ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69) Hồi ký Tống Văn Công “Ngẫm nhân sự cớ chi ra thế” (Nguyễn Gia Thiều) Biết tôi đang làm thủ tục nghỉ hưu, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải góp ý: “Anh nên bàn với anh em báo Lao Động cho tiếp tục sinh hoạt đảng ở chi bộ cơ quan, với điều kiện không dự những buổi họp bàn công việc. Nếu chuyển về địa phương, anh sẽ mất rất nhiều thời gian hội họp”. Lúc này tổng bí thư Đỗ Mười đang kêu gọi hướng về cơ sở, xây dựng cơ sở vững mạnh. Tôi nghĩ, mình nên cùng sinh hoạt với cơ sở đảng ở địa phương để biết rõ “sức khỏe” của đảng, của chế độ. Hai vợ chồng tôi gom góp tiền tiết kiệm xin hóa giá ngôi nhà nhỏ xíu diện tích 30m2 bên cạnh chùa Thiện Hạnh, đường Đinh Tiên Hoàng. Phòng nhà đất Quận 1 bảo con hẻm trước nhà tôi theo quy hoạch sẽ mở rộng 10m. Do đó, nếu muốn được hóa giá, chúng tôi phải viết bản cam kết khi nào mở rộng hẻm thì tự nguyện để cắt sâu vào sân 3 mét tức là gần mất cái sân nhỏ dưới giàn hoa ti gôn! Ngày 20 tháng 6 năm 1966 chúng tôi treo bảng rao bán nhà, lập tức được nhà bên cạnh mua ngay và cho chúng tôi được ở lại ba tháng. Khi tôi viết những dòng này, 25 năm đã qua, con hẻm ấy vẫn còn y như cũ. Đây là một nét minh họa tình trạng quy hoạch treo làm khổ nhân dân cả nước mấy chục năm qua. Sau đó, các con chúng tôi cho mảnh ruộng 200 mét ở Khu phố 4, phường Tân Kiểng, Quận 7 để xây ngôi nhà mới. Dò hỏi một bà con quanh vùng, được biết: Nếu xin giấy phép xây dựng thì phải lót tay và chầu chực không biết đến bao giờ. Tất cả bà con ở đây đều xây chui, không có giấy phép. Anh bạn trẻ tên là Cường đã xây ngôi nhà bên cạnh miếng đất của tôi, truyền kinh nghiệm: Khi có đoàn kiểm tra tới thì đưa cho họ một phong bì “trà nước”, vậy là sẽ được “thông cảm” cho tiếp tục thi công. Tôi tìm đến nhà anh Tư, trưởng ấp (lúc này còn chưa gọi là khu phố) hỏi ý kiến. Anh Tư bảo cứ làm như bà con là được, vì từ khi anh làm trưởng ấp tới nay, chưa có ai xây nhà có giấy phép cả! Tháng 10 năm 1997 chúng tôi ký hợp đồng với ông thầu Thạnh (ở Quận 10). Công việc suôn sẻ khoảng hai tuần thì một buổi trưa, thầu Thạnh tới. Ông cho xem “biên bản đình chỉ thi công” do ông Dương Văn Gấu, chủ tịch phường Tân Kiểng ký. Tôi hết sức lo lắng, vì lần đầu tiên trong đời mình đã làm một việc không đúng pháp luật. Thầu Thạnh bình thản nói: “Tôi báo tin là để anh chị biết có chuyện như vậy thôi, chứ không có gì đáng lo đâu. Tôi nhận thầu xây nhà khắp thành phố này và nhiều tỉnh khác nữa, Ở đâu cũng vậy thôi. Chiều nay, tôi sẽ giải quyết xong, sáng mai tiếp tục thi công bình thường. Anh chị đừng lo lắng!” Tôi ngạc nhiên hỏi: “Anh định giải quyết cách nào?” Ông Thạnh đáp: “Anh chị cứ yên tâm. Xong việc, tôi sẽ kể đầu đuôi với anh chị”. Suốt buổi chiều lòng bứt rứt tôi ngồi chờ tin ông thầu Thạnh. Khoảng 5 giờ chiều, thầu Thạnh gõ cửa, bước vào với nụ cười và báo tin sáng mai tiếp tục thi công bình thường và đảm bảo từ nay cho tới khi hoàn thành công trình, sẽ không còn bị dòm ngó gì nữa. Tôi ngạc nhiên hỏi anh làm sao xong chóng vánh như vậy. Thầu Thạnh vui vẻ kể: “Tôi đến trụ sở phường, gặp thằng Nguyễn Hoài Phong phụ trách quản lý đô thị, đưa cho nó cái phong bì nặng, vậy là xong”. Tôi vẫn thắc mắc: “Biên bản đình chỉ thi công là do Chủ tịch Dương Văn Gấu ký mà?” Thầu Thạnh nói với giọng miệt thị: “Tôi chẳng cần biết thằng Dương Văn Gấu mặt tròn hay méo! Chỉ cần đưa thằng Nguyễn Hoài Phong cái phong bì nặng, cho cha con nhà nó chia nhau”. Tôi hiểu ra: Thầu Thạnh đến báo chuyện bị lập biên bản đình chỉ thi công, không phải vì lo sợ việc xây dựng bị ách tắc mà chỉ là để tôi biết ông đã phải chi một phong bì nặng ngoài hợp đồng. Dù vậy, lòng tôi vẫn ấy náy không yên: Mình là một cán bộ, đảng viên suốt đời trao dồi đạo đức cách mạng, nay lại theo đuôi quần chúng, xây nhà không xin giấy phép! Còn đau hơn nữa khi được biết, chỉ cần bỏ ra một phong bì nặng thì cái chính quyền cách mạng ở cơ sở dễ dàng “cha con nhà nó chia nhau”, vứt bỏ luật pháp! Đây chỉ là chuyện cá biệt hay đó là hình ảnh thu nhỏ của cả nước? Nhà xây xong, tôi chuyển sinh hoạt Đảng về nơi ở mới. Mấy tháng sau, chi bộ khu phố đến kỳ đại hội. Biết tôi là nhà báo, anh Ba Lợi (nguyên phó chủ tịch huyện, sau khi về hưu được bầu làm bí thư chi bộ khu phố) gợi ý tôi đọc tham luận tại đại hội. Tôi nhận lời, đọc bản tham luận có nội dung: Mọi sai trái, vi phạm luật pháp xảy ra ở địa phương không phải vì quản lý lỏng lẻo. Từ chuyện lấn chiếm lòng lề đường, đến đá gà ăn tiền, đánh bạc, xây nhà không giấy phép… đều có sự thỏa thuận ngầm giữa cán bộ phụ trách với người dân bằng một khoản lót tay nhỏ, hoặc lớn. Khi tôi dứt lời, thật bất ngờ cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Tôi ngước nhìn, ông Dương Văn Gấu đang ngồi trên đoàn chủ tịch đại hội, mặt bợt bạt. Lúc nghỉ giải lao, một đồng chí mái tóc muối tiêu, đến bắt tay tôi, tự giới thiệu: “Tôi là Xuân bí thư chi bộ khu phố 3, là khách mời của đại hội chi bộ khu phố 4, tôi rất tán thành bài phát biểu của đồng chí. Lâu nay ai cũng biết, nhưng lờ đi như không biết”. Nghe vậy, tôi chột dạ: “Vậy là mình động vào tổ ong rồi!” Ít lâu sau, tôi được biết, bí thư Xuân thích bài phát biểu của tôi là vì anh cũng đã từng bị anh Nguyễn Hoài Phong vòi tiền khi làm giấy tờ đất đai và xây nhà. Bí thư Xuân mua được miếng đất ruộng rất lớn với giá rẻ, anh nhờ Phong giúp thủ tục “chuyển mục đích sử dụng” thành đất thổ cư. Phong bảo, muốn được giải quyết chuyện này phải qua một đường dây gồm rất nhiều người, do đó bí thư Xuân phải trao tay đợt đầu 300 triệu đồng. Bí thư Xuân không chịu, vì cho rằng mức vòi vĩnh đó quá đáng. Sau đó, bí thư Xuân tìm được người có máu mặt làm môi giới, bán đất cho công ty HA. Công ty này ngay lập tức thực hiện dự án xây dựng chung cư trên khu đất ruộng ấy. Bí thư Xuân cho biết, công ty HA đã phải chi một khoản tiền lớn để mua đường dây gồm nhiều người, trong đó tức nhiên có phần của Phong. Bên cạnh nhà tôi, anh Thông người láng giềng mới, vừa xây xong nhà (cũng không giấy phép, nhưng không bị đình chỉ thi công, vì anh luôn có mặt kịp đưa phong bì). Gặp tôi ở trụ sở phường, anh khoe đã tới kho bạc quận nộp phạt về việc xây nhà không giấy phép và đã đóng thuế trước bạ xong. Tôi hỏi “kinh nghiệm” của người đi trước. Anh cười đó, cũng không có gì phức tạp lắm đâu, anh cứ đặt lên cặp giấy tờ một phong bì chừng vài trăm, thì nó sẽ chạy nhanh, xong sớm. Phong đứng cạnh đấy nghe chuyện, đã thân mật gợi ý tôi: “Bác ạ, mai cháu có việc đến hai nơi đó. Bác đưa tiền nộp phạt, tiền thuế và các giấy tờ, cháu đi đóng thuế dùm bác, không cần phong bì đâu”. Sở dĩ Phong tử tế như vậy vì anh đã biết tôi là một đảng viên lão thành, giúp tôi để “làm hòa” chuyện đã cầm “phong bì nặng”. Hai tháng sau, trong cuộc họp thường kỳ, bí thư chi bộ báo tin: Đảng ủy phường gửi anh Nguyễn Hoài Phong, một cán bộ xuất sắc phụ trách quản lý đô thị, xuống cho chi bộ khu phố chúng ta bồi dưỡng kết nạp vào Đảng! Bí thư nói thêm ý nghĩa của việc này: “Đó là đảng ủy giúp chúng ta có điều kiện thực hiện được chỉ tiêu phải phát triển một đảng viên mới trong nhiệm kỳ này như Nghị quyết Đại hội Chi bộ đã ghi”. Cả chi bộ đều tỏ ra vui mừng đối với việc này, chỉ riêng tôi băn khoăn: Một anh nhận “phong bì nặng” bán rẻ luật pháp lại là cán bộ xuất sắc của phường ư? Mình có thể giơ tay tán thành cho một kẻ lợi dụng chức quyền, tham nhũng vào Đảng ư? Nhưng dính với anh ta còn có cả phó bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch phường Dương Văn Gấu nữa thì làm sao đây? Suốt cuộc họp lòng tôi rối bời vì chuyện này. Tan cuộc họp, Tôi hẹn gặp anh Căn, trung úy quân tình nguyện Campuchia, người tôi quen đầu tiên khi về đây, để trao đổi chuyện này. Nghe tôi kể xong, anh Căn nói ngay: “Tôi xin anh hãy im lặng trong chuyện này, vì hai lý do. Một là, chuyện như anh kể không phải cá biệt, ở đâu cũng có, ngày nào cũng có. Có lẽ vì đồng lương cán bộ thấp quá? Anh nghĩ xem, lương Nguyễn Hoài Phong chỉ vài trăm ngàn, anh ta có vợ, có con, làm sao mà sống? Hai là, chuyện đưa phong bì đâu có làm biên nhận, vậy không có bằng cớ buộc tội được! Nếu đưa chuyện này ra là anh tuyên chiến với cả đảng ủy, ủy ban phường này, có thể là cả quận này, thành phố này. Chắc chắn anh thua và phải bán nhà mà đi”. Anh Căn, một trung uý về hưu, đang ngày ngày ngồi bên vệ đường bán thuốc lá kiếm thêm để sống. Ý kiến của anh hoàn toàn vô tư. Vợ tôi nói, anh Căn nói đúng đấy! Đây là sản phẩm của “cơ chế” nói cho đúng là của chế độ. Chống Nguyễn hoài Phong không giải quyết được gì, mà chỉ làm rối tung lên, rối tung ngay cả cuộc sống của chính mình! Tôi chợt nghĩ, hay là gửi thư báo cho anh Phạm Thế Duyệt, đang là thường trực Bộ Chính trị, người tôi quen thân, xem anh ấy có ý kiến gì? Tôi đem ý định này bạn với mấy người bạn, người nào cũng cười ngất: “Ông ơi, đừng phí công vô ích! Các vị ấy họ có thông tin còn nhiều hơn ông gấp trăm lần!” Hôm chi bộ thông qua lý lịch và đơn xin vào Đảng của Nguyễn Hoài Phong, tất cả những người phát biểu ý kiến đều khen anh ta là một cán bộ tốt, chịu khó, đi sâu, đi sát, giải quyết kịp thời những vướng mắc của nhân dân về nhà đất. Anh Chín Thành, một