ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (75) Hồi ký Tống Văn Công Chúng ta đang khủng hoảng văn hóa I - Vì đâu nên nỗi? Hiện nay, cả xã hội đang hết sức bức xúc trước tình trạng đạo đức băng hoại. Nhà thơ Đỗ Trung Quân viết: “Làm từ thiện cũng thích nói dối; lu loa trên truyền thông với gương mặt của ‘con giả vờ’.” Giáo sư Tương Lai cho rằng quốc nạn tham nhũng và nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng khác không nguy hại bằng thói đạo đức giả. Nhà văn Võ Thị Hảo đi “Tìm thủ phạm ‘ám sát’ văn hiến”, đã nhận diện được: “Với cái quyền trượng trong tay, những người lãnh đạo có thể xây dựng văn hiến, hoặc nhanh chóng ám sát văn hiến”. Mới đây, nhà nghiên cứu Lữ Phương có bài viết “Vì đâu nên nỗi, tác động văn hóa của ‘đổi mới’ xét như một mô thức phát triển”, đã phân tích sâu sắc “cái mô thức mệnh danh đổi mới nói trên rõ ràng đã không còn phù hợp nữa, mô thức đó cũng tạo ra quá nhiều hỗn loạn và mất mát trong lĩnh vực tinh thần, phá vỡ lòng tin của con người về những giá trị nhân văn phổ biến, về niềm tự trọng dân tộc chính đáng, xâm phạm đến lợi ích tối thượng của quốc gia”. Ông cho rằng có thể bị cho là động đến vấn đề nhạy cảm, nhưng nếu không dấy lên được một phản ứng thức tỉnh thì có “nguy cơ rơi vào một hình thức lệ thuộc kiểu thực dân mới nào đó về văn hóa, hoặc một cái gì tương tự tinh vi hơn, không thể loại trừ là không xảy ra”. Nhận thức sự hệ trọng của điều ông cảnh báo, tôi xin hưởng ứng bằng những ghi chép điều mình quan sát được. Nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng văn hóa. “Văn hóa biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, đạo đức, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ. Có thể tìm thấy biểu hiện của văn hóa trong các phương thức và công cụ sản suất, phương thức sở hữu, các thể chế xã hội, phong tục tập quán, giao tiếp giữa người và người, trong trình độ học vấn và khoa học kĩ thuật, công trình độ sáng tạo và thưởng thức văn học nghệ thuật” (Từ điển Bách khoa Việt Nam). Cuộc khủng hoảng văn hóa bắt đầu từ sau ngày thống nhất nước nhà năm 1975, khi mọi người dân thất vọng vì những rao giảng về lý tưởng cao đẹp hòa Bình, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc, hòa giải, hòa hợp dân tộc đã không được thực hiện. Với đường lối tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, nhà nước chuyên chính vô sản đã thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội. Hàng vạn cán binh chế độ Sài Gòn cũng phải tập trung cải tạo. Cuộc xáo động quá lớn đã xua hàng triệu người, từ những nhà tư sản dân tộc, tiểu thương, tiểu chủ, cho đến những người dân cày xưa kia bom đạn không đẩy nổi họ rời mảnh ruộng quê, vậy mà nay cũng kéo nhau ùn ùn vượt biển. Tiếp theo đó, hai cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc, thúc đẩy nhanh cuộc khủng hoảng toàn diện trùm lên đất nước. Các văn kiện của đảng Cộng sản gọi đó là “khủng hoảng kinh tế – xã hội”. Lạm phát ba con số. Cả nước nhai bo bo. Truyện tiếu lâm mới, ca dao mới lan tràn, ông Trần Ta-bit đã sưu tầm thành một tập sách. Xin nhắc lại mấy câu: “Tôn Đản là chợ vua quan. Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần, Bắc Qua là chợ thương nhân, Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.” Và: “Bác Hồ chết nhằm ngày trùng, cho nên con cháu dở khùng dở điên. Thằng khôn thì đã vượt biên, Những thằng ở lại toàn điên với khùng”. Các nhà văn đã sớm thổ lộ tâm tư dằn vặt. Chế Lan Viên nhận rằng niềm tin của mình là “Bánh vẽ”. Nguyễn Đình Thi thấy mình vướng nhiều “Đồ bỏ”. Nhà thơ trẻ Phạm Thị Xuân Khải viết “Mùa xuân nhớ Bác” đăng trên báo Tiền Phong: “Có mắt giả mù, có tai giả điếc. Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung, Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ, Thoái hóa, bê tha khi dân, nước gian nan”. Đại hội 6 của Đảng quyết định “Đổi mới”, bắt đầu là đổi mới tư duy và trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Sau đó, tuy có nói phải đổi mới toàn diện nhưng từ năm 1991 đã bị chựng lại sau khi Liên Xô và Đông âu sụp đổ. Vượt qua những cấm kỵ của nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa (chấp nhận kinh tế thị trường; để nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại; thực hiện khoán 100 trong nông nghiệp…) nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, phát triển nhanh chóng. Nhân dân vui mừng, phấn khởi. Nhưng do đổi mới không đồng bộ, cho nên các căn bệnh của khủng hoảng văn hóa vẫn âm ỉ không hề dứt. Chính trị chậm đổi mới, mâu thuẫn tăng lên, khiến cho khủng hoảng văn hóa bùng phát. Tham nhũng từ là “quốc nạn” đã trở thành “ung thư”. Lý tưởng xã hội chủ nghĩa làm bình phong cho “lý tưởng kiếm tiền”. “Mình vì mọi người” trở thành “tất cả vì mình”. Niềm tin giả vờ. Dân chủ, tự do, công bằng cũng đều là thứ ngụy tạo. Đầy tớ của nhân dân là những kẻ hành dân. Một dân tộc từng có câu châm ngôn cao cả “Thương người như thể thương thân”, nhưng tháng 9 năm 2010, Quỹ Từ thiện Anh và Viện Gallup xếp hạng chỉ số thiện nguyện của Việt Nam đứng hạng thứ 138 trên 153 quốc gia (vẫn còn vinh dự là đứng trên nước Trung Hoa của hiền triết Khổng Khâu từng dạy lấy chữ nhẫn làm đầu)! Sau vụ buôn lậu, ăn cắp của nhân viên Việt Nam Airlines, người Nhật chửi rủa người Việt Nam là “bọn dòi bọ”. Các nhà hàng Singapore ở phòng ăn buffet chỉ thông báo bằng tiếng Việt: “Xin lấy thức ăn vừa đủ”! Bạn bè Nhật Bản và khách nước ngoài đã từng chứng kiến những người Việt Nam lao vào giành giật, giẫm đạp nhau, gây ra “thảm họa hoa anh đào”. Sau lễ hội 1000 năm Thăng Long, khắp Hà Nội là những bãi rác khổng lồ, nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Không khác nhau giữa cái diêm dúa, phô trương, ồn ĩ, xa xỉ, phản cảm, cả vô cảm nữa (trước đại lũ miền Trung) của lễ hội… với cái bừa bãi xấu xa đáng buồn ngay sau lễ hội. Cái này chỉ là tiếp tục luôn logic của cái kia”. Nhà thơ Trần Ái Vân viết về sa đọa đạo đức: “Thời buổi thế này là thế nào hả trời, Làm xịt lốp xe, định rải đầy đường sá. Giữa phố đông, người rạch mặt người. Khách tàu hỏa tha hồ ăn đá.” … “Đến cục cứt cũng là cứt rởm. Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra. Thời buổi thế này là thế nào hả trời, Trò giữa lớp phang thầy; Con nên cha trước bàn thờ tổ” … “Xương trâu bò thế xương liệt sĩ Trâu bò lên ngôi Tổ quốc ghi công” Một số người lo lắng: “Vô đạo đức đang trở thành dân tộc tính”. Tháng 9 năm 2010, trong lễ trao giải cuộc thi “Văn học tuổi 20” ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn trẻ Hải Miên đoạt giải ba, đã phát biểu như sau: “Chúng ta đang sống trong một thời đại đổ vỡ, nơi khủng hoảng những giá trị, những niềm tin va đập không ngừng, cùng những cách nhìn về xã hội Việt Nam trong giai đoạn những giá trị chuẩn mực thì đã cũ, còn những giá trị mới thì chưa hình thành. Sống trong giai đoạn như thế đôi khi có cảm giác không còn điều gì thiêng liêng, nguyên vẹn và có cảm giác đau đớn. Tôi nương vào chữ để mở cửa thoát hiểm cho mình”. Có lẽ đó cũng là tâm trạng của số đông người trẻ tuổi Việt Nam có tri thức, có lương tri. Tại sao người Việt Nam sa đọa đến như vậy? Engels trong lời tựa cho Bản Tuyên ngôn của đảng Cộng sản xuất bản bằng tiếng Đức năm 1883, đã viết: “Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của bản Tuyên ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”. Nhiều luận điểm trong Tuyên ngôn, sau đó chính Marx và Engels cho rằng đã lỗi thời, tuy nhiên cái tư tưởng cơ bản nói trên vẫn còn nguyên giá trị, nó cho ta hiểu rằng, nên kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu xã hội tương ứng. Nếu nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung tương thích với cơ cấu chính trị chuyên chính vô sản, nhà nước toàn trị, thì nên kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhà nước pháp quyền (với tam quyền phân lập chứ không phải quyền lực thống nhất, phân công ba quyền, dưới sự lãnh đạo của đảng), phải xây dựng xã hội công dân, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền. Do cố giữ những điều phi lý, cố tìm đường đi “chưa từng có tiền lệ” mà lớp trẻ thông minh, có học, nhận ra những điều nhà cầm quyền cho rằng thiêng liêng cao cả, khi đặt vào thực tế cuộc sống sẽ hiện ra là giả dối. Giáo sư Tương Lai chỉ mới nói tới cái giả dối “thứ cấp”, chứ chưa phải cái gốc, mẹ đẻ của mọi thứ giả dối. Đó là: – Nói chúng ta kiên trì chủ nghĩa xã hội, nhưng ai cũng thấy chủ nghĩa tư bản hoang dã đang lồ lộ, ngang nhiên. – Nói giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, nhưng chính người công nhân cũng không thể tin được, bởi vì họ nhận rất rõ thân phận mình, đi tìm nơi xin được việc làm đã khó, khi có việc làm rồi thì nhận đồng lương chết đói, muốn đình công để đòi hỏi quyền lợi thì không thấy một tổ chức đủ tin cậy để mà gửi gấm, tự tổ chức đình công bị coi là bất hợp pháp! – Nói đảng viên là những người lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ, nhưng sờ sờ trước mặt nhân dân là họ vui trong nhà chưa đủ, còn vui thâu đêm ở các nhà hàng bia ôm. Có lẽ người nói về cái giả dối “gốc” sâu sắc nhất là nhà văn Nguyễn Khải, Đảng viên sáu mươi tuổi đảng, nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu, trong tùy bút chính trị cuối cùng “Đi tìm cái tôi đã mất”: “Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì, vì không một ai tin, nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người làm chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước đi lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ, vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai họa, nên không hỏi gì cũng là một cách giữ mình”. Làm gì để không còn những cái giả dối mà nhà văn Nguyễn Khải đã nhận ra? II - Không phải lủng củng mà là đặt chính trị trùm lên văn hoá. Ông Trần Trọng Tân, nguyên trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 8-10-2010, có bài viết trên Tuần Việt Nam: “Định nghĩa văn hóa trong dự thảo Cương Lĩnh lủng củng của ông nhắc lại Nghị quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa 8, ngày 16-7-1998 định nghĩa nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung: “Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và phát triển phong phú, tự do và toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong cái phương tiện truyền tải nội dung” “… Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.” Ông Trần Trọng Tân cho rằng nền văn hóa Việt Nam ở thời nào cũng có tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của thời ấy, không phải đến văn hóa xã hội chủ nghĩa mới mang tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Ông đề nghị gọi tên là nền văn hóa Việt Nam vì độc lập tự do hạnh phúc, vì hòa bình hữu nghị. Vấn đề không đơn giản như ông nghĩ. Năm 1943, ông Trường Chinh viết “Đề cương văn hóa Việt Nam”, đưa ra nội dung dân tộc, khoa học, đại chúng dựa theo Mao Trạch Đông thời Diên An, đề cao văn hóa công nông, tức là văn hóa phải có tính giai cấp. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi viết chung quyển “Một nền văn hóa mới” tuy dựa vào “Đề cương văn hóa” của Trường Chinh, nhưng dẫn giải không quá nặng ý thức hệ: “… Nhà ở mới, cách ăn mặc mới sẽ sửa đổi cho giản dị và hợp vệ sinh mà không mất vẻ đẹp riêng của dân tộc. Ngôn ngữ mới, cử chỉ mới sẽ biểu lộ một tinh thần tự cường và trọng bình đẳng, tự do mà không kém vẻ thanh nhã. Xã giao mới sẽ giản dị hơn, thành thực hơn. Lễ nghi mới trong nhà hay ngoài xã hội cũng sẽ trang nghiêm hơn, sơ sài hơn, mạnh mẽ hơn, có ý nghĩa hơn và hợp với điều kiện sinh hoạt mới hơn …” Nội dung nền văn hóa mới tuy do hai nhà lãnh đạo văn hóa thời ấy viết ra, nhưng không được coi là tiếng nói chính thức của Đảng và nó chưa thực hiện được bao nhiêu thì tiếng súng kháng chiến đã nổ. Năm 1948, tại Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ 2, thành lập Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam, ông Trường Chinh đã đọc bài diễn văn có tựa đề “Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hóa Việt Nam” đặt yêu cầu chính trị bao trùm lên nền văn hoá. Từ năm 1950 trở đi những nguyên lý văn hóa vô sản dần dần chi phối nền văn hóa Việt Nam. Theo hai quyển hồi ký của nhà văn Võ Văn Trực (“Chuyện là ngày ấy” và “Cọng rêu dưới đáy ao”) thì ở Nghệ An quê ông, người ta phá đình chùa, tập thể hóa cả mồ mã ông bà, sửa đổi phong tục tập quán bị coi là hủ lậu. Ở các vùng khác chưa ai viết ra, nhưng nói chung cũng na ná như vậy. Đến sau 1975, những người lãnh đạo văn hóa ở Thừa Thiên Huế còn dùng nội cung cố đô Huế làm kho giấy và cho phá bỏ Đàn Nam Giao khiến lòng dân bức xúc có nhiều câu ca dao phản đối. Sau đổi mới, với chủ trương khôi phục cơ chế thị trường, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân đã đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và phát triển vượt bậc. Tuy nhiên tự do kinh tế làm cho nền chính trị chậm đổi mới ngày càng bộc lộ những bất cập kéo theo những bất cập về văn hóa, giáo dục. Năm 1992, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang, trong bài “Nhìn nhận thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay” đã viết: “Cuối cùng, còn một đặc trưng hết sức quan trọng nữa của khủng hoảng văn hóa ở nước ta hiện nay (nói là cuối cùng, nhưng về ý nghĩa lại đứng hàng đầu). Đó là sự hòa lẫn văn hóa và chính trị, trong đó chính trị vừa trực tiếp quyết định văn hóa, vừa bao trùm lên cả văn hóa. Trong các xã hội công dân, chính trị chỉ là một lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ tác động đến các quan hệ giữa nhà nước và người dân. Các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chịu ảnh hưởng của chính trị đến một mức độ nào đó, và đến lượt chúng lại tác động ngược lại đối với chính trị, nhưng mỗi lĩnh vực lại có tính độc lập riêng. Đặc biệt văn hóa là lĩnh vực có tính độc lập cao hơn cả. Nhưng trong xã hội nước ta, văn hóa phụ thuộc hoàn toàn, hoặc gần như hoàn toàn vào chính trị. Nói như vậy có nghĩa là khủng hoảng văn hóa không tách rời khỏi đời sống chính trị của xã hội. Chúng tôi không bàn tới tất cả những vấn đề có liên quan tới mối quan hệ này, mà chỉ nêu bật lên một điểm: Hệ tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản từ lâu đã được nhiều người coi là giá trị chính thống của mình, nó đảm nhận vai trò chất kết dính xã hội, thống nhất xã hội trong một thời gian tương đối dài, nhất là trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hệ tư tưởng đó cũng đang khủng hoảng sâu sắc trước những chuyển biến sâu sắc của xã hội”. Thực trạng văn hóa Việt Nam theo nhận xét của Nguyễn Kiến Giang 18 năm trước đã không thay đổi đáng kể, bởi định nghĩa từ Nghị quyết 5, cũng như cách lãnh đạo văn hoá mà ông Trần Trọng Tân nhắc lại với ý không đồng tình, vẫn không có gì đổi khác. Vậy nền văn hóa xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm gì khiến cho nó không tương thích với cuộc sống của một xã hội đổi mới và hội nhập quốc tế? 1 - Đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống dân tộc. Có lẽ điều này bắt nguồn từ sự vận dụng lý luận kinh điển. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, trả lời câu hỏi vì sao chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ tôn giáo và đạo đức cũ, Marx và Engels viết: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền; không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Gia đình to (cả nước) và gia đình nhỏ: Cái nào nặng? Cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to”. Trước khi tiến hành một đợt “hành động cách mạng”, các cán bộ đảng và các đoàn thể tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục làm cho nhân dân tin rằng: thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, bảo vệ lợi ích của giai cấp là đạo đức thiêng liêng cao cả nhất, tình cảm gia đình, thậm chí là tình mẫu tử, phụ tử đều phải đặt xuống dưới. Đó là nguyên nhân xảy ra con tố cha, vợ tố chồng trong cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp. Khuyến khích việc “tố” như thế chẳng những trái luân thường, mà sau này còn được biết là do quá khiếp sợ, muốn tâng công với chế độ, họ bịa chuyện vu khống người ruột thịt của mình. Nói dối ở trường hợp này đồng nghĩa với tội ác. Trong nhiều tác phẩm văn học cũng thể hiện quan điểm đó. Kịch bản Lê Văn Tám đốt kho xăng miêu tả Lê Văn Tám lân la cầu thân với lính gác kho, dần dà được họ tinh yêu như con em. Lợi dụng sự tin cậy của các chú lính, Tám dễ dàng xâm nhập đốt kho xăng. Gần đây, bộ phim truyền hình “Cuồng phong” có chủ đề chống tội phạm buôn ma túy. Trong phim, công an đã giác ngộ cô Phượng nhận thức được việc buôn ma túy là tội ác, sau đó giao cho cô nhiệm vụ theo dõi, gài bẫy người bạn đồng hương muốn giúp đỡ cô có tiền giúp mẹ bằng việc buôn ma túy và theo dõi tố giác người tình rất yêu cô là một tay buôn ma túy. Để tồn tại trong một chế độ đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống, người ta phải khai man lý lịch, mang một cái mặt nạ lập trường giai cấp để che giấu suy nghĩ thực. 2 - Văn hóa xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa Mác-Lênin thành chân lý độc tôn Tự do tư tưởng chỉ được phép trong vùng soi chiếu của quan điểm Mác-Lênin. Mọi tư tưởng khác với nó đều là thù địch. Phân biệt ranh giới tư tưởng thù địch rất khó, do vậy mà nhiều ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc lần lượt bị trở thành kẻ thù của cách mạng và bị giết. Nhiều đảng viên Cộng sản cấp cao ở Việt Nam bị quy là “bọn chống Đảng”, bị tù tội cũng chỉ vì có mấy ý kiến khác nghị quyết của Đảng. Đó là nguyên nhân khiến nhiều đảng viên cán bộ không dám nói thật ý mình, nghĩ một đàng nói một nẻo, báo cáo láo. Ông Hoàng Minh, chủ tịch Công đoàn Quận 11, một đảng viên có công thời chống Mỹ, luôn luôn được đánh giá bốn tốt, bỗng bị phát hiện trước khi tham gia cách mạng ông có theo đạo Hồi mà không khai trong lý lịch. Ông bị đuổi ra khỏi Đảng và cho về hưu. Độc tôn tư tưởng rất trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, luôn luôn rộng mở đối với mọi tư tưởng, tôn giáo. Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo được người Việt Nam đón nhận, hợp lưu, hòa đồng, biến những điều tích cực trở thành yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc. Người Việt gọi là tam giáo đồng nguyên. Đạo Cao Đài còn thoáng hơn, thờ tất cả danh nhân văn hóa thế giới. Chủ nghĩa độc tôn tư tưởng gây ra tệ giáo điều nghiêm trọng và làm cho con người trở thành thụ động, ỷ lại, thiếu sáng tạo. Đó là nguyên nhân đưa tới chủ trương chống tự diễn biến, cản trở sự đổi mới của Đảng, kéo theo sự trì trệ của nhiều ngành, giáo dục, văn học, nghệ thuật… 3 - Văn hóa xã hội chủ nghĩa đề cao tuyệt đối chủ nghĩa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ và triệt để xóa bỏ Bảo vệ lợi ích cá nhân bị coi là vị kỷ, là xấu, cho nên nguyện vọng được hưởng thụ lợi ích chính đáng của cá nhân mình cũng luôn phải che giấu. Con người phải sống hai mặt, bên ngoài thì ca ngợi tập thể, bên trong thì toan tính cho riêng mình. Các quyền con người đều là quyền của tập thể chứ không phải của cá nhân. Quyền tự do báo chí là quyền của đoàn thể được ra báo. Quyền hội họp là quyền của các đoàn thể đã được cho phép thành lập và chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Các đoàn thể ở chế độ xã hội chủ nghĩa không phải là tổ chức dân sự, phi chính phủ (NGO) mà là tổ chức chính trị, những cánh tay nối dài của Đảng. Các đoàn thể này có chức năng tổ chức những phong trào thực hiện nghị quyết của Đảng như phong trào thi đua tập thể, phong trào xây dựng khu phố văn hóa, phong trào dạy tốt, học tốt… Những phong trào này là nguồn sản xuất ra những báo cáo láo, tô vẽ những điển hình theo khẩu vị cấp trên. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” làm cho mọi sai lầm, thất thoát không thể quy trách nhiệm cho ai. Nạn hội họp lu bù chính là con đẻ của nguyên tắc trách nhiệm tập thể, vì cần phải họp để có quyết định của tập thể, mai sau hư hại không ai bị kỷ luật hoặc phải ra tòa. Vụ Vinashin không thể tìm ra người chịu trách nhiệm chí...

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (74) Hồi ký Tống Văn Công Vì sao tội ác lên ngôi? Suốt mấy tuần qua, báo chí trong nước đăng nhiều bài phân tích nguyên nhân của hai vụ giết người cướp của ghê rợn xảy ra cùng thời gian ở Bắc Giang và Bình Dương. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vốn là nhà giáo, bà bức xúc rung chuông về giáo dục nhân cách. Nhiều vị tiến sĩ tâm lý vào cuộc. Tiến sĩ Thạch Ngọc Yến có bài viết “hiếu vách chắn trước cơn bốc đồng”, cho rằng các vụ này có “mẫu số chung” là: họ có một quá khứ không bình thường. Có thể là sự xáo trộn trong gia đình, là tuổi thơ bị bỏ rơi. Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Trọng Anh có bài “người lớn hãy làm gương”, với mở đầu “Ông bà ta dạy: Con dại cái mang. Do đó con cái hư hỏng, cha mẹ phải xem lại mình”. Nhà báo Cao Tuấn có bài “Sức mạnh kháng thể”, “khái quát hơn cái ác có vẻ như đang ẩn hiện khắp nơi”. Thế nhưng ông lại nhận định: “Nó là sản phẩm ‘quái gỡ’ (nhưng không nhiều) của một xã hội đang vận động đi lên – các yêu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn và yếu tố mới, tiến bộ chưa định hình. Xét về mặt triết học, đây là thời kỳ chuyển tiếp không dễ dàng đối với bất cứ xã hội nào”. Lạ lùng là ông khuyên đừng “quá chú tâm truy tìm gốc rễ của những hiện tượng quái gỡ, hãy dành nhiều thời gian hơn để thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng lành mạnh”. Thật không khác nào trước con bệnh ngặt, lại khuyên thầy thuốc chớ chuẩn đoán bệnh, mà hãy khuyến khích họ vui chơi chạy nhảy! Tôi không phải nhà nghiên cứu tâm lý, nhưng có lưu tâm đến vấn đề đạo đức xuống cấp, khi nghe anh Thái Duy (tức nhà văn Trần Đình Vân tác giả “Sống như anh”) từ miền Nam trở ra Hà Nội tâm sự: “Cậu ạ, Đảng mình có trách nhiệm đã làm xuống cấp đạo đức người dân Hà Nội. Hồi tớ đi học, mỗi khi thấy đám ma từ xa, cả bọn xuống xe đạp, giở mũ cúi đầu, chờ xe đi qua. Còn nay, bọn trẻ ngang nhiên phóng xe, lại còn lớn tiếng chửi thề, tại sao xe tang đi chậm cản đường!” Tôi nghĩ đạo đức xuống cấp bắt đầu từ chuyện lớp trẻ chửi xe tang cản đường đã phát triển dần từng năm một! Tết Nguyên đán 2009, Hà Nội xảy ra vụ hàng trăm người xô đạp nhau tranh cướp hoa anh đào, tôi đã viết bài “Vì sao đạo đức băng hoại?” tặng nhà thơ Hoàng Hưng và giáo sư Nguyễn Huệ Chi là hai người quan tâm vụ việc này. Gần ba năm qua, tình trạng xã hội và con người Việt Nam đã đi tới câu hỏi bức thiết hơn: Vì sao tội ác lên ngôi? I. Đảng Cộng sản đoạn tuyệt với đạo đức truyền thống! Xin đọc tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx-Engels, Phần 2, “Những người vô sản và những người cộng sản” (Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, năm 1974, trang 77): “Có người sẽ bảo, cố nhiên những quan điểm tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền… đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền vẫn luôn được bảo tồn qua những biến đổi ấy. Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý, v.v… chung cho mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xóa bỏ những chân lý vĩnh cửu, nó xóa bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới tôn giáo và đạo đức; làm như thế là trái ngược với tất cả sự phát triển lịch sử trước kia? Lời buộc tội ấy rốt cuộc là gì? Lịch sử của tiến bộ xã hội từ trước tới nay đều diễn ra trong đối kháng giai cấp, những đối kháng bằng những hình thức khác nhau tùy thời đại. Nhưng dù những đối kháng bằng hình thức gì đi nữa, hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện thực chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ mặc dù có muôn màu muôn vẻ và hết sức khác nhau vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thái ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa. Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với tư tưởng cổ truyền.” Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam bắt đầu được nghe, “nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á”. Nhà nước này sắp xếp thứ tự của “tứ dân” từ sĩ, nông, công, thương phải thay đổi: Giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng; giai cấp nông dân là quân chủ lực cách mạng nhưng lại chia thành: Cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần cố là cốt cán tin cậy. Trung nông kém tinh cậy hơn, chia ra trung nông lớp dưới và trung nông lớp trên. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột phải tước bỏ tính bóc lột của họ. Địa chủ không còn nằm trong lực lượng yêu nước mà là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là tạch tạch xè, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ bị dao động, cần được theo dõi, uốn nắn. Thương nhân là người xấu xa nhất. Giai cấp tư sản là đối tượng phải tiêu diệt, nhưng tư sản thương nghiệp, gọi là bọn mại bản phải tiêu diệt đầu tiên. Nhiều người cho rằng sự sắp xếp lại tứ dân như trên là đem tay chân thay thế cho bộ não của xã hội (đến nay, ở thời đại kinh tế tri thức việc gọi giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thì sự vô lý càng trở nên bức xúc) ! Từ lúc ấy, “đại đoàn kết” đã nhường bước cho “đấu tranh giai cấp”, đạo đức bắt đầu đảo lộn, chữ “tố” lên ngôi thành một loại hoạt động xã hội được tôn vinh, đẻ ra thành ngữ mới “con tố cha vợ tố chồng”! Đạo đức cao nhất là trung thành với chủ nghĩa Marx-Lênin. Với nguyên tắc dân chủ tập trung, lãnh tụ đảng Cộng sản trở thành thượng đế. Lãnh tụ quốc tế Cộng sản đáng kính yêu hơn cả cha mẹ mình: “Vui biết mấy khi con học nói. Tiếng đầu đời con gọi Stalin.” (Tố Hữu). Chữ trung, chữ hiếu truyền thống cũng thay đổi. Lời cụ Hồ “trung với nước” bị đổi thành “trung với Đảng”. Trong cuộc chính Đảng Trung ương khóa 2, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có người nói, người cộng sản là vô tình, là bất hiếu. Con làm cộng sản có khi phải bỏ cả bố mẹ. Cái đó có hay không? Có! Người cách mạng nhất, là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến dày vò. Mình chẳng những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa. Phải hiểu chữ hiếu theo tinh thần cách mạng rộng rãi như vậy. Gia đình to là cả nước và gia đình nhỏ, cái nào nặng cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to! Đó là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 389). Sách Đại học (Tập 1 trong Tứ thư) viết: “Có hiếu là phải biết phụng sự vua. Có đễ là biết phụng sự người lớn”, tức là có ý dạy rằng phụng sự vua cũng có nghĩa là có hiếu với cha mẹ, chứ không phải đòi hỏi chọn việc phụng sự vua mà bỏ cha mẹ. Có lẽ, vì “cách mạng cho gia đình to, hy sinh gia đình nhỏ” thể hiện triệt để tư tưởng của chủ nghĩa tập thể, cho nên “năm điều bác Hồ dạy” không có điều nào dạy con cái, hiếu thảo, kính yêu cha mẹ, ông bà. Bởi vì cha mẹ, ông bà của gia đình nhỏ đã được đặt trong gia đình lớn là: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào”. Trong hồi ký “Chuyện làng ngày ấy” nhà thơ Võ Văn Trực đã kể khá sinh động chuyện làng của ông phá bỏ chùa chiền, miếu mạo, tập thể hóa cả mồ mả ông bà. Tiếp theo đó, hồi ký “Cọng rêu dưới đáy ao”, Võ Văn Trực kể chuyện chính quyền, đoàn thể buộc người ta phải hy sinh mọi lợi ích riêng tư, dành tất cả cho tập thể. Con người muốn cho riêng mình thì buộc phải che giấu, nói dối (lý lịch gia đình, các mối quan hệ xã hội, báo cáo láo thành tích, những lo toan cho cá nhân, gia đình mình). Do đó, từ điển có thêm từ “khai man”, “tố điêu”. II. Đạo đức cách mạng và cái giường Procuste Từ năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Sửa đổi lề lối làm việc” đã đề ra việc chống các bệnh chủ quan, ích kỷ hẹp hòi, cá nhân, bản vị, cục bộ và xây dựng đạo đức cách mạng. Từ đó cho tới năm qua đời, Cụ viết rất nhiều bài mở rộng tư tưởng này, tiêu biểu là bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, viết ngày 3-2-1969, và trong “Di chúc” đoạn nói về Đảng cầm quyền, cụ chỉ ra 10 bệnh của chủ nghĩa cá nhân cần phải xóa bỏ và đề ra nội dung đạo đức cách mạng gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chí công vô tư vốn là một khái niệm đạo đức cũ. Chí công nghĩa là rất công bằng; vô tư là không có lòng riêng khi làm việc chung. Khái niệm này vốn dành cho quan lại, chứ không phải cho dân thường. Với quan chức, nó cũng chỉ đòi hỏi họ chí công vô tư khi hành xử công việc, chứ không phải trong cuộc sống riêng tư. Bởi vì trong cuộc sống riêng tư, họ cũng muốn lên chức, có lương cao, bổng hậu, vợ đẹp con khôn, thành đạt. Cụ Hồ biến ý nghĩa cũng từ này thành đạo đức cách mạng, đòi hỏi mọi người đều phải thực hiện. Thậm chí Cụ cho rằng, nhiều đảng viên không thấm nhuần tư tưởng chí công, vô tư cho nên mắc chủ nghĩa cá nhân; và chí công, vô tư thì mới có cần, kiệm, liêm, chính. Theo cách hiểu phổ biến thì các nội dung trên đòi hỏi con người phải triệt tiêu cái riêng, đưa cái chung, cái tập thể lên địa vị độc tôn. Trong thời chiến (mà nước ta thời chiến quá dài), mọi người dân dễ chấp nhận tư tưởng ấy, nhất là khi đặt mình giữa cái sống, cái chết ở chiến trường. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang “trước sự hy sinh, con người thật ra phải có ý thức rất cao về cá nhân mình. Đó là phút thăng hoa của con người cá nhân”. Tuy nhiên, nếu cho rằng chủ nghĩa tập thể giúp cho Việt Nam chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì không đúng. Chính chủ nghĩa yêu nước mới là động lực chiến thắng, còn chủ nghĩa tập thể chỉ hạn chế động lực ấy. Có thể đưa ông Kim Nhật Thành của Triều Tiên làm ví dụ. Ông Kim được cả triệu quân Trung Quốc chi viện, nhưng vẫn không thắng nổi Hàn Quốc. Bởi ông ta không có Cách mạng Tháng Tám, không có Hiến pháp 1946, không có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với lá cờ Hòa bình, Độc lập, Trung lập. Nước Mỹ giàu mạnh, nhờ có dân chủ mà người dân có quyền ngăn chặn chiến tranh Việt Nam chỉ trong 5 năm, khi họ thấy chính phủ sai lầm. Việt Nam nghèo, lại bị cấm vận, nhưng đã kéo dài sự có mặt ở Campuchia đến 10 năm, chịu biết bao hậu quả không đáng có! Chủ nghĩa tập thể vô hiệu hóa lợi ích và trách nhiệm cá nhân và tước mất lực lượng đại đoàn kết dân tộc ngay trong thời chiến. Những ai từng tham gia kháng chiến chống Pháp đều biết giai thoại này: Các ông Năm Lửa, Ba Gà Mổ bảo nhau “bọn Việt Minh hội họp liên miên, cho nên còn rất ít thì giờ tìm đánh mình. Nếu họ bớt hội họp thì nguy cho mình đó!”Từ những năm 50, do lo sợ bị loại vì chủ trương chấn chỉnh tổ chức, nhiều cán bộ chỉ huy các khu đã rời bỏ kháng chiến như Bảy Viễn, Trịnh Khánh Vàng… Trong thời chống Mỹ, rất nhiều nhân tài bị cách chức (như Kim Ngọc), hoặc giam cầm (Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Kiến Giang…). Hơn 60 năm qua, năm nào cũng có chỉ thị, nghị quyết giảm hội họp, nhưng không thể giảm được. Bởi vì, cả hệ thống chính trị đều theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, rất cần có một nghị quyết tập thể để khi công việc thất bại chẳng có ai phải giơ đầu chịu báng! Vinashin nuốt tiền thuế của dân trung bình mỗi đầu người hơn một triệu đồng, nhưng đâu có ai bị kỷ luật. Bauxite Tây Nguyên, dự án lớn của đảng, nhà nước đang băm nát đường vận chuyển ở hai tỉnh, gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, và nếu mai kia xảy ra tai họa trút bùn độc lên đầu 20 triệu nhân dân thì cũng sẽ không có ai phải hầu tòa! Sau giải phóng miền Bắc, chủ nghĩa tập thể bóp nghẹt mọi quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, chỉ có giới văn nghệ sĩ phản ứng bằng vụ Nhân văn-Giai phẩm. Bởi vì đặc thù của lao động nghệ thuật đòi hỏi phải có không gian tự do cá nhân tuyệt đối mới có thể sáng tạo. Không chấp nhận cạnh tranh, chủ nghĩa xã hội tổ chức phong trào thi đua tập thể để thúc đẩy lao động sản xuất. Đó là hình thức làm tăng dối trá theo cấp số nhân. Ở miền Bắc ai cũng đã nghe chuyện thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm trại lợn hợp tác xã. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy lợn cắn nhau quá dữ dội. Thì ra, chủ nhiệm trại lợn đã có “sáng kiến” mượn lợn nuôi cá thể của các gia đình, đem nhốt chung vào chuồng hợp tác xã, để báo cáo thủ tướng về tốc độ phát triển thần kỳ của chăn nuôi tập thể, chứng minh tính ưu việc không thể chối cãi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sa sút, lụn bại ngành giáo dục cũng là phong trào thi đua tập thể “hai tốt”. Không có tự do báo chí, tự do ngôn luận, chủ nghĩa xã hội kêu gọi phê bình, tự phê bình để khắc phục khuyết điểm. Nhưng thực tế cho thấy chả có ai chịu “vạch áo cho người xem lưng”. Đã có giai thoại: “Xin nghiêm khắc phê bình anh Hai luôn làm việc quá sức. Xin chân thành góp ý với anh Hai rằng, sức khỏe của anh Hai không phải là của riêng anh mà là tài sản quý báu của tập thể, của Đảng”. Cho đến nay, những nơi bị phát hiện tham nhũng lớn đều là nơi đang có phong trào thi đua sôi nổi, có tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, đã nhiều năm đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh” như Đại lộ Đông Tây của Huỳnh Ngọc Sĩ chẳng hạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nổi tiếng “muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Nhưng câu này trái với Marx, theo Marx vật chất có trước ý thức. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cách mạng, là có người của giai cấp vô sản, mọi tính người hình thành trong lịch sử bị coi là của giai cấp tư sản, phải xóa bỏ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đặt khuôn mẫu cho con người xã hội chủ nghĩa, giống như kiểu dùng chiếc giường Procuste (chiếc giường mà tên tướng cướp trong thần thoại Hy Lạp tra tấn nạn nhân bằng cách trói vào chiếc giường, ai dài hơn giường thì chặt bớt cho vừa, ai ngắn hơn thì kéo cho dài ra). Thực tế đã cho thấy, đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ cũng không làm sao có được con người xã hội chủ nghĩa! Trong nhật ký ngày 18-3-1958, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết: “Bây giờ đã đến cảnh không ai dám nói thật với ai”. Năm mươi năm sau, nhà văn Nguyễn Khải, đảng viên 60 tuổi Đảng, giải thưởng Hồ Chí Minh, lập lại lời Nguyễn Huy Tưởng như một tổng kết bản chất của chế độ trong bút ký chính trị cuối cùng: “Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật”. Như vậy có thể nói, tất cả những người ưu tú nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có một ai thực hiện được đạo đức cách mạng. Nói dối, nghĩ một đằng, nói một nẻo chính là nguyên nhân đầu tiên, từ đó đẻ ra những tài năng khác làm sa đọa xã hội. III. Đạo đức cách mạng xung khắc với “Đổi mới”! Cuối thập kỷ 80, đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, nổi bật là kinh tế và chính trị. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt lắng nghe nhân dân, đã dám làm một việc tày đình là xé rào, thực hiện “hài hòa ba lợi ích”: lợi ích nhà nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động. Lợi ích cá nhân người lao động là điều chỏi với chủ nghĩa tập thể! Năm 1982, khi bị ra khỏi Bộ Chính Trị, trở về làm bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Linh tiếp tục xé rào làm cho kinh tế, đời sống ở Sài Gòn tương đối dễ chịu so với cả nước. Năm 1983, trong đợt học tập Nghị quyết Trung ương (Khóa 5), tôi được xếp vào tổ thảo luận của khối Dân vận Trung ương do Trưởng ban Vũ Quang làm tổ trưởng. Ông Vũ Quang hướng dẫn tổ phê phán “chủ nghĩa tự do kinh tế ở Sài Gòn” đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, năm 1986 Đại hội 6 đã chọn “xé rào” làm tiền đề của đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm khâu đột phá. Đổi mới kinh tế tức là trả lại tự do, dân chủ cho nhân dân, nông dân được ra khỏi hợp tác xã để nhận khoán hộ, người có vốn được đứng ra kinh doanh sản xuất và mua bán. Đổi mới kinh tế xóa bỏ những nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, tức là chọc thủng một mạng lớn chế độ toàn trị, nhưng được gọi tránh lẽ là “chế độ quan liêu, bao cấp”. Thật đáng tiếc, ông Nguyễn Văn linh không ý thức được rằng ba lợi ích mà ông tiếp nối cách làm của Võ Văn Kiệt đã làm bật dậy sức sáng tạo của toàn dân, chính vì nó rời bỏ chủ nghĩa tập thể lỗi thời, trả lại tự do cá nhân cho người lao động. Ông khư khư định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đổi mới chính trị tương ứng với kinh tế. Ông vừa mới nghe tướng Trần Độ để cho ra Nghị quyết 05 “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, ngay sau đó đã giật mình, vội quy tội Trần Độ chệch hướng xã hội chủ nghĩa! Ông diệt sinh mệnh chính trị Trần Xuân Bách, chọn Đỗ Mười, người có “thành tích” trong một tuần đánh tan giai cấp tư sản dân tộc, làm người kế nhiệm. Ông chủ động cúi mình cầu thân với Bắc Kinh, vì cho rằng “dù có tư tưởng bành trướng, nhưng cũng là xã hội chủ nghĩa với nhau”. Đổi mới vì thế bị dẫm chân tại chỗ, đất nước bỏ lỡ nhiều cơ hội: không sống bình thường quan hệ với Mỹ, chậm vào WTO, không dân chủ hóa xã hội, làm cho hệ thống chính trị thoái hóa, cản trở phát triển kinh tế, do vậy việc thực hiện được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Nghị quyết Đại hội 11) chỉ là ảo tưởng vì không tạo được điều kiện hòa giải, hòa hợp, phát huy sức mạnh dân tộc. Không đổi mới chính trị tương thích với kinh tế đã đưa tới khủng hoảng toàn diện mà nổi bật là hai tình trạng sau đây: Một là, quyền lực nhà nước không bị kiểm soát, hạn chế, không có nền tư pháp độc lập; không có báo chí tự do đã khiến cho đảng viên, cán bộ lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, nổi bật là tình trạng chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, ghê gớm hơn là hình thành những nhóm lợi ích lũng đoạn chính sách nhà nước. Nhìn từng làng xã, nhìn rộng ra cả nước, ai cũng thấy những kẻ tự xưng là đầy tớ của nhân dân, mở miệng là giao giảng đạo đức cách mạng, chí công vô tư, chính là những tư sản đỏ, sống trên luật pháp, tham nhũng từ to đến nhỏ, ăn cả tiền từ thiện cứu trợ đồng bào các vùng bị lũ lụt. Những người cơ cực, những dân đen thấp cổ bé họng, uất ức tìm mọi cách dành quyền sống trong một xã hội bất bình, bằng mọi cách “loạn cương” như lừa lọc, cướp giật, giết người. Thế là hình ảnh một xã hội trung cổ được tái hiện: cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. Có thể xếp song song hai dòng người sa đọa, nhưng đối chọi nhau trong bức tranh xã hội Việt Nam: một bên là Đinh Văn Hùng ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy Ninh Bình Buôn bình cổ, trống đồng trị giá hàng triệu USD, đã “hạ cánh an toàn”, đang sống trong cơ ngơi như đế vương; Nguyễn Trường Tộ, Phó bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh Hà Giang mua trinh học sinh vị thành niên, bị gái điếm chụp ảnh khỏa thân đã “hạ cánh an toàn”, đang sống trong biệt thự sang trọng. Và tiếp theo chúng là hàng ngàn, hàng vạn “đồng chí chưa bị lộ”! Bọn này ngày càng đông nối nhau theo đà sa đọa của hệ thống chính trị. Chính chúng nó là nguyên nhân làm nãy sinh những kẻ thủ ác trong dòng người thứ hai, gồm những Lê Văn Luyện (sát thủ cướp của giết chết vợ chồng chủ tiệm vàng và đứa con tám tháng tuổi con gái lớn bị chém đứt tay), Nguyễn Hải Dương (hung thủ giết chết sáu mạng người trong một gia đình vốn đã cưu mang hắn để trả thù, cướp của) đã và đang mọc lên như nấm! Hai là, tự do kinh tế giải phóng sức lao động sáng tạo của cá nhân, đồng thời đánh thức cho họ biết rằng mình còn có những quyền của con người vẫn còn bị tước đoạt: đó là quyền làm chủ nhà nước, quyền được mở mồm ra nói, quyền được hội họp và lập hội để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp. Những ông Vua Lốp mới (nhân dân Hà Nội gọi ông Nguyễn Văn Chẩn là “vua lốp”, người tự chế ra dép lốp, tái sinh lốp xe cũ như mới, bị chính quyền Hà Nội xử tù ba lần và tịch biên tài sản) của tự do chính trị liên tục xuất hiện từ Trần Xuân Bách đến Nguyễn văn An, rồi Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày… Chân lý đang chia đôi thành hai trận tuyến hết sức gay gắt: Yêu nước và Phản động! Hậu thuẫn cho những người yêu nước dũng cảm là hàng ngàn người ký tên kiến nghị đòi trả tự do cho họ, gồm nhiều đảng viên, lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và nhân dân trong, ngoài nước, kể cả những người đã tham gia hàng chục cuộc biểu tình khắp cả nước từ tháng 6 đến nay. Tiếp sau đó, là hàng triệu nông dân mất đất, bị “giải phóng mặt bằng” bởi các “nhà đầu tư” cấu kết với đảng viên, cán bộ địa phương ép họ chịu đền bù đất đai với giá rẻ mạt, khiến họ hết đường sinh sống. Bên cạnh đó là hàng triệu công nhân tham gia hơn 4000 cuộc biểu tình bị coi là trái pháp luật, vì không có quyền chọn cho mình một tổ chức công đoàn dám bảo vệ quyền lợi đ...
