ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (74) Hồi ký Tống Văn Công Vì sao tội ác lên ngôi? Suốt mấy tuần qua, báo chí trong nước đăng nhiều bài phân tích nguyên nhân của hai vụ giết người cướp của ghê rợn xảy ra cùng thời gian ở Bắc Giang và Bình Dương. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vốn là nhà giáo, bà bức xúc rung chuông về giáo dục nhân cách. Nhiều vị tiến sĩ tâm lý vào cuộc. Tiến sĩ Thạch Ngọc Yến có bài viết “hiếu vách chắn trước cơn bốc đồng”, cho rằng các vụ này có “mẫu số chung” là: họ có một quá khứ không bình thường. Có thể là sự xáo trộn trong gia đình, là tuổi thơ bị bỏ rơi. Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Trọng Anh có bài “người lớn hãy làm gương”, với mở đầu “Ông bà ta dạy: Con dại cái mang. Do đó con cái hư hỏng, cha mẹ phải xem lại mình”. Nhà báo Cao Tuấn có bài “Sức mạnh kháng thể”, “khái quát hơn cái ác có vẻ như đang ẩn hiện khắp nơi”. Thế nhưng ông lại nhận định: “Nó là sản phẩm ‘quái gỡ’ (nhưng không nhiều) của một xã hội đang vận động đi lên – các yêu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn và yếu tố mới, tiến bộ chưa định hình. Xét về mặt triết học, đây là thời kỳ chuyển tiếp không dễ dàng đối với bất cứ xã hội nào”. Lạ lùng là ông khuyên đừng “quá chú tâm truy tìm gốc rễ của những hiện tượng quái gỡ, hãy dành nhiều thời gian hơn để thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng lành mạnh”. Thật không khác nào trước con bệnh ngặt, lại khuyên thầy thuốc chớ chuẩn đoán bệnh, mà hãy khuyến khích họ vui chơi chạy nhảy! Tôi không phải nhà nghiên cứu tâm lý, nhưng có lưu tâm đến vấn đề đạo đức xuống cấp, khi nghe anh Thái Duy (tức nhà văn Trần Đình Vân tác giả “Sống như anh”) từ miền Nam trở ra Hà Nội tâm sự: “Cậu ạ, Đảng mình có trách nhiệm đã làm xuống cấp đạo đức người dân Hà Nội. Hồi tớ đi học, mỗi khi thấy đám ma từ xa, cả bọn xuống xe đạp, giở mũ cúi đầu, chờ xe đi qua. Còn nay, bọn trẻ ngang nhiên phóng xe, lại còn lớn tiếng chửi thề, tại sao xe tang đi chậm cản đường!” Tôi nghĩ đạo đức xuống cấp bắt đầu từ chuyện lớp trẻ chửi xe tang cản đường đã phát triển dần từng năm một! Tết Nguyên đán 2009, Hà Nội xảy ra vụ hàng trăm người xô đạp nhau tranh cướp hoa anh đào, tôi đã viết bài “Vì sao đạo đức băng hoại?” tặng nhà thơ Hoàng Hưng và giáo sư Nguyễn Huệ Chi là hai người quan tâm vụ việc này. Gần ba năm qua, tình trạng xã hội và con người Việt Nam đã đi tới câu hỏi bức thiết hơn: Vì sao tội ác lên ngôi? I. Đảng Cộng sản đoạn tuyệt với đạo đức truyền thống! Xin đọc tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx-Engels, Phần 2, “Những người vô sản và những người cộng sản” (Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, năm 1974, trang 77): “Có người sẽ bảo, cố nhiên những quan điểm tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền… đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền vẫn luôn được bảo tồn qua những biến đổi ấy. Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý, v.v… chung cho mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xóa bỏ những chân lý vĩnh cửu, nó xóa bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới tôn giáo và đạo đức; làm như thế là trái ngược với tất cả sự phát triển lịch sử trước kia? Lời buộc tội ấy rốt cuộc là gì? Lịch sử của tiến bộ xã hội từ trước tới nay đều diễn ra trong đối kháng giai cấp, những đối kháng bằng những hình thức khác nhau tùy thời đại. Nhưng dù những đối kháng bằng hình thức gì đi nữa, hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện thực chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ mặc dù có muôn màu muôn vẻ và hết sức khác nhau vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thái ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa. Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với tư tưởng cổ truyền.” Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam bắt đầu được nghe, “nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á”. Nhà nước này sắp xếp thứ tự của “tứ dân” từ sĩ, nông, công, thương phải thay đổi: Giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng; giai cấp nông dân là quân chủ lực cách mạng nhưng lại chia thành: Cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần cố là cốt cán tin cậy. Trung nông kém tinh cậy hơn, chia ra trung nông lớp dưới và trung nông lớp trên. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột phải tước bỏ tính bóc lột của họ. Địa chủ không còn nằm trong lực lượng yêu nước mà là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là tạch tạch xè, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ bị dao động, cần được theo dõi, uốn nắn. Thương nhân là người xấu xa nhất. Giai cấp tư sản là đối tượng phải tiêu diệt, nhưng tư sản thương nghiệp, gọi là bọn mại bản phải tiêu diệt đầu tiên. Nhiều người cho rằng sự sắp xếp lại tứ dân như trên là đem tay chân thay thế cho bộ não của xã hội (đến nay, ở thời đại kinh tế tri thức việc gọi giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thì sự vô lý càng trở nên bức xúc) ! Từ lúc ấy, “đại đoàn kết” đã nhường bước cho “đấu tranh giai cấp”, đạo đức bắt đầu đảo lộn, chữ “tố” lên ngôi thành một loại hoạt động xã hội được tôn vinh, đẻ ra thành ngữ mới “con tố cha vợ tố chồng”! Đạo đức cao nhất là trung thành với chủ nghĩa Marx-Lênin. Với nguyên tắc dân chủ tập trung, lãnh tụ đảng Cộng sản trở thành thượng đế. Lãnh tụ quốc tế Cộng sản đáng kính yêu hơn cả cha mẹ mình: “Vui biết mấy khi con học nói. Tiếng đầu đời con gọi Stalin.” (Tố Hữu). Chữ trung, chữ hiếu truyền thống cũng thay đổi. Lời cụ Hồ “trung với nước” bị đổi thành “trung với Đảng”. Trong cuộc chính Đảng Trung ương khóa 2, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có người nói, người cộng sản là vô tình, là bất hiếu. Con làm cộng sản có khi phải bỏ cả bố mẹ. Cái đó có hay không? Có! Người cách mạng nhất, là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến dày vò. Mình chẳng những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa. Phải hiểu chữ hiếu theo tinh thần cách mạng rộng rãi như vậy. Gia đình to là cả nước và gia đình nhỏ, cái nào nặng cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to! Đó là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 389). Sách Đại học (Tập 1 trong Tứ thư) viết: “Có hiếu là phải biết phụng sự vua. Có đễ là biết phụng sự người lớn”, tức là có ý dạy rằng phụng sự vua cũng có nghĩa là có hiếu với cha mẹ, chứ không phải đòi hỏi chọn việc phụng sự vua mà bỏ cha mẹ. Có lẽ, vì “cách mạng cho gia đình to, hy sinh gia đình nhỏ” thể hiện triệt để tư tưởng của chủ nghĩa tập thể, cho nên “năm điều bác Hồ dạy” không có điều nào dạy con cái, hiếu thảo, kính yêu cha mẹ, ông bà. Bởi vì cha mẹ, ông bà của gia đình nhỏ đã được đặt trong gia đình lớn là: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào”. Trong hồi ký “Chuyện làng ngày ấy” nhà thơ Võ Văn Trực đã kể khá sinh động chuyện làng của ông phá bỏ chùa chiền, miếu mạo, tập thể hóa cả mồ mả ông bà. Tiếp theo đó, hồi ký “Cọng rêu dưới đáy ao”, Võ Văn Trực kể chuyện chính quyền, đoàn thể buộc người ta phải hy sinh mọi lợi ích riêng tư, dành tất cả cho tập thể. Con người muốn cho riêng mình thì buộc phải che giấu, nói dối (lý lịch gia đình, các mối quan hệ xã hội, báo cáo láo thành tích, những lo toan cho cá nhân, gia đình mình). Do đó, từ điển có thêm từ “khai man”, “tố điêu”. II. Đạo đức cách mạng và cái giường Procuste Từ năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Sửa đổi lề lối làm việc” đã đề ra việc chống các bệnh chủ quan, ích kỷ hẹp hòi, cá nhân, bản vị, cục bộ và xây dựng đạo đức cách mạng. Từ đó cho tới năm qua đời, Cụ viết rất nhiều bài mở rộng tư tưởng này, tiêu biểu là bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, viết ngày 3-2-1969, và trong “Di chúc” đoạn nói về Đảng cầm quyền, cụ chỉ ra 10 bệnh của chủ nghĩa cá nhân cần phải xóa bỏ và đề ra nội dung đạo đức cách mạng gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chí công vô tư vốn là một khái niệm đạo đức cũ. Chí công nghĩa là rất công bằng; vô tư là không có lòng riêng khi làm việc chung. Khái niệm này vốn dành cho quan lại, chứ không phải cho dân thường. Với quan chức, nó cũng chỉ đòi hỏi họ chí công vô tư khi hành xử công việc, chứ không phải trong cuộc sống riêng tư. Bởi vì trong cuộc sống riêng tư, họ cũng muốn lên chức, có lương cao, bổng hậu, vợ đẹp con khôn, thành đạt. Cụ Hồ biến ý nghĩa cũng từ này thành đạo đức cách mạng, đòi hỏi mọi người đều phải thực hiện. Thậm chí Cụ cho rằng, nhiều đảng viên không thấm nhuần tư tưởng chí công, vô tư cho nên mắc chủ nghĩa cá nhân; và chí công, vô tư thì mới có cần, kiệm, liêm, chính. Theo cách hiểu phổ biến thì các nội dung trên đòi hỏi con người phải triệt tiêu cái riêng, đưa cái chung, cái tập thể lên địa vị độc tôn. Trong thời chiến (mà nước ta thời chiến quá dài), mọi người dân dễ chấp nhận tư tưởng ấy, nhất là khi đặt mình giữa cái sống, cái chết ở chiến trường. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang “trước sự hy sinh, con người thật ra phải có ý thức rất cao về cá nhân mình. Đó là phút thăng hoa của con người cá nhân”. Tuy nhiên, nếu cho rằng chủ nghĩa tập thể giúp cho Việt Nam chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì không đúng. Chính chủ nghĩa yêu nước mới là động lực chiến thắng, còn chủ nghĩa tập thể chỉ hạn chế động lực ấy. Có thể đưa ông Kim Nhật Thành của Triều Tiên làm ví dụ. Ông Kim được cả triệu quân Trung Quốc chi viện, nhưng vẫn không thắng nổi Hàn Quốc. Bởi ông ta không có Cách mạng Tháng Tám, không có Hiến pháp 1946, không có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam với lá cờ Hòa bình, Độc lập, Trung lập. Nước Mỹ giàu mạnh, nhờ có dân chủ mà người dân có quyền ngăn chặn chiến tranh Việt Nam chỉ trong 5 năm, khi họ thấy chính phủ sai lầm. Việt Nam nghèo, lại bị cấm vận, nhưng đã kéo dài sự có mặt ở Campuchia đến 10 năm, chịu biết bao hậu quả không đáng có! Chủ nghĩa tập thể vô hiệu hóa lợi ích và trách nhiệm cá nhân và tước mất lực lượng đại đoàn kết dân tộc ngay trong thời chiến. Những ai từng tham gia kháng chiến chống Pháp đều biết giai thoại này: Các ông Năm Lửa, Ba Gà Mổ bảo nhau “bọn Việt Minh hội họp liên miên, cho nên còn rất ít thì giờ tìm đánh mình. Nếu họ bớt hội họp thì nguy cho mình đó!”Từ những năm 50, do lo sợ bị loại vì chủ trương chấn chỉnh tổ chức, nhiều cán bộ chỉ huy các khu đã rời bỏ kháng chiến như Bảy Viễn, Trịnh Khánh Vàng… Trong thời chống Mỹ, rất nhiều nhân tài bị cách chức (như Kim Ngọc), hoặc giam cầm (Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Kiến Giang…). Hơn 60 năm qua, năm nào cũng có chỉ thị, nghị quyết giảm hội họp, nhưng không thể giảm được. Bởi vì, cả hệ thống chính trị đều theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, rất cần có một nghị quyết tập thể để khi công việc thất bại chẳng có ai phải giơ đầu chịu báng! Vinashin nuốt tiền thuế của dân trung bình mỗi đầu người hơn một triệu đồng, nhưng đâu có ai bị kỷ luật. Bauxite Tây Nguyên, dự án lớn của đảng, nhà nước đang băm nát đường vận chuyển ở hai tỉnh, gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, và nếu mai kia xảy ra tai họa trút bùn độc lên đầu 20 triệu nhân dân thì cũng sẽ không có ai phải hầu tòa! Sau giải phóng miền Bắc, chủ nghĩa tập thể bóp nghẹt mọi quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, chỉ có giới văn nghệ sĩ phản ứng bằng vụ Nhân văn-Giai phẩm. Bởi vì đặc thù của lao động nghệ thuật đòi hỏi phải có không gian tự do cá nhân tuyệt đối mới có thể sáng tạo. Không chấp nhận cạnh tranh, chủ nghĩa xã hội tổ chức phong trào thi đua tập thể để thúc đẩy lao động sản xuất. Đó là hình thức làm tăng dối trá theo cấp số nhân. Ở miền Bắc ai cũng đã nghe chuyện thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm trại lợn hợp tác xã. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy lợn cắn nhau quá dữ dội. Thì ra, chủ nhiệm trại lợn đã có “sáng kiến” mượn lợn nuôi cá thể của các gia đình, đem nhốt chung vào chuồng hợp tác xã, để báo cáo thủ tướng về tốc độ phát triển thần kỳ của chăn nuôi tập thể, chứng minh tính ưu việc không thể chối cãi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sa sút, lụn bại ngành giáo dục cũng là phong trào thi đua tập thể “hai tốt”. Không có tự do báo chí, tự do ngôn luận, chủ nghĩa xã hội kêu gọi phê bình, tự phê bình để khắc phục khuyết điểm. Nhưng thực tế cho thấy chả có ai chịu “vạch áo cho người xem lưng”. Đã có giai thoại: “Xin nghiêm khắc phê bình anh Hai luôn làm việc quá sức. Xin chân thành góp ý với anh Hai rằng, sức khỏe của anh Hai không phải là của riêng anh mà là tài sản quý báu của tập thể, của Đảng”. Cho đến nay, những nơi bị phát hiện tham nhũng lớn đều là nơi đang có phong trào thi đua sôi nổi, có tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, đã nhiều năm đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh” như Đại lộ Đông Tây của Huỳnh Ngọc Sĩ chẳng hạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nổi tiếng “muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Nhưng câu này trái với Marx, theo Marx vật chất có trước ý thức. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cách mạng, là có người của giai cấp vô sản, mọi tính người hình thành trong lịch sử bị coi là của giai cấp tư sản, phải xóa bỏ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đặt khuôn mẫu cho con người xã hội chủ nghĩa, giống như kiểu dùng chiếc giường Procuste (chiếc giường mà tên tướng cướp trong thần thoại Hy Lạp tra tấn nạn nhân bằng cách trói vào chiếc giường, ai dài hơn giường thì chặt bớt cho vừa, ai ngắn hơn thì kéo cho dài ra). Thực tế đã cho thấy, đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ cũng không làm sao có được con người xã hội chủ nghĩa! Trong nhật ký ngày 18-3-1958, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết: “Bây giờ đã đến cảnh không ai dám nói thật với ai”. Năm mươi năm sau, nhà văn Nguyễn Khải, đảng viên 60 tuổi Đảng, giải thưởng Hồ Chí Minh, lập lại lời Nguyễn Huy Tưởng như một tổng kết bản chất của chế độ trong bút ký chính trị cuối cùng: “Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật”. Như vậy có thể nói, tất cả những người ưu tú nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có một ai thực hiện được đạo đức cách mạng. Nói dối, nghĩ một đằng, nói một nẻo chính là nguyên nhân đầu tiên, từ đó đẻ ra những tài năng khác làm sa đọa xã hội. III. Đạo đức cách mạng xung khắc với “Đổi mới”! Cuối thập kỷ 80, đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, nổi bật là kinh tế và chính trị. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt lắng nghe nhân dân, đã dám làm một việc tày đình là xé rào, thực hiện “hài hòa ba lợi ích”: lợi ích nhà nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động. Lợi ích cá nhân người lao động là điều chỏi với chủ nghĩa tập thể! Năm 1982, khi bị ra khỏi Bộ Chính Trị, trở về làm bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Linh tiếp tục xé rào làm cho kinh tế, đời sống ở Sài Gòn tương đối dễ chịu so với cả nước. Năm 1983, trong đợt học tập Nghị quyết Trung ương (Khóa 5), tôi được xếp vào tổ thảo luận của khối Dân vận Trung ương do Trưởng ban Vũ Quang làm tổ trưởng. Ông Vũ Quang hướng dẫn tổ phê phán “chủ nghĩa tự do kinh tế ở Sài Gòn” đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, năm 1986 Đại hội 6 đã chọn “xé rào” làm tiền đề của đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm khâu đột phá. Đổi mới kinh tế tức là trả lại tự do, dân chủ cho nhân dân, nông dân được ra khỏi hợp tác xã để nhận khoán hộ, người có vốn được đứng ra kinh doanh sản xuất và mua bán. Đổi mới kinh tế xóa bỏ những nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, tức là chọc thủng một mạng lớn chế độ toàn trị, nhưng được gọi tránh lẽ là “chế độ quan liêu, bao cấp”. Thật đáng tiếc, ông Nguyễn Văn linh không ý thức được rằng ba lợi ích mà ông tiếp nối cách làm của Võ Văn Kiệt đã làm bật dậy sức sáng tạo của toàn dân, chính vì nó rời bỏ chủ nghĩa tập thể lỗi thời, trả lại tự do cá nhân cho người lao động. Ông khư khư định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đổi mới chính trị tương ứng với kinh tế. Ông vừa mới nghe tướng Trần Độ để cho ra Nghị quyết 05 “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, ngay sau đó đã giật mình, vội quy tội Trần Độ chệch hướng xã hội chủ nghĩa! Ông diệt sinh mệnh chính trị Trần Xuân Bách, chọn Đỗ Mười, người có “thành tích” trong một tuần đánh tan giai cấp tư sản dân tộc, làm người kế nhiệm. Ông chủ động cúi mình cầu thân với Bắc Kinh, vì cho rằng “dù có tư tưởng bành trướng, nhưng cũng là xã hội chủ nghĩa với nhau”. Đổi mới vì thế bị dẫm chân tại chỗ, đất nước bỏ lỡ nhiều cơ hội: không sống bình thường quan hệ với Mỹ, chậm vào WTO, không dân chủ hóa xã hội, làm cho hệ thống chính trị thoái hóa, cản trở phát triển kinh tế, do vậy việc thực hiện được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Nghị quyết Đại hội 11) chỉ là ảo tưởng vì không tạo được điều kiện hòa giải, hòa hợp, phát huy sức mạnh dân tộc. Không đổi mới chính trị tương thích với kinh tế đã đưa tới khủng hoảng toàn diện mà nổi bật là hai tình trạng sau đây: Một là, quyền lực nhà nước không bị kiểm soát, hạn chế, không có nền tư pháp độc lập; không có báo chí tự do đã khiến cho đảng viên, cán bộ lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, nổi bật là tình trạng chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, ghê gớm hơn là hình thành những nhóm lợi ích lũng đoạn chính sách nhà nước. Nhìn từng làng xã, nhìn rộng ra cả nước, ai cũng thấy những kẻ tự xưng là đầy tớ của nhân dân, mở miệng là giao giảng đạo đức cách mạng, chí công vô tư, chính là những tư sản đỏ, sống trên luật pháp, tham nhũng từ to đến nhỏ, ăn cả tiền từ thiện cứu trợ đồng bào các vùng bị lũ lụt. Những người cơ cực, những dân đen thấp cổ bé họng, uất ức tìm mọi cách dành quyền sống trong một xã hội bất bình, bằng mọi cách “loạn cương” như lừa lọc, cướp giật, giết người. Thế là hình ảnh một xã hội trung cổ được tái hiện: cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. Có thể xếp song song hai dòng người sa đọa, nhưng đối chọi nhau trong bức tranh xã hội Việt Nam: một bên là Đinh Văn Hùng ủy viên Trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy Ninh Bình Buôn bình cổ, trống đồng trị giá hàng triệu USD, đã “hạ cánh an toàn”, đang sống trong cơ ngơi như đế vương; Nguyễn Trường Tộ, Phó bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh Hà Giang mua trinh học sinh vị thành niên, bị gái điếm chụp ảnh khỏa thân đã “hạ cánh an toàn”, đang sống trong biệt thự sang trọng. Và tiếp theo chúng là hàng ngàn, hàng vạn “đồng chí chưa bị lộ”! Bọn này ngày càng đông nối nhau theo đà sa đọa của hệ thống chính trị. Chính chúng nó là nguyên nhân làm nãy sinh những kẻ thủ ác trong dòng người thứ hai, gồm những Lê Văn Luyện (sát thủ cướp của giết chết vợ chồng chủ tiệm vàng và đứa con tám tháng tuổi con gái lớn bị chém đứt tay), Nguyễn Hải Dương (hung thủ giết chết sáu mạng người trong một gia đình vốn đã cưu mang hắn để trả thù, cướp của) đã và đang mọc lên như nấm! Hai là, tự do kinh tế giải phóng sức lao động sáng tạo của cá nhân, đồng thời đánh thức cho họ biết rằng mình còn có những quyền của con người vẫn còn bị tước đoạt: đó là quyền làm chủ nhà nước, quyền được mở mồm ra nói, quyền được hội họp và lập hội để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp. Những ông Vua Lốp mới (nhân dân Hà Nội gọi ông Nguyễn Văn Chẩn là “vua lốp”, người tự chế ra dép lốp, tái sinh lốp xe cũ như mới, bị chính quyền Hà Nội xử tù ba lần và tịch biên tài sản) của tự do chính trị liên tục xuất hiện từ Trần Xuân Bách đến Nguyễn văn An, rồi Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày… Chân lý đang chia đôi thành hai trận tuyến hết sức gay gắt: Yêu nước và Phản động! Hậu thuẫn cho những người yêu nước dũng cảm là hàng ngàn người ký tên kiến nghị đòi trả tự do cho họ, gồm nhiều đảng viên, lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và nhân dân trong, ngoài nước, kể cả những người đã tham gia hàng chục cuộc biểu tình khắp cả nước từ tháng 6 đến nay. Tiếp sau đó, là hàng triệu nông dân mất đất, bị “giải phóng mặt bằng” bởi các “nhà đầu tư” cấu kết với đảng viên, cán bộ địa phương ép họ chịu đền bù đất đai với giá rẻ mạt, khiến họ hết đường sinh sống. Bên cạnh đó là hàng triệu công nhân tham gia hơn 4000 cuộc biểu tình bị coi là trái pháp luật, vì không có quyền chọn cho mình một tổ chức công đoàn dám bảo vệ quyền lợi đ...

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73) Hồi ký Tống Văn Công Chi bộ phường Tân Kiểng triệu tập hội nghị bất thường Hai ngày sau khi Talawas đăng bài của nhà thơ Hoàng Hưng cho biết Thiện Ý là Tống Văn Công, tôi được triệu tập đến hội nghị chi bộ bất thường. Cuộc họp có ông Danh phó bí thư Quận ủy Quận 7, ông Luân chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy Quận 7 dự. Tôi vừa ngồi lên ghế, thì ông An một đảng viên già từ hàng ghế đầu chạy xuống nói: “Anh Công à, cái đơn thuốc anh cho, tôi không dùng, vì tôi đã được bác sĩ cho đơn thuốc”. Tôi không kịp hiểu ông nói điều ấy là có ý gì. Vào cuộc họp tôi mới hiểu, ông muốn tỏ thái độ không nhờ cậy, không mang ơn một tên chống Đảng và do đó ông hoàn toàn có đủ tư cách để mạt sát hắn. Ông Thường bí thư chi bộ tuyên bố lý do cuộc họp là “để góp ý với đồng chí Tống Văn Công về bài viết có tựa đề ‘Đổi mới đảng tránh nguy cơ sụp đổ’. Bài này có nhiều điều trái với cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng. Rất đáng tiếc là trước khi viết bài này đồng chí Công không tham khảo ý kiến của chi ủy. Tuy vậy nếu bài không đưa lên mạng thì không có cuộc họp này. Mời các đồng chí góp ý với đồng chí Công”. Ông An “phát pháo” đầu tiên: – Viết bài xuyên tạc đường lối của Đảng, lại còn trả lời đài nước ngoài mà không xin phép là vi phạm 19 điều cấm đảng viên không được làm. Theo tôi chúng ta cứ chiếu theo nghị quyết 47-QĐ/TW mà xử lý thôi, có gì phải bàn. Đây là “chống phá” chứ có phải là sai phạm bình thường đâu mà góp ý! Tôi trả lời: Như câu mở đầu bài viết, tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: Giặc nội xâm và giặc ngoại xâm. Đó là điều thôi thúc tôi phải lên tiếng, hy vọng Đảng kịp trở về với dân tộc. Từ khi còn làm việc, tôi đã trả lời với đài, báo trong và ngoài nước, không xin phép. Các anh chị thử hình dung, khi ký giả nước ngoài hỏi, tôi bảo họ “xin quý vị cho tôi xin ý kiến cấp trên đã, rồi sẽ trả lời quý vị sau nhé”. Người ta sẽ nghĩ thế nào về một chế độ bóp nghiệp tự do ngôn luận đến thế? Ông Hiền phó bí thư chi bộ: “Hồi vào Đảng đồng chí Công đã giơ tay thề suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nay không tán thành đường lối xã hội chủ nghĩa nữa thì xin ra Đảng đi. Tại sao còn nhận Huy hiệu 50 tuổi đảng? Việc cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho đồng chí Công cũng là một sai lầm rất đáng tiếc.” Tôi trả lời: Như đã nói, tôi muốn Đảng đồng hành cùng dân tộc, từ bỏ ý thức hệ lỗi thời mà nhân loại đã vượt qua. Nếu không, sẽ nguy hiểm cho Đảng và cho cả dân tộc. Nhiều đảng viên cao tuổi Đảng đã thấy điều ấy, mỗi người có cách ứng xử khác nhau. Nhà văn Nguyễn Khải, 60 tuổi Đảng, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên, năm 2006 đã viết tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” cho rằng chế độ xã hội theo mô hình của Stalin đã đưa tới: “Một xã hội mà công dân không có quyền sống thật, nói thật”. Nhưng ông dặn con chỉ công bố bài này sau khi ông qua đời. Cách làm của Nguyễn Khải thì an toàn cho bản thân, nhưng tỏ ra không tin Đảng biết lắng nghe và không dám vì Đảng. Người thứ hai là nhạc sĩ Tô Hải cũng hơn 60 tuổi Đảng đã viết “Hồi ký của một thằng hèn”, phủ nhận sạch trơn. Đọc bài “Đổi mới Đảng”, ông chê trách: “Tôi vô cùng thất vọng, tại sao Tống Văn Công còn cố tìm đường cho Đảng hoàn thiện để tiếp tục độc quyền lãnh đạo, lẽ ra chỉ nên tuyên bố ra khỏi Đảng và không chịu trách nhiệm gì về mọi đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền”. Tôi chọn cách khác hai người ấy. Tôi đã ở trong Đảng hơn năm mươi năm, tôi phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng. Tôi phải nói thẳng điều mình đã nhận thức được ngay khi còn sống. Nếu Đảng cho rằng tôi có quan điểm sai trái không thể chấp nhận thì tôi sẵn sàng nhận kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng. Về ý kiến cho rằng quyết định cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho tôi là sai lầm. Tôi cho rằng với cách nghĩ đó thì cũng có thể nói việc kết nạp tôi vào Đảng cũng là một sai lầm và việc nhận tôi vào Vệ Quốc Đoàn thời chống Pháp càng là sai lầm. Dù gì thì việc huy hiệu 50 tuổi Đảng của tôi không phải là của chi bộ mà là Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó nếu Ban Thường vụ Thành ủy có quan điểm giống như anh Hiền thì tôi xin nộp lại huy hiệu ấy. Ông Ba Náo, nguyên bí thư chi bộ, đương nhiệm ủy viên chi ủy: “Hai mươi năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước đồng chí Công được ở ngoài Bắc hưởng hòa bình. Chúng tôi hy sinh xương máu giải phóng miền Nam cho đồng chí được trở về, vậy thì cứ ngồi mà hưởng, tại sao lại ‘ăn cháo đá bát’. Tôi hỏi đồng chí: Ai giúp vũ khí cho mình đánh Pháp? Rồi ai giúp vũ khí cho mình đánh Mỹ? Vậy mà nay đồng chí nghe theo luận điệu của bọn thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nói thật, đọc bài này tôi cho rằng không phải một mình đồng chí Công viết, đằng sau đồng chí là những kẻ nào, vì toàn là những luận điệu của bọn phản động. Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói là của ta. Trung Quốc nói họ có chứng cứ là của họ. Hai nước láng giềng tranh chấp với nhau như vậy là chuyện bình thường, cũng như trong chi bộ mình có hai đảng viên bất hòa không nhìn mặt nhau là Út Kỷ với Lê Duyên Hải. Chi bộ có hòa giải họ được đâu. Ta trải qua hàng chục năm chiến tranh, tại sao đồng chí lại đem sự phát triển nhanh của Băng Cốc so với Sài Gòn?” Tôi trả lời: Để chi bộ không phải lo vì có bọn phản động nào xui giục tôi phát ngôn, tôi xin kể lại một số ý kiến của các bậc “trưởng thượng” của Đảng. Ủy viên Bộ Chính trị, thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư góp ý với Đảng về bài học từ 20 năm đổi mới: “Lúc nào chúng ta cũng khẳng định rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam, vậy tại sao chúng ta vẫn mắc sai lầm, tại sao vẫn có những giai đoạn lạc hướng? Vậy cần nghiên cứu, phân tích xem, trong chủ nghĩa Mác-Lênin điều gì trước đây đúng nay vẫn đúng, điều gì trước đây đúng nay không còn phù hợp nữa, điều gì ngay từ trước đã có sai sót. Từ năm 1951 trở đi xu hướng tả khuynh phát triển mạnh do có sự tác động của các chuyên gia Trung Quốc. Sự sụp đổ các nước Đông Âu, sau đó là sự sụp đổ Liên Xô thì xu hướng giáo điều, tả khuynh trong Đảng lại phục hồi. Đã xuất hiện quan điểm không thuận cho Việt Nam gia nhập ASEAN, bảo lưu ý kiến không tham gia năm 1995. Không ít người tự coi mình có quan điểm vững gây không ít cản trở cho sự phát triển bằng những lời phát biểu như “coi chừng chệch hướng”, “đổi mới, không đổi màu”, “hòa nhập không hòa tan”. Nhiều đồng chí mắc sai lầm tả khuynh nghiêm trọng nhưng không bị kỷ luật vẫn giữ được quyền uy vì được đánh giá là kiên định lập trường. Ngược lại, những người mạnh dạn đổi mới không bằng lòng với cái đã đạt được thì lại rất dễ bị chụp mũ là mất lập trường, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ăn phải bả của chủ nghĩa tư bản Bị ảnh hưởng cả sinh mạng chính trị. Về khái niệm diễn biến hòa bình cũng vậy. Các nước Phương Tây điều chỉnh chính sách của họ hằng tháng, hằng năm. Anh không nên dùng một khái niệm chung chung trừu tượng như thế để định lượng những nguy cơ từ các nước Phương Tây. Một nền kinh tế nhiều thành phần mà thành phần nhiều khuyết tật nhất, kém hiệu quả nhất lại là chủ đạo. Vậy thì nền kinh tế đó phát triển thế nào? Cấp dưới tuân theo mọi quyết đoán từ bên trên, tạo ra tâm lý lựa gió xoay chiều cốt cho được việc theo ý trên. Sự dối trá cũng khởi nguồn từ đấy. Người thứ hai tôi muốn nhắc tới là ông Trần Độ, nguyên ủy viên Trung ương đảng, Phó Chủ tịch Quốc Hội. Ông đã viết “Nhật Ký Rồng Rắn”, một di chúc chính trị: “Trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước đã phát triển với trình độ văn minh cao. Vậy mà họ không cần đến chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội với chuyên chính vô sản, độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Bây giờ chỉ còn lại bốn nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên Trung Quốc đã mặc nhiên giã từ chủ nghĩa Mác-Lênin và theo chủ nghĩa thực dụng ‘có màu sắc Trung Quốc’, được chứng nghiệm từ thời Đặng Tiểu Bình với ‘mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột cũng tốt, miễn là bắt được chuột’. Bắc Triều Tiên buộc phải quan hệ với Nam Triều Tiên vì quá nghèo đói”. Người thứ ba tôi muốn nhắc tới là đồng chí Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên trưởng Ban Khoa giáo Trung ương trình bày với Hội đồng Lý luận Trung ương: “Mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu xô viết qua thực nghiệm đã thất bại. Nếu có mô hình của cái gọi là chủ nghĩa xã hội thì phải có màu sắc khác chứ không thể là mô hình lấy đấu tranh giai cấp làm động lực, lấy công hữu làm hình thức sở hữu chi phối, lấy chuyên chính vô sản làm hình thức quản lý duy nhất”. Nhà văn Nguyễn Khải 60 tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu viết “Đi tìm cái tôi đã mất” có đoạn “quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào giải phóng, nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao mà phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!” Ông Nguyễn Văn Trấn làm báo thời Nguyễn An Ninh, đại biểu Đảng bộ Nam bộ đi dự Đại hội 2 của Đảng, nguyên Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền đã viết quyển “Kính gửi mẹ và Quốc hội”, trong đó có yêu cầu “xin Quốc hội cho tự do báo chí bằng chế độ thực dân Pháp”. Xin trả lời câu hỏi: Vì sao ta phải trải qua bao nhiêu năm chiến tranh lại đem so sánh sự phát triển của Băng Cốc với Sài Gòn? Ông Lý Quang Diệu so sánh Sài Gòn và Băng Cốc ở thời điểm 30-4-1975. Xin nhớ cho, ở thời điểm đó, người miền Bắc vào Sài Gòn đã cho rằng Sài Gòn phát triển hơn rất xa Đông Âu, Liên Xô. Ông Võ Văn Kiệt đã phân tích nguyên nhân dẫn tới sa sút, khủng hoảng, tụt hậu ở thời điểm này như sau: “Đại hội 4 của Đảng xu hướng tả khuynh, chủ quan duy ý chí thắng thế, đã đưa ra những quyết định về đường lối và chủ trương sai. Cải tạo công thương nghiệp ồ ạt, cải tạo nông nghiệp vội vã, cải tạo sĩ quan của chính quyền cũ kéo dài quá lâu, đưa dân đi kinh tế mới bằng biện pháp cưỡng bức. Đó là những nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng và ách tắc gây những thiệt hại rất lớn cho kinh tế kể từ năm 1977 trở đi. Thật đau đớn khi nghĩ lại, sự nghiệp giải phóng được hoàn thành trọn vẹn, thành phố Sài Gòn và nhiều thành phố khác ở miền Nam vẫn còn nguyên vẹn kết cấu hạ tầng và tiềm năng về kinh tế hàng hoá, thế nhưng hàng vạn người phải bỏ nước ra đi. Hiện tượng di tản, thuyền nhân cần được nhìn nhận như những vết thương trên cơ thể đất nước, để lại những di chứng trong tâm hồn của không ít đồng bào ta.” Nhân đây tôi muốn nói về khoảng cách giữa nền kinh tế nước ta với các nước xung quanh vẫn đang ngày một tăng sau 20 năm đổi mới. Chúng ta xây dựng, phát triển bằng tiền vốn ODA, nhưng quản lý kém và tham nhũng, nên mỗi công trình bị thất thoát từ khoảng 20 đến 30%. Ông Trần Đức Nguyên nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của chính phủ đã phân tích trên báo mạng Tuần Việt Nam như sau: Nền kinh tế nước ta tăng trưởng kém hiệu quả. Hệ số ICOR của nước là tệ nhất so với các nước xung quanh. ICOR là hệ số cho biết muốn qua tăng trưởng 1 đồng thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001 đến 2007 là 5,2. Trong khi đó, ICOR của Đài Loan là 2,7, của Hàn Quốc là 3, của Thái Lan là 4,1, của Trung Quốc là 4. Năm nay (2009) của Việt Nam tăng lên 8, do đó hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam rất yếu kém. Về câu chất vấn: Ai giúp vũ khí cho ta đánh Pháp, đánh Mỹ mà này nói theo luận điệu thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em? Tôi xin nhắc những câu danh ngôn về sự quan hệ giữa các nước: “không ai cho không ai một cái gì”, “không có đồng minh vĩnh viễn; cũng không có kẻ thù vĩnh viễn”. Trung Quốc từng là đồng minh với Liên Xô, chống Mỹ đã chuyển sang hòa với Mỹ để chống Liên Xô. Nhật Bản bị Mỹ đánh bại, nay là đồng minh số một của Mỹ ở châu Á. Ta cũng từ chỗ coi họ là kẻ thù nhưng nay đang nâng quan hệ đối tác chiến lược với họ lên tầm cao mới. Ta cũng coi Hàn Quốc là đối tác chiến lược chứ không phải Bắc Triều Tiên. Sau khi giải phóng lục địa, Trung Quốc coi Phương Tây là kẻ thù ngăn trở họ giải phóng Đài Loan. Họ trao súng cho ta bắn kẻ thù của họ. Giúp ta là họ tự bảo vệ bằng máu Việt Nam. Họ đã gây áp lực buộc ta ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Năm 1974, họ tiếp Tổng thống Nixon mặc cả trên lưng chúng ta, để đổi lấy việc chiếm đoạt Hoàng Sa. Tháng 4 năm 1975, đại sứ Pháp ở Sài Gòn Jean Marie Merillon đã gặp Dương Văn Minh gợi ý muốn cứu chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì nơi duy nhất có thể cầu cứu là Bắc Kinh. Không được ông Dương Văn Minh cầu cứu, không ngăn chặn được Việt Nam thống nhất, lập tức họ dùng Khơ Me Đỏ tấn công chúng ta trên toàn biên giới Tây Nam. Ta đưa quân cứu dân tộc Khơ Me trước họa diệt chủng thì họ đưa 600.000 quân tấn công sáu tỉnh biên giới phía Bắc, giết cả đàn bà trẻ con, đập phá từ cái nồi cái chén. Trước sự sụp đổ của Liên Xô, lẽ ra phải sáng suốt chọn con đường dân chủ hóa đất nước, dựa vào sức mạnh của nhân loại tiến bộ để bảo vệ đất nước, ông Nguyễn Văn Linh do quá khiếp nhược và ngu trung với ý thức hệ lỗi thời đã cho rằng Trung Quốc bành trướng, nhưng dù sao cũng là nước xã hội chủ nghĩa, đã vô hiệu hóa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, đi cầu hòa trong thế yếu ở hội nghị Thành Đô. Bắc Kinh đã lừa mị bằng “16 chữ vàng”, rồi “4 tốt”, nhưng tìm mọi cách lấn chiếm đất liền và biển đảo. Tháng 2 năm nay họ kỷ niệm 30 năm “dạy cho Việt Nam một bài học”, in sách, báo ca ngợi quân đội của họ. Họ tổ chức kỷ niệm ngày Hải quân Trung Quốc, chiếu phim đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988, giết chết 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Không biết họ làm cách nào mà còn được báo Hà Nội Mới viết bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, viên tư lệnh chỉ huy xâm lược sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Trong khi đó chúng ta hoàn toàn không dám nhắc đến sự hy sinh của các chiến sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc, tội ác của chúng ở đảo Gạc Ma! Trong cơn bão số 9 vừa qua, giữa lúc ba tàu Hải quân Việt Nam được huy động để cứu một tàu cá Trung Quốc gặp nạn thì 17 tàu cá Việt Nam vào tránh bão ở Hoàng Sa bị tàu Hải quân Trung Quốc đánh đập người dân và cướp giật hải sản và ngư cụ. Mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tươi cười hứa hẹn với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hãy cùng nhau khai thác thác Bản Giốc trước kia là của Việt Nam, nay một nửa thuộc Trung Quốc và giải quyết hòa bình biển Đông mà họ tuyên bố cả cái lưỡi bò gồm 80% là của họ! “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa?” Tôi hết sức kinh ngạc trước lời phát biểu của một ủy viên chi ủy. Đây là một thiếu sót vô cùng nguy hại của công tác giáo dục đảng viên của Đảng về vấn đề cốt tử của đất nước, là những kiến thức tối thiểu để biết thiết tha yêu từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc. Mấy tháng qua đồng bào ở trong và ngoài nước sôi sục tức giận vì thái độ vô trách nhiệm của những đảng viên có chức quyền đối với chủ quyền biển đảo. Ví dụ trên báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam do Đào Duy Quát làm tổng biên tập cho đăng lại bài của báo chí Trung Quốc tường thuật về cuộc tập trận trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để bảo vệ chủ quyền của họ! Thông tấn xã Việt Nam đưa tin 12 ngư dân Việt Nam đã từ Trung Quốc trở về đến Quảng Ngãi. Đúng ra phải nói là 12 ngư dân của Việt Nam bị giam trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm trái phép. Tôi xin trình bày tóm tắt về quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam phát hiện và chiếm giữ hai quần đảo này từ lâu đời. Nhiều tài liệu lịch sử để lại chứng minh việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên các đảo này là từ thời chúa Nguyễn, vào thế kỉ 17. Từ đó cho đến ngày bị Pháp đô hộ các triều đại kế tiếp trị vì nước ta đều thực sự nắm chủ quyền và quản lý hai quần đảo này mà không hề có nước nào tranh chấp. Tại hội nghị 51 nước ở San Francisco (Mỹ) tháng 9-1951, ông Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố “chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tất cả đại diện các quốc gia có mặt không người nào có ý kiến khác. Hội nghị này đã ghi vào biên bản Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Ngày18-9-1951 Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Chu Ân Lai có ra một thông cáo ngoại giao nhưng không nhắc gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1974, sau khi mặc cả được với Mỹ, Trung Quốc dùng vũ lực tấn công quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Năm 1988 Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Năm 2007 họ đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào hệ thống chính trị của họ. Họ công bố chủ quyền chiếm 80% biển Đông. Báo chí nước ngoài bình luận nếu Việt Nam chấp nhận đòi hỏi của Trung Quốc thì chỉ còn biển ở bên bờ để bơi tắm, muốn ra khơi phải xin phép họ! Tóm lại Hoàng Sa, Trường Sa đã được các chúa Nguyễn lập bản đồ, đưa vào hệ thống hành chánh quốc gia. Các vua Nguyễn luôn cử quân tuần tiểu, lập đồn trại bảo vệ. Hoàng Sa, Trường Sa đã thấm máu cha ông chúng ta. Đừng buông những lời xúc phạm vong linh của tổ tiên, xúc phạm lòng yêu nước của đồng bào và làm nhục Đảng Cộng sản. Ông Thường bí thư chi bộ chất vấn: “Sai lầm trong cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp thì Đảng ta đã nhận rồi. Đảng đã xác định nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tại sao đồng chí công không tán thành chủ nghĩa xã hội?” Tôi trả lời: Ngày 20-10-1956 Trung ương Đảng ra lệnh chấm dứt cải cách ruộng đất và mở chiến dịch sửa sai. Ngày 30-10-1956 Mặt Trận Tổ Quốc họp để triển khai công tác này. Tại đây tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc, người từng được chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm thành viên đoàn Việt Nam thương lượng với Pháp tại hội nghị Đà Lạt năm 1946, đã đọc một bài tham luận với mục đích tìm nguyên nhân sai lầm để tránh không bao giờ phạm lại những sai lầm tương tự. Ông phân tích ba nguyên nhân cơ bản là: Quan điểm của chúng ta về địch và ta, thù và bạn rất mơ hồ. Chúng ta tiến hành một công việc quan trọng ảnh hưởng đến sinh mạng của hàng triệu người mà bất chấp luật pháp, chỉ lấy chính trị làm thống soái. Tiến hành công việc bởi những người không có chuyên môn và không coi trọng chuyên môn. Bản thuyết trình đầy thiện chí của ông chẳng những không được lắng nghe mà còn bị quy chụp là phản động, chống chế độ, chống Đảng. Ông bị loại ra khỏi Mặt trận Tổ quốc, khỏi biên chế. Mãi đến sau Đổi mới ông mới không còn bị quản chế. Do không khắc phục được nguyên nhân gây ra sai lầm cho nên sau đó lại xảy ra vụ đàn áp Nhân văn – Giai phẩm. Mãi tới 50 năm sau, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định tặng Giải thưởng cấp nhà nước cho bốn văn nghệ sĩ Nhân văn – Giai phẩm mà không chính thức thừa nhận sai lầm. Sai lầm về cải tạo công thương nghiệp ở Hà Nội, 20 năm sau đã lập lại ở Sài Gòn một cách nghiêm trọng hơn. Chúng ta mới từ bỏ cách làm đó sau “đổi mới”, tức là từ bỏ những nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Đảng đã định nghĩa nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vâng, đó là trong khi chờ đợi các nhà lý luận đưa ra một định nghĩa mới. Bởi vì nếu chỉ định nghĩa như vậy thì hằng trăm nước khác sẽ bảo mình nói theo họ nhưng làm thì kém hơn. 20 năm qua chúng ta đã từ bỏ hết những nguyên lý kinh tế của chủ nghĩa xã hội và làm theo các nguyên lý thị trường của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhờ đó mà kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều nước vào đầu tư. Nhưng về chính trị vẫn giữ nguyên cơ cấu của hệ thống xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin. Do đó đã đẻ ra nhiều khuyết tật khi vận hành mà tôi đã kể trong bài góp ý với đảng. Ở đây tôi muốn kể thêm những điều vừa được đọc trong bài viết của ông Nguyễn Văn An nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội: “Ai là người có tư tưởng đổi mới, có tư tưởng hội nhập theo đường lối của Đảng thì người đó là ‘hồng’. Như vậy ‘hồng’ không nhất thiết phải là đảng viên”. Nhưng xin nhìn lại hệ thống chính trị các cấp có người nào giữ trọng trách mà là người ngoài Đảng không? Kể cả ở cấp khu phố, xóm. Vì sao như thế? Nhân đang kỳ họp Quốc Hội, tôi xin đọc mấy bài trên VietNamNet (cơ quan của Bộ Thông tin – Truyền thông). Một bài có tựa đề “Muốn hết nghị gật, Đảng phải đổi mớ...
23 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (72) Hồi ký Tống Văn Công Hoàng Hưng – về tác giả bài viết đổi mới Đảng để tránh sụp đổ! Tôi lấy làm vinh dự được tác giả Thiện Ý gửi gắm việc giới thiệu nhân thân của anh sau khi bài “Đổi mới để Đảng khỏi sụp đổ” được công bố trên Talawas blog. Việc công khai này đánh dấu một bước ngoặt lớn của anh trên con đường phản biện với những người lãnh đạo Đảng của mình, tổ chức mà anh gắn bó suốt năm mươi năm nay, và thực lòng hy vọng vào sự thay đổi của nó để nó tự cứu vãn và cứu vãn cả tương lai dân tộc. Thiện Ý chính là Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập một số tờ báo của hệ thống công đoàn: báo Lao Động Mới (Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam Việt Nam), báo Công nhân Giải phóng (tiền thân của báo Người Lao Động, Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh), báo Lao Động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), cũng là ngòi bút bình luận sắc bén một thời của báo này với bút danh Thuận Lý. Xuất thân từ một gia đình cách mạng, cha là Tống Văn Thêm bút hiệu Tăng Ích, tham gia đảng Cộng sản từ 1929, dịch giả của tạp chí Tân Trung Hoa thời kháng chiến chống Pháp, Tống Văn Công sinh năm 1932, tham gia Vệ quốc đoàn chống Pháp (1950-1959), được giải ba cuộc thi viết truyện ngắn về miền Nam 1959, làm báo Lao Động từ 1960, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Con đường phản biện với Đảng của đảng viên kỳ cựu Tống Văn công bắt đầu từ thời gian sau “Đổi Mới”, chủ yếu với công việc lãnh đạo báo Công nhân Giải phóng và sau đó báo Lao Động trong cuộc đấu tranh dũng cảm chống quan liêu tham nhũng, bênh vực quyền lợi công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là trong mấy năm huy hoàng của tờ Lao Động Chủ nhật mà lịch sử báo chí Việt Nam sẽ phải ghi nhận những người xung kích của báo chí “cách mạng” (đúng nghĩa là báo chí trong vòng kim cô của đường lối tuyên giáo cộng sản) đã phá rào để nói lên những tiếng nói trung thực với đời sống và “khác” với ý của lãnh đạo Đảng. Và tất nhiên anh phải trả giá, may mà cái giá cũng không quá đắt: Bị cho về hưu (xem bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải” của Thiện Ý trên Talawas blog). Điều đáng ghi nhận là chính ở tờ báo này, Tống Văn Công đã thể hiện không “ngu trung” với ý thức hệ, thực lòng đoàn kết mọi lực lượng của dân tộc để xây dựng một nước Việt Nam mới – ở đây là một tờ báo mới (bao gồm những nhà báo đảng viên trung thực, những nhà báo tay nghề cao của Sài Gòn cũ, những cựu-tù-chính-trị của chế độ, những người trẻ có tâm huyết). Và quả nhiên là tất cả mọi người trong tờ báo cũng thật lòng đoàn kết dưới sự lãnh đạo của những đảng viên cấp tiến và có trình độ như anh, mong được dùng ngồi bút phục vụ công cuộc “Đổi mới”. Chính đó là sức mạnh khiến mọi người chấp nhận san sẻ thu nhập ít ỏi như nhau (80.000 đồng một tháng vào năm 1990) say sưa làm báo như đi “làm cách mạng”. Tình cảm giữa anh Công và tôi nảy nở trong những ngày tháng không quên ấy. Tôi là một người vừa đi cải tạo vì thơ văn “phản động” về chưa bao lâu, lại được giao toàn quyền nắm trang Văn hóa-Văn nghệ của một tờ báo lớn, đó là chuyện chưa từng có và không thể hình dung (ngày hôm nay thì lại càng không thể). Nhờ sự kiên quyết của anh, báo Lao Động đã là tờ báo đầu tiên giới thiệu các nhân vật nhân văn giai phẩm (Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng…), ủng hộ những khuynh hướng sáng tác mới, hiện đại còn bị kỳ thị của giới chính thống đặc biệt trong mĩ thuật và văn học. Qua nhiều thử thách, tình đồng nghiệp giữa chúng tôi đã biến thành tình bạn, tình đồng chí. Một thời gian dài sau khi nghỉ hưu, Tống Văn Công hầu như không xuất hiện trong đời sống báo chí, hoặc chỉ xuất hiện với bút danh nào đó với những bài vô thưởng vô phạt, dường như anh đã an phận thủ thường. Nhưng anh lại vẫn luôn luôn theo dõi, trao đổi bàn bạc với bạn bè thân hữu về mọi tình hình đang diễn ra trên đất nước. Những ai quen biết anh đều nghĩ sẽ đến lúc Tống Văn Công tái xuất giang hồ, không thể khác. Không phải vì anh là anh hùng hảo hớn gì, mà đơn giản là tình hình đất nước dần dần đi đến chỗ hiểm nguy mà nếu không quá hèn nhát, quá giá áo túi cơm hay nhất quyết mũ ni che tai thì những người có hiểu biết, có lương tri, có tâm huyết buộc phải bước ra khỏi nơi trú ẩn an toàn để bày tỏ thái độ. Với những người đã trót mang nghiệp “ngôn luận”, im lặng trước cái sai, cái xấu, cái lỗi thời lúc này là mang tội đồng lõa không thể biện minh. Và bắt đầu xuất hiện bút danh Thiện Ý trên Talawas blog, với những bài viết rất được chú ý vì sự thẳng thắn, cái nhìn mang tính tổng quát, lập trường triệt để nhưng tỉnh táo và chân thành xây dựng của một người trong cuộc. Từ bài viết đầu tiên về khủng hoảng văn hóa đạo đức, tác giả đã nêu rõ nguyên nhân sâu xa, nền tảng của nó là khủng hoảng ý thức hệ; đến bài mới nhất, anh vẫn triển khai lập luận ấy đến cùng, và mở nó ra thành cái nhìn toàn diện về thể chế. Cuối cùng việc phải đến đã đến: Anh đặt thẳng vấn đề về hệ thống chính trị và tính chính đáng của đảng cầm quyền. Chính ở bài này, anh quyết định công bố tên thật đằng sau cái bút danh mà anh muốn giữ vì đã quen với bạn đọc và có thể chuyển tải “thiện ý” của mình. Anh đã giải phẫu vào cái đệ nhất yếu huyệt, gót chân Achille của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, nếu như với việc công bố bài này cũng tên thật, mặc dù đầy “thiện ý”, Tống Văn công có bị những thành phần cứng rắn trong Đảng của mình làm khó thì cũng là chuyện dễ hiểu. Tôi là một công dân Việt Nam ngoài Đảng, nhưng nhận thức rõ rằng trong một thời gian còn dài, tương lai của đất nước, của dân tộc phụ thuộc chủ yếu vào những biến chuyển trong nội bộ Đảng cầm quyền. Từ lâu tôi đã đặt câu hỏi: ngoài những kẻ thoái hóa biến chất, đặc quyền đặc lợi đang múa tay trong bị trước tình trạng hỗn loạn của xã hội hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam còn được bao nhiêu đảng viên chân chính, không bám quyền bám lợi mà thật sự nghĩ đến dân đến nước? Tại sao họ im lặng thế? Vì sợ hãi kỷ luật Đảng? Vì luyến tiếc một quá khứ oai hùng? Vì chưa tìm được lối ra? Vì lo lắng một sự sụp đổ nguy hiểm? Bài viết mới nhất của Thiện Ý Tống Văn Công là một câu trả lời cho tôi. Vẫn có không ít đảng viên mang trong đáy sâu lòng mình phẩm chất của người yêu nước thực sự, và không phải không có những người nghĩ được lối ra khá an toàn cho cuộc khủng hoảng khủng hoảng và lối ra là tên một luận văn của Nguyễn Kiến Giang. Và họ đã lên tiếng, ngày càng đông, ngày càng thẳng thắn. Tôi tin rằng những ý kiến của Tống Văn Công hôm nay về căn bản đã nói đúng suy nghĩ của đa số người dân Việt Nam hôm nay, cả đảng viên lẫn không đảng viên, kể cả những quan chức đang hưởng lợi từ cơ chế hiện hành nhưng có tầm nhìn xa về tương lai của con cháu họ. Và tôi vẫn chưa hết hy vọng ở sự biết lắng nghe của những người có quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ít ra là một số và con số này sẽ ngày càng tăng. Nếu không, thì thảm họa cho đất nước. Posted on Tháng Mười Một 29, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/11/29/tu-theo-cong-den-chong-cong-72-hoang-hung-ve-tac-gia-bai-viet-doi-moi-dang-de-tranh-sup-do/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73): https://www.minds.com/newsfeed/1020244905374068736?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (71): https://www.minds.com/newsfeed/1020243791062728704?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
22 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (71) Hồi ký Tống Văn Công Đổi mới Đảng, tránh nguy cơ sụp đổ! Tổ quốc trước hai hiểm họa Tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: giặc ngoại xâm và giặt nội xâm. Mọi người Việt Nam yêu nước có trách nhiệm tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi hai hiểm họa đó. Chúng ta đã từng gọi một cách chính xác bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh là kẻ thù trực tiếp nguy hiểm. Những hành động lấn lướt khiêu khích gần đây ở Biển Đông chứng tỏ bản chất của chúng không hề thay đổi. Ngày 2-7-2009 trả lời ký giả Mặc Lâm của Đài Phát thanh RFA, nhà ngoại giao Dương Danh Dy từng làm việc nhiều năm ở Trung Quốc nhận định: Trung Quốc là anh láng giềng to khỏe, tham, lại xấu tính và “sau thời điểm 2010 trở đi chưa biết họ làm cái gì đâu. Họ kinh khủng lắm”. Hai mươi năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sức cố gắng xây dựng với Bắc Kinh mối quan hệ đồng chí kèm theo “16 chữ vàng” (do Giang Trạch Dân đặt ra, Lê Khả Phiêu tán thành đưa vào tuyên bố chung tháng 2-1999: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Mấy năm sau lại bổ sung “tinh thần 4 tốt” là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Để tỏ lòng trung thành với mối quan hệ đó nhà nước việt Nam đã bắt bớ những công dân của mình xuống đường biểu tình với khẩu hiệu “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”. Đó là thủ đoạn ngoại giao khôn khéo hay chỉ là sự đớn hèn? Tình trạng này còn kéo dài bao lâu? Rồi bằng cách nào để có thể thực hiện được di chúc thiêng liêng của Đức Trần Nhân Tôn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Không làm được điều đó, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thoát khỏi trách nhiệm trước lịch sử là để đất đai thấm máu cha ông lọt vào tay giặc. Sáu mươi năm trôi qua, tham nhũng hồi ấy chỉ như ruồi muỗi, ngày nay đã trở thành hùm beo, mặc dù ở mọi cấp mọi ngành đều có cơ quan chống tham nhũng! Cứ xem chế độ tiền lương, chủ tịch nước cũng chưa đạt mức phải đóng thuế thu nhập, thế mà cán bộ nào cũng có nhà cao cửa rộng tiêu xài hoang phí thì có thể biết tham nhũng là bệnh của cả hệ thống! Nguyên nhân nào đẻ ra tình trạng đó? Biện pháp nào để ngăn chặn đây? Người ta có thể nêu thêm hiểm họa về môi trường, nhưng thực tế cho thấy vụ Vedan và nhiều vụ khác đều là con đẻ của quan liêu tham nhũng. Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử 80 năm của đảng Cộng sản Việt Nam để đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của đảng và tìm lại sức sống cho Đảng, hòng cứu dân tộc thoát khỏi hai hiểm họa nói trên. Ba thế mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam 1- Mọi đảng viên Cộng sản kể cả chủ tịch Hồ Chí Minh đều bắt đầu từ chủ nghĩa yêu nước mà đến với chủ nghĩa cộng sản. Bây giờ nhiều người cho đó là chọn nhầm đường, lạc đường, hoặc nặng lời hơn, có người lên án Đảng Cộng sản lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, rằng nhân dân theo Việt Minh, theo mặt trận Dân tộc giải phóng, chớ không phải theo cộng sản. Có người cho rằng con đường cộng sản không phải là một tất yếu lịch sử để giải phóng dân tộc, rằng nếu… Tiếc rằng lịch sử không cho chúng ta chứ nếu! Tôi thích câu nói của cựu bí thư đảng Cộng sản Nam Tư Milovan Djilas: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim, đến 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”. Và cũng ông ấy đã nói: “Không thể nói rằng họ (người cộng sản) đã cố tình lừa dối, rồi sau đó không chịu thực hiện. Sự thật là họ không thể thực hiện được những điều mà họ đã nhiệt liệt tin tưởng”. Dù gì thì lịch sử cũng phải ghi nhận việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng tháng Tám và đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến “Điện Biên chấn động địa cầu”. Tất cả những điều ấy làm cho số đông người Việt Nam tin theo Đảng Cộng sản, từng thật lòng khi nói “ơn Bác, ơn Đảng”, thật lòng gọi hai tiếng “Đảng ta”! Tuy nhiên, vào đầu những năm 50 trở đi đã nảy mầm tai họa: – Nhầm đồng minh thể chế, đồng minh giai đoạn, là đồng minh chiến lược, lâu dài; trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán. – Đường lối cách mạng uống dần theo ý thức hệ cộng sản. Hậu quả là niềm tin của nhân dân đối với Đảng nhiều lần bị hẫng hụt. Nhà văn Đào Hiếu nhận xét: “Trừ một số tư sản mại bản, tư sản đỏ, thì đại đa số nhân dân Việt Nam đều căm ghét chế độ hiện nay”. Nếu nhận định đó là đúng thì sự sụp đổ của chế độ đã không thể cưỡng được. 2- Chính giai đoạn “Đổi mới” đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam gượng dậy. Ông Lê Hồng Hà, nguyên cán bộ cao cấp Bộ Công an nhận định về tình hình đất nước 20 năm qua: “20 năm qua, cuộc đấu tranh giữa một bên là Đảng Cộng sản và một bên là toàn dân Việt Nam, kết quả là dân thắng Đảng trên hai mặt trận kinh tế và tư tưởng, nhưng dân chưa thắng về chính trị, vì hệ thống chuyên chính vô sản vẫn còn nguyên”. Cũng phải nhìn lại, nếu không có những đảng viên như Kim Ngọc, Trần Xuân Bách, Trần Độ, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch thì không có đổi mới. Chúng ta có thể lấy Bắc Triều Tiên, Cuba làm đối chứng cho nhận định này! Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, điều ấy không ngoa. Nhưng dùng cái chữ “Đổi mới” là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, thực ra phải nói là “trở lại như cũ trên con đường văn minh của nhân loại”. Chính vì chỉ đổi mới chứ không chịu trở lại như cũ cho nên những người lãnh đạo Đảng Cộng sản luôn luôn ngập ngừng, Cứ hai bước tiến lại một bước lùi, chỉ vì sợ bị mất độc quyền lãnh đạo. Ở đây xảy ra cuộc đấu tranh giữa những người muốn đổi mới toàn diện mạnh mẽ như Trần Xuân Bách, Trần Độ với lực lượng bảo thủ muốn ghìm lại, nhất là lĩnh vực chính trị. Dù gì thì “Đổi mới” đã trở thành một xu thế không thể đảo ngược. Hệ thống chuyên chính vô sản cũng mềm đi chứ không cứng rắn được như trước. Ví dụ, trong vụ giới trí thức kiến nghị dừng dự án Bauxite Tây Nguyên, ban đầu đã có ý đe dọa, gán cho tội chịu ảnh hưởng của bọn phản động, nhưng rồi đã phải lùi lại. Một trang Web Bauxite việt Nam có danh sách gần 3000 người ký tên trong tám đợt kiến nghị, có hàng trăm ý kiến phản biện sắc bén, được hàng triệu người truy cập, quả là một hiện tượng chưa từng có. Tự do kinh tế đem lại một số công ăn việc làm, cuộc sống vật chất của người dân dễ chịu hơn, bộ mặt đất nước cũng có phần thay đổi. Do đó số đông tầng lớp trung lưu và trí thức chưa quá bức xúc đòi hỏi tự do dân chủ. Công nhân đình công, nông dân biểu tình đều vì quyền lợi vật chất cụ thể chứ chưa phải đòi được tự do lập hội, lập công đoàn. Có tài liệu cho rằng trung bình mỗi người dân Việt Nam có chân trong 2,33 tổ chức hội, đoàn, làm cho họ cứ tưởng rằng mình đã được nhiều tổ chức của một xã hội dân sự bảo vệ lợi ích khi cần thiết. 3- Đảng Cộng sản Việt Nam nắm chắc lực lượng quân đội và công an bằng một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trên xuống tận cơ sở và buộc họ đồng nhất đảng với tổ quốc. Nhận định của ông Lê Hồng Hà rất đúng khi cho rằng không thể dùng bạo lực để lật đổ chế độ này. Tuy nhiên ba thế mạnh kể trên đang bị ba điểm yếu bào mòn từng ngày. Nếu không kịp thời có giải pháp sáng suốt và mạnh mẽ để đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam, về lâu dài nguy cơ sụp đổ khó tránh khỏi. III. Ba điểm yếu của Đảng Cộng sản 1- Do “ngu trung” với ý thức hệ, Đảng Cộng sản Việt Nam không rút được bài học nhầm lẫn chọn bạn đồng minh, đã tiếp tục phạm sai lầm lớn hơn ở cuộc gặp Thành Đô năm 1990, cầu hòa với Bắc Kinh trong thế yếu. Từ đó, hai kẻ thù mang mặt nạ “đồng chí” giả vờ kết giao trên “16 chữ vàng”. (Do quá phẫn nộ trước hành động ngang ngược gần đây của nhà cầm quyền Bắc Kinh, nhân dân đã nhại lại thành 16 chữ đen là “Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, cướp biển lâu dài, thôn tính tương lai”). Nhầm lẫn trước năm 1954 còn có thể thông cảm, nhưng từ khi Bắc Kinh liên tục gây chiến tranh biên giới với tất cả quốc gia láng giềng Ấn Độ, Liên Xô, Việt Nam mà vẫn còn cho rằng “từng là xã hội chủ nghĩa với nhau vẫn tốt hơn” thì thật là mù quáng. Năm 1974 chúng đã chiếm Hoàng Sa, năm 1984 chúng bất ngờ tập kích Lão Sơn giết chết 3700 chiến sĩ Việt Nam, năm 1988 chúng chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa, giết chết 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Chúng liên tục lấn tới, lập cơ quan hành chính Tam Sa gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, liên tiếp bắn giết, cướp thuyền, bắt ngư dân chúng ta đánh cá trên vùng biển của mình. Những ai có trái tim yêu nước đều cảm nhận chúng chỉ chực chờ cơ hội để đánh úp chiếm đoạt cả Trường Sa của chúng ta! Từ tháng 3 năm 2009 đến nay, cả nước sôi sục một phong trào đòi hủy bỏ dự án Bauxite mở đường cho hùm dữ vào nhà. Các bậc đại công thần của chế độ, đại tướng Võ Nguyên giáp, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, các thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Lê Văn Cương và hàng ngàn trí thức đã lên tiếng cảnh báo những người có trách nhiệm lãnh đạo đất nước phải thức tỉnh. Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng, trong “Bài học bất ngờ từ Trung Quốc” đã viết: “Năm 2008, tập đoàn Tân Tạo đưa Trung Quốc vào quần đảo Nam Du xây dựng cảng than. Cũng năm 2008, Đài Loan thành công với dự án xây dựng khu luyện thép bên vịnh Sơn Dương. Cuối năm 2008, việc xây dựng nhà máy luyện nhôm Tân Rai, Nhân Cơ giúp Trung Quốc gài quả bom bùn độc trên thượng nguồn sông Đồng Nai. Nếu một ngày nào đó thực hiện kịch bản chiến tranh bất ngờ như năm 1979, họ sẽ nổ quả bom bùn đã gài sẵn ở Tân Rai làm các tỉnh miền Đông và thành phố Hồ Chí Minh chết khát. Họ chiếm Sơn Dương-Hà Tĩnh, chặn cả đường biển lẫn đường bộ từ Nam ra Bắc. Họ chiếm quần đảo Nam Du cắt đường biển quốc tế đến Việt Nam. Một tình huống vô cùng nguy khốn đang diễn ra trước mắt ta đó!” Báo chí và người phát ngôn Việt Nam không dám nêu tên tàu Trung Quốc mà gọi là “tàu lạ”. Trong khi đó, báo mạng Hoàn Cầu thuộc Tân Hoa Xã bình luận rằng: Trung Quốc nên giải quyết tranh chấp biển đảo bằng biện pháp quân sự! Vậy mà nhà nước Việt Nam vẫn sợ mất lòng Trung Quốc, không dám đưa vụ bắt ngư dân của mình ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Dư luận trong và ngoài nước đều chê trách những người lãnh đạo Việt Nam quá ngờ nghệch đã tự chui vào thế kẹt rồi đâm ra hèn nhát trước sức ép của Bắc Kinh. Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc có bài viết tựa đề “Sao bỗng dưng họ lại hèn vậy?” trong đó ông nhắc lại nhiều hành xử anh hùng của người cộng sản Việt Nam trước đây, nhưng không lý giải câu hỏi mới đặt ra. Ở những cuộc chiến tranh cứu nước trước đây, chúng ta luôn luôn có đồng minh thân thiết và được nhiều quốc gia khác ủng hộ. Trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc 1979, chúng ta còn có đồng minh Liên Xô. Trái lại trong cuộc đối đầu với bọn bành trướng Bắc Binh hiện nay, Việt Nam hoàn toàn không có đồng minh chiến lược! Tiến sĩ Storey chủ biên tạp chí Đông Nam Á Đương Đại cho rằng: “Vấn đề biển Đông là chủ đề nan giải” (ý nói đối với Việt Nam) và nhận định: “Các nhà lãnh đạo Ba Đình không thể dựa vào một quốc gia nào khác ngoài bản thân mình trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Không thể dựa vào Mỹ, không thể dựa vào Nga, và càng không thể dựa vào khối ASEAN”. Tại sao ông nhận định như vậy? Bởi vì Cộng sản Việt Nam đã tự xếp mình là đồng minh thân thiết nhất của Trung Quốc. Khi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tiếp Lý Nguyên Triều, trưởng ban Tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc, cảm ơn họ đào tạo cán bộ cho Việt Nam thì cơ quan an ninh Việt Nam bắt luật sư Lê Công Định. Khi Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb đến Hà Nội thì Đài Truyền hình Việt Nam phát lời thú tội của bốn nhà hoạt động dân chủ, trong đó lời khai bổ sung của Lê Công Định là có gặp nhiều quan chức Mỹ, đại sứ Mỹ cho rằng tổ chức tư pháp cần tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều tờ báo và đài truyền hình bình luận rằng, những người hoạt động dân chủ bị bắt đều có liên hệ với các thế lực thù địch chống phá Việt Nam. Các động thái kể trên đã cho thế giới hiểu rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng về phía nào trên bàn của khu vực và toàn cầu! Ông Lê Tuấn Huy trong bài “Bài ngửa biển Đông và bài bản về tư duy”, nhận xét rất đúng rằng: “Trong tương quan biển Đông đã bị đặt vào thế phải tranh chấp, Việt Nam lại không có đồng minh cơ hữu lẫn đồng minh thể chế, khi mà đồng minh lớn nhất về chính trị văn hoá chính là chủ thể muốn tước đoạt biển đảo. Việt Nam cũng hầu như không có được sự hậu thuẫn của công luận thế giới trong vấn đề này và đó cũng là một phần hậu quả từ việc thiếu vắng tương tác đồng minh”. Ông nhận định: “Chần chừ, đối với Việt Nam lúc này đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy mình vào cảnh thân cô thế cô!” Tổ quốc cấp thiết đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải lựa chọn giữa hai con đường: Tìm đồng minh cho dân tộc hay giữ đồng chí cho Đảng. Thật ra thì bọn bành trướng Bắc Kinh đâu có xem Đảng Cộng sản Việt Nam là đồng chí. Cách hành xử trịch thượng của họ đối với ta thật sự như minh chủ đối với chư hầu! Nếu không mau chóng trả lời dứt khoát câu hỏi trên, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ ngày càng bị mất niềm tin của dân tộc và càng lâm vào thế kẹt. 2- Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chỉ thích hợp cho một xã hội có nền kinh tế công hữu và tập thể, phân phối bao cấp từ hạt gạo đến bó rau và đóng cửa với thế giới bên ngoài. Đổi mới kinh tế đã làm cho hệ thống chính trị không còn tương hợp, trở thành chiếc áo cũ rách. Các giá trị hôm qua đặt vào thực tế hôm nay hóa ra khôi hài. Suốt 20 năm “đổi mới”, các kỳ Đại hội Đảng cứ khất lần khất lữa việc định nghĩa “cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có nội dung gì?” Và “vai trò vị trí của giai cấp công nhân, giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng” có gì thay đổi? Nếu chỉ nêu mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì không có gì khác các quốc gia dân chủ, nhưng so ra mình không làm được như họ! Đến khoá 10 này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thấy không thể kéo dài mãi, đã tìm cách giải đáp ở Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đảng lần thứ 6 từ ngày 14 đến 22 tháng một năm 2008 như sau: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội” (tài liệu học tập các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa 10, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2008, trang 33). Các nhà lý luận của đảng quên rằng: “Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ra đời và bắt đầu phát sinh tác dụng cùng với việc xây dựng thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; phạm vi hoạt động của nó được mở rộng theo đà củng cố và phát triển thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tư liệu sản xuất trở thành sở hữu công cộng làm cho nên sản xuất không phải để phục vụ cho việc phát tài và làm giàu của cá nhân hay một giai cấp” (Từ điển kinh tế, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1976, trang 455). Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân phát triển, xung khắc với quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội như nước với lửa, làm sao chịu được sự chi phối của nó? Giai cấp công nhân đang nơm nớp lo bị mất việc làm. Nghe nói mình có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam, họ bảo nhau: “Mấy ông này hay thiệt, vừa đại diện cho công nhân lại vừa là tư bản đỏ!” Hơn 2500 cuộc đình công (chỉ tính đến giữa năm 2008) của công nhân không có sự chỉ đạo của tổ chức công đoàn do Đảng lãnh đạo, đã nói lên niềm tin của họ đang đặt vào đâu. Nói về chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx Kornai János người Hungary cho rằng: “Đảng Cộng sản Trung Quốc trình bày ý thức hệ giả mạo khi dẫn chiếu đến Chủ nghĩa Marx. Cái hệ thống mà Đảng Cộng sản ngự trị về cơ bản mang tính tư bản chủ nghĩa, vì sở hữu tư nhân đã trở thành hình thức sở hữu áp đảo, và bởi vì cơ chế điều phối chính là cơ chế thị trường”. Nhận định đó hoàn toàn đúng đối với đường lối kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do không chịu công nhận đổi mới là vứt bỏ những nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội và do tiếp tục duy trì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin, Đảng đã làm cho xã hội đầy dẫy những hiện tượng thực giả lẫn lộn, nói một đằng hiểu một nẻo, đạo đức xuống cấp trầm trọng! Nói “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, người dân thắc mắc: “Trong lịch sử chưa có ai làm chủ mà không được lãnh đạo, lại còn bị người khác lãnh đạo!” Nói “thông qua dân chủ bầu cử Quốc hội”, người dân bảo: “Lâu nay vẫn là đảng cử dân bầu!” Nói “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”, người dân bảo: “Quốc hội bao giờ cũng họp sau khi Đảng đã họp và đề ra nghị quyết chỉ đạo cho Quốc hội phải làm gì. Vừa qua Bộ Chính trị quyết định đại dự án Bauxite đâu có cần thông qua Quốc hội!” Nói đảng viên cán bộ là đầy tớ của nhân dân, mấy ông “hai lúa” cười: “Cả đời mình làm chủ mệt mỏi quá rồi, cầu mong mấy đứa nhỏ sau này có đứa được làm đầy tớ cho cả dòng họ được nhờ!” Nói “sống và làm việc theo pháp luật”, “mọi người bình đẳng trước pháp luật”, người dân bảo: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa, tư pháp do Đảng lãnh đạo. Người có chức có quyền mới tham nhũng, mà có chức có quyền thì phải là đảng viên, vậy tư pháp làm sao dám xét xử tham nhũng? Hãy coi Tòa án Hà Nội, rồi Tòa án Tối cao cứ như gà mắc tóc trước vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ khởi kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì biết tư pháp Việt Nam được độc lập cỡ nào!” Nói chúng ta đã thực hiện tốt quyền tự do báo chí, người dân hỏi, không nghe ông Lê Doãn Hợp, Bộ trưởng Thông tin Truyền thông bảo: “Phải đi đúng lề phải mới có tự do báo chí” đó sao? Mới đây ông Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng giao cho nhiệm vụ vận động nhân dân phản biện các chính sách của Đảng, nhưng suốt mấy năm, Mặt trận vẫn chưa làm tốt. Xin hỏi, có cách nào để làm tốt được đây, khi mà phản biện chỉ được phép nói trong cái vòng kim cô của nghị quyết Đảng? Ai chẳng sợ lỡ miệng ra ngoài vòng sẽ bị thiệt thân? Các ông Nguyễn Mạnh Tường luật sư Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kim Ngọc bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, Trần Xuân Bách ủy viên Bộ Chính trị, là những nhà phản biện dũng cảm đã bị trừng phạt như thế nào, ai chẳng biết! Mới đây, Viện Nghiên cứu Phát triển IDS do giáo sư Hoàng Tụy làm Chủ tịch Hội đồng, tiến sĩ Nguyễn Quang A làm viện trưởng, đã phải tuyên bố tự giải thể để phản đối Nghị quyết 97 của thủ tướng chính phủ hạn chế quyền được nghiên cứu và phản biện. Ngày 15 tháng 9 năm 2009, Mặt trận Tổ quốc họp báo về Đại hội lần thứ 7, có nội dung “tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng đại đoàn kết toàn dân”. Làm sao đồng thuận được khi không có phản biện dân chủ mà chỉ có quyết định từ trên dội xuống? Các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân loại tiến bộ khi vào Việt Nam đều phải co lại cho vừa cái khung xã hội chủ nghĩa. Cách hiểu, cách làm của Việt Nam trái với các văn kiện quốc tế về quyền con người mà nhà nước Việt Nam đã cam kết thực hiện. Năm nào Việt Nam cũng bị lên án vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền và bị xếp hạng vào cuối bảng của các nước trên thế giới. Phản ứng của nhà nước Việt Nam luôn luôn là “nhận thông tin sai lạc với thực tế Việt Nam”, hoặc “can thiệp vào nội bộ Việt Nam”, nặng nề hơn nữa là “âm mưu của các thế lực thù địch hòng chống phá Việt Nam”! Chúng ta chấp nhận hội nhập với cộng đồng nhân loại, làm bạn với tất cả các nước, nhưng lại không đồng ý với người ta về những giá trị phổ biến của nền văn minh nhân loại là: xã hội công dân, sở hữu tư nhân, nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ đại nghị. Chủ nghĩa xã hội thế giới đã thất bại vì phủ định những giá trị phổ biến đó, cố tìm những giá trị khác (xã hội toàn trị, công hữu, kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, chuyên chính vô sản, dân chủ tập trung xã hội chủ nghĩa) hòng thay thế, rồi lâm vào ngõ cụt và bị sụp đổ! Trong bài phát biểu với Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày30-6-2009) ông Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quá trình cầu nguyện với hình thức quản lý chuyên chính vô sản, với nguyên tắc tập trung dân chủ, xã hội chưa bao giờ được hưởng quyền tự do dân chủ đích thực”. Và ông lưu ý: “Nếu xã hội… họ cảm thấy áp lực chuyên chế nặng nề lắm thì không thể tránh được những biến động xấu, rất xấu có thể xảy ra bất cứ lúc nào”. Chính hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin đã làm suy yếu các khả năng chống tham nhũng, hiểm họa nội xâm của đất nước. Nhiều người già ở Sài Gòn cho rằng tham nhũng hiện nay đã vượt xa chế đ...
19 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73) Hồi ký Tống Văn Công Chi bộ phường Tân Kiểng triệu tập hội nghị bất thường Hai ngày sau khi Talawas đăng bài của nhà thơ Hoàng Hưng cho biết Thiện Ý là Tống Văn Công, tôi được triệu tập đến hội nghị chi bộ bất thường. Cuộc họp có ông Danh phó bí thư Quận ủy Quận 7, ông Luân chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy Quận 7 dự. Tôi vừa ngồi lên ghế, thì ông An một đảng viên già từ hàng ghế đầu chạy xuống nói: “Anh Công à, cái đơn thuốc anh cho, tôi không dùng, vì tôi đã được bác sĩ cho đơn thuốc”. Tôi không kịp hiểu ông nói điều ấy là có ý gì. Vào cuộc họp tôi mới hiểu, ông muốn tỏ thái độ không nhờ cậy, không mang ơn một tên chống Đảng và do đó ông hoàn toàn có đủ tư cách để mạt sát hắn. Ông Thường bí thư chi bộ tuyên bố lý do cuộc họp là “để góp ý với đồng chí Tống Văn Công về bài viết có tựa đề ‘Đổi mới đảng tránh nguy cơ sụp đổ’. Bài này có nhiều điều trái với cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng. Rất đáng tiếc là trước khi viết bài này đồng chí Công không tham khảo ý kiến của chi ủy. Tuy vậy nếu bài không đưa lên mạng thì không có cuộc họp này. Mời các đồng chí góp ý với đồng chí Công”. Ông An “phát pháo” đầu tiên: – Viết bài xuyên tạc đường lối của Đảng, lại còn trả lời đài nước ngoài mà không xin phép là vi phạm 19 điều cấm đảng viên không được làm. Theo tôi chúng ta cứ chiếu theo nghị quyết 47-QĐ/TW mà xử lý thôi, có gì phải bàn. Đây là “chống phá” chứ có phải là sai phạm bình thường đâu mà góp ý! Tôi trả lời: Như câu mở đầu bài viết, tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: Giặc nội xâm và giặc ngoại xâm. Đó là điều thôi thúc tôi phải lên tiếng, hy vọng Đảng kịp trở về với dân tộc. Từ khi còn làm việc, tôi đã trả lời với đài, báo trong và ngoài nước, không xin phép. Các anh chị thử hình dung, khi ký giả nước ngoài hỏi, tôi bảo họ “xin quý vị cho tôi xin ý kiến cấp trên đã, rồi sẽ trả lời quý vị sau nhé”. Người ta sẽ nghĩ thế nào về một chế độ bóp nghiệp tự do ngôn luận đến thế? Ông Hiền phó bí thư chi bộ: “Hồi vào Đảng đồng chí Công đã giơ tay thề suốt đời chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nay không tán thành đường lối xã hội chủ nghĩa nữa thì xin ra Đảng đi. Tại sao còn nhận Huy hiệu 50 tuổi đảng? Việc cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho đồng chí Công cũng là một sai lầm rất đáng tiếc.” Tôi trả lời: Như đã nói, tôi muốn Đảng đồng hành cùng dân tộc, từ bỏ ý thức hệ lỗi thời mà nhân loại đã vượt qua. Nếu không, sẽ nguy hiểm cho Đảng và cho cả dân tộc. Nhiều đảng viên cao tuổi Đảng đã thấy điều ấy, mỗi người có cách ứng xử khác nhau. Nhà văn Nguyễn Khải, 60 tuổi Đảng, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên, năm 2006 đã viết tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” cho rằng chế độ xã hội theo mô hình của Stalin đã đưa tới: “Một xã hội mà công dân không có quyền sống thật, nói thật”. Nhưng ông dặn con chỉ công bố bài này sau khi ông qua đời. Cách làm của Nguyễn Khải thì an toàn cho bản thân, nhưng tỏ ra không tin Đảng biết lắng nghe và không dám vì Đảng. Người thứ hai là nhạc sĩ Tô Hải cũng hơn 60 tuổi Đảng đã viết “Hồi ký của một thằng hèn”, phủ nhận sạch trơn. Đọc bài “Đổi mới Đảng”, ông chê trách: “Tôi vô cùng thất vọng, tại sao Tống Văn Công còn cố tìm đường cho Đảng hoàn thiện để tiếp tục độc quyền lãnh đạo, lẽ ra chỉ nên tuyên bố ra khỏi Đảng và không chịu trách nhiệm gì về mọi đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền”. Tôi chọn cách khác hai người ấy. Tôi đã ở trong Đảng hơn năm mươi năm, tôi phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng. Tôi phải nói thẳng điều mình đã nhận thức được ngay khi còn sống. Nếu Đảng cho rằng tôi có quan điểm sai trái không thể chấp nhận thì tôi sẵn sàng nhận kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng. Về ý kiến cho rằng quyết định cấp huy hiệu 50 tuổi Đảng cho tôi là sai lầm. Tôi cho rằng với cách nghĩ đó thì cũng có thể nói việc kết nạp tôi vào Đảng cũng là một sai lầm và việc nhận tôi vào Vệ Quốc Đoàn thời chống Pháp càng là sai lầm. Dù gì thì việc huy hiệu 50 tuổi Đảng của tôi không phải là của chi bộ mà là Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó nếu Ban Thường vụ Thành ủy có quan điểm giống như anh Hiền thì tôi xin nộp lại huy hiệu ấy. Ông Ba Náo, nguyên bí thư chi bộ, đương nhiệm ủy viên chi ủy: “Hai mươi năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước đồng chí Công được ở ngoài Bắc hưởng hòa bình. Chúng tôi hy sinh xương máu giải phóng miền Nam cho đồng chí được trở về, vậy thì cứ ngồi mà hưởng, tại sao lại ‘ăn cháo đá bát’. Tôi hỏi đồng chí: Ai giúp vũ khí cho mình đánh Pháp? Rồi ai giúp vũ khí cho mình đánh Mỹ? Vậy mà nay đồng chí nghe theo luận điệu của bọn thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nói thật, đọc bài này tôi cho rằng không phải một mình đồng chí Công viết, đằng sau đồng chí là những kẻ nào, vì toàn là những luận điệu của bọn phản động. Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói là của ta. Trung Quốc nói họ có chứng cứ là của họ. Hai nước láng giềng tranh chấp với nhau như vậy là chuyện bình thường, cũng như trong chi bộ mình có hai đảng viên bất hòa không nhìn mặt nhau là Út Kỷ với Lê Duyên Hải. Chi bộ có hòa giải họ được đâu. Ta trải qua hàng chục năm chiến tranh, tại sao đồng chí lại đem sự phát triển nhanh của Băng Cốc so với Sài Gòn?” Tôi trả lời: Để chi bộ không phải lo vì có bọn phản động nào xui giục tôi phát ngôn, tôi xin kể lại một số ý kiến của các bậc “trưởng thượng” của Đảng. Ủy viên Bộ Chính trị, thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư góp ý với Đảng về bài học từ 20 năm đổi mới: “Lúc nào chúng ta cũng khẳng định rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam, vậy tại sao chúng ta vẫn mắc sai lầm, tại sao vẫn có những giai đoạn lạc hướng? Vậy cần nghiên cứu, phân tích xem, trong chủ nghĩa Mác-Lênin điều gì trước đây đúng nay vẫn đúng, điều gì trước đây đúng nay không còn phù hợp nữa, điều gì ngay từ trước đã có sai sót. Từ năm 1951 trở đi xu hướng tả khuynh phát triển mạnh do có sự tác động của các chuyên gia Trung Quốc. Sự sụp đổ các nước Đông Âu, sau đó là sự sụp đổ Liên Xô thì xu hướng giáo điều, tả khuynh trong Đảng lại phục hồi. Đã xuất hiện quan điểm không thuận cho Việt Nam gia nhập ASEAN, bảo lưu ý kiến không tham gia năm 1995. Không ít người tự coi mình có quan điểm vững gây không ít cản trở cho sự phát triển bằng những lời phát biểu như “coi chừng chệch hướng”, “đổi mới, không đổi màu”, “hòa nhập không hòa tan”. Nhiều đồng chí mắc sai lầm tả khuynh nghiêm trọng nhưng không bị kỷ luật vẫn giữ được quyền uy vì được đánh giá là kiên định lập trường. Ngược lại, những người mạnh dạn đổi mới không bằng lòng với cái đã đạt được thì lại rất dễ bị chụp mũ là mất lập trường, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ăn phải bả của chủ nghĩa tư bản Bị ảnh hưởng cả sinh mạng chính trị. Về khái niệm diễn biến hòa bình cũng vậy. Các nước Phương Tây điều chỉnh chính sách của họ hằng tháng, hằng năm. Anh không nên dùng một khái niệm chung chung trừu tượng như thế để định lượng những nguy cơ từ các nước Phương Tây. Một nền kinh tế nhiều thành phần mà thành phần nhiều khuyết tật nhất, kém hiệu quả nhất lại là chủ đạo. Vậy thì nền kinh tế đó phát triển thế nào? Cấp dưới tuân theo mọi quyết đoán từ bên trên, tạo ra tâm lý lựa gió xoay chiều cốt cho được việc theo ý trên. Sự dối trá cũng khởi nguồn từ đấy. Người thứ hai tôi muốn nhắc tới là ông Trần Độ, nguyên ủy viên Trung ương đảng, Phó Chủ tịch Quốc Hội. Ông đã viết “Nhật Ký Rồng Rắn”, một di chúc chính trị: “Trên thế giới hiện nay có hơn 100 nước đã phát triển với trình độ văn minh cao. Vậy mà họ không cần đến chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội với chuyên chính vô sản, độc quyền tư tưởng và độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Bây giờ chỉ còn lại bốn nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên Trung Quốc đã mặc nhiên giã từ chủ nghĩa Mác-Lênin và theo chủ nghĩa thực dụng ‘có màu sắc Trung Quốc’, được chứng nghiệm từ thời Đặng Tiểu Bình với ‘mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột cũng tốt, miễn là bắt được chuột’. Bắc Triều Tiên buộc phải quan hệ với Nam Triều Tiên vì quá nghèo đói”. Người thứ ba tôi muốn nhắc tới là đồng chí Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên trưởng Ban Khoa giáo Trung ương trình bày với Hội đồng Lý luận Trung ương: “Mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu xô viết qua thực nghiệm đã thất bại. Nếu có mô hình của cái gọi là chủ nghĩa xã hội thì phải có màu sắc khác chứ không thể là mô hình lấy đấu tranh giai cấp làm động lực, lấy công hữu làm hình thức sở hữu chi phối, lấy chuyên chính vô sản làm hình thức quản lý duy nhất”. Nhà văn Nguyễn Khải 60 tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu viết “Đi tìm cái tôi đã mất” có đoạn “quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào giải phóng, nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao mà phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!” Ông Nguyễn Văn Trấn làm báo thời Nguyễn An Ninh, đại biểu Đảng bộ Nam bộ đi dự Đại hội 2 của Đảng, nguyên Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền đã viết quyển “Kính gửi mẹ và Quốc hội”, trong đó có yêu cầu “xin Quốc hội cho tự do báo chí bằng chế độ thực dân Pháp”. Xin trả lời câu hỏi: Vì sao ta phải trải qua bao nhiêu năm chiến tranh lại đem so sánh sự phát triển của Băng Cốc với Sài Gòn? Ông Lý Quang Diệu so sánh Sài Gòn và Băng Cốc ở thời điểm 30-4-1975. Xin nhớ cho, ở thời điểm đó, người miền Bắc vào Sài Gòn đã cho rằng Sài Gòn phát triển hơn rất xa Đông Âu, Liên Xô. Ông Võ Văn Kiệt đã phân tích nguyên nhân dẫn tới sa sút, khủng hoảng, tụt hậu ở thời điểm này như sau: “Đại hội 4 của Đảng xu hướng tả khuynh, chủ quan duy ý chí thắng thế, đã đưa ra những quyết định về đường lối và chủ trương sai. Cải tạo công thương nghiệp ồ ạt, cải tạo nông nghiệp vội vã, cải tạo sĩ quan của chính quyền cũ kéo dài quá lâu, đưa dân đi kinh tế mới bằng biện pháp cưỡng bức. Đó là những nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng và ách tắc gây những thiệt hại rất lớn cho kinh tế kể từ năm 1977 trở đi. Thật đau đớn khi nghĩ lại, sự nghiệp giải phóng được hoàn thành trọn vẹn, thành phố Sài Gòn và nhiều thành phố khác ở miền Nam vẫn còn nguyên vẹn kết cấu hạ tầng và tiềm năng về kinh tế hàng hoá, thế nhưng hàng vạn người phải bỏ nước ra đi. Hiện tượng di tản, thuyền nhân cần được nhìn nhận như những vết thương trên cơ thể đất nước, để lại những di chứng trong tâm hồn của không ít đồng bào ta.” Nhân đây tôi muốn nói về khoảng cách giữa nền kinh tế nước ta với các nước xung quanh vẫn đang ngày một tăng sau 20 năm đổi mới. Chúng ta xây dựng, phát triển bằng tiền vốn ODA, nhưng quản lý kém và tham nhũng, nên mỗi công trình bị thất thoát từ khoảng 20 đến 30%. Ông Trần Đức Nguyên nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của chính phủ đã phân tích trên báo mạng Tuần Việt Nam như sau: Nền kinh tế nước ta tăng trưởng kém hiệu quả. Hệ số ICOR của nước là tệ nhất so với các nước xung quanh. ICOR là hệ số cho biết muốn qua tăng trưởng 1 đồng thì phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001 đến 2007 là 5,2. Trong khi đó, ICOR của Đài Loan là 2,7, của Hàn Quốc là 3, của Thái Lan là 4,1, của Trung Quốc là 4. Năm nay (2009) của Việt Nam tăng lên 8, do đó hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam rất yếu kém. Về câu chất vấn: Ai giúp vũ khí cho ta đánh Pháp, đánh Mỹ mà này nói theo luận điệu thù địch nhằm chia rẽ hai nước xã hội chủ nghĩa anh em? Tôi xin nhắc những câu danh ngôn về sự quan hệ giữa các nước: “không ai cho không ai một cái gì”, “không có đồng minh vĩnh viễn; cũng không có kẻ thù vĩnh viễn”. Trung Quốc từng là đồng minh với Liên Xô, chống Mỹ đã chuyển sang hòa với Mỹ để chống Liên Xô. Nhật Bản bị Mỹ đánh bại, nay là đồng minh số một của Mỹ ở châu Á. Ta cũng từ chỗ coi họ là kẻ thù nhưng nay đang nâng quan hệ đối tác chiến lược với họ lên tầm cao mới. Ta cũng coi Hàn Quốc là đối tác chiến lược chứ không phải Bắc Triều Tiên. Sau khi giải phóng lục địa, Trung Quốc coi Phương Tây là kẻ thù ngăn trở họ giải phóng Đài Loan. Họ trao súng cho ta bắn kẻ thù của họ. Giúp ta là họ tự bảo vệ bằng máu Việt Nam. Họ đã gây áp lực buộc ta ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Năm 1974, họ tiếp Tổng thống Nixon mặc cả trên lưng chúng ta, để đổi lấy việc chiếm đoạt Hoàng Sa. Tháng 4 năm 1975, đại sứ Pháp ở Sài Gòn Jean Marie Merillon đã gặp Dương Văn Minh gợi ý muốn cứu chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì nơi duy nhất có thể cầu cứu là Bắc Kinh. Không được ông Dương Văn Minh cầu cứu, không ngăn chặn được Việt Nam thống nhất, lập tức họ dùng Khơ Me Đỏ tấn công chúng ta trên toàn biên giới Tây Nam. Ta đưa quân cứu dân tộc Khơ Me trước họa diệt chủng thì họ đưa 600.000 quân tấn công sáu tỉnh biên giới phía Bắc, giết cả đàn bà trẻ con, đập phá từ cái nồi cái chén. Trước sự sụp đổ của Liên Xô, lẽ ra phải sáng suốt chọn con đường dân chủ hóa đất nước, dựa vào sức mạnh của nhân loại tiến bộ để bảo vệ đất nước, ông Nguyễn Văn Linh do quá khiếp nhược và ngu trung với ý thức hệ lỗi thời đã cho rằng Trung Quốc bành trướng, nhưng dù sao cũng là nước xã hội chủ nghĩa, đã vô hiệu hóa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, đi cầu hòa trong thế yếu ở hội nghị Thành Đô. Bắc Kinh đã lừa mị bằng “16 chữ vàng”, rồi “4 tốt”, nhưng tìm mọi cách lấn chiếm đất liền và biển đảo. Tháng 2 năm nay họ kỷ niệm 30 năm “dạy cho Việt Nam một bài học”, in sách, báo ca ngợi quân đội của họ. Họ tổ chức kỷ niệm ngày Hải quân Trung Quốc, chiếu phim đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa năm 1988, giết chết 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Không biết họ làm cách nào mà còn được báo Hà Nội Mới viết bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, viên tư lệnh chỉ huy xâm lược sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Trong khi đó chúng ta hoàn toàn không dám nhắc đến sự hy sinh của các chiến sĩ bảo vệ biên giới phía Bắc, tội ác của chúng ở đảo Gạc Ma! Trong cơn bão số 9 vừa qua, giữa lúc ba tàu Hải quân Việt Nam được huy động để cứu một tàu cá Trung Quốc gặp nạn thì 17 tàu cá Việt Nam vào tránh bão ở Hoàng Sa bị tàu Hải quân Trung Quốc đánh đập người dân và cướp giật hải sản và ngư cụ. Mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tươi cười hứa hẹn với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hãy cùng nhau khai thác thác Bản Giốc trước kia là của Việt Nam, nay một nửa thuộc Trung Quốc và giải quyết hòa bình biển Đông mà họ tuyên bố cả cái lưỡi bò gồm 80% là của họ! “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa?” Tôi hết sức kinh ngạc trước lời phát biểu của một ủy viên chi ủy. Đây là một thiếu sót vô cùng nguy hại của công tác giáo dục đảng viên của Đảng về vấn đề cốt tử của đất nước, là những kiến thức tối thiểu để biết thiết tha yêu từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc. Mấy tháng qua đồng bào ở trong và ngoài nước sôi sục tức giận vì thái độ vô trách nhiệm của những đảng viên có chức quyền đối với chủ quyền biển đảo. Ví dụ trên báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam do Đào Duy Quát làm tổng biên tập cho đăng lại bài của báo chí Trung Quốc tường thuật về cuộc tập trận trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để bảo vệ chủ quyền của họ! Thông tấn xã Việt Nam đưa tin 12 ngư dân Việt Nam đã từ Trung Quốc trở về đến Quảng Ngãi. Đúng ra phải nói là 12 ngư dân của Việt Nam bị giam trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm trái phép. Tôi xin trình bày tóm tắt về quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam phát hiện và chiếm giữ hai quần đảo này từ lâu đời. Nhiều tài liệu lịch sử để lại chứng minh việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên các đảo này là từ thời chúa Nguyễn, vào thế kỉ 17. Từ đó cho đến ngày bị Pháp đô hộ các triều đại kế tiếp trị vì nước ta đều thực sự nắm chủ quyền và quản lý hai quần đảo này mà không hề có nước nào tranh chấp. Tại hội nghị 51 nước ở San Francisco (Mỹ) tháng 9-1951, ông Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố “chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tất cả đại diện các quốc gia có mặt không người nào có ý kiến khác. Hội nghị này đã ghi vào biên bản Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Ngày18-9-1951 Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng Chu Ân Lai có ra một thông cáo ngoại giao nhưng không nhắc gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1974, sau khi mặc cả được với Mỹ, Trung Quốc dùng vũ lực tấn công quân đội Việt Nam Cộng Hòa chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Năm 1988 Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam. Năm 2007 họ đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào hệ thống chính trị của họ. Họ công bố chủ quyền chiếm 80% biển Đông. Báo chí nước ngoài bình luận nếu Việt Nam chấp nhận đòi hỏi của Trung Quốc thì chỉ còn biển ở bên bờ để bơi tắm, muốn ra khơi phải xin phép họ! Tóm lại Hoàng Sa, Trường Sa đã được các chúa Nguyễn lập bản đồ, đưa vào hệ thống hành chánh quốc gia. Các vua Nguyễn luôn cử quân tuần tiểu, lập đồn trại bảo vệ. Hoàng Sa, Trường Sa đã thấm máu cha ông chúng ta. Đừng buông những lời xúc phạm vong linh của tổ tiên, xúc phạm lòng yêu nước của đồng bào và làm nhục Đảng Cộng sản. Ông Thường bí thư chi bộ chất vấn: “Sai lầm trong cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp thì Đảng ta đã nhận rồi. Đảng đã xác định nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tại sao đồng chí công không tán thành chủ nghĩa xã hội?” Tôi trả lời: Ngày 20-10-1956 Trung ương Đảng ra lệnh chấm dứt cải cách ruộng đất và mở chiến dịch sửa sai. Ngày 30-10-1956 Mặt Trận Tổ Quốc họp để triển khai công tác này. Tại đây tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc, người từng được chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm thành viên đoàn Việt Nam thương lượng với Pháp tại hội nghị Đà Lạt năm 1946, đã đọc một bài tham luận với mục đích tìm nguyên nhân sai lầm để tránh không bao giờ phạm lại những sai lầm tương tự. Ông phân tích ba nguyên nhân cơ bản là: Quan điểm của chúng ta về địch và ta, thù và bạn rất mơ hồ. Chúng ta tiến hành một công việc quan trọng ảnh hưởng đến sinh mạng của hàng triệu người mà bất chấp luật pháp, chỉ lấy chính trị làm thống soái. Tiến hành công việc bởi những người không có chuyên môn và không coi trọng chuyên môn. Bản thuyết trình đầy thiện chí của ông chẳng những không được lắng nghe mà còn bị quy chụp là phản động, chống chế độ, chống Đảng. Ông bị loại ra khỏi Mặt trận Tổ quốc, khỏi biên chế. Mãi đến sau Đổi mới ông mới không còn bị quản chế. Do không khắc phục được nguyên nhân gây ra sai lầm cho nên sau đó lại xảy ra vụ đàn áp Nhân văn – Giai phẩm. Mãi tới 50 năm sau, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định tặng Giải thưởng cấp nhà nước cho bốn văn nghệ sĩ Nhân văn – Giai phẩm mà không chính thức thừa nhận sai lầm. Sai lầm về cải tạo công thương nghiệp ở Hà Nội, 20 năm sau đã lập lại ở Sài Gòn một cách nghiêm trọng hơn. Chúng ta mới từ bỏ cách làm đó sau “đổi mới”, tức là từ bỏ những nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Đảng đã định nghĩa nội dung xã hội chủ nghĩa là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vâng, đó là trong khi chờ đợi các nhà lý luận đưa ra một định nghĩa mới. Bởi vì nếu chỉ định nghĩa như vậy thì hằng trăm nước khác sẽ bảo mình nói theo họ nhưng làm thì kém hơn. 20 năm qua chúng ta đã từ bỏ hết những nguyên lý kinh tế của chủ nghĩa xã hội và làm theo các nguyên lý thị trường của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhờ đó mà kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều nước vào đầu tư. Nhưng về chính trị vẫn giữ nguyên cơ cấu của hệ thống xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin. Do đó đã đẻ ra nhiều khuyết tật khi vận hành mà tôi đã kể trong bài góp ý với đảng. Ở đây tôi muốn kể thêm những điều vừa được đọc trong bài viết của ông Nguyễn Văn An nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội: “Ai là người có tư tưởng đổi mới, có tư tưởng hội nhập theo đường lối của Đảng thì người đó là ‘hồng’. Như vậy ‘hồng’ không nhất thiết phải là đảng viên”. Nhưng xin nhìn lại hệ thống chính trị các cấp có người nào giữ trọng trách mà là người ngoài Đảng không? Kể cả ở cấp khu phố, xóm. Vì sao như thế? Nhân đang kỳ họp Quốc Hội, tôi xin đọc mấy bài trên VietNamNet (cơ quan của Bộ Thông tin – Truyền thông). Một bài có tựa đề “Muốn hết nghị gật, Đảng phải đổi mớ...