trong hai người giới thiệu Nguyễn Hoài Phong vào Đảng đọc lý lịch của mình trước chi bộ, tôi nhận ra anh là bạn đồng ngũ từ năm 1950 ở Đại đội Thông tin Liên lạc Bộ Tư lệnh Liên Phân khu miền Tây Nam bộ thời chống Pháp. Sau cuộc họp, tôi kéo anh Chín Thành ra ngoài để nhận đồng đội: “Tôi với anh là đồng ngũ mà qua nửa năm sinh hoạt chung chi bộ, chẳng nhận ra nhau! Đố anh nhớ tên ông đại đội trưởng của tụi mình?” Anh Chín Thành cười đáp: “Làm sao quên được! Đại đội trưởng Đặng Ngọc Tấn!” Tôi đem chuyện cái “phong bì nặng” kể cho anh Chín Thành nghe để xem ý anh thế nào. Lạ thay, anh Chín Thành không hề ngạc nhiên: “Cậu ơi, với đồng lương chết đói, nó phải kiếm chác chút đỉnh để sống mà!” Anh còn thân tình tỉ tê: “Tiếc quá, lúc mình còn làm bí thư đảng ủy xã Tân Thuận Tây, sao cậu không về! Nếu cậu về lúc đó, mình sẽ cắt cho cậu vài ba trăm mét đất làm nhà đỡ tốn tiền mua”. Tôi vô cùng ngạc nhiên, chao ơi, ông bí thư đảng ủy một xã đã có thể cấp đất cho đồng đội cũ một cách dễ dàng vậy sao! Mấy ngày sau, đồng chí Út Kỷ đảng viên trong chi bộ (nguyên phó chủ tịch huyện Nhà Bè) mời tôi đến nhà chơi. Trò chuyện với anh, tôi mới biết tất cả những đồng chí lão thành cách mạng ở chi bộ này đều được chia đất. Họ so kè với nhau, bới móc nhau, anh này bảo anh nọ được miếng đất rộng hơn mình. Anh nọ bảo anh kia lấn ranh đất của mình. Có hai cặp ở sát nhau, tranh chấp ranh đất, đến nỗi coi nhau như kẻ thù. Nhiều lần họ đưa ra chi bộ yêu cầu phân xử. Anh Út Kỷ mời tôi tới nhà là để kéo tôi về phe anh, giành một phiếu trong cuộc họp chi bộ sắp tới. Để nghe cả hai phía, tôi ghé thăm anh Lê Duyên Hải đảng viên, nhà bên cạnh Út Kỷ. Tôi không cần gợi chuyện, Lê Duyên Hải đã dắt tôi ra đầu nhà xem bức tường đầu hồi bị nứt một đường dài. Anh cho biết, do bên Út Kỷ đào móng gần sát, gây chấn động mạnh làm nứt. Anh đã yêu cầu anh Út Kỷ cho thợ sửa vết nứt, nhưng bị từ chối với lý lẽ: Móng nhà của Út Kỷ đào bên đất của Út Kỷ, vậy tại sao Út Kỷ phải chịu trách nhiệm về tường nhà Lê Duyên Hải bị nứt?! Nghe chuyện tranh chấp đôi co giữa hai đảng viên cộng sản mà sao giống như hai đứa trẻ lên ba! Trong chi bộ có chuyện lủng củng của đôi vợ chồng anh Tám Mon, chồng có huy hiệu 60 tuổi đảng, vợ huy hiệu 50 tuổi đảng. Họ lục đục nhau liên miên chỉ vì chị chê anh: “Chồng người ta khôn ngoan biết chạy chọt, cho nên được nhà cao, đất rộng, còn ông quá đụt, cho nên nhà ở trong hẻm lại hẹp, không có sân”. Đôi lần họ đòi đưa nhau ra tòa ly dị. Chi bộ hóa giải không xong, nhưng chỉ khi bí thư chi bộ dọa: “Hai đồng chí đưa đơn ra tòa là làm mất tư cách đảng viên, không xứng đáng với vinh dự 60, 50 tuổi đảng”. Nghe vậy cả hai đều sợ, ra tòa xin cho rút đơn, không ly dị nữa! Trong các cuộc họp chi bộ khu phố bốn, tôi để ý anh Lê Ngọc Tưởng, nguyên ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy quận này từ sau tháng 5-1975. Anh là người có những ý kiến công tâm, xác đáng. Anh Lê Ngọc Tưởng xin nghỉ hưu trước tuổi, lập hợp tác xã Chiếu Cói xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn 100 lao động nghèo trong khu phố. Chi bộ coi anh như một điển hình tiên tiến trong thời kỳ mới. Khoảng tháng 3 năm 2001, xảy ra chuyện căng thẳng giữa anh với Quận ủy và ủy ban Nhân dân Quận 7. Chuyện bắt đầu khi công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Nam sắp chấm dứt hợp đồng thuê nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói vào ngày 30-9-2001, nhưng không chịu thanh lý hợp đồng mà gửi thư cho Ủy ban Nhân dân Quận, xin thuê lại, hoặc mua trực tiếp với chính quyền quận. Anh Lê Ngọc Tưởng đề nghị Ủy ban Nhân dân Quận 7 xử lý vụ này. Quận không đồng ý phân xử mà yêu cầu anh Tưởng nếu không thỏa thuận được với công ty Kim Nam thì khởi kiện để tòa án phân xử. Anh Lê Ngọc Tưởng thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói đưa đơn lên Tòa án Quận 7 ngày 8-5-2002, nhưng đơn kiện bị ngâm đến 14-10-2002, mới trả lại đơn với lý do “giá trị hợp đồng thuê nhà xưởng trên năm mươi triệu đồng, vượt thẩm quyền xét xử của tòa án quận”. Anh Lê Ngọc Tưởng phải gửi đơn lên Tòa án Thành phố. Gần hai tháng sau, Tòa án Thành phố lại chuyển đơn kiện về cho Tòa án Quận, với lý do: “Ở thời điểm ký hợp đồng thuê nhà, công ty Kim Nam chưa đăng ký kinh doanh.” Tòa án Quận lại yêu cầu anh Lê Ngọc Tưởng phải có văn bản cam kết “không tranh chấp nhà đất với nhà nước” trước khi tòa xử công ty Kim Nam. Sở dĩ có yêu cầu đó là vì sau khi anh Lê Ngọc Tưởng nộp đơn kiện công ty Kim Nam thì Ủy ban Nhân dân Quận đã ra quyết định thu hồi khu nhà đất nói trên. Thay mặt hợp tác xã