ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (78) Hồi ký Tống Văn Công Kìa! Cái tất yếu đang lừng lững đi tới! 1- Vì sao Quốc Hội không thể nhận thức được “cái tất yếu”? Sau khi Hiến Pháp được Quốc Hội thông qua với số phiếu áp đảo, dư luận cả nước sôi hẳn lên. Các giáo sư, tiến sĩ Mác-Lê phân tích “Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng được Quốc Hội thông qua là thắng lợi của ý Đảng lòng dân”. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói “Hiến Pháp mới sẽ nói lên tiếng nói của 90 triệu đồng bào”. Báo Nhân Dân đăng bình luận “Hiến Pháp (sửa đổi) – một bước tiến lịch sử“. Nhưng có sự phản ứng ngược lại. Nhà văn Võ Thị Hảo kêu lên “ngày thông qua Hiến Pháp là ngày tang khốc của dân tộc”. Đảng viên Lê Hiếu Đằng, người từng bị chế độ Sài Gòn kết án tử hình tuyên bố từ bỏ Đảng. Hôm sau, đảng viên tiến sĩ Phạm Chí Dũng một cây bút bình luận thời sự chính trị xuất sắc, gửi tâm thư xin ra Đảng, bởi “sự lãnh đạo toàn diện của Đảng chỉ mang hơi thở và bóng hình của các nhóm lợi ích”. Tiếp theo, đảng viên, bác sĩ Nguyễn Đắc Diên ra Đảng nhưng hứa hẹn “khi nào Đảng thực sự hoàn lương, nắm vững ngọn cờ dân tộc, vứt bỏ ngọn cờ xã hội chủ nghĩa thì tôi lại phấn đấu xin vào”. Đảng viên Nguyễn Minh Đào gần 80 tuổi đời, gần 60 mươi tuổi Đảng cảnh báo “đất nước dưới chân Đảng đang rung chuyển, tôi mong Đảng hãy kịp thời hành động, đừng để quá muộn!“ Lời nói đầu Hiến Pháp mới viết rằng, Hiến Pháp này “kế thừa Hiến Pháp 1946”. Nếu đúng như vậy thì cũng đã đáp ứng được phần lớn đòi hỏi của số đông đảng viên và nhân dân rồi, vậy tại sao vấp phải phản ứng dữ dội như vậy! Không đúng! Hiến pháp 1946 và Hiến Pháp mới khác nhau về ý thức hệ, cho nên không có chuyện kế thừa! Hiến pháp 1946 đề cao vai trò của nhân dân, đảm bảo các quyền cơ bản của nhân dân, quy định nhân dân tham gia quyết định các sự kiện trọng đại của đất nước bằng quyền phúc quyết sau khi đã được Quốc Hội thông qua. Hiến pháp 1946 quy định nhà nước pháp quyền, với tam quyền phân lập, điều mà Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1879 ở Điều 16 viết: “Ở một xã hội mà quyền con người không được đảm bảo, nguyên tắc tam quyền phân lập không được tôn trọng thì Hiến Pháp có được ban hành hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Khác với Hiến pháp 1946, Hiến pháp mới quy định cho một tổ chức chính trị được quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội mà không cần phải qua bầu cử của nhân dân, quy định lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với tổ chức chính trị ấy. Giống như bào chữa cho việc bỏ phiếu thông qua Hiến pháp của Quốc Hội, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội cho rằng: “Hai năm qua, những tư tưởng về chủ nghĩa lập hiến, về chủ quyền nhân dân, về quyền con người, về cơ chế kiểm soát quyền lực… đã tràn vào nước ta, thắp sáng khối óc và con tim của hàng triệu người Việt. Tuy nhiên, nhận thức về sự tất yếu như vậy nhiều khi khó đạt một cách dễ dàng. Một độ trễ nhất định của nhận thức so với thực tiễn đã đầy ‘đa nguyên’ của đời sống kinh tế là rất khó tránh khỏi”. Lời bào chữa của ông không giúp được “hạ nhiệt” dư luận mà trái lại đã làm người đọc thêm bức xúc: “Tại sao những tư tưởng khai sáng tràn vào thắp sáng được khối óc, con tim của hàng triệu người Việt mà nó lại không thể thắp sáng nỗi đầu óc, con tim của gần 500 đại biểu Quốc Hội, trong đó có hơn 90% là đảng viên, và có mặt tất cả các ủy viên Bộ Chính trị của Đảng tiên phong lãnh đạo, những đại biểu ưu tú mang trí tuệ của dân tộc và thời đại?” Điều ấy gây khó cho những ai muốn bào chữa họ là những đại biểu ưu tú của nhân dân! Mọi người đều biết “tất yếu và ngẫu nhiên” là một cặp phạm trù triết học phản ánh mối liên hệ khách quan giữa các hiện tượng trong quá trình biến đổi, phát triển của thế giới. Tất yếu là cái nhất thiết phải xảy ra trong những điều kiện nhất định, còn ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra hay không thể xảy ra, có thể xảy ra thế này hay thế khác. Tất yếu gắn liền với những nguyên nhân bên trong, bản chất của hiện tượng, là xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng. Cái tất yếu mở đường đi cho nó thông qua vô số những cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên thì trở thành biểu hiện, bổ sung cho cái tất yếu. Cái tất yếu được chỉ ra trong các quy luật động học có độ xác định rất cao (Từ điển Bách khoa). Nhiều học giả trên thế giới và trong nước đều khẳng định rằng, tự do, dân chủ, nhân quyền là xu thế tất yếu của thời đại mà mọi quốc gia nhanh hay chậm đều phải đi đến. Vậy nếu đi ngược lại cái tất yếu thì điều gì sẽ xảy ra? Chắc chắn phía trước tiềm ẩn nhiều tai họa! Đại văn hào Stefan Zweig cho rằng “luôn có những con chim báo bão, sứ giả của trí tuệ, đi trước những tai họa lớn bằng sự bay của mình”. Tiếc thay tiếng chim báo bão ở nước ta không có người lắng nghe! 2- “Đến hết thế kỷ này chưa biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa!” Trên đây là câu nói của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi góp ý sửa đổi Hiến pháp. Ông vốn là tiến sĩ về lý luận xã hội chủ nghĩa Mác-Lê, là người đứng đầu Đảng cộng sản nhận nhiệm vụ “đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH với nhận thức và tư duy đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam” (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Vậy câu nói của ông nên hiểu là với “nhận thức và tư duy” thế nào? Theo lý luận Mác-Lê thì ở thời kỳ quá độ, chuyên chính vô sản phải thi hành các chính sách nhằm tạo ra “điều kiện tiên quyết của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa hùng mạnh và tiến hành hợp tác hóa kinh tế nông dân. Thời kỳ quá độ kết thúc sau khi đã tiêu diệt thành phần tư bản chủ nghĩa ở thành thị và nông thôn, chủ nghĩa xã hội thắng lợi trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân” (từ điển kinh tế, nxb CTQG Liên Xô năm 1958, nxb Sự Thật in lại 1962). Về thời kỳ quá độ, Đại hội 11 kết luận: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Nội dung này trung thành với nguyên lý nói trên và không gây cảm giác “chuyện ấy còn lâu”. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới bác bỏ khả năng thực hiện “quá độ xã hội chủ nghĩa” nói trên. Nhưng có lẽ sự bác bỏ có sức thuyết phục mạnh nhất là việc các nước SNG trong Liên Xô cũ và các nước Đông Âu vứt bỏ hoàn toàn lý thuyết nói trên để thực hiện nền dân chủ pháp quyền, kinh tế thị trường hiện đại và xã hội dân sự. Nguyên nhân khiến cho chủ nghĩa xã hội không thể vượt qua được chiếc cầu “quá độ” là vì nó mang nhiều khuyết tật không thể khắc phục, trong đó có hai vấn đề lớn nhất: Một là, chế độ độc tài toàn trị từng bước làm thoái hóa Đảng cộng sản cách mạng, vốn đặt mục đích vì lợi ích người lao động, cuối cùng lại trở thành Đảng quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, đứng trên nhân dân. Tình trạng này không thể khắc phục được, bởi như nhận định của lý thuyết gia chính trị Lord Acton “Quyền lực dẫn tới tha hóa. Quyệt lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối”. Các Đảng cộng sản đều kêu gọi đảng viên gần dân, dựa vào dân, nhưng mọi quyền lợi của họ đều do Đảng quyết định, cất nhắc, phân công cho nên không có đảng viên nào thấy cần phải dựa vào dân. Hơn nữa, những điều người dân đòi hỏi mà trái với Nghị quyết của Đảng thì họ phải nhân danh Đảng bác bỏ, thậm chí trù dập, để bảo vệ quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là “Đảng cử dân bầu”. Hai là, chế độ xã hội chủ nghĩa triệt tiêu quyền sở hữu tài sản cá nhân, tức là quyền tự do về kinh tế, khiến cho con người mất động lực lao động sản xuất và sáng tạo. “Cha chung không ai khóc”, “của chung là của chùa” khiến cho “làm thì nhác, chia chác thì siêng”. Lê Nin cho rằng quyết định cuộc đấu tranh “ai thắng ai” là ở năng suất lao động bên nào cao hơn. Nhưng kết cục, năng suất lao động ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa đều thấp, hàng hóa làm ra vừa ít, vừa kém chất lượng. Đời sống vật chất không được cải thiện, trong khi đời sống tinh thần không có tự do, nhân dân không thể mãi cúi đầu cam chịu. Đảng Cộng sản Việt Nam may mắn hơn các đảng cộng sản ở một số nước là: Nhân dân ta nhạy bén, dám phản ứng khi nhìn thấy khuyết tật lộ ra sau cải tạo xã hội chủ nghĩa; Đảng có nhiều nhà lãnh đạo biết lắng nghe nhân dân, âm thầm cùng họ “xé rào” (tức là vượt qua các nguyên lý xã hội chủ nghĩa), như Võ Văn Kiệt, Trần Phương, Đoàn Duy Thành, Nguyễn văn Chính, Nguyễn văn Hơn, Bùi văn Giao… Nhờ đó, Đảng có thể lãnh đạo cuộc đổi mới kinh tế của Đại hội 6 năm 1986. Với cách nói né tránh là “xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp”, thực ra đó là xóa bỏ cơ chế xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác-Lê mà nội dung đã trích dẫn ở trên. Chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần kinh tế tư bản, nhưng né tránh tên cúng cơm để gọi là doanh nhân. Tuy nhiên về mặt chính trị thì hầu như 28 năm qua không có sự tự giác đổi mới đáng kể, chỉ vì sợ mất vị trí độc quyền cai trị. Ngay trong khóa 6, ông Trần Xuân Bách, ủy viên Bộ Chính trị chỉ vì đề nghị đổi mới chính trị song song với đổi mới kinh tế đã lập tức bị sa thải! Đại hội 7, Đại hội 8 vẫn nhắc lại đổi mới kinh tế là “điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới chính trị”, nhưng lại “bác bỏ lợi dụng dân chủ, nhân quyền nhằm quấy rối về chính trị”. Đại hội 9 rút ra 4 bài học đổi mới không nhắc gì đến đổi mới chính trị. Điều lạ lùng là Đại hội này lại khẳng định “con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta bỏ qua chủ nghĩa tư bản”. Thật là cố bám lấy mớ lý luận giáo điều một cách hết sức nông nổi, dù rằng thừa nhận “tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng”, bởi vì không nhận thức được nguyên nhân suy thoái là do không đổi mới chính trị. Đại hội 10 quyết định: “Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, và phát triển văn hóa tinh thần”; đồng thời cảnh báo tình trạng suy thoái đa dạng và nghiêm trọng hơn khóa trước: “Suy thoái chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng thiếu sức chiến đấu”. Trước thềm Đại hội 11, nhiều đảng viên, trong đó có nguyên ủy viên Bộ Chính trị và Ủy viên Trung ương, kiến nghị phải đổi mới chính trị. Ý kiến các đồng chí này không được nghe, họ còn bị quy chụp là suy thoái chính trị, “tự diễn biến”! Đại hội 11 nhắc lại “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp”. Nhưng không nêu ra được những nội dung tự do, dân chủ của thời đại vào lộ trình đổi mới chính trị. Các văn kiện vẫn tiếp tục khái niệm “mở rộng dân chủ” mà mấy mươi năm trước, Trần Xuân Bách đã bác bỏ: “Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn ban ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng thấy bất tiện thì thu hẹp. Dân chủ không có chỗ cho những ai muốn lợi dụng”. Thực hiện nghị quyết Đại hội 11, Hội nghị TƯ 4 ra Nghị quyết xây dựng Đảng, tìm biện pháp khắc phục tình trạng mà một nhà lãnh đạo Đảng đã chẩn đoán “tình trạng suy thoái trong Đảng đã nặng lắm rồi, như căn bệnh ung thư đã di căn”. Đáng buồn là biện pháp chủ yếu để trị “ung thư đã di căn” được HN TƯ 4 đề ra chỉ là trung thành với quan điểm của nguyên Tổng bí thư Lê Duẩn “chúng ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta không cần pháp luật, chúng ta chỉ cần phê bình và tự phê bình là đủ”. Nhà văn Vũ Tú Nam xót xa bình luận “Đảng như con cá ngúc ngoắc trong ao cạn”! Đến đây, đã có thể hiểu được vì sao Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt mục tiêu xã hội chủ nghĩa xa vời đến thế. Ông đã thấy “Tham nhũng tổ chức thành đường dây chứ không phải từng người ăn mảnh, họ đua nhau tham nhũng”. Đảng viên có chức, có quyền, “một bộ phận không nhỏ” là những “tư bản đỏ” nắm quyền vận hành nền kinh tế theo thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”. Ông thấy không thể nào “cải tạo xã hội chủ nghĩa” đối với họ. Vậy thì, làm sao biết hết thế kỷ này đã có chủ nghĩa xã hội hay chưa! Ông thấy bất lực trước thực tế, nhưng tiếc thay tại sao vẫn cố buộc cả dân tộc phải đi “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!” Người viết xin được nhắc lại lời của Alexander Ivanovich Herzen, một nhà tư tưởng Nga lỗi lạc: “mục đích mà xa bất tận thì không phải là mục đích nữa - nếu anh muốn, chỉ là mánh khóe thôi; mục đích thì phải gần hơn, ít nhất cũng như tiền lương hay khoái cảm trong lao động. Cuộc sống không thỏa mãn với những ý tưởng trừu tượng, không chịu vội vã, cứ chậm chạp. Cho phép tôi được hỏi anh, do đâu mà anh cảm thấy thế giới bao quanh chúng ta lại vững chắc và trường tồn đến thế?” 3-Từ bản kiến nghị 1 người ký, đến “kiến nghị 72” Đầu năm 1991, trước thềm Đại hội 7, tình hình kinh tế đã có chuyển biến khá, nhưng đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng. Một số lão thành cách mạng họp nhau nhận diện cuộc khủng hoảng và bàn bạc tìm lối ra. Các cụ nhất trí giao cho ông Nguyễn Kiến Giang, nguyên Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật chấp bút. Đến tháng 3-1991 bản kiến nghị viết xong với tựa đề là “Khủng hoảng và lối ra”. Các cụ họp lại đọc, tất cả đều tán thành, nhưng chỉ có cụ Lê Giản, nguyên giám đốc Nha Công an đầu tiên đồng ý ký tên, số còn lại mỗi người nêu một lý do để từ chối ký tên! Bởi tháng 3 năm 1990 ông Trần Xuân Bách đã bị kỷ luật vì những luận điểm na ná bản kiến nghị này. Thế mới biết ở thời ấy nỗi sợ hãi thật là ghê gớm. Trước tình hình đó, Nguyễn Kiến Giang đành xin phép các cụ một mình ông ký tên và gửi cho Bộ Chính trị! Bản Kiến nghị “Khủng hoảng và lối ra” dài hơn 17 trang giấy A4, hơn 10.000 từ. Xin lược ghi những điểm quan trọng: Đặt vấn đề Tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng kéo dài