23 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (72) Hồi ký Tống Văn Công Hoàng Hưng – về tác giả bài viết đổi mới Đảng để tránh sụp đổ! Tôi lấy làm vinh dự được tác giả Thiện Ý gửi gắm việc giới thiệu nhân thân của anh sau khi bài “Đổi mới để Đảng khỏi sụp đổ” được công bố trên Talawas blog. Việc công khai này đánh dấu một bước ngoặt lớn của anh trên con đường phản biện với những người lãnh đạo Đảng của mình, tổ chức mà anh gắn bó suốt năm mươi năm nay, và thực lòng hy vọng vào sự thay đổi của nó để nó tự cứu vãn và cứu vãn cả tương lai dân tộc. Thiện Ý chính là Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập một số tờ báo của hệ thống công đoàn: báo Lao Động Mới (Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam Việt Nam), báo Công nhân Giải phóng (tiền thân của báo Người Lao Động, Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh), báo Lao Động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), cũng là ngòi bút bình luận sắc bén một thời của báo này với bút danh Thuận Lý. Xuất thân từ một gia đình cách mạng, cha là Tống Văn Thêm bút hiệu Tăng Ích, tham gia đảng Cộng sản từ 1929, dịch giả của tạp chí Tân Trung Hoa thời kháng chiến chống Pháp, Tống Văn Công sinh năm 1932, tham gia Vệ quốc đoàn chống Pháp (1950-1959), được giải ba cuộc thi viết truyện ngắn về miền Nam 1959, làm báo Lao Động từ 1960, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Con đường phản biện với Đảng của đảng viên kỳ cựu Tống Văn công bắt đầu từ thời gian sau “Đổi Mới”, chủ yếu với công việc lãnh đạo báo Công nhân Giải phóng và sau đó báo Lao Động trong cuộc đấu tranh dũng cảm chống quan liêu tham nhũng, bênh vực quyền lợi công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là trong mấy năm huy hoàng của tờ Lao Động Chủ nhật mà lịch sử báo chí Việt Nam sẽ phải ghi nhận những người xung kích của báo chí “cách mạng” (đúng nghĩa là báo chí trong vòng kim cô của đường lối tuyên giáo cộng sản) đã phá rào để nói lên những tiếng nói trung thực với đời sống và “khác” với ý của lãnh đạo Đảng. Và tất nhiên anh phải trả giá, may mà cái giá cũng không quá đắt: Bị cho về hưu (xem bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải” của Thiện Ý trên Talawas blog). Điều đáng ghi nhận là chính ở tờ báo này, Tống Văn Công đã thể hiện không “ngu trung” với ý thức hệ, thực lòng đoàn kết mọi lực lượng của dân tộc để xây dựng một nước Việt Nam mới – ở đây là một tờ báo mới (bao gồm những nhà báo đảng viên trung thực, những nhà báo tay nghề cao của Sài Gòn cũ, những cựu-tù-chính-trị của chế độ, những người trẻ có tâm huyết). Và quả nhiên là tất cả mọi người trong tờ báo cũng thật lòng đoàn kết dưới sự lãnh đạo của những đảng viên cấp tiến và có trình độ như anh, mong được dùng ngồi bút phục vụ công cuộc “Đổi mới”. Chính đó là sức mạnh khiến mọi người chấp nhận san sẻ thu nhập ít ỏi như nhau (80.000 đồng một tháng vào năm 1990) say sưa làm báo như đi “làm cách mạng”. Tình cảm giữa anh Công và tôi nảy nở trong những ngày tháng không quên ấy. Tôi là một người vừa đi cải tạo vì thơ văn “phản động” về chưa bao lâu, lại được giao toàn quyền nắm trang Văn hóa-Văn nghệ của một tờ báo lớn, đó là chuyện chưa từng có và không thể hình dung (ngày hôm nay thì lại càng không thể). Nhờ sự kiên quyết của anh, báo Lao Động đã là tờ báo đầu tiên giới thiệu các nhân vật nhân văn giai phẩm (Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng…), ủng hộ những khuynh hướng sáng tác mới, hiện đại còn bị kỳ thị của giới chính thống đặc biệt trong mĩ thuật và văn học. Qua nhiều thử thách, tình đồng nghiệp giữa chúng tôi đã biến thành tình bạn, tình đồng chí. Một thời gian dài sau khi nghỉ hưu, Tống Văn Công hầu như không xuất hiện trong đời sống báo chí, hoặc chỉ xuất hiện với bút danh nào đó với những bài vô thưởng vô phạt, dường như anh đã an phận thủ thường. Nhưng anh lại vẫn luôn luôn theo dõi, trao đổi bàn bạc với bạn bè thân hữu về mọi tình hình đang diễn ra trên đất nước. Những ai quen biết anh đều nghĩ sẽ đến lúc Tống Văn Công tái xuất giang hồ, không thể khác. Không phải vì anh là anh hùng hảo hớn gì, mà đơn giản là tình hình đất nước dần dần đi đến chỗ hiểm nguy mà nếu không quá hèn nhát, quá giá áo túi cơm hay nhất quyết mũ ni che tai thì những người có hiểu biết, có lương tri, có tâm huyết buộc phải bước ra khỏi nơi trú ẩn an toàn để bày tỏ thái độ. Với những người đã trót mang nghiệp “ngôn luận”, im lặng trước cái sai, cái xấu, cái lỗi thời lúc này là mang tội đồng lõa không thể biện minh. Và bắt đầu xuất hiện bút danh Thiện Ý trên Talawas blog, với những bài viết rất được chú ý vì sự thẳng thắn, cái nhìn mang tính tổng quát, lập trường triệt để nhưng tỉnh táo và chân thành xây dựng của một người trong cuộc. Từ bài viết đầu tiên về khủng hoảng văn hóa đạo đức, tác giả đã nêu rõ nguyên nhân sâu xa, nền tảng của nó là khủng hoảng ý thức hệ; đến bài mới nhất, anh vẫn triển khai lập luận ấy đến cùng, và mở nó ra thành cái nhìn toàn diện về thể chế. Cuối cùng việc phải đến đã đến: Anh đặt thẳng vấn đề về hệ thống chính trị và tính chính đáng của đảng cầm quyền. Chính ở bài này, anh quyết định công bố tên thật đằng sau cái bút danh mà anh muốn giữ vì đã quen với bạn đọc và có thể chuyển tải “thiện ý” của mình. Anh đã giải phẫu vào cái đệ nhất yếu huyệt, gót chân Achille của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, nếu như với việc công bố bài này cũng tên thật, mặc dù đầy “thiện ý”, Tống Văn công có bị những thành phần cứng rắn trong Đảng của mình làm khó thì cũng là chuyện dễ hiểu. Tôi là một công dân Việt Nam ngoài Đảng, nhưng nhận thức rõ rằng trong một thời gian còn dài, tương lai của đất nước, của dân tộc phụ thuộc chủ yếu vào những biến chuyển trong nội bộ Đảng cầm quyền. Từ lâu tôi đã đặt câu hỏi: ngoài những kẻ thoái hóa biến chất, đặc quyền đặc lợi đang múa tay trong bị trước tình trạng hỗn loạn của xã hội hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam còn được bao nhiêu đảng viên chân chính, không bám quyền bám lợi mà thật sự nghĩ đến dân đến nước? Tại sao họ im lặng thế? Vì sợ hãi kỷ luật Đảng? Vì luyến tiếc một quá khứ oai hùng? Vì chưa tìm được lối ra? Vì lo lắng một sự sụp đổ nguy hiểm? Bài viết mới nhất của Thiện Ý Tống Văn Công là một câu trả lời cho tôi. Vẫn có không ít đảng viên mang trong đáy sâu lòng mình phẩm chất của người yêu nước thực sự, và không phải không có những người nghĩ được lối ra khá an toàn cho cuộc khủng hoảng khủng hoảng và lối ra là tên một luận văn của Nguyễn Kiến Giang. Và họ đã lên tiếng, ngày càng đông, ngày càng thẳng thắn. Tôi tin rằng những ý kiến của Tống Văn Công hôm nay về căn bản đã nói đúng suy nghĩ của đa số người dân Việt Nam hôm nay, cả đảng viên lẫn không đảng viên, kể cả những quan chức đang hưởng lợi từ cơ chế hiện hành nhưng có tầm nhìn xa về tương lai của con cháu họ. Và tôi vẫn chưa hết hy vọng ở sự biết lắng nghe của những người có quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ít ra là một số và con số này sẽ ngày càng tăng. Nếu không, thì thảm họa cho đất nước. Posted on Tháng Mười Một 29, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/11/29/tu-theo-cong-den-chong-cong-72-hoang-hung-ve-tac-gia-bai-viet-doi-moi-dang-de-tranh-sup-do/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (73): https://www.minds.com/newsfeed/1020244905374068736?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (71): https://www.minds.com/newsfeed/1020243791062728704?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
22 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (71) Hồi ký Tống Văn Công Đổi mới Đảng, tránh nguy cơ sụp đổ! Tổ quốc trước hai hiểm họa Tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: giặc ngoại xâm và giặt nội xâm. Mọi người Việt Nam yêu nước có trách nhiệm tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi hai hiểm họa đó. Chúng ta đã từng gọi một cách chính xác bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh là kẻ thù trực tiếp nguy hiểm. Những hành động lấn lướt khiêu khích gần đây ở Biển Đông chứng tỏ bản chất của chúng không hề thay đổi. Ngày 2-7-2009 trả lời ký giả Mặc Lâm của Đài Phát thanh RFA, nhà ngoại giao Dương Danh Dy từng làm việc nhiều năm ở Trung Quốc nhận định: Trung Quốc là anh láng giềng to khỏe, tham, lại xấu tính và “sau thời điểm 2010 trở đi chưa biết họ làm cái gì đâu. Họ kinh khủng lắm”. Hai mươi năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sức cố gắng xây dựng với Bắc Kinh mối quan hệ đồng chí kèm theo “16 chữ vàng” (do Giang Trạch Dân đặt ra, Lê Khả Phiêu tán thành đưa vào tuyên bố chung tháng 2-1999: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Mấy năm sau lại bổ sung “tinh thần 4 tốt” là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Để tỏ lòng trung thành với mối quan hệ đó nhà nước việt Nam đã bắt bớ những công dân của mình xuống đường biểu tình với khẩu hiệu “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”. Đó là thủ đoạn ngoại giao khôn khéo hay chỉ là sự đớn hèn? Tình trạng này còn kéo dài bao lâu? Rồi bằng cách nào để có thể thực hiện được di chúc thiêng liêng của Đức Trần Nhân Tôn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Không làm được điều đó, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thoát khỏi trách nhiệm trước lịch sử là để đất đai thấm máu cha ông lọt vào tay giặc. Sáu mươi năm trôi qua, tham nhũng hồi ấy chỉ như ruồi muỗi, ngày nay đã trở thành hùm beo, mặc dù ở mọi cấp mọi ngành đều có cơ quan chống tham nhũng! Cứ xem chế độ tiền lương, chủ tịch nước cũng chưa đạt mức phải đóng thuế thu nhập, thế mà cán bộ nào cũng có nhà cao cửa rộng tiêu xài hoang phí thì có thể biết tham nhũng là bệnh của cả hệ thống! Nguyên nhân nào đẻ ra tình trạng đó? Biện pháp nào để ngăn chặn đây? Người ta có thể nêu thêm hiểm họa về môi trường, nhưng thực tế cho thấy vụ Vedan và nhiều vụ khác đều là con đẻ của quan liêu tham nhũng. Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử 80 năm của đảng Cộng sản Việt Nam để đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của đảng và tìm lại sức sống cho Đảng, hòng cứu dân tộc thoát khỏi hai hiểm họa nói trên. Ba thế mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam 1- Mọi đảng viên Cộng sản kể cả chủ tịch Hồ Chí Minh đều bắt đầu từ chủ nghĩa yêu nước mà đến với chủ nghĩa cộng sản. Bây giờ nhiều người cho đó là chọn nhầm đường, lạc đường, hoặc nặng lời hơn, có người lên án Đảng Cộng sản lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, rằng nhân dân theo Việt Minh, theo mặt trận Dân tộc giải phóng, chớ không phải theo cộng sản. Có người cho rằng con đường cộng sản không phải là một tất yếu lịch sử để giải phóng dân tộc, rằng nếu… Tiếc rằng lịch sử không cho chúng ta chứ nếu! Tôi thích câu nói của cựu bí thư đảng Cộng sản Nam Tư Milovan Djilas: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim, đến 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”. Và cũng ông ấy đã nói: “Không thể nói rằng họ (người cộng sản) đã cố tình lừa dối, rồi sau đó không chịu thực hiện. Sự thật là họ không thể thực hiện được những điều mà họ đã nhiệt liệt tin tưởng”. Dù gì thì lịch sử cũng phải ghi nhận việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng tháng Tám và đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến “Điện Biên chấn động địa cầu”. Tất cả những điều ấy làm cho số đông người Việt Nam tin theo Đảng Cộng sản, từng thật lòng khi nói “ơn Bác, ơn Đảng”, thật lòng gọi hai tiếng “Đảng ta”! Tuy nhiên, vào đầu những năm 50 trở đi đã nảy mầm tai họa: – Nhầm đồng minh thể chế, đồng minh giai đoạn, là đồng minh chiến lược, lâu dài; trong khi Bắc Kinh từ đầu đã có ý đồ bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán. – Đường lối cách mạng uống dần theo ý thức hệ cộng sản. Hậu quả là niềm tin của nhân dân đối với Đảng nhiều lần bị hẫng hụt. Nhà văn Đào Hiếu nhận xét: “Trừ một số tư sản mại bản, tư sản đỏ, thì đại đa số nhân dân Việt Nam đều căm ghét chế độ hiện nay”. Nếu nhận định đó là đúng thì sự sụp đổ của chế độ đã không thể cưỡng được. 2- Chính giai đoạn “Đổi mới” đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam gượng dậy. Ông Lê Hồng Hà, nguyên cán bộ cao cấp Bộ Công an nhận định về tình hình đất nước 20 năm qua: “20 năm qua, cuộc đấu tranh giữa một bên là Đảng Cộng sản và một bên là toàn dân Việt Nam, kết quả là dân thắng Đảng trên hai mặt trận kinh tế và tư tưởng, nhưng dân chưa thắng về chính trị, vì hệ thống chuyên chính vô sản vẫn còn nguyên”. Cũng phải nhìn lại, nếu không có những đảng viên như Kim Ngọc, Trần Xuân Bách, Trần Độ, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch thì không có đổi mới. Chúng ta có thể lấy Bắc Triều Tiên, Cuba làm đối chứng cho nhận định này! Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, điều ấy không ngoa. Nhưng dùng cái chữ “Đổi mới” là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, thực ra phải nói là “trở lại như cũ trên con đường văn minh của nhân loại”. Chính vì chỉ đổi mới chứ không chịu trở lại như cũ cho nên những người lãnh đạo Đảng Cộng sản luôn luôn ngập ngừng, Cứ hai bước tiến lại một bước lùi, chỉ vì sợ bị mất độc quyền lãnh đạo. Ở đây xảy ra cuộc đấu tranh giữa những người muốn đổi mới toàn diện mạnh mẽ như Trần Xuân Bách, Trần Độ với lực lượng bảo thủ muốn ghìm lại, nhất là lĩnh vực chính trị. Dù gì thì “Đổi mới” đã trở thành một xu thế không thể đảo ngược. Hệ thống chuyên chính vô sản cũng mềm đi chứ không cứng rắn được như trước. Ví dụ, trong vụ giới trí thức kiến nghị dừng dự án Bauxite Tây Nguyên, ban đầu đã có ý đe dọa, gán cho tội chịu ảnh hưởng của bọn phản động, nhưng rồi đã phải lùi lại. Một trang Web Bauxite việt Nam có danh sách gần 3000 người ký tên trong tám đợt kiến nghị, có hàng trăm ý kiến phản biện sắc bén, được hàng triệu người truy cập, quả là một hiện tượng chưa từng có. Tự do kinh tế đem lại một số công ăn việc làm, cuộc sống vật chất của người dân dễ chịu hơn, bộ mặt đất nước cũng có phần thay đổi. Do đó số đông tầng lớp trung lưu và trí thức chưa quá bức xúc đòi hỏi tự do dân chủ. Công nhân đình công, nông dân biểu tình đều vì quyền lợi vật chất cụ thể chứ chưa phải đòi được tự do lập hội, lập công đoàn. Có tài liệu cho rằng trung bình mỗi người dân Việt Nam có chân trong 2,33 tổ chức hội, đoàn, làm cho họ cứ tưởng rằng mình đã được nhiều tổ chức của một xã hội dân sự bảo vệ lợi ích khi cần thiết. 3- Đảng Cộng sản Việt Nam nắm chắc lực lượng quân đội và công an bằng một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trên xuống tận cơ sở và buộc họ đồng nhất đảng với tổ quốc. Nhận định của ông Lê Hồng Hà rất đúng khi cho rằng không thể dùng bạo lực để lật đổ chế độ này. Tuy nhiên ba thế mạnh kể trên đang bị ba điểm yếu bào mòn từng ngày. Nếu không kịp thời có giải pháp sáng suốt và mạnh mẽ để đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam, về lâu dài nguy cơ sụp đổ khó tránh khỏi. III. Ba điểm yếu của Đảng Cộng sản 1- Do “ngu trung” với ý thức hệ, Đảng Cộng sản Việt Nam không rút được bài học nhầm lẫn chọn bạn đồng minh, đã tiếp tục phạm sai lầm lớn hơn ở cuộc gặp Thành Đô năm 1990, cầu hòa với Bắc Kinh trong thế yếu. Từ đó, hai kẻ thù mang mặt nạ “đồng chí” giả vờ kết giao trên “16 chữ vàng”. (Do quá phẫn nộ trước hành động ngang ngược gần đây của nhà cầm quyền Bắc Kinh, nhân dân đã nhại lại thành 16 chữ đen là “Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, cướp biển lâu dài, thôn tính tương lai”). Nhầm lẫn trước năm 1954 còn có thể thông cảm, nhưng từ khi Bắc Kinh liên tục gây chiến tranh biên giới với tất cả quốc gia láng giềng Ấn Độ, Liên Xô, Việt Nam mà vẫn còn cho rằng “từng là xã hội chủ nghĩa với nhau vẫn tốt hơn” thì thật là mù quáng. Năm 1974 chúng đã chiếm Hoàng Sa, năm 1984 chúng bất ngờ tập kích Lão Sơn giết chết 3700 chiến sĩ Việt Nam, năm 1988 chúng chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa, giết chết 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Chúng liên tục lấn tới, lập cơ quan hành chính Tam Sa gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, liên tiếp bắn giết, cướp thuyền, bắt ngư dân chúng ta đánh cá trên vùng biển của mình. Những ai có trái tim yêu nước đều cảm nhận chúng chỉ chực chờ cơ hội để đánh úp chiếm đoạt cả Trường Sa của chúng ta! Từ tháng 3 năm 2009 đến nay, cả nước sôi sục một phong trào đòi hủy bỏ dự án Bauxite mở đường cho hùm dữ vào nhà. Các bậc đại công thần của chế độ, đại tướng Võ Nguyên giáp, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, các thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Lê Văn Cương và hàng ngàn trí thức đã lên tiếng cảnh báo những người có trách nhiệm lãnh đạo đất nước phải thức tỉnh. Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng, trong “Bài học bất ngờ từ Trung Quốc” đã viết: “Năm 2008, tập đoàn Tân Tạo đưa Trung Quốc vào quần đảo Nam Du xây dựng cảng than. Cũng năm 2008, Đài Loan thành công với dự án xây dựng khu luyện thép bên vịnh Sơn Dương. Cuối năm 2008, việc xây dựng nhà máy luyện nhôm Tân Rai, Nhân Cơ giúp Trung Quốc gài quả bom bùn độc trên thượng nguồn sông Đồng Nai. Nếu một ngày nào đó thực hiện kịch bản chiến tranh bất ngờ như năm 1979, họ sẽ nổ quả bom bùn đã gài sẵn ở Tân Rai làm các tỉnh miền Đông và thành phố Hồ Chí Minh chết khát. Họ chiếm Sơn Dương-Hà Tĩnh, chặn cả đường biển lẫn đường bộ từ Nam ra Bắc. Họ chiếm quần đảo Nam Du cắt đường biển quốc tế đến Việt Nam. Một tình huống vô cùng nguy khốn đang diễn ra trước mắt ta đó!” Báo chí và người phát ngôn Việt Nam không dám nêu tên tàu Trung Quốc mà gọi là “tàu lạ”. Trong khi đó, báo mạng Hoàn Cầu thuộc Tân Hoa Xã bình luận rằng: Trung Quốc nên giải quyết tranh chấp biển đảo bằng biện pháp quân sự! Vậy mà nhà nước Việt Nam vẫn sợ mất lòng Trung Quốc, không dám đưa vụ bắt ngư dân của mình ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Dư luận trong và ngoài nước đều chê trách những người lãnh đạo Việt Nam quá ngờ nghệch đã tự chui vào thế kẹt rồi đâm ra hèn nhát trước sức ép của Bắc Kinh. Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc có bài viết tựa đề “Sao bỗng dưng họ lại hèn vậy?” trong đó ông nhắc lại nhiều hành xử anh hùng của người cộng sản Việt Nam trước đây, nhưng không lý giải câu hỏi mới đặt ra. Ở những cuộc chiến tranh cứu nước trước đây, chúng ta luôn luôn có đồng minh thân thiết và được nhiều quốc gia khác ủng hộ. Trong cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc 1979, chúng ta còn có đồng minh Liên Xô. Trái lại trong cuộc đối đầu với bọn bành trướng Bắc Binh hiện nay, Việt Nam hoàn toàn không có đồng minh chiến lược! Tiến sĩ Storey chủ biên tạp chí Đông Nam Á Đương Đại cho rằng: “Vấn đề biển Đông là chủ đề nan giải” (ý nói đối với Việt Nam) và nhận định: “Các nhà lãnh đạo Ba Đình không thể dựa vào một quốc gia nào khác ngoài bản thân mình trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Không thể dựa vào Mỹ, không thể dựa vào Nga, và càng không thể dựa vào khối ASEAN”. Tại sao ông nhận định như vậy? Bởi vì Cộng sản Việt Nam đã tự xếp mình là đồng minh thân thiết nhất của Trung Quốc. Khi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tiếp Lý Nguyên Triều, trưởng ban Tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc, cảm ơn họ đào tạo cán bộ cho Việt Nam thì cơ quan an ninh Việt Nam bắt luật sư Lê Công Định. Khi Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb đến Hà Nội thì Đài Truyền hình Việt Nam phát lời thú tội của bốn nhà hoạt động dân chủ, trong đó lời khai bổ sung của Lê Công Định là có gặp nhiều quan chức Mỹ, đại sứ Mỹ cho rằng tổ chức tư pháp cần tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều tờ báo và đài truyền hình bình luận rằng, những người hoạt động dân chủ bị bắt đều có liên hệ với các thế lực thù địch chống phá Việt Nam. Các động thái kể trên đã cho thế giới hiểu rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng về phía nào trên bàn của khu vực và toàn cầu! Ông Lê Tuấn Huy trong bài “Bài ngửa biển Đông và bài bản về tư duy”, nhận xét rất đúng rằng: “Trong tương quan biển Đông đã bị đặt vào thế phải tranh chấp, Việt Nam lại không có đồng minh cơ hữu lẫn đồng minh thể chế, khi mà đồng minh lớn nhất về chính trị văn hoá chính là chủ thể muốn tước đoạt biển đảo. Việt Nam cũng hầu như không có được sự hậu thuẫn của công luận thế giới trong vấn đề này và đó cũng là một phần hậu quả từ việc thiếu vắng tương tác đồng minh”. Ông nhận định: “Chần chừ, đối với Việt Nam lúc này đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy mình vào cảnh thân cô thế cô!” Tổ quốc cấp thiết đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải lựa chọn giữa hai con đường: Tìm đồng minh cho dân tộc hay giữ đồng chí cho Đảng. Thật ra thì bọn bành trướng Bắc Kinh đâu có xem Đảng Cộng sản Việt Nam là đồng chí. Cách hành xử trịch thượng của họ đối với ta thật sự như minh chủ đối với chư hầu! Nếu không mau chóng trả lời dứt khoát câu hỏi trên, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ ngày càng bị mất niềm tin của dân tộc và càng lâm vào thế kẹt. 2- Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chỉ thích hợp cho một xã hội có nền kinh tế công hữu và tập thể, phân phối bao cấp từ hạt gạo đến bó rau và đóng cửa với thế giới bên ngoài. Đổi mới kinh tế đã làm cho hệ thống chính trị không còn tương hợp, trở thành chiếc áo cũ rách. Các giá trị hôm qua đặt vào thực tế hôm nay hóa ra khôi hài. Suốt 20 năm “đổi mới”, các kỳ Đại hội Đảng cứ khất lần khất lữa việc định nghĩa “cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có nội dung gì?” Và “vai trò vị trí của giai cấp công nhân, giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng” có gì thay đổi? Nếu chỉ nêu mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì không có gì khác các quốc gia dân chủ, nhưng so ra mình không làm được như họ! Đến khoá 10 này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thấy không thể kéo dài mãi, đã tìm cách giải đáp ở Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đảng lần thứ 6 từ ngày 14 đến 22 tháng một năm 2008 như sau: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội” (tài liệu học tập các nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa 10, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2008, trang 33). Các nhà lý luận của đảng quên rằng: “Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ra đời và bắt đầu phát sinh tác dụng cùng với việc xây dựng thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; phạm vi hoạt động của nó được mở rộng theo đà củng cố và phát triển thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tư liệu sản xuất trở thành sở hữu công cộng làm cho nên sản xuất không phải để phục vụ cho việc phát tài và làm giàu của cá nhân hay một giai cấp” (Từ điển kinh tế, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1976, trang 455). Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân phát triển, xung khắc với quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội như nước với lửa, làm sao chịu được sự chi phối của nó? Giai cấp công nhân đang nơm nớp lo bị mất việc làm. Nghe nói mình có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam, họ bảo nhau: “Mấy ông này hay thiệt, vừa đại diện cho công nhân lại vừa là tư bản đỏ!” Hơn 2500 cuộc đình công (chỉ tính đến giữa năm 2008) của công nhân không có sự chỉ đạo của tổ chức công đoàn do Đảng lãnh đạo, đã nói lên niềm tin của họ đang đặt vào đâu. Nói về chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx Kornai János người Hungary cho rằng: “Đảng Cộng sản Trung Quốc trình bày ý thức hệ giả mạo khi dẫn chiếu đến Chủ nghĩa Marx. Cái hệ thống mà Đảng Cộng sản ngự trị về cơ bản mang tính tư bản chủ nghĩa, vì sở hữu tư nhân đã trở thành hình thức sở hữu áp đảo, và bởi vì cơ chế điều phối chính là cơ chế thị trường”. Nhận định đó hoàn toàn đúng đối với đường lối kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do không chịu công nhận đổi mới là vứt bỏ những nguyên lý về kinh tế của chủ nghĩa xã hội và do tiếp tục duy trì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin, Đảng đã làm cho xã hội đầy dẫy những hiện tượng thực giả lẫn lộn, nói một đằng hiểu một nẻo, đạo đức xuống cấp trầm trọng! Nói “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, người dân thắc mắc: “Trong lịch sử chưa có ai làm chủ mà không được lãnh đạo, lại còn bị người khác lãnh đạo!” Nói “thông qua dân chủ bầu cử Quốc hội”, người dân bảo: “Lâu nay vẫn là đảng cử dân bầu!” Nói “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”, người dân bảo: “Quốc hội bao giờ cũng họp sau khi Đảng đã họp và đề ra nghị quyết chỉ đạo cho Quốc hội phải làm gì. Vừa qua Bộ Chính trị quyết định đại dự án Bauxite đâu có cần thông qua Quốc hội!” Nói đảng viên cán bộ là đầy tớ của nhân dân, mấy ông “hai lúa” cười: “Cả đời mình làm chủ mệt mỏi quá rồi, cầu mong mấy đứa nhỏ sau này có đứa được làm đầy tớ cho cả dòng họ được nhờ!” Nói “sống và làm việc theo pháp luật”, “mọi người bình đẳng trước pháp luật”, người dân bảo: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa, tư pháp do Đảng lãnh đạo. Người có chức có quyền mới tham nhũng, mà có chức có quyền thì phải là đảng viên, vậy tư pháp làm sao dám xét xử tham nhũng? Hãy coi Tòa án Hà Nội, rồi Tòa án Tối cao cứ như gà mắc tóc trước vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ khởi kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì biết tư pháp Việt Nam được độc lập cỡ nào!” Nói chúng ta đã thực hiện tốt quyền tự do báo chí, người dân hỏi, không nghe ông Lê Doãn Hợp, Bộ trưởng Thông tin Truyền thông bảo: “Phải đi đúng lề phải mới có tự do báo chí” đó sao? Mới đây ông Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng giao cho nhiệm vụ vận động nhân dân phản biện các chính sách của Đảng, nhưng suốt mấy năm, Mặt trận vẫn chưa làm tốt. Xin hỏi, có cách nào để làm tốt được đây, khi mà phản biện chỉ được phép nói trong cái vòng kim cô của nghị quyết Đảng? Ai chẳng sợ lỡ miệng ra ngoài vòng sẽ bị thiệt thân? Các ông Nguyễn Mạnh Tường luật sư Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kim Ngọc bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, Trần Xuân Bách ủy viên Bộ Chính trị, là những nhà phản biện dũng cảm đã bị trừng phạt như thế nào, ai chẳng biết! Mới đây, Viện Nghiên cứu Phát triển IDS do giáo sư Hoàng Tụy làm Chủ tịch Hội đồng, tiến sĩ Nguyễn Quang A làm viện trưởng, đã phải tuyên bố tự giải thể để phản đối Nghị quyết 97 của thủ tướng chính phủ hạn chế quyền được nghiên cứu và phản biện. Ngày 15 tháng 9 năm 2009, Mặt trận Tổ quốc họp báo về Đại hội lần thứ 7, có nội dung “tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng đại đoàn kết toàn dân”. Làm sao đồng thuận được khi không có phản biện dân chủ mà chỉ có quyết định từ trên dội xuống? Các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân loại tiến bộ khi vào Việt Nam đều phải co lại cho vừa cái khung xã hội chủ nghĩa. Cách hiểu, cách làm của Việt Nam trái với các văn kiện quốc tế về quyền con người mà nhà nước Việt Nam đã cam kết thực hiện. Năm nào Việt Nam cũng bị lên án vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền và bị xếp hạng vào cuối bảng của các nước trên thế giới. Phản ứng của nhà nước Việt Nam luôn luôn là “nhận thông tin sai lạc với thực tế Việt Nam”, hoặc “can thiệp vào nội bộ Việt Nam”, nặng nề hơn nữa là “âm mưu của các thế lực thù địch hòng chống phá Việt Nam”! Chúng ta chấp nhận hội nhập với cộng đồng nhân loại, làm bạn với tất cả các nước, nhưng lại không đồng ý với người ta về những giá trị phổ biến của nền văn minh nhân loại là: xã hội công dân, sở hữu tư nhân, nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ đại nghị. Chủ nghĩa xã hội thế giới đã thất bại vì phủ định những giá trị phổ biến đó, cố tìm những giá trị khác (xã hội toàn trị, công hữu, kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, chuyên chính vô sản, dân chủ tập trung xã hội chủ nghĩa) hòng thay thế, rồi lâm vào ngõ cụt và bị sụp đổ! Trong bài phát biểu với Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày30-6-2009) ông Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quá trình cầu nguyện với hình thức quản lý chuyên chính vô sản, với nguyên tắc tập trung dân chủ, xã hội chưa bao giờ được hưởng quyền tự do dân chủ đích thực”. Và ông lưu ý: “Nếu xã hội… họ cảm thấy áp lực chuyên chế nặng nề lắm thì không thể tránh được những biến động xấu, rất xấu có thể xảy ra bất cứ lúc nào”. Chính hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa theo mô hình Stalin đã làm suy yếu các khả năng chống tham nhũng, hiểm họa nội xâm của đất nước. Nhiều người già ở Sài Gòn cho rằng tham nhũng hiện nay đã vượt xa chế đ...
19 views ·