nam của dòng sông Hương này là một trong những cơ sở tráng lệ nhất trong cả nước. Được thành lập bởi Ngô Đình Khả, phụ thân của tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1896 như là một viện giáo dục quốc gia ưu tú để dạy dỗ cho các hoàng tử và con cái các đại thần có được một nền giáo dục tổng hợp Pháp và Viễn Đông. Danh sách học sinh giống như danh sách “Who’s Who” (danh nhân) của nền chính trị Việt Nam, miền Bắc cũng như miền Nam. Ngô Đình Diệm đã từng học tại đó, Hồ Chí Minh cũng vậy dưới cái tên cúng cơm Nguyễn Sinh Cung, đồng thời có cả tướng Võ Nguyên Giáp cũng như Phạm Văn Đồng, con của một vị quan nhất phẩm triều đình. Khi tôi đến khuôn viên trường, nó lại giống như một khu trại tị nạn nữa. Có ai đó nói với tôi là có khoảng 8000 người tạm trú trong cái cơ sở đẹp đẽ đó, nhiều người run rẩy trong cơn gió lạnh chờ được phát thức ăn và nước uống. Mặc dù tôi không thể kiểm tra được con số đó nhưng thực tế rất là nhiều. Trên đường quay về khu trại MACV tôi phát hiện ra hàng chữ vẽ nguệch ngoạc trên tường của một căn biệt thự lớn. Hàng chữ viết “Cắt đầu Mỹ”. Khi tôi nhìn kỹ hơn thì thấy chữ Mỹ chỉ mới thay chữ Pháp không lâu. Có lẽ tôi hơi nóng vội tiết lộ trước chương sau nhưng thông tin này phù hợp với chuyện vài tuần lễ sau, khi tôi đi thăm trở lại Huế thì khẩu hiệu này được đổi thành “Cắt đầu Cộng Sản”! Điều này cho tôi biết là sự ghê tởm đối với hành vi của Việt Cộng đã làm thay đổi niềm ghét bỏ người ngoại quốc của dân Huế nếu có, cũng như đã thay đổi tư tưởng bài ngoại khá mạnh mẽ tại đây. Tư tưởng bài ngoại khiến người Mỹ cho đến Tết 1968 đã phải giữ một thái độ thật âm thầm trong thành phố này. Hai mươi lăm ngày đêm chiến sự tại Huế, bắn giết, đập đầu đến chết và chôn sống hàng ngàn người dân, đưa đến 116.000 người mất nhà cửa trong một dân số vỏn vẹn 140.000 đã mang lại kết quả thất bại nặng nề nhất đối với cộng sản: nếu có lúc nào Cộng sản được lòng dân chúng Huế thì nay chúng đã mất hết rồi. Tôi đi nhanh về trại MACV để điện thoại tường thuật câu chuyện cho bạn đồng sự với tôi là Friedhelm Kemna ở Sài Gòn, cũng như để báo tin cho nam tước von Collenberg tại tòa đại sứ tin tức cập nhật về các vị bác sĩ Đ...

More from HoangVanLam

VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Lời Bạt Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng”. Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tàu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại màu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế taxi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chiếc tàu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Góp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tàu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng Sản bên Đông và Dân Chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ? Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị tổng thống Ronald Reagan và George H.W. Bush, của thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ xô viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác cũng vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa sai lầm trong khối Xô viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy. Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của Phương Tây đã diễn tả sự kiện cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc giải phóng, từ đó đã đưa đến câu nói đáng khinh rẻ, có thể là vô tình của vị giáo sư trường Harvard John Kenneth Galbraith, ngạo mạng chúc cho miền Nam Việt Nam “hãy trở về niềm thinh không mà nó đáng được hiện diện.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được giải phóng khỏi sự áp đặt một nhà nước độc tài toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và nó buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối? Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ 1 triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của nhóm học giả quốc tế do bác sĩ tâm thần Richard F. Monila của đại học Harvard dẫn đầu? Ai là kẻ giải phóng? Có ai mất công tìm hiểu tiểu sử, lịch sử và những câu nói của nhân vật đã khởi xướng cuộc chiến xâm lăng này? Một trong những biệt danh mà đám trẻ ngưỡng mộ hò reo trong hầu hết các trường đại học Tây Phương là Hồ-Hồ-Hồ-Chí-Minh… Nhưng đó không phải là tên thật của hắn. Ngày nay chúng ta biết đó chỉ là một trong 170 (!) biệt danh mà Hồ Chí Minh đã tự phong cho mình với tư cách là một nhân viên cấp cao của tổ chức Comintern hay Quốc tế Cộng sản từ những năm của thập niên 1920. Điều này chẳng có gì là bí mật lúc tôi đến Việt Nam vào năm 1965. Ai cũng có thể thấy điều đó trong những cuốn sách giáo khoa gối đầu giường của hầu hết các phóng viên. Những ai muốn tìm hiểu đều có thể tìm ra dễ dàng từ những nguồn thông tin trung thực, đáng tin cậy, mơ ước đích thật của Hồ Chí Minh là gì. Hắn đã tự nhủ rằng mong ước duy nhất là giúp mang lại chiến thắng của Chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít trên toàn cầu. Nếu nền độc lập của Việt Nam từ tay người Pháp là mục tiêu chính thì Hồ Chí Minh đã không sốt sắng phản bội và thanh trừng tất cả các chiến sĩ tự do không nằm trong quỹ đạo của phe Liên Xô, bao gồm những người quốc gia, những người theo hoàng gia và nhóm Trotskyist. Khi tôi đang sống tại Sài Gòn, tất cả mọi người đều biết chắc chắn là Hồ chịu trách nhiệm trong việc thảm sát ít nhất là 200.000 địa chủ trong vụ cải cách ruộng đất theo lối Stalin tại Bắc Việt từ 1953 đến 1956. Nhiều nguồn tin còn cho rằng đã có 500.000 người bị giết. Hằng hà sa số người khác thì thà tự tử còn hơn bị tra tấn đến chết. Theo kinh nghiệm của Stalin và Mao Trạch Đông, lý do chính của Hồ Chí Minh trong các cuộc thảm sát này chẳng phải là để phân chia của cải gì cả mà nhằm vô hiệu hóa tất cả các mối hiểm họa của những “tầng lớp thù nghịch.” Một điều đáng ghi nhớ khi chúng ta gần đến kỷ niệm 40 năm ngày Sài Gòn thất thủ là đã có một âm mưu chính trị lạnh người trong lịch sử, là việc Quốc Hội Hoa Kỳ đã bán đứng Nam Việt Nam bằng cách bỏ phiếu chấm dứt mọi viện trợ quân sự phụ trội cho quốc gia đang dãy chết này, tức chấp nhận quan điểm của giáo sư Galbraith và các đầu óc trí thức tương tự, rằng “chúng ta đã giả định một kẻ thù không hề có thật.” Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của Phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân”. Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive quy định thì chiến tranh nhân dân phải được hiểu là cuộc chiến tranh của nhân dân. Thực tế không phải như vậy. Đã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam bị giết chết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường đại học Hawaii. Ngũ Giác Đài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không phải là một cuộc chiến tranh của nhân dân và chính là chiến tranh chống nhân dân. Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường xuyên trong vòng 40 năm qua, câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là vắng mặt không phép, câu hỏi đó là: dân Việt Nam có mong muốn một chế độ cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần 1.000.000 người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954 trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại? Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái của họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối xô viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không. Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối của người Mỹ là “I have no dog in this fight” (Tôi chẳng có con chó nào trong vụ đánh lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp còn mãi mê giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các goá phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặng méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau cùng với những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay chôn sống trong những ngôi mộ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa. Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xảy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927). Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp thuộc loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách nêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lại có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung Úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời McNamara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội. Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị vô kỷ luật Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: Tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết chết các bác sĩ người Đức ở Huế? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện thuộc hội Hiệp Sĩ Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự vấn lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki? Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt những người lính đó và cô viết là chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chặn họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự hận thù chỉ có thể có được do dạy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên lực lượng tàn độc đó gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kìm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế đang ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả. Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân lê dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên để tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xảy ra như sau: Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa đại tá!” Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi cùng sự hỗ trợ mà các ông đã nhận được từ người dân qua các phương tiện khủng bố.” Võ Nguyên giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến lâu dài. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành cột trụ trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này. Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khỏe về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xảy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam Hoa Kỳ. Tác động của sự khiếm khuyết này đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này một cách rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do. Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Kitô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản trắc. Hiển nhiên tôi không biện minh cho việc tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tinh là cuối cùng họ sẽ tìm ra phương cách ôn hòa và những thủ lĩnh chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ phải xảy ra. Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng? ./. Link: https://phanba.wordpress.com/vinh-quang-cua-phi-ly/ --- Chương trước: - VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Chương 15: https://www.minds.com/newsfeed/1020609488594735104?referrer=HoangVanLam - VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Chương 1: https://www.minds.com/newsfeed/1020600957691256832?referrer=HoangVanLam ===0=== TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
46 views ·
VINH QUANG CỦA SỰ PHI LÝ – Chương 15 Cuộc chia tay dài lâu với niềm phi lý Trong những tuần lễ sau Tết Mậu Thân tôi bắt đầu nhận thức được rằng kịch trường của sự phi lý không còn là một đề tài để vui đùa nữa, ngay cả đối với các quan sát viên có đầu óc châm biếm nhất. Tất nhiên là anh chàng Eberhard Budelwitz, cái thước đo cho sự phi lý chưa hề sai bao giờ của tôi, đã cảm nhận điều này từ lâu rồi. Bằng một hành động kỳ quái trước khi bị triệu hồi về lại Đức để đi cai rượu, và từ đó bổ nhiệm qua thủ đô của một quốc gia Á châu khác, anh đã biểu lộ nhận thức này không phải bằng cách múa lưỡi trước khi trình bày ý kiến như trong quá khứ nữa. Anh không đặt những câu hỏi ngớ ngẩn tại các “buổi họp điên rồ vào lúc 5 giờ” chẳng hạn như các thắc mắc về tàu ngầm cho các nhà sư Phật giáo như là một phương tiện để ngăn ngừa lính Thủy Quân Lục Chiến đái bậy vào chùa. Không, lần này Budelwitz đã thể hiện quan điểm của mình bằng hành động tuyệt vọng trong một cơn điên cuồng say xỉn. Chuyện xảy ra trong khách sạn Continental chỉ vài ngày trước khi tôi đi về Hồng Kông, nếu tôi nhớ không lầm. Văn phòng tạp chí Time-Life tổ chức một buổi tiệc chia tay náo nhiệt cho phóng viên James Wilde, một tay mặt đỏ gay, nóng tính, người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã được lên bảng phong thần của những cách ngôn về Chiến Tranh Việt Nam bằng một câu nhận xét lạnh người: “Tử khí đã quyện vào da thịt tôi, phải mất hàng năm trời mới gột sạch nổi.” Jim Được chuyến đi Canada và chúng tôi chọc phá anh bằng những câu hỏi về nhiệm sở mới của anh. “Làm sao anh có thể giữ huyết áp ở mức cao được trong những ngày chủ nhật khô khan ở Ottawa?” Có người hỏi anh ta như vậy. Rồi đột nhiên anh ta biến đâu mất. Sau một vài chầu rượu chúng tôi bắt đầu lo lắng nên tổ chức đi tìm anh, dĩ nhiên là bắt đầu trong phòng ngủ. Cửa phòng khép hờ. Ghé mắt vào trong, chúng tôi thấy một bãi chiến