là hiện thực cơ bản bao trùm toàn bộ đời sống xã hội nước ta không ai không thừa nhận. Văn kiện Đảng gọi là khủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng thực chất của nó là thế nào? Nguyên nhân chủ yếu? Có khả năng thoát ra khỏi khủng hoảng hay không? Thoát ra bằng lối nào? Khủng hoảng Đây là khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng tổng thể xã hội: kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị. Khủng hoảng ở mỗi lĩnh vực vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của khủng hoảng ở các lĩnh vực khác. Các quan hệ sở hữu không phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, do đó vẫn tiếp tục kiềm hãm và phá hoại những năng lực sản xuất xã hội. Rõ nhất là ở khu vực nhà nước, đang biến thành ổ chứa những bệnh tật hiểm nghèo: tham nhũng, buôn lậu và lãng phí vô tội vạ. Những phần tử thoái hóa biến chất trong bộ máy nhà nước móc ngoặc với những phần tử lưu manh kết thành những mafia có thế lực khá lớn. Sự phân hóa xã hội không lành mạnh đang diễn ra. Nghèo khổ, lạc hậu cộng với bất công xã hội làm cho tình hình xã hội rất ngột ngạt. Trong hoàn cảnh đó, khủng hoảng tinh thần là không thể tránh khỏi. Chưa bao giờ con người sống chông chênh và lo lắng như bây giờ. Tội ác xảy ra ngày càng tăng, mang những hình thức nghiêm trọng hiếm thấy. Các giá trị tinh thần bị lật ngược: Người ngay sợ kẻ gian, người lương thiện có năng lực sống khổ cực hơn kẻ cơ hội, xu nịnh trở thành mốt phổ biến. Khủng hoảng có khía cạnh quốc tế. Xu thế dân chủ hóa phát triển rộng rãi và mạnh mẽ. Trong khi đó nước ta vẫn sống cô lập với thế giới bên ngoài. Tính chất lạc hậu và lạc điệu của nước ta càng nổi bật lên, tạo thành một sức ép tinh thần lớn đối với nhân dân, nhất là lớp trẻ và giới trí thức. Khủng hoảng ở nước ta hiện nay tập trung lớn nhất ở khủng hoảng chính trị. Đảng duy trì địa vị độc tôn quá lâu, biến sự lãnh đạo của mình là một tất yếu khách quan trong đấu tranh giải phóng dân tộc thành chế độ đảng trị hiện nay là một áp đặt chủ quan. Đảng đã tự đánh mất uy tín vốn có. Trong điều kiện đó không thể nói tới một nhà nước pháp quyền. Xã hội sống gần như không có pháp luật. Chỉ cần nhắc tới một sự thật là đã phát hiện 10.000 vụ tham nhũng, nhưng chỉ đưa ra xét xử vài chục vụ mà cũng không xét xử đến nơi đến chốn. Lối ra Về mặt quốc tế: Quốc tế hóa kinh tế, tiến bộ khoa học công nghệ, dân chủ hóa đời sống xã hội của nhân loại đang tạo cho chúng ta những điều kiện hòa chung với trào lưu văn minh hiện đại. Trong nước, những lực lượng ủng hộ đổi mới có ở khắp nơi, chỉ cần có sự lãnh đạo sáng suốt. Có 2 điểm cần làm rõ: 1- Bài học Đông Âu không phải là kiềm giữ, bị động đối phó với dân chủ hóa và đổi mới chính trị mà phải là chủ động thực hiện dân chủ hóa và đổi mới chính trị từng bước vững chắc triệt để. 2- Dân chủ hóa không đe dọa sẽ tước mất vai trò lãnh đạo của Đảng. Chỉ có Đảng nào không gắn bó với nhân dân, biến sự lãnh đạo của mình thành chế độ đảng trị và cố bám giữ lấy nó thì mới sụp đổ. Chuẩn bị mảnh đất tốt cho sự phát triển lâu dài của đất nước trên nền tảng văn minh chung của loài người đã được khảo nghiệm là xã hội dân sự (Nguyễn Kiến Giang “Nội dung thuật ngữ Xã hội công dân”), kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền. Phải tách Đảng ra khỏi chức năng nhà nước, tách nhà nước ra khỏi chức năng quản lý, điều hành kinh tế, mới có thể vận hành có hiệu quả guồng máy kinh tế xã hội. Thay đổi quan hệ sở hữu: Chuyển sở hữu nhà nước thành sở hữu cổ phần và sở hữu tư nhân những phần còn lại. Đối với nông dân thực hiện quyền có (droit de possession) về ruộng đất lâu dài, kể cả quyền thừa kế và chuyển nhượng. Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng xã hội dân sự, nhà nước pháp quyền sát chuẩn mực quốc tế. Phát huy năng lực trí tuệ của giới trí thức. Tôn trọng tự do tư tưởng, tự do sáng tác, tụ do báo chí. Xóa bỏ độc quyền chân lý là một yêu cầu bức bách về chính trị. Chuyển quyền lực chính trị từ các cơ quan Đảng sang các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân. Tuyên bố xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp quy định vai trò của Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội chỉ được thực hiện bằng phương pháp thuyết phục. Mặt trận Tổ Quốc đứng ra triệu tập một Đại Hội quốc dân mới theo kinh nghiệm Đại Hội quốc dân ở Tân Trào trước khởi nghĩa Tháng 8 1945 để bàn và quyết định Một chương trình khắc phục khủng hoảng. Theo tinh thần hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc, Đảng chỉ cần bảo đảm cho mình một nửa số đại biểu, hoặc một đa số tương đối trong Quốc Hội. Bản kiến nghị với những điều đặt ra hết sức thiện chí đã bị xếp xó. Do đó mà sau 22 năm, tình trạng khủng hoảng toàn diện của đất nước đã tăng lên theo cấp số nhân! Thực tế đất nước và nguyện vọng bức xúc của nhân dân đã hun đúc đưa tới sự ra đời của Bản kiến nghị 72. “Kiến nghị 72” là liều thuốc mạnh chữa một bệnh trạng của Đảng độc quyền lãnh đạo “ung thư đã di căn”, gồm các điểm quan yếu: – Theo nguyên tắc chủ quyền nhân dân, không định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc một tổ chức chính trị. – Quy định quyền con người theo đúng tinh thần Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và các Công ước quốc tế. – Đất đai thuộc nhiều quyền sở hữu: tư nhân, tập thể, cộng đồng, nhà nước. – Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập. – Quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân – Quân đội chỉ trung thành với Tổ Quốc. Trí tuệ và tầm vóc lớn lao của kiến nghị lần này không phải ở con số gấp 72 lần, cũng không phải 15.000 lần tương ứng với số người đã hưởng ứng ký tên. Điều quan trọng là nó mang sức mạnh tỉnh thức của nhân dân, nhận ra cái tất yếu nhất thiết phải xảy ra! Một số nhà lý luận “phò chính thống” (theo cách nói của Nguyễn Kiến Giang) cố cãi chày cãi cối rằng, 72 hoặc 15.000 vẫn là thiểu số. Các ông không nhớ rằng, Kim Ngọc, người khai sinh khoán 10 là rất thiểu số! Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945 với 5.000 đảng viên là rất thiểu số! Vấn đề không phải là ít hay nhiều mà là tiềm năng có thể nhân lên nhanh chóng để chiến thắng, hoặc ngược lại thì, dù là một thực thể khổng lồ nhưng rất dễ bị thoái hóa, lụi tàn. Điều quyết định là ở chỗ thuận theo lòng dân và hợp với xu thế tất yếu của thời đại. Tiếc thay, bản Hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh vừa được thông qua, không đếm xỉa gì đến góp ý của nhân dân! 4- Xin chớ vội reo mừng, cũng đừng buồn tang khốc! Vô cùng chia sẻ sự âu lo của nhà văn Võ Thị Hảo khi nghe bà đau đớn kêu lên, ngày thông qua Hiến pháp là ngày “tang khốc” của dân tộc! Xin đừng quá đau buồn, hãy nhìn kìa, sự tất yếu vẫn cứ đang lừng...

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (77) Hồi ký Tống Văn Công Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị Nhân Hội nghị Trung ương 8, khóa 11, ngày 30-9-2013 tôi gửi bài “Kính gửi Hội nghị Trung ương 8, khóa 11: Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị!” Bài này trích dẫn Cương lĩnh và các Nghị quyết của Đảng so sánh với thực tế đang diễn ra để cho thấy việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống đã thất bại thảm hại như thế nào và từ đó phân tích nguyên nhân thất bại chính là thể chế độc tài toàn trị. Từ đó kiến nghị không nên ép Quốc Hội thông qua dự thảo Hiến Pháp quá lạc hậu mà nên chấp nhận bản Hiến Pháp do 72 nhân sĩ trí thức soạn thảo. Bài này bị coi là dùng những luận điệu của bọn thù địch bác bỏ Hiến Pháp mới, chống Đảng. Chi bộ Đảng lại triệu tập cuộc họp kiểm điểm. Tại cuộc họp, tôi bị quy chụp là đã tự chuyển hóa, biến chất, chống Đảng rất nguy hiểm. Kính gửi hội nghị trung ương tám: Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị I. Đất nước đang lâm vào khủng hoảng toàn diện Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội 11 và các nghị quyết Trung ương, trên cơ sở đó sẽ quyết định các việc trọng đại của đất nước. Đối chiếu thực tế cuộc sống đang diễn ra so với các Nghị quyết của Đảng, xin gửi tới hội nghị bài viết với sự trăn trở. 1. Kinh tế suy sụp, do yếu kém nội tại, cơ cấu lạc hậu. … Ngay năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội 11, nền kinh tế Việt Nam vấp phải khó khăn lớn nhất sau 20 năm, kể từ năm 1991. Mục tiêu tăng trưởng đề ra 7,5% chỉ đạt được 5,8%; Quốc Hội đề ra mức lạm phát 7 %, thực tế lên tới 19 %; hơn 48.000 doanh nghiệp phá sản; các tập đoàn kinh tế nhà nước được kỳ vọng là quả đấm thép của nền kinh tế thua lỗ nặng nhất, chỉ riêng Vinashin đã gây ra nợ 4 tỉ USD; thị trường bất động sản đóng băng; hàng trăm vụ vỡ nợ tín dụng đen; nợ xấu chiếm 15 % tổng tín dụng; nhập siêu 10 tỉ USD; khả năng cạnh tranh của nền kinh tế sụt giảm nghiêm trọng vì tham nhũng, lãng phí làm cho chỉ số ICOR (số đồng vốn bỏ ra để thu 1 đồng lãi) tăng vọt xấp xỉ hai con số (chỉ số ICOR của các nước trong vùng chỉ từ 3 đến 4). Kinh tế nhà nước là gánh nặng của nhân dân, nhận vào 65 % tổng tín dụng để làm ra 28 % tổng sản phẩm! Cuối năm 2011, Đảng và nhà nước đề ra chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế để cứu vãn: Tái cấu trúc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và hệ thống thể chế tài chính, giải quyết nợ xấu; tái cấu trúc đầu tư công. Diễn đàn Mùa thu 2012 ở thành phố Vũng Tàu nhận định: “những nguy cơ mang tính cơ cấu và hệ thống đang đe dọa nền kinh tế”. Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên cho rằng “cần phải đổi mới về cải cách đất đai, tiếp theo là cải cách doanh nghiệp nhà nước theo nghĩa thị trường; sau đó là cải cách ngân hàng nhà nước một cách quyết liệt; tất cả phải công khai, minh bạch”. Cam kết với WTO phát triển nền kinh tế thị trường, nhưng thực tế dùng nhiều biện pháp hành chính và ngắn hạn, nhiều loại giá cơ bản phi thị trường. Các nhóm lợi ích bất chính đang là lực cản của tái cơ cấu nền kinh tế, chi phối chính sách ngày càng trắng trợn. Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2013, ở Huế, viện trưởng Trần Đình Thiên mở đầu tham luận, cho rằng “kinh tế thế giới đã bước vào quỹ đạo phục hồi, nhưng Việt Nam không nằm trong quỹ đạo đó. Những ‘điểm đen’ như nợ xấu, sở hữu chéo trong các ngân hàng vẫn còn nguyên, tái cơ cấu kinh tế nhà nước vẫn nằm trên giấy. Kinh tế vẫn trong lộ trình ‘xuống đáy’ và nằm bẹp ở đấy”. Giáo sư Võ Đại Lược đề nghị bán các doanh nghiệp nhà nước như bia, rượu, nước giải khát, đất đai của Tổng công ty Thương mại Hà Nội lấy tiền làm việc có ích. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng mục tiêu đưa Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không thể nào đạt được. Cho đến nay Việt Nam chỉ có nền công nghiệp gia công và là bãi thải công nghiệp của các nước. Cuối năm 2013, vốn đầu tư nước ngoài có tăng lên so với hai năm trước, đã đem lại nhiều hy vọng cải thiện cho kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề như ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư thừa nhận “những yếu tố kết cấu bên trong, những yếu kém nội bộ” vẫn chưa được giải quyết! “Yếu tố và kết cấu” đó là gì? Phải chăng đó là điều mà nhiều nhà nghiên cứu khuyến nghị: Trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân và tư nhân hóa, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước? 2. Giai cấp công nhân sống dưới mức tối thiểu 60 %! Hơn 20 năm qua, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng. Họ là những nông dân nghèo khó nhất rời đồng ruộng đến các khu kinh tế công nghiệp tìm việc. Theo số liệu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2013, có 15 triệu người lao động làm công ăn lương, có 7,9 triệu đoàn viên công đoàn, ở khu vực vốn đầu tư nước ngoài có hơn 1,7 triệu người. 20 năm qua có ba lần cải cách chế độ tiền lương, nhưng lương tối thiểu cho đến nay vẫn chỉ đáp ứng được 60% mức sống tối thiểu của người lao động. Luật Lao động cho doanh nghiệp được phép buộc công nhân làm thêm 300 giờ/năm. Các chủ doanh nghiệp căn cứ mức lương tối thiểu do nhà nước quy định để trả cho công nhân. Do đó hình ảnh của giai cấp công nhân hiện nay, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Công nhân, Công đoàn: có 94 % công nhân phải làm thêm ca, thêm giờ mà vẫn không đủ sống; có 26,5 % nam công nhân và 31,8 % nữ công nhân suy dinh dưỡng; có 19,2 % công nhân thiếu máu; 70 % thiếu iốt; có 20% công nhân bỏ một bữa ăn trong ngày. Ở công nhân coi được làm thêm giờ như một ân huệ. Nhiều ông chủ doanh nghiệp phạt công nhân bằng hình thức không cho làm thêm giờ! (Ông Thee Hong Bae ở công ty Yujin Vina TP HCM cắt tăng ca vĩnh viễn đối với công nhân Dương Văn Tam để phạt anh về tội sau đình công, mọi người đã đi làm mà hai ngày sau anh mới có mặt! Cán bộ quản lý doanh nghiệp Thương kiếm cớ để phạt hoặc làm nhục công nhân: ngày 20-5-2013, ở công ty Yujin Vina TP HCM anh Hậu lúc tan ca không xếp vào hàng, đã bị ông quản lý Chu bóp miệng, nắm cổ áo lôi đi; tháng 7 năm 2013, anh HVT ở Prex-Vinh Nghệ An bị cán bộ quản lý miễn phí phẩm vào mặt và đè đầu dúi vào máy; ngày 18-7-2013 các chị Đặng Thiên Trang, Chu Thị Vân nghỉ phép quá 1 ngày đã bị quản lý Công ty Dệt may Thái Dương thành phố Hồ Chí Minh phạt trừ lương và phụ cấp 700.000 đồng!) Từ năm 1995 đến nay đã xảy ra hơn 5000 cuộc đình công, có những cuộc huy động hơn 10.000 công nhân (như ở công ty Keyhing Toys Đà Nẵng năm 2005, công ty Pouchen Biên Hòa năm 2010). Tất cả các cuộc đình công đều bị coi là bất hợp pháp, vì không có công đoàn lãnh đạo. Những người được công nhân đình công cử làm đại diện đối thoại với chủ, sau khi ổn định đều bị sa thải mà không được các cơ quan chức năng bảo vệ! Cách đây 5 năm, Viện Khoa học Xã hội thực hiện cuộc điều tra tại 24 doanh nghiệp, cho thấy có 84 % người lao động không thấy công đoàn có vai trò giải quyết tranh chấp. Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại Đại hội 11 Công đoàn Việt Nam nhận khuyết điểm: “Công đoàn cơ sở chưa lãnh đạo được đình công theo quy định của pháp luật, tham gia giải quyết tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, đình công còn bị lúng túng”. Chỉ cần đọc bài “Công nhân đồng loạt đình công đòi quyền lợi” trên báo Công An Nghệ An ngày 20-7-2013 cũng đã có thể hình dung tình cảnh khốn cùng, bị chà đạp nhân phẩm của giai cấp công nhân hiện nay. Bài báo kể trong một ngày tỉnh Nghệ An có hai cuộc đình công ở Công ty Prex Vinh và Công ty May Hanosimex. Bài báo kể một số chi tiết: Bắt làm thêm giờ mà trả lương rất bèo, tổng thu nhập trung bình là 1650000 đồng/ tháng, nhiều công nhân bị ném phế phẩm vào mặt. Có người “yêu cầu quản lý không nên có thái độ như vậy” lập tức bị đuổi việc, công nhân bấm thẻ chấm công sớm 30 giây, bị trừ cả ngày công, 1900/2500 công nhân đã vào công đoàn, nhưng gửi kiến nghị lên, công đoàn không trả lời; chủ doanh nghiệp yêu cầu công nhân đình công cử đại diện đối thoại, nhưng cuộc đình công hồi năm ngoái, cả tám người được cử làm đại diện đối thoại với chủ sau đó đều bị đuổi việc, cho nên lần này không ai dám nhận làm đại diện! Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội kiên trì quan điểm “nếu điều chỉnh lương tối thiểu bảo đảm ngay nhu cầu tối thiểu thì rất nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, da giày gia công sẽ phá sản”. Quan điểm này rất trái với thực tế (thời gian qua có nhiều cuộc đình công ở các doanh nghiệp dệt may, da giày gia công đều được chủ doanh nghiệp giải quyết yêu sách tiền lương mà họ không hề bị phá sản) và trái với lý luận: “Giá trị sử dụng của thứ hàng hóa đặc biệt sức lao động là ở chỗ nó sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân nó. Do đó người sử dụng lao động phải trả mức lương tối thiểu không chỉ đủ nuôi sống bản thân người lao động mà còn phải có dư để nuôi sống gia đình anh ta, đảm bảo tái sản xuất sức lao động” (Marx, Engels T23, trang 252). Ý kiến chưa thể tăng lương tối thiểu đủ mức sống tối thiểu giống như đại diện nhóm lợi ích của các ông chủ tư bản hoang dã. Thế mà tại sao họ không bị khiển trách? Ngành dệt may da giày gia công còn được cho “ưu tiên” làm thêm giờ! Từ năm 1930 cho đến trước “Đổi mới”, những người cộng sản Việt Nam luôn luôn lấy khẩu hiệu đòi ngày làm 8 giờ để vận động công nhân. Tại sao ngày nay, sau 28 năm “Đổi mới”, trong khi Tổ chức Lao động Quốc tế đòi ngày làm 7 giờ, tuần làm 5 ngày, tức 35 giờ/tuần thì Nhà nước Việt Nam lại có chính sách bảo trợ chủ doanh nghiệp buộc công nhân làm thêm 300 giờ, nhưng thực tế còn cao hơn nhiều, với đồng lương chết đói? Tại sao chúng ta thừa lao động, nhất là lao động giản đơn mà không buộc các doanh nghiệp dệt may, giày giày gia công là những ngành sử dụng lao động giản đơn giá rẻ, nếu thiếu công nhân thì phải tuyển dụng thêm cấm họ buộc công nhân làm thêm giờ và đòi họ phải trả lương theo hợp đồng thỏa thuận với người lao động? 3. Nông dân khiếu kiện, tự tử và bắt đầu dùng súng! Sau “Đổi mới”, nông dân đã đưa đất nước từ thiếu đói trở thành nước xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới. Nhưng có nghịch lí là từ đó đến nay cuộc sống của nông dân ngày càng khốn khó. Đặc biệt là nông dân vùng đồng bằng sông Cửu long, vựa lúa lớn nhất nước, chưa bao giờ sống khổ như bây giờ: Được mùa rớtt giá, càng làm càng lỗ; mỗi năm buộc phải đóng từ 30 đến 40 loại phí; học vấn thấp nhất; nhắm mắt xếp hàng cho người Đài Loan, Hàn Quốc chọn vợ để cứu gia đình; sang Campuchia bán thân; đóng phí rất nặng để đi xuất khẩu lao động, bị đánh đập, cưỡng hiếp. Mới đây, báo Tuổi Trẻ đăng tình cảnh lao động Việt Nam cư trú bất hợp pháp ở Malaysia phải trốn chui trốn nhũi vô cùng thê thảm. Nhiều năm qua, nông dân bị thu hồi đất không được đền bù thỏa đáng, phải cơm đùn cơm nắm đi khiếu kiện lên quận, rồi lên tỉnh, lên trung ương, nằm chờ chực ngoài vườn hoa, trên vỉa hè và bị đánh đuổi tàn tệ. Cuối cùng tức nước vỡ bờ, nông dân đã nổi dậy, lúc đầu là tự thiêu, tự tử để tỏ sự phẫn uất một cách bất lực, sau đó là nổ súng hoa cải trong vụ nông dân Đoàn Văn Vương để chống lại lệnh cưỡng chế đất ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Tiếp theo đó là những phát súng sát thương của nông dân Đặng Ngọc Viết nhằm vào năm quan chức ở Trung tâm Phát triển Quỹ đất của thành phố Thái Bình vốn không có oán thù với riêng anh mà là để bắn vào chế độ ruộng đất bất công, phi lý, chống lại lợi ích giai cấp nông dân của anh. Từ rất lâu, những nhà khoa học và cán bộ quản lý gắn bó với nông dân đã phát hiện những nguyên nhân chủ yếu nhưng không được Đảng lắng nghe. Gần 20 năm, giáo sư Võ Tòng Xuân nhiều lần lặp đi lặp lại câu hỏi “Bao giờ nông dân mới giàu?” Và ông tự trả lời, nông dân không thể thoát nghèo, bởi đầu ra của hạt lúa bị Hiệp hội Lương thực độc quyền thao túng. Giáo sư Đoàn Thế Tuấn nói: “Nghịch cảnh thay, nông dân từng là quân chủ lực của cách mạng giải phóng dân tộc, cũng là người lặng lẽ âm thầm khởi xướng công cuộc đổi mới, nhưng lại ít được hưởng lợi nhất sau đổi mới!”; Và “nông dân thiếu chủ quyền về đất đai, mất đất mà không có ai bênh vực”. Đáng lo thay, nông dân là bộ phận yếu thế nhất trong xã hội, không có quyền mặc cả trên thị trường, không được tham gia quyết định giá cả nông sản, vì thiếu nghiệp đoàn nông dân. Nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang, ông Nguyễn Minh Nhị phân tích nguyên nhân các chỉ tiêu không đạt được, đã cho rằng: “Nói những điều to tát như tạo nền kinh tế bền vững, tái cấu trúc, tăng GDP không bằng có những chủ trương, quyết sách, hành động sát thực tế để nông dân có đất canh tác, có đời sống ấm no, sung túc bền vững”. Ông phân tích “Thời kháng chiến chúng tôi, những cán bộ, đảng viên cùng với nông dân có chung một lợi ích. Sau khi cầm quyền, chúng tôi với nông dân bắt đầu có sự phân chia, ‘tuy một mà hai’. Sự phân chia dễ thấy là chúng tôi – tức chính quyền – bắt đầu ra lệnh, ngay như tổ chức Đảng, các đoàn thể cũng ra lệnh được. Nông dân từ chỗ là chủ sở hữu đất, chủ sở hữu ruộng, sau khi cải tạo xã hội chủ nghĩa thì đó là sở hữu nhà nước. Có độc lập rồi bỗng dưng mất hết hai cái quyền sống còn là quyền sở hữu ruộng đất và quyền sản xuất. Rồi họ dắt díu nhau lên Sài Gòn, Bình Dương làm công nhân, lại tiếp tục bơ vơ giữa các khu công nghiệp, mất sức với đồng lương bèo bọt…”. Mang nỗi niềm của người mắc nợ nông dân, ông đi Đài Loan, Malaysia, Thái Lan để quan sát và ngạc nhiên kêu lên: “Nhìn cách họ tổ chức sản xuất nông nghiệp mà phát thèm. Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học phối hợp rất chặt chẽ, trong đó nhà nông ở vị trí trung tâm, được nhà nước và doanh nghiệp lo cho từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm. Thái Lan có công ty tổ chức sản xuất nông nghiệp lo cho cả đầu vào cả đầu ra. Chính phủ hỗ trợ chính sách rất rõ ràng”. Tiến sĩ Đặng Kim Sơn Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nông nghiệp cho rằng “nông dân, nông thôn bị lấy đi quá lớn so với được trả lại”. Mới đây, trên báo Nông Nghiệp Việt Nam, nhà văn của nông dân Nguyễn Khắc Trường, tác giả “Mảnh đất lắm người nhiều ma” nổi tiếng, có bài viết về tình trạng nông dân ngày nay. Bài viết có những điểm rất đáng quan tâm: Nông dân xưa chất phác nền nếp lắm. Làng xóm xưa thanh bình lắm. Nông thôn bây giờ chẳng những nghèo về vật chất mà còn nghèo tinh thần. Nay không chỉ có trộm cướp mà còn có người nghiện hút, tình làng nghĩa xóm phai nhạt. Cái gốc của nông dân làm ruộng đất mà giờ người ta không còn yêu quý đất nữa! (thực ra họ không còn yêu đất chỉ vì đất không còn là của họ nữa mà là của toàn dân). Ông so sánh với vài nước xung quanh và cho rằng nông dân Trung Quốc khổ hơn ta, nhà cửa họ lụp xụp hơn, mặt họ sầu não hơn. Nhưng nông dân Thái Lan thì sướng hơn, giầu có hơn nông dân ta. Ông kết luận: “Nói theo nghĩa nào đó nông dân chưa thực sự bước ra khỏi vũng bùn”! Hơn nửa thế kỷ trước, nhà thơ cách mạng Nguyễn Đình Thi đã tự hào viết câu thơ: “Nước Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”! Cớ sau qua 68 năm, đất nước của hơn 90 % nông dân từng rũ bùn đứng dậy sáng lòa, họ lại phải trở lại chìm sâu hơn trong vũng bùn! 4. Khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh thứ hai châu Á! Trong báo cáo chính trị lần thứ 11 có nêu: “Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị”. Tuy nhiên, sau Đại hội Đảng lần thứ 11, khoảng cách giàu nghèo đã tăng tốc. Hai giai cấp lớn của xã hội là công nhân và nông dân chính là nguồn bổ sung cho số người nghèo đang phình to này. Theo Tổng cục Thống kê năm 2008 khoảng cách giàu nghèo là 8,9 lần; năm 2009 tăng lên 9,2 lần. Gần đây báo chí phát hiện nhiều vụ “lương khủng” ở các tập đoàn, công ty nhà nước. Vụ lương khủng ở thành phố Hồ Chí Minh khoảng cách thu nhập của cán bộ lãnh đạo và công nhân hơn 200 lần. Dư luận cho rằng vụ này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Trong những năm kinh tế đất nước sa sút, số người siêu giàu (có tài sản 30 triệu USD) vẫn cứ tăng nhanh: Năm 2010 có 100 người; năm 2011 tăng lên 170 người nhanh thứ hai châu Á. Ngày 15-9- 2013, nhiều tờ báo đưa tin: công ty tư vấn tài sản Wealth-X và ngân hàng Thụy Sĩ UBS cho biết: “Mặc cho nền kinh tế Việt Nam đang lâm vào khó khăn, số người siêu giàu của nước này vẫn tăng gần 15% so với năm trước, từ 170 lên 195 người với tổng tài sản 20 tỉ USD. Trong khi đó Việt Nam có khoảng 8,1 triệu dân nghèo đói phải tìm đến cái chết để thoát khổ đau”. Xin nêu hai trường hợp người nghèo đi tìm cái chết mà nguồn tin trên đã nói đến: Tháng 4-2012, chị Lê Thị Ngọc Nhãn ở khóm 2, phường 1, thành phố Cà Mau, trước khi tự tử đã gửi cho Trung tá Diện bức thư, có đoạn: “Sau khi cháu chết rồi, xin chú giúp cho các con của cháu được vào cô nhi viện. Cháu xin đội ơn chú đời đời”. Tháng 5-2013, chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân, 48 tuổi, ở xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, trước khi treo cổ, đã viết thư gửi chính quyền: “Xin các cấp chính quyền thấu hiểu hoàn cảnh không có lối thoát của gia đình chúng tôi hiện nay, đồng ý cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi có thể sống những ngày còn lại”. 5. Đạo đức xã hội băng hoại chưa từng có Ba năm gần đây, đạo đức tiếp tục băng hoại ngày càng dữ dội! Hàng ngày báo đưa tin chém giết, trộm cướp, cưỡng hiếp xảy ra khắp mọi nơi. Người ta chém giết nhau chỉ vì những lý do lãng xẹt. Đáng lo nhất là tình trạng con cháu đánh đập, chém giết cha mẹ ông bà, anh em, vợ chồng giết nhau. Đinh tặc rải đinh đánh bẫy người đi xe máy, để vá xe, bán ruột, vỏ xe với giá cắt cổ. Những thiếu niên ném đá lên tàu hỏa, lên ô tô như thú vui. Mới đây một nhà phê bình có bài viết tựa đề “Người Việt hung hãn”. Có những hiện tượng bất thường đang nãy sinh: Người ta “tự xử”, bởi không còn tin khả năng quản lý của chính quyền, cũng không tin công lý từ tòa án! bắt được kẻ trộm chó, cả xóm ra tay tự xử bằng gậy gộc. Mới đây, xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang vừa có sáng kiến lập rào làng, làm bốn cổng để chống trộm! Nhà văn Nguyễn Khải người đầu tiên phát hiện tại nói dối đang phát triển trong xã hội. Từ đó đến nay tình trạng nói dối bùng lên như một đại dịch, lan tràn từ trong Đảng tới các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, các đoàn thể, nay nhiễm vào trẻ con. Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu đang diễn ra ở Huế, nhiều tham luận nói về tệ báo cáo láo khiến không thể biết đúng bệnh: nợ xấu bao nhiêu, thất nghiệp bao nhiêu, GDP của các tỉnh có tăng thực vậy không. Một trung tâm xã hội học vừa công bố kết quả điều tra: Trẻ học cấp một có tỉ lệ nói dối là 22 %; trẻ ở cấp hai có tỉ lệ nói dối 50%, cấp ba là 64 %; sinh viên đại học là 80 %. Ta có thể hình dung được, đội ngũ cán bộ tương lai sẽ vượt xa cha anh về tài nói dối! Có người giải thích đây là mặt trái của cơ chế thị trường. Nên nhớ rằng, trước khi thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã từng sống trong cơ chế thị trường. Dân tộc ta nổi tiếng hiền hòa. Ông cha ta từng “lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn”, “lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Thời hai cuộc kháng chiến, nhà nhà đêm không cài cửa, ra ngõ gặp anh hùng. Một dân tộc như vậy, nguyên nhân nào đã biến thành “ra ngõ gặp trộm cướp, giết chóc”? Như vậy, thiết nghĩ nên xem lại phương thức tổ chức quản lý xã hội đang có những gì bất cập so với các nước văn minh? 6. Giáo dục tiếp tục tụt hậu Cách đây 20 năm nền giáo dục Việt Nam đã nhận diện những điểm không bình thường: Trường chuyên, lớp chọn; thi cử phức tạp; nhồi nhét, không chú trọng rèn luyện tư duy sáng tạo; học thuộc lòng các bài mẫu; dạy thêm học thêm lu bù; sách giáo khoa in lại liên tục, nhưng nội dung không đổi mới; chất lượng giáo viên mỗi năm thêm sa sút; lương giáo viên không đủ sống… Có nhiều cấp ủy Đảng chỉ thị ngành giáo dục phải soạn giáo án tuyên truyền chủ trương chính sách: đưa vào chương trình phổ thông 13 luật thuế, luật phòng chống tham nhũng… Nhiều cuộc hội thảo huy động trí tuệ các nhà giáo dục góp ý xây dựng. Nhiều nhà giáo dục giàu tâm huyết và trí tuệ như Hoàng Tụy, Hồ Ngọc Đại, Văn Như Cương… phân tích mổ xẻ ung nhọt của ngành giáo dục, đề xuất nhiều kiến nghị như: Khuyến khích sáng tạo; coi trọng óc tưởng tượng; công bằng, dân chủ trong giáo dục; tôn trọng cá tính học sinh; phổ cập cấp tiểu học, tiến tới trung học và mở cửa đại học; chú trọng bồi dưỡng nhân tài. Tuy nhiên giáo dục cứ như cỗ xe tụt dốc! Dù cho được tăng tỉ lệ đầu tư, nhưng hiệu quả thì xuống thấp. Bằng cấp đại ...
