ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (70) Hồi ký Tống Văn Công Niềm tin cạn kiệt Tiến sĩ Matt Killings Worth, Người có nhiều công trình nghiên cứu các nước cộng sản Trung và Đông Âu cho rằng “Chế độ cộng sản tồn tại ở Tiệp Khắc hơn 40 năm là một chế độ mà ở đó niềm tin được giả định đóng vai trò trung tâm. Đến năm 1968, niềm tin mà Prague đặt vào Moscou đã hoàn toàn bị xóa mòn khi quân đội khối Hiệp ước Warsawa xâm lược nước này”. Như vậy là niềm tin cộng sản tồn tại ở đây 20 năm và khi nó “hoàn toàn bị xói mòn” nó vẫn tiếp tục tồn tại thêm 20 năm nữa bằng sức mạnh của cảnh sát, mật vụ. So sánh với chế độ cộng sản Tiệp Khắc và Đông Âu thì niềm tin cộng sản ở Việt Nam theo tôi nghĩ, vững mạnh hơn rất nhiều, bởi vì nó không phải là “giả định” mà đã “mọc rễ” trong lòng số đông người Việt Nam! Đó là niềm tin mà thực dân Pháp đã tạo ra cho Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản: Lãnh đạo cuộc nổi dậy Tháng Tám 1945. Thay dân tộc nói lời thề độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập ấy”. Mỹ viện trợ hơn 80% chiến phí cho Pháp nhằm ngăn chặn làn sóng đỏ. Nhưng Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản không hô hào “vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” mà kêu gọi “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Xin nhắc lại một đoạn trong hồi ký “Con rồng Việt Nam” của cựu hoàng Bảo Đại do Nguyễn Phước Tộc xuất bản ở Pari năm 1990. Cuối tháng 10 năm 1948 tại Cannes, cựu hoàng Bảo Đại gay gắt bảo Cao ủy Đông Dương Léon Pignon: “Vậy thì chính nước Pháp đã củng cố vị trí cho Hồ Chí Minh, cho đến ngày mà quý quốc hiểu thấu được những yêu sách của họ. Hơn nữa, nếu chính phủ Pháp có đoạn giao với ‘Bác Hồ’, chính là bởi lí do sự đòi hỏi về độc lập và thống nhất của họ nhiều hơn là vì lý do họ là cộng sản quốc tế. Không còn giải pháp nào khác, nước Pháp đành phải quay sang tôi, hy vọng rằng tôi sẽ dễ dàng thỏa hiệp hơn họ, nhưng nước Pháp lại vấp phải sự đòi hỏi của tôi y như họ vậy. (trang 333 và 334). Vài ngày sau, Bảo Đại lên Paris gặp tân thủ tướng Henri Queuille, nhắc lại với ông này câu chuyện đã nói với Léon Pignon. Thủ tướng Henri Queuille nghe xong đã tỏ đồng tình: Hoàng thượng rất có lý, nhưng cần phải chú trọng đến hiện tình nước Pháp, và chính chỗ đó mới là điều rắc rối. Chúng tôi sắp mở một hội nghị bàn cãi về Đông Dương trước hội đồng. Tôi không dám chắc là đạt được đa số, vì tôi vừa bị phe Cộng sản phản đối, không chịu nghe gì nếu không nói đến Hồ Chí Minh, lại vừa bị phe De Gaulle kịch liệt bỏ ngoài tai khi đem sáp nhập xứ Nam Kỳ vào Việt Nam, bởi họ coi như bỏ rơi một phần đất đai của Pháp. Bảo Đại liền mặc cả: Thưa Thủ tướng nếu tôi lấy được phiếu của đảng Cộng hòa Dân chủ cho ngài thì ngài có đền đáp lại tôi sự trở về của Nam Kỳ cho nước tôi? Henri Queuille cười láu lỉnh, bảo không dám hứa. Bảo Đại gặp hai người thân cận của De Gaulle là Guillian de Benouville và Terrenoire bàn tiếp chủ đề này. Ông Terrenoire được coi là tai mắt của De Gaulle khen Bảo Đại nói rất hợp lý, ‘nhưng tôi còn phải gặp đại tướng, chỉ đại tướng mới có quyền quyết định’. Hai hôm sau, ông ta xác nhận với Bảo Đại: đại tướng không chịu, không thể bỏ một phần đất lãnh thổ quốc gia Pháp. Xứ Nam Kỳ là đất thuộc địa từ 1884, đây là đất Pháp. Đây chính là điều quan trọng nhất mà đại tướng tỏ ra rất cứng rắn, không gì lay chuyển được”. Cho đến ngày phải rời khỏi Việt Nam, chính phủ Pháp vẫn chưa chịu trao đầy đủ quy chế của một quốc gia độc lập cho chính quyền Bảo Đại! Năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm có đủ quy chế của một quốc gia độc lập, nhưng lại do người Mỹ (quốc gia đã chi hơn 80% chiến phí cho Pháp tái chiếm Việt Nam và Đông Dương) trao cho và chi phối mọi chính sách đối nội, đối ngoại. Đó chính là “tử huyệt” của Việt Nam Cộng Hòa và đường lối chiến tranh Việt Nam của Mỹ. Chẳng những thế, hai cuộc chiến tranh còn tạo ra niềm tin của nhân dân vào đảng Cộng sản Việt Nam gắn kết như một chiến lũy vững chắc, ngăn chặn làn sóng dân chủ, nhân quyền tràn vào. Quý 2 năm 2012, nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình phát hành quyển hồi ký, có đoạn như sau: “Tình hình thế giới cũng như trong nước đã tác động đến tư tưởng tình cảm của nhân dân ta. Bên cạnh một số đông dù có những lo lắng này khác vẫn tin rằng những gì nhân dân ta đã làm là hết sức đúng đắn, cần phải tiếp tục con đường đã lựa chọn có những điều chỉnh và giải pháp phù hợp, cũng có không ít người hoang mang giảm lòng tin, bi quan tiêu cực, thậm chí chống đối”. Bà Bình không nhận thấy còn có một loại người thứ ba, có cũng giảm niềm tin, thậm chí không còn chút niềm tin nào, nhưng họ không hoang mang, mà biết rõ nguyên nhân của tình trạng thối nát, tham nhũng là do không chịu đổi mới chính trị, cố duy trì chế độ toàn trị để giữ độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Tuy tỏ ý không đồng tình với những người hoang mang, giảm lòng tin, nhưng chính bà Bình lại hé lộ sự suy giảm lòng tin của chính mình khi đặt ra câu hỏi: “Và đến bao giờ chúng ta mới có được một xã hội thực sự dân chủ, công bằng, văn minh?” Thật ra, niềm tin bắt đầu suy giảm từ những người có điều kiện nhìn ra thế giới văn minh, cảm nhận thân phận của dân tộc mình trong ngục tù của chế độ cộng sản toàn trị. Tướng Trần Độ và nhà lãnh đạo công hội đỏ Nguyễn Hộ là hai người có hành động quyết liệt khi nhận ra chân lý tự do, dân chủ. Nhà văn Nguyễn Khải âm thầm chịu đựng khi niềm tin cạn kiệt, nhưng đã để lại “Đi tìm cái tôi đã mất” có sức công phá mạnh mẽ đối với sự dối trá nhân danh sự thật và niềm tin. Bộ Chính trị Đảng Cộng sản tổ chức cuộc vận động “đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là nhằm “ăn mày dĩ vãng” (ý của nhà văn Phạm Đình Trọng) khôi phục niềm tin đang cạn kiệt. Triết gia Osho cho rằng: “Thời điểm mà bạn tin một cái gì đó thì bạn cũng bắt đầu dừng tìm hiểu. Tin là một thứ độc hại nhất hủy hoại trí thông minh của con người. Tất cả mọi tôn giáo đều dựa trên niềm tin; chỉ có khoa học là dựa trên sự nghi ngờ”. Đảng Cộng sản một mặt cho rằng học thuyết, đường lối chính trị của mình là khoa học tiên tiến nhất thời đại, nhưng trong thực tế thì lại khuyến khích đảng viên và nhân dân xây dựng niềm tin tôn giáo đối với Đảng và lãnh tụ. Nhân dân ta sống trong bầu khí quyển tuyên truyền suốt nửa thế kỷ, mọi sinh hoạt xã hội đều bị chính trị hóa, làm cho người dân mất dần khả năng suy nghĩ độc lập, ngày càng tụng niệm giáo điều niềm tin. Tuy nhiên có hai hiểm họa cứ mỗi ngày một phình to lấn át xô đổ niềm tin vào Đảng Cộng sản già cỗi đã cạn kiệt: Giặc nội xâm tham nhũng do Đảng đi đầu và giặc ngoại xâm là bọn bành trướng Bắc Kinh. Về hiểm họa tham nhũng thì tôi đã có dịp trăn trở cùng chủ tịch nước đã kể ở trên. Còn hiểm họa ngoại xâm thì Đảng Cộng sản Việt Nam cố bưng bít. Một cán bộ lãnh đạo báo chí cách mạng như tôi mà không hề hay biết chuyện bị mất Hoàng Sa năm 1956 và 1974. Sau Hòa nghị nhục nhã ở Thành Đô, người ta buộc nhân dân phải quên cuộc xâm lược sáu tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979. Họ che giấu chuyện ngư dân bị bắn giết, bị cướp và đòi tiền chuộc. Bộ phim Hoàng Sa nỗi đau Việt Nam của André Menras Hồ Cương Quyết làm cho đến nay vẫn chưa được chiếu. Đặc biệt là những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược năm 2009 bị đàn áp dã man. Đạo diễn Song Chi sau khi bị bắt bớ trù dập đã phải xin tị nạn chính trị ở Na Uy. Khi nhận thức hai hiểm họa nói trên đang kìm hãm sự phát triển của đất nước, tôi quyết định phải lên tiếng đòi đảng Cộng sản phải đổi mới chính trị bằng bài viết “Đổi mới Đảng tránh nguy cơ sụp đổ” với bút danh Thiện Ý đăng trên mạng Talawas ngày 19-9-2009. (Trước đó, ngày 17-9-2009 các mạng Diễn Đàn, Viet-Studies đã đăng bản thảo chưa hoàn chỉnh). Posted on Tháng Mười Một 15, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/11/15/tu-theo-cong-den-chong-cong-70-niem-tin-can-kiet/?fbclid=IwAR2CM6FnZkFnhD6UCMoLg5YZJx-mgOdewQuvHWNlolrGKL2R2cL9ehVPnAQ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (71): https://www.minds.com/newsfeed/1020243791062728704?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69): https://www.minds.com/newsfeed/1020240325804347392?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69) Hồi ký Tống Văn Công “Ngẫm nhân sự cớ chi ra thế” (Nguyễn Gia Thiều) Biết tôi đang làm thủ tục nghỉ hưu, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải góp ý: “Anh nên bàn với anh em báo Lao Động cho tiếp tục sinh hoạt đảng ở chi bộ cơ quan, với điều kiện không dự những buổi họp bàn công việc. Nếu chuyển về địa phương, anh sẽ mất rất nhiều thời gian hội họp”. Lúc này tổng bí thư Đỗ Mười đang kêu gọi hướng về cơ sở, xây dựng cơ sở vững mạnh. Tôi nghĩ, mình nên cùng sinh hoạt với cơ sở đảng ở địa phương để biết rõ “sức khỏe” của đảng, của chế độ. Hai vợ chồng tôi gom góp tiền tiết kiệm xin hóa giá ngôi nhà nhỏ xíu diện tích 30m2 bên cạnh chùa Thiện Hạnh, đường Đinh Tiên Hoàng. Phòng nhà đất Quận 1 bảo con hẻm trước nhà tôi theo quy hoạch sẽ mở rộng 10m. Do đó, nếu muốn được hóa giá, chúng tôi phải viết bản cam kết khi nào mở rộng hẻm thì tự nguyện để cắt sâu vào sân 3 mét tức là gần mất cái sân nhỏ dưới giàn hoa ti gôn! Ngày 20 tháng 6 năm 1966 chúng tôi treo bảng rao bán nhà, lập tức được nhà bên cạnh mua ngay và cho chúng tôi được ở lại ba tháng. Khi tôi viết những dòng này, 25 năm đã qua, con hẻm ấy vẫn còn y như cũ. Đây là một nét minh họa tình trạng quy hoạch treo làm khổ nhân dân cả nước mấy chục năm qua. Sau đó, các con chúng tôi cho mảnh ruộng 200 mét ở Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7 để xây ngôi nhà mới. Dò hỏi một bà con quanh vùng, được biết: Nếu xin giấy phép xây dựng thì phải lót tay và chầu chực không biết đến bao giờ. Tất cả bà con ở đây đều xây chui, không có giấy phép. Anh bạn trẻ tên là Cường đã xây ngôi nhà bên cạnh miếng đất của tôi, truyền kinh nghiệm: Khi có đoàn kiểm tra tới thì đưa cho họ một phong bì “trà nước”, vậy là sẽ được “thông cảm” cho tiếp tục thi công. Tôi tìm đến nhà anh Tư, trưởng ấp (lúc này còn chưa gọi là khu phố) hỏi ý kiến. Anh Tư bảo cứ làm như bà con là được, vì từ khi anh làm trưởng ấp tới nay, chưa có ai xây nhà có giấy phép cả! Tháng 10 năm 1997 chúng tôi ký hợp đồng với ông thầu Thạnh (ở Quận 10). Công việc suôn sẻ khoảng hai tuần thì một buổi trưa, thầu Thạnh tới. Ông cho xem “biên bản đình chỉ thi công” do ông Dương Văn Gấu, chủ tịch phường Tân Kiểng ký. Tôi hết sức lo lắng, vì lần đầu tiên trong đời mình đã làm một việc không đúng pháp luật. Thầu Thạnh bình thản nói: “Tôi báo tin là để anh chị biết có chuyện như vậy thôi, chứ không có gì đáng lo đâu. Tôi nhận thầu xây nhà khắp thành phố này và nhiều tỉnh khác nữa, Ở đâu cũng vậy thôi. Chiều nay, tôi sẽ giải quyết xong, sáng mai tiếp tục thi công bình thường. Anh chị đừng lo lắng!” Tôi ngạc nhiên hỏi: “Anh định giải quyết cách nào?” Ông Thạnh đáp: “Anh chị cứ yên tâm. Xong việc, tôi sẽ kể đầu đuôi với anh chị”. Suốt buổi chiều lòng bứt rứt tôi ngồi chờ tin ông thầu Thạnh. Khoảng 5 giờ chiều, thầu Thạnh gõ cửa, bước vào với nụ cười và báo tin sáng mai tiếp tục thi công bình thường và đảm bảo từ nay cho tới khi hoàn thành công trình, sẽ không còn bị dòm ngó gì nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi anh làm sao xong chóng vánh như vậy. Thầu Thạnh vui vẻ kể: “Tôi đến trụ sở phường, gặp thằng Nguyễn Hoài Phong phụ trách quản lý đô thị, đưa cho nó cái phong bì nặng, vậy là xong”. Tôi vẫn thắc mắc: “Biên bản đình chỉ thi công là do Chủ tịch Dương Văn Gấu ký mà?” Thầu Thạnh nói với giọng miệt thị: “Tôi chẳng cần biết thằng Dương Văn Gấu mặt tròn hay méo! Chỉ cần đưa thằng Nguyễn Hoài Phong cái phong bì nặng, cho cha con nhà nó chia nhau”. Tôi hiểu ra: Thầu Thạnh đến báo chuyện bị lập biên bản đình chỉ thi công, không phải vì lo sợ việc xây dựng bị ách tắc mà chỉ là để tôi biết ông đã phải chi một phong bì nặng ngoài hợp đồng. Dù vậy, lòng tôi vẫn ấy náy không yên: Mình là một cán bộ, đảng viên suốt đời trao dồi đạo đức cách mạng, nay lại theo đuôi quần chúng, xây nhà không xin giấy phép! Còn đau hơn nữa khi được biết, chỉ cần bỏ ra một phong bì nặng thì cái chính quyền cách mạng ở cơ sở dễ dàng “cha con nhà nó chia nhau”, vứt bỏ luật pháp! Đây chỉ là chuyện cá biệt hay đó là hình ảnh thu nhỏ của cả nước? Nhà xây xong, tôi chuyển sinh hoạt Đảng về nơi ở mới. Mấy tháng sau, chi bộ khu phố đến