22 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73) Hồi ký Tống Văn Công Chi bộ phường Tân Kiểng triệu tập hội nghị bất thường Hai ngày sau khi Talawas đăng bài của nhà thơ Hoàng Hưng cho biết Thiện Ý là Tống Văn Công, tôi được triệu tập đến hội nghị chi bộ bất thường. Cuộc họp có ông Danh phó bí thư Quận ủy Quận 7, ông Luân chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy Quận 7 dự. Tôi vừa ngồi lên ghế, thì ông An một đảng viên già từ hàng ghế đầu chạy xuống nói: “Anh Công à, cái đơn thuốc anh cho, tôi không dùng, vì tôi đã được bác sĩ cho đơn thuốc”. Tôi không kịp hiểu ông nói điều ấy là có ý gì. Vào cuộc họp tôi mới hiểu, ông muốn tỏ thái độ không nhờ cậy, không mang ơn một tên chống Đảng và do đó ông hoàn toàn có đủ tư cách để mạt sát hắn. Ông Thường bí thư chi bộ tuyên bố lý do cuộc họp là “để góp ý với đồng chí Tống Văn Công về bài viết có tựa đề ‘Đổi mới đảng tránh nguy cơ sụp đổ’. Bài này có nhiều điều trái với cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng. Rất đáng tiếc là trước khi viết bài này đồng chí Công không tham khảo ý kiến của chi ủy. Tuy vậy nếu bài không đưa lên mạng thì không có cuộc họp này. Mời các đồng chí góp ý với đồng chí Công”. Ông An “phát pháo” đầu tiên: – Viết bài xuyên tạc đường lối của Đảng, lại còn trả lời đài nước ngoài mà không xin phép là vi phạm 19 điều cấm đảng viên không được làm. Theo tôi chúng ta cứ chiếu theo nghị quyết 47-QĐ/TW mà xử lý thôi, có gì phải bàn. Đây là “chống phá” chứ có phải là sai phạm bình thường đâu mà góp ý! Tôi trả lời: Như câu mở đầu bài viết, tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: Giặc nội xâm và giặc ngoại xâm. Đó là điều thôi thúc tôi phải lên tiếng, hy vọng Đảng kịp trở về với dân tộc. Từ khi còn làm việc, tôi đã trả lời với đài, báo trong và ngoài nước, không xin phép. Các anh chị thử hình dung, khi ký giả nước ngoài hỏi, tôi bảo họ “xin quý vị cho tôi xin ý kiến cấp trên đã, rồi sẽ trả lời quý vị sau nhé”. Người ta sẽ nghĩ thế nào về một chế độ bóp nghiệp tự do ngôn luận đến thế? Ông Hiền phó bí thư chi bộ: “Hồi vào Đảng đồng chí Công đã giơ tay thề suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nay không tán thành đường lối xã hội chủ nghĩa nữa thì xin ra Đảng đi. Tại sao còn nhận Huy hiệu 50 tuổi đảng? Việc cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho đồng chí Công cũng là một sai lầm rất đáng tiếc.” Tôi trả lời: Như đã nói, tôi muốn Đảng đồng hành cùng dân tộc, từ bỏ ý thức hệ lỗi thời mà nhân loại đã vượt qua. Nếu không, sẽ nguy hiểm cho Đảng và cho cả dân tộc. Nhiều đảng viên cao tuổi Đảng đã thấy điều ấy, mỗi người có cách ứng xử khác nhau. Nhà văn Nguyễn Khải, 60 tuổi Đảng, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên, năm 2006 đã viết tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” cho rằng chế độ xã hội theo mô hình của Stalin đã đưa tới: “Một xã hội mà công dân không có quyền sống thật, nói thật”. Nhưng ông dặn con chỉ công bố bài này sau khi ông qua đời. Cách làm của Nguyễn Khải thì an toàn cho bản thân, nhưng tỏ ra không tin Đảng biết lắng nghe và không dám vì Đảng. Người thứ hai là nhạc sĩ Tô Hải cũng hơn 60 tuổi Đảng đã viết “Hồi ký của một thằng hèn”, phủ nhận sạch trơn. Đọc bài “Đổi mới Đảng”, ông chê trách: “Tôi vô cùng thất vọng, tại sao Tống Văn Công còn cố tìm đường cho Đảng hoàn thiện để tiếp tục độc quyền lãnh đạo, lẽ ra chỉ nên tuyên bố ra khỏi Đảng và không chịu trách nhiệm gì về mọi đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền”. Tôi chọn cách khác hai người ấy. Tôi đã ở trong Đảng hơn năm mươi năm, tôi phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng. Tôi phải nói thẳng điều mình đã nhận thức được ngay khi còn sống. Nếu Đảng cho rằng tôi có quan điểm sai trái không thể chấp nhận thì tôi sẵn sàng nhận kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng. Về ý kiến cho rằng quyết định cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho tôi là sai lầm. Tôi cho rằng với cách nghĩ đó thì cũng có thể nói việc kết nạp tôi vào Đảng cũng là một sai lầm và việc nhận tôi vào Vệ Quốc Đoàn thời chống Pháp càng là sai lầm. Dù gì thì việc huy hiệu 50 tuổi Đảng của tôi không phải là của chi bộ mà là Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó nếu Ban Thường vụ Thành ủy có quan điểm giống như anh Hiền thì tôi xin nộp lại huy hiệu ấy. Ông Ba Náo, nguyên bí thư chi bộ, đương nhiệm ủy viên chi ủy: “Hai mươi năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước đồng chí Công được ở ngoài Bắc hưởng hòa bình. Chúng tôi hy sinh xương máu giải phóng miền Nam cho đồng chí được trở về, vậy thì cứ ngồi mà hưởng, tại sao lại ‘ăn cháo đá bát’. Tôi hỏi đồng chí: Ai giúp vũ khí cho mình đánh Pháp? Rồi ai giúp vũ khí cho mình đánh Mỹ? Vậy mà nay đồng chí nghe theo luận điệu của bọn thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nói thật, đọc bài này tôi cho rằng không phải một mình đồng chí Công viết, đằng sau đồng chí là những kẻ nào, vì toàn là những luận điệu của bọn phản động. Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói là của ta. Trung Quốc nói họ có chứng cứ là của họ. Hai nước láng giềng tranh chấp với nhau như vậy là chuyện bình thường, cũng như trong chi bộ mình có hai đảng viên bất hòa không nhìn mặt nhau là Út Kỷ với Lê Duyên Hải. Chi bộ có hòa giải họ được đâu. Ta trải qua hàng chục năm chiến tranh, tại sao đồng chí lại đem sự phát triển nhanh của Băng Cốc so với Sài Gòn?” Tôi trả lời: Để chi bộ không phải lo vì có bọn phản động nào xui giục tôi phát ngôn, tôi xin kể lại một số ý kiến của các bậc “trưởng thượng” của Đảng. Ủy viên Bộ Chính trị, thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư góp ý với Đảng về bài học từ 20 năm đổi mới: “Lúc nào chúng ta cũng khẳng định rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam, vậy tại sao chúng ta vẫn mắc sai lầm, tại sao vẫn có những giai đoạn lạc hướng? Vậy cần nghiên cứu, phân tích xem, trong chủ nghĩa Mác-Lênin điều gì trước đây đúng nay vẫn đúng, điều gì trước đây đúng nay không còn phù hợp nữa, điều gì ngay từ trước đã có sai sót. Từ năm 1951 trở đi xu hướng tả khuynh phát triển mạnh do có sự tác động của các chuyên gia Trung Quốc. Sự sụp đổ các nước Đông Âu, sau đó là sự sụp đổ Liên Xô thì xu hướng giáo điều, tả khuynh trong Đảng lại phục hồi. Đã xuất hiện quan điểm không thuận cho Việt Nam gia nhập ASEAN, bảo lưu ý kiến không tham gia năm 1995. Không ít người tự coi mình có quan điểm vững gây không ít cản trở cho sự phát triển bằng những lời phát biểu như “coi chừng chệch hướng”, “đổi mới, không đổi màu”, “hòa nhập không hòa tan”. Nhiều đồng chí mắc sai lầm tả khuynh nghiêm trọng nhưng không bị kỷ luật vẫn giữ được quyền uy vì được đánh giá là kiên định lập trường. Ngược lại, những người mạnh dạn đổi mới không bằng lòng với cái đã đạt được thì lại rất dễ bị chụp mũ là mất lập trường, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ăn phải bả của chủ nghĩa tư bản Bị ảnh hưởng cả sinh mạng chính trị. Về khái niệm diễn biến hòa bình cũng vậy. Các nước Phương Tây điều chỉnh chính sách của họ hằng tháng, hằng năm. Anh không nên dùng một khái niệm chung chung trừu tượng như thế để định lượng những nguy cơ từ các nước Phương Tây. Một nền kinh tế nhiều thành phần mà thành phần nhiều khuyết tật nhất, kém hiệu quả nhất lại là chủ đạo. Vậy thì nền kinh tế đó phát triển thế nào? Cấp dưới tuân theo mọi quyết đoán từ bên trên, tạo ra tâm lý lựa gió xoay chiều cốt cho được việc theo ý trên. Sự dối trá cũng khởi nguồn từ đấy. Người thứ hai tôi muốn nhắc tới là ông Trần Độ, nguyên ủy viên Trung ương đảng, Phó Chủ tịch Quốc Hội. Ông đã viết “Nhật Ký Rồng Rắn”, một di chúc chính trị: “Trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước đã phát triển với trình độ văn minh cao. Vậy mà họ không cần đến chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội với chuyên chính vô sản, độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Bây giờ chỉ còn lại bốn nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên Trung Quốc đã mặc nhiên giã từ chủ nghĩa Mác-Lênin và theo chủ nghĩa thực dụng ‘có màu sắc Trung Quốc’, được chứng nghiệm từ thời Đặng Tiểu Bình với ‘mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột cũng tốt, miễn là bắt được chuột’. Bắc Triều Tiên buộc phải quan hệ với Nam Triều Tiên vì quá nghèo đói”. Người thứ ba tôi muốn nhắc tới là đồng chí Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên trưởng Ban Khoa giáo Trung ương trình bày với Hội đồng Lý luận Trung ương: “Mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu xô viết qua thực nghiệm đã thất bại. Nếu có mô hình của cái gọi là chủ nghĩa xã hội thì phải có màu sắc khác chứ không thể là mô hình lấy đấu tranh giai cấp làm động lực, lấy công hữu làm hình thức sở hữu chi phối, lấy chuyên chính vô sản làm hình thức quản lý duy nhất”. Nhà văn Nguyễn Khải 60 tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu viết “Đi tìm cái tôi đã mất” có đoạn “quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào giải phóng, nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao mà phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!” Ông Nguyễn Văn Trấn làm báo thời Nguyễn An Ninh, đại biểu Đảng bộ Nam bộ đi dự Đại hội 2 của Đảng, nguyên Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền đã viết quyển “Kính gửi mẹ và Quốc hội”, trong đó có yêu cầu “xin Quốc hội cho tự do báo chí bằng chế độ thực dân Pháp”. Xin trả lời câu hỏi: Vì sao ta phải trải qua bao nhiêu năm chiến tranh lại đem so sánh sự phát triển của Băng Cốc với Sài Gòn? Ông Lý Quang Diệu so sánh Sài Gòn và Băng Cốc ở thời điểm 30-4-1975. Xin nhớ cho, ở thời điểm đó, người miền Bắc vào Sài Gòn đã cho rằng Sài Gòn phát triển hơn rất xa Đông Âu, Liên Xô. Ông Võ Văn Kiệt đã phân tích nguyên nhân dẫn tới sa sút, khủng hoảng, tụt hậu ở thời điểm này như sau: “Đại hội 4 của Đảng xu hướng tả khuynh, chủ quan duy ý chí thắng thế, đã đưa ra những quyết định về đường lối và chủ trương sai. Cải tạo công thương nghiệp ồ ạt, cải tạo nông nghiệp vội vã, cải tạo sĩ quan của chính quyền cũ kéo dài quá lâu, đưa dân đi kinh tế mới bằng biện pháp cưỡng bức. Đó là những nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng và ách tắc gây những thiệt hại rất lớn cho kinh tế kể từ năm 1977 trở đi. Thật đau đớn khi nghĩ lại, sự nghiệp giải phóng được hoàn thành trọn vẹn, thành phố Sài Gòn và nhiều thành phố khác ở miền Nam vẫn còn nguyên vẹn kết cấu hạ tầng và tiềm năng về kinh tế hàng hoá, thế nhưng hàng vạn người phải bỏ nước ra đi. Hiện tượng di tản, thuyền nhân cần được nhìn nhận như những vết thương trên cơ thể đất nước, để lại những di chứng trong tâm hồn của không ít đồng bào ta.” Nhân đây tôi muốn nói về khoảng cách giữa nền kinh tế nước ta với các nước xung quanh vẫn đang ngày một tăng sau 20 năm đổi mới. Chúng ta xây dựng, phát triển bằng tiền vốn ODA, nhưng quản lý kém và tham nhũng, nên mỗi công trình bị thất thoát từ khoảng 20 đến 30%. Ông Trần Đức Nguyên nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của chính phủ đã phân tích trên báo mạng Tuần Việt Nam như sau: Nền kinh tế nước ta tăng trưởng kém hiệu quả. Hệ số ICOR của nước là tệ nhất so với các nước xung quanh. ICOR là hệ số cho biết muốn qua tăng trưởng 1 đồng thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001 đến 2007 là 5,2. Trong khi đó, ICOR của Đài Loan là 2,7, của Hàn Quốc là 3, của Thái Lan là 4,1, của Trung Quốc là 4. Năm nay (2009) của Việt Nam tăng lên 8, do đó hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam rất yếu kém. Về câu chất vấn: Ai giúp vũ khí cho ta đánh Pháp, đánh Mỹ mà này nói theo luận điệu thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em? Tôi xin nhắc những câu danh ngôn về sự quan hệ giữa các nước: “không ai cho không ai một cái gì”, “không có đồng minh vĩnh viễn; cũng không có kẻ thù vĩnh viễn”. Trung Quốc từng là đồng minh với Liên Xô, chống Mỹ đã chuyển sang hòa với Mỹ để chống Liên Xô. Nhật Bản bị Mỹ đánh bại, nay là đồng minh số một của Mỹ ở châu Á. Ta cũng từ chỗ coi họ là kẻ thù nhưng nay đang nâng quan hệ đối tác chiến lược với họ lên tầm cao mới. Ta cũng coi Hàn Quốc là đối tác chiến lược chứ không phải Bắc Triều Tiên. Sau khi giải phóng lục địa, Trung Quốc coi Phương Tây là kẻ thù ngăn trở họ giải phóng Đài Loan. Họ trao súng cho ta bắn kẻ thù của họ. Giúp ta là họ tự bảo vệ bằng máu Việt Nam. Họ đã gây áp lực buộc ta ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Năm 1974, họ tiếp Tổng thống Nixon mặc cả trên lưng chúng ta, để đổi lấy việc chiếm đoạt Hoàng Sa. Tháng 4 năm 1975, đại sứ Pháp ở Sài Gòn Jean Marie Merillon đã gặp Dương Văn Minh gợi ý muốn cứu chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì nơi duy nhất có thể cầu cứu là Bắc Kinh. Không được ông Dương Văn Minh cầu cứu, không ngăn chặn được Việt Nam thống nhất, lập tức họ dùng Khơ Me Đỏ tấn công chúng ta trên toàn biên giới Tây Nam. Ta đưa quân cứu dân tộc Khơ Me trước họa diệt chủng thì họ đưa 600.000 quân tấn công sáu tỉnh biên giới phía Bắc, giết cả đàn bà trẻ con, đập phá từ cái nồi cái chén. Trước sự sụp đổ của Liên Xô, lẽ ra phải sáng suốt chọn con đường dân chủ hóa đất nước, dựa vào sức mạnh của nhân loại tiến bộ để bảo vệ đất nước, ông Nguyễn Văn Linh do quá khiếp nhược và ngu trung với ý thức hệ lỗi thời đã cho rằng Trung Quốc bành trướng, nhưng dù sao cũng là nước xã hội chủ nghĩa, đã vô hiệu hóa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, đi cầu hòa trong thế yếu ở hội nghị Thành Đô. Bắc Kinh đã lừa mị bằng “16 chữ vàng”, rồi “4 tốt”, nhưng tìm mọi cách lấn chiếm đất liền và biển đảo. Tháng 2 năm nay họ kỷ niệm 30 năm “dạy cho Việt Nam một bài học”, in sách, báo ca ngợi quân đội của họ. Họ tổ chức kỷ niệm ngày Hải quân Trung Quốc, chiếu phim đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988, giết chết 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Không biết họ làm cách nào mà còn được báo Hà Nội Mới viết bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, viên tư lệnh chỉ huy xâm lược sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Trong khi đó chúng ta hoàn toàn không dám nhắc đến sự hy sinh của các chiến sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc, tội ác của chúng ở đảo Gạc Ma! Trong cơn bão số 9 vừa qua, giữa lúc ba tàu Hải quân Việt Nam được huy động để cứu một tàu cá Trung Quốc gặp nạn thì 17 tàu cá Việt Nam vào tránh bão ở Hoàng Sa bị tàu Hải quân Trung Quốc đánh đập người dân và cướp giật hải sản và ngư cụ. Mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tươi cười hứa hẹn với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hãy cùng nhau khai thác thác Bản Giốc trước kia là của Việt Nam, nay một nửa thuộc Trung Quốc và giải quyết hòa bình biển Đông mà họ tuyên bố cả cái lưỡi bò gồm 80% là của họ! “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa?” Tôi hết sức kinh ngạc trước lời phát biểu của một ủy viên chi ủy. Đây là một thiếu sót vô cùng nguy hại của công tác giáo dục đảng viên của Đảng về vấn đề cốt tử của đất nước, là những kiến thức tối thiểu để biết thiết tha yêu từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc. Mấy tháng qua đồng bào ở trong và ngoài nước sôi sục tức giận vì thái độ vô trách nhiệm của những đảng viên có chức quyền đối với chủ quyền biển đảo. Ví dụ trên báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam do Đào Duy Quát làm tổng biên tập cho đăng lại bài của báo chí Trung Quốc tường thuật về cuộc tập trận trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để bảo vệ chủ quyền của họ! Thông tấn xã Việt Nam đưa tin 12 ngư dân Việt Nam đã từ Trung Quốc trở về đến Quảng Ngãi. Đúng ra phải nói là 12 ngư dân của Việt Nam bị giam trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm trái phép. Tôi xin trình bày tóm tắt về quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam phát hiện và chiếm giữ hai quần đảo này từ lâu đời. Nhiều tài liệu lịch sử để lại chứng minh việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên các đảo này là từ thời chúa Nguyễn, vào thế kỉ 17. Từ đó cho đến ngày bị Pháp đô hộ các triều đại kế tiếp trị vì nước ta đều thực sự nắm chủ quyền và quản lý hai quần đảo này mà không hề có nước nào tranh chấp. Tại hội nghị 51 nước ở San Francisco (Mỹ) tháng 9-1951, ông Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố “chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tất cả đại diện các quốc gia có mặt không người nào có ý kiến khác. Hội nghị này đã ghi vào biên bản Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Ngày18-9-1951 Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Chu Ân Lai có ra một thông cáo ngoại giao nhưng không nhắc gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1974, sau khi mặc cả được với Mỹ, Trung Quốc dùng vũ lực tấn công quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Năm 1988 Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Năm 2007 họ đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào hệ thống chính trị của họ. Họ công bố chủ quyền chiếm 80% biển Đông. Báo chí nước ngoài bình luận nếu Việt Nam chấp nhận đòi hỏi của Trung Quốc thì chỉ còn biển ở bên bờ để bơi tắm, muốn ra khơi phải xin phép họ! Tóm lại Hoàng Sa, Trường Sa đã được các chúa Nguyễn lập bản đồ, đưa vào hệ thống hành chánh quốc gia. Các vua Nguyễn luôn cử quân tuần tiểu, lập đồn trại bảo vệ. Hoàng Sa, Trường Sa đã thấm máu cha ông chúng ta. Đừng buông những lời xúc phạm vong linh của tổ tiên, xúc phạm lòng yêu nước của đồng bào và làm nhục Đảng Cộng sản. Ông Thường bí thư chi bộ chất vấn: “Sai lầm trong cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp thì Đảng ta đã nhận rồi. Đảng đã xác định nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tại sao đồng chí công không tán thành chủ nghĩa xã hội?” Tôi trả lời: Ngày 20-10-1956 Trung ương Đảng ra lệnh chấm dứt cải cách ruộng đất và mở chiến dịch sửa sai. Ngày 30-10-1956 Mặt Trận Tổ Quốc họp để triển khai công tác này. Tại đây tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc, người từng được chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm thành viên đoàn Việt Nam thương lượng với Pháp tại hội nghị Đà Lạt năm 1946, đã đọc một bài tham luận với mục đích tìm nguyên nhân sai lầm để tránh không bao giờ phạm lại những sai lầm tương tự. Ông phân tích ba nguyên nhân cơ bản là: Quan điểm của chúng ta về địch và ta, thù và bạn rất mơ hồ. Chúng ta tiến hành một công việc quan trọng ảnh hưởng đến sinh mạng của hàng triệu người mà bất chấp luật pháp, chỉ lấy chính trị làm thống soái. Tiến hành công việc bởi những người không có chuyên môn và không coi trọng chuyên môn. Bản thuyết trình đầy thiện chí của ông chẳng những không được lắng nghe mà còn bị quy chụp là phản động, chống chế độ, chống Đảng. Ông bị loại ra khỏi Mặt trận Tổ quốc, khỏi biên chế. Mãi đến sau Đổi mới ông mới không còn bị quản chế. Do không khắc phục được nguyên nhân gây ra sai lầm cho nên sau đó lại xảy ra vụ đàn áp Nhân văn – Giai phẩm. Mãi tới 50 năm sau, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định tặng Giải thưởng cấp nhà nước cho bốn văn nghệ sĩ Nhân văn – Giai phẩm mà không chính thức thừa nhận sai lầm. Sai lầm về cải tạo công thương nghiệp ở Hà Nội, 20 năm sau đã lập lại ở Sài Gòn một cách nghiêm trọng hơn. Chúng ta mới từ bỏ cách làm đó sau “đổi mới”, tức là từ bỏ những nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Đảng đã định nghĩa nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vâng, đó là trong khi chờ đợi các nhà lý luận đưa ra một định nghĩa mới. Bởi vì nếu chỉ định nghĩa như vậy thì hằng trăm nước khác sẽ bảo mình nói theo họ nhưng làm thì kém hơn. 20 năm qua chúng ta đã từ bỏ hết những nguyên lý kinh tế của chủ nghĩa xã hội và làm theo các nguyên lý thị trường của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhờ đó mà kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều nước vào đầu tư. Nhưng về chính trị vẫn giữ nguyên cơ cấu của hệ thống xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin. Do đó đã đẻ ra nhiều khuyết tật khi vận hành mà tôi đã kể trong bài góp ý với đảng. Ở đây tôi muốn kể thêm những điều vừa được đọc trong bài viết của ông Nguyễn Văn An nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội: “Ai là người có tư tưởng đổi mới, có tư tưởng hội nhập theo đường lối của Đảng thì người đó là ‘hồng’. Như vậy ‘hồng’ không nhất thiết phải là đảng viên”. Nhưng xin nhìn lại hệ thống chính trị các cấp có người nào giữ trọng trách mà là người ngoài Đảng không? Kể cả ở cấp khu phố, xóm. Vì sao như thế? Nhân đang kỳ họp Quốc Hội, tôi xin đọc mấy bài trên VietNamNet (cơ quan của Bộ Thông tin – Truyền thông). Một bài có tựa đề “Muốn hết nghị gật, Đảng phải đổi mớ...