32 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (76) Hồi ký Tống Văn Công Đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Các mạng yêu nước kêu gọi, ngày 9-12-2012 xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Điểm tập họp ở Sài Gòn là sân trước Nhà hát Lớn thành phố. Vợ chồng tôi định đúng 7 giờ sẽ lên xe taxi, đến nơi vừa đúng giờ. Đang chuẩn bị lên đường thì có điện thoại của giáo sư Tương Lai cầu cứu. Ông cho biết, rất nhiều công an không cho xe taxi dừng lại đón ông. Ông đã đi bộ từ khu Mỹ Khánh (giữa con đường Nguyễn Đức Cảnh, quận 7) đến đầu đường Bùi Bằng Đoàn mà không thể gọi chiếc taxi nào ghé vào đón anh. Tôi bảo, anh đừng gọi taxi, vờ như không còn muốn đi nữa. Anh đứng dưới gốc cây bên ngoài Nhà hàng Thái. Vợ chồng tôi sẽ lên chiếc taxi Mai Linh màu xanh, chạy quẹo qua, dừng lại, anh nhanh chóng mở cửa xe, ngồi vào chiếc ghế cạnh tài xế, rồi ta vọt. Giáo sư Tương Lai là thành viên Ban Tư vấn của thủ tướng Võ Văn Kiệt, sau đó là thành viên Viện IDS do giáo sư Hoàng Tụy làm viện trưởng, tiến sĩ Nguyễn Quang A làm tổng thư ký. Ông được Lê Duẩn, Phạm Văn đồng tin cậy, cho nên ông cũng rất kính trọng các vị này. Năm 2015, ông tự xuất bản quyển “Cảm nhận và suy tư” (vì sách không được phép xuất bản). Tôi có bài giới thiệu quyển sách này với tựa đề “Cảm nhận và suy tư của một trí thức cộng sản”, đánh giá rất cao những ý kiến của ông về sự cấp thiết phải đổi mới chính trị, đưa đất nước vào tự do dân chủ. Trong đó, tôi có góp ý với ông đôi điều về đánh giá Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng. Ông băn khoăn về thuật ngữ “làm chủ tập thể” của Lê Duẩn: “Bởi vì nội hàm của thuật ngữ ấy theo chân ngữ thì quá hẹp. Đó là nhược điểm về chọn một thuật ngữ để diễn đạt một quan điểm. Thà chỉ nói ‘làm chủ’ thì rộng hơn”. Tôi đã góp ý với ông: “Đây không phải là nhược điểm về việc chọn thuật ngữ để diễn đạt một quan điểm mà chính là quan điểm của những người tôn thờ chủ nghĩa tập thể, chống lại tự do cá nhân trong Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1879 và Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc năm 1948. Triết gia, nhà văn Ayn Rand trong lời giới thiệu tác phẩm “Cội Nguồn” (Fountainhead) của bà đã viết: “Tất cả các biến thể của chủ nghĩa tập thể thực ra vẫn giữ nguyên những nguyên tắc đạo đức của tôn giáo, có điều họ thay từ chúa bằng từ xã hội”. Hiện nay giáo sư Tương Lai là nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng, sở dĩ công an rình sẵn là vì nhà anh là nơi gặp gỡ những người “tích cực xây dựng Đảng”, “đòi hỏi Đảng phải thực hiện dân chủ hóa” như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Kim Báu, Nguyễn Văn Thôn, Nguyễn Văn Kết, Nguyễn Tiến An, Hạ Đình Nguyên, Kha Lương Ngãi, Lưu Trọng Văn… Nhà anh cũng là nơi anh em gặp nhau cùng thảo luận xây dựng nhiều văn kiện xúc tiến dân chủ như “Kiến nghị xây dựng Hiến pháp dân chủ” (có 72 người ký tên cho nên được gọi là kiến nghị 72), “Thành lập diễn đàn xã hội dân sự”… Trở lại chuyện đi biểu tình. Chúng tôi thực hiện đúng kế hoạch, nhưng xe không thể vọt được. Giáo sư Tương Lai vừa ngồi vào xe thì hàng chục chiếc xe ba bánh của công an vây kín. Công an trên chiếc mô tô áp sát bên tài xế taxi ra lệnh: “Anh chỉ được phép chạy theo chiếc xe công an ở phía trước. Anh liệu hồn, nếu không nghe lời, tôi sẽ lôi anh ra khỏi xe đấy”. Chúng tôi động viên anh taxi: “Đừng sợ, họ chỉ ngăn không cho đi biểu tình, chứ chả dám làm gì mình đâu! Đích đến là Nhà hát Lớn. Cố lên!” Anh taxi rất cố gắng, nhưng không thể nào luồn lách để vượt khỏi hơn 10 chiếc xe công an o ép, bao vây. Cuối cùng, chiếc taxi bị dí phải chui tọt vào trong đồn công an phường Tân Phong. Rất lịch sự, họ mời chúng tôi vào nhà, rồi đưa chúng tôi lên lầu. Chỉ mấy phút sau, bộ máy phục vụ đã bày biện bánh mì, hoa quả, trà, cà phê. Ông Danh phó bí thư Quận 7, ông Hồng chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Quận 7, Đảng ủy hai phường Tân Phong và Tân Kiểng, hai ban chi ủy của hai khu phố nơi tôi và nơi giáo sư Tương Lai cư ngụ. Ông Sơn bí thư chi bộ khu phố của anh Tương Lai đứng lên hùng hồn triết lý về sự sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông nói, do Đảng được trang bị tư tưởng Mác-Lênin và trui rèn suốt quá trình đấu tranh lâu dài… giáo sư Tương Lai quát: “Ông đừng khoác lác những điều cũ rích. Giặt Trung Quốc cướp đảo, cướp biển, bắn giết ngư dân ta, mà ông hùa với bọn coi giặc là đồng minh ý thức hệ. Tôi khinh bọn chúng, tôi khinh ông”. Góp phần ngăn ông bí thư khoe mẽ lý luận, tôi giở “mẹo”: “Ông bạn già ơi, nếu giảng giải lý thuyết Mác-Lênin thì đó là chuyện của chúng tôi, chứ không phải là ông! Ông có biết quyển sách mới nhất về Mác ở Việt Nam là quyển gì không nào? Nhưng thôi, ở đây không phải là trường Đảng, không phải lúc giảng Mác-Lê mà ta đang bàn tại sao cấm biểu tình chống bọn bành trướng Bắc Kinh xâm lược, giết hại ngư dân Việt Nam”. Ông phó bí thư quận ủy được thể lên tiếng: “Đúng, chúng ta tranh luận cao xa làm gì. Đảng ta chỉ thị chưa cần đi biểu tình thì chúng ta bảo nhau chưa đi. Vậy thôi! Bây giờ Quận ủy đã chuẩn bị xe rồi. Chúng tôi xin mời hai đồng chí xuống nhà ra xe, chúng tôi xin đưa các đồng chí về nhà”. Vậy là rất lịch sự, mỗi người chúng tôi được 4 cán bộ đảng hộ tống. Giáo sư Tương Lai khôn khéo hơn tôi, khi về đến nhà, ông mở hé cánh cửa vừa đủ để len vào, rồi đóng sập cửa lại ngay, không cho một ai kịp theo vào. Tôi có tính nể nang để cả bốn ông vào theo: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Quận 7, bí thư Đảng ủy và chủ tịch phường Tân Kiểng, bí thư chi bộ khu phố. Tôi không thể ngờ là họ ngồi trò chuyện mãi cho đến 11 giờ 30, khi đã chắc chắn tôi không còn cơ hội để tiếp tục xuống đường, họ mới ra về. Sau khi họ đã ra về tôi viết bốn câu thơ gửi lên mạng Bô xít kèm mấy lời: “Vì bị giữ ở đồn công an, xin gửi các bạn trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ngày 9-12-2012 bốn câu thơ”. Biển đảo ngoài kia, giặc chiếm rồi. Trong này tham nhũng, giặc song đôi. Cháu con nghe tiếng Vua Hùng gọi. Tay nắm tay đi giữa biển trời. Một chủ nhật sau đó khoảng vài tháng, giáo sư Tương Lai đi biểu tình lại bị hàng chục xe cảnh sát bao vây, anh phải lên gian phòng của tôi ở chung cư ngồi “tị nạn”. Hai chúng tôi uống trà trò chuyện. Đến 11 giờ 30, tôi đưa anh ra cổng tìm xe taxi để về nhà thì thấy nhóm an ninh vẫn còn ngồi chực bên kia đường! Posted on Tháng Một 24, 2019 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2019/01/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-76-di-bieu-tinh-chong-trung-quoc-xam-luoc/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (77): https://www.minds.com/newsfeed/1020255756149641216?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (75): https://www.minds.com/newsfeed/1020246848470945792?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
25 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (75) Hồi ký Tống Văn Công Chúng ta đang khủng hoảng văn hóa I - Vì đâu nên nỗi? Hiện nay, cả xã hội đang hết sức bức xúc trước tình trạng đạo đức băng hoại. Nhà thơ Đỗ Trung Quân viết: “Làm từ thiện cũng thích nói dối; lu loa trên truyền thông với gương mặt của ‘con giả vờ’.” Giáo sư Tương Lai cho rằng quốc nạn tham nhũng và nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng khác không nguy hại bằng thói đạo đức giả. Nhà văn Võ Thị Hảo đi “Tìm thủ phạm ‘ám sát’ văn hiến”, đã nhận diện được: “Với cái quyền trượng trong tay, những người lãnh đạo có thể xây dựng văn hiến, hoặc nhanh chóng ám sát văn hiến”. Mới đây, nhà nghiên cứu Lữ Phương có bài viết “Vì đâu nên nỗi, tác động văn hóa của ‘đổi mới’ xét như một mô thức phát triển”, đã phân tích sâu sắc “cái mô thức mệnh danh đổi mới nói trên rõ ràng đã không còn phù hợp nữa, mô thức đó cũng tạo ra quá nhiều hỗn loạn và mất mát trong lĩnh vực tinh thần, phá vỡ lòng tin của con người về những giá trị nhân văn phổ biến, về niềm tự trọng dân tộc chính đáng, xâm phạm đến lợi ích tối thượng của quốc gia”. Ông cho rằng có thể bị cho là động đến vấn đề nhạy cảm, nhưng nếu không dấy lên được một phản ứng thức tỉnh thì có “nguy cơ rơi vào một hình thức lệ thuộc kiểu thực dân mới nào đó về văn hóa, hoặc một cái gì tương tự tinh vi hơn, không thể loại trừ là không xảy ra”. Nhận thức sự hệ trọng của điều ông cảnh báo, tôi xin hưởng ứng bằng những ghi chép điều mình quan sát được. Nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng văn hóa. “Văn hóa biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, đạo đức, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ. Có thể tìm thấy biểu hiện của văn hóa trong các phương thức và công cụ sản suất, phương thức sở hữu, các thể chế xã hội, phong tục tập quán, giao tiếp giữa người và người, trong trình độ học vấn và khoa học kĩ thuật, công trình độ sáng tạo và thưởng thức văn học nghệ thuật” (Từ điển Bách khoa Việt Nam). Cuộc khủng hoảng văn hóa bắt đầu từ sau ngày thống nhất nước nhà năm 1975, khi mọi người dân thất vọng vì những rao giảng về lý tưởng cao đẹp hòa Bình, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc, hòa giải, hòa hợp dân tộc đã không được thực hiện. Với đường lối tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, nhà nước chuyên chính vô sản đã thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội. Hàng vạn cán binh chế độ Sài Gòn cũng phải tập trung cải tạo. Cuộc xáo động quá lớn đã xua hàng triệu người, từ những nhà tư sản dân tộc, tiểu thương, tiểu chủ, cho đến những người dân cày xưa kia bom đạn không đẩy nổi họ rời mảnh ruộng quê, vậy mà nay cũng kéo nhau ùn ùn vượt biển. Tiếp theo đó, hai cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc, thúc đẩy nhanh cuộc khủng hoảng toàn diện trùm lên đất nước. Các văn kiện của đảng Cộng sản gọi đó là “khủng hoảng kinh tế – xã hội”. Lạm phát ba con số. Cả nước nhai bo bo. Truyện tiếu lâm mới, ca dao mới lan tràn, ông Trần Ta-bit đã sưu tầm thành một tập sách. Xin nhắc lại mấy câu: “Tôn Đản là chợ vua quan. Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần, Bắc Qua là chợ thương nhân, Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.” Và: “Bác Hồ chết nhằm ngày trùng, cho nên con cháu dở khùng dở điên. Thằng khôn thì đã vượt biên, Những thằng ở lại toàn điên với khùng”. Các nhà văn đã sớm thổ lộ tâm tư dằn vặt. Chế Lan Viên nhận rằng niềm tin của mình là “Bánh vẽ”. Nguyễn Đình Thi thấy mình vướng nhiều “Đồ bỏ”. Nhà thơ trẻ Phạm Thị Xuân Khải viết “Mùa xuân nhớ Bác” đăng trên báo Tiền Phong: “Có mắt giả mù, có tai giả điếc. Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung, Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ, Thoái hóa, bê tha khi dân, nước gian nan”. Đại hội 6 của Đảng quyết định “Đổi mới”, bắt đầu là đổi mới tư duy và trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Sau đó, tuy có nói phải đổi mới toàn diện nhưng từ năm 1991 đã bị chựng lại sau khi Liên Xô và Đông âu sụp đổ. Vượt qua những cấm kỵ của nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa (chấp nhận kinh tế thị trường; để nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại; thực hiện khoán 100 trong nông nghiệp…) nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, phát triển nhanh chóng. Nhân dân vui mừng, phấn khởi. Nhưng do đổi mới không đồng bộ, cho nên các căn bệnh của khủng hoảng văn hóa vẫn âm ỉ không hề dứt. Chính trị chậm đổi mới, mâu thuẫn tăng lên, khiến cho khủng hoảng văn hóa bùng phát. Tham nhũng từ là “quốc nạn” đã trở thành “ung thư”. Lý tưởng xã hội chủ nghĩa làm bình phong cho “lý tưởng kiếm tiền”. “Mình vì mọi người” trở thành “tất cả vì mình”. Niềm tin giả vờ. Dân chủ, tự do, công bằng cũng đều là thứ ngụy tạo. Đầy tớ của nhân dân là những kẻ hành dân. Một dân tộc từng có câu châm ngôn cao cả “Thương người như thể thương thân”, nhưng tháng 9 năm 2010, Quỹ Từ thiện Anh và Viện Gallup xếp hạng chỉ số thiện nguyện của Việt Nam đứng hạng thứ 138 trên 153 quốc gia (vẫn còn vinh dự là đứng trên nước Trung Hoa của hiền triết Khổng Khâu từng dạy lấy chữ nhẫn làm đầu)! Sau vụ buôn lậu, ăn cắp của nhân viên Việt Nam Airlines, người Nhật chửi rủa người Việt Nam là “bọn dòi bọ”. Các nhà hàng Singapore ở phòng ăn buffet chỉ thông báo bằng tiếng Việt: “Xin lấy thức ăn vừa đủ”! Bạn bè Nhật Bản và khách nước ngoài đã từng chứng kiến những người Việt Nam lao vào giành giật, giẫm đạp nhau, gây ra “thảm họa hoa anh đào”. Sau lễ hội 1000 năm Thăng Long, khắp Hà Nội là những bãi rác khổng lồ, nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Không khác nhau giữa cái diêm dúa, phô trương, ồn ĩ, xa xỉ, phản cảm, cả vô cảm nữa (trước đại lũ miền Trung) của lễ hội… với cái bừa bãi xấu xa đáng buồn ngay sau lễ hội. Cái này chỉ là tiếp tục luôn logic của cái kia”. Nhà thơ Trần Ái Vân viết về sa đọa đạo đức: “Thời buổi thế này là thế nào hả trời, Làm xịt lốp xe, định rải đầy đường sá. Giữa phố đông, người rạch mặt người. Khách tàu hỏa tha hồ ăn đá.” … “Đến cục cứt cũng là cứt rởm. Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra. Thời buổi thế này là thế nào hả trời, Trò giữa lớp phang thầy; Con nên cha trước bàn thờ tổ” … “Xương trâu bò thế xương liệt sĩ Trâu bò lên ngôi Tổ quốc ghi công” Một số người lo lắng: “Vô đạo đức đang trở thành dân tộc tính”. Tháng 9 năm 2010, trong lễ trao giải cuộc thi “Văn học tuổi 20” ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn trẻ Hải Miên đoạt giải ba, đã phát biểu như sau: “Chúng ta đang sống trong một thời đại đổ vỡ, nơi khủng hoảng những giá trị, những niềm tin va đập không ngừng, cùng những cách nhìn về xã hội Việt Nam trong giai đoạn những giá trị chuẩn mực thì đã cũ, còn những giá trị mới thì chưa hình thành. Sống trong giai đoạn như thế đôi khi có cảm giác không còn điều gì thiêng liêng, nguyên vẹn và có cảm giác đau đớn. Tôi nương vào chữ để mở cửa thoát hiểm cho mình”. Có lẽ đó cũng là tâm trạng của số đông người trẻ tuổi Việt Nam có tri thức, có lương tri. Tại sao người Việt Nam sa đọa đến như vậy? Engels trong lời tựa cho Bản Tuyên ngôn của đảng Cộng sản xuất bản bằng tiếng Đức năm 1883, đã viết: “Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của bản Tuyên ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”. Nhiều luận điểm trong Tuyên ngôn, sau đó chính Marx và Engels cho rằng đã lỗi thời, tuy nhiên cái tư tưởng cơ bản nói trên vẫn còn nguyên giá trị, nó cho ta hiểu rằng, nên kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu xã hội tương ứng. Nếu nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung tương thích với cơ cấu chính trị chuyên chính vô sản, nhà nước toàn trị, thì nên kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhà nước pháp quyền (với tam quyền phân lập chứ không phải quyền lực thống nhất, phân công ba quyền, dưới sự lãnh đạo của đảng), phải xây dựng xã hội công dân, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền. Do cố giữ những điều phi lý, cố tìm đường đi “chưa từng có tiền lệ” mà lớp trẻ thông minh, có học, nhận ra những điều nhà cầm quyền cho rằng thiêng liêng cao cả, khi đặt vào thực tế cuộc sống sẽ hiện ra là giả dối. Giáo sư Tương Lai chỉ mới nói tới cái giả dối “thứ cấp”, chứ chưa phải cái gốc, mẹ đẻ của mọi thứ giả dối. Đó là: – Nói chúng ta kiên trì chủ nghĩa xã hội, nhưng ai cũng thấy chủ nghĩa tư bản hoang dã đang lồ lộ, ngang nhiên. – Nói giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, nhưng chính người công nhân cũng không thể tin được, bởi vì họ nhận rất rõ thân phận mình, đi tìm nơi xin được việc làm đã khó, khi có việc làm rồi thì nhận đồng lương chết đói, muốn đình công để đòi hỏi quyền lợi thì không thấy một tổ chức đủ tin cậy để mà gửi gấm, tự tổ chức đình công bị coi là bất hợp pháp! – Nói đảng viên là những người lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ, nhưng sờ sờ trước mặt nhân dân là họ vui trong nhà chưa đủ, còn vui thâu đêm ở các nhà hàng bia ôm. Có lẽ người nói về cái giả dối “gốc” sâu sắc nhất là nhà văn Nguyễn Khải, Đảng viên sáu mươi tuổi đảng, nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu, trong tùy bút chính trị cuối cùng “Đi tìm cái tôi đã mất”: “Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì, vì không một ai tin, nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người làm chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước đi lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ, vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai họa, nên không hỏi gì cũng là một cách giữ mình”. Làm gì để không còn những cái giả dối mà nhà văn Nguyễn Khải đã nhận ra? II - Không phải lủng củng mà là đặt chính trị trùm lên văn hoá. Ông Trần Trọng Tân, nguyên trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 8-10-2010, có bài viết trên Tuần Việt Nam: “Định nghĩa văn hóa trong dự thảo Cương Lĩnh lủng củng của ông nhắc lại Nghị quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa 8, ngày 16-7-1998 định nghĩa nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung: “Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và phát triển phong phú, tự do và toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong cái phương tiện truyền tải nội dung” “… Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.” Ông Trần Trọng Tân cho rằng nền văn hóa Việt Nam ở thời nào cũng có tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của thời ấy, không phải đến văn hóa xã hội chủ nghĩa mới mang tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Ông đề nghị gọi tên là nền văn hóa Việt Nam vì độc lập tự do hạnh phúc, vì hòa bình hữu nghị. Vấn đề không đơn giản như ông nghĩ. Năm 1943, ông Trường Chinh viết “Đề cương văn hóa Việt Nam”, đưa ra nội dung dân tộc, khoa học, đại chúng dựa theo Mao Trạch Đông thời Diên An, đề cao văn hóa công nông, tức là văn hóa phải có tính giai cấp. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi viết chung quyển “Một nền văn hóa mới” tuy dựa vào “Đề cương văn hóa” của Trường Chinh, nhưng dẫn giải không quá nặng ý thức hệ: “… Nhà ở mới, cách ăn mặc mới sẽ sửa đổi cho giản dị và hợp vệ sinh mà không mất vẻ đẹp riêng của dân tộc. Ngôn ngữ mới, cử chỉ mới sẽ biểu lộ một tinh thần tự cường và trọng bình đẳng, tự do mà không kém vẻ thanh nhã. Xã giao mới sẽ giản dị hơn, thành thực hơn. Lễ nghi mới trong nhà hay ngoài xã hội cũng sẽ trang nghiêm hơn, sơ sài hơn, mạnh mẽ hơn, có ý nghĩa hơn và hợp với điều kiện sinh hoạt mới hơn …” Nội dung nền văn hóa mới tuy do hai nhà lãnh đạo văn hóa thời ấy viết ra, nhưng không được coi là tiếng nói chính thức của Đảng và nó chưa thực hiện được bao nhiêu thì tiếng súng kháng chiến đã nổ. Năm 1948, tại Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ 2, thành lập Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam, ông Trường Chinh đã đọc bài diễn văn có tựa đề “Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hóa Việt Nam” đặt yêu cầu chính trị bao trùm lên nền văn hoá. Từ năm 1950 trở đi những nguyên lý văn hóa vô sản dần dần chi phối nền văn hóa Việt Nam. Theo hai quyển hồi ký của nhà văn Võ Văn Trực (“Chuyện là ngày ấy” và “Cọng rêu dưới đáy ao”) thì ở Nghệ An quê ông, người ta phá đình chùa, tập thể hóa cả mồ mã ông bà, sửa đổi phong tục tập quán bị coi là hủ lậu. Ở các vùng khác chưa ai viết ra, nhưng nói chung cũng na ná như vậy. Đến sau 1975, những người lãnh đạo văn hóa ở Thừa Thiên Huế còn dùng nội cung cố đô Huế làm kho giấy và cho phá bỏ Đàn Nam Giao khiến lòng dân bức xúc có nhiều câu ca dao phản đối. Sau đổi mới, với chủ trương khôi phục cơ chế thị trường, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân đã đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và phát triển vượt bậc. Tuy nhiên tự do kinh tế làm cho nền chính trị chậm đổi mới ngày càng bộc lộ những bất cập kéo theo những bất cập về văn hóa, giáo dục. Năm 1992, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang, trong bài “Nhìn nhận thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay” đã viết: “Cuối cùng, còn một đặc trưng hết sức quan trọng nữa của khủng hoảng văn hóa ở nước ta hiện nay (nói là cuối cùng, nhưng về ý nghĩa lại đứng hàng đầu). Đó là sự hòa lẫn văn hóa và chính trị, trong đó chính trị vừa trực tiếp quyết định văn hóa, vừa bao trùm lên cả văn hóa. Trong các xã hội công dân, chính trị chỉ là một lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ tác động đến các quan hệ giữa nhà nước và người dân. Các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chịu ảnh hưởng của chính trị đến một mức độ nào đó, và đến lượt chúng lại tác động ngược lại đối với chính trị, nhưng mỗi lĩnh vực lại có tính độc lập riêng. Đặc biệt văn hóa là lĩnh vực có tính độc lập cao hơn cả. Nhưng trong xã hội nước ta, văn hóa phụ thuộc hoàn toàn, hoặc gần như hoàn toàn vào chính trị. Nói như vậy có nghĩa là khủng hoảng văn hóa không tách rời khỏi đời sống chính trị của xã hội. Chúng tôi không bàn tới tất cả những vấn đề có liên quan tới mối quan hệ này, mà chỉ nêu bật lên một điểm: Hệ tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản từ lâu đã được nhiều người coi là giá trị chính thống của mình, nó đảm nhận vai trò chất kết dính xã hội, thống nhất xã hội trong một thời gian tương đối dài, nhất là trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hệ tư tưởng đó cũng đang khủng hoảng sâu sắc trước những chuyển biến sâu sắc của xã hội”. Thực trạng văn hóa Việt Nam theo nhận xét của Nguyễn Kiến Giang 18 năm trước đã không thay đổi đáng kể, bởi định nghĩa từ Nghị quyết 5, cũng như cách lãnh đạo văn hoá mà ông Trần Trọng Tân nhắc lại với ý không đồng tình, vẫn không có gì đổi khác. Vậy nền văn hóa xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm gì khiến cho nó không tương thích với cuộc sống của một xã hội đổi mới và hội nhập quốc tế? 1 - Đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống dân tộc. Có lẽ điều này bắt nguồn từ sự vận dụng lý luận kinh điển. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, trả lời câu hỏi vì sao chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ tôn giáo và đạo đức cũ, Marx và Engels viết: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền; không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Gia đình to (cả nước) và gia đình nhỏ: Cái nào nặng? Cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to”. Trước khi tiến hành một đợt “hành động cách mạng”, các cán bộ đảng và các đoàn thể tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục làm cho nhân dân tin rằng: thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, bảo vệ lợi ích của giai cấp là đạo đức thiêng liêng cao cả nhất, tình cảm gia đình, thậm chí là tình mẫu tử, phụ tử đều phải đặt xuống dưới. Đó là nguyên nhân xảy ra con tố cha, vợ tố chồng trong cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp. Khuyến khích việc “tố” như thế chẳng những trái luân thường, mà sau này còn được biết là do quá khiếp sợ, muốn tâng công với chế độ, họ bịa chuyện vu khống người ruột thịt của mình. Nói dối ở trường hợp này đồng nghĩa với tội ác. Trong nhiều tác phẩm văn học cũng thể hiện quan điểm đó. Kịch bản Lê Văn Tám đốt kho xăng miêu tả Lê Văn Tám lân la cầu thân với lính gác kho, dần dà được họ tinh yêu như con em. Lợi dụng sự tin cậy của các chú lính, Tám dễ dàng xâm nhập đốt kho xăng. Gần đây, bộ phim truyền hình “Cuồng phong” có chủ đề chống tội phạm buôn ma túy. Trong phim, công an đã giác ngộ cô Phượng nhận thức được việc buôn ma túy là tội ác, sau đó giao cho cô nhiệm vụ theo dõi, gài bẫy người bạn đồng hương muốn giúp đỡ cô có tiền giúp mẹ bằng việc buôn ma túy và theo dõi tố giác người tình rất yêu cô là một tay buôn ma túy. Để tồn tại trong một chế độ đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống, người ta phải khai man lý lịch, mang một cái mặt nạ lập trường giai cấp để che giấu suy nghĩ thực. 2 - Văn hóa xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa Mác-Lênin thành chân lý độc tôn Tự do tư tưởng chỉ được phép trong vùng soi chiếu của quan điểm Mác-Lênin. Mọi tư tưởng khác với nó đều là thù địch. Phân biệt ranh giới tư tưởng thù địch rất khó, do vậy mà nhiều ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc lần lượt bị trở thành kẻ thù của cách mạng và bị giết. Nhiều đảng viên Cộng sản cấp cao ở Việt Nam bị quy là “bọn chống Đảng”, bị tù tội cũng chỉ vì có mấy ý kiến khác nghị quyết của Đảng. Đó là nguyên nhân khiến nhiều đảng viên cán bộ không dám nói thật ý mình, nghĩ một đàng nói một nẻo, báo cáo láo. Ông Hoàng Minh, chủ tịch Công đoàn Quận 11, một đảng viên có công thời chống Mỹ, luôn luôn được đánh giá bốn tốt, bỗng bị phát hiện trước khi tham gia cách mạng ông có theo đạo Hồi mà không khai trong lý lịch. Ông bị đuổi ra khỏi Đảng và cho về hưu. Độc tôn tư tưởng rất trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, luôn luôn rộng mở đối với mọi tư tưởng, tôn giáo. Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo được người Việt Nam đón nhận, hợp lưu, hòa đồng, biến những điều tích cực trở thành yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc. Người Việt gọi là tam giáo đồng nguyên. Đạo Cao Đài còn thoáng hơn, thờ tất cả danh nhân văn hóa thế giới. Chủ nghĩa độc tôn tư tưởng gây ra tệ giáo điều nghiêm trọng và làm cho con người trở thành thụ động, ỷ lại, thiếu sáng tạo. Đó là nguyên nhân đưa tới chủ trương chống tự diễn biến, cản trở sự đổi mới của Đảng, kéo theo sự trì trệ của nhiều ngành, giáo dục, văn học, nghệ thuật… 3 - Văn hóa xã hội chủ nghĩa đề cao tuyệt đối chủ nghĩa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ và triệt để xóa bỏ Bảo vệ lợi ích cá nhân bị coi là vị kỷ, là xấu, cho nên nguyện vọng được hưởng thụ lợi ích chính đáng của cá nhân mình cũng luôn phải che giấu. Con người phải sống hai mặt, bên ngoài thì ca ngợi tập thể, bên trong thì toan tính cho riêng mình. Các quyền con người đều là quyền của tập thể chứ không phải của cá nhân. Quyền tự do báo chí là quyền của đoàn thể được ra báo. Quyền hội họp là quyền của các đoàn thể đã được cho phép thành lập và chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Các đoàn thể ở chế độ xã hội chủ nghĩa không phải là tổ chức dân sự, phi chính phủ (NGO) mà là tổ chức chính trị, những cánh tay nối dài của Đảng. Các đoàn thể này có chức năng tổ chức những phong trào thực hiện nghị quyết của Đảng như phong trào thi đua tập thể, phong trào xây dựng khu phố văn hóa, phong trào dạy tốt, học tốt… Những phong trào này là nguồn sản xuất ra những báo cáo láo, tô vẽ những điển hình theo khẩu vị cấp trên. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” làm cho mọi sai lầm, thất thoát không thể quy trách nhiệm cho ai. Nạn hội họp lu bù chính là con đẻ của nguyên tắc trách nhiệm tập thể, vì cần phải họp để có quyết định của tập thể, mai sau hư hại không ai bị kỷ luật hoặc phải ra tòa. Vụ Vinashin không thể tìm ra người chịu trách nhiệm chí...
22 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (77) Hồi ký Tống Văn Công Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị Nhân Hội nghị Trung ương 8, khóa 11, ngày 30-9-2013 tôi gửi bài “Kính gửi Hội nghị Trung ương 8, khóa 11: Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị!” Bài này trích dẫn Cương lĩnh và các Nghị quyết của Đảng so sánh với thực tế đang diễn ra để cho thấy việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống đã thất bại thảm hại như thế nào và từ đó phân tích nguyên nhân thất bại chính là thể chế độc tài toàn trị. Từ đó kiến nghị không nên ép Quốc Hội thông qua dự thảo Hiến Pháp quá lạc hậu mà nên chấp nhận bản Hiến Pháp do 72 nhân sĩ trí thức soạn thảo. Bài này bị coi là dùng những luận điệu của bọn thù địch bác bỏ Hiến Pháp mới, chống Đảng. Chi bộ Đảng lại triệu tập cuộc họp kiểm điểm. Tại cuộc họp, tôi bị quy chụp là đã tự chuyển hóa, biến chất, chống Đảng rất nguy hiểm. Kính gửi hội nghị trung ương tám: Đất nước đòi hỏi phải đổi mới chính trị I. Đất nước đang lâm vào khủng hoảng toàn diện Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội 11 và các nghị quyết Trung ương, trên cơ sở đó sẽ quyết định các việc trọng đại của đất nước. Đối chiếu thực tế cuộc sống đang diễn ra so với các Nghị quyết của Đảng, xin gửi tới hội nghị bài viết với sự trăn trở. 1. Kinh tế suy sụp, do yếu kém nội tại, cơ cấu lạc hậu. … Ngay năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội 11, nền kinh tế Việt Nam vấp phải khó khăn lớn nhất sau 20 năm, kể từ năm 1991. Mục tiêu tăng trưởng đề ra 7,5% chỉ đạt được 5,8%; Quốc Hội đề ra mức lạm phát 7 %, thực tế lên tới 19 %; hơn 48.000 doanh nghiệp phá sản; các tập đoàn kinh tế nhà nước được kỳ vọng là quả đấm thép của nền kinh tế thua lỗ nặng nhất, chỉ riêng Vinashin đã gây ra nợ 4 tỉ USD; thị trường bất động sản đóng băng; hàng trăm vụ vỡ nợ tín dụng đen; nợ xấu chiếm 15 % tổng tín dụng; nhập siêu 10 tỉ USD; khả năng cạnh tranh của nền kinh tế sụt giảm nghiêm trọng vì tham nhũng, lãng phí làm cho chỉ số ICOR (số đồng vốn bỏ ra để thu 1 đồng lãi) tăng vọt xấp xỉ hai con số (chỉ số ICOR của các nước trong vùng chỉ từ 3 đến 4). Kinh tế nhà nước là gánh nặng của nhân dân, nhận vào 65 % tổng tín dụng để làm ra 28 % tổng sản phẩm! Cuối năm 2011, Đảng và nhà nước đề ra chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế để cứu vãn: Tái cấu trúc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và hệ thống thể chế tài chính, giải quyết nợ xấu; tái cấu trúc đầu tư công. Diễn đàn Mùa thu 2012 ở thành phố Vũng Tàu nhận định: “những nguy cơ mang tính cơ cấu và hệ thống đang đe dọa nền kinh tế”. Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên cho rằng “cần phải đổi mới về cải cách đất đai, tiếp theo là cải cách doanh nghiệp nhà nước theo nghĩa thị trường; sau đó là cải cách ngân hàng nhà nước một cách quyết liệt; tất cả phải công khai, minh bạch”. Cam kết với WTO phát triển nền kinh tế thị trường, nhưng thực tế dùng nhiều biện pháp hành chính và ngắn hạn, nhiều loại giá cơ bản phi thị trường. Các nhóm lợi ích bất chính đang là lực cản của tái cơ cấu nền kinh tế, chi phối chính sách ngày càng trắng trợn. Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2013, ở Huế, viện trưởng Trần Đình Thiên mở đầu tham luận, cho rằng “kinh tế thế giới đã bước vào quỹ đạo phục hồi, nhưng Việt Nam không nằm trong quỹ đạo đó. Những ‘điểm đen’ như nợ xấu, sở hữu chéo trong các ngân hàng vẫn còn nguyên, tái cơ cấu kinh tế nhà nước vẫn nằm trên giấy. Kinh tế vẫn trong lộ trình ‘xuống đáy’ và nằm bẹp ở đấy”. Giáo sư Võ Đại Lược đề nghị bán các doanh nghiệp nhà nước như bia, rượu, nước giải khát, đất đai của Tổng công ty Thương mại Hà Nội lấy tiền làm việc có ích. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng mục tiêu đưa Việt Nam đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không thể nào đạt được. Cho đến nay Việt Nam chỉ có nền công nghiệp gia công và là bãi thải công nghiệp của các nước. Cuối năm 2013, vốn đầu tư nước ngoài có tăng lên so với hai năm trước, đã đem lại nhiều hy vọng cải thiện cho kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề như ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư thừa nhận “những yếu tố kết cấu bên trong, những yếu kém nội bộ” vẫn chưa được giải quyết! “Yếu tố và kết cấu” đó là gì? Phải chăng đó là điều mà nhiều nhà nghiên cứu khuyến nghị: Trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân và tư nhân hóa, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước? 2. Giai cấp công nhân sống dưới mức tối thiểu 60 %! Hơn 20 năm qua, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng. Họ là những nông dân nghèo khó nhất rời đồng ruộng đến các khu kinh tế công nghiệp tìm việc. Theo số liệu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam năm 2013, có 15 triệu người lao động làm công ăn lương, có 7,9 triệu đoàn viên công đoàn, ở khu vực vốn đầu tư nước ngoài có hơn 1,7 triệu người. 