kỳ đại hội. Biết tôi là nhà báo, anh Ba Lợi (nguyên phó chủ tịch huyện, sau khi về hưu được bầu làm bí thư chi bộ khu phố) gợi ý tôi đọc tham luận tại đại hội. Tôi nhận lời, đọc bản tham luận có nội dung: Mọi sai trái, vi phạm luật pháp xảy ra ở địa phương không phải vì quản lý lỏng lẻo. Từ chuyện lấn chiếm lòng lề đường, đến đá gà ăn tiền, đánh bạc, xây nhà không giấy phép… đều có sự thỏa thuận ngầm giữa cán bộ phụ trách với người dân bằng một khoản lót tay nhỏ, hoặc lớn. Khi tôi dứt lời, thật bất ngờ cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Tôi ngước nhìn, ông Dương Văn Gấu đang ngồi trên đoàn chủ tịch đại hội, mặt bợt bạt. Lúc nghỉ giải lao, một đồng chí mái tóc muối tiêu, đến bắt tay tôi, tự giới thiệu: “Tôi là Xuân bí thư chi bộ khu phố 3, là khách mời của đại hội chi bộ khu phố 4, tôi rất tán thành bài phát biểu của đồng chí. Lâu nay ai cũng biết, nhưng lờ đi như không biết”. Nghe vậy, tôi chột dạ: “Vậy là mình động vào tổ ong rồi!” Ít lâu sau, tôi được biết, bí thư Xuân thích bài phát biểu của tôi là vì anh cũng đã từng bị anh Nguyễn Hoài Phong vòi tiền khi làm giấy tờ đất đai và xây nhà. Bí thư Xuân mua được miếng đất ruộng rất lớn với giá rẻ, anh nhờ Phong giúp thủ tục “chuyển mục đích sử dụng” thành đất thổ cư. Phong bảo, muốn được giải quyết chuyện này phải qua một đường dây gồm rất nhiều người, do đó bí thư Xuân phải trao tay đợt đầu 300 triệu đồng. Bí thư Xuân không chịu, vì cho rằng mức vòi vĩnh đó quá đáng. Sau đó, bí thư Xuân tìm được người có máu mặt làm môi giới, bán đất cho công ty HA. Công ty này ngay lập tức thực hiện dự án xây dựng chung cư trên khu đất ruộng ấy. Bí thư Xuân cho biết, công ty HA đã phải chi một khoản tiền lớn để mua đường dây gồm nhiều người, trong đó tức nhiên có phần của Phong. Bên cạnh nhà tôi, anh Thông người láng giềng mới, vừa xây xong nhà (cũng không giấy phép, nhưng không bị đình chỉ thi công, vì anh luôn có mặt kịp đưa phong bì). Gặp tôi ở trụ sở phường, anh khoe đã tới kho bạc quận nộp phạt về việc xây nhà không giấy phép và đã đóng thuế trước bạ xong. Tôi hỏi “kinh nghiệm” của người đi trước. Anh cười đó, cũng không có gì phức tạp lắm đâu, anh cứ đặt lên cặp giấy tờ một phong bì chừng vài trăm, thì nó sẽ chạy nhanh, xong sớm. Phong đứng cạnh đấy nghe chuyện, đã thân mật gợi ý tôi: “Bác ạ, mai cháu có việc đến hai nơi đó. Bác đưa tiền nộp phạt, tiền thuế và các giấy tờ, cháu đi đóng thuế dùm bác, không cần phong bì đâu”. Sở dĩ Phong tử tế như vậy vì anh đã biết tôi là một đảng viên lão thành, giúp tôi để “làm hòa” chuyện đã cầm “phong bì nặng”. Hai tháng sau, trong cuộc họp thường kỳ, bí thư chi bộ báo tin: Đảng ủy phường gửi anh Nguyễn Hoài Phong, một cán bộ xuất sắc phụ trách quản lý đô thị, xuống cho chi bộ khu phố chúng ta bồi dưỡng kết nạp vào Đảng! Bí thư nói thêm ý nghĩa của việc này: “Đó là đảng ủy giúp chúng ta có điều kiện thực hiện được chỉ tiêu phải phát triển một đảng viên mới trong nhiệm kỳ này như Nghị quyết Đại hội Chi bộ đã ghi”. Cả chi bộ đều tỏ ra vui mừng đối với việc này, chỉ riêng tôi băn khoăn: Một anh nhận “phong bì nặng” bán rẻ luật pháp lại là cán bộ xuất sắc của phường ư? Mình có thể giơ tay tán thành cho một kẻ lợi dụng chức quyền, tham nhũng vào Đảng ư? Nhưng dính với anh ta còn có cả phó bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch phường Dương Văn Gấu nữa thì làm sao đây? Suốt cuộc họp lòng tôi rối bời vì chuyện này. Tan cuộc họp, Tôi hẹn gặp anh Căn, trung úy quân tình nguyện Campuchia, người tôi quen đầu tiên khi về đây, để trao đổi chuyện này. Nghe tôi kể xong, anh Căn nói ngay: “Tôi xin anh hãy im lặng trong chuyện này, vì hai lý do. Một là, chuyện như anh kể không phải cá biệt, ở đâu cũng có, ngày nào cũng có. Có lẽ vì đồng lương cán bộ thấp quá? Anh nghĩ xem, lương Nguyễn Hoài Phong chỉ vài trăm ngàn, anh ta có vợ, có con, làm sao mà sống? Hai là, chuyện đưa phong bì đâu có làm biên nhận, vậy không có bằng cớ buộc tội được! Nếu đưa chuyện này ra là anh tuyên chiến với cả đảng ủy, ủy ban phường này, có thể là cả quận này, thành phố này. Chắc chắn anh thua và phải bán nhà mà đi”. Anh Căn, một trung uý về hưu, đang ngày ngày ngồi bên vệ đường bán thuốc lá kiếm thêm để sống. Ý kiến của anh hoàn toàn vô tư. Vợ tôi nói, anh Căn nói đúng đấy! Đây là sản phẩm của “cơ chế” nói cho đúng là của chế độ. Chống Nguyễn hoài Phong không giải quyết được gì, mà chỉ làm rối tung lên, rối tung ngay cả cuộc sống của chính mình! Tôi chợt nghĩ, hay là gửi thư báo cho anh Phạm Thế Duyệt, đang là thường trực Bộ Chính trị, người tôi quen thân, xem anh ấy có ý kiến gì? Tôi đem ý định này bạn với mấy người bạn, người nào cũng cười ngất: “Ông ơi, đừng phí công vô ích! Các vị ấy họ có thông tin còn nhiều hơn ông gấp trăm lần!” Hôm chi bộ thông qua lý lịch và đơn xin vào Đảng của Nguyễn Hoài Phong, tất cả những người phát biểu ý kiến đều khen anh ta là một cán bộ tốt, chịu khó, đi sâu, đi sát, giải quyết kịp thời những vướng mắc của nhân dân về nhà đất. Anh Chín Thành, một trong hai người giới thiệu Nguyễn Hoài Phong vào Đảng đọc lý lịch của mình trước chi bộ, tôi nhận ra anh là bạn đồng ngũ từ năm 1950 ở Đại đội Thông tin Liên lạc Bộ Tư lệnh Liên Phân khu miền Tây Nam bộ thời chống Pháp. Sau cuộc họp, tôi kéo anh Chín Thành ra ngoài để nhận đồng đội: “Tôi với anh là đồng ngũ mà qua nửa năm sinh hoạt chung chi bộ, chẳng nhận ra nhau! Đố anh nhớ tên ông đại đội trưởng của tụi mình?” Anh Chín Thành cười đáp: “Làm sao quên được! Đại đội trưởng Đặng Ngọc Tấn!” Tôi đem chuyện cái “phong bì nặng” kể cho anh Chín Thành nghe để xem ý anh thế nào. Lạ thay, anh Chín Thành không hề ngạc nhiên: “Cậu ơi, với đồng lương chết đói, nó phải kiếm chác chút đỉnh để sống mà!” Anh còn thân tình tỉ tê: “Tiếc quá, lúc mình còn làm bí thư đảng ủy xã Tân Thuận Tây, sao cậu không về! Nếu cậu về lúc đó, mình sẽ cắt cho cậu vài ba trăm mét đất làm nhà đỡ tốn tiền mua”. Tôi vô cùng ngạc nhiên, chao ơi, ông bí thư đảng ủy một xã đã có thể cấp đất cho đồng đội cũ một cách dễ dàng vậy sao! Mấy ngày sau, đồng chí Út Kỷ đảng viên trong chi bộ (nguyên phó chủ tịch huyện Nhà Bè) mời tôi đến nhà chơi. Trò chuyện với anh, tôi mới biết tất cả những đồng chí lão thành cách mạng ở chi bộ này đều được chia đất. Họ so kè với nhau, bới móc nhau, anh này bảo anh nọ được miếng đất rộng hơn mình. Anh nọ bảo anh kia lấn ranh đất của mình. Có hai cặp ở sát nhau, tranh chấp ranh đất, đến nỗi coi nhau như kẻ thù. Nhiều lần họ đưa ra chi bộ yêu cầu phân xử. Anh Út Kỷ mời tôi tới nhà là để kéo tôi về phe anh, giành một phiếu trong cuộc họp chi bộ sắp tới. Để nghe cả hai phía, tôi ghé thăm anh Lê Duyên Hải đảng viên, nhà bên cạnh Út Kỷ. Tôi không cần gợi chuyện, Lê Duyên Hải đã dắt tôi ra đầu nhà xem bức tường đầu hồi bị nứt một đường dài. Anh cho biết, do bên Út Kỷ đào móng gần sát, gây chấn động mạnh làm nứt. Anh đã yêu cầu anh Út Kỷ cho thợ sửa vết nứt, nhưng bị từ chối với lý lẽ: Móng nhà của Út Kỷ đào bên đất của Út Kỷ, vậy tại sao Út Kỷ phải chịu trách nhiệm về tường nhà Lê Duyên Hải bị nứt?! Nghe chuyện tranh chấp đôi co giữa hai đảng viên cộng sản mà sao giống như hai đứa trẻ lên ba! Trong chi bộ có chuyện lủng củng của đôi vợ chồng anh Tám Mon, chồng có huy hiệu 60 tuổi đảng, vợ huy hiệu 50 tuổi đảng. Họ lục đục nhau liên miên chỉ vì chị chê anh: “Chồng người ta khôn ngoan biết chạy chọt, cho nên được nhà cao, đất rộng, còn ông quá đụt, cho nên nhà ở trong hẻm lại hẹp, không có sân”. Đôi lần họ đòi đưa nhau ra tòa ly dị. Chi bộ hóa giải không xong, nhưng chỉ khi bí thư chi bộ dọa: “Hai đồng chí đưa đơn ra tòa là làm mất tư cách đảng viên, không xứng đáng với vinh dự 60, 50 tuổi đảng”. Nghe vậy cả hai đều sợ, ra tòa xin cho rút đơn, không ly dị nữa! Trong các cuộc họp chi bộ khu phố bốn, tôi để ý anh Lê Ngọc Tưởng, nguyên ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy quận này từ sau tháng 5-1975. Anh là người có những ý kiến công tâm, xác đáng. Anh Lê Ngọc Tưởng xin nghỉ hưu trước tuổi, lập hợp tác xã Chiếu Cói xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn 100 lao động nghèo trong khu phố. Chi bộ coi anh như một điển hình tiên tiến trong thời kỳ mới. Khoảng tháng 3 năm 2001, xảy ra chuyện căng thẳng giữa anh với Quận ủy và ủy ban Nhân dân Quận 7. Chuyện bắt đầu khi công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Nam sắp chấm dứt hợp đồng thuê nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói vào ngày 30-9-2001, nhưng không chịu thanh lý hợp đồng mà gửi thư cho Ủy ban Nhân dân Quận, xin thuê lại, hoặc mua trực tiếp với chính quyền quận. Anh Lê Ngọc Tưởng đề nghị Ủy ban Nhân dân Quận 7 xử lý vụ này. Quận không đồng ý phân xử mà yêu cầu anh Tưởng nếu không thỏa thuận được với công ty Kim Nam thì khởi kiện để tòa án phân xử. Anh Lê Ngọc Tưởng thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói đưa đơn lên Tòa án Quận 7 ngày 8-5-2002, nhưng đơn kiện bị ngâm đến 14-10-2002, mới trả lại đơn với lý do “giá trị hợp đồng thuê nhà xưởng trên năm mươi triệu đồng, vượt thẩm quyền xét xử của tòa án quận”. Anh Lê Ngọc Tưởng phải gửi đơn lên Tòa án Thành phố. Gần hai tháng sau, Tòa án Thành phố lại chuyển đơn kiện về cho Tòa án Quận, với lý do: “Ở thời điểm ký hợp đồng thuê nhà, công ty Kim Nam chưa đăng ký kinh doanh.” Tòa án Quận lại yêu cầu anh Lê Ngọc Tưởng phải có văn bản cam kết “không tranh chấp nhà đất với nhà nước” trước khi tòa xử công ty Kim Nam. Sở dĩ có yêu cầu đó là vì sau khi anh Lê Ngọc Tưởng nộp đơn kiện công ty Kim Nam thì Ủy ban Nhân dân Quận đã ra quyết định thu hồi khu nhà đất nói trên. Thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói, anh Lê Ngọc Tưởng gửi đơn khiếu nại với Ủy ban Nhân dân Quận, cho rằng việc Quận ra quyết định thu hồi đất của hợp tác xã đang thuê của nhà nước là trái thẩm quyền, yêu cầu Ủy ban Nhân dân quận rút quyết định. Anh Lê Ngọc Tưởng lại gửi đơn khiếu nại lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Nay, trước yêu cầu của Tòa án Quận, anh Tưởng thay mặt Hợp tác xã nêu rõ: “Không tranh chấp đất với nhà nước, chỉ yêu cầu thu hồi đất đúng luật”. Thế nhưng, ngày 7-5-2003, Tòa án Quận ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, với lý do cần đợi Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết khiếu nại đối với quyết định thu hồi đất của Ủy ban Nhân dân Quận. Anh Lê Ngọc Tưởng nhận định: Tòa án Quận tạm đình chỉ vụ án không phải vì tuân thủ pháp luật mà chỉ để tạo điều kiện cho công ty Kim Nam chiếm giữ trái phép nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói. Vì sao họ ưu ái công ty Kim Nam? Đó là điều phải hiểu ngầm chứ không thể có văn bản. Lê Ngọc Tưởng tiếp tục gửi nhiều đơn cho rằng việc khiếu nại về thu hồi đất hoàn toàn không dính đến nội dung vụ kiện công ty Kim Nam không thanh lý hợp đồng, tiếp tục chiếm dụng nhà đất của Hợp tác xã một cách phi pháp. Để đối phó lại, ngày 24-7-2003, Ủy ban Nhân dân Quận gửi báo cáo lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có những đoạn như sau: “Ủy ban Nhân dân Quận đã có công văn trả lời bà giám đốc Công ty May Kim Nam dự kiến sử dụng phần đất này làm công trình phúc lợi cho Quận”, do đó ý kiến của ông Lê Ngọc Tưởng cho rằng Quận can thiệp vào hợp đồng kinh tế với công ty Kim Nam là không có cơ sở. Và “thực chất ông Lê Ngọc Tưởng cố tình không thực hiện quyết định của Ủy ban Nhân dân Thành phố đồng thời không chấp hành quyết định thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận”. Anh Lê Ngọc Tưởng và các xã viên hợp tác xã Chiếu Cói đặt câu hỏi: Các ban ngành của Thành phố Hồ Chí Minh và Quận 7, đùn đẩy, cố trì hoãn không chịu xử lý khiếu nại, tiếp tục để công ty Kim Nam chiếm dụng nhà đất là nhằm mục đích gì? Câu trả lời phải được lý giải bằng một bài toán: Khu đất 1AB đường Trần Xuân Soạn có diện tích 2500 m2, có 3 mặt tiền, tính theo giá nhà nước sẽ là 13.250.000.000 đồng. Nếu tính theo thời giá thị trường sẽ là 75.000.000.000. Khoản chênh lệch này có sức mạnh đổi trắng thay đen ghê gớm trong cuộc tranh chấp mà tình trạng pháp lý không minh bạch. Bài toán này làm cho hơn 100 con người thấp cổ bé họng của hợp tác xã Chiếu Cói phấp phỏng lo âu! Như sét đánh, cuộc đấu bóng chuyển sang khúc quanh mới: anh Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hợp tác xã Chiếu Cói từ chỗ là người khiếu nại, tố cáo bỗng nhiên trở thành người bị khiếu nại, “bị cáo”! Công an phường Tân Thuận Tây gửi giấy mời ông Lê Ngọc Tưởng đúng 14 giờ ngày 2 tháng 2 