trường. Tủ quần áo mở toang và đồ đạc vương vãi khắp nơi. Một trong những cánh cửa sổ lớn kiểu Pháp đã bị giật ra khỏi khung và bị đập vỡ trên sàn. Có những dấu chân đẫm máu khắp chỗ dẫn đến cửa sổ. James Wilde đang nằm run rẩy trên giường với tấm chăn trùm kín tận đầu. “ Đi đi, đi đi!” Anh ta khóc. “Jim, chúng tôi đây mà, bạn của anh đây! Chuyện gì xảy ra vậy?” Chúng tôi nói. “Ồ, các bạn đó hả? Cảm ơn Chúa!” Anh nói, “Tôi mới vào phòng tắm lên giường nằm nghỉ ngơi một chút rồi ngủ thiếp đi. Cửa phòng mở ra và cái thằng Đức cởi truồng bước vào làm tôi sợ vãi cả đái…” “Thằng Đức trần truồng nào, Jim?” tôi hỏi, “Tao đứng ngay đây mà, và tao có mặc quần áo đàng hoàng mà.” “Không, đồ ngu, tao có nói mày đâu! Tao nói cái thằng Đức cứ hay hỏi những câu say khướt về tàu ngầm cho sư Phật giáo và những chuyện khác tại follies. Tóm lại, hắn đi thẳng vào tủ quần áo của tao, lôi tất cả đồ ra, mặc cái áo khoác vào, đến gỡ cửa sổ ra đập xuống đất, dẫm một cách khùng điên lên những mảnh kính vỡ rồi đâm đầu nhảy ra ngoài cửa sổ. Thật là kinh quá, kinh khủng quá!” “Hắn bây giờ đâu rồi?” William Touhy của tờ Los Angeles Times hỏi. “Tôi không biết, có lẽ nó chết trên vỉa hè rồi. Tôi nghe một tiếng bụp.” Chúng tôi ra ngoài cửa sổ nhìn xuống cái tán lớn che thêm bóng mát cho khách của mái hiên Continental bên dưới. Nằm trên cái tán đó là đồng nghiệp Eberhard Budelwitz của chúng tôi đang ngủ say, trên người chỉ bận cái áo khoác của Jim Wilde. Tay và chân của anh ta dính đầy máu nhưng ngoài ra thì anh không sao cả. Chúng tôi khiêng anh vào trong nhà, mặc cho anh đồ lót của Jim và mang vào phòng anh mà vẫn không làm anh thức dậy. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Budelwitz. Tôi vẫn luôn trân trọng anh vì những câu hỏi sắc bén dù có phần kỳ quặc và đặc biệt là cho thành tích cuối cùng của anh tại Sài Gòn mà suy nghĩ cho cùng không làm cho chúng tôi ngạc nhiên chút nào. Sự thôi thúc ném mình ra khỏi cửa sổ như là một dấu chấm than đằng sau sự nghiệp ký giả của anh tại Việt Nam đã gây được tiếng vang lớn đối với một số đồng nghiệp của anh. Không phải bất cứ ai trong chúng tôi cũng mang ý tưởng tự vẫn trong đầu. Trường hợp tôi chắc chắn là không rồi, còn tôi không tin là Budelwitz cũng nghĩ như vậy. Cho dù trong tình trạng say xỉn anh cũng đủ thông minh để biết một cú nhảy qua cửa sổ xuống cái tán không thể gây chết người được. Nhưng bằng một cách lập dị riêng, anh đã nói lên một điều mạnh mẽ: những gì chúng tôi vừa trải qua trong dịp Tết Mậu Thân là mức độ lố bịch nhất của kịch trường cho sự phi lý. Biến cố này đã thuyết phục tôi là câu định lý La tinh “in vino veritas” (Sự thật nằm trong chén rượu) có thể áp dụng cho các ly rượu pha “screwdriver”, ít nhất là trong trường hợp của Budelwitz. Sáu tuần trong nhà ở Hồng Kông sau kỳ thử thách Tết Mậu Thân không giúp gì mấy cho lòng mong muốn của tôi được tỉnh táo trở lại. Hai diễn biến chính trị song song với nhau đã khiến cho một số phóng viên đóng tại Hồng Kông tự nhủ ai thực sự đang bị hoảng loạn đây: chúng tôi hay là thế giới mà chúng tôi có nhiệm vụ phải tường thuật? Trong xứ cộng sản Trung Quốc bên cạnh, cuộc Cách Mạng Văn Hóa vô sản vĩ đại đã đạt đến cực điểm. Chúng tôi nhận được các báo cáo rằng sông Châu Giang bị tắc nghẽn bởi xác các cán bộ Cộng sản bị các vệ binh cách mạng còn trẻ măng đập đầu chết. Một số được tìm thấy trong vùng biển Hồng Kông với tay bị trói quặc ra sau lưng bằng dây kẽm và túi thì nhét Hồng Bảo Thư của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, với một khía cạnh địa chính trị, các tin tức về một sự chia rẽ Liên Xô Trung Cộng và sự kiện Bắc Kinh đã từ chối không cho vũ khí Liên Xô cung cấp cho Bắc Việt được vận chuyển bằng xe lửa xuyên qua lãnh thổ Trung Quốc lại càng quan trọng hơn nữa. Điều này đáng lẽ phải được tiếp nhận như là tin tốt đối với Hoa Kỳ nhưng hầu như không được chú trọng trong giới truyền thông Mỹ. Tiếp sau đó lại còn một mẩu tin động trời hơn nữa. Gillian và tôi đi dự một buổi tiệc nhỏ tại tư gia của tay trưởng trạm một cơ quan tình báo Tây Âu. Khách danh dự là một đại tá Hoa Kỳ thông thạo sáu thổ ngữ Trung Hoa và có bằng tiến sĩ về Hán học. Chúng tôi biết anh là sỹ quan tình báo quân đội Mỹ phụ trách phân tích các chương trình phát sóng trong phạm vi tỉnh và thông tin liên lạc nội bộ trong Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Chỗ làm việc của anh, cái trạm nghe lén khổng lồ của Mỹ chỉ cách chỗ ở của chúng tôi vài phút đồng hồ. “Nói cho tôi biết đi, thưa quý vị, anh đột nhiên hỏi hai ký giả có mặt, quý vị thỉnh thoảng có thấy khó khăn như tôi khi muốn gây sự chú ý của các sếp biên tập viên khi nắm trong tay một số tin tức sốt dẻo hay không?” “Tôi thì chẳng bao giờ!” Tôi trả lời. “Tôi không,” anh đồng nghiệp Mỹ nói, “nhưng tại sao anh lại hỏi?” “Bạn thấy đấy, hiếm khi những gì tôi gửi về Washington đến được tay tổng thống trong bất cứ hình thức thích hợp nào, bất kể tin tức đó có thể quan trọng hay không.” “Chẳng hạn như?” Tôi hỏi. “Ví dụ như tôi đã báo với cấp trên rằng có bằng chứng càng lúc càng nhiều là một cuộc xung đột vũ trang sẽ nổ ra giữa người Hoa và người Nga. Mấy đứa nào đó ở Ngũ Giác Đài làm nhẹ nó đi trước khi chuyển đến tay sếp tình báo quân đội. Hắn làm loãng thêm trước khi bộ trưởng quốc phòng Mc Namara Nhận được tin đó. Mc Namara lại ‘tưới nước’ nó thêm trước khi đưa qua Bạch Cung.” “Như vậy thì Lyndon Johnson còn đọc được cái gì?” Anh đồng nghiệp Mỹ hỏi. “Một dòng chữ vô nghĩa nói rằng theo trạm Hồng Kông, người Nga và người Hoa không hài lòng với nhau hay đại loại một cái gì vớ vẩn như vậy.” “Tại sao anh lại nói cho chúng tôi biết chuyện này?” Tôi muốn biết thêm. “Bởi vì tôi tin rằng tổng thống Hoa Kỳ cần phải được chuẩn bị cho các cuộc đụng độ quân sự giữa hai cường quốc cộng sản thế giới đó. Ông ta sẽ biết khi đọc câu chuyện này trên báo chí. Quý vị viết về sự kiện đó đi nhưng làm ơn viết nhằm loan báo chung và đừng tiết lộ nguồn.” Đêm hôm đó chúng tôi báo cáo mẩu tin này và sáng hôm sau cả thế giới, chắc kể cả LBJ đều biết cuộc xung đột Trung Cộng – Liên Xô thật sự nghiêm trọng như thế nào. Tình trạng nguy hiểm này còn phải mất một thời gian nữa để đạt đến cực điểm. Nhưng một năm sau cuộc trò chuyện trong bữa ăn tối đó của chúng tôi, các lực lượng Trung Cộng và Liên Xô quả nhiên có đụng độ nhau ở sông Ussuri. Lái xe về từ buổi tiệc của các tay gián điệp, tôi làm vui Gillian với mẩu chuyện Eberhard Budelwitz tự phóng mình qua cửa sổ như một màn trình diễn tối hậu của kịch trường