23 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (72) Hồi ký Tống Văn Công Hoàng Hưng – về tác giả bài viết đổi mới Đảng để tránh sụp đổ! Tôi lấy làm vinh dự được tác giả Thiện Ý gửi gắm việc giới thiệu nhân thân của anh sau khi bài “Đổi mới để Đảng khỏi sụp đổ” được công bố trên Talawas blog. Việc công khai này đánh dấu một bước ngoặt lớn của anh trên con đường phản biện với những người lãnh đạo Đảng của mình, tổ chức mà anh gắn bó suốt năm mươi năm nay, và thực lòng hy vọng vào sự thay đổi của nó để nó tự cứu vãn và cứu vãn cả tương lai dân tộc. Thiện Ý chính là Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập một số tờ báo của hệ thống công đoàn: báo Lao Động Mới (Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam Việt Nam), báo Công nhân Giải phóng (tiền thân của báo Người Lao Động, Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh), báo Lao Động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), cũng là ngòi bút bình luận sắc bén một thời của báo này với bút danh Thuận Lý. Xuất thân từ một gia đình cách mạng, cha là Tống Văn Thêm bút hiệu Tăng Ích, tham gia đảng Cộng sản từ 1929, dịch giả của tạp chí Tân Trung Hoa thời kháng chiến chống Pháp, Tống Văn Công sinh năm 1932, tham gia Vệ quốc đoàn chống Pháp (1950-1959), được giải ba cuộc thi viết truyện ngắn về miền Nam 1959, làm báo Lao Động từ 1960, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Con đường phản biện với Đảng của đảng viên kỳ cựu Tống Văn công bắt đầu từ thời gian sau “Đổi Mới”, chủ yếu với công việc lãnh đạo báo Công nhân Giải phóng và sau đó báo Lao Động trong cuộc đấu tranh dũng cảm chống quan liêu tham nhũng, bênh vực quyền lợi công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là trong mấy năm huy hoàng của tờ Lao Động Chủ nhật mà lịch sử báo chí Việt Nam sẽ phải ghi nhận những người xung kích của báo chí “cách mạng” (đúng nghĩa là báo chí trong vòng kim cô của đường lối tuyên giáo cộng sản) đã phá rào để nói lên những tiếng nói trung thực với đời sống và “khác” với ý của lãnh đạo Đảng. Và tất nhiên anh phải trả giá, may mà cái giá cũng không quá đắt: Bị cho về hưu (xem bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải” của Thiện Ý trên Talawas blog). Điều đáng ghi nhận là chính ở tờ báo này, Tống Văn Công đã thể hiện không “ngu trung” với ý thức hệ, thực lòng đoàn kết mọi lực lượng của dân tộc để xây dựng một nước Việt Nam mới – ở đây là một tờ báo mới (bao gồm những nhà báo đảng viên trung thực, những nhà báo tay nghề cao của Sài Gòn cũ, những cựu-tù-chính-trị của chế độ, những người trẻ có tâm huyết). Và quả nhiên là tất cả mọi người trong tờ báo cũng thật lòng đoàn kết dưới sự lãnh đạo của những đảng viên cấp tiến và có trình độ như anh, mong được dùng ngồi bút phục vụ công cuộc “Đổi mới”. Chính đó là sức mạnh khiến mọi người chấp nhận san sẻ thu nhập ít ỏi như nhau (80.000 đồng một tháng vào năm 1990) say sưa làm báo như đi “làm cách mạng”. Tình cảm giữa anh Công và tôi nảy nở trong những ngày tháng không quên ấy. Tôi là một người vừa đi cải tạo vì thơ văn “phản động” về chưa bao lâu, lại được giao toàn quyền nắm trang Văn hóa-Văn nghệ của một tờ báo lớn, đó là chuyện chưa từng có và không thể hình dung (ngày hôm nay thì lại càng không thể). Nhờ sự kiên quyết của anh, báo Lao Động đã là tờ báo đầu tiên giới thiệu các nhân vật nhân văn giai phẩm (Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng…), ủng hộ những khuynh hướng sáng tác mới, hiện đại còn bị kỳ thị của giới chính thống đặc biệt trong mĩ thuật và văn học. Qua nhiều thử thách, tình đồng nghiệp giữa chúng tôi đã biến thành tình bạn, tình đồng chí. Một thời gian dài sau khi nghỉ hưu, Tống Văn Công hầu như không xuất hiện trong đời sống báo chí, hoặc chỉ xuất hiện với bút danh nào đó với những bài vô thưởng vô phạt, dường như anh đã an phận thủ thường. Nhưng anh lại vẫn luôn luôn theo dõi, trao đổi bàn bạc với bạn bè thân hữu về mọi tình hình đang diễn ra trên đất nước. Những ai quen biết anh đều nghĩ sẽ đến lúc Tống Văn Công tái xuất giang hồ, không thể khác. Không phải vì anh là anh hùng hảo hớn gì, mà đơn giản là tình hình đất nước dần dần đi đến chỗ hiểm nguy mà nếu không quá hèn nhát, quá giá áo túi cơm hay nhất quyết mũ ni che tai thì những người có hiểu biết, có lương tri, có tâm huyết buộc phải bước ra khỏi nơi trú ẩn an toàn để bày tỏ thái độ. Với những người đã trót mang nghiệp “ngôn luận”, im lặng trước cái sai, cái xấu, cái lỗi thời lúc này là mang tội đồng lõa không thể biện minh. Và bắt đầu xuất hiện bút danh Thiện Ý trên Talawas blog, với những bài viết rất được chú ý vì sự thẳng thắn, cái nhìn mang tính tổng quát, lập trường triệt để nhưng tỉnh táo và chân thành xây dựng của một người trong cuộc. Từ bài viết đầu tiên về khủng hoảng văn hóa đạo đức, tác giả đã nêu rõ nguyên nhân sâu xa, nền tảng của nó là khủng hoảng ý thức hệ; đến bài mới nhất, anh vẫn triển khai lập luận ấy đến cùng, và mở nó ra thành cái nhìn toàn diện về thể chế. Cuối cùng việc phải đến đã đến: Anh đặt thẳng vấn đề về hệ thống chính trị và tính chính đáng của đảng cầm quyền. Chính ở bài này, anh quyết định công bố tên thật đằng sau cái bút danh mà anh muốn giữ vì đã quen với bạn đọc và có thể chuyển tải “thiện ý” của mình. Anh đã giải phẫu vào cái đệ nhất yếu huyệt, gót chân Achille của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, nếu như với việc công bố bài này cũng tên thật, mặc dù đầy “thiện ý”, Tống Văn công có bị những thành phần cứng rắn trong Đảng của mình làm khó thì cũng là chuyện dễ hiểu. Tôi là một công dân Việt Nam ngoài Đảng, nhưng nhận thức rõ rằng trong một thời gian còn dài, tương lai của đất nước, của dân tộc phụ thuộc chủ yếu vào những biến chuyển trong nội bộ Đảng cầm quyền. Từ lâu tôi đã đặt câu hỏi: ngoài những kẻ thoái hóa biến chất, đặc quyền đặc lợi đang múa tay trong bị trước tình trạng hỗn loạn của xã hội hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam còn được bao nhiêu đảng viên chân chính, không bám quyền bám lợi mà thật sự nghĩ đến dân đến nước? Tại sao họ im lặng thế? Vì sợ hãi kỷ luật Đảng? Vì luyến tiếc một quá khứ oai hùng? Vì chưa tìm được lối ra? Vì lo lắng một sự sụp đổ nguy hiểm? Bài viết mới nhất của Thiện Ý Tống Văn Công là một câu trả lời cho tôi. Vẫn có không ít đảng viên mang trong đáy sâu lòng mình phẩm chất của người yêu nước thực sự, và không phải không có những người nghĩ được lối ra khá an toàn cho cuộc khủng hoảng khủng hoảng và lối ra là tên một luận văn của Nguyễn Kiến Giang. Và họ đã lên tiếng, ngày càng đông, ngày càng thẳng thắn. Tôi tin rằng những ý kiến của Tống Văn Công hôm nay về căn bản đã nói đúng suy nghĩ của đa số người dân Việt Nam hôm nay, cả đảng viên lẫn không đảng viên, kể cả những quan chức đang hưởng lợi từ cơ chế hiện hành nhưng có tầm nhìn xa về tương lai của con cháu họ. Và tôi vẫn chưa hết hy vọng ở sự biết lắng nghe của những người có quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ít ra là một số và con số này sẽ ngày càng tăng. Nếu không, thì thảm họa cho đất nước. Posted on Tháng Mười Một 29, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/11/29/tu-theo-cong-den-chong-cong-72-hoang-hung-ve-tac-gia-bai-viet-doi-moi-dang-de-tranh-sup-do/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73): https://www.minds.com/newsfeed/1020244905374068736?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (71): https://www.minds.com/newsfeed/1020243791062728704?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
22 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (74) Hồi ký Tống Văn Công Vì sao tội ác lên ngôi? Suốt mấy tuần qua, báo chí trong nước đăng nhiều bài phân tích nguyên nhân của hai vụ giết người cướp của ghê rợn xảy ra cùng thời gian ở Bắc Giang và Bình Dương. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vốn là nhà giáo, bà bức xúc rung chuông về giáo dục nhân cách. Nhiều vị tiến sĩ tâm lý vào cuộc. Tiến sĩ Thạch Ngọc Yến có bài viết “hiếu vách chắn trước cơn bốc đồng”, cho rằng các vụ này có “mẫu số chung” là: họ có một quá khứ không bình thường. Có thể là sự xáo trộn trong gia đình, là tuổi thơ bị bỏ rơi. Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Trọng Anh có bài “người lớn hãy làm gương”, với mở đầu “Ông bà ta dạy: Con dại cái mang. Do đó con cái hư hỏng, cha mẹ phải xem lại mình”. Nhà báo Cao Tuấn có bài “Sức mạnh kháng thể”, “khái quát hơn cái ác có vẻ như đang ẩn hiện khắp nơi”. Thế nhưng ông lại nhận định: “Nó là sản phẩm ‘quái gỡ’ (nhưng không nhiều) của một xã hội đang vận động đi lên – các yêu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn và yếu tố mới, tiến bộ chưa định hình. Xét về mặt triết học, đây là thời kỳ chuyển tiếp không dễ dàng đối với bất cứ xã hội nào”. Lạ lùng là ông khuyên đừng “quá chú tâm truy tìm gốc rễ của những hiện tượng quái gỡ, hãy dành nhiều thời gian hơn để thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng lành mạnh”. Thật không khác nào trước con bệnh ngặt, lại khuyên thầy thuốc chớ chuẩn đoán bệnh, mà hãy khuyến khích họ vui chơi chạy nhảy! Tôi không phải nhà nghiên cứu tâm lý, nhưng có lưu tâm đến vấn đề đạo đức xuống cấp, khi nghe anh Thái Duy (tức nhà văn Trần Đình Vân tác giả “Sống như anh”) từ miền Nam trở ra Hà Nội tâm sự: “Cậu ạ, Đảng mình có trách nhiệm đã làm xuống cấp đạo đức người dân Hà Nội. Hồi tớ đi học, mỗi khi thấy đám ma từ xa, cả bọn xuống xe đạp, giở mũ cúi đầu, chờ xe đi qua. Còn nay, bọn trẻ ngang nhiên phóng xe, lại còn lớn tiếng chửi thề, tại sao xe tang đi chậm cản đường!” Tôi nghĩ đạo đức xuống cấp bắt đầu từ chuyện lớp trẻ chửi xe tang cản đường đã phát triển dần từng năm một! Tết Nguyên đán 2009, Hà Nội xảy ra vụ hàng trăm người xô đạp nhau tranh cướp hoa anh đào, tôi đã viết bài “Vì sao đạo đức băng hoại?” tặng nhà thơ Hoàng Hưng và giáo sư Nguyễn Huệ Chi là hai người quan tâm vụ việc này. Gần ba năm qua, tình trạng xã hội và con người Việt Nam đã đi tới câu hỏi bức thiết hơn: Vì sao tội ác lên ngôi? I. Đảng Cộng sản đoạn tuyệt với đạo đức truyền thống! Xin đọc tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx-Engels, Phần 2, “Những người vô sản và những người cộng sản” (Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, năm 1974, trang 77): “Có người sẽ bảo, cố nhiên những quan điểm tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền… đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền vẫn luôn được bảo tồn qua những biến đổi ấy. Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý, v.v… chung cho mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xóa bỏ những chân lý vĩnh cửu, nó xóa bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới tôn giáo và đạo đức; làm như thế là trái ngược với tất cả sự phát triển lịch sử trước kia? Lời buộc tội ấy rốt cuộc là gì? Lịch sử của tiến bộ xã hội từ trước tới nay đều diễn ra trong đối kháng giai cấp, những đối kháng bằng những hình thức khác nhau tùy thời đại. Nhưng dù những đối kháng bằng hình thức gì đi nữa, hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện thực chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ mặc dù có muôn màu muôn vẻ và hết sức khác nhau vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thái ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa. Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với tư tưởng cổ truyền.” Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam bắt đầu được nghe, “nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á”. Nhà nước này sắp xếp thứ tự của “tứ dân” từ sĩ, nông, công, thương phải thay đổi: Giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng; giai cấp nông dân là quân chủ lực cách mạng nhưng lại chia thành: Cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần cố là cốt cán tin cậy. Trung nông kém tinh cậy hơn, chia ra trung nông lớp dưới và trung nông lớp trên. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột phải tước bỏ tính bóc lột của họ. Địa chủ không còn nằm trong lực lượng yêu nước mà là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là tạch tạch xè, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ bị dao động, cần được theo dõi, uốn nắn. Thương nhân là người xấu xa nhất. Giai cấp tư sản là đối tượng phải tiêu diệt, nhưng tư sản thương nghiệp, gọi là bọn mại bản phải tiêu diệt đầu tiên. Nhiều người cho rằng sự sắp xếp lại tứ dân như trên là đem tay chân thay thế cho bộ não của xã hội (đến nay, ở thời đại kinh tế tri thức việc gọi giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thì sự vô lý càng trở nên bức xúc) ! Từ lúc ấy, “đại đoàn kết” đã nhường bước cho “đấu tranh giai cấp”, đạo đức bắt đầu đảo lộn, chữ “tố” lên ngôi thành một loại hoạt động xã hội được tôn vinh, đẻ ra thành ngữ mới “con tố cha vợ tố chồng”! Đạo đức cao nhất là trung thành với chủ nghĩa Marx-Lênin. Với nguyên tắc dân chủ tập trung, lãnh tụ đảng Cộng sản trở thành thượng đế. Lãnh tụ quốc tế Cộng sản đáng kính yêu hơn cả cha mẹ mình: “Vui biết mấy khi con học nói. Tiếng đầu đời con gọi Stalin.” (Tố Hữu). Chữ trung, chữ hiếu truyền thống cũng thay đổi. Lời cụ Hồ “trung với nước” bị đổi thành “trung với Đảng”. Trong cuộc chính Đảng Trung ương khóa 2, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có người nói, người cộng sản là vô tình, là bất hiếu. Con làm cộng sản có khi phải bỏ cả bố mẹ. Cái đó có hay không? Có! Người cách mạng nhất, là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến dày vò. Mình chẳng những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa. Phải hiểu chữ hiếu theo tinh thần cách mạng rộng rãi như vậy. Gia đình to là cả nước và gia đình nhỏ, cái nào nặng cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to! Đó là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 389). Sách Đại học (Tập 1 trong Tứ thư) viết: “Có hiếu là phải biết phụng sự vua. Có đễ là biết phụng sự người lớn”, tức là có ý dạy rằng phụng sự vua cũng có nghĩa là có hiếu với cha mẹ, chứ không phải đòi hỏi chọn việc phụng sự vua mà bỏ cha mẹ. Có lẽ, vì “cách