Chiếu Cói, anh Lê Ngọc Tưởng gửi đơn khiếu nại với Ủy ban Nhân dân Quận, cho rằng việc Quận ra quyết định thu hồi đất của hợp tác xã đang thuê của nhà nước là trái thẩm quyền, yêu cầu Ủy ban Nhân dân quận rút quyết định. Anh Lê Ngọc Tưởng lại gửi đơn khiếu nại lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Nay, trước yêu cầu của Tòa án Quận, anh Tưởng thay mặt Hợp tác xã nêu rõ: “Không tranh chấp đất với nhà nước, chỉ yêu cầu thu hồi đất đúng luật”. Thế nhưng, ngày 7-5-2003, Tòa án Quận ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, với lý do cần đợi Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết khiếu nại đối với quyết định thu hồi đất của Ủy ban Nhân dân Quận. Anh Lê Ngọc Tưởng nhận định: Tòa án Quận tạm đình chỉ vụ án không phải vì tuân thủ pháp luật mà chỉ để tạo điều kiện cho công ty Kim Nam chiếm giữ trái phép nhà xưởng của hợp tác xã Chiếu Cói. Vì sao họ ưu ái công ty Kim Nam? Đó là điều phải hiểu ngầm chứ không thể có văn bản. Lê Ngọc Tưởng tiếp tục gửi nhiều đơn cho rằng việc khiếu nại về thu hồi đất hoàn toàn không dính đến nội dung vụ kiện công ty Kim Nam không thanh lý hợp đồng, tiếp tục chiếm dụng nhà đất của Hợp tác xã một cách phi pháp. Để đối phó lại, ngày 24-7-2003, Ủy ban Nhân dân Quận gửi báo cáo lên Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, có những đoạn như sau: “Ủy ban Nhân dân Quận đã có công văn trả lời bà giám đốc Công ty May Kim Nam dự kiến sử dụng phần đất này làm công trình phúc lợi cho Quận”, do đó ý kiến của ông Lê Ngọc Tưởng cho rằng Quận can thiệp vào hợp đồng kinh tế với công ty Kim Nam là không có cơ sở. Và “thực chất ông Lê Ngọc Tưởng cố tình không thực hiện quyết định của Ủy ban Nhân dân Thành phố đồng thời không chấp hành quyết định thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận”. Anh Lê Ngọc Tưởng và các xã viên hợp tác xã Chiếu Cói đặt câu hỏi: Các ban ngành của Thành phố Hồ Chí Minh và Quận 7, đùn đẩy, cố trì hoãn không chịu xử lý khiếu nại, tiếp tục để công ty Kim Nam chiếm dụng nhà đất là nhằm mục đích gì? Câu trả lời phải được lý giải bằng một bài toán: Khu đất 1AB đường Trần Xuân Soạn có diện tích 2500 m2, có 3 mặt tiền, tính theo giá nhà nước sẽ là 13.250.000.000 đồng. Nếu tính theo thời giá thị trường sẽ là 75.000.000.000. Khoản chênh lệch này có sức mạnh đổi trắng thay đen ghê gớm trong cuộc tranh chấp mà tình trạng pháp lý không minh bạch. Bài toán này làm cho hơn 100 con người thấp cổ bé họng của hợp tác xã Chiếu Cói phấp phỏng lo âu! Như sét đánh, cuộc đấu bóng chuyển sang khúc quanh mới: anh Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hợp tác xã Chiếu Cói từ chỗ là người khiếu nại, tố cáo bỗng nhiên trở thành người bị khiếu nại, “bị cáo”! Công an phường Tân Thuận Tây gửi giấy mời ông Lê Ngọc Tưởng đúng 14 giờ ngày 2 tháng 2 năm 2004 đến công an phường để “hỏi một số việc có liên quan đến ngôi nhà 29M”. Sau đó, ngày 16/2 Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy gửi “thư mời đồng chí Lê Ngọc Tưởng đến để trao đổi một số vấn đề có liên quan đến đơn khiếu nại của công dân đối với đồng chí”. Ngày 20 tháng 2 thường trực Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng chủ trì gặp và làm việc với đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Ngày 23/2 quận ủy ra thông báo 568-TB kết luận cuộc họp. Điều ba của thông báo này viết: “Việc thực hiện thương lượng giao nhà 29M và nhận tiền 200 (triệu) của đồng chí Lê Ngọc Tưởng và bà Vinh là bất hợp pháp và yêu cầu đồng chí Lê Ngọc Tưởng trả lại tiền cho bà Vinh”. Trong buổi làm việc nói trên, bí thư quận ủy Nguyễn Hoàng Năng đã to tiếng khi anh Lê Ngọc Tưởng tố cáo ông ta dùng hồ sơ giả để kết tội mình. Ông Nguyễn Hoàng Năng, nguyên là bí thư Thành đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, loại người leo nhanh lên nấc thang quan chức không phải do tài năng mà do “cơ cấu”. Bí thư Thành đoàn thì đương nhiên phải được là Ủy viên Thành ủy, như giám đốc các sở, ban ngành quan trọng. Do được hưởng quyền lợi béo bở không cần công sức, tài năng cho nên đây là con đường rất tốt của những kẻ cơ hội. (Hiện nay Nguyễn Hoàng Năng là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh). Tôi đã được anh Lê Ngọc Tưởng cho xem hai văn bản gốc về việc anh trả lại ngôi nhà 29M. Đúng là bản mà bí thư Nguyễn Hoàng Năng dùng để làm việc với anh Lê Ngọc Tưởng là bản bị sửa chữa ngày, tháng, năm, và xóa bỏ ý kiến ghi nhận của cán bộ quản lý hôm giao nhà. Tôi gợi ý anh Lê Ngọc Tưởng đưa đơn kiện bí thư Nguyễn Hoàng Năng vì ông ta đã dùng tài liệu giả để kết tội anh. Anh Lê Ngọc Tưởng