năm 2004 đến công an phường để “hỏi một số việc có liên quan đến ngôi nhà 29M”. Sau đó, ngày 16/2 Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy gửi “thư mời đồng chí Lê Ngọc Tưởng đến để trao đổi một số vấn đề có liên quan đến đơn khiếu nại của công dân đối với đồng chí”. Ngày 20 tháng 2 thường trực Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng chủ trì gặp và làm việc với đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Ngày 23/2 quận ủy ra thông báo 568-TB kết luận cuộc họp. Điều ba của thông báo này viết: “Việc thực hiện thương lượng giao nhà 29M và nhận tiền 200 (triệu) của đồng chí Lê Ngọc Tưởng và bà Vinh là bất hợp pháp và yêu cầu đồng chí Lê Ngọc Tưởng trả lại tiền cho bà Vinh”. Trong buổi làm việc nói trên, bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng đã to tiếng khi anh Lê Ngọc Tưởng tố cáo ông ta dùng hồ sơ giả để kết tội mình. Ông Nguyễn Hoàng Năng, nguyên là bí thư Thành đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, loại người leo nhanh lên nấc thang quan chức không phải do tài năng mà do “cơ cấu”. Bí thư Thành đoàn thì đương nhiên phải được là Ủy viên Thành ủy, như giám đốc các sở, ban ngành quan trọng. Do được hưởng quyền lợi béo bở không cần công sức, tài năng cho nên đây là con đường rất tốt của những kẻ cơ hội. (Hiện nay Nguyễn Hoàng Năng là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh). Tôi đã được anh Lê Ngọc Tưởng cho xem hai văn bản gốc về việc anh trả lại ngôi nhà 29M. Đúng là bản mà bí thư Nguyễn Hoàng Năng dùng để làm việc với anh Lê Ngọc Tưởng là bản bị sửa chữa ngày, tháng, năm, và xóa bỏ ý kiến ghi nhận của cán bộ quản lý hôm giao nhà. Tôi gợi ý anh Lê Ngọc Tưởng đưa đơn kiện bí thư Nguyễn Hoàng Năng vì ông ta đã dùng tài liệu giả để kết tội anh. Anh Lê Ngọc Tưởng không kiện, có lẽ vì anh có kinh nghiệm về vụ kiện giám đốc công ty Kim Nam tốn công sức mà chẳng đi đến đâu. Cũng có thể là do trong vụ này anh Lê Ngọc Tưởng tự thấy mình cũng không hoàn toàn chính đáng và trong sạch? Bởi vì theo quy định của Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận thì những cán bộ nào được cấp đất đủ để xây biệt thự thì phải trả lại gian nhà đang ở trong các khu tập thể. Thực ra quy định như vậy chỉ là để báo cáo lên cấp trên, tỏ ra Quận ủy, Ủy ban Nhân dân Quận này quản lý nhà đất rất chặt chẽ, cán bộ đảng viên ở đây rất liêm khiết. Và hàng trăm cán bộ, đảng viên quận này sau khi được cấp đất không có một ai trả lại nhà. Nhưng họ không có ai bị lôi ra bôi nhọ như anh Lê Ngọc Tưởng, vì tất cả đều ngoan ngoãn, không có ai dám gây khó cho lãnh đạo quận! Anh Lê Ngọc Tưởng nêu câu hỏi thắc mắc với Quận ủy: “Tại sao vụ bà giám đốc công ty Kim Nam chiếm dụng tài sản hợp pháp chính đáng và rất lớn của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói thì Ủy ban Nhân dân Quận 7 không giải quyết, bảo phải đưa ra tòa xử; còn vụ này, chỉ có 200 triệu đồng giữa hai cá nhân thì lại được Quận ủy và cả Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy đích thân chủ trì lên tiếng đòi tiền hộ bà Vinh? Câu hỏi không được trả lời, bởi vì mục đích của họ là nhằm đánh gục uy tín của Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói, dám đương đầu với lãnh đạo quận! Ngày 31 tháng 8 năm 2004, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đưa ra kết luận đồng ý với quận, chỉ thị phải tổ chức kiểm điểm đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Khi chi ủy triệu tập chi bộ họp kiểm điểm, anh Lê Ngọc Tưởng cảm thấy mình đang bị cả một hệ thống Đảng và chính quyền trù dập. Do đó anh đến cuộc họp với lá đơn xin ra khỏi Đảng. Cả chi bộ bối rối. Vốn rất quý anh, tôi gặp riêng anh, khuyên nên rút đơn: “Ra đảng trong tình hình này không làm tăng thêm sức mạnh đấu tranh mà chắc chắn sẽ làm cho anh và hơn 100 con người lao động nghèo của hợp tác xã Chiếu Cói lâm vào thế yếu hơn! Vì vậy chúng ta nên tiếp tục ở trong Đảng, đoàn kết nhau kiên trì đấu tranh làm cho chân lý được sáng tỏ!” Mặc dù khuyên anh Lê Ngọc Tưởng như vậy, nhưng trong lòng tôi vang lên những câu của nhà thơ bùi Minh Quốc: “Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ...
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68) Hồi ký Tống Văn Công Trăn trở cùng chủ tịch nước Vào dịp tết Tân Mão, tâm sự với bạn đọc báo Sài Gòn Tiếp Thị, chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhắc chuyện người thầy của mình thời đại học đã gửi gắm kỳ vọng vào anh học trò Nguyễn Minh Triết giỏi toán, nay là chủ tịch nước, chắc chắn sẽ giải được bài toán khó của đất nước: quốc nạn tham nhũng! Chủ tịch nói những lời ân hận: chống tham nhũng là mong mỏi tha thiết và chính đáng của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi chưa làm xong. Rất tiếc, ngày Chủ tịch về làm bí thư thành ủy, anh Năm Tân, bạn tôi (tức Triều, cán bộ Ban Dân vận Trung ương Cục, người thay mặt Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam tiếp nhận sinh viên Nguyễn Minh Triết mới từ thành phố vào bưng), rủ tôi cùng đến thăm nhà tân bí thư thành ủy nhưng tôi không chịu đi. Anh nói: “Chúng mình thường xuyên cung cấp chứng cứ tham nhũng để đồng chí bí thư quan tâm xử lý”. Tôi từ chối ngay: “Tôi không tham gia đâu. Ngày còn là tổng biên tập báo Lao Động, tôi đã quyết liệt chống tham nhũng, quan liêu và đã bị Ban Tư tưởng Văn hóa nhiều lần góp ý. Có lần không phải góp ý với tổng biên tập mà với ‘đảng viên có trách nhiệm’. Khi tôi trả lời chúng tôi làm không sai luật, đồng chí Hữu Thọ tươi cười nói khéo theo kiểu bạn bè: ‘Một chính phủ mà trong hơn một tháng bị mày chỉ trích đến 4 ông bộ trưởng thì sẽ ra sao trước dư luận quốc tế và trong nước?’ (Bốn bộ trưởng bị báo Lao Động chỉ trích là Phạm Song, bộ trưởng Y tế, Cao Sĩ Kiêm thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Vũ Ngọc Hải bộ trưởng Bộ Năng lượng, Phan Xuân Đạt bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp). Tôi đã trả lời anh: Một chế độ chấp nhận cho báo chí liên tục chỉ trích chính phủ là một chế độ dân chủ, vững mạnh và chính phủ tiếp thu sự chỉ trích, sẽ đổi mới phục vụ nhân dân đắc lực hơn. Nhưng Hữu Thọ nhân danh đại diện Trung ương Đảng không chấp nhận quan điểm của tôi. Huống hồ ngày nay, trong tay tôi không có quân, cũng chẳng có quyền, thôi tôi chẳng chơi dại!” Anh Năm Tân nổi cáu: “Mày bạc nhược đến thế à? Vậy thì mày còn ở trong Đảng để làm gì?” Anh Năm Tân đã một mình tới nhà bí thư thành ủy Nguyễn Minh Triết. Hai tháng sau đó, có chuyện không vui xảy ra cho anh Năm Tân: Bà Kim Em – phó bí thư, trưởng Ban Tổ chức Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh – gửi công văn “yêu cầu đồng chí Năm Tân rút tên ra khỏi bản đăng ký đi tham quan Hà Nội, để ở lại làm ngay bản kiểm điểm, vì theo công văn của tỉnh ủy Long An, đồng chí đã kích động nhân dân khiếu kiện về đất đai, chống lại chính quyền Long An” (Trước khi về hưu, anh Năm Tân là chủ tịch Liên hiệp Công đoàn tỉnh Long An, lúc đó đã có huy hiệu năm mươi tuổi Đảng, hiện giờ thì đã sáu mươi). Trước việc trớ trêu này tôi đã nói đùa với anh Năm: “Dù anh đã lớn tiếng đòi đuổi tôi khỏi Đảng, tôi vẫn cầu mong cho anh không bị đuổi ra trước tôi!” Xin lỗi Chủ tịch, tôi đã dài dòng, để nói rằng bài toán chống tham nhũng rất khó, và thực ra nó cũng không phải chỉ thuộc trách nhiệm của chủ tịch nước với quyền hạn chế theo Hiến Pháp. Cho nên dù có tiếp tục thêm một nhiệm kỳ nữa (việc đó không thể có rồi!) Chủ tịch cũng không thể làm xong được. Do đó tôi muốn Chủ tịch cùng suy ngẫm vấn đề trọng đại này với đất nước, dù đã muộn lắm! Trước hết tôi muốn được cùng Chủ tịch nhớ lại những ý kiến của chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946 do phải chấp nhận đại diện các đảng phái tham gia chính phủ liên hiệp, Hồ Chí Minh đã có những phát biểu tiến bộ: – “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà Xuất bản Sự Thật, 1986, tập 6, trang 271). – “Pháp luật phải trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ đó ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” (sách đã dẫn, tập 5, trang 245). – Hồ Chí Minh cho rằng bọn quan liêu, tham nhũng “xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không thương yêu nhân dân” (sách đã dẫn, tập sáu, trang 112). – “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập, trang 283). – “Nghị quyết gì mà do dân chúng cho là không hợp thì để cho họ đề nghị sửa chữa” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập 5, trang 297). Hồ Chí Minh cho rằng phải có dân chủ mới chống tham nhũng được. Nhưng rất tiếc là Cụ Hồ chưa nói rạch ròi là thứ dân chủ nào? Từ sau năm 1954, cụ Hồ chỉ nói về dân chủ xã hội chủ nghĩa. Năm 1959, Hồ Chí Minh chính thức vứt bỏ Hiến pháp 1946, ban hành Hiến pháp 1959, không chấp nhận nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, Đảng nhất định phải lãnh đạo tư pháp. Nhiều năm qua cho thấy dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng không thể chống nổi tham nhũng. Bởi vì nếu Đảng chống tham nhũng là tự chặt tay mình. Hãy nhìn lại cách chống tham nhũng của chúng ta, xem vì sao không thể đạt hiệu quả như các nước dân chủ. Tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư Năm 2006, tổng bí thư Nông Đức Mạnh cũng đã thừa nhận: tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ. Đến nay đã qua bốn năm, năm nào ta và các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cũng có tổng kết về vấn đề này. Xin chỉ nêu những kết luận gần nhất: – Ngày 1-12-2010, hội nghị tổng kết do Ban Bí thư Trung ương chủ trì kết luận: “Hiện nay tham nhũng vẫn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Tham nhũng chưa được ngăn chặn và từng bước đầy lùi như mục tiêu Nghị quyết Trung ương 3 đề ra. Tham nhũng vẫn là vấn đề bức xúc, mối quan tâm lớn của toàn xã hội”. – Ngày 6-4-2011, Thủ tướng chủ trì phiên họp tổng kết quý một năm 2011 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng nhận định: “Số vụ tham nhũng được phát hiện và xử lý giảm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thiếu quyết tâm, ngại đưa ra xử lý các vụ việc ở thời điểm nhạy cảm về chính trị”. Nhận xét như vậy có điều tốt là trung thực, nhưng bộc lộ chủ yếu rất khó khắc phục: Đó là che giấu bớt vì sợ nhạy cảm chính trị! Về nhận xét quốc tế: – Năm 2008, Chương trình Hỗ trợ Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) có một báo cáo khá chi tiết. Báo cáo nêu: “Tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đã xảy ra với 3 hình thức: Hối lộ còn được gọi là bôi trơn; tư nhân hóa tài sản nhà nước trong việc thực hiện chính sách cổ phần hóa; và mua bán quyền lực”! Báo cáo của bà Lê Hiền Đức (giáo viên hưu trí ở Hà Nội, người được Tổ chức Minh bạch Quốc tế tặng giải thưởng Liêm Chính năm 2009) minh họa cho nhận định nói trên. Bà nói “Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả”! – Chỉ số thứ hạng tham nhũng của Việt Nam từ năm 1997 đến nay hầu như không thay đổi. Năm 2009, Tổ chức Tư vấn rủi ro xếp nước ta là nước tham nhũng đứng thứ ba châu Á, khá hơn Indonesia, Philippines, nhưng tham nhũng trong lĩnh vực bất động sản thì ta đứng trên hai nước này! Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã rút ra kết luận: Bọn tham nhũng lộng hành khi nguy cơ phát hiện thấp và nếu bị phát hiện thì hình phạt nhẹ mà mối lợi thu được thì quá lớn. Cơ chế để phòng, chống tham nhũng hiệu quả cần phải có hai điều kiện thiết yếu: tính minh bạch và khả năng kiểm soát. Từ đó người ta rút ra công thức: Tham nhũng = Nhà nước độc quyền + Quyền quyết định của viên chức thừa hành quá rộng + Khả năng kiểm soát yếu kém. Chúng ta có thể dùng công thức này để tìm thấy nguyên nhân bất trị của nạn tham nhũng ở nước mình. Bạn đọc Phan Châu Thành đã lần tìm và so sánh tình trạng tham nhũng qua các thời kỳ đã diễn tả như sau: – Tham nhũng từ năm 1945 tới 1975 gọi là thế hệ thứ nhất Thời ấy, kẻ tham nhũng hành động đơn lẻ, lợi dụng chức quyền chiếm trực tiếp những gì chúng ham muốn. Đội quân chống tham nhũng thời ấy rất hùng hậu bao gồm một xã hội tốt đẹp có đông đảo dân chúng có đạo đức và noi theo tấm gương cần kiệm liêm chính trong sáng của lãnh tụ. – Từ 1976 đến 1999, tham nhũng bước qua thế hệ thứ hai. Bọn tham nhũng buộc mọi người phải “mua” từ công việc, chức vụ, tất cả các quyền lợi chính đáng lẽ ra người dân đương nhiên được hưởng. “Văn hóa chạy chọt” xuất hiện. Cái gì cũng “chạy” được, từ quan hệ, chức tước, đặc quyền, sở hữu đất đai, bằng cấp. Chúng chiếm đoạt những thứ không có giá trị vật chất, nhưng lại dễ dàng thu được tài sản, vật chất. Người trong các lực lượng chống tham nhũng bắt đầu tham gia tham nhũng ngày càng công khai! Tham nhũng trở thành hiện tượng xã hội bình thường. Hai vụ tham nhũng vang dội là PMU 18 và Đại lộ Đông Tây cũng chỉ mới ở trình độ cấp hai này. – Từ năm 2000 đến nay, tham nhũng đã sang thế hệ thứ ba. Tham nhũng thiết kế, bố trí, xây dựng và đầu tư, đằng sau mỗi đường dây của chúng là vài ông trùm chủ chốt có quyền thế rất cao. Không thể tìm ra, bắt bẻ tính bất hợp pháp của chúng. Chúng chỉ có thể bị lộ khi có một đường dây tham nhũng khác cạnh tranh, nhưng chưa chắc đã có thể đưa được chúng ra tòa. – Tham nhũng thế hệ thứ tư xuất hiện từ khoảng năm 2005, đó là các nhóm lợi ích thông đồng nhau can thiệp vào hệ thống làm ra chính sách. Những nhà lý luận về kinh tế như bà Phạm Chi Lan, ông Lê Đăng Doanh, ông Nguyễn Trung đã có nhiều bài viết nói về “những nhóm lợi ích” cài cắm ngay khi soạn thảo luật, cơ chế. Xin dẫn chứng quá trình lớn mạnh của tham nhũng ở ngành đóng tàu để minh họa: – Cách đây 17 năm, ngày 27 tháng 5 năm 1993 cách báo đồng loạt đưa tin sau: tại Quảng Ninh, cơ quan điều tra đã khởi tố bắt giam ông Nguyễn Đình Quý – Tổng giám đốc Liên hiệp Đóng tàu Việt Nam về hành vi tham ô. Khi là giám đốc Nhà máy Đóng tàu Hạ Long, ông Quý bán con tàu Ăngco Vat 01, trọng tải 3000 tấn với giá 1.031.000 USD, thanh toán bằng ba khoản: 95.700 USD; 1000 tấn thép; 200 kiện đầu lọc thuốc lá. Ông Quý bán thép được 2 tỉ tiền đồng, chỉ nộp quỹ 1,5 tỉ. Số ngoại tệ ông chỉ nộp 525 triệu đồng (tương đương 50.000 USD)… – Tối ngày 4 tháng 8 năm 2010, Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an thực hiện lệnh bắt giam ông Phạm Thanh Bình – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng. Sau đó, cơ quan an ninh điều tra khám xét nơi làm việc và hai nhà riêng của ông Bình ở số 10 Ngô Văn Sở và 17T6 khu Trung Hòa, Nhân Chính. “Thiệt hại nghiêm trọng” được biết là khoảng 86.000.000.000.000 đồng. Như vậy, nếu so sánh vụ án ở ngành đóng tàu năm 1993 thì thấy nó ở cấp tham nhũng thế hệ thứ hai, còn vụ Vinashin năm 2010 đã vọt lên thế hệ thứ ba, và trách nhiệm xử lý đã từ cấp tỉnh vọt lên cấp Bộ Chính trị! Đồng chí lão thành cách mạng, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh có thơ than rằng: “Quan tham ăn hối lộ, Sống như bậc đế vương … Công Lý luôn thuộc kẻ cầm quyền. Tai họa đều đổ đầu dân đen.” Từ năm 2010, một nhà lý luận hàng đầu của Đảng giáo sư tiến sĩ Mạch Quang Thắng đã viết: “Thật đáng tiếc là cho đến nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái một cách nghiêm trọng!” Nguyên nhân của việc không thể ngăn chặn tham nhũng đã được nhiều nhà lý luận của Đảng phân tích khéo léo, nhưng cũng khá rõ ràng. Tiến sĩ Hồ Bá Thâm, trong bài viết “Dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11-2009 đã viết: “Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta, càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiểm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hỏng và yếu kém nhất trong hệ thống tam quyền của nhà nước, phải được khắc phục sớm cả bằng nhận thức và thể chế”. Hình như ông còn quá e ngại đụng chạm đến khái niệm pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một sáng tạo của tổng bí thư Đỗ Mười, nên đã dè dặt đưa ra giải pháp gọi là “tam quyền phân hợp giám, gọi tắt là tam quyền phân giám”! Là người quan tâm đến cải cách tư pháp, chắc Chủ tịch cũng thấy việc “phân công ba quyền” đã không cân đối. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, đối với trong Đảng, trước đây chỉ là ủy viên Trung ương, nay mới vào Ban Bí thư. Tòa án Nhân dân Tối cao không có quyền xem xét những luật pháp vi hiến, không có quyền mời thủ tướng ra tòa. Trong cuộc hội thảo do Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức ngày 25-7-2010, đại sứ Thụy Điển nói, Việt Nam có nhiều văn bản luật và nhiều tổ chức chống tham nhũng hơn Thụy Điển. Lời nói của một vị đại diện một đất nước gần như không có tham nhũng cho ta nhiều suy ngẫm. Trong khi đó, cuộc họp mới nhất cho tới khi tôi viết bài này là 6-4-2011, cả thủ tướng và bộ trưởng Công an đều cho rằng điều lúng túng nhất là khó phân rõ trách nhiệm của người đứng đầu! Tôi xin phép được nói thẳng rằng: Trong khi tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư mà chúng ta còn loay hoay tìm chưa ra cách bổ sung để củng cố công cụ chống tham nhũng của thế hệ thứ nhất! Vừa qua ở Ninh Bình, ông bí thư tỉnh ủy, ủy viên Trung ương Đảng, là kẻ đại tham nhũng, nhưng lại là cấp trên của trưởng Ban Chống Tham nhũng. Nếu cơ chế chỉ sửa bằng cách giao cho bí thư tỉnh ủy làm trưởng Ban Chống Tham nhũng thì có hơn gì? Từ 2500 năm trước, nhà hiền triết Platon đã nói: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó. Còn nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì, ở đó tôi nhìn thấy có sự cứu thoát của nhà nước”. Học trò xuất sắc nhất của ông là Aristote, người được Karl Marx coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời Cổ đại đã cụ thể hóa tư tưởng của thầy mình, cho rằng quyền lực phải chia làm ba lĩnh vực: Lập pháp, Tư pháp và Liên hợp. Suốt 2000 năm, những đầu óc lớn của nhân loại không ngừng tiếp tục khám phá, cụ thể hóa tư tưởng phân quyền mà hai người đánh những cột mốc lớn nhất là J. Locke và Montesquieu. Cho tới nay đã có hàng trăm quốc gia dân chủ vận dụng cách tổ chức nhà nước theo tam quyền phân lập và trở nên ổn định và giàu mạnh. Nội dung chủ yếu của nó như Montesquieu viết là: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, người ta sợ rằng chính ông ta hoặc Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân. Quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa của kẻ có sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn ba quyền lực nói trên thì sẽ mất hết”! Do đó, theo ông, “trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều phù hợp với luật dân sự”. Điều nổi bật là ông nhấn mạnh quyền tư pháp phải nhất thiết được đặt ra, độc lập với hai quyền lập pháp và hành pháp. Điều này rất quan trọng, hiện nay nhân loại coi “tòa án là pháo đài của tự do”! Trong thế giới văn minh, dân chủ và nhân quyền đã trở thành xu thế của thời đại, người ta đề cao những chính quyền, nhà nước nào nhằm thực hiện các mục tiêu: – Xã hội tự do khi chính phủ bị kiểm soát bởi luật pháp mà mục đích chính là để bảo vệ con người. – Xã hội được quản lý bởi một chính phủ của luật pháp. Một cá nhân có thể làm bất cứ điều gì luật pháp không cấm; còn quan chức chính phủ chỉ được làm những gì luật pháp cho phép. Nếu chúng ta thực hiện tam quyền phân lập, thì như Hồ Chí Minh thời trẻ đã nói “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” và đúng với Karl Marx và Engels. Chúng ta đều biết, từ năm 1866, tại Đại hội Quốc tế ở Giơ-ne-vơ, K. Marx đã tạo ra “Chỉ thị gửi các đại biểu của Hội đồng Trung ương Lâm thời về một vài vấn đề”, đã chấp nhận đấu tranh nghị trường với các nhà nước tam quyền phân lập lúc bấy giờ để đòi ngày làm 8 giờ, cấm lao động trẻ em, quy định cho lao động phụ nữ, lao động hợp tác, hội công liên và quân đội (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, nhà xuất bản Sự Thật, 1974, trang 109). Nội dung chỉ thị này mở đầu cho việc Engels thành lập Quốc tế II năm 1889. Nếu thực sự có nhà nước pháp quyền thì có thể: – Tham nhũng đã không lập lại ở ngành đóng tàu với mức độ lớn hơn gấp 10 lần mà không truy cứu được trách nhiệm người đứng đầu (cũng như nhiều vụ án khác). – Không có những vụ án kéo dài như Đại lộ Đông Tây, không có những vụ làm ngắc ngứ như vụ in tiền polime. – Chúng ta sẽ không có vụ án bà Ba Sương do Thành ủy Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra mà cố thủ tướng Võ Văn Kiệt không đồng tình. Và hiện nay, nhân dân cũng đang hết sức băn khoăn vì cuộc điều tra lại mà cơ quan điều tra cũng vẫn đặt dưới quyền chỉ đạo của những người cần có bản án kết tội bà Ba Sương để thực hiện một dự án đất đai đẻ ra tiền! – Sẽ không có vụ án mới nhất, chẳng những gây phản ứng xấu trong dư luận mà còn vô cùng nguy hiểm. Đó là vụ án Cù Huy Hà Vũ, khiến nhiều đảng viên lão thành không đồng tình và nhiều người dân phản đối. Giáo sư Ngô Bảo Châu, một trí thức lớn được Đảng và nhân dân ta vinh danh là trí tuệ Việt Nam đã phải nhận xét rằng, những người thực hiện vụ án này, dù có ai đó muốn “cố tình làm mất thể diện quốc gia chắc cũng khó mà làm hơn”. Giáo sư đã tế nhị không muốn nói xa hơn, nhưng người nghe chắc chắn có nhiều cách hiểu xa! Để tránh “nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ” cũng tức là của Đảng, chúng ta cần thực hiện tam quyền phân lập, với nền tư pháp độc lập, đưa Đảng ra khỏi cái bẫy tham nhũng, lấy lại sự tín nhiệm và niềm tin của nhân dân. Từ đó, Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng sẵn sàng và ung dung đối thoại trực tuyến hoặc trong phòng họp trực rỡ ánh sáng văn minh với những Cù Huy Hà Vũ, để toàn thể nhân dân nhìn vào mà tâm phục khẩu phục. Trong khi chờ đợi có lẽ Chủ tịch nên bàn với Bộ Chính trị làm một việc vô cùng quang minh chính đại là: trả tự do ngay cho Cù Huy Hà Vũ. Posted on Tháng Mười 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-68-tran-tro-cung-chu-tich-nuoc/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69): https://www.minds.com/newsfeed/1020240325804347392?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67): https://www.minds.com/newsfeed/1020238720285253632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
20 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67) Hồi ký Tống Văn Công Điều 19 của ICCPR Năm 1946 khi phải chấp nhận chính phủ liên hiệp đa đảng, Hồ Chí Minh định nghĩa dân chủ là người dân được mở miệng. Đó chính là tự do ngôn luận. Điều mà cách đây hơn 150 năm, ông Robert Lowe, chính khách người Anh đã miêu tả cụ thể: “Chúng ta nhất định phải nói lên sự thật, đúng như chúng ta thấy, không sợ mọi hậu quả, nhất định không cung cấp chỗ ẩn náu thuận tiện cho những hành vi bất công hay áp chế mà phải lập tức giao chúng cho sự phán xét của thế giới”. Hiến pháp đầu tiên năm 1946 do Quốc Hội có 70 đại biểu Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội và Quốc Dân Đảng đã ghi nhận tinh thần đó. Luật Báo Chí hiện hành cũng có ghi nhận tuy không thật cụ thể: “Thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới”. Vậy thì tại sao thực tế vận hành của báo chí Việt Nam lại không phải như vậy? Tại sao cứ tiếp tục rập khuôn theo thứ báo chí phản thông tin của Lênin mà ngày nay chính đồng bào Nga của ông cũng kiên quyết từ bỏ? Tại cuộc họp Hội đồng Nhân quyền hồi tháng 5/ 2009 có hàng chục đại diện các quốc gia đề nghị Việt Nam thực hiện một phần, hoặc phù hợp, hoặc trùng khớp với điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, như: Gia tăng sự độc lập của truyền thông, cho phép ra báo tư nhân, dỡ bỏ hạn chế internet…, tất cả đều bị Việt Nam bác bỏ. Lạ thay, Việt Nam là quốc gia đã ký cam kết gia nhập Công ước Quốc tế này từ ngày 24 tháng 9 năm 1982! Tại sao vậy? Xin hãy đọc kỹ nội dung điều 19 của công ước này xem nó chịu đựng những gì nguy hiểm đến nổi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải kiên quyết chối bỏ? Từ theo cộng đến chống cộng Điều 19 1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào. 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm các quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ. 