mạng cho gia đình to, hy sinh gia đình nhỏ” thể hiện triệt để tư tưởng của chủ nghĩa tập thể, cho nên “năm điều bác Hồ dạy” không có điều nào dạy con cái, hiếu thảo, kính yêu cha mẹ, ông bà. Bởi vì cha mẹ, ông bà của gia đình nhỏ đã được đặt trong gia đình lớn là: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào”. Trong hồi ký “Chuyện làng ngày ấy” nhà thơ Võ Văn Trực đã kể khá sinh động chuyện làng của ông phá bỏ chùa chiền, miếu mạo, tập thể hóa cả mồ mả ông bà. Tiếp theo đó, hồi ký “Cọng rêu dưới đáy ao”, Võ Văn Trực kể chuyện chính quyền, đoàn thể buộc người ta phải hy sinh mọi lợi ích riêng tư, dành tất cả cho tập thể. Con người muốn cho riêng mình thì buộc phải che giấu, nói dối (lý lịch gia đình, các mối quan hệ xã hội, báo cáo láo thành tích, những lo toan cho cá nhân, gia đình mình). Do đó, từ điển có thêm từ “khai man”, “tố điêu”. II. Đạo đức cách mạng và cái giường Procuste Từ năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Sửa đổi lề lối làm việc” đã đề ra việc chống các bệnh chủ quan, ích kỷ hẹp hòi, cá nhân, bản vị, cục bộ và xây dựng đạo đức cách mạng. Từ đó cho tới năm qua đời, Cụ viết rất nhiều bài mở rộng tư tưởng này, tiêu biểu là bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, viết ngày 3-2-1969, và trong “Di chúc” đoạn nói về Đảng cầm quyền, cụ chỉ ra 10 bệnh của chủ nghĩa cá nhân cần phải xóa bỏ và đề ra nội dung đạo đức cách mạng gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chí công vô tư vốn là một khái niệm đạo đức cũ. Chí công nghĩa là rất công bằng; vô tư là không có lòng riêng khi làm việc chung. Khái niệm này vốn dành cho quan lại, chứ không phải cho dân thường. Với quan chức, nó cũng chỉ đòi hỏi họ chí công vô tư khi hành xử công việc, chứ không phải trong cuộc sống riêng tư. Bởi vì trong cuộc sống riêng tư, họ cũng muốn lên chức, có lương cao, bổng hậu, vợ đẹp con khôn, thành đạt. Cụ Hồ biến ý nghĩa cũng từ này thành đạo đức cách mạng, đòi hỏi mọi người đều phải thực hiện. Thậm chí Cụ cho rằng, nhiều đảng viên không thấm nhuần tư tưởng chí công, vô tư cho nên mắc chủ nghĩa cá nhân; và chí công, vô tư thì mới có cần, kiệm, liêm, chính. Theo cách hiểu phổ biến thì các nội dung trên đòi hỏi con người phải triệt tiêu cái riêng, đưa cái chung, cái tập thể lên địa vị độc tôn. Trong thời chiến (mà nước ta thời chiến quá dài), mọi người dân dễ chấp nhận tư tưởng ấy, nhất là khi đặt mình giữa cái sống, cái chết ở chiến trường. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang “trước sự hy sinh, con người thật ra phải có ý thức rất cao về cá nhân mình. Đó là phút thăng hoa của con người cá nhân”. Tuy nhiên, nếu cho rằng chủ nghĩa tập thể giúp cho Việt Nam chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì không đúng. Chính chủ nghĩa yêu nước mới là động lực chiến thắng, còn chủ nghĩa tập thể chỉ hạn chế động lực ấy. Có thể đưa ông Kim Nhật Thành của Triều Tiên làm ví dụ. Ông Kim được cả triệu quân Trung Quốc chi viện, nhưng vẫn không thắng nổi Hàn Quốc. Bởi ông ta không có Cách mạng Tháng Tám, không có Hiến pháp 1946, không có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với lá cờ Hòa bình, Độc lập, Trung lập. Nước Mỹ giàu mạnh, nhờ có dân chủ mà người dân có quyền ngăn chặn chiến tranh Việt Nam chỉ trong 5 năm, khi họ thấy chính phủ sai lầm. Việt Nam nghèo, lại bị cấm vận, nhưng đã kéo dài sự có mặt ở Campuchia đến 10 năm, chịu biết bao hậu quả không đáng có! Chủ nghĩa tập thể vô hiệu hóa lợi ích và trách nhiệm cá nhân và tước mất lực lượng đại đoàn kết dân tộc ngay trong thời chiến. Những ai từng tham gia kháng chiến chống Pháp đều biết giai thoại này: Các ông Năm Lửa, Ba Gà Mổ bảo nhau “bọn Việt Minh hội họp liên miên, cho nên còn rất ít thì giờ tìm đánh mình. Nếu họ bớt hội họp thì nguy cho mình đó!”Từ những năm 50, do lo sợ bị loại vì chủ trương chấn chỉnh tổ chức, nhiều cán bộ chỉ huy các khu đã rời bỏ kháng chiến như Bảy Viễn, Trịnh Khánh Vàng… Trong thời chống Mỹ, rất nhiều nhân tài bị cách chức (như Kim Ngọc), hoặc giam cầm (Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Kiến Giang…). Hơn 60 năm qua, năm nào cũng có chỉ thị, nghị quyết giảm hội họp, nhưng không thể giảm được. Bởi vì, cả hệ thống chính trị đều theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, rất cần có một nghị quyết tập thể để khi công việc thất bại chẳng có ai phải giơ đầu chịu báng! Vinashin nuốt tiền thuế của dân trung bình mỗi đầu người hơn một triệu đồng, nhưng đâu có ai bị kỷ luật. Bauxite Tây Nguyên, dự án lớn của đảng, nhà nước đang băm nát đường vận chuyển ở hai tỉnh, gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, và nếu mai kia xảy ra tai họa trút bùn độc lên đầu 20 triệu nhân dân thì cũng sẽ không có ai phải hầu tòa! Sau giải phóng miền Bắc, chủ nghĩa tập thể bóp nghẹt mọi quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, chỉ có giới văn nghệ sĩ phản ứng bằng vụ Nhân văn-Giai phẩm. Bởi vì đặc thù của lao động nghệ thuật đòi hỏi phải có không gian tự do cá nhân tuyệt đối mới có thể sáng tạo. Không chấp nhận cạnh tranh, chủ nghĩa xã hội tổ chức phong trào thi đua tập thể để thúc đẩy lao động sản xuất. Đó là hình thức làm tăng dối trá theo cấp số nhân. Ở miền Bắc ai cũng đã nghe chuyện thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm trại lợn hợp tác xã. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy lợn cắn nhau quá dữ dội. Thì ra, chủ nhiệm trại lợn đã có “sáng kiến” mượn lợn nuôi cá thể của các gia đình, đem nhốt chung vào chuồng hợp tác xã, để báo cáo thủ tướng về tốc độ phát triển thần kỳ của chăn nuôi tập thể, chứng minh tính ưu việc không thể chối cãi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sa sút, lụn bại ngành giáo dục cũng là phong trào thi đua tập thể “hai tốt”. Không có tự do báo chí, tự do ngôn luận, chủ nghĩa xã hội kêu gọi phê bình, tự phê bình để khắc phục khuyết điểm. Nhưng thực tế cho thấy chả có ai chịu “vạch áo cho người xem lưng”. Đã có giai thoại: “Xin nghiêm khắc phê bình anh Hai luôn làm việc quá sức. Xin chân thành góp ý với anh Hai rằng, sức khỏe của anh Hai không phải là của riêng anh mà là tài sản quý báu của tập thể, của Đảng”. Cho đến nay, những nơi bị phát hiện tham nhũng lớn đều là nơi đang có phong trào thi đua sôi nổi, có tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, đã nhiều năm đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh” như Đại lộ Đông Tây của Huỳnh Ngọc Sĩ chẳng hạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nổi tiếng “muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Nhưng câu này trái với Marx, theo Marx vật chất có trước ý thức. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cách mạng, là có người của giai cấp vô sản, mọi tính người hình thành trong lịch sử bị coi là của giai cấp tư sản, phải xóa bỏ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đặt khuôn mẫu cho con người xã hội chủ nghĩa, giống như kiểu dùng chiếc giường Procuste (chiếc giường mà tên tướng cướp trong thần thoại Hy Lạp tra tấn nạn nhân bằng cách trói vào chiếc giường, ai dài hơn giường thì chặt bớt cho vừa, ai ngắn hơn thì kéo cho dài ra). Thực tế đã cho thấy, đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ cũng không làm sao có được con người xã hội chủ nghĩa! Trong nhật ký ngày 18-3-1958, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết: “Bây giờ đã đến cảnh không ai dám nói thật với ai”. Năm mươi năm sau, nhà văn Nguyễn Khải, đảng viên 60 tuổi Đảng, giải thưởng Hồ Chí Minh, lập lại lời Nguyễn Huy Tưởng như một tổng kết bản chất của chế độ trong bút ký chính trị cuối cùng: “Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật”. Như vậy có thể nói, tất cả những người ưu tú nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có một ai thực hiện được đạo đức cách mạng. Nói dối, nghĩ một đằng, nói một nẻo chính là nguyên nhân đầu tiên, từ đó đẻ ra những tài năng khác làm sa đọa xã hội. III. Đạo đức cách mạng xung khắc với “Đổi mới”! Cuối thập kỷ 80, đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, nổi bật là kinh tế và chính trị. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt lắng nghe nhân dân, đã dám làm một việc tày đình là xé rào, thực hiện “hài hòa ba lợi ích”: lợi ích nhà nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động. Lợi ích cá nhân người lao động là điều chỏi với chủ nghĩa tập thể! Năm 1982, khi bị ra khỏi Bộ Chính Trị, trở về làm bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Linh tiếp tục xé rào làm cho kinh tế, đời sống ở Sài Gòn tương đối dễ chịu so với cả nước. Năm 1983, trong đợt học tập Nghị quyết Trung ương (Khóa 5), tôi được xếp vào tổ thảo luận của khối Dân vận Trung ương do Trưởng ban Vũ Quang làm tổ trưởng. Ông Vũ Quang hướng dẫn tổ phê phán “chủ nghĩa tự do kinh tế ở Sài Gòn” đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, năm 1986 Đại hội 6 đã chọn “xé rào” làm tiền đề của đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm khâu đột phá. Đổi mới kinh tế tức là trả lại tự do, dân chủ cho nhân dân, nông dân được ra khỏi hợp tác xã để nhận khoán hộ, người có vốn được đứng ra kinh doanh sản xuất và mua bán. Đổi mới kinh tế xóa bỏ những nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, tức là chọc thủng một mạng lớn chế độ toàn trị, nhưng được gọi tránh lẽ là “chế độ quan liêu, bao cấp”. Thật đáng tiếc, ông Nguyễn Văn linh không ý thức được rằng ba lợi ích mà ông tiếp nối cách làm của Võ Văn Kiệt đã làm bật dậy sức sáng tạo của toàn dân, chính vì nó rời bỏ chủ nghĩa tập thể lỗi thời, trả lại tự do cá nhân cho người lao động. Ông khư khư định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đổi mới chính trị tương ứng với kinh tế. Ông vừa mới nghe tướng Trần Độ để cho ra Nghị quyết 05 “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, ngay sau đó đã giật mình, vội quy tội Trần Độ chệch hướng xã hội chủ nghĩa! Ông diệt sinh mệnh chính trị Trần Xuân Bách, chọn Đỗ Mười, người có “thành tích” trong một tuần đánh tan giai cấp tư sản dân tộc, làm người kế nhiệm. Ông chủ động cúi mình cầu thân với Bắc Kinh, vì cho rằng “dù có tư tưởng bành trướng, nhưng cũng là xã hội chủ nghĩa với nhau”. Đổi mới vì thế bị dẫm chân tại chỗ, đất nước bỏ lỡ nhiều cơ hội: không sống bình thường quan hệ với Mỹ, chậm vào WTO, không dân chủ hóa xã hội, làm cho hệ thống chính trị thoái hóa, cản trở phát triển kinh tế, do vậy việc thực hiện được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Nghị quyết Đại hội 11) chỉ là ảo tưởng vì không tạo được điều kiện hòa giải, hòa hợp, phát huy sức mạnh dân tộc. Không đổi mới chính trị tương thích với kinh tế đã đưa tới khủng hoảng toàn diện mà nổi bật là hai tình trạng sau đây: Một là, quyền lực nhà nước không bị kiểm soát, hạn chế, không có nền tư pháp độc lập; không có báo chí tự do đã khiến cho đảng viên, cán bộ lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, nổi bật là tình trạng chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, ghê gớm hơn là hình thành những nhóm lợi ích lũng đoạn chính sách nhà nước. Nhìn từng làng xã, nhìn rộng ra cả nước, ai cũng thấy những kẻ tự xưng là đầy tớ của nhân dân, mở miệng là giao giảng đạo đức cách mạng, chí công vô tư, chính là những tư sản đỏ, sống trên luật pháp, tham nhũng từ to đến nhỏ, ăn cả tiền từ thiện cứu trợ đồng bào các vùng bị lũ lụt. Những người cơ cực, những dân đen thấp cổ bé họng, uất ức tìm mọi cách dành quyền sống trong một xã hội bất bình, bằng mọi cách “loạn cương” như lừa lọc, cướp giật, giết người. Thế là hình ảnh một xã hội trung cổ được tái hiện: cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. Có thể xếp song song hai dòng người sa đọa, nhưng đối chọi nhau trong bức tranh xã hội Việt Nam: một bên là Đinh Văn Hùng ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy Ninh Bình Buôn bình cổ, trống đồng trị giá hàng triệu USD, đã “hạ cánh an toàn”, đang sống trong cơ ngơi như đế vương; Nguyễn Trường Tộ, Phó bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh Hà Giang mua trinh học sinh vị thành niên, bị gái điếm chụp ảnh khỏa thân đã “hạ cánh an toàn”, đang sống trong biệt thự sang trọng. Và tiếp theo chúng là hàng ngàn, hàng vạn “đồng chí chưa bị lộ”! Bọn này ngày càng đông nối nhau theo đà sa đọa của hệ thống chính trị. Chính chúng nó là nguyên nhân làm nãy sinh những kẻ thủ ác trong dòng người thứ hai, gồm những Lê Văn Luyện (sát thủ cướp của giết chết vợ chồng chủ tiệm vàng và đứa con tám tháng tuổi con gái lớn bị chém đứt tay), Nguyễn Hải Dương (hung thủ giết chết sáu mạng người trong một gia đình vốn đã cưu mang hắn để trả thù, cướp của) đã và đang mọc lên như nấm! Hai là, tự do kinh tế giải phóng sức lao động sáng tạo của cá nhân, đồng thời đánh thức cho họ biết rằng mình còn có những quyền của con người vẫn còn bị tước đoạt: đó là quyền làm chủ nhà nước, quyền được mở mồm ra nói, quyền được hội họp và lập hội để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp. Những ông Vua Lốp mới (nhân dân Hà Nội gọi ông Nguyễn Văn Chẩn là “vua lốp”, người tự chế ra dép lốp, tái sinh lốp xe cũ như mới, bị chính quyền Hà Nội xử tù ba lần và tịch biên tài sản) của tự do chính trị liên tục xuất hiện từ Trần Xuân Bách đến Nguyễn văn An, rồi Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày… Chân lý đang chia đôi thành hai trận tuyến hết sức gay gắt: Yêu nước và Phản động! Hậu thuẫn cho những người yêu nước dũng cảm là hàng ngàn người ký tên kiến nghị đòi trả tự do cho họ, gồm nhiều đảng viên, lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và nhân dân trong, ngoài nước, kể cả những người đã tham gia hàng chục cuộc biểu tình khắp cả nước từ tháng 6 đến nay. Tiếp sau đó, là hàng triệu nông dân mất đất, bị “giải phóng mặt bằng” bởi các “nhà đầu tư” cấu kết với đảng viên, cán bộ địa phương ép họ chịu đền bù đất đai với giá rẻ mạt, khiến họ hết đường sinh sống. Bên cạnh đó là hàng triệu công nhân tham gia hơn 4000 cuộc biểu tình bị coi là trái pháp luật, vì không có quyền chọn cho mình một tổ chức công đoàn dám bảo vệ quyền lợi đ...