20 năm qua có ba lần cải cách chế độ tiền lương, nhưng lương tối thiểu cho đến nay vẫn chỉ đáp ứng được 60% mức sống tối thiểu của người lao động. Luật Lao động cho doanh nghiệp được phép buộc công nhân làm thêm 300 giờ/năm. Các chủ doanh nghiệp căn cứ mức lương tối thiểu do nhà nước quy định để trả cho công nhân. Do đó hình ảnh của giai cấp công nhân hiện nay, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Công nhân, Công đoàn: có 94 % công nhân phải làm thêm ca, thêm giờ mà vẫn không đủ sống; có 26,5 % nam công nhân và 31,8 % nữ công nhân suy dinh dưỡng; có 19,2 % công nhân thiếu máu; 70 % thiếu iốt; có 20% công nhân bỏ một bữa ăn trong ngày. Ở công nhân coi được làm thêm giờ như một ân huệ. Nhiều ông chủ doanh nghiệp phạt công nhân bằng hình thức không cho làm thêm giờ! (Ông Thee Hong Bae ở công ty Yujin Vina TP HCM cắt tăng ca vĩnh viễn đối với công nhân Dương Văn Tam để phạt anh về tội sau đình công, mọi người đã đi làm mà hai ngày sau anh mới có mặt! Cán bộ quản lý doanh nghiệp Thương kiếm cớ để phạt hoặc làm nhục công nhân: ngày 20-5-2013, ở công ty Yujin Vina TP HCM anh Hậu lúc tan ca không xếp vào hàng, đã bị ông quản lý Chu bóp miệng, nắm cổ áo lôi đi; tháng 7 năm 2013, anh HVT ở Prex-Vinh Nghệ An bị cán bộ quản lý miễn phí phẩm vào mặt và đè đầu dúi vào máy; ngày 18-7-2013 các chị Đặng Thiên Trang, Chu Thị Vân nghỉ phép quá 1 ngày đã bị quản lý Công ty Dệt may Thái Dương thành phố Hồ Chí Minh phạt trừ lương và phụ cấp 700.000 đồng!) Từ năm 1995 đến nay đã xảy ra hơn 5000 cuộc đình công, có những cuộc huy động hơn 10.000 công nhân (như ở công ty Keyhing Toys Đà Nẵng năm 2005, công ty Pouchen Biên Hòa năm 2010). Tất cả các cuộc đình công đều bị coi là bất hợp pháp, vì không có công đoàn lãnh đạo. Những người được công nhân đình công cử làm đại diện đối thoại với chủ, sau khi ổn định đều bị sa thải mà không được các cơ quan chức năng bảo vệ! Cách đây 5 năm, Viện Khoa học Xã hội thực hiện cuộc điều tra tại 24 doanh nghiệp, cho thấy có 84 % người lao động không thấy công đoàn có vai trò giải quyết tranh chấp. Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại Đại hội 11 Công đoàn Việt Nam nhận khuyết điểm: “Công đoàn cơ sở chưa lãnh đạo được đình công theo quy định của pháp luật, tham gia giải quyết tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, đình công còn bị lúng túng”. Chỉ cần đọc bài “Công nhân đồng loạt đình công đòi quyền lợi” trên báo Công An Nghệ An ngày 20-7-2013 cũng đã có thể hình dung tình cảnh khốn cùng, bị chà đạp nhân phẩm của giai cấp công nhân hiện nay. Bài báo kể trong một ngày tỉnh Nghệ An có hai cuộc đình công ở Công ty Prex Vinh và Công ty May Hanosimex. Bài báo kể một số chi tiết: Bắt làm thêm giờ mà trả lương rất bèo, tổng thu nhập trung bình là 1650000 đồng/ tháng, nhiều công nhân bị ném phế phẩm vào mặt. Có người “yêu cầu quản lý không nên có thái độ như vậy” lập tức bị đuổi việc, công nhân bấm thẻ chấm công sớm 30 giây, bị trừ cả ngày công, 1900/2500 công nhân đã vào công đoàn, nhưng gửi kiến nghị lên, công đoàn không trả lời; chủ doanh nghiệp yêu cầu công nhân đình công cử đại diện đối thoại, nhưng cuộc đình công hồi năm ngoái, cả tám người được cử làm đại diện đối thoại với chủ sau đó đều bị đuổi việc, cho nên lần này không ai dám nhận làm đại diện! Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội kiên trì quan điểm “nếu điều chỉnh lương tối thiểu bảo đảm ngay nhu cầu tối thiểu thì rất nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, da giày gia công sẽ phá sản”. Quan điểm này rất trái với thực tế (thời gian qua có nhiều cuộc đình công ở các doanh nghiệp dệt may, da giày gia công đều được chủ doanh nghiệp giải quyết yêu sách tiền lương mà họ không hề bị phá sản) và trái với lý luận: “Giá trị sử dụng của thứ hàng hóa đặc biệt sức lao động là ở chỗ nó sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân nó. Do đó người sử dụng lao động phải trả mức lương tối thiểu không chỉ đủ nuôi sống bản thân người lao động mà còn phải có dư để nuôi sống gia đình anh ta, đảm bảo tái sản xuất sức lao động” (Marx, Engels T23, trang 252). Ý kiến chưa thể tăng lương tối thiểu đủ mức sống tối thiểu giống như đại diện nhóm lợi ích của các ông chủ tư bản hoang dã. Thế mà tại sao họ không bị khiển trách? Ngành dệt may da giày gia công còn được cho “ưu tiên” làm thêm giờ! Từ năm 1930 cho đến trước “Đổi mới”, những người cộng sản Việt Nam luôn luôn lấy khẩu hiệu đòi ngày làm 8 giờ để vận động công nhân. Tại sao ngày nay, sau 28 năm “Đổi mới”, trong khi Tổ chức Lao động Quốc tế đòi ngày làm 7 giờ, tuần làm 5 ngày, tức 35 giờ/tuần thì Nhà nước Việt Nam lại có chính sách bảo trợ chủ doanh nghiệp buộc công nhân làm thêm 300 giờ, nhưng thực tế còn cao hơn nhiều, với đồng lương chết đói? Tại sao chúng ta thừa lao động, nhất là lao động giản đơn mà không buộc các doanh nghiệp dệt may, giày giày gia công là những ngành sử dụng lao động giản đơn giá rẻ, nếu thiếu công nhân thì phải tuyển dụng thêm cấm họ buộc công nhân làm thêm giờ và đòi họ phải trả lương theo hợp đồng thỏa thuận với người lao động? 3. Nông dân khiếu kiện, tự tử và bắt đầu dùng súng! Sau “Đổi mới”, nông dân đã đưa đất nước từ thiếu đói trở thành nước xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới. Nhưng có nghịch lí là từ đó đến nay cuộc sống của nông dân ngày càng khốn khó. Đặc biệt là nông dân vùng đồng bằng sông Cửu long, vựa lúa lớn nhất nước, chưa bao giờ sống khổ như bây giờ: Được mùa rớtt giá, càng làm càng lỗ; mỗi năm buộc phải đóng từ 30 đến 40 loại phí; học vấn thấp nhất; nhắm mắt xếp hàng cho người Đài Loan, Hàn Quốc chọn vợ để cứu gia đình; sang Campuchia bán thân; đóng phí rất nặng để đi xuất khẩu lao động, bị đánh đập, cưỡng hiếp. Mới đây, báo Tuổi Trẻ đăng tình cảnh lao động Việt Nam cư trú bất hợp pháp ở Malaysia phải trốn chui trốn nhũi vô cùng thê thảm. Nhiều năm qua, nông dân bị thu hồi đất không được đền bù thỏa đáng, phải cơm đùn cơm nắm đi khiếu kiện lên quận, rồi lên tỉnh, lên trung ương, nằm chờ chực ngoài vườn hoa, trên vỉa hè và bị đánh đuổi tàn tệ. Cuối cùng tức nước vỡ bờ, nông dân đã nổi dậy, lúc đầu là tự thiêu, tự tử để tỏ sự phẫn uất một cách bất lực, sau đó là nổ súng hoa cải trong vụ nông dân Đoàn Văn Vương để chống lại lệnh cưỡng chế đất ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Tiếp theo đó là những phát súng sát thương của nông dân Đặng Ngọc Viết nhằm vào năm quan chức ở Trung tâm Phát triển Quỹ đất của thành phố Thái Bình vốn không có oán thù với riêng anh mà là để bắn vào chế độ ruộng đất bất công, phi lý, chống lại lợi ích giai cấp nông dân của anh. Từ rất lâu, những nhà khoa học và cán bộ quản lý gắn bó với nông dân đã phát hiện những nguyên nhân chủ yếu nhưng không được Đảng lắng nghe. Gần 20 năm, giáo sư Võ Tòng Xuân nhiều lần lặp đi lặp lại câu hỏi “Bao giờ nông dân mới giàu?” Và ông tự trả lời, nông dân không thể thoát nghèo, bởi đầu ra của hạt lúa bị Hiệp hội Lương thực độc quyền thao túng. Giáo sư Đoàn Thế Tuấn nói: “Nghịch cảnh thay, nông dân từng là quân chủ lực của cách mạng giải phóng dân tộc, cũng là người lặng lẽ âm thầm khởi xướng công cuộc đổi mới, nhưng lại ít được hưởng lợi nhất sau đổi mới!”; Và “nông dân thiếu chủ quyền về đất đai, mất đất mà không có ai bênh vực”. Đáng lo thay, nông dân là bộ phận yếu thế nhất trong xã hội, không có quyền mặc cả trên thị trường, không được tham gia quyết định giá cả nông sản, vì thiếu nghiệp đoàn nông dân. Nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang, ông Nguyễn Minh Nhị phân tích nguyên nhân các chỉ tiêu không đạt được, đã cho rằng: “Nói những điều to tát như tạo nền kinh tế bền vững, tái cấu trúc, tăng GDP không bằng có những chủ trương, quyết sách, hành động sát thực tế để nông dân có đất canh tác, có đời sống ấm no, sung túc bền vững”. Ông phân tích “Thời kháng chiến chúng tôi, những cán bộ, đảng viên cùng với nông dân có chung một lợi ích. Sau khi cầm quyền, chúng tôi với nông dân bắt đầu có sự phân chia, ‘tuy một mà hai’. Sự phân chia dễ thấy là chúng tôi – tức chính quyền – bắt đầu ra lệnh, ngay như tổ chức Đảng, các đoàn thể cũng ra lệnh được. Nông dân từ chỗ là chủ sở hữu đất, chủ sở hữu ruộng, sau khi cải tạo xã hội chủ nghĩa thì đó là sở hữu nhà nước. Có độc lập rồi bỗng dưng mất hết hai cái quyền sống còn là quyền sở hữu ruộng đất và quyền sản xuất. Rồi họ dắt díu nhau lên Sài Gòn, Bình Dương làm công nhân, lại tiếp tục bơ vơ giữa các khu công nghiệp, mất sức với đồng lương bèo bọt…”. Mang nỗi niềm của người mắc nợ nông dân, ông đi Đài Loan, Malaysia, Thái Lan để quan sát và ngạc nhiên kêu lên: “Nhìn cách họ tổ chức sản xuất nông nghiệp mà phát thèm. Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học phối hợp rất chặt chẽ, trong đó nhà nông ở vị trí trung tâm, được nhà nước và doanh nghiệp lo cho từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm. Thái Lan có công ty tổ chức sản xuất nông nghiệp lo cho cả đầu vào cả đầu ra. Chính phủ hỗ trợ chính sách rất rõ ràng”. Tiến sĩ Đặng Kim Sơn Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nông nghiệp cho rằng “nông dân, nông thôn bị lấy đi quá lớn so với được trả lại”. Mới đây, trên báo Nông Nghiệp Việt Nam, nhà văn của nông dân Nguyễn Khắc Trường, tác giả “Mảnh đất lắm người nhiều ma” nổi tiếng, có bài viết về tình trạng nông dân ngày nay. Bài viết có những điểm rất đáng quan tâm: Nông dân xưa chất phác nền nếp lắm. Làng xóm xưa thanh bình lắm. Nông thôn bây giờ chẳng những nghèo về vật chất mà còn nghèo tinh thần. Nay không chỉ có trộm cướp mà còn có người nghiện hút, tình làng nghĩa xóm phai nhạt. Cái gốc của nông dân làm ruộng đất mà giờ người ta không còn yêu quý đất nữa! (thực ra họ không còn yêu đất chỉ vì đất không còn là của họ nữa mà là của toàn dân). Ông so sánh với vài nước xung quanh và cho rằng nông dân Trung Quốc khổ hơn ta, nhà cửa họ lụp xụp hơn, mặt họ sầu não hơn. Nhưng nông dân Thái Lan thì sướng hơn, giầu có hơn nông dân ta. Ông kết luận: “Nói theo nghĩa nào đó nông dân chưa thực sự bước ra khỏi vũng bùn”! Hơn nửa thế kỷ trước, nhà thơ cách mạng Nguyễn Đình Thi đã tự hào viết câu thơ: “Nước Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”! Cớ sau qua 68 năm, đất nước của hơn 90 % nông dân từng rũ bùn đứng dậy sáng lòa, họ lại phải trở lại chìm sâu hơn trong vũng bùn! 4. Khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh thứ hai châu Á! Trong báo cáo chính trị lần thứ 11 có nêu: “Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị”. Tuy nhiên, sau Đại hội Đảng lần thứ 11, khoảng cách giàu nghèo đã tăng tốc. Hai giai cấp lớn của xã hội là công nhân và nông dân chính là nguồn bổ sung cho số người nghèo đang phình to này. Theo Tổng cục Thống kê năm 2008 khoảng cách giàu nghèo là 8,9 lần; năm 2009 tăng lên 9,2 lần. Gần đây báo chí phát hiện nhiều vụ “lương khủng” ở các tập đoàn, công ty nhà nước. Vụ lương khủng ở thành phố Hồ Chí Minh khoảng cách thu nhập của cán bộ lãnh đạo và công nhân hơn 200 lần. Dư luận cho rằng vụ này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Trong những năm kinh tế đất nước sa sút, số người siêu giàu (có tài sản 30 triệu USD) vẫn cứ tăng nhanh: Năm 2010 có 100 người; năm 2011 tăng lên 170 người nhanh thứ hai châu Á. Ngày 15-9- 2013, nhiều tờ báo đưa tin: công ty tư vấn tài sản Wealth-X và ngân hàng Thụy Sĩ UBS cho biết: “Mặc cho nền kinh tế Việt Nam đang lâm vào khó khăn, số người siêu giàu của nước này vẫn tăng gần 15% so với năm trước, từ 170 lên 195 người với tổng tài sản 20 tỉ USD. Trong khi đó Việt Nam có khoảng 8,1 triệu dân nghèo đói phải tìm đến cái chết để thoát khổ đau”. Xin nêu hai trường hợp người nghèo đi tìm cái chết mà nguồn tin trên đã nói đến: Tháng 4-2012, chị Lê Thị Ngọc Nhãn ở khóm 2, phường 1, thành phố Cà Mau, trước khi tự tử đã gửi cho Trung tá Diện bức thư, có đoạn: “Sau khi cháu chết rồi, xin chú giúp cho các con của cháu được vào cô nhi viện. Cháu xin đội ơn chú đời đời”. Tháng 5-2013, chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân, 48 tuổi, ở xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, trước khi treo cổ, đã viết thư gửi chính quyền: “Xin các cấp chính quyền thấu hiểu hoàn cảnh không có lối thoát của gia đình chúng tôi hiện nay, đồng ý cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi có thể sống những ngày còn lại”. 5. Đạo đức xã hội băng hoại chưa từng có Ba năm gần đây, đạo đức tiếp tục băng hoại ngày càng dữ dội! Hàng ngày báo đưa tin chém giết, trộm cướp, cưỡng hiếp xảy ra khắp mọi nơi. Người ta chém giết nhau chỉ vì những lý do lãng xẹt. Đáng lo nhất là tình trạng con cháu đánh đập, chém giết cha mẹ ông bà, anh em, vợ chồng giết nhau. Đinh tặc rải đinh đánh bẫy người đi xe máy, để vá xe, bán ruột, vỏ xe với giá cắt cổ. Những thiếu niên ném đá lên tàu hỏa, lên ô tô như thú vui. Mới đây một nhà phê bình có bài viết tựa đề “Người Việt hung hãn”. Có những hiện tượng bất thường đang nãy sinh: Người ta “tự xử”, bởi không còn tin khả năng quản lý của chính quyền, cũng không tin công lý từ tòa án! bắt được kẻ trộm chó, cả xóm ra tay tự xử bằng gậy gộc. Mới đây, xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang vừa có sáng kiến lập rào làng, làm bốn cổng để chống trộm! Nhà văn Nguyễn Khải người đầu tiên phát hiện tại nói dối đang phát triển trong xã hội. Từ đó đến nay tình trạng nói dối bùng lên như một đại dịch, lan tràn từ trong Đảng tới các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, các đoàn thể, nay nhiễm vào trẻ con. Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu đang diễn ra ở Huế, nhiều tham luận nói về tệ báo cáo láo khiến không thể biết đúng bệnh: nợ xấu bao nhiêu, thất nghiệp bao nhiêu, GDP của các tỉnh có tăng thực vậy không. Một trung tâm xã hội học vừa công bố kết quả điều tra: Trẻ học cấp một có tỉ lệ nói dối là 22 %; trẻ ở cấp hai có tỉ lệ nói dối 50%, cấp ba là 64 %; sinh viên đại học là 80 %. Ta có thể hình dung được, đội ngũ cán bộ tương lai sẽ vượt xa cha anh về tài nói dối! Có người giải thích đây là mặt trái của cơ chế thị trường. Nên nhớ rằng, trước khi thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã từng sống trong cơ chế thị trường. Dân tộc ta nổi tiếng hiền hòa. Ông cha ta từng “lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn”, “lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Thời hai cuộc kháng chiến, nhà nhà đêm không cài cửa, ra ngõ gặp anh hùng. Một dân tộc như vậy, nguyên nhân nào đã biến thành “ra ngõ gặp trộm cướp, giết chóc”? Như vậy, thiết nghĩ nên xem lại phương thức tổ chức quản lý xã hội đang có những gì bất cập so với các nước văn minh? 6. Giáo dục tiếp tục tụt hậu Cách đây 20 năm nền giáo dục Việt Nam đã nhận diện những điểm không bình thường: Trường chuyên, lớp chọn; thi cử phức tạp; nhồi nhét, không chú trọng rèn luyện tư duy sáng tạo; học thuộc lòng các bài mẫu; dạy thêm học thêm lu bù; sách giáo khoa in lại liên tục, nhưng nội dung không đổi mới; chất lượng giáo viên mỗi năm thêm sa sút; lương giáo viên không đủ sống… Có nhiều cấp ủy Đảng chỉ thị ngành giáo dục phải soạn giáo án tuyên truyền chủ trương chính sách: đưa vào chương trình phổ thông 13 luật thuế, luật phòng chống tham nhũng… Nhiều cuộc hội thảo huy động trí tuệ các nhà giáo dục góp ý xây dựng. Nhiều nhà giáo dục giàu tâm huyết và trí tuệ như Hoàng Tụy, Hồ Ngọc Đại, Văn Như Cương… phân tích mổ xẻ ung nhọt của ngành giáo dục, đề xuất nhiều kiến nghị như: Khuyến khích sáng tạo; coi trọng óc tưởng tượng; công bằng, dân chủ trong giáo dục; tôn trọng cá tính học sinh; phổ cập cấp tiểu học, tiến tới trung học và mở cửa đại học; chú trọng bồi dưỡng nhân tài. Tuy nhiên giáo dục cứ như cỗ xe tụt dốc! Dù cho được tăng tỉ lệ đầu tư, nhưng hiệu quả thì xuống thấp. Bằng cấp đại ...