của sự phi lý. Nàng cười ngặt nghẽo. “Em hiểu ý anh rồi,” nàng nói, “những gì chúng ta vừa nghe là một màn nữa thuộc kịch trường của sự phi lý.” “Đúng vậy, kịch trường của sự phi lý ở mức độ cao nhất.” “Thật đáng sợ,” nàng nói, “đủ để muốn ném mình ra khỏi cửa sổ.” “Làm ơn theo nghĩa bóng thôi nhé!” Sau đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 1968 tin lớn bùng nổ: phát ngôn viên bản tin buổi chiều của đài truyền hình CBS, Walter Cronkite, trở về nhà sau một chuyến đi thăm chớp nhoáng Việt Nam sau cuộc công kích Tết Mậu Thân đã tuyên bố một cách ồn ào trước một cử tọa khoảng 20 triệu khán thính giả là không thể thắng cuộc chiến Việt Nam được. Điều này chối bỏ tất cả những gì các phóng viên chiến trường, bao gồm cả Peter Breastrup và tôi đã trải qua trong ngày Tết. Chúng tôi đã biết những gì mà bây giờ các sử gia đang tuyên bố: người Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa và các đồng minh đã đánh bại cộng sản về mặt quân sự. Tuy nhiên ý kiến của Walter Cronkite đã chối bỏ thực tế, chuyển một chiến thắng quân sự thành một thất bại về chính trị. “Tôi mất Cronkite, tức đã mất thành phần trung lưu người Mỹ rồi,” Lyndon B. Johnson nói, và một tháng sau ông tuyên bố tạm ngưng ném bom Bắc Việt, cũng như quyết định sẽ không tái tranh cử nữa. Với điều này, kịch trường của sự phi lý đã đạt đến cực độ. Chuyện xảy ra là cùng ngày Johnson ra bản tuyên bố, tức ngày 31 tháng 3 năm 1968, Gillian và tôi đang cùng đi Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nàng đến Việt Nam. Hầu hết các phóng viên chiến trường giữ gia đình của họ tại Hồng Kông, Singapore, Bangkok, không chỉ vì sự an ninh của họ mà còn vì một lý do nghe ra rất nghề nghiệp nữa: ký giả chiến trường phải có khả năng ra ngoài mặt trận với tính cách ứng chiến đột xuất mà không cần phải bàn cãi lâu lắc vào đêm hôm trước với các bà vợ trong bữa ăn tối. Gillian chưa bao giờ tin vào lập luận này một cách thái quá và lại càng không tin nữa khi chúng tôi đáp xuống Sài Gòn. Trên chuyến bay của hãng Cathay Pacific tôi đã cảnh cáo nàng là nhân viên di trú Việt Nam Cộng Hòa có thể rất khó chịu như thế nào. Nhưng khi nàng trình thông hành Anh Quốc ra thì khuôn mặt của viên chức đó lại sáng lên. “Ồ, thưa bà Siemon-Netto, xin chào mừng bà đến đất nước chúng tôi!” Anh ta nói bằng tiếng Pháp, “dĩ nhiên là tôi quen với ông nhà rồi nhưng bây giờ thật là một vinh dự được biết bà.” “Thật là một người dễ mến,” Gillian nói, vừa nguýt tôi. “Anh đã bay đến đây cả vạn lần rồi mà hắn có bao giờ nói một tiếng chào hỏi gì anh đâu,” tôi làu nhàu. “Hãy cứ đợi đến lúc gặp nhân viên quan thuế đi. Họ sẽ gây khó khăn cho em ngay mà.” Rốt cuộc thì anh ta không gây khó khăn nào cho nàng cả mà ngược lại còn tiếp đón Gillian cũng nồng nhiệt y như anh nhân viên nhập cảnh vậy. Anh ta còn không buồn ngó vào hành lý của chúng tôi mà vẫy tay cho đi. Gillian lại còn ngó tôi một cách buồn cười nữa. “Thường thì mấy người này khám xét từng cái quần lót của anh,” tôi lầm bầm. “Nhưng hãy đợi đến khi chúng mình phải vật lộn để có xe về khách sạn Continental. Xe taxi không được phép lấy thẳng vào ga hàng không nữa.” Ngay lúc đó thì có một anh chàng trẻ tuổi, có lẽ là một trung uý Không Quân làm thêm công việc tài xế ngoài giờ, mời đưa chúng tôi về khách sạn trên chiếc Buick có gắn máy lạnh của anh. Đến lúc này thì Gillian nhìn tôi chằm chằm với biểu hiện đã mất niềm tin ở tôi một cách sâu xa. Ông Lợi, quản gia chính của khách sạn Continental đón tiếp chúng tôi với một nụ cười rạng rỡ và đích thân đưa chúng tôi đến căn suite 214, trong đó có sẵn hai mươi lăm bông hồng đỏ chờ đón Gillian với sự ưu ái của chủ nhân. Những bông hồng tuyệt đẹp này đã làm tăng thêm sự nghi ngờ của Gillian. “Tại sao anh lại giữ không cho em đến nơi chốn tuyệt vời này lâu quá vậy?” Nàng yêu cầu muốn biết. Buổi tối hôm đó tại quán Royal, me-sừ Ottavi trải thảm đỏ ra: atisô, súp hành, pa tê gan ngỗng, và vịt nấu cam kèm theo một chai Château Cheval-Blanc loại rượu vang đỏ ngon nhất từ vùng Saint Émillion. Món bánh soufflé tẩm rượu Grand-Marnier lừng danh của Ottavi tiếp theo. chung với một chai sâm banh Dom Perignon. Tay chủ quán này giấu đâu những kho báu này hàng mấy năm trời nay vậy? Trên đường trở về Continental, Gillian nhận xét một cách thẳng thừng: “Thì ra anh mang các cô tình nhân của anh ra đây!” “Nhìn này, em yêu, em có thể nghỉ thế cách nào cũng được, nhưng có một điều hết sức quan trọng em phải nghe anh,” tôi nói khi chúng tôi bước vào phòng. Tôi chỉ tay vào các căn cửa sổ kính kiểu Pháp mà tôi đã dán băng keo trong một lần ở trước đó nhằm phòng ngừa miểng kính vỡ trong trường hợp bị Việt Cộng pháo kích. “Khi nào tối nay em nghe thấy tiếng lụp bụp,” tôi tiếp tục, “em phải theo anh ngay lập tức vào phòng tắm và ở đó cho đến khi cuộc tấn công chấm dứt. Phòng tắm là chỗ an toàn nhất trong căn suite này vì không có cửa sổ và nhờ đó tránh được miếng kính vỡ một cách tốt nhất.” Không màng trả lời tôi, Gillian cuộn mình trên cái giường mà tôi đã có lần kể cho nàng là Graham Greene có lẽ đã từng nằm trên đó. Hai tiếng đồng hồ sau, Việt Cộng rót một loại hoả tiễn từ những dàn phóng thủ công bằng tre qua sông Sài Gòn vào trong thành phố, giết hàng trăm người kể cả 19 phụ nữ và trẻ em đang trú ẩn trong một ngôi nhà thờ Công giáo. Chúng tôi ngồi suốt cả đêm còn lại trong phòng tắm. Đối với Gillian đây là bài học sơ đẳng về Chiến tranh Việt Nam: mặc dù đầy vẻ quyến rũ, Sài Gòn vẫn thật sự là một nơi rất nguy hiểm. Quan trọng hơn nữa, đây là một thông điệp không thể nhầm lẫn được từ bọn Cộng sản đối với phần còn lại của thế giới, đặc biệt cho những người mê sảng rằng hòa bình đã gần kề sau khi Hoa Kỳ ngưng ném bom và cũng trong cái ngày mà Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử nữa. Không cần phải là thành viên của hội Mensa Quốc tế để nắm bắt ý nghĩa của cuộc tấn công này: Với sự giúp đỡ của Cronkite và những tay truyền thông tương tự, một chiến thắng quân sự đã biến thành một sự thất bại về chính trị cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Hơn 100.000 lính cộng sản đã bỏ mạng trong kỳ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân nhưng Việt Cộng đã – theo quan điểm của họ – sử dụng một cách hiệu quả nhất phản ứng vô lý của Hoa Kỳ đối với cuộc tắm máu kinh hoàng này, cái phản ứng xác nhận cho niềm tin của Võ Nguyên Giáp là các chế độ dân chủ không được trang bị về mặt tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài. Bằng thái độ ngạo mạn, thách thức và