3. Việc thực hiện những điều quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn đến một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để: – Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; – Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng. (“Các văn kiện quốc tế về quyền con người”, do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quyền Con người biên soạn, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1997, trang 117). Bạn đọc Việt Nam có thấy điều 19 có gì đáng sợ? Tôi thấy nó rất cao quý, tin ở con người, tôn trọng con người và tạo điều kiện cho con người đóng góp trí tuệ cho cuộc sống. Đảng và nhà nước Việt Nam luôn luôn hô hào tìm những biện pháp đi trước đón đầu trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, trong khi đó lại từ chối không chịu đi kịp những vấn đề của dân chủ, nhân quyền, Không chịu thực hiện tự do báo chí, điều mà Thomas Jefferson đánh giá là “công cụ tốt nhất cho việc mở mang trí tuệ của con người, nâng con người lên trở thành có lí trí, phẩm hạnh và mang tính xã hội”! Khi tôi chép vừa xong điều 19 thì bạn tôi điện thoại cho hay, báo Dân Trí vừa đưa tin: Sở Giáo dục Quảng Nam buộc thôi việc cô giáo dạy văn cấp ba Nguyễn Thị Bích Hạnh, bởi cô đã chỉ cho học sinh cách tự học, tìm tòi phân tích thông tin trên các trang web của talawas, Tiền Vệ. Như vậy là quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức ở điều 19 đã không được chấp nhận! Có phải lý do chính là “không để tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”? Có lẽ toàn dân Việt Nam đều đồng ý với Bộ Chính Trị là phải ngăn chặn mọi hành vi gây tổn hại lợi ích đất nước. Nhưng tại sao tất cả các quốc gia tiên tiến, hiện đại trên thế giới đều thực hiện điều 19 đấy mà không bị gây tổn hại lợi ích đất nước của họ? Dân tộc ta kém thiên hạ điều gì chứ lòng yêu nước thì đâu có thua ai? Nếu luật pháp Việt Nam chưa đủ chặt chẽ để ngăn chặn các hành vi lợi dụng chi phối ấy thì chúng ta nên gấp rút hoàn thiện luật pháp để thực thi cho được điều 19, sẽ tốt hơn gấp trăm lần cấm đoán! Hay là chúng ta sợ mình không đủ lý lẽ chống lại sự ngụy biện xuyên tạc của kẻ xấu? Trong lịch sử không có chính nhân quân tử nào lại sợ kẻ xấu cả! Ngụy biện xuyên tạc là hành vi mờ ám, chỉ cần soi ánh sáng sự thật là nó sẽ vỡ vụn ngay. Chẳng lẽ chúng ta sợ những ý kiến phản biện? Tôn trọng ý kiến khác biệt thì phải chấp nhận tranh luận, để tìm ra chân lý! Người lớn, cấp cao chịu làm như vậy không hề hạ thấp mình mà càng được khẩu phục tâm phục. Nếu như vụ Bauxite được cho công khai tranh biện trên tất cả các báo thì trí tuệ Việt Nam được nhân lên, mọi ngờ vực tan biến và uy tín của lãnh đạo sẽ nâng cao, rất cao. Tại sao Bộ Chính trị không làm như vậy? Bộ Chính trị của khóa 10 này đã có những hành xử rất đáng lo ngại. Chắc vì chẳng những không coi trọng nguyện vọng của người dân mà còn nhiều lần bỏ ngoài tai những góp ý, kiến nghị của các bậc đại công thần, đại trí tuệ của chế độ, những người mới hôm qua còn là những bậc thầy cao không với tới đối với họ như Võ Nguyên giáp, Võ Văn Kiệt. Đáng nói hơn là những kiến nghị của các cụ được nhân dân cả nước đánh giá là rất sáng suốt, hết lòng vì nước vì dân. Hàng ngàn trí thức, hàng vạn người dân hưởng ứng những lá thư tâm huyết của đại tướng, vậy mà các vị vẫn phớt lờ. Cách hành xử đó tồi tệ và độc đoán nhiều lần so với việc các vua Trần, vua Nguyễn bác bỏ “Thất trảm sở” của Chu Văn An, “tám điều cấp cứu” của Nguyễn Trường Tộ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không muốn tin câu nói này của Frederick Douglass có thể đang ám những người lãnh đạo của nước Việt Nam đã trải qua 64 tuổi “dân chủ”: “Trong các quyền con người, quyền biểu tỏ ý kiến là nỗi kinh hoàng của các hôn quân bạo chúa, là thứ quyền mà chúng phải ra tay triệt hạ đầu tiên.” Tôi vẫn cứ muốn tin rằng thời của bạo chúa đã qua từ lâu rồi và chính đảng Cộng sản Việt Nam từng tự hào góp phần chôn vùi nó ở đất nước này! Tôi vẫn muốn tin rằng nhân dân ta đang thực sự xây dựng một chế độ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tôi vẫn muốn tin rằng từ dân chủ trong câu trên có ý nghĩa thực chất chứ không phải để làm cảnh. Nhưng đã có quá nhiều sự thật nhơ nhớp xếp đầy trí nhớ tôi, giờ đây thêm sự thật Bauxite khổng lồ sặc mùi máu mê của những con bạc, lộ nhiều toan tính gian manh, lại đầy nghi vấn âm mưu “cõng rắn”! Làm sao tin được đây? “Không có tự do báo chí thì sẽ chẳng còn gì ngoài sự tồi tệ” (Albert Camus). Nếu Đảng tự tin rằng mình đang nắm được chân lý và rất trong sáng trước nhân dân thì hãy đường hoàng thực hiện tự do báo chí. Đó là lửa thử vàng, là cơ sở tạo niềm tin cho nhân dân. (Tôi viết bài này với bút danh Thiện Ý gửi đăng trên Talawas Nhân 21/6 ngày báo chí cách mạng của nước Việt Nam Cộng sản năm 2009.) Posted on Tháng Mười 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-67-dieu-19-cua-iccpr/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68): https://www.minds.com/newsfeed/1020239355225538560?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (66): https://www.minds.com/newsfeed/1020237711308042240?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69) Hồi ký Tống Văn Công “Ngẫm nhân sự cớ chi ra thế” (Nguyễn Gia Thiều) Biết tôi đang làm thủ tục nghỉ hưu, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải góp ý: “Anh nên bàn với anh em báo Lao Động cho tiếp tục sinh hoạt đảng ở chi bộ cơ quan, với điều kiện không dự những buổi họp bàn công việc. Nếu chuyển về địa phương, anh sẽ mất rất nhiều thời gian hội họp”. Lúc này tổng bí thư Đỗ Mười đang kêu gọi hướng về cơ sở, xây dựng cơ sở vững mạnh. Tôi nghĩ, mình nên cùng sinh hoạt với cơ sở đảng ở địa phương để biết rõ “sức khỏe” của đảng, của chế độ. Hai vợ chồng tôi gom góp tiền tiết kiệm xin hóa giá ngôi nhà nhỏ xíu diện tích 30m2 bên cạnh chùa Thiện Hạnh, đường Đinh Tiên Hoàng. Phòng nhà đất Quận 1 bảo con hẻm trước nhà tôi theo quy hoạch sẽ mở rộng 10m. Do đó, nếu muốn được hóa giá, chúng tôi phải viết bản cam kết khi nào mở rộng hẻm thì tự nguyện để cắt sâu vào sân 3 mét tức là gần mất cái sân nhỏ dưới giàn hoa ti gôn! Ngày 20 tháng 6 năm 1966 chúng tôi treo bảng rao bán nhà, lập tức được nhà bên cạnh mua ngay và cho chúng tôi được ở lại ba tháng. Khi tôi viết những dòng này, 25 năm đã qua, con hẻm ấy vẫn còn y như cũ. Đây là một nét minh họa tình trạng quy hoạch treo làm khổ nhân dân cả nước mấy chục năm qua. Sau đó, các con chúng tôi cho mảnh ruộng 200 mét ở Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7 để xây ngôi nhà mới. Dò hỏi một bà con quanh vùng, được biết: Nếu xin giấy phép xây dựng thì phải lót tay và chầu chực không biết đến bao giờ. Tất cả bà con ở đây đều xây chui, không có giấy phép. Anh bạn trẻ tên là Cường đã xây ngôi nhà bên cạnh miếng đất của tôi, truyền kinh nghiệm: Khi có đoàn kiểm tra tới thì đưa cho họ một phong bì “trà nước”, vậy là sẽ được “thông cảm” cho tiếp tục thi công. Tôi tìm đến nhà anh Tư, trưởng ấp (lúc này còn chưa gọi là khu phố) hỏi ý kiến. Anh Tư bảo cứ làm như bà con là được, vì từ khi anh làm trưởng ấp tới nay, chưa có ai xây nhà có giấy phép cả! Tháng 10 năm 1997 chúng tôi ký hợp đồng với ông thầu Thạnh (ở Quận 10). Công việc suôn sẻ khoảng hai tuần thì một buổi trưa, thầu Thạnh tới. Ông cho xem “biên bản đình chỉ thi công” do ông Dương Văn Gấu, chủ tịch phường Tân Kiểng ký. Tôi hết sức lo lắng, vì lần đầu tiên trong đời mình đã làm một việc không đúng pháp luật. Thầu Thạnh bình thản nói: “Tôi báo tin là để anh chị biết có chuyện như vậy thôi, chứ không có gì đáng lo đâu. Tôi nhận thầu xây nhà khắp thành phố này và nhiều tỉnh khác nữa, Ở đâu cũng vậy thôi. Chiều nay, tôi sẽ giải quyết xong, sáng mai tiếp tục thi công bình thường. Anh chị đừng lo lắng!” Tôi ngạc nhiên hỏi: “Anh định giải quyết cách nào?” Ông Thạnh đáp: “Anh chị cứ yên tâm. Xong việc, tôi sẽ kể đầu đuôi với anh chị”. Suốt buổi chiều lòng bứt rứt tôi ngồi chờ tin ông thầu Thạnh. Khoảng 5 giờ chiều, thầu Thạnh gõ cửa, bước vào với nụ cười và báo tin sáng mai tiếp tục thi công bình thường và đảm bảo từ nay cho tới khi hoàn thành công trình, sẽ không còn bị dòm ngó gì nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi anh làm sao xong chóng vánh như vậy. Thầu Thạnh vui vẻ kể: “Tôi đến trụ sở phường, gặp thằng Nguyễn Hoài Phong phụ trách quản lý đô thị, đưa cho nó cái phong bì nặng, vậy là xong”. Tôi vẫn thắc mắc: “Biên bản đình chỉ thi công là do Chủ tịch Dương Văn Gấu ký mà?” Thầu Thạnh nói với giọng miệt thị: “Tôi chẳng cần biết thằng Dương Văn Gấu mặt tròn hay méo! Chỉ cần đưa thằng Nguyễn Hoài Phong cái phong bì nặng, cho cha con nhà nó chia nhau”. Tôi hiểu ra: Thầu Thạnh đến báo chuyện bị lập biên bản đình chỉ thi công, không phải vì lo sợ việc xây dựng bị ách tắc mà chỉ là để tôi biết ông đã phải chi một phong bì nặng ngoài hợp đồng. Dù vậy, lòng tôi vẫn ấy náy không yên: Mình là một cán bộ, đảng viên suốt đời trao dồi đạo đức cách mạng, nay lại theo đuôi quần chúng, xây nhà không xin giấy phép! Còn đau hơn nữa khi được biết, chỉ cần bỏ ra một phong bì nặng thì cái chính quyền cách mạng ở cơ sở dễ dàng “cha con nhà nó chia nhau”, vứt bỏ luật pháp! Đây chỉ là chuyện cá biệt hay đó là hình ảnh thu nhỏ của cả nước? Nhà xây xong, tôi chuyển sinh hoạt Đảng về nơi ở mới. Mấy tháng sau, chi bộ khu phố đến kỳ đại hội. Biết tôi là nhà báo, anh Ba Lợi (nguyên phó chủ tịch huyện, sau khi về hưu được bầu làm bí thư chi bộ khu phố) gợi ý tôi đọc tham luận tại đại hội. Tôi nhận lời, đọc bản tham luận có nội dung: Mọi sai trái, vi phạm luật pháp xảy ra ở địa phương không phải vì quản lý lỏng lẻo. Từ chuyện lấn chiếm lòng lề đường, đến đá gà ăn tiền, đánh bạc, xây nhà không giấy phép… đều có sự thỏa thuận ngầm giữa cán bộ phụ trách với người dân bằng một khoản lót tay nhỏ, hoặc lớn. Khi tôi dứt lời, thật bất ngờ cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Tôi ngước nhìn, ông Dương Văn Gấu đang ngồi trên đoàn chủ tịch đại hội, mặt bợt bạt. Lúc nghỉ giải lao, một đồng chí mái tóc muối tiêu, đến bắt tay tôi, tự giới thiệu: “Tôi là Xuân bí thư chi bộ khu phố 3, là khách mời của đại hội chi bộ khu phố 4, tôi rất tán thành bài phát biểu của đồng chí. Lâu nay ai cũng biết, nhưng lờ đi như không biết”. Nghe vậy, tôi chột dạ: “Vậy là mình động vào tổ ong rồi!” Ít lâu sau, tôi được biết, bí thư Xuân thích bài phát biểu của tôi là vì anh cũng đã từng bị anh Nguyễn Hoài Phong vòi tiền khi làm giấy tờ đất đai và xây nhà. Bí thư Xuân mua được miếng đất ruộng rất lớn với giá rẻ, anh nhờ Phong giúp thủ tục “chuyển mục đích sử dụng” thành đất thổ cư. Phong bảo, muốn được giải quyết chuyện này phải qua một đường dây gồm rất nhiều người, do đó bí thư Xuân phải trao tay đợt đầu 300 triệu đồng. Bí thư Xuân không chịu, vì cho rằng mức vòi vĩnh đó quá đáng. Sau đó, bí thư Xuân tìm được người có máu mặt làm môi giới, bán đất cho công ty HA. Công ty này ngay lập tức thực hiện dự án xây dựng chung cư trên khu đất ruộng ấy. Bí thư Xuân cho biết, công ty HA đã phải chi một khoản tiền lớn để mua đường dây gồm nhiều người, trong đó tức nhiên có phần của Phong. Bên cạnh nhà tôi, anh Thông người láng giềng mới, vừa xây xong nhà (cũng không giấy phép, nhưng không bị đình chỉ thi công, vì anh luôn có mặt kịp đưa phong bì). Gặp tôi ở trụ sở phường, anh khoe đã tới kho bạc quận nộp phạt về việc xây nhà không giấy phép và đã đóng thuế trước bạ xong. Tôi hỏi “kinh nghiệm” của người đi trước. Anh cười đó, cũng không có gì phức tạp lắm đâu, anh cứ đặt lên cặp giấy tờ một phong bì chừng vài trăm, thì nó sẽ chạy nhanh, xong sớm. Phong đứng cạnh đấy nghe chuyện, đã thân mật gợi ý tôi: “Bác ạ, mai cháu có việc đến hai nơi đó. Bác đưa tiền nộp phạt, tiền thuế và các giấy tờ, cháu đi đóng thuế dùm bác, không cần phong bì đâu”. Sở dĩ Phong tử tế như vậy vì anh đã biết tôi là một đảng viên lão thành, giúp tôi để “làm hòa” chuyện đã cầm “phong bì nặng”. Hai tháng sau, trong cuộc họp thường kỳ, bí thư chi bộ báo tin: Đảng ủy phường gửi anh Nguyễn Hoài Phong, một cán bộ xuất sắc phụ trách quản lý đô thị, xuống cho chi bộ khu phố chúng ta bồi dưỡng kết nạp vào Đảng! Bí thư nói thêm ý nghĩa của việc này: “Đó là đảng ủy giúp chúng ta có điều kiện thực hiện được chỉ tiêu phải phát triển một đảng viên mới trong nhiệm kỳ này như Nghị quyết Đại hội Chi bộ đã ghi”. Cả chi bộ đều tỏ ra vui mừng đối với việc này, chỉ riêng tôi băn khoăn: Một anh nhận “phong bì nặng” bán rẻ luật pháp lại là cán bộ xuất sắc của phường ư? Mình có thể giơ tay tán thành cho một kẻ lợi dụng chức quyền, tham nhũng vào Đảng ư? Nhưng dính với anh ta còn có cả phó bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch phường Dương Văn Gấu nữa thì làm sao đây? Suốt cuộc họp lòng tôi rối bời vì chuyện này. Tan cuộc họp, Tôi hẹn gặp anh Căn, trung úy quân tình nguyện Campuchia, người tôi quen đầu tiên khi về đây, để trao đổi chuyện này. Nghe tôi kể xong, anh Căn nói ngay: “Tôi xin anh hãy im lặng trong chuyện này, vì hai lý do. Một là, chuyện như anh kể không phải cá biệt, ở đâu cũng có, ngày nào cũng có. Có lẽ vì đồng lương cán bộ thấp quá? Anh nghĩ xem, lương Nguyễn Hoài Phong chỉ vài trăm ngàn, anh ta có vợ, có con, làm sao mà sống? Hai là, chuyện đưa phong bì đâu có làm biên nhận, vậy không có bằng cớ buộc tội được! Nếu đưa chuyện này ra là anh tuyên chiến với cả đảng ủy, ủy ban phường này, có thể là cả quận này, thành phố này. Chắc chắn anh thua và phải bán nhà mà đi”. Anh Căn, một trung uý về hưu, đang