không kiện, có lẽ vì anh có kinh nghiệm về vụ kiện giám đốc công ty Kim Nam tốn công sức mà chẳng đi đến đâu. Cũng có thể là do trong vụ này anh Lê Ngọc Tưởng tự thấy mình cũng không hoàn toàn chính đáng và trong sạch? Bởi vì theo quy định của Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận thì những cán bộ nào được cấp đất đủ để xây biệt thự thì phải trả lại gian nhà đang ở trong các khu tập thể. Thực ra quy định như vậy chỉ là để báo cáo lên cấp trên, tỏ ra Quận ủy, Ủy ban Nhân dân Quận này quản lý nhà đất rất chặt chẽ, cán bộ đảng viên ở đây rất liêm khiết. Và hàng trăm cán bộ, đảng viên quận này sau khi được cấp đất không có một ai trả lại nhà. Nhưng họ không có ai bị lôi ra bôi nhọ như anh Lê Ngọc Tưởng, vì tất cả đều ngoan ngoãn, không có ai dám gây khó cho lãnh đạo quận! Anh Lê Ngọc Tưởng nêu câu hỏi thắc mắc với Quận ủy: “Tại sao vụ bà giám đốc công ty Kim Nam chiếm dụng tài sản hợp pháp chính đáng và rất lớn của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói thì Ủy ban Nhân dân Quận 7 không giải quyết, bảo phải đưa ra tòa xử; còn vụ này, chỉ có 200 triệu đồng giữa hai cá nhân thì lại được Quận ủy và cả Ủy ban Nhân dân Quận do bí thư quận ủy đích thân chủ trì lên tiếng đòi tiền hộ bà Vinh? Câu hỏi không được trả lời, bởi vì mục đích của họ là nhằm đánh gục uy tín của Lê Ngọc Tưởng thủ lĩnh của hơn 100 xã viên hợp tác xã Chiếu Cói, dám đương đầu với lãnh đạo quận! Ngày 31 tháng 8 năm 2004, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đưa ra kết luận đồng ý với quận, chỉ thị phải tổ chức kiểm điểm đảng viên Lê Ngọc Tưởng. Khi chi ủy triệu tập chi bộ họp kiểm điểm, anh Lê Ngọc Tưởng cảm thấy mình đang bị cả một hệ thống Đảng và chính quyền trù dập. Do đó anh đến cuộc họp với lá đơn xin ra khỏi Đảng. Cả chi bộ bối rối. Vốn rất quý anh, tôi gặp riêng anh, khuyên nên rút đơn: “Ra đảng trong tình hình này không làm tăng thêm sức mạnh đấu tranh mà chắc chắn sẽ làm cho anh và hơn 100 con người lao động nghèo của hợp tác xã Chiếu Cói lâm vào thế yếu hơn! Vì vậy chúng ta nên tiếp tục ở trong Đảng, đoàn kết nhau kiên trì đấu tranh làm cho chân lý được sáng tỏ!” Mặc dù khuyên anh Lê Ngọc Tưởng như vậy, nhưng trong lòng tôi vang lên những câu của nhà thơ bùi Minh Quốc: “Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ...

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68) Hồi ký Tống Văn Công Trăn trở cùng chủ tịch nước Vào dịp tết Tân Mão, tâm sự với bạn đọc báo Sài Gòn Tiếp Thị, chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhắc chuyện người thầy của mình thời đại học đã gửi gắm kỳ vọng vào anh học trò Nguyễn Minh Triết giỏi toán, nay là chủ tịch nước, chắc chắn sẽ giải được bài toán khó của đất nước: quốc nạn tham nhũng! Chủ tịch nói những lời ân hận: chống tham nhũng là mong mỏi tha thiết và chính đáng của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi chưa làm xong. Rất tiếc, ngày Chủ tịch về làm bí thư thành ủy, anh Năm Tân, bạn tôi (tức Triều, cán bộ Ban Dân vận Trung ương Cục, người thay mặt Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam tiếp nhận sinh viên Nguyễn Minh Triết mới từ thành phố vào bưng), rủ tôi cùng đến thăm nhà tân bí thư thành ủy nhưng tôi không chịu đi. Anh nói: “Chúng mình thường xuyên cung cấp chứng cứ tham nhũng để đồng chí bí thư quan tâm xử lý”. Tôi từ chối ngay: “Tôi không tham gia đâu. Ngày còn là tổng biên tập báo Lao Động, tôi đã quyết liệt chống tham nhũng, quan liêu và đã bị Ban Tư tưởng Văn hóa nhiều lần góp ý. Có lần không phải góp ý với tổng biên tập mà với ‘đảng viên có trách nhiệm’. Khi tôi trả lời chúng tôi làm không sai luật, đồng chí Hữu Thọ tươi cười nói khéo theo kiểu bạn bè: ‘Một chính phủ mà trong hơn một tháng bị mày chỉ trích đến 4 ông bộ trưởng thì sẽ ra sao trước dư luận quốc tế và trong nước?’ (Bốn bộ trưởng bị báo Lao Động chỉ trích là Phạm Song, bộ trưởng Y tế, Cao Sĩ Kiêm thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Vũ Ngọc Hải bộ trưởng Bộ Năng lượng, Phan Xuân Đạt bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp). Tôi đã trả lời anh: Một chế độ chấp nhận cho báo chí liên tục chỉ trích chính phủ là một chế độ dân chủ, vững mạnh và chính phủ tiếp thu sự chỉ trích, sẽ đổi mới phục vụ nhân dân đắc lực hơn. Nhưng Hữu Thọ nhân danh đại diện Trung ương Đảng không chấp nhận quan điểm của tôi. Huống hồ ngày nay, trong tay tôi không có quân, cũng chẳng có quyền, thôi tôi chẳng chơi dại!” Anh Năm Tân nổi cáu: “Mày bạc nhược đến thế à? Vậy thì mày còn ở trong Đảng để làm gì?” Anh Năm Tân đã một mình tới nhà bí thư thành ủy Nguyễn