tàn nhẫn của độc tài toàn trị, Cộng sản đã lấy lại thế chủ động bằng cách tàn sát và khủng bố thêm nhiều người dân thường nữa. Lần này thời gian nghỉ của chúng tôi ở Sài Gòn khá ngắn vì chúng tôi được cấp giấy nhập cảnh đến Campuchia, một điều hiếm khi xảy ra. Hoàng thân Norodom Sihanouk, Người đứng đầu chính phủ Campuchia khi nào cho phép các ký giả Tây âu được vào vương quốc ông mà phần cực Đông của nó bị Việt Cộng sử dụng như là một khu vực bàn đạp và tiếp cận cho cuộc chiến chống lại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên trước khi lên máy bay đi Phnom Penh, tôi đến thăm xã giao Wilhelm Kopf, Đại sứ Tây Đức tại Sài Gòn. Thật bất ngờ, Hasso Rüdt von Collenberg bước vào, xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc nói chuyện của chúng tôi. Khuôn mặt vị nam tước trẻ tuổi trong tái hơn bình thường. Nam tước thì thầm điều gì đó nghe giống như mật mã. Mặt của Kopf dài ra trông thấy. Theo linh tính, tôi mạo hiểm đoán: “Họ đã tìm ra thi thể của các bác sĩ Đức tại Huế rồi phải không?” Tôi nói. Với vẻ bối rối, Hasso von Collenberg nhìn tôi trả lời, “đúng vậy, nhưng chưa chính thức. Chúng tôi phải báo cho Bonn trước.” “Tôi hiểu. Cho tôi biết không chính thức vậy: Chuyện gì đã xảy ra?” “Người ta đã tìm thấy thi thể của giáo sư và bà Krainick, của bác sĩ Discher và bác sĩ Alteköster trong một một chôn tập thể khoảng 20 dặm về phía Tây của Huế. Họ đã bị bịt mắt và tay bị trói quặt ra sau bằng dây kém. Họ đã bị buộc phải quỳ gối trước khi bị bắn vào sau gáy rồi bị đầy xuống mương.” Khi ông đại sứ và tôi chăm chú nghe anh kể, chúng tôi không thể nào biết rằng lời diễn tả đó lại đúng là số phận của von Collenberg một vài tuần lễ sau, khi bọn Việt Cộng sát hại anh trên một con đường nhỏ trong Chợ lớn, khu phố tàu của Sài Gòn, không xa tòa đại sứ bao nhiêu. Viên ngoại giao trẻ kể cho chúng tôi là Viện trưởng Viện Đại học Huế đã nhận diện được thi hài của các đồng nghiệp người Đức và tình trạng của họ cho phép một kết luận sơ khởi quan trọng: họ phải còn sống ít nhất sáu tuần lễ sau khi bị bắt cóc. Với cơ cấu chỉ huy sắt máu của Hà Nội, cuộc hành quyết bốn người Tây Đức này không thể là một sự nhầm lẫn trong lúc cuộc chiến hỗn loạn được; Họ không phải là nạn nhân vô tình của chiến tranh. Bất chấp những lời cầu xin từ khắp nơi trên thế giới, Hà Nội đã không hề hành động điều gì để cứu những người vô tội này mặc dù họ có thừa thời gian để làm chuyện đó. Do đó, chúng ta có thể giả định rằng những vụ hành quyết như thế này và hàng ngàn người vô tội khác là có chủ đích và từ đó, được xếp hạng là những hành vi tội ác chiến tranh gây ra bởi một chế độ hay có sự đồng lõa của chế độ đó. Một năm sau, tại hội nghị Hòa Bình Paris, nơi cuối cùng đã dẫn tới sự triệt thoái của Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, tôi chạm trán với một phóng viên Giải Phóng, cơ quan thông tấn của Việt Cộng. Anh ta nói với tôi là anh có tường thuật về cuộc Công Kích Tết Mậu Thân tại Huế. So sánh các ghi chép với nhau, chúng tôi nhận thấy là có một lúc chúng tôi chỉ cách nhau không đầy 100 thước. Tôi rất muốn hỏi anh ta: Tại sao các anh lại tàn sát hàng ngàn phụ nữ và trẻ em? Tại sao họ lại giết hại các bạn người Đức của tôi mà ‘tội ác’ của họ chỉ là chữa trị cho người dân Việt Nam, bất kể chính kiến của họ?” Buồn thay tôi đã không làm điều đó. Thật là vô ích nếu hỏi anh ta những câu hỏi như vậy vì anh ta không bao giờ đi một mình. Luôn luôn có những tay công an quanh quẩn trong tầm tai nghe. Vả lại, trong những buổi tiếp tân tại các tiệm ăn sang trọng ở Paris, bọn Việt cộng đã cho các ký giả Tây âu nghe luận điệu vô lý của họ về những gì đã xảy ra tại Huế rồi. Họ nói đó là tội ác của CIA. Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không rõ nguồn gốc của sự láo khoét phi lý đó. Có phải đó là sản phẩm từ bộ óc ngu xuẩn của một số đảng viên cực đoan ở Hà Nội? Hay lại là phát minh của một bác sĩ Tây Đức khác, bác sĩ tâm thần Erich Wulff điên rồ? Hắn đã đóng một vai trò khó chịu trong thời gian dạy học tại Huế. Năm 1963 hắn đã xách động chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ, cũng như lén lút chuyển thuốc men và dụng cụ y khoa cho Việt Cộng. Sau này khi bị buộc phải rời xứ, hắn đã ra làm chứng trước tòa án quốc tế Bertrand Russel về tội phạm chiến tranh tại Việt Nam. Khi tôi gặp hắn vào năm 1965, hắn đã tố cáo ông hàng xóm của hắn, Horst-Günter Krainick, là đã nuôi dưỡng một sự kỳ thị chủng tộc đối với người Việt. Hắn còn bày tỏ sự phẫn nộ đối với người vợ của Krainick hằng ngày đi bơi tại câu lạc bộ thể thao và làm thân với người Mỹ. Bản thân tôi cũng như bất cứ những người quen nào của gia đình Krainick đều không thấy điều gì khác lạ ngoài tình thương tuyệt vời dành cho dân tộc mà họ đến để giúp đỡ. Năm 1968, Wulff viết dưới bút hiệu Georg W. Alsheimer một lập luận kinh tởm với tiêu đề Vietnamesische Wanderjahre – Những năm tháng chu du tại Việt Nam (Frankfurt: Suhrkamp 1968). Trong cuốn sách này, hắn cho là một nhân viên tình báo hạng nhất của CIA với tên Bob Kelly đã kể cho hắn nghe về chương trình khủng bố của CIA gọi là những chiến thuật đen. Theo Wulff chương trình này cho những thanh niên mặc quần áo như Việt Cộng đi sát hại người già, phụ nữ và trẻ em để kích động lòng thù hận đối với Cộng sản. Lời giải thích của Bắc Việt và Việt Cộng cho cuộc tàn sát tại Huế phù hợp với luận điệu của Wulff. Nói một cách công bằng cho hầu hết các phóng viên Tây Âu, họ thấy chuyện này không có sức thuyết phục. Trong khi đó, Erich Wulff đưa ra một lý luận điên khùng khác trong những buổi hội họp của cánh tả tại Tây Đức: hắn cho là bác sĩ Discher, bác ...