22 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73) Hồi ký Tống Văn Công Chi bộ phường Tân Kiểng triệu tập hội nghị bất thường Hai ngày sau khi Talawas đăng bài của nhà thơ Hoàng Hưng cho biết Thiện Ý là Tống Văn Công, tôi được triệu tập đến hội nghị chi bộ bất thường. Cuộc họp có ông Danh phó bí thư Quận ủy Quận 7, ông Luân chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy Quận 7 dự. Tôi vừa ngồi lên ghế, thì ông An một đảng viên già từ hàng ghế đầu chạy xuống nói: “Anh Công à, cái đơn thuốc anh cho, tôi không dùng, vì tôi đã được bác sĩ cho đơn thuốc”. Tôi không kịp hiểu ông nói điều ấy là có ý gì. Vào cuộc họp tôi mới hiểu, ông muốn tỏ thái độ không nhờ cậy, không mang ơn một tên chống Đảng và do đó ông hoàn toàn có đủ tư cách để mạt sát hắn. Ông Thường bí thư chi bộ tuyên bố lý do cuộc họp là “để góp ý với đồng chí Tống Văn Công về bài viết có tựa đề ‘Đổi mới đảng tránh nguy cơ sụp đổ’. Bài này có nhiều điều trái với cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng. Rất đáng tiếc là trước khi viết bài này đồng chí Công không tham khảo ý kiến của chi ủy. Tuy vậy nếu bài không đưa lên mạng thì không có cuộc họp này. Mời các đồng chí góp ý với đồng chí Công”. Ông An “phát pháo” đầu tiên: – Viết bài xuyên tạc đường lối của Đảng, lại còn trả lời đài nước ngoài mà không xin phép là vi phạm 19 điều cấm đảng viên không được làm. Theo tôi chúng ta cứ chiếu theo nghị quyết 47-QĐ/TW mà xử lý thôi, có gì phải bàn. Đây là “chống phá” chứ có phải là sai phạm bình thường đâu mà góp ý! Tôi trả lời: Như câu mở đầu bài viết, tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: Giặc nội xâm và giặc ngoại xâm. Đó là điều thôi thúc tôi phải lên tiếng, hy vọng Đảng kịp trở về với dân tộc. Từ khi còn làm việc, tôi đã trả lời với đài, báo trong và ngoài nước, không xin phép. Các anh chị thử hình dung, khi ký giả nước ngoài hỏi, tôi bảo họ “xin quý vị cho tôi xin ý kiến cấp trên đã, rồi sẽ trả lời quý vị sau nhé”. Người ta sẽ nghĩ thế nào về một chế độ bóp nghiệp tự do ngôn luận đến thế? Ông Hiền phó bí thư chi bộ: “Hồi vào Đảng đồng chí Công đã giơ tay thề suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nay không tán thành đường lối xã hội chủ nghĩa nữa thì xin ra Đảng đi. Tại sao còn nhận Huy hiệu 50 tuổi đảng? Việc cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho đồng chí Công cũng là một sai lầm rất đáng tiếc.” Tôi trả lời: Như đã nói, tôi muốn Đảng đồng hành cùng dân tộc, từ bỏ ý thức hệ lỗi thời mà nhân loại đã vượt qua. Nếu không, sẽ nguy hiểm cho Đảng và cho cả dân tộc. Nhiều đảng viên cao tuổi Đảng đã thấy điều ấy, mỗi người có cách ứng xử khác nhau. Nhà văn Nguyễn Khải, 60 tuổi Đảng, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên, năm 2006 đã viết tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” cho rằng chế độ xã hội theo mô hình của Stalin đã đưa tới: “Một xã hội mà công dân không có quyền sống thật, nói thật”. Nhưng ông dặn con chỉ công bố bài này sau khi ông qua đời. Cách làm của Nguyễn Khải thì an toàn cho bản thân, nhưng tỏ ra không tin Đảng biết lắng nghe và không dám vì Đảng. Người thứ hai là nhạc sĩ Tô Hải cũng hơn 60 tuổi Đảng đã viết “Hồi ký của một thằng hèn”, phủ nhận sạch trơn. Đọc bài “Đổi mới Đảng”, ông chê trách: “Tôi vô cùng thất vọng, tại sao Tống Văn Công còn cố tìm đường cho Đảng hoàn thiện để tiếp tục độc quyền lãnh đạo, lẽ ra chỉ nên tuyên bố ra khỏi Đảng và không chịu trách nhiệm gì về mọi đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền”. Tôi chọn cách khác hai người ấy. Tôi đã ở trong Đảng hơn năm mươi năm, tôi phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng. Tôi phải nói thẳng điều mình đã nhận thức được ngay khi còn sống. Nếu Đảng cho rằng tôi có quan điểm sai trái không thể chấp nhận thì tôi sẵn sàng nhận kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng. Về ý kiến cho rằng quyết định cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho tôi là sai lầm. Tôi cho rằng với cách nghĩ đó thì cũng có thể nói việc kết nạp tôi vào Đảng cũng là một sai lầm và việc nhận tôi vào Vệ Quốc Đoàn thời chống Pháp càng là sai lầm. Dù gì thì việc huy hiệu 50 tuổi Đảng của tôi không phải là của chi bộ mà là Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó nếu Ban Thường vụ Thành ủy có quan điểm giống như anh Hiền thì tôi xin nộp lại huy hiệu ấy. Ông Ba Náo, nguyên bí thư chi bộ, đương nhiệm ủy viên chi ủy: “Hai mươi năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước đồng chí Công được ở ngoài Bắc hưởng hòa bình. Chúng tôi hy sinh xương máu giải phóng miền Nam cho đồng chí được trở về, vậy thì cứ ngồi mà hưởng, tại sao lại ‘ăn cháo đá bát’. Tôi hỏi đồng chí: Ai giúp vũ khí cho mình đánh Pháp? Rồi ai giúp vũ khí cho mình đánh Mỹ? Vậy mà nay đồng chí nghe theo luận điệu của bọn thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nói thật, đọc bài này tôi cho rằng không phải một mình đồng chí Công viết, đằng sau đồng chí là những kẻ nào, vì toàn là những luận điệu của bọn phản động. Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói là của ta. Trung Quốc nói họ có chứng cứ là của họ. Hai nước láng giềng tranh chấp với nhau như vậy là chuyện bình thường, cũng như trong chi bộ mình có hai đảng viên bất hòa không nhìn mặt nhau là Út Kỷ với Lê Duyên Hải. Chi bộ có hòa giải họ được đâu. Ta trải qua hàng chục năm chiến tranh, tại sao đồng chí lại đem sự phát triển nhanh của Băng Cốc so với Sài Gòn?” Tôi trả lời: Để chi bộ không phải lo vì có bọn phản động nào xui giục tôi phát ngôn, tôi xin kể lại một số ý kiến của các bậc “trưởng thượng” của Đảng. Ủy viên Bộ Chính trị, thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư góp ý với Đảng về bài học từ 20 năm đổi mới: “Lúc nào chúng ta cũng khẳng định rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam, vậy tại sao chúng ta vẫn mắc sai lầm, tại sao vẫn có những giai đoạn lạc hướng? Vậy cần nghiên cứu, phân tích xem, trong chủ nghĩa Mác-Lênin điều gì trước đây đúng nay vẫn đúng, điều gì trước đây đúng nay không còn phù hợp nữa, điều gì ngay từ trước đã có sai sót. Từ năm 1951 trở đi xu hướng tả khuynh phát triển mạnh do có sự tác động của các chuyên gia Trung Quốc. Sự sụp đổ các nước Đông Âu, sau đó là sự sụp đổ Liên Xô thì xu hướng giáo điều, tả khuynh trong Đảng lại phục hồi. Đã xuất hiện quan điểm không thuận cho Việt Nam gia nhập ASEAN, bảo lưu ý kiến không tham gia năm 1995. Không ít người tự coi mình có quan điểm vững gây không ít cản trở cho sự phát triển bằng những lời phát biểu như “coi chừng chệch hướng”, “đổi mới, không đổi màu”, “hòa nhập không hòa tan”. Nhiều đồng chí mắc sai lầm tả khuynh nghiêm trọng nhưng không bị kỷ luật vẫn giữ được quyền uy vì được đánh giá là kiên định lập trường. Ngược lại, những người mạnh dạn đổi mới không bằng lòng với cái đã đạt được thì lại rất dễ bị chụp mũ là mất lập trường, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ăn phải bả của chủ nghĩa tư bản Bị ảnh hưởng cả sinh mạng chính trị. Về khái niệm diễn biến hòa bình cũng vậy. Các nước Phương Tây điều chỉnh chính sách của họ hằng tháng, hằng năm. Anh không nên dùng một khái niệm chung chung trừu tượng như thế để định lượng những nguy cơ từ các nước Phương Tây. Một nền kinh tế nhiều thành phần mà thành phần nhiều khuyết tật nhất, kém hiệu quả nhất lại là chủ đạo. Vậy thì nền kinh tế đó phát triển thế nào? Cấp dưới tuân theo mọi quyết đoán từ bên trên, tạo ra tâm lý lựa gió xoay chiều cốt cho được việc theo ý trên. Sự dối trá cũng khởi nguồn từ đấy. Người thứ hai tôi muốn nhắc tới là ông Trần Độ, nguyên ủy viên Trung ương đảng, Phó Chủ tịch Quốc Hội. Ông đã viết “Nhật Ký Rồng Rắn”, một di chúc chính trị: “Trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước đã phát triển với trình độ văn minh cao. Vậy mà họ không cần đến chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội với chuyên chính vô sản, độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Bây giờ chỉ còn lại bốn nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên Trung Quốc đã mặc nhiên giã từ chủ nghĩa Mác-Lênin và theo chủ nghĩa thực dụng ‘có màu sắc Trung Quốc’, được chứng nghiệm từ thời Đặng Tiểu Bình với ‘mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột cũng tốt, miễn là bắt được chuột’. Bắc Triều Tiên buộc phải quan hệ với Nam Triều Tiên vì quá nghèo đói”. Người thứ ba tôi muốn nhắc tới là đồng chí Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên trưởng Ban Khoa giáo Trung ương trình bày với Hội đồng Lý luận Trung ương: “Mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu xô viết qua thực nghiệm đã thất bại. Nếu có mô hình của cái gọi là chủ nghĩa xã hội thì phải có màu sắc khác chứ không thể là mô hình lấy đấu tranh giai cấp làm động lực, lấy công hữu làm hình thức sở hữu chi phối, lấy chuyên chính vô sản làm hình thức quản lý duy nhất”. Nhà văn Nguyễn Khải 60 tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu viết “Đi tìm cái tôi đã mất” có đoạn “quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào giải phóng, nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao mà phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!” Ông Nguyễn Văn Trấn làm báo thời Nguyễn An Ninh, đại biểu Đảng bộ Nam bộ đi dự Đại hội 2 của Đảng, nguyên Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền đã viết quyển “Kính gửi mẹ và Quốc hội”, trong đó có yêu cầu “xin Quốc hội cho tự do báo chí bằng chế độ thực dân Pháp”. Xin trả lời câu hỏi: Vì sao ta phải trải qua bao nhiêu năm chiến tranh lại đem so sánh sự phát triển của Băng Cốc với Sài Gòn? Ông Lý Quang Diệu so sánh Sài Gòn và Băng Cốc ở thời điểm 30-4-1975. Xin nhớ cho, ở thời điểm đó, người miền Bắc vào Sài Gòn đã cho rằng Sài Gòn phát triển hơn rất xa Đông Âu, Liên Xô. Ông Võ Văn Kiệt đã phân tích nguyên nhân dẫn tới sa sút, khủng hoảng, tụt hậu ở thời điểm này như sau: “Đại hội 4 của Đảng xu hướng tả khuynh, chủ quan duy ý chí thắng thế, đã đưa ra những quyết định về đường lối và chủ trương sai. Cải tạo công thương nghiệp ồ ạt, cải tạo nông nghiệp vội vã, cải tạo sĩ quan của chính quyền cũ kéo dài quá lâu, đưa dân đi kinh tế mới bằng biện pháp cưỡng bức. Đó là những nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng và ách tắc gây những thiệt hại rất lớn cho kinh tế kể từ năm 1977 trở đi. Thật đau đớn khi nghĩ lại, sự nghiệp giải phóng được hoàn thành trọn vẹn, thành phố Sài Gòn và nhiều thành phố khác ở miền Nam vẫn còn nguyên vẹn kết cấu hạ tầng và tiềm năng về kinh tế hàng hoá, thế nhưng hàng vạn người phải bỏ nước ra đi. Hiện tượng di tản, thuyền nhân cần được nhìn nhận như những vết thương trên cơ thể đất nước, để lại những di chứng trong tâm hồn của không ít đồng bào ta.” Nhân đây tôi muốn nói về khoảng cách giữa nền kinh tế nước ta với các nước xung quanh vẫn đang ngày một tăng sau 20 năm đổi mới. Chúng ta xây dựng, phát triển bằng tiền vốn ODA, nhưng quản lý kém và tham nhũng, nên mỗi công trình bị thất thoát từ khoảng 20 đến 30%. Ông Trần Đức Nguyên nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của chính phủ đã phân tích trên báo mạng Tuần Việt Nam như sau: Nền kinh tế nước ta tăng trưởng kém hiệu quả. Hệ số ICOR của nước là tệ nhất so với các nước xung quanh. ICOR là hệ số cho biết muốn qua tăng trưởng 1 đồng thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001 đến 2007 là 5,2. Trong khi đó, ICOR của Đài Loan là 2,7, của Hàn Quốc là 3, của Thái Lan là 4,1, của Trung Quốc là 4. Năm nay (2009) của Việt Nam tăng lên 8, do đó hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam rất yếu kém. Về câu chất vấn: Ai giúp vũ khí cho ta đánh Pháp, đánh Mỹ mà này nói theo luận điệu thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em? Tôi xin nhắc những câu danh ngôn về sự quan hệ giữa các nước: “không ai cho không ai một cái gì”, “không có đồng minh vĩnh viễn; cũng không có kẻ thù vĩnh viễn”. Trung Quốc từng là đồng minh với Liên Xô, chống Mỹ đã chuyển sang hòa với Mỹ để chống Liên Xô. Nhật Bản bị Mỹ đánh bại, nay là đồng minh số một của Mỹ ở châu Á. Ta cũng từ chỗ coi họ là kẻ thù nhưng nay đang nâng quan hệ đối tác chiến lược với họ lên tầm cao mới. Ta cũng coi Hàn Quốc là đối tác chiến lược chứ không phải Bắc Triều Tiên. Sau khi giải phóng lục địa, Trung Quốc coi Phương Tây là kẻ thù ngăn trở họ giải phóng Đài Loan. Họ trao súng cho ta bắn kẻ thù của họ. Giúp ta là họ tự bảo vệ bằng máu Việt Nam. Họ đã gây áp lực buộc ta ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Năm 1974, họ tiếp Tổng thống Nixon mặc cả trên lưng chúng ta, để đổi lấy việc chiếm đoạt Hoàng Sa. Tháng 4 năm 1975, đại sứ Pháp ở Sài Gòn Jean Marie Merillon đã gặp Dương Văn Minh gợi ý muốn cứu chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì nơi duy nhất có thể cầu cứu là Bắc Kinh. Không được ông Dương Văn Minh cầu cứu, không ngăn chặn được Việt Nam thống nhất, lập tức họ dùng Khơ Me Đỏ tấn công chúng ta trên toàn biên giới Tây Nam. Ta đưa quân cứu dân tộc Khơ Me trước họa diệt chủng thì họ đưa 600.000 quân tấn công sáu tỉnh biên giới phía Bắc, giết cả đàn bà trẻ con, đập phá từ cái nồi cái chén. Trước sự sụp đổ của Liên Xô, lẽ ra phải sáng suốt chọn con đường dân chủ hóa đất nước, dựa vào sức mạnh của nhân loại tiến bộ để bảo vệ đất nước, ông Nguyễn Văn Linh do quá khiếp nhược và ngu trung với ý thức hệ lỗi thời đã cho rằng Trung Quốc bành trướng, nhưng dù sao cũng là nước xã hội chủ nghĩa, đã vô hiệu hóa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, đi cầu hòa trong thế yếu ở hội nghị Thành Đô. Bắc Kinh đã lừa mị bằng “16 chữ vàng”, rồi “4 tốt”, nhưng tìm mọi cách lấn chiếm đất liền và biển đảo. Tháng 2 năm nay họ kỷ niệm 30 năm “dạy cho Việt Nam một bài học”, in sách, báo ca ngợi quân đội của họ. Họ tổ chức kỷ niệm ngày Hải quân Trung Quốc, chiếu phim đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988, giết chết 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Không biết họ làm cách nào mà còn được báo Hà Nội Mới viết bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, viên tư lệnh chỉ huy xâm lược sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Trong khi đó chúng ta