ngày ngày ngồi bên vệ đường bán thuốc lá kiếm thêm để sống. Ý kiến của anh hoàn toàn vô tư. Vợ tôi nói, anh Căn nói đúng đấy! Đây là sản phẩm của “cơ chế” nói cho đúng là của chế độ. Chống Nguyễn hoài Phong không giải quyết được gì, mà chỉ làm rối tung lên, rối tung ngay cả cuộc sống của chính mình! Tôi chợt nghĩ, hay là gửi thư báo cho anh Phạm Thế Duyệt, đang là thường trực Bộ Chính trị, người tôi quen thân, xem anh ấy có ý kiến gì? Tôi đem ý định này bạn với mấy người bạn, người nào cũng cười ngất: “Ông ơi, đừng phí công vô ích! Các vị ấy họ có thông tin còn nhiều hơn ông gấp trăm lần!” Hôm chi bộ thông qua lý lịch và đơn xin vào Đảng của Nguyễn Hoài Phong, tất cả những người phát biểu ý kiến đều khen anh ta là một cán bộ tốt, chịu khó, đi sâu, đi sát, giải quyết kịp thời những vướng mắc của nhân dân về nhà đất. Anh Chín Thành, một trong hai người giới thiệu Nguyễn Hoài Phong vào Đảng đọc lý lịch của mình trước chi bộ, tôi nhận ra anh là bạn đồng ngũ từ năm 1950 ở Đại đội Thông tin Liên lạc Bộ Tư lệnh Liên Phân khu miền Tây Nam bộ thời chống Pháp. Sau cuộc họp, tôi kéo anh Chín Thành ra ngoài để nhận đồng đội: “Tôi với anh là đồng ngũ mà qua nửa năm sinh hoạt chung chi bộ, chẳng nhận ra nhau! Đố anh nhớ tên ông đại đội trưởng của tụi mình?” Anh Chín Thành cười đáp: “Làm sao quên được! Đại đội trưởng Đặng Ngọc Tấn!” Tôi đem chuyện cái “phong bì nặng” kể cho anh Chín Thành nghe để xem ý anh thế nào. Lạ thay, anh Chín Thành không hề ngạc nhiên: “Cậu ơi, với đồng lương chết đói, nó phải kiếm chác chút đỉnh để sống mà!” Anh còn thân tình tỉ tê: “Tiếc quá, lúc mình còn làm bí thư đảng ủy xã Tân Thuận Tây, sao cậu không về! Nếu cậu về lúc đó, mình sẽ cắt cho cậu vài ba trăm mét đất làm nhà đỡ tốn tiền mua”. Tôi vô cùng ngạc nhiên, chao ơi, ông bí thư đảng ủy một xã đã có thể cấp đất cho đồng đội cũ một cách dễ dàng vậy sao! Mấy ngày sau, đồng chí Út Kỷ đảng viên trong chi bộ (nguyên phó chủ tịch huyện Nhà Bè) mời tôi đến nhà chơi. Trò chuyện với anh, tôi mới biết tất cả những đồng chí lão thành cách mạng ở chi bộ này đều được chia đất. Họ so kè với nhau, bới móc nhau, anh này bảo anh nọ được miếng đất rộng hơn mình. Anh nọ bảo anh kia lấn ranh đất của mình. Có hai cặp ở sát nhau, tranh chấp ranh đất, đến nỗi coi nhau như kẻ thù. Nhiều lần họ đưa ra chi bộ yêu cầu phân xử. Anh Út Kỷ mời tôi tới nhà là để kéo tôi về phe anh, giành một phiếu trong cuộc họp chi bộ sắp tới. Để nghe cả hai phía, tôi ghé thăm anh Lê Duyên Hải đảng viên, nhà bên cạnh Út Kỷ. Tôi không cần gợi chuyện, Lê Duyên Hải đã dắt tôi ra đầu nhà xem bức tường đầu hồi bị nứt một đường dài. Anh cho biết, do bên Út Kỷ đào móng gần sát, gây chấn động mạnh làm nứt. Anh đã yêu cầu anh Út Kỷ cho thợ sửa vết nứt, nhưng bị từ chối với lý lẽ: Móng nhà của Út Kỷ đào bên đất của Út Kỷ, vậy tại sao Út Kỷ phải chịu trách nhiệm về tường nhà Lê Duyên Hải bị nứt?! Nghe chuyện tranh chấp đôi co giữa hai đảng viên cộng sản mà sao giống như hai đứa trẻ lên ba! Trong chi bộ có chuyện lủng củng của đôi vợ chồng anh Tám Mon, chồng có huy hiệu 60 tuổi đảng, vợ huy hiệu 50 tuổi đảng. Họ lục đục nhau liên miên chỉ vì chị chê anh: “Chồng người ta khôn ngoan biết chạy chọt, cho nên được nhà cao, đất rộng, còn ông quá đụt, cho nên nhà ở trong hẻm lại hẹp, không có sân”. Đôi lần họ đòi đưa nhau ra tòa ly dị. Chi bộ hóa giải không xong, nhưng chỉ khi bí thư chi bộ dọa: “Hai đồng chí đưa đơn ra tòa là làm mất tư cách đảng viên, không xứng đáng với vinh dự 60, 50 tuổi đảng”. Nghe vậy cả hai đều sợ, ra tòa xin cho rút đơn, không ly dị nữa! Trong các cuộc họp chi bộ khu phố bốn, tôi để ý anh Lê Ngọc Tưởng, nguyên ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy quận này từ sau tháng 5-1975. Anh là người có những ý kiến công tâm, xác đáng. Anh Lê Ngọc Tưởng xin nghỉ hưu trước tuổi, lập hợp tác xã Chiếu Cói xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn 100 lao động nghèo trong khu phố. Chi bộ coi anh như một điển hình tiên tiến trong thời kỳ mới. Khoảng tháng 3 năm 2001, xảy ra chuyện căng thẳng giữa anh với Quận ủy và ủy ban Nhân dân Quận 7. Chuyện bắt đầu khi công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Nam sắp chấm dứt hợp đồng thuê nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói vào ngày 30-9-2001, nhưng không chịu thanh lý hợp đồng mà gửi thư cho Ủy ban Nhân dân Quận, xin thuê lại, hoặc mua trực tiếp với chính quyền quận. Anh Lê Ngọc Tưởng đề nghị Ủy ban Nhân dân Quận 7 xử lý vụ này. Quận không đồng ý phân xử mà yêu cầu anh Tưởng nếu không thỏa thuận được với công ty Kim Nam thì khởi kiện để tòa án phân xử. Anh Lê Ngọc Tưởng thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói đưa đơn lên Tòa án Quận 7 ngày 8-5-2002, nhưng đơn kiện bị ngâm đến 14-10-2002, mới trả lại đơn với lý do “giá trị hợp đồng thuê nhà xưởng trên năm mươi triệu đồng, vượt thẩm quyền xét xử của tòa án quận”. Anh Lê Ngọc Tưởng phải gửi đơn lên Tòa án Thành phố. Gần hai tháng sau, Tòa án Thành phố lại chuyển đơn kiện về cho Tòa án Quận, với lý do: “Ở thời điểm ký hợp đồng thuê nhà, công ty Kim Nam chưa đăng ký kinh doanh.” Tòa án Quận lại yêu cầu anh Lê Ngọc Tưởng phải có văn bản cam kết “không tranh chấp nhà đất với nhà nước” trước khi tòa xử công ty Kim Nam. Sở dĩ có yêu cầu đó là vì sau khi anh Lê Ngọc Tưởng nộp đơn kiện công ty Kim Nam thì Ủy ban Nhân dân Quận đã ra quyết định thu hồi khu nhà đất nói trên. Thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói, anh Lê Ngọc Tưởng gửi đơn khiếu nại với Ủy ban Nhân dân Quận, cho rằng việc Quận ra quyết định thu hồi đất của hợp tác xã đang thuê của nhà nước là trái thẩm quyền, yêu cầu Ủy ban Nhân dân quận rút quyết định. Anh Lê Ngọc Tưởng lại gửi đơn khiếu nại lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Nay, trước yêu cầu của Tòa án Quận, anh Tưởng thay mặt Hợp tác xã nêu rõ: “Không tranh chấp đất với nhà nước, chỉ yêu cầu thu hồi đất đúng luật”. Thế nhưng, ngày 7-5-2003, Tòa án Quận ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, với lý do cần đợi Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết khiếu nại đối với quyết định thu hồi đất của Ủy ban Nhân dân Quận. Anh Lê Ngọc Tưởng nhận định: Tòa án Quận tạm đình chỉ vụ án không phải vì tuân thủ pháp luật mà chỉ để tạo điều kiện cho công ty Kim Nam chiếm giữ trái phép nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói. Vì sao họ ưu ái công ty Kim Nam? Đó là điều phải hiểu ngầm chứ không thể có văn bản. Lê Ngọc Tưởng tiếp tục gửi nhiều đơn cho rằng việc khiếu nại về thu hồi đất hoàn toàn không dính đến nội dung vụ kiện công ty Kim Nam không thanh lý hợp đồng, tiếp tục chiếm dụng nhà đất của Hợp tác xã một cách phi pháp. Để đối phó lại, ngày 24-7-2003, Ủy ban Nhân dân Quận gửi báo cáo lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có những đoạn như sau: “Ủy ban Nhân dân Quận đã có công văn trả lời bà giám đốc Công ty May Kim Nam dự kiến sử dụng phần đất này làm công trình phúc lợi cho Quận”, do đó ý kiến của ông Lê Ngọc Tưởng cho rằng Quận can thiệp vào hợp đồng kinh tế với công ty Kim Nam là không có cơ sở. Và “thực chất ông Lê Ngọc Tưởng cố tình không thực hiện quyết định của Ủy ban Nhân dân Thành phố đồng thời không chấp hành quyết định thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận”. Anh Lê Ngọc Tưởng và các xã viên hợp tác xã Chiếu Cói đặt câu hỏi: Các ban ngành của Thành phố Hồ Chí Minh và Quận 7, đùn đẩy, cố trì hoãn không chịu xử lý khiếu nại, tiếp tục để công ty Kim Nam chiếm dụng nhà đất là nhằm mục đích gì? Câu trả lời phải được lý giải bằng một bài toán: Khu đất 1AB đường Trần Xuân Soạn có diện tích 2500 m2, có 3 mặt tiền, tính theo giá nhà nước sẽ là 13.250.000.000 đồng. Nếu tính theo thời giá thị trường sẽ là 75.000.000.000. Khoản chênh lệch này có sức mạnh đổi trắng thay đen ghê gớm trong cuộc tranh chấp mà tình trạng pháp lý không minh bạch. Bài toán này làm cho hơn 100 con người thấp cổ bé họng của hợp tác xã Chiếu Cói phấp phỏng lo âu! Như sét đánh, cuộc đấu bóng chuyển sang khúc quanh mới: anh Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hợp tác xã Chiếu Cói từ chỗ là người khiếu nại, tố cáo bỗng nhiên trở thành người bị khiếu nại, “bị cáo”! Công an phường Tân Thuận Tây gửi giấy mời ông Lê Ngọc Tưởng đúng 14 giờ ngày 2 tháng 2 năm 2004 đến công an phường để “hỏi một số việc có liên quan đến ngôi nhà 29M”. Sau đó, ngày 16/2 Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy gửi “thư mời đồng chí Lê Ngọc Tưởng đến để trao đổi một số vấn đề có liên quan đến đơn khiếu nại của công dân đối với đồng chí”. Ngày 20 tháng 2 thường trực Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng chủ trì gặp và làm việc với đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Ngày 23/2 quận ủy ra thông báo 568-TB kết luận cuộc họp. Điều ba của thông báo này viết: “Việc thực hiện thương lượng giao nhà 29M và nhận tiền 200 (triệu) của đồng chí Lê Ngọc Tưởng và bà Vinh là bất hợp pháp và yêu cầu đồng chí Lê Ngọc Tưởng trả lại tiền cho bà Vinh”. Trong buổi làm việc nói trên, bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng đã to tiếng khi anh Lê Ngọc Tưởng tố cáo ông ta dùng hồ sơ giả để kết tội mình. Ông Nguyễn Hoàng Năng, nguyên là bí thư Thành đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, loại người leo nhanh lên nấc thang quan chức không phải do tài năng mà do “cơ cấu”. Bí thư Thành đoàn thì đương nhiên phải được là Ủy viên Thành ủy, như giám đốc các sở, ban ngành quan trọng. Do được hưởng quyền lợi béo bở không cần công sức, tài năng cho nên đây là con đường rất tốt của những kẻ cơ hội. (Hiện nay Nguyễn Hoàng Năng là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh). Tôi đã được anh Lê Ngọc Tưởng cho xem hai văn bản gốc về việc anh trả lại ngôi nhà 29M. Đúng là bản mà bí thư Nguyễn Hoàng Năng dùng để làm việc với anh Lê Ngọc Tưởng là bản bị sửa chữa ngày, tháng, năm, và xóa bỏ ý kiến ghi nhận của cán bộ quản lý hôm giao nhà. Tôi gợi ý anh Lê Ngọc Tưởng đưa đơn kiện bí thư Nguyễn Hoàng Năng vì ông ta đã dùng tài liệu giả để kết tội anh. Anh Lê Ngọc Tưởng không kiện, có lẽ vì anh có kinh nghiệm về vụ kiện giám đốc công ty Kim Nam tốn công sức mà chẳng đi đến đâu. Cũng có thể là do trong vụ này anh Lê Ngọc Tưởng tự thấy mình cũng không hoàn toàn chính đáng và trong sạch? Bởi vì theo quy định của Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận thì những cán bộ nào được cấp đất đủ để xây biệt thự thì phải trả lại gian nhà đang ở trong các khu tập thể. Thực ra quy định như vậy chỉ là để báo cáo lên cấp trên, tỏ ra Quận ủy, Ủy ban Nhân dân Quận này quản lý nhà đất rất chặt chẽ, cán bộ đảng viên ở đây rất liêm khiết. Và hàng trăm cán bộ, đảng viên quận này sau khi được cấp đất không có một ai trả lại nhà. Nhưng họ không có ai bị lôi ra bôi nhọ như anh Lê Ngọc Tưởng, vì tất cả đều ngoan ngoãn, không có ai dám gây khó cho lãnh đạo quận! Anh Lê Ngọc Tưởng nêu câu hỏi thắc mắc với Quận ủy: “Tại sao vụ bà giám đốc công ty Kim Nam chiếm dụng tài sản hợp pháp chính đáng và rất lớn của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói thì Ủy ban Nhân dân Quận 7 không giải quyết, bảo phải đưa ra tòa xử; còn vụ này, chỉ có 200 triệu đồng giữa hai cá nhân thì lại được Quận ủy và cả Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy đích thân chủ trì lên tiếng đòi tiền hộ bà Vinh? Câu hỏi không được trả lời, bởi vì mục đích của họ là nhằm đánh gục uy tín của Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói, dám đương đầu với lãnh đạo quận! Ngày 31 tháng 8 năm 2004, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đưa ra kết luận đồng ý với quận, chỉ thị phải tổ chức kiểm điểm đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Khi chi ủy triệu tập chi bộ họp kiểm điểm, anh Lê Ngọc Tưởng cảm thấy mình đang bị cả một hệ thống Đảng và chính quyền trù dập. Do đó anh đến cuộc họp với lá đơn xin ra khỏi Đảng. Cả chi bộ bối rối. Vốn rất quý anh, tôi gặp riêng anh, khuyên nên rút đơn: “Ra đảng trong tình hình này không làm tăng thêm sức mạnh đấu tranh mà chắc chắn sẽ làm cho anh và hơn 100 con người lao động nghèo của hợp tác xã Chiếu Cói lâm vào thế yếu hơn! Vì vậy chúng ta nên tiếp tục ở trong Đảng, đoàn kết nhau kiên trì đấu tranh làm cho chân lý được sáng tỏ!” Mặc dù khuyên anh Lê Ngọc Tưởng như vậy, nhưng trong lòng tôi vang lên những câu của nhà thơ bùi Minh Quốc: “Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ...