Chương 14 Tết Mậu Thân 1968: hỏa ngục Huế Đà Nẵng là một thành phố khốn cùng vào đầu tháng 2 năm 1968. Lạnh lẽo và mưa phùn chẳng khác nào như tôi vừa bay đến một vùng Bắc Âu. Các đường phố vắng tanh, ngoại trừ xe quân đội. Tôi đã ôm ấp hy vọng được qua đêm trên chiếc Helgoland tại Đà Nẵng để biết tình trạng chiếc tàu này ra sao trong vụ Tổng công kích Mậu Thân và được ăn thức ăn Đức bổ dưỡng mà tôi đang thèm. Từ lúc rời khỏi Vientiane tôi chưa hề có được một bữa ăn ra hồn nào. Tuy nhiên, viên thuyền trưởng đã khôn ngoan mang chiếc tàu ra vùng an toàn của hải phận quốc tế rồi. Vì vậy tôi đến trại báo chí MACV tuy thiếu hấp dẫn nhưng có một nhà ăn tạm được và có một quầy rượu rất đầy đủ. Tôi gọi một ly Dry Martini, ăn một miếng steak kèm một chai rượu vang, đi tắm nước nóng và cảm thấy sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu mà sau này hóa là không thể có những thứ xa xỉ này trong một thời gian nữa. Trời vẫn còn tối khi tôi gia nhập một đoàn xe Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ sáng sớm hôm sau. Tôi bận hai bộ đồ trận chồng lên nhau, chẳng bao lâu sau thì còn tròng thêm một cái thứ ba nữa và tôi hài lòng là chiếc áo giáp còn giúp tôi ấm thêm chút ít. Một số nhà báo từ trại báo chí đã can đảm dùng đường bộ đầy nguy hiểm để đến vùng phụ cận của cố đô Huế vẫn còn nằm trong tay của cộng quân. Vì đây là cơ hội tốt nhất để chúng tôi có thể sớm đến nơi đó. Màn mây rất thấp và tình hình an ninh chung quanh phi trường Phú Bài bất ổn đến nỗi chúng tôi có thể sẽ phải chờ đợi nhiều ngày để có được một cái vé đi máy bay quân sự. Trước khi được phép leo lên xe vận tải, mỗi người trong chúng tôi được phát một khẩu M.16. “Chúng tôi biết là điều này trái với thông lệ,” viên thượng sĩ giải thích, ý nói là hiệp định Geneva quy định rằng phóng viên chiến trường không được mang súng. “Nhưng,” ông ta nói thêm, “chúng ta sẽ phải đi qua những vùng hết sức nguy hiểm và có thể bị phục kích. Trong trường hợp đó quý vị phải tự bảo vệ lấy. Vậy quý vị có hai sự lựa chọn: mang theo súng hay ở lại phía sau.” Chúng tôi đến Phú Bài phía Nam Huế không hề hấn gì, ngoại trừ một cảnh tượng đã làm nổi dậy tính hài hước của tôi. Ngồi cạnh tôi đằng sau chiếc xe vận tải có một cặp phóng viên tạp chí Stern gồm một nhiếp ảnh gia và một ký giả. Người chụp hình là Hilmar Pabel, một trong những người nổi tiếng nhất trong nghề chụp ảnh của giới báo chí Đức, và là một cựu chiến binh lão luyện phi thường. Bức hình chụp tôi trên bìa của cuốn sách này chính là tác phẩm của anh. Hilmar đã chụp nó trong một lúc tạm lắng giao tranh trong khu phố Huế. Tay đồng nghiệp của anh là một chuyện khác. Hắn là một ký giả trẻ tuổi người Áo đặc trưng cho cái khuôn mẫu tả khuynh thổ tả đã từng nhiễm độc đời sống trí thức Tây Âu vào thời gian đó để đạt đến cực độ với cuộc nổi dậy của giới sinh viên trong đại nạn tháng 5 năm 1968 tại Paris, và nó đã lần lượt nhiễm độc toàn bộ lục địa và một phần lớn những gì còn lại của thế giới Tây Phương. Tên hắn là Peter Neuhauser. Bỏ qua ý thức hệ Mác xít thì hắn lại là một gã vạm vỡ dễ mến không khác gì những người lính Thủy Quân Lục Chiến mà chúng tôi đang tháp tùng đi chung. Vì vậy họ rất thích hắn mà không hề biết gì về quan điểm thân cộng của hắn cả. “Anh trông giống như bọn tôi lắm,” đám lính nói. “Chỉ cần cắt mái tóc thôi,” họ tiếp. Do đó khi chúng tôi đến tiền trạm của Sư đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đàng sau phi trường Phú Bài, họ lôi Peter vào một cái lều, cạo đầu hắn, dí một cây M.16 vào tay hắn và reo lên khoái chí: “Chào mừng anh tân trung sĩ của chúng ta!” Từ đó họ gọi hắn là “Gunny”, và dưới mắt bao nhiêu người, gã Peter thân Cộng này lại có vẻ thích thú với “cấp bậc” mới của mình vô cùng, mà ta có thể thấy rõ qua các bức hình Hilmar Pabel đã chụp cho hắn. Điều này đã chẳng giúp được gì cho sự nghiệp của hắn. Những tấm hình chụp Neuhauser trong tư thế tác chiến cùng với những tấm khác cụ thể hơn trong bộ sưu tập phim của Pabel rốt cuộc đã đến văn phòng chính của tạp chí Stern tại Hamburg vài ngày sau đó và đã gây phẫn nộ trong các đồng nghiệp của hắn. Không một ai thấy có gì đáng buồn cười cả. Hắn không bao giờ được phái đi công tác ở ngoại quốc nữa. Sáng hôm sau, khi Peter và tôi tháp tùng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến vật vã tác chiến từng tấc đất vào Huế, hắn có vẻ được giác ngộ, dù chỉ là trong khoảng khắc. Trên con lộ dẫn vào cố đồ của Việt Nam chúng tôi thấy cơ man xác chết của dân thường, riêng rẻ hay từng nhóm, toàn là phụ nữ, cụ già và trẻ em. Họ đều ăn mặc tươm tất nhân dịp đầu năm mới. Qua vị thế của các tử thi chúng tôi thấy có nhiều phụ nữ đã cố gắng dùng thân mình để che chở cho con, chống lại bọn sát nhân. “Bọn cộng sản bạn mày đã làm điều này, Peter!” Tôi mắng Peter một cách tàn nhẫn. Mặt hắn biến sắc trắng bệch. “Chắc chắn không phải đâu,” hắn trả lời, “những người này bị máy bay Mỹ giết.” “Không đâu,” Peter, “thương vong vì không tập chẳng như thế này,” tôi vặn lại, “trông những vết thương trên đầu và trên mình của họ kìa. Nhìn cách một số người phụ nữ đang giơ tay che mặt đi. Họ bị bắn ở cự li rất gần. Tin tôi đi, tôi đã thấy chuyện này rồi: đây là thành tích của những toán chuyện giết người. Những gì chúng ta đang thấy nơi đây là bằng chứng tội ác chiến tranh. Những người này đã bị thanh toán vì bất cứ lý do điên rồ nào đó mà bọn cộng sản phải thủ tiêu cả đàn bà, trẻ em và người già.” Peter Neuhauser giữ im lặng, nhưng tôi biết đã không thuyết phục được hắn. Chính hắn đã xác nhận với tôi khi chúng tôi gặp lại nhau vài tháng sau tại Hamburg. Neuhauser qua đời vài năm sau đó vì nguyên nhân tự nhiên, nhưng vẫn trong tâm trạng tả khuynh không sao cứu vãn được. Suốt vài chục năm sau, thỉnh thoảng tôi cảm thấy một nỗi buồn đau đớn là mặc dù đã chứng kiến hàng loạt người vô tội bị thảm sát trên con lộ đến Huế, vậy mà điều này vẫn không lay chuyển nổi tâm trí của một gã mà đáng lẽ ra là một con người dễ mến. Những ngày bên cạnh hắn đã dạy tôi một trong những bài học đáng sợ trong sự kiện Tết Mậu Thân là: chẳng có gì, ngay cả những bằng chứng không thể chối cãi nhất, có thể mong làm thay đổi tốt được những ý tưởng cố chấp về ý thức hệ. Phú Bài và Huế chỉ cách nhau khoảng 10 dặm nhưng chúng tôi mất gần một ngày trời để vào đến khu trại MACV gần bờ Đông Nam của dòng sông Hương có lẽ đã được đặt sai tên. Các cuộc đụng độ lẻ tẻ thiếu không trợ vì thời tiết không lưu xấu và nhu cầu phải dọn dẹp các xác chết trên đường đã khiến chúng tôi bị chậm trễ. Doanh trại nằm trong khu vực mới của thành phố, xây dựng theo lối Âu châu với những đại lộ rộng rãi và những căn biệt thự kiểu Pháp đầy tiện nghi, một cơ sở Cercle Sportif, tức Câu Lạc Bộ Thể Thao xinh xắn và một cư xá đại học với những tòa nhà chung cư theo phong cách thập niên 1950 cho nhân viên giảng huấn được xây dựng theo kiểu mẫu xấu xí đặc thù trong thời kỳ đó của các dự án và cư rẻ tiền đầy rẫy ở vùng ngoại ô phía bắc Paris. Vào thời điểm chúng tôi đến, quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã tạm ổn định phần nào khu vực này của thành phố, ít nhất là vào ban ngày. Trong khi đó thì Cổ Thành với vòng thành nội vi hoàng gia, còn gọi là “Purple City” bắt chước theo kiểu mẫu Tử Cấm Thành Bắc Kinh vẫn còn nằm chặt trong tay cộng quân. Doanh trại MACV gồm một khách sạn khi xưa với khu vực ăn uống ở tầng trệt, phòng ngủ của sĩ quan ở hai tầng trên và một ngôi nhà phụ với 20 căn phòng. Bên cạnh tòa nhà phụ là những cái gọi là “hootches” tức những căn lều tạm bợ, khu vực mở rộng cho lính tráng. Khu vực này chật cứng với tạp nham đủ loại người khác nhau: Quân nhân, ký giả, tình báo viên, nhân viên cứu trợ, nhân viên Việt Nam làm việc cho Mỹ và các viên chức chính quyền cùng gia đình tìm nơi trú ẩn tránh vùng giao tranh và tránh những toán ám sát của Cộng sản vẫn còn đang lùng sục để giết tại chỗ những người mà họ quy là phản động trong thành phố. “Xin lỗi quý vị, chúng tôi hết giường tạm rồi, không còn chăn nệm nữa. Quý vị phải tự tìm lấy chỗ nằm thoải mái trên nền xi măng này vậy,” viên trung sĩ quân nhu đón tiếp chúng tôi tại khu vực trước kia là nhà ăn nói. “Có khẩu phần C ở góc đằng kia và rất nhiều túi giấy đựng xác để quý vị giữ ấm. Lấy bao nhiêu cũng được. Tối nay sẽ lạnh lắm đấy.” Khu trại đóng cửa ban đêm. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Chúng tôi nghe tiếng giao tranh mãnh liệt phía bắc dòng sông nhưng thỉnh thoảng cũng có tiếng súng đụng độ ngay bên ngoài chu vi doanh trại. Tôi thu người vào khoảng trống chật hẹp giữa mấy gia đình người Việt, trải ba cái túi đựng xác xuống đất dùng thay nệm, phủ lên mình ba cái túi đựng xác khác đúng ra dùng để chuyển những binh sĩ tử trận, có những lỗ đánh dấu phía nào là đầu phía nào là chân. Tôi gối đầu lên cái ba lô. Những người bên cạnh tôi nói được tiếng Pháp. Họ thì thầm với tôi là trong ngày trước Tết các toán sát thủ cộng sản đã đến từng căn nhà với danh sách những người sẽ bị tội trước cái gọi là tòa án nhân dân và sau đó thì hạ sát họ tại chỗ, không cần xét xử. “Anh có nghĩ là những ông giáo sư người Đức có tên trong các danh sách đó không?” Tôi hỏi người đàn ông bên phải tôi. “Chắc chắn là có, giống như các linh mục người Pháp và những người ngoại quốc khác. Họ đều bị dẫn đi,” anh ấy trả lời tôi. Giữa đêm, hàng loạt tiếng súng liên thanh ngày trong khu vực gần chúng tôi nhất nổi lên tạch tạch tạch, tạch tạch tạch, … (5 lần). “Xử tử,” người đàn ông Việt Nam bên tay phải tôi nói. “Súng AK-47 Kalashnikov.” “Sao anh biết?” Tôi hỏi. “Bây giờ nghe tiếng súng này quen quá rồi. Vừa rồi không phải là đánh nhau. Đó là năm loạt súng từ một khẩu liên thanh có chủ đích rõ ràng.” “Có gần đây không?” Tôi hỏi tiếp. “Không xa hơn 100 thước đâu.” 40 năm sau, tôi kết bạn với anh Tôn Thất Di tại miền Nam California, anh có họ hàng xa với hoàng tộc. Chúng tôi thảo luận về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và khám phá ra là cha anh, hai người chú và hai người anh em họ khác có thể là nạn nhân của vụ thảm sát đêm hôm đó. Cha của anh Di tên là Tôn Thất Nguyên đã từng là thị trưởng thành phố Đà Lạt và sau đó làm công chức Bộ Xã hội tại Sài Gòn mà trụ sở tôi rất quen thuộc vì nằm sát cạnh tiệm cà phê La Pagode trên đường Tự Do. Tháng Giêng 1968, Tôn Thất Nguyên bay đến Huế để ăn tết với các anh em và các cháu tại biệt thự của họ. Di và tôi đã nghiên cứu tấm bản đồ Huế. “Đây là vị trí căn nhà họ,” anh nói, chỉ vào một điểm cách khu nhà ăn của trại MACV không xa hơn 100 thước. “Chúng tôi chỉ tìm thấy lại xác của một ông chú. Do đó chúng tôi không thể làm đám tang cho ông cụ được.” Tôi không bao giờ biết được rằng tôi thực sự là nhân chứng nói lên cái chết của họ hay đó là một vụ thảm sát khác, tuy nhiên khoảnh khắc đó nằm mãi trong trí nhớ của tôi, chủ yếu bởi vì nó được tiếp nối bằng một kinh nghiệm siêu thực khác đã từng xảy ra quá nhiều với tôi tại Việt Nam: một con gì đó thật to, nóng ấm, kêu quàng quạc chui vào dưới ba chiếc túi đựng xác của tôi. Hóa ra đó là một con ngỗng trắng với cái mỏ màu vàng và lông xám hai bên cánh. Tôi lúc nào cũng thích ngỗng nhất là khi chúng được quay và dọn với bắp cải đỏ vào dịp Giáng Sinh. Nhưng tôi chưa hề có được một con ngỗng nào chui rúc vào mình như vậy cả, mà con này có vẻ hoảng hốt cùng cực. Cùng với hàng đoàn người tị nạn Việt Nam con chim khiếp sợ này đã trốn vào khu trại Mỹ từ lúc đầu cuộc Tổng công kích Tết và chạy lạch bạch chung quanh khu đất từ đó, thỉnh thoảng kiểm tra những chỗ ngủ. Lính Mỹ đặt tên cho nó là Garfield. Như một con ngỗng canh gác, Garfield hằng đêm ra một điểm quan sát luôn luôn tại một chỗ cố định để dòm chừng ra ngoài đường. Nhưng khi nó nghe thấy tiếng súng nổ ngay ngoài cổng, nó đã hoảng hốt tìm chỗ rúc ngay bên cạnh tôi. Tôi đuổi nó ra khỏi khu vực ngủ, cho nó về chỗ canh gác lại. Lúc bình minh, nhóm phóng viên chúng tôi được phép rời khỏi doanh trại với điều kiện phải mang theo súng M.16 để tự vệ. Peter Neuhauser, Hilmar Pabel và tôi nhận mỗi người một khẩu, nhưng theo đề nghị của tôi, chúng tôi đã cãi lệnh và giao lại súng cho lính canh ngoài cổng. Trên đường đến khu chung cư của các giáo sư người Đức đã bị bắt cóc, tôi lý luận: thử hỏi nếu chúng ta chạm trán với một toán tuần tiễu Việt Cộng thì sao? Chúng ta sẽ bị chết ngay. Nếu không mang súng, ít nhất chúng ta còn vin cớ không phải là chiến binh, mặc dù chẳng biết có nghĩa lý gì với họ hay không. Vừa run rẩy trong cơn mưa phùn lạnh lẽo, chúng tôi vừa đi bộ về hướng Tây đường Lê Lợi. Cái đại lộ từng là một con đường lịch sự bây giờ vắng ngắt và trong hết sức tiều tụy. Những căn biệt thự lỗ chỗ vết đạn, cây cối đổ nát hay bị gãy cành hết sống nổi. Khi chúng tôi đến gần Câu Lạc Bộ Thể Thao, nơi mà thỉnh thoảng tôi vẫn ăn tối với các giáo sư Đức và cũng là nơi mà bà Elisabeth Krainick thường đến bơi, tôi mơ màng hy vọng là một người hầu bàn trung thành sẽ có mặt để pha cà phê cho chúng tôi, nhưng đó chỉ là một ý tưởng điên rồ. Không còn một ai nữa, không có ai ngoài trừ lính Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vượt qua mặt chúng tôi trên xe jeep và thiết vận xa. Trong một lúc, bầu trời mây che phủ sáng ra và chúng tôi nhìn qua phía bên kia sông Hương. Chúng tôi thấy lá cờ Việt Cộng màu đỏ xanh với một ngôi sao vàng ở giữa đang bay trên pháo đài và nghe cả tiếng giao tranh ác liệt nữa. Khu chung cư gia đình Krainick đang ở nhìn qua kinh Phú Cam. Một chiếc xe tăng Mỹ cũng đậu ở mạng Bắc của khu vực này. Đùng! Chiếc xe tăng nã một phát đạn đại bác qua bên kia con kinh. Đùng đoàng! Cả căn chung cư rung chuyển khi chúng tôi đang leo lên chỗ ở của gia đình Krainick trên lầu bốn. Có cả một trung đội Thủy Quân Lục Chiến đang đóng tại chỗ đó và căn phòng trông hoang tàn khủng khiếp. Quần áo, sách vở, tài liệu khoa học và giấy tờ riêng tư bị ném bừa bãi khắp nơi. Tôi hết sức bực mình khi thấy Peter Neuhauser lục lọi đống giấy