hoàn toàn không dám nhắc đến sự hy sinh của các chiến sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc, tội ác của chúng ở đảo Gạc Ma! Trong cơn bão số 9 vừa qua, giữa lúc ba tàu Hải quân Việt Nam được huy động để cứu một tàu cá Trung Quốc gặp nạn thì 17 tàu cá Việt Nam vào tránh bão ở Hoàng Sa bị tàu Hải quân Trung Quốc đánh đập người dân và cướp giật hải sản và ngư cụ. Mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tươi cười hứa hẹn với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hãy cùng nhau khai thác thác Bản Giốc trước kia là của Việt Nam, nay một nửa thuộc Trung Quốc và giải quyết hòa bình biển Đông mà họ tuyên bố cả cái lưỡi bò gồm 80% là của họ! “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa?” Tôi hết sức kinh ngạc trước lời phát biểu của một ủy viên chi ủy. Đây là một thiếu sót vô cùng nguy hại của công tác giáo dục đảng viên của Đảng về vấn đề cốt tử của đất nước, là những kiến thức tối thiểu để biết thiết tha yêu từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc. Mấy tháng qua đồng bào ở trong và ngoài nước sôi sục tức giận vì thái độ vô trách nhiệm của những đảng viên có chức quyền đối với chủ quyền biển đảo. Ví dụ trên báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam do Đào Duy Quát làm tổng biên tập cho đăng lại bài của báo chí Trung Quốc tường thuật về cuộc tập trận trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để bảo vệ chủ quyền của họ! Thông tấn xã Việt Nam đưa tin 12 ngư dân Việt Nam đã từ Trung Quốc trở về đến Quảng Ngãi. Đúng ra phải nói là 12 ngư dân của Việt Nam bị giam trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm trái phép. Tôi xin trình bày tóm tắt về quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam phát hiện và chiếm giữ hai quần đảo này từ lâu đời. Nhiều tài liệu lịch sử để lại chứng minh việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên các đảo này là từ thời chúa Nguyễn, vào thế kỉ 17. Từ đó cho đến ngày bị Pháp đô hộ các triều đại kế tiếp trị vì nước ta đều thực sự nắm chủ quyền và quản lý hai quần đảo này mà không hề có nước nào tranh chấp. Tại hội nghị 51 nước ở San Francisco (Mỹ) tháng 9-1951, ông Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố “chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tất cả đại diện các quốc gia có mặt không người nào có ý kiến khác. Hội nghị này đã ghi vào biên bản Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Ngày18-9-1951 Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Chu Ân Lai có ra một thông cáo ngoại giao nhưng không nhắc gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1974, sau khi mặc cả được với Mỹ, Trung Quốc dùng vũ lực tấn công quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Năm 1988 Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Năm 2007 họ đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào hệ thống chính trị của họ. Họ công bố chủ quyền chiếm 80% biển Đông. Báo chí nước ngoài bình luận nếu Việt Nam chấp nhận đòi hỏi của Trung Quốc thì chỉ còn biển ở bên bờ để bơi tắm, muốn ra khơi phải xin phép họ! Tóm lại Hoàng Sa, Trường Sa đã được các chúa Nguyễn lập bản đồ, đưa vào hệ thống hành chánh quốc gia. Các vua Nguyễn luôn cử quân tuần tiểu, lập đồn trại bảo vệ. Hoàng Sa, Trường Sa đã thấm máu cha ông chúng ta. Đừng buông những lời xúc phạm vong linh của tổ tiên, xúc phạm lòng yêu nước của đồng bào và làm nhục Đảng Cộng sản. Ông Thường bí thư chi bộ chất vấn: “Sai lầm trong cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp thì Đảng ta đã nhận rồi. Đảng đã xác định nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tại sao đồng chí công không tán thành chủ nghĩa xã hội?” Tôi trả lời: Ngày 20-10-1956 Trung ương Đảng ra lệnh chấm dứt cải cách ruộng đất và mở chiến dịch sửa sai. Ngày 30-10-1956 Mặt Trận Tổ Quốc họp để triển khai công tác này. Tại đây tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc, người từng được chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm thành viên đoàn Việt Nam thương lượng với Pháp tại hội nghị Đà Lạt năm 1946, đã đọc một bài tham luận với mục đích tìm nguyên nhân sai lầm để tránh không bao giờ phạm lại những sai lầm tương tự. Ông phân tích ba nguyên nhân cơ bản là: Quan điểm của chúng ta về địch và ta, thù và bạn rất mơ hồ. Chúng ta tiến hành một công việc quan trọng ảnh hưởng đến sinh mạng của hàng triệu người mà bất chấp luật pháp, chỉ lấy chính trị làm thống soái. Tiến hành công việc bởi những người không có chuyên môn và không coi trọng chuyên môn. Bản thuyết trình đầy thiện chí của ông chẳng những không được lắng nghe mà còn bị quy chụp là phản động, chống chế độ, chống Đảng. Ông bị loại ra khỏi Mặt trận Tổ quốc, khỏi biên chế. Mãi đến sau Đổi mới ông mới không còn bị quản chế. Do không khắc phục được nguyên nhân gây ra sai lầm cho nên sau đó lại xảy ra vụ đàn áp Nhân văn – Giai phẩm. Mãi tới 50 năm sau, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định tặng Giải thưởng cấp nhà nước cho bốn văn nghệ sĩ Nhân văn – Giai phẩm mà không chính thức thừa nhận sai lầm. Sai lầm về cải tạo công thương nghiệp ở Hà Nội, 20 năm sau đã lập lại ở Sài Gòn một cách nghiêm trọng hơn. Chúng ta mới từ bỏ cách làm đó sau “đổi mới”, tức là từ bỏ những nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Đảng đã định nghĩa nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vâng, đó là trong khi chờ đợi các nhà lý luận đưa ra một định nghĩa mới. Bởi vì nếu chỉ định nghĩa như vậy thì hằng trăm nước khác sẽ bảo mình nói theo họ nhưng làm thì kém hơn. 20 năm qua chúng ta đã từ bỏ hết những nguyên lý kinh tế của chủ nghĩa xã hội và làm theo các nguyên lý thị trường của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhờ đó mà kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều nước vào đầu tư. Nhưng về chính trị vẫn giữ nguyên cơ cấu của hệ thống xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin. Do đó đã đẻ ra nhiều khuyết tật khi vận hành mà tôi đã kể trong bài góp ý với đảng. Ở đây tôi muốn kể thêm những điều vừa được đọc trong bài viết của ông Nguyễn Văn An nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội: “Ai là người có tư tưởng đổi mới, có tư tưởng hội nhập theo đường lối của Đảng thì người đó là ‘hồng’. Như vậy ‘hồng’ không nhất thiết phải là đảng viên”. Nhưng xin nhìn lại hệ thống chính trị các cấp có người nào giữ trọng trách mà là người ngoài Đảng không? Kể cả ở cấp khu phố, xóm. Vì sao như thế? Nhân đang kỳ họp Quốc Hội, tôi xin đọc mấy bài trên VietNamNet (cơ quan của Bộ Thông tin – Truyền thông). Một bài có tựa đề “Muốn hết nghị gật, Đảng phải đổi mớ...
23 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (72) Hồi ký Tống Văn Công Hoàng Hưng – về tác giả bài viết đổi mới Đảng để tránh sụp đổ! Tôi lấy làm vinh dự được tác giả Thiện Ý gửi gắm việc giới thiệu nhân thân của anh sau khi bài “Đổi mới để Đảng khỏi sụp đổ” được công bố trên Talawas blog. Việc công khai này đánh dấu một bước ngoặt lớn của anh trên con đường phản biện với những người lãnh đạo Đảng của mình, tổ chức mà anh gắn bó suốt năm mươi năm nay, và thực lòng hy vọng vào sự thay đổi của nó để nó tự cứu vãn và cứu vãn cả tương lai dân tộc. Thiện Ý chính là Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập một số tờ báo của hệ thống công đoàn: báo Lao Động Mới (Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam Việt Nam), báo Công nhân Giải phóng (tiền thân của báo Người Lao Động, Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh), báo Lao Động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), cũng là ngòi bút bình luận sắc bén một thời của báo này với bút danh Thuận Lý. Xuất thân từ một gia đình cách mạng, cha là Tống Văn Thêm bút hiệu Tăng Ích, tham gia đảng Cộng sản từ 1929, dịch giả của tạp chí Tân Trung Hoa thời kháng chiến chống Pháp, Tống Văn Công sinh năm 1932, tham gia Vệ quốc đoàn chống Pháp (1950-1959), được giải ba cuộc thi viết truyện ngắn về miền Nam 1959, làm báo Lao Động từ 1960, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Con đường phản biện với Đảng của đảng viên kỳ cựu Tống Văn công bắt đầu từ thời gian sau “Đổi Mới”, chủ yếu với công việc lãnh đạo báo Công nhân Giải phóng và sau đó báo Lao Động trong cuộc đấu tranh dũng cảm chống quan liêu tham nhũng, bênh vực quyền lợi công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là trong mấy năm huy hoàng của tờ Lao Động Chủ nhật mà lịch sử báo chí Việt Nam sẽ phải ghi nhận những người xung kích của báo chí “cách mạng” (đúng nghĩa là báo chí trong vòng kim cô của đường lối tuyên giáo cộng sản) đã phá rào để nói lên những tiếng nói trung thực với đời sống và “khác” với ý của lãnh đạo Đảng. Và tất nhiên anh phải trả giá, may mà cái giá cũng không quá đắt: Bị cho về hưu (xem bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải” của Thiện Ý trên Talawas blog). Điều đáng ghi nhận là chính ở tờ báo này, Tống Văn Công đã thể hiện không “ngu trung” với ý thức hệ, thực lòng đoàn kết mọi lực lượng của dân tộc để xây dựng một nước Việt Nam mới – ở đây là một tờ báo mới (bao gồm những nhà báo đảng viên trung thực, những nhà báo tay nghề cao của Sài Gòn cũ, những cựu-tù-chính-trị của chế độ, những người trẻ có tâm huyết). Và quả nhiên là tất cả mọi người trong tờ báo cũng thật lòng đoàn kết dưới sự lãnh đạo của những đảng viên cấp tiến và có trình độ như anh, mong được dùng ngồi bút phục vụ công cuộc “Đổi mới”. Chính đó là sức mạnh khiến mọi người chấp nhận san sẻ thu nhập ít ỏi như nhau (80.000 đồng một tháng vào năm 1990) say sưa làm báo như đi “làm cách mạng”. Tình cảm giữa anh Công và tôi nảy nở trong những ngày tháng không quên ấy. Tôi là một người vừa đi cải tạo vì thơ văn “phản động” về chưa bao lâu, lại được giao toàn quyền nắm trang Văn hóa-Văn nghệ của một tờ báo lớn, đó là chuyện chưa từng có và không thể hình dung (ngày hôm nay thì lại càng không thể). Nhờ sự kiên quyết của anh, báo Lao Động đã là tờ báo đầu tiên giới thiệu các nhân vật nhân văn giai phẩm (Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng…), ủng hộ những khuynh hướng sáng tác mới, hiện đại còn bị kỳ thị của giới chính thống đặc biệt trong mĩ thuật và văn học. Qua nhiều thử thách, tình đồng nghiệp giữa chúng tôi đã biến thành tình bạn, tình đồng chí. Một thời gian dài sau khi nghỉ hưu, Tống Văn Công hầu như không xuất hiện trong đời sống báo chí, hoặc chỉ xuất hiện với bút danh nào đó với những bài vô thưởng vô phạt, dường như anh đã an phận thủ thường. Nhưng anh lại vẫn luôn luôn theo dõi, trao đổi bàn bạc với bạn bè thân hữu về mọi tình hình đang diễn ra trên đất nước. Những ai quen biết anh đều nghĩ sẽ đến lúc Tống Văn Công tái xuất giang hồ, không thể khác. Không phải vì anh là anh hùng hảo hớn gì, mà đơn giản là tình hình đất nước dần dần đi đến chỗ hiểm nguy mà nếu không quá hèn nhát, quá giá áo túi cơm hay nhất quyết mũ ni che tai thì những người có hiểu biết, có lương tri, có tâm huyết buộc phải bước ra khỏi nơi trú ẩn an toàn để bày tỏ thái độ. Với những người đã trót mang nghiệp “ngôn luận”, im lặng trước cái sai, cái xấu, cái lỗi thời lúc này là mang tội đồng lõa không thể biện minh. Và bắt đầu xuất hiện bút danh Thiện Ý trên Talawas blog, với những bài viết rất được chú ý vì sự thẳng thắn, cái nhìn mang tính tổng quát, lập trường triệt để nhưng tỉnh táo và chân thành xây dựng của một người trong cuộc. Từ bài viết đầu tiên về khủng hoảng văn hóa đạo đức, tác giả đã nêu rõ nguyên nhân sâu xa, nền tảng của nó là khủng hoảng ý thức hệ; đến bài mới nhất, anh vẫn triển khai lập luận ấy đến cùng, và mở nó ra thành cái nhìn toàn diện về thể chế. Cuối cùng việc phải đến đã đến: Anh đặt thẳng vấn đề về hệ thống chính trị và tính chính đáng của đảng cầm quyền. Chính ở bài này, anh quyết định công bố tên thật đằng sau cái bút danh mà anh muốn giữ vì đã quen với bạn đọc và có thể chuyển tải “thiện ý” của mình. Anh đã giải phẫu vào cái đệ nhất yếu huyệt, gót chân Achille của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, nếu như với việc công bố bài này cũng tên thật, mặc dù đầy “thiện ý”, Tống Văn công có bị những thành phần cứng rắn trong Đảng của mình làm khó thì cũng là chuyện dễ hiểu. Tôi là một công dân Việt Nam ngoài Đảng, nhưng nhận thức rõ rằng trong một thời gian còn dài, tương lai của đất nước, của dân tộc phụ thuộc chủ yếu vào những biến chuyển trong nội bộ Đảng cầm quyền. Từ lâu tôi đã đặt câu hỏi: ngoài những kẻ thoái hóa biến chất, đặc quyền đặc lợi đang múa tay trong bị trước tình trạng hỗn loạn của xã hội hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam còn được bao nhiêu đảng viên chân chính, không bám quyền bám lợi mà thật sự nghĩ đến dân đến nước? Tại sao họ im lặng thế? Vì sợ hãi kỷ luật Đảng? Vì luyến tiếc một quá khứ oai hùng? Vì chưa tìm được lối ra? Vì lo lắng một sự sụp đổ nguy hiểm? Bài viết mới nhất của Thiện Ý Tống Văn Công là một câu trả lời cho tôi. Vẫn có không ít đảng viên mang trong đáy sâu lòng mình phẩm chất của người yêu nước thực sự, và không phải không có những người nghĩ được lối ra khá an toàn cho cuộc khủng hoảng khủng hoảng và lối ra là tên một luận văn của Nguyễn Kiến Giang. Và họ đã lên tiếng, ngày càng đông, ngày càng thẳng thắn. Tôi tin rằng những ý kiến của Tống Văn Công hôm nay về căn bản đã nói đúng suy nghĩ của đa số người dân Việt Nam hôm nay, cả đảng viên lẫn không đảng viên, kể cả những quan chức đang hưởng lợi từ cơ chế hiện hành nhưng có tầm nhìn xa về tương lai của con cháu họ. Và tôi vẫn chưa hết hy vọng ở sự biết lắng nghe của những người có quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ít ra là một số và con số này sẽ ngày càng tăng. Nếu không, thì thảm họa cho đất nước. Posted on Tháng Mười Một 29, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/11/29/tu-theo-cong-den-chong-cong-72-hoang-hung-ve-tac-gia-bai-viet-doi-moi-dang-de-tranh-sup-do/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73): https://www.minds.com/newsfeed/1020244905374068736?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (71): https://www.minds.com/newsfeed/1020243791062728704?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
22 views ·