Minh Triết. Hai tháng sau đó, có chuyện không vui xảy ra cho anh Năm Tân: Bà Kim Em – phó bí thư, trưởng Ban Tổ chức Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh – gửi công văn “yêu cầu đồng chí Năm Tân rút tên ra khỏi bản đăng ký đi tham quan Hà Nội, để ở lại làm ngay bản kiểm điểm, vì theo công văn của tỉnh ủy Long An, đồng chí đã kích động nhân dân khiếu kiện về đất đai, chống lại chính quyền Long An” (Trước khi về hưu, anh Năm Tân là chủ tịch Liên hiệp Công đoàn tỉnh Long An, lúc đó đã có huy hiệu năm mươi tuổi Đảng, hiện giờ thì đã sáu mươi). Trước việc trớ trêu này tôi đã nói đùa với anh Năm: “Dù anh đã lớn tiếng đòi đuổi tôi khỏi Đảng, tôi vẫn cầu mong cho anh không bị đuổi ra trước tôi!” Xin lỗi Chủ tịch, tôi đã dài dòng, để nói rằng bài toán chống tham nhũng rất khó, và thực ra nó cũng không phải chỉ thuộc trách nhiệm của chủ tịch nước với quyền hạn chế theo Hiến Pháp. Cho nên dù có tiếp tục thêm một nhiệm kỳ nữa (việc đó không thể có rồi!) Chủ tịch cũng không thể làm xong được. Do đó tôi muốn Chủ tịch cùng suy ngẫm vấn đề trọng đại này với đất nước, dù đã muộn lắm! Trước hết tôi muốn được cùng Chủ tịch nhớ lại những ý kiến của chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946 do phải chấp nhận đại diện các đảng phái tham gia chính phủ liên hiệp, Hồ Chí Minh đã có những phát biểu tiến bộ: – “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà Xuất bản Sự Thật, 1986, tập 6, trang 271). – “Pháp luật phải trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ đó ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” (sách đã dẫn, tập 5, trang 245). – Hồ Chí Minh cho rằng bọn quan liêu, tham nhũng “xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không thương yêu nhân dân” (sách đã dẫn, tập sáu, trang 112). – “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập, trang 283). – “Nghị quyết gì mà do dân chúng cho là không hợp thì để cho họ đề nghị sửa chữa” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập 5, trang 297). Hồ Chí Minh cho rằng phải có dân chủ mới chống tham nhũng được. Nhưng rất tiếc là Cụ Hồ chưa nói rạch ròi là thứ dân chủ nào? Từ sau năm 1954, cụ Hồ chỉ nói về dân chủ xã hội chủ nghĩa. Năm 1959, Hồ Chí Minh chính thức vứt bỏ Hiến pháp 1946, ban hành Hiến pháp 1959, không chấp nhận nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, Đảng nhất định phải lãnh đạo tư pháp. Nhiều năm qua cho thấy dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng không thể chống nổi tham nhũng. Bởi vì nếu Đảng chống tham nhũng là tự chặt tay mình. Hãy nhìn lại cách chống tham nhũng của chúng ta, xem vì sao không thể đạt hiệu quả như các nước dân chủ. Tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư Năm 2006, tổng bí thư Nông Đức Mạnh cũng đã thừa nhận: tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ. Đến nay đã qua bốn năm, năm nào ta và các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cũng có tổng kết về vấn đề này. Xin chỉ nêu những kết luận gần nhất: – Ngày 1-12-2010, hội nghị tổng kết do Ban Bí thư Trung ương chủ trì kết luận: “Hiện nay tham nhũng vẫn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Tham nhũng chưa được ngăn chặn và từng bước đầy lùi như mục tiêu Nghị quyết Trung ương 3 đề ra. Tham nhũng vẫn là vấn đề bức xúc, mối quan tâm lớn của toàn xã hội”. – Ngày 6-4-2011, Thủ tướng chủ trì phiên họp tổng kết quý một năm 2011 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng nhận định: “Số vụ tham nhũng được phát hiện và xử lý giảm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thiếu quyết tâm, ngại đưa ra xử lý các vụ việc ở thời điểm nhạy cảm về chính trị”. Nhận xét như vậy có điều tốt là trung thực, nhưng bộc lộ chủ yếu rất khó khắc phục: Đó là che giấu bớt vì sợ nhạy cảm chính trị! Về nhận xét quốc tế: – Năm 2008, Chương trình Hỗ trợ Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) có một báo cáo khá chi tiết. Báo cáo nêu: “Tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đã xảy ra với 3 hình thức: Hối lộ còn được gọi là bôi trơn; tư nhân hóa tài sản nhà nước trong việc thực hiện chính sách cổ phần hóa; và mua bán quyền lực”! Báo cáo của bà Lê Hiền Đức (giáo viên hưu trí ở Hà Nội, người được Tổ chức Minh bạch Quốc tế tặng giải thưởng Liêm Chính năm 2009) minh họa cho nhận định nói trên. Bà nói “Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả”! – Chỉ số thứ hạng tham nhũng của Việt Nam từ năm 1997 đến nay hầu như không thay đổi. Năm 2009, Tổ chức Tư vấn rủi ro xếp nước ta là nước tham nhũng đứng thứ ba châu Á, khá hơn Indonesia, Philippines, nhưng tham nhũng trong lĩnh vực bất động sản thì ta đứng trên hai nước này! Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã rút ra kết luận: Bọn tham nhũng lộng hành khi nguy cơ phát hiện thấp và nếu bị phát hiện thì hình phạt nhẹ mà mối lợi thu được thì quá lớn. Cơ chế để phòng, chống tham nhũng hiệu quả cần phải có hai điều kiện thiết yếu: tính minh bạch và khả năng kiểm soát. Từ đó người ta rút ra công thức: Tham nhũng = Nhà nước độc quyền + Quyền quyết định của viên chức thừa hành quá rộng + Khả năng kiểm soát yếu kém. Chúng ta có thể dùng công thức này để tìm thấy nguyên nhân bất trị của nạn tham nhũng ở nước mình. Bạn đọc Phan Châu Thành đã lần tìm và so sánh tình trạng tham nhũng qua các thời kỳ đã diễn tả như sau: – Tham nhũng từ năm 1945 tới 1975 gọi là thế hệ thứ nhất Thời ấy, kẻ tham nhũng hành động đơn lẻ, lợi dụng chức quyền chiếm trực tiếp những gì chúng ham muốn. Đội quân chống tham nhũng thời ấy rất hùng hậu bao gồm một xã hội tốt đẹp có đông đảo dân chúng có đạo đức và noi theo tấm gương cần kiệm liêm chính trong sáng của lãnh tụ. – Từ 1976 đến 1999, tham nhũng bước qua thế hệ thứ hai. Bọn tham nhũng buộc mọi người phải “mua” từ công việc, chức vụ, tất cả các quyền lợi chính đáng lẽ ra người dân đương nhiên được hưởng. “Văn hóa chạy chọt” xuất hiện. Cái gì cũng “chạy” được, từ quan hệ, chức tước, đặc quyền, sở hữu đất đai, bằng cấp. Chúng chiếm đoạt những thứ không có giá trị vật chất, nhưng lại dễ dàng thu được tài sản, vật chất. Người trong các lực lượng chống tham nhũng bắt đầu tham gia tham nhũng ngày càng công khai! Tham nhũng trở thành hiện tượng xã hội bình thường. Hai vụ tham nhũng vang dội là PMU 18 và Đại lộ Đông Tây cũng chỉ mới ở trình độ cấp hai này. – Từ năm 2000 đến nay, tham nhũng đã sang thế hệ thứ ba. Tham nhũng thiết kế, bố trí, xây dựng và đầu tư, đằng sau mỗi đường dây của chúng là vài ông trùm chủ chốt có quyền thế rất cao. Không thể tìm ra, bắt bẻ tính bất hợp pháp của chúng. Chúng chỉ có thể bị lộ khi có một đường dây tham nhũng khác cạnh tranh, nhưng chưa chắc đã có thể đưa được chúng ra tòa. – Tham nhũng thế hệ thứ tư xuất hiện từ khoảng năm 2005, đó là các nhóm lợi ích thông đồng nhau can thiệp vào hệ thống làm ra chính sách. Những nhà lý luận về kinh tế như bà Phạm Chi Lan, ông Lê Đăng Doanh, ông Nguyễn Trung đã có nhiều bài viết nói về “những nhóm lợi ích” cài cắm ngay khi soạn thảo luật, cơ chế. Xin dẫn chứng quá trình lớn mạnh của tham nhũng ở ngành đóng tàu để minh họa: – Cách đây 17 năm, ngày 27 tháng 5 năm 1993 cách báo đồng loạt đưa tin sau: tại Quảng Ninh, cơ quan điều tra đã khởi tố bắt giam ông Nguyễn Đình Quý – Tổng giám đốc Liên hiệp Đóng tàu Việt Nam về hành vi tham ô. Khi là giám đốc Nhà máy Đóng tàu Hạ Long, ông Quý bán con tàu Ăngco Vat 01, trọng tải 3000 tấn với giá 1.031.000 USD, thanh toán bằng ba khoản: 95.700 USD; 1000 tấn thép; 200 kiện đầu lọc thuốc lá. Ông Quý bán thép được 2 tỉ tiền đồng, chỉ nộp quỹ 1,5 tỉ. Số ngoại tệ ông chỉ nộp 525 triệu đồng (tương đương 50.000 USD)… – Tối ngày 4 tháng 8 năm 2010, Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an thực hiện lệnh bắt giam ông Phạm Thanh Bình – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng. Sau đó, cơ quan an ninh điều tra khám xét nơi làm việc và hai nhà riêng của ông Bình ở số 10 Ngô Văn Sở và 17T6 khu Trung Hòa, Nhân Chính. “Thiệt hại nghiêm trọng” được biết là khoảng 86.000.000.000.000 đồng. Như vậy, nếu so sánh vụ án ở ngành đóng tàu năm 1993 thì thấy nó ở cấp tham nhũng thế hệ thứ hai, còn vụ Vinashin năm 2010 đã vọt lên thế hệ thứ ba, và trách nhiệm xử lý đã từ cấp tỉnh vọt lên cấp Bộ Chính trị! Đồng chí lão thành cách mạng, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh có thơ than rằng: “Quan tham ăn hối lộ, Sống như bậc đế vương … Công Lý luôn thuộc kẻ cầm quyền. Tai họa đều đổ đầu dân đen.” Từ năm 2010, một nhà lý luận hàng đầu của Đảng giáo sư tiến sĩ Mạch Quang Thắng đã viết: “Thật đáng tiếc là cho đến nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái một cách nghiêm trọng!” Nguyên nhân của việc không thể ngăn chặn tham nhũng đã được nhiều nhà lý luận của Đảng phân tích khéo léo, nhưng cũng khá rõ ràng. Tiến sĩ Hồ Bá Thâm, trong bài viết “Dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11-2009 đã viết: “Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta, càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiểm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hỏng và yếu kém nhất trong hệ thống tam quyền của nhà nước, phải được khắc phục sớm cả bằng nhận thức và thể chế”. Hình như ông còn quá e ngại đụng chạm đến khái niệm pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một sáng tạo của tổng bí thư Đỗ Mười, nên đã dè dặt đưa ra giải pháp gọi là “tam quyền phân hợp giám, gọi tắt là tam quyền phân giám”! Là người quan tâm đến cải cách tư pháp, chắc Chủ tịch cũng thấy việc “phân công ba quyền” đã không cân đối. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, đối với trong Đảng, trước đây chỉ là ủy viên Trung ương, nay mới vào Ban Bí thư. Tòa án Nhân dân Tối cao không có quyền xem xét những luật pháp vi hiến, không có quyền mời thủ tướng ra tòa. Trong cuộc hội thảo do Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức ngày 25-7-2010, đại sứ Thụy Điển nói, Việt Nam có nhiều văn bản luật và nhiều tổ chức chống tham nhũng hơn Thụy Điển. Lời nói của một vị đại diện một đất nước gần như không có tham nhũng cho ta nhiều suy ngẫm. Trong khi đó, cuộc họp mới nhất cho tới khi tôi viết bài này là 6-4-2011, cả thủ tướng và bộ trưởng Công an đều cho rằng điều lúng túng nhất là khó phân rõ trách nhiệm của người đứng đầu! Tôi xin phép được nói thẳng rằng: Trong khi tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư mà chúng ta còn loay hoay tìm chưa ra cách bổ sung để củng cố công cụ chống tham nhũng của thế hệ thứ nhất! Vừa qua ở Ninh Bình, ông bí thư tỉnh ủy, ủy viên Trung ương Đảng, là kẻ đại tham nhũng, nhưng lại là cấp trên của trưởng Ban Chống Tham nhũng. Nếu cơ chế chỉ sửa bằng cách giao cho bí thư tỉnh ủy làm trưởng Ban Chống Tham nhũng thì có hơn gì? Từ 2500 năm trước, nhà hiền triết Platon đã nói: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó. Còn nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì, ở đó tôi nhìn thấy có sự cứu thoát của nhà nước”. Học trò xuất sắc nhất của ông là Aristote, người được Karl Marx coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời Cổ đại đã cụ thể hóa tư tưởng của thầy mình, cho rằng quyền lực phải chia làm ba lĩnh vực: Lập pháp, Tư pháp và Liên hợp. Suốt 2000 năm, những đầu óc lớn của nhân loại không ngừng tiếp tục khám phá, cụ thể hóa tư tưởng phân quyền mà hai người đánh những cột mốc lớn nhất là J. Locke và Montesquieu. Cho tới nay đã có hàng trăm quốc gia dân chủ vận dụng cách tổ chức nhà nước theo tam quyền phân lập và trở nên ổn định và giàu mạnh. Nội dung chủ yếu của nó như Montesquieu viết là: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, người ta sợ rằng chính ông ta hoặc Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân. Quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa của kẻ có sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn ba quyền lực nói trên thì sẽ mất hết”! Do đó, theo ông, “trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều phù hợp với luật dân sự”. Điều nổi bật là ông nhấn mạnh quyền tư pháp phải nhất thiết được đặt ra, độc lập với hai quyền lập pháp và hành pháp. Điều này rất quan trọng, hiện nay nhân loại coi “tòa án là pháo đài của tự do”! Trong thế giới văn minh, dân chủ và nhân quyền đã trở thành xu thế của thời đại, người ta đề cao những chính quyền, nhà nước nào nhằm thực hiện các mục tiêu: – Xã hội tự do khi chính phủ bị kiểm soát bởi luật pháp mà mục đích chính là để bảo vệ con người. – Xã hội được quản lý bởi một chính phủ của luật pháp. Một cá nhân có thể làm bất cứ điều gì luật pháp không cấm; còn quan chức chính phủ chỉ được làm những gì luật pháp cho phép. Nếu chúng ta thực hiện tam quyền phân lập, thì như Hồ Chí Minh thời trẻ đã nói “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” và đúng với Karl Marx và Engels. Chúng ta đều biết, từ năm 1866, tại Đại hội Quốc tế ở Giơ-ne-vơ, K. Marx đã tạo ra “Chỉ thị gửi các đại biểu của Hội đồng Trung ương Lâm thời về một vài vấn đề”, đã chấp nhận đấu tranh nghị trường với các nhà nước tam quyền phân lập lúc bấy giờ để đòi ngày làm 8 giờ, cấm lao động trẻ em, quy định cho lao động phụ nữ, lao động hợp tác, hội công liên và quân đội (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, nhà xuất bản Sự Thật, 1974, trang 109). Nội dung chỉ thị này mở đầu cho việc Engels thành lập Quốc tế II năm 1889. Nếu thực sự có nhà nước pháp quyền thì có thể: – Tham nhũng đã không lập lại ở ngành đóng tàu với mức độ lớn hơn gấp 10 lần mà không truy cứu được trách nhiệm người đứng đầu (cũng như nhiều vụ án khác). – Không có những vụ án kéo dài như Đại lộ Đông Tây, không có những vụ làm ngắc ngứ như vụ in tiền polime. – Chúng ta sẽ không có vụ án bà Ba Sương do Thành ủy Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra mà cố