tờ và lén bỏ vào túi một số hình ảnh của gia đình Krainick. “Mày không mắc cỡ hả?” tôi hỏi anh ta. “Phải làm vậy thôi nếu anh làm việc cho một tạp chí hình ảnh,” hắn lạnh lùng trả lời tôi và bỏ đi. Tay trung đội trưởng là một thiếu úy 23 tuổi dáng dấp chắc nịch quê tại New Mexico. Nhìn thoáng qua, tôi biết ngay hắn là một kẻ ngốc và ăn nói cũng đúng như vậy. Anh ta dương oai diệu võ trong một chiếc áo thun trắng, Chẳng chịu mặc áo giáp hay đội nón sắt gì cả. Đùng! Chiếc xe tăng bắn thêm một phát nữa. “Xe tăng bắn vào cái gì vậy?” Tôi hỏi anh ta. Viên thiếu úy dắt tôi đến một cánh cửa kính mở trông ra ban công và chỉ vào một căn biệt thự xây theo lối Tây bên kia con kinh: “Bọn Việt cộng bắn tỉa,” anh ta nói. “Tụi nó đang bắn về phía chúng ta.” “Thế tại sao anh lại đứng đây với cái áo thun trắng, để làm mục tiêu tuyệt vời cho tụi nó sao?” “Thưa ông, tôi là Thủy Quân Lục Chiến, được huấn luyện để chiến đấu và để chết.” “Có phải là dân đóng thuế bên Mỹ tốn cả nửa triệu bạc để đào tạo một sỹ quan chuyên nghiệp không?” Tôi thách thức anh ta. “Mặc dù anh không thiết mạng sống của anh, bộ anh thật sự nghĩ là anh có quyền đặt cái vốn đầu tư đó một cách cẩu thả như vậy hay sao? Và rồi tạo cơ hội để lính tráng mất người chỉ huy?” Anh ta nhìn tôi chẳng hiểu gì cả. Khi tôi bước ra khỏi cửa chính đi xuống cầu thang thì tôi nghe thấy một tiếng thét hãi hùng như chưa từng nghe thấy bao giờ. Tiếng hét không mang giọng người. Tôi quay lại. Viên thiếu úy loạng choạng tiến về phía tôi tay ôm ngực bên trái máu phun ra có vòi. Anh lảo đảo ngã xuống, lăn nhào xuống cầu thang và chết tức tưởi. Bọn bắn tỉa đã lấy mạng sống của anh. Tôi đi ngang qua bệnh viện trường đại học mà giáo sư Horst Günter Krainick, bác sĩ Raimund Discher và bác sĩ Alois Alteköster từng làm việc. 75 % cơ sở đã bị phá hủy trong cuộc xung đột. Nhìn thấy quân phục tôi, hầu hết những thường dân Việt Nam tránh ánh mắt tôi. Họ quá sợ bị trông thấy đang kết thân với một “người Mỹ”, mặc dù bản tên trên nón sắt của tôi xác định tôi là một phóng viên người Đức, Tây Đức giống như các bác sĩ đã lập nên trường Đại học Y khoa. Rõ ràng là họ ngại rằng bọn cộng sản có thể trở lại và trả thù những người mà họ thấy đã hợp tác với kẻ thù – những người như tôi. Một người đàn ông lớn tuổi lặng lẽ kéo tôi sang một bên để kể lại những câu chuyện kinh hoàng của những phiên tòa khôi hài được gọi là tòa án nhân dân. Nó được bọn Bắc Việt dựng lên để xét xử các cư dân thuộc tầng lớp quý tộc cũ, thành phần tư sản, các công chức Việt Nam Cộng Hòa, những người ngoại quốc, người công giáo Tòa Thánh La Mã, các linh mục, nói chung tất cả những ai bị nghi ngờ không đồng lòng với cách mạng. “Họ không bị bắt một cách tình cờ đâu, thưa ông,” ông ta nhấn mạnh, “tên tuổi của những người đó nằm trong danh sách mà bọn cán bộ Cộng sản mang theo. Tại những phiên tòa như vậy, họ không có cơ hội để bào chữa. Họ bị tuyên án, mang đi và bị bắn bỏ.” “Có bao nhiêu người?” “Làm sao biết được? Hàng trăm, hàng ngàn?” Cho đến ngày hôm nay vẫn không có con số chính xác bao nhiêu nạn nhân. Những con số ước đoán vào khoảng từ 2500 đến 6000 người. Phần tệ hại nhất của cuộc tấn công này là khi giao tranh lan đến khu điều trị tâm thần, ông già tiếp tục câu chuyện. Ông không cho tôi biết tên tuổi hay chức nghiệp nhưng trông ông có vẻ là một người có học qua trường Tây. Các bệnh nhân trở nên điên cuồng, họ chạy khắp nơi, đánh lẫn nhau trong cơn hoảng loạn. Ông không thể nào tưởng tượng được nó ra sao. Nhiều người bị mất mạng vì họ không thể chạy khỏi lằn đạn hai bên bắn nhau. Thật giống như một cảnh tượng trong vở kịch Hỏa Ngục của Dante.” “Lúc đó ông đang ở đâu?” “Tôi trốn trong đám bệnh nhân, thưa ông, và làm bộ cũng là bệnh nhân vậy tuy thật sự không phải, và điều này đã cứu sống tôi.” Ông khuyên tôi nên đi qua thính đường chính của trường đại học lúc đó đang chật cứng hàng trăm người vô gia cư, tất cả vẫn ăn mặc chỉnh tề, còn đang ở trong các trạng thái bàng hoàng với những nét mặt không còn cảm xúc gì nữa. Nhiều người bị thương và có rất ít, nếu có, các y tá và bác sĩ để chăm sóc họ. Không có nước máy, không có điện và không có cả phương tiện vệ sinh. “Hãy qua bên kia trường Quốc Học nữa,” ông già nói với tôi và đây là một lời khuyên đúng. Ngôi trường trung học tuyệt đẹp nằm trên mạng nam của dòng sông Hương này là một trong những cơ sở tráng lệ nhất trong cả nước. Được thành lập bởi Ngô Đình Khả, phụ thân của tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1896 như là một viện giáo dục quốc gia ưu tú để dạy dỗ cho các hoàng tử và con cái các đại thần có được một nền giáo dục tổng hợp Pháp và Viễn Đông. Danh sách học sinh giống như danh sách “Who’s Who” (danh nhân) của nền chính trị Việt Nam, miền Bắc cũng như miền Nam. Ngô Đình Diệm đã từng học tại đó, Hồ Chí Minh cũng vậy dưới cái tên cúng cơm Nguyễn Sinh Cung, đồng thời có cả tướng Võ Nguyên Giáp cũng như Phạm Văn Đồng, con của một vị quan nhất phẩm triều đình. Khi tôi đến khuôn viên trường, nó lại giống như một khu trại tị nạn nữa. Có ai đó nói với tôi là có khoảng 8000 người tạm trú trong cái cơ sở đẹp đẽ đó, nhiều người run rẩy trong cơn gió lạnh chờ được phát thức ăn và nước uống. Mặc dù tôi không thể kiểm tra được con số đó nhưng thực tế rất là nhiều. Trên đường quay về khu trại MACV tôi phát hiện ra hàng chữ vẽ nguệch ngoạc trên tường của một căn biệt thự lớn. Hàng chữ viết “Cắt đầu Mỹ”. Khi tôi nhìn kỹ hơn thì thấy chữ Mỹ chỉ mới thay chữ Pháp không lâu. Có lẽ tôi hơi nóng vội tiết lộ trước chương sau nhưng thông tin này phù hợp với chuyện vài tuần lễ sau, khi tôi đi thăm trở lại Huế thì khẩu hiệu này được đổi thành “Cắt đầu Cộng Sản”! Điều này cho tôi biết là sự ghê tởm đối với hành vi của Việt Cộng đã làm thay đổi niềm ghét bỏ người ngoại quốc của dân Huế nếu có, cũng như đã thay đổi tư tưởng bài ngoại khá mạnh mẽ tại đây. Tư tưởng bài ngoại khiến người Mỹ cho đến Tết 1968 đã phải giữ một thái độ thật âm thầm trong thành phố này. Hai mươi lăm ngày đêm chiến sự tại Huế, bắn giết, đập đầu đến chết và chôn sống hàng ngàn người dân, đưa đến 116.000 người mất nhà cửa trong một dân số vỏn vẹn 140.000 đã mang lại kết quả thất bại nặng nề nhất đối với cộng sản: nếu có lúc nào Cộng sản được lòng dân chúng Huế thì nay chúng đã mất hết rồi. Tôi đi nhanh về trại MACV để điện thoại tường thuật câu chuyện cho bạn đồng sự với tôi là Friedhelm Kemna ở Sài Gòn, cũng như để báo tin cho nam tước von Collenberg tại tòa đại sứ tin tức cập nhật về các vị bác sĩ Đ...