32 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (76) Hồi ký Tống Văn Công Đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Các mạng yêu nước kêu gọi, ngày 9-12-2012 xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Điểm tập họp ở Sài Gòn là sân trước Nhà hát Lớn thành phố. Vợ chồng tôi định đúng 7 giờ sẽ lên xe taxi, đến nơi vừa đúng giờ. Đang chuẩn bị lên đường thì có điện thoại của giáo sư Tương Lai cầu cứu. Ông cho biết, rất nhiều công an không cho xe taxi dừng lại đón ông. Ông đã đi bộ từ khu Mỹ Khánh (giữa con đường Nguyễn Đức Cảnh, quận 7) đến đầu đường Bùi Bằng Đoàn mà không thể gọi chiếc taxi nào ghé vào đón anh. Tôi bảo, anh đừng gọi taxi, vờ như không còn muốn đi nữa. Anh đứng dưới gốc cây bên ngoài Nhà hàng Thái. Vợ chồng tôi sẽ lên chiếc taxi Mai Linh màu xanh, chạy quẹo qua, dừng lại, anh nhanh chóng mở cửa xe, ngồi vào chiếc ghế cạnh tài xế, rồi ta vọt. Giáo sư Tương Lai là thành viên Ban Tư vấn của thủ tướng Võ Văn Kiệt, sau đó là thành viên Viện IDS do giáo sư Hoàng Tụy làm viện trưởng, tiến sĩ Nguyễn Quang A làm tổng thư ký. Ông được Lê Duẩn, Phạm Văn đồng tin cậy, cho nên ông cũng rất kính trọng các vị này. Năm 2015, ông tự xuất bản quyển “Cảm nhận và suy tư” (vì sách không được phép xuất bản). Tôi có bài giới thiệu quyển sách này với tựa đề “Cảm nhận và suy tư của một trí thức cộng sản”, đánh giá rất cao những ý kiến của ông về sự cấp thiết phải đổi mới chính trị, đưa đất nước vào tự do dân chủ. Trong đó, tôi có góp ý với ông đôi điều về đánh giá Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng. Ông băn khoăn về thuật ngữ “làm chủ tập thể” của Lê Duẩn: “Bởi vì nội hàm của thuật ngữ ấy theo chân ngữ thì quá hẹp. Đó là nhược điểm về chọn một thuật ngữ để diễn đạt một quan điểm. Thà chỉ nói ‘làm chủ’ thì rộng hơn”. Tôi đã góp ý với ông: “Đây không phải là nhược điểm về việc chọn thuật ngữ để diễn đạt một quan điểm mà chính là quan điểm của những người tôn thờ chủ nghĩa tập thể, chống lại tự do cá nhân trong Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1879 và Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc năm 1948. Triết gia, nhà văn Ayn Rand trong lời giới thiệu tác phẩm “Cội Nguồn” (Fountainhead) của bà đã viết: “Tất cả các biến thể của chủ nghĩa tập thể thực ra vẫn giữ nguyên những nguyên tắc đạo đức của tôn giáo, có điều họ thay từ chúa bằng từ xã hội”. Hiện nay giáo sư Tương Lai là nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng, sở dĩ công an rình sẵn là vì nhà anh là nơi gặp gỡ những người “tích cực xây dựng Đảng”, “đòi hỏi Đảng phải thực hiện dân chủ hóa” như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Kim Báu, Nguyễn Văn Thôn, Nguyễn Văn Kết, Nguyễn Tiến An, Hạ Đình Nguyên, Kha Lương Ngãi, Lưu Trọng Văn… Nhà anh cũng là nơi anh em gặp nhau cùng thảo luận xây dựng nhiều văn kiện xúc tiến dân chủ như “Kiến nghị xây dựng Hiến pháp dân chủ” (có 72 người ký tên cho nên được gọi là kiến nghị 72), “Thành lập diễn đàn xã hội dân sự”… Trở lại chuyện đi biểu tình. Chúng tôi thực hiện đúng kế hoạch, nhưng xe không thể vọt được. Giáo sư Tương Lai vừa ngồi vào xe thì hàng chục chiếc xe ba bánh của công an vây kín. Công an trên chiếc mô tô áp sát bên tài xế taxi ra lệnh: “Anh chỉ được phép chạy theo chiếc xe công an ở phía trước. Anh liệu hồn, nếu không nghe lời, tôi sẽ lôi anh ra khỏi xe đấy”. Chúng tôi động viên anh taxi: “Đừng sợ, họ chỉ ngăn không cho đi biểu tình, chứ chả dám làm gì mình đâu! Đích đến là Nhà hát Lớn. Cố lên!” Anh taxi rất cố gắng, nhưng không thể nào luồn lách để vượt khỏi hơn 10 chiếc xe công an o ép, bao vây. Cuối cùng, chiếc taxi bị dí phải chui tọt vào trong đồn công an phường Tân Phong. Rất lịch sự, họ mời chúng tôi vào nhà, rồi đưa chúng tôi lên lầu. Chỉ mấy phút sau, bộ máy phục vụ đã bày biện bánh mì, hoa quả, trà, cà phê. Ông Danh phó bí thư Quận 7, ông Hồng chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Quận 7, Đảng ủy hai phường Tân Phong và Tân Kiểng, hai ban chi ủy của hai khu phố nơi tôi và nơi giáo sư Tương Lai cư ngụ. Ông Sơn bí thư chi bộ khu phố của anh Tương Lai đứng lên hùng hồn triết lý về sự sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông nói, do Đảng được trang bị tư tưởng Mác-Lênin và trui rèn suốt quá trình đấu tranh lâu dài… giáo sư Tương Lai quát: “Ông đừng khoác lác những điều cũ rích. Giặt Trung Quốc cướp đảo, cướp biển, bắn giết ngư dân ta, mà ông hùa với bọn coi giặc là đồng minh ý thức hệ. Tôi khinh bọn chúng, tôi khinh ông”. Góp phần ngăn ông bí thư khoe mẽ lý luận, tôi giở “mẹo”: “Ông bạn già ơi, nếu giảng giải lý thuyết Mác-Lênin thì đó là chuyện của chúng tôi, chứ không phải là ông! Ông có biết quyển sách mới nhất về Mác ở Việt Nam là quyển gì không nào? Nhưng thôi, ở đây không phải là trường Đảng, không phải lúc giảng Mác-Lê mà ta đang bàn tại sao cấm biểu tình chống bọn bành trướng Bắc Kinh xâm lược, giết hại ngư dân Việt Nam”. Ông phó bí thư quận ủy được thể lên tiếng: “Đúng, chúng ta tranh luận cao xa làm gì. Đảng ta chỉ thị chưa cần đi biểu tình thì chúng ta bảo nhau chưa đi. Vậy thôi! Bây giờ Quận ủy đã chuẩn bị xe rồi. Chúng tôi xin mời hai đồng chí xuống nhà ra xe, chúng tôi xin đưa các đồng chí về nhà”. Vậy là rất lịch sự, mỗi người chúng tôi được 4 cán bộ đảng hộ tống. Giáo sư Tương Lai khôn khéo hơn tôi, khi về đến nhà, ông mở hé cánh cửa vừa đủ để len vào, rồi đóng sập cửa lại ngay, không cho một ai kịp theo vào. Tôi có tính nể nang để cả bốn ông vào theo: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Quận 7, bí thư Đảng ủy và chủ tịch phường Tân Kiểng, bí thư chi bộ khu phố. Tôi không thể ngờ là họ ngồi trò chuyện mãi cho đến 11 giờ 30, khi đã chắc chắn tôi không còn cơ hội để tiếp tục xuống đường, họ mới ra về. Sau khi họ đã ra về tôi viết bốn câu thơ gửi lên mạng Bô xít kèm mấy lời: “Vì bị giữ ở đồn công an, xin gửi các bạn trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ngày 9-12-2012 bốn câu thơ”. Biển đảo ngoài kia, giặc chiếm rồi. Trong này tham nhũng, giặc song đôi. Cháu con nghe tiếng Vua Hùng gọi. Tay nắm tay đi giữa biển trời. Một chủ nhật sau đó khoảng vài tháng, giáo sư Tương Lai đi biểu tình lại bị hàng chục xe cảnh sát bao vây, anh phải lên gian phòng của tôi ở chung cư ngồi “tị nạn”. Hai chúng tôi uống trà trò chuyện. Đến 11 giờ 30, tôi đưa anh ra cổng tìm xe taxi để về nhà thì thấy nhóm an ninh vẫn còn ngồi chực bên kia đường! Posted on Tháng Một 24, 2019 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2019/01/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-76-di-bieu-tinh-chong-trung-quoc-xam-luoc/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (77): https://www.minds.com/newsfeed/1020255756149641216?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (75): https://www.minds.com/newsfeed/1020246848470945792?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
25 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (75) Hồi ký Tống Văn Công Chúng ta đang khủng hoảng văn hóa I - Vì đâu nên nỗi? Hiện nay, cả xã hội đang hết sức bức xúc trước tình trạng đạo đức băng hoại. Nhà thơ Đỗ Trung Quân viết: “Làm từ thiện cũng thích nói dối; lu loa trên truyền thông với gương mặt của ‘con giả vờ’.” Giáo sư Tương Lai cho rằng quốc nạn tham nhũng và nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng khác không nguy hại bằng thói đạo đức giả. Nhà văn Võ Thị Hảo đi “Tìm thủ phạm ‘ám sát’ văn hiến”, đã nhận diện được: “Với cái quyền trượng trong tay, những người lãnh đạo có thể xây dựng văn hiến, hoặc nhanh chóng ám sát văn hiến”. Mới đây, nhà nghiên cứu Lữ Phương có bài viết “Vì đâu nên nỗi, tác động văn hóa của ‘đổi mới’ xét như một mô thức phát triển”, đã phân tích sâu sắc “cái mô thức mệnh danh đổi mới nói trên rõ ràng đã không còn phù hợp nữa, mô thức đó cũng tạo ra quá nhiều hỗn loạn và mất mát trong lĩnh vực tinh thần, phá vỡ lòng tin của con người về những giá trị nhân văn phổ biến, về niềm tự trọng dân tộc chính đáng, xâm phạm đến lợi ích tối thượng của quốc gia”. Ông cho rằng có thể bị cho là động đến vấn đề nhạy cảm, nhưng nếu không dấy lên được một phản ứng thức tỉnh thì có “nguy cơ rơi vào một hình thức lệ thuộc kiểu thực dân mới nào đó về văn hóa, hoặc một cái gì tương tự tinh vi hơn, không thể loại trừ là không xảy ra”. Nhận thức sự hệ trọng của điều ông cảnh báo, tôi xin hưởng ứng bằng những ghi chép điều mình quan sát được. Nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng văn hóa. “Văn hóa biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, đạo đức, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ. Có thể tìm thấy biểu hiện của văn hóa trong các phương thức và công cụ sản suất, phương thức sở hữu, các thể chế xã hội, phong tục tập quán, giao tiếp giữa người và người, trong trình độ học vấn và khoa học kĩ thuật, công trình độ sáng tạo và thưởng thức văn học nghệ thuật” (Từ điển Bách khoa Việt Nam). Cuộc khủng hoảng văn hóa bắt đầu từ sau ngày thống nhất nước nhà năm 1975, khi mọi người dân thất vọng vì những rao giảng về lý tưởng cao đẹp hòa Bình, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc, hòa giải, hòa hợp dân tộc đã không được thực hiện. Với đường lối tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, nhà nước chuyên chính vô sản đã thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội. Hàng vạn cán binh chế độ Sài Gòn cũng phải tập trung cải tạo. Cuộc xáo động quá lớn đã xua hàng triệu người, từ những nhà tư sản dân tộc, tiểu thương, tiểu chủ, cho đến những người dân cày xưa kia bom đạn không đẩy nổi họ rời mảnh ruộng quê, vậy mà nay cũng kéo nhau ùn ùn vượt biển. Tiếp theo đó, hai cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc, thúc đẩy nhanh cuộc khủng hoảng toàn diện trùm lên đất nước. Các văn kiện của đảng Cộng sản gọi đó là “khủng hoảng kinh tế – xã hội”. Lạm phát ba con số. Cả nước nhai bo bo. Truyện tiếu lâm mới, ca dao mới lan tràn, ông Trần Ta-bit đã sưu tầm thành một tập sách. Xin nhắc lại mấy câu: “Tôn Đản là chợ vua quan. Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần, Bắc Qua là chợ thương nhân, Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.” Và: “Bác Hồ chết nhằm ngày trùng, cho nên con cháu dở khùng dở điên. Thằng khôn thì đã vượt biên, Những thằng ở lại toàn điên với khùng”. Các nhà văn đã sớm thổ lộ tâm tư dằn vặt. Chế Lan Viên nhận rằng niềm tin của mình là “Bánh vẽ”. Nguyễn Đình Thi thấy mình vướng nhiều “Đồ bỏ”. Nhà thơ trẻ Phạm Thị Xuân Khải viết “Mùa xuân nhớ Bác” đăng trên báo Tiền Phong: “Có mắt giả mù, có tai giả điếc. Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung, Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ, Thoái hóa, bê tha khi dân, nước gian nan”. Đại hội 6 của Đảng quyết định “Đổi mới”, bắt đầu là đổi mới tư duy và trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Sau đó, tuy có nói phải đổi mới toàn diện nhưng từ năm 1991 đã bị chựng lại sau khi Liên Xô và Đông âu sụp đổ. Vượt qua những cấm kỵ của nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa (chấp nhận kinh tế thị trường; để nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại; thực hiện khoán 100 trong nông nghiệp…) nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, phát triển nhanh chóng. Nhân dân vui mừng, phấn khởi. Nhưng do đổi mới không đồng bộ, cho nên các căn bệnh của khủng hoảng văn hóa vẫn âm ỉ không hề dứt. Chính trị chậm đổi mới, mâu thuẫn tăng lên, khiến cho khủng hoảng văn hóa bùng phát. Tham nhũng từ là “quốc nạn” đã trở thành “ung thư”. Lý tưởng xã hội chủ nghĩa làm bình phong cho “lý tưởng kiếm tiền”. “Mình vì mọi người” trở thành “tất cả vì mình”. Niềm tin giả vờ. Dân chủ, tự do, công bằng cũng đều là thứ ngụy tạo. Đầy tớ của nhân dân là những kẻ hành dân. Một dân tộc từng có câu châm ngôn cao cả “Thương người như thể thương thân”, nhưng tháng 9 năm 2010, Quỹ Từ thiện Anh và Viện Gallup xếp hạng chỉ số thiện nguyện của Việt Nam đứng hạng thứ 138 trên 153 quốc gia (vẫn còn vinh dự là đứng trên nước Trung Hoa của hiền triết Khổng Khâu từng dạy lấy chữ nhẫn làm đầu)! Sau vụ buôn lậu, ăn cắp của nhân viên Việt Nam Airlines, người Nhật chửi rủa người Việt Nam là “bọn dòi bọ”. Các nhà hàng Singapore ở phòng ăn buffet chỉ thông báo bằng tiếng Việt: “Xin lấy thức ăn vừa đủ”! Bạn bè Nhật Bản và khách nước ngoài đã từng chứng kiến những người Việt Nam lao vào giành giật, giẫm đạp nhau, gây ra “thảm họa hoa anh đào”. Sau lễ hội 1000 năm Thăng Long, khắp Hà Nội là những bãi rác khổng lồ, nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Không khác nhau giữa cái diêm dúa, phô trương, ồn ĩ, xa xỉ, phản cảm, cả vô cảm nữa (trước đại lũ miền Trung) của lễ hội… với cái bừa bãi xấu xa đáng buồn ngay sau lễ hội. Cái này chỉ là tiếp tục luôn logic của cái kia”. Nhà thơ Trần Ái Vân viết về sa đọa đạo đức: “Thời buổi thế này là thế nào hả trời, Làm xịt lốp xe, định rải đầy đường sá. Giữa phố đông, người rạch mặt người. Khách tàu hỏa tha hồ ăn đá.” … “Đến cục cứt cũng là cứt rởm. Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra. Thời buổi thế này là thế nào hả trời, Trò giữa lớp phang thầy; Con nên cha trước bàn thờ tổ” … “Xương trâu bò thế xương liệt sĩ Trâu bò lên ngôi Tổ quốc ghi công” Một số người lo lắng: “Vô đạo đức đang trở thành dân tộc tính”. Tháng 9 năm 2010, trong lễ trao giải cuộc thi “Văn học tuổi 20” ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn trẻ Hải Miên đoạt giải ba, đã phát biểu như sau: “Chúng ta đang sống trong một thời đại đổ vỡ, nơi khủng hoảng những giá trị, những niềm tin va đập không ngừng, cùng những cách nhìn về xã hội Việt Nam trong giai đoạn những giá trị chuẩn mực thì đã cũ, còn những giá trị mới thì chưa hình thành. Sống trong giai đoạn như thế đôi khi có cảm giác không còn điều gì thiêng liêng, nguyên vẹn và có cảm giác đau đớn. Tôi nương vào chữ để mở cửa thoát hiểm cho mình”. Có lẽ đó cũng là tâm trạng của số đông người trẻ tuổi Việt Nam có tri thức, có lương tri. Tại sao người Việt Nam sa đọa đến như vậy? Engels trong lời tựa cho Bản Tuyên ngôn của đảng Cộng sản xuất bản bằng tiếng Đức năm 1883, đã viết: “Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của bản Tuyên ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”. Nhiều luận điểm trong Tuyên ngôn, sau đó chính Marx và Engels cho rằng đã lỗi thời, tuy nhiên cái tư tưởng cơ bản nói trên vẫn còn nguyên giá trị, nó cho ta hiểu rằng, nên kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu xã hội tương ứng. Nếu nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung tương thích với cơ cấu chính trị chuyên chính vô sản, nhà nước toàn trị, thì nên kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhà nước pháp quyền (với tam quyền phân lập chứ không phải quyền lực thống nhất, phân công ba quyền, dưới sự lãnh đạo của đảng), phải xây dựng xã hội công dân, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền. Do cố giữ những điều phi lý, cố tìm đường đi “chưa từng có tiền lệ” mà lớp trẻ thông minh, có học, nhận ra những điều nhà cầm quyền cho rằng thiêng liêng cao cả, khi đặt vào thực tế cuộc sống sẽ hiện ra là giả dối. Giáo sư Tương Lai chỉ mới nói tới cái giả dối “thứ cấp”, chứ chưa phải cái gốc, mẹ đẻ của mọi thứ giả dối. Đó là: – Nói chúng ta kiên trì chủ nghĩa xã hội, nhưng ai cũng thấy chủ nghĩa tư bản hoang dã đang lồ lộ, ngang nhiên. – Nói giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, nhưng chính người công nhân cũng không thể tin được, bởi vì họ nhận rất rõ thân phận mình, đi tìm nơi xin được việc làm đã khó, khi có việc làm rồi thì nhận đồng lương chết đói, muốn đình công để đòi hỏi quyền lợi thì không thấy một tổ chức đủ tin cậy để mà gửi gấm, tự tổ chức đình công bị coi là bất hợp pháp! – Nói đảng viên là những người lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ, nhưng sờ sờ trước mặt nhân dân là họ vui trong nhà chưa đủ, còn vui thâu đêm ở các nhà hàng bia ôm. Có lẽ người nói về cái giả dối “gốc” sâu sắc nhất là nhà văn Nguyễn Khải, Đảng viên sáu mươi tuổi đảng, nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu, trong tùy bút chính trị cuối cùng “Đi tìm cái tôi đã mất”: “Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì, vì không một ai tin, nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người làm chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước đi lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ, vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai họa, nên không hỏi gì cũng là một cách giữ mình”. Làm gì để không còn những cái giả dối mà nhà văn Nguyễn Khải đã nhận ra? II - Không phải lủng củng mà là đặt chính trị trùm lên văn hoá. Ông Trần Trọng Tân, nguyên trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 8-10-2010, có bài viết trên Tuần Việt Nam: “Định nghĩa văn hóa trong dự thảo Cương Lĩnh lủng củng của ông nhắc lại Nghị quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa 8, ngày 16-7-1998 định nghĩa nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung: “Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và phát triển phong phú, tự do và toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong cái phương tiện truyền tải nội dung” “… Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.” Ông Trần Trọng Tân cho rằng nền văn hóa Việt Nam ở thời nào cũng có tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của thời ấy, không phải đến văn hóa xã hội chủ nghĩa mới mang tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Ông đề nghị gọi tên là nền văn hóa Việt Nam vì độc lập tự do hạnh phúc, vì hòa bình hữu nghị. Vấn đề không đơn giản như ông nghĩ. Năm 1943, ông Trường Chinh viết “Đề cương văn hóa Việt Nam”, đưa ra nội dung dân tộc, khoa học, đại chúng dựa theo Mao Trạch Đông thời Diên An, đề cao văn hóa công nông, tức là văn hóa phải có tính giai cấp. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi viết chung quyển “Một nền văn hóa mới” tuy dựa vào “Đề cương văn hóa” của Trường Chinh, nhưng dẫn giải không quá nặng ý thức hệ: “… Nhà ở mới, cách ăn mặc mới sẽ sửa đổi cho giản dị và hợp vệ sinh mà không mất vẻ đẹp riêng của dân tộc. Ngôn ngữ mới, cử chỉ mới sẽ biểu lộ một tinh thần tự cường và trọng bình đẳng, tự do mà không kém vẻ thanh nhã. Xã giao mới sẽ giản dị hơn, thành thực hơn. Lễ nghi mới trong nhà hay ngoài xã hội cũng sẽ trang nghiêm hơn, sơ sài hơn, mạnh mẽ hơn, có ý nghĩa hơn và hợp với điều kiện sinh hoạt mới hơn …” Nội dung nền văn hóa mới tuy do hai nhà lãnh đạo văn hóa thời ấy viết ra, nhưng không được coi là tiếng nói chính thức của Đảng và nó chưa thực hiện được bao nhiêu thì tiếng súng kháng chiến đã nổ. Năm 1948, tại Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ 2, thành lập Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam, ông Trường Chinh đã đọc bài diễn văn có tựa đề “Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hóa Việt Nam” đặt yêu cầu chính trị bao trùm lên nền văn hoá. Từ năm 1950 trở đi những nguyên lý văn hóa vô sản dần dần chi phối nền văn hóa Việt Nam. Theo hai quyển hồi ký của nhà văn Võ Văn Trực (“Chuyện là ngày ấy” và “Cọng rêu dưới đáy ao”) thì ở Nghệ An quê ông, người ta phá đình chùa, tập thể hóa cả mồ mã ông bà, sửa đổi phong tục tập quán bị coi là hủ lậu. Ở các vùng khác chưa ai viết ra, nhưng nói chung cũng na ná như vậy. Đến sau 1975, những người lãnh đạo văn hóa ở Thừa Thiên Huế còn dùng nội cung cố đô Huế làm kho giấy và cho phá bỏ Đàn Nam Giao khiến lòng dân bức xúc có nhiều câu ca dao phản đối. Sau đổi mới, với chủ trương khôi phục cơ chế thị trường, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân đã đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và phát triển vượt bậc. Tuy nhiên tự do kinh tế làm cho nền chính trị chậm đổi mới ngày càng bộc lộ những bất cập kéo theo những bất cập về văn hóa, giáo dục. Năm 1992, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang, trong bài “Nhìn nhận thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay” đã viết: “Cuối cùng, còn một đặc trưng hết sức quan trọng nữa của khủng hoảng văn hóa ở nước ta hiện nay (nói là cuối cùng, nhưng về ý nghĩa lại đứng hàng đầu). Đó là sự hòa lẫn văn hóa và chính trị, trong đó chính trị vừa trực tiếp quyết định văn hóa, vừa bao trùm lên cả văn hóa. Trong các xã hội công dân, chính trị chỉ là một lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ tác động đến các quan hệ giữa nhà nước và người dân. Các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chịu ảnh hưởng của chính trị đến một mức độ nào đó, và đến lượt chúng lại tác động ngược lại đối với chính trị, nhưng mỗi lĩnh vực lại có tính độc lập riêng. Đặc biệt văn hóa là lĩnh vực có tính độc lập cao hơn cả. Nhưng trong xã hội nước ta, văn hóa phụ thuộc hoàn toàn, hoặc gần như hoàn toàn vào chính trị. Nói như vậy có nghĩa là khủng hoảng văn hóa không tách rời khỏi đời sống chính trị của xã hội. Chúng tôi không bàn tới tất cả những vấn đề có liên quan tới mối quan hệ này, mà chỉ nêu bật lên một điểm: Hệ tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản từ lâu đã được nhiều người coi là giá trị chính thống của mình, nó đảm nhận vai trò chất kết dính xã hội, thống nhất xã hội trong một thời gian tương đối dài, nhất là trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hệ tư tưởng đó cũng đang khủng hoảng sâu sắc trước những chuyển biến sâu sắc của xã hội”. Thực trạng văn hóa Việt Nam theo nhận xét của Nguyễn Kiến Giang 18 năm trước đã không thay đổi đáng kể, bởi định nghĩa từ Nghị quyết 5, cũng như cách lãnh đạo văn hoá mà ông Trần Trọng Tân nhắc lại với ý không đồng tình, vẫn không có gì đổi khác. Vậy nền văn hóa xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm gì khiến cho nó không tương thích với cuộc sống của một xã hội đổi mới và hội nhập quốc tế? 1 - Đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống dân tộc. Có lẽ điều này bắt nguồn từ sự vận dụng lý luận kinh điển. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, trả lời câu hỏi vì sao chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ tôn giáo và đạo đức cũ, Marx và Engels viết: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền; không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Gia đình to (cả nước) và gia đình nhỏ: Cái nào nặng? Cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to”. Trước khi tiến hành một đợt “hành động cách mạng”, các cán bộ đảng và các đoàn thể tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục làm cho nhân dân tin rằng: thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, bảo vệ lợi ích của giai cấp là đạo đức thiêng liêng cao cả nhất, tình cảm gia đình, thậm chí là tình mẫu tử, phụ tử đều phải đặt xuống dưới. Đó là nguyên nhân xảy ra con tố cha, vợ tố chồng trong cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp. Khuyến khích việc “tố” như thế chẳng những trái luân thường, mà sau này còn được biết là do quá khiếp sợ, muốn tâng công với chế độ, họ bịa chuyện vu khống người ruột thịt của mình. Nói dối ở trường hợp này đồng nghĩa với tội ác. Trong nhiều tác phẩm văn học cũng thể hiện quan điểm đó. Kịch bản Lê Văn Tám đốt kho xăng miêu tả Lê Văn Tám lân la cầu thân với lính gác kho, dần dà được họ tinh yêu như con em. Lợi dụng sự tin cậy của các chú lính, Tám dễ dàng xâm nhập đốt kho xăng. Gần đây, bộ phim truyền hình “Cuồng phong” có chủ đề chống tội phạm buôn ma túy. Trong phim, công an đã giác ngộ cô Phượng nhận thức được việc buôn ma túy là tội ác, sau đó giao cho cô nhiệm vụ theo dõi, gài bẫy người bạn đồng hương muốn giúp đỡ cô có tiền giúp mẹ bằng việc buôn ma túy và theo dõi tố giác người tình rất yêu cô là một tay buôn ma túy. Để tồn tại trong một chế độ đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống, người ta phải khai man lý lịch, mang một cái mặt nạ lập trường giai cấp để che giấu suy nghĩ thực. 2 - Văn hóa xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa Mác-Lênin thành chân lý độc tôn Tự do tư tưởng chỉ được phép trong vùng soi chiếu của quan điểm Mác-Lênin. Mọi tư tưởng khác với nó đều là thù địch. Phân biệt ranh giới tư tưởng thù địch rất khó, do vậy mà nhiều ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc lần lượt bị trở thành kẻ thù của cách mạng và bị giết. Nhiều đảng viên Cộng sản cấp cao ở Việt Nam bị quy là “bọn chống Đảng”, bị tù tội cũng chỉ vì có mấy ý kiến khác nghị quyết của Đảng. Đó là nguyên nhân khiến nhiều đảng viên cán bộ không dám nói thật ý mình, nghĩ một đàng nói một nẻo, báo cáo láo. Ông Hoàng Minh, chủ tịch Công đoàn Quận 11, một đảng viên có công thời chống Mỹ, luôn luôn được đánh giá bốn tốt, bỗng bị phát hiện trước khi tham gia cách mạng ông có theo đạo Hồi mà không khai trong lý lịch. Ông bị đuổi ra khỏi Đảng và cho về hưu. Độc tôn tư tưởng rất trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, luôn luôn rộng mở đối với mọi tư tưởng, tôn giáo. Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo được người Việt Nam đón nhận, hợp lưu, hòa đồng, biến những điều tích cực trở thành yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc. Người Việt gọi là tam giáo đồng nguyên. Đạo Cao Đài còn thoáng hơn, thờ tất cả danh nhân văn hóa thế giới. Chủ nghĩa độc tôn tư tưởng gây ra tệ giáo điều nghiêm trọng và làm cho con người trở thành thụ động, ỷ lại, thiếu sáng tạo. Đó là nguyên nhân đưa tới chủ trương chống tự diễn biến, cản trở sự đổi mới của Đảng, kéo theo sự trì trệ của nhiều ngành, giáo dục, văn học, nghệ thuật… 3 - Văn hóa xã hội chủ nghĩa đề cao tuyệt đối chủ nghĩa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ và triệt để xóa bỏ Bảo vệ lợi ích cá nhân bị coi là vị kỷ, là xấu, cho nên nguyện vọng được hưởng thụ lợi ích chính đáng của cá nhân mình cũng luôn phải che giấu. Con người phải sống hai mặt, bên ngoài thì ca ngợi tập thể, bên trong thì toan tính cho riêng mình. Các quyền con người đều là quyền của tập thể chứ không phải của cá nhân. Quyền tự do báo chí là quyền của đoàn thể được ra báo. Quyền hội họp là quyền của các đoàn thể đã được cho phép thành lập và chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Các đoàn thể ở chế độ xã hội chủ nghĩa không phải là tổ chức dân sự, phi chính phủ (NGO) mà là tổ chức chính trị, những cánh tay nối dài của Đảng. Các đoàn thể này có chức năng tổ chức những phong trào thực hiện nghị quyết của Đảng như phong trào thi đua tập thể, phong trào xây dựng khu phố văn hóa, phong trào dạy tốt, học tốt… Những phong trào này là nguồn sản xuất ra những báo cáo láo, tô vẽ những điển hình theo khẩu vị cấp trên. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” làm cho mọi sai lầm, thất thoát không thể quy trách nhiệm cho ai. Nạn hội họp lu bù chính là con đẻ của nguyên tắc trách nhiệm tập thể, vì cần phải họp để có quyết định của tập thể, mai sau hư hại không ai bị kỷ luật hoặc phải ra tòa. Vụ Vinashin không thể tìm ra người chịu trách nhiệm chí...
22 views ·