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68) Hồi ký Tống Văn Công Trăn trở cùng chủ tịch nước Vào dịp tết Tân Mão, tâm sự với bạn đọc báo Sài Gòn Tiếp Thị, chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhắc chuyện người thầy của mình thời đại học đã gửi gắm kỳ vọng vào anh học trò Nguyễn Minh Triết giỏi toán, nay là chủ tịch nước, chắc chắn sẽ giải được bài toán khó của đất nước: quốc nạn tham nhũng! Chủ tịch nói những lời ân hận: chống tham nhũng là mong mỏi tha thiết và chính đáng của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi chưa làm xong. Rất tiếc, ngày Chủ tịch về làm bí thư thành ủy, anh Năm Tân, bạn tôi (tức Triều, cán bộ Ban Dân vận Trung ương Cục, người thay mặt Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam tiếp nhận sinh viên Nguyễn Minh Triết mới từ thành phố vào bưng), rủ tôi cùng đến thăm nhà tân bí thư thành ủy nhưng tôi không chịu đi. Anh nói: “Chúng mình thường xuyên cung cấp chứng cứ tham nhũng để đồng chí bí thư quan tâm xử lý”. Tôi từ chối ngay: “Tôi không tham gia đâu. Ngày còn là tổng biên tập báo Lao Động, tôi đã quyết liệt chống tham nhũng, quan liêu và đã bị Ban Tư tưởng Văn hóa nhiều lần góp ý. Có lần không phải góp ý với tổng biên tập mà với ‘đảng viên có trách nhiệm’. Khi tôi trả lời chúng tôi làm không sai luật, đồng chí Hữu Thọ tươi cười nói khéo theo kiểu bạn bè: ‘Một chính phủ mà trong hơn một tháng bị mày chỉ trích đến 4 ông bộ trưởng thì sẽ ra sao trước dư luận quốc tế và trong nước?’ (Bốn bộ trưởng bị báo Lao Động chỉ trích là Phạm Song, bộ trưởng Y tế, Cao Sĩ Kiêm thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Vũ Ngọc Hải bộ trưởng Bộ Năng lượng, Phan Xuân Đạt bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp). Tôi đã trả lời anh: Một chế độ chấp nhận cho báo chí liên tục chỉ trích chính phủ là một chế độ dân chủ, vững mạnh và chính phủ tiếp thu sự chỉ trích, sẽ đổi mới phục vụ nhân dân đắc lực hơn. Nhưng Hữu Thọ nhân danh đại diện Trung ương Đảng không chấp nhận quan điểm của tôi. Huống hồ ngày nay, trong tay tôi không có quân, cũng chẳng có quyền, thôi tôi chẳng chơi dại!” Anh Năm Tân nổi cáu: “Mày bạc nhược đến thế à? Vậy thì mày còn ở trong Đảng để làm gì?” Anh Năm Tân đã một mình tới nhà bí thư thành ủy Nguyễn Minh Triết. Hai tháng sau đó, có chuyện không vui xảy ra cho anh Năm Tân: Bà Kim Em – phó bí thư, trưởng Ban Tổ chức Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh – gửi công văn “yêu cầu đồng chí Năm Tân rút tên ra khỏi bản đăng ký đi tham quan Hà Nội, để ở lại làm ngay bản kiểm điểm, vì theo công văn của tỉnh ủy Long An, đồng chí đã kích động nhân dân khiếu kiện về đất đai, chống lại chính quyền Long An” (Trước khi về hưu, anh Năm Tân là chủ tịch Liên hiệp Công đoàn tỉnh Long An, lúc đó đã có huy hiệu năm mươi tuổi Đảng, hiện giờ thì đã sáu mươi). Trước việc trớ trêu này tôi đã nói đùa với anh Năm: “Dù anh đã lớn tiếng đòi đuổi tôi khỏi Đảng, tôi vẫn cầu mong cho anh không bị đuổi ra trước tôi!” Xin lỗi Chủ tịch, tôi đã dài dòng, để nói rằng bài toán chống tham nhũng rất khó, và thực ra nó cũng không phải chỉ thuộc trách nhiệm của chủ tịch nước với quyền hạn chế theo Hiến Pháp. Cho nên dù có tiếp tục thêm một nhiệm kỳ nữa (việc đó không thể có rồi!) Chủ tịch cũng không thể làm xong được. Do đó tôi muốn Chủ tịch cùng suy ngẫm vấn đề trọng đại này với đất nước, dù đã muộn lắm! Trước hết tôi muốn được cùng Chủ tịch nhớ lại những ý kiến của chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946 do phải chấp nhận đại diện các đảng phái tham gia chính phủ liên hiệp, Hồ Chí Minh đã có những phát biểu tiến bộ: – “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà Xuất bản Sự Thật, 1986, tập 6, trang 271). – “Pháp luật phải trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ đó ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” (sách đã dẫn, tập 5, trang 245). – Hồ Chí Minh cho rằng bọn quan liêu, tham nhũng “xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không thương yêu nhân dân” (sách đã dẫn, tập sáu, trang 112). – “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập, trang 283). – “Nghị quyết gì mà do dân chúng cho là không hợp thì để cho họ đề nghị sửa chữa” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập 5, trang 297). Hồ Chí Minh cho rằng phải có dân chủ mới chống tham nhũng được. Nhưng rất tiếc là Cụ Hồ chưa nói rạch ròi là thứ dân chủ nào? Từ sau năm 1954, cụ Hồ chỉ nói về dân chủ xã hội chủ nghĩa. Năm 1959, Hồ Chí Minh chính thức vứt bỏ Hiến pháp 1946, ban hành Hiến pháp 1959, không chấp nhận nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, Đảng nhất định phải lãnh đạo tư pháp. Nhiều năm qua cho thấy dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng không thể chống nổi tham nhũng. Bởi vì nếu Đảng chống tham nhũng là tự chặt tay mình. Hãy nhìn lại cách chống tham nhũng của chúng ta, xem vì sao không thể đạt hiệu quả như các nước dân chủ. Tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư Năm 2006, tổng bí thư Nông Đức Mạnh cũng đã thừa nhận: tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ. Đến nay đã qua bốn năm, năm nào ta và các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cũng có tổng kết về vấn đề này. Xin chỉ nêu những kết luận gần nhất: – Ngày 1-12-2010, hội nghị tổng kết do Ban Bí thư Trung ương chủ trì kết luận: “Hiện nay tham nhũng vẫn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Tham nhũng chưa được ngăn chặn và từng bước đầy lùi như mục tiêu Nghị quyết Trung ương 3 đề ra. Tham nhũng vẫn là vấn đề bức xúc, mối quan tâm lớn của toàn xã hội”. – Ngày 6-4-2011, Thủ tướng chủ trì phiên họp tổng kết quý một năm 2011 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng nhận định: “Số vụ tham nhũng được phát hiện và xử lý giảm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thiếu quyết tâm, ngại đưa ra xử lý các vụ việc ở thời điểm nhạy cảm về chính trị”. Nhận xét như vậy có điều tốt là trung thực, nhưng bộc lộ chủ yếu rất khó khắc phục: Đó là che giấu bớt vì sợ nhạy cảm chính trị! Về nhận xét quốc tế: – Năm 2008, Chương trình Hỗ trợ Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) có một báo cáo khá chi tiết. Báo cáo nêu: “Tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đã xảy ra với 3 hình thức: Hối lộ còn được gọi là bôi trơn; tư nhân hóa tài sản nhà nước trong việc thực hiện chính sách cổ phần hóa; và mua bán quyền lực”! Báo cáo của bà Lê Hiền Đức (giáo viên hưu trí ở Hà Nội, người được Tổ chức Minh bạch Quốc tế tặng giải thưởng Liêm Chính năm 2009) minh họa cho nhận định nói trên. Bà nói “Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả”! – Chỉ số thứ hạng tham nhũng của Việt Nam từ năm 1997 đến nay hầu như không thay đổi. Năm 2009, Tổ chức Tư vấn rủi ro xếp nước ta là nước tham nhũng đứng thứ ba châu Á, khá hơn Indonesia, Philippines, nhưng tham nhũng trong lĩnh vực bất động sản thì ta đứng trên hai nước này! Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã rút ra kết luận: Bọn tham nhũng lộng hành khi nguy cơ phát hiện thấp và nếu bị phát hiện thì hình phạt nhẹ mà mối lợi thu được thì quá lớn. Cơ chế để phòng, chống tham nhũng hiệu quả cần phải có hai điều kiện thiết yếu: tính minh bạch và khả năng kiểm soát. Từ đó người ta rút ra công thức: Tham nhũng = Nhà nước độc quyền + Quyền quyết định của viên chức thừa hành quá rộng + Khả năng kiểm soát yếu kém. Chúng ta có thể dùng công thức này để tìm thấy nguyên nhân bất trị của nạn tham nhũng ở nước mình. Bạn đọc Phan Châu Thành đã lần tìm và so sánh tình trạng tham nhũng qua các thời kỳ đã diễn tả như sau: – Tham nhũng từ năm 1945 tới 1975 gọi là thế hệ thứ nhất Thời ấy, kẻ tham nhũng hành động đơn lẻ, lợi dụng chức quyền chiếm trực tiếp những gì chúng ham muốn. Đội quân chống tham nhũng thời ấy rất hùng hậu bao gồm một xã hội tốt đẹp có đông đảo dân chúng có đạo đức và noi theo tấm gương cần kiệm liêm chính trong sáng của lãnh tụ. – Từ 1976 đến 1999, tham nhũng bước qua thế hệ thứ hai. Bọn tham nhũng buộc mọi người phải “mua” từ công việc, chức vụ, tất cả các quyền lợi chính đáng lẽ ra người dân đương nhiên được hưởng. “Văn hóa chạy chọt” xuất hiện. Cái gì cũng “chạy” được, từ quan hệ, chức tước, đặc quyền, sở hữu đất đai, bằng cấp. Chúng chiếm đoạt những thứ không có giá trị vật chất, nhưng lại dễ dàng thu được tài sản, vật chất. Người trong các lực lượng chống tham nhũng bắt đầu tham gia tham nhũng ngày càng công khai! Tham nhũng trở thành hiện tượng xã hội bình thường. Hai vụ tham nhũng vang dội là PMU 18 và Đại lộ Đông Tây cũng chỉ mới ở trình độ cấp hai này. – Từ năm 2000 đến nay, tham nhũng đã sang thế hệ thứ ba. Tham nhũng thiết kế, bố trí, xây dựng và đầu tư, đằng sau mỗi đường dây của chúng là vài ông trùm chủ chốt có quyền thế rất cao. Không thể tìm ra, bắt bẻ tính bất hợp pháp của chúng. Chúng chỉ có thể bị lộ khi có một đường dây tham nhũng khác cạnh tranh, nhưng chưa chắc đã có thể đưa được chúng ra tòa. – Tham nhũng thế hệ thứ tư xuất hiện từ khoảng năm 2005, đó là các nhóm lợi ích thông đồng nhau can thiệp vào hệ thống làm ra chính sách. Những nhà lý luận về kinh tế như bà Phạm Chi Lan, ông Lê Đăng Doanh, ông Nguyễn Trung đã có nhiều bài viết nói về “những nhóm lợi ích” cài cắm ngay khi soạn thảo luật, cơ chế. Xin dẫn chứng quá trình lớn mạnh của tham nhũng ở ngành đóng tàu để minh họa: – Cách đây 17 năm, ngày 27 tháng 5 năm 1993 cách báo đồng loạt đưa tin sau: tại Quảng Ninh, cơ quan điều tra đã khởi tố bắt giam ông Nguyễn Đình Quý – Tổng giám đốc Liên hiệp Đóng tàu Việt Nam về hành vi tham ô. Khi là giám đốc Nhà máy Đóng tàu Hạ Long, ông Quý bán con tàu Ăngco Vat 01, trọng tải 3000 tấn với giá 1.031.000 USD, thanh toán bằng ba khoản: 95.700 USD; 1000 tấn thép; 200 kiện đầu lọc thuốc lá. Ông Quý bán thép được 2 tỉ tiền đồng, chỉ nộp quỹ 1,5 tỉ. Số ngoại tệ ông chỉ nộp 525 triệu đồng (tương đương 50.000 USD)… – Tối ngày 4 tháng 8 năm 2010, Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an thực hiện lệnh bắt giam ông Phạm Thanh Bình – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng. Sau đó, cơ quan an ninh điều tra khám xét nơi làm việc và hai nhà riêng của ông Bình ở số 10 Ngô Văn Sở và 17T6 khu Trung Hòa, Nhân Chính. “Thiệt hại nghiêm trọng” được biết là khoảng 86.000.000.000.000 đồng. Như vậy, nếu so sánh vụ án ở ngành đóng tàu năm 1993 thì thấy nó ở cấp tham nhũng thế hệ thứ hai, còn vụ Vinashin năm 2010 đã vọt lên thế hệ thứ ba, và trách nhiệm xử lý đã từ cấp tỉnh vọt lên cấp Bộ Chính trị! Đồng chí lão thành cách mạng, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh có thơ than rằng: “Quan tham ăn hối lộ, Sống như bậc đế vương … Công Lý luôn thuộc kẻ cầm quyền. Tai họa đều đổ đầu dân đen.” Từ năm 2010, một nhà lý luận hàng đầu của Đảng giáo sư tiến sĩ Mạch Quang Thắng đã viết: “Thật đáng tiếc là cho đến nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái một cách nghiêm trọng!” Nguyên nhân của việc không thể ngăn chặn tham nhũng đã được nhiều nhà lý luận của Đảng phân tích khéo léo, nhưng cũng khá rõ ràng. Tiến sĩ Hồ Bá Thâm, trong bài viết “Dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11-2009 đã viết: “Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta, càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiểm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hỏng và yếu kém nhất trong hệ thống tam quyền của nhà nước, phải được khắc phục sớm cả bằng nhận thức và thể chế”. Hình như ông còn quá e ngại đụng chạm đến khái niệm pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một sáng tạo của tổng bí thư Đỗ Mười, nên đã dè dặt đưa ra giải pháp gọi là “tam quyền phân hợp giám, gọi tắt là tam quyền phân giám”! Là người quan tâm đến cải cách tư pháp, chắc Chủ tịch cũng thấy việc “phân công ba quyền” đã không cân đối. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, đối với trong Đảng, trước đây chỉ là ủy viên Trung ương, nay mới vào Ban Bí thư. Tòa án Nhân dân Tối cao không có quyền xem xét những luật pháp vi hiến, không có quyền mời thủ tướng ra tòa. Trong cuộc hội thảo do Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức ngày 25-7-2010, đại sứ Thụy Điển nói, Việt Nam có nhiều văn bản luật và nhiều tổ chức chống tham nhũng hơn Thụy Điển. Lời nói của một vị đại diện một đất nước gần như không có tham nhũng cho ta nhiều suy ngẫm. Trong khi đó, cuộc họp mới nhất cho tới khi tôi viết bài này là 6-4-2011, cả thủ tướng và bộ trưởng Công an đều cho rằng điều lúng túng nhất là khó phân rõ trách nhiệm của người đứng đầu! Tôi xin phép được nói thẳng rằng: Trong khi tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư mà chúng ta còn loay hoay tìm chưa ra cách bổ sung để củng cố công cụ chống tham nhũng của thế hệ thứ nhất! Vừa qua ở Ninh Bình, ông bí thư tỉnh ủy, ủy viên Trung ương Đảng, là kẻ đại tham nhũng, nhưng lại là cấp trên của trưởng Ban Chống Tham nhũng. Nếu cơ chế chỉ sửa bằng cách giao cho bí thư tỉnh ủy làm trưởng Ban Chống Tham nhũng thì có hơn gì? Từ 2500 năm trước, nhà hiền triết Platon đã nói: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó. Còn nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì, ở đó tôi nhìn thấy có sự cứu thoát của nhà nước”. Học trò xuất sắc nhất của ông là Aristote, người được Karl Marx coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời Cổ đại đã cụ thể hóa tư tưởng của thầy mình, cho rằng quyền lực phải chia làm ba lĩnh vực: Lập pháp, Tư pháp và Liên hợp. Suốt 2000 năm, những đầu óc lớn của nhân loại không ngừng tiếp tục khám phá, cụ thể hóa tư tưởng phân quyền mà hai người đánh những cột mốc lớn nhất là J. Locke và Montesquieu. Cho tới nay đã có hàng trăm quốc gia dân chủ vận dụng cách tổ chức nhà nước theo tam quyền phân lập và trở nên ổn định và giàu mạnh. Nội dung chủ yếu của nó như Montesquieu viết là: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, người ta sợ rằng chính ông ta hoặc Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân. Quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa của kẻ có sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn ba quyền lực nói trên thì sẽ mất hết”! Do đó, theo ông, “trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều phù hợp với luật dân sự”. Điều nổi bật là ông nhấn mạnh quyền tư pháp phải nhất thiết được đặt ra, độc lập với hai quyền lập pháp và hành pháp. Điều này rất quan trọng, hiện nay nhân loại coi “tòa án là pháo đài của tự do”! Trong thế giới văn minh, dân chủ và nhân quyền đã trở thành xu thế của thời đại, người ta đề cao những chính quyền, nhà nước nào nhằm thực hiện các mục tiêu: – Xã hội tự do khi chính phủ bị kiểm soát bởi luật pháp mà mục đích chính là để bảo vệ con người. – Xã hội được quản lý bởi một chính phủ của luật pháp. Một cá nhân có thể làm bất cứ điều gì luật pháp không cấm; còn quan chức chính phủ chỉ được làm những gì luật pháp cho phép. Nếu chúng ta thực hiện tam quyền phân lập, thì như Hồ Chí Minh thời trẻ đã nói “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” và đúng với Karl Marx và Engels. Chúng ta đều biết, từ năm 1866, tại Đại hội Quốc tế ở Giơ-ne-vơ, K. Marx đã tạo ra “Chỉ thị gửi các đại biểu của Hội đồng Trung ương Lâm thời về một vài vấn đề”, đã chấp nhận đấu tranh nghị trường với các nhà nước tam quyền phân lập lúc bấy giờ để đòi ngày làm 8 giờ, cấm lao động trẻ em, quy định cho lao động phụ nữ, lao động hợp tác, hội công liên và quân đội (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, nhà xuất bản Sự Thật, 1974, trang 109). Nội dung chỉ thị này mở đầu cho việc Engels thành lập Quốc tế II năm 1889. Nếu thực sự có nhà nước pháp quyền thì có thể: – Tham nhũng đã không lập lại ở ngành đóng tàu với mức độ lớn hơn gấp 10 lần mà không truy cứu được trách nhiệm người đứng đầu (cũng như nhiều vụ án khác). – Không có những vụ án kéo dài như Đại lộ Đông Tây, không có những vụ làm ngắc ngứ như vụ in tiền polime. – Chúng ta sẽ không có vụ án bà Ba Sương do Thành ủy Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra mà cố thủ tướng Võ Văn Kiệt không đồng tình. Và hiện nay, nhân dân cũng đang hết sức băn khoăn vì cuộc điều tra lại mà cơ quan điều tra cũng vẫn đặt dưới quyền chỉ đạo của những người cần có bản án kết tội bà Ba Sương để thực hiện một dự án đất đai đẻ ra tiền! – Sẽ không có vụ án mới nhất, chẳng những gây phản ứng xấu trong dư luận mà còn vô cùng nguy hiểm. Đó là vụ án Cù Huy Hà Vũ, khiến nhiều đảng viên lão thành không đồng tình và nhiều người dân phản đối. Giáo sư Ngô Bảo Châu, một trí thức lớn được Đảng và nhân dân ta vinh danh là trí tuệ Việt Nam đã phải nhận xét rằng, những người thực hiện vụ án này, dù có ai đó muốn “cố tình làm mất thể diện quốc gia chắc cũng khó mà làm hơn”. Giáo sư đã tế nhị không muốn nói xa hơn, nhưng người nghe chắc chắn có nhiều cách hiểu xa! Để tránh “nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ” cũng tức là của Đảng, chúng ta cần thực hiện tam quyền phân lập, với nền tư pháp độc lập, đưa Đảng ra khỏi cái bẫy tham nhũng, lấy lại sự tín nhiệm và niềm tin của nhân dân. Từ đó, Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng sẵn sàng và ung dung đối thoại trực tuyến hoặc trong phòng họp trực rỡ ánh sáng văn minh với những Cù Huy Hà Vũ, để toàn thể nhân dân nhìn vào mà tâm phục khẩu phục. Trong khi chờ đợi có lẽ Chủ tịch nên bàn với Bộ Chính trị làm một việc vô cùng quang minh chính đại là: trả tự do ngay cho Cù Huy Hà Vũ. Posted on Tháng Mười 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-68-tran-tro-cung-chu-tich-nuoc/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69): https://www.minds.com/newsfeed/1020240325804347392?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67): https://www.minds.com/newsfeed/1020238720285253632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
20 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67) Hồi ký Tống Văn Công Điều 19 của ICCPR Năm 1946 khi phải chấp nhận chính phủ liên hiệp đa đảng, Hồ Chí Minh định nghĩa dân chủ là người dân được mở miệng. Đó chính là tự do ngôn luận. Điều mà cách đây hơn 150 năm, ông Robert Lowe, chính khách người Anh đã miêu tả cụ thể: “Chúng ta nhất định phải nói lên sự thật, đúng như chúng ta thấy, không sợ mọi hậu quả, nhất định không cung cấp chỗ ẩn náu thuận tiện cho những hành vi bất công hay áp chế mà phải lập tức giao chúng cho sự phán xét của thế giới”. Hiến pháp đầu tiên năm 1946 do Quốc Hội có 70 đại biểu Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội và Quốc Dân Đảng đã ghi nhận tinh thần đó. Luật Báo Chí hiện hành cũng có ghi nhận tuy không thật cụ thể: “Thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới”. Vậy thì tại sao thực tế vận hành của báo chí Việt Nam lại không phải như vậy? Tại sao cứ tiếp tục rập khuôn theo thứ báo chí phản thông tin của Lênin mà ngày nay chính đồng bào Nga của ông cũng kiên quyết từ bỏ? Tại cuộc họp Hội đồng Nhân quyền hồi tháng 5/ 2009 có hàng chục đại diện các quốc gia đề nghị Việt Nam thực hiện một phần, hoặc phù hợp, hoặc trùng khớp với điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, như: Gia tăng sự độc lập của truyền thông, cho phép ra báo tư nhân, dỡ bỏ hạn chế internet…, tất cả đều bị Việt Nam bác bỏ. Lạ thay, Việt Nam là quốc gia đã ký cam kết gia nhập Công ước Quốc tế này từ ngày 24 tháng 9 năm 1982! Tại sao vậy? Xin hãy đọc kỹ nội dung điều 19 của công ước này xem nó chịu đựng những gì nguy hiểm đến nổi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải kiên quyết chối bỏ? Từ theo cộng đến chống cộng Điều 19 1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào. 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm các quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ. 3. Việc thực hiện những điều quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn đến một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để: – Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; – Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng. (“Các văn kiện quốc tế về quyền con người”, do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quyền Con người biên soạn, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1997, trang 117). Bạn đọc Việt Nam có thấy điều 19 có gì đáng sợ? Tôi thấy nó rất cao quý, tin ở con người, tôn trọng con người và tạo điều kiện cho con người đóng góp trí tuệ cho cuộc sống. Đảng và nhà nước Việt Nam luôn luôn hô hào tìm những biện pháp đi trước đón đầu trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, trong khi đó lại từ chối không chịu đi kịp những vấn đề của dân chủ, nhân quyền, Không chịu thực hiện tự do báo chí, điều mà Thomas Jefferson đánh giá là “công cụ tốt nhất cho việc mở mang trí tuệ của con người, nâng con người lên trở thành có lí trí, phẩm hạnh và mang tính xã hội”! Khi tôi chép vừa xong điều 19 thì bạn tôi điện thoại cho hay, báo Dân Trí vừa đưa tin: Sở Giáo dục Quảng Nam buộc thôi việc cô giáo dạy văn cấp ba Nguyễn Thị Bích Hạnh, bởi cô đã chỉ cho học sinh cách tự học, tìm tòi phân tích thông tin trên các trang web của talawas, Tiền Vệ. Như vậy là quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức ở điều 19 đã không được chấp nhận! Có phải lý do chính là “không để tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”? Có lẽ toàn dân Việt Nam đều đồng ý với Bộ Chính Trị là phải ngăn chặn mọi hành vi gây tổn hại lợi ích đất nước. Nhưng tại sao tất cả các quốc gia tiên tiến, hiện đại trên thế giới đều thực hiện điều 19 đấy mà không bị gây tổn hại lợi ích đất nước của họ? Dân tộc ta kém thiên hạ điều gì chứ lòng yêu nước thì đâu có thua ai? Nếu luật pháp Việt Nam chưa đủ chặt chẽ để ngăn chặn các hành vi lợi dụng chi phối ấy thì chúng ta nên gấp rút hoàn thiện luật pháp để thực thi cho được điều 19, sẽ tốt hơn gấp trăm lần cấm đoán! Hay là chúng ta sợ mình không đủ lý lẽ chống lại sự ngụy biện xuyên tạc của kẻ xấu? Trong lịch sử không có chính nhân quân tử nào lại sợ kẻ xấu cả! Ngụy biện xuyên tạc là hành vi mờ ám, chỉ cần soi ánh sáng sự thật là nó sẽ vỡ vụn ngay. Chẳng lẽ chúng ta sợ những ý kiến phản biện? Tôn trọng ý kiến khác biệt thì phải chấp nhận tranh luận, để tìm ra chân lý! Người lớn, cấp cao chịu làm như vậy không hề hạ thấp mình mà càng được khẩu phục tâm phục. Nếu như vụ Bauxite được cho công khai tranh biện trên tất cả các báo thì trí tuệ Việt Nam được nhân lên, mọi ngờ vực tan biến và uy tín của lãnh đạo sẽ nâng cao, rất cao. Tại sao Bộ Chính trị không làm như vậy? Bộ Chính trị của khóa 10 này đã có những hành xử rất đáng lo ngại. Chắc vì chẳng những không coi trọng nguyện vọng của người dân mà còn nhiều lần bỏ ngoài tai những góp ý, kiến nghị của các bậc đại công thần, đại trí tuệ của chế độ, những người mới hôm qua còn là những bậc thầy cao không với tới đối với họ như Võ Nguyên giáp, Võ Văn Kiệt. Đáng nói hơn là những kiến nghị của các cụ được nhân dân cả nước đánh giá là rất sáng suốt, hết lòng vì nước vì dân. Hàng ngàn trí thức, hàng vạn người dân hưởng ứng những lá thư tâm huyết của đại tướng, vậy mà các vị vẫn phớt lờ. Cách hành xử đó tồi tệ và độc đoán nhiều lần so với việc các vua Trần, vua Nguyễn bác bỏ “Thất trảm sở” của Chu Văn An, “tám điều cấp cứu” của Nguyễn Trường Tộ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không muốn tin câu nói này của Frederick Douglass có thể đang ám những người lãnh đạo của nước Việt Nam đã trải qua 64 tuổi “dân chủ”: “Trong các quyền con người, quyền biểu tỏ ý kiến là nỗi kinh hoàng của các hôn quân bạo chúa, là thứ quyền mà chúng phải ra tay triệt hạ đầu tiên.” Tôi vẫn cứ muốn tin rằng thời của bạo chúa đã qua từ lâu rồi và chính đảng Cộng sản Việt Nam từng tự hào góp phần chôn vùi nó ở đất nước này! Tôi vẫn muốn tin rằng nhân dân ta đang thực sự xây dựng một chế độ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tôi vẫn muốn tin rằng từ dân chủ trong câu trên có ý nghĩa thực chất chứ không phải để làm cảnh. Nhưng đã có quá nhiều sự thật nhơ nhớp xếp đầy trí nhớ tôi, giờ đây thêm sự thật Bauxite khổng lồ sặc mùi máu mê của những con bạc, lộ nhiều toan tính gian manh, lại đầy nghi vấn âm mưu “cõng rắn”! Làm sao tin được đây? “Không có tự do báo chí thì sẽ chẳng còn gì ngoài sự tồi tệ” (Albert Camus). Nếu Đảng tự tin rằng mình đang nắm được chân lý và rất trong sáng trước nhân dân thì hãy đường hoàng thực hiện tự do báo chí. Đó là lửa thử vàng, là cơ sở tạo niềm tin cho nhân dân. (Tôi viết bài này với bút danh Thiện Ý gửi đăng trên Talawas Nhân 21/6 ngày báo chí cách mạng của nước Việt Nam Cộng sản năm 2009.) Posted on Tháng Mười 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-67-dieu-19-cua-iccpr/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68): https://www.minds.com/newsfeed/1020239355225538560?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (66): https://www.minds.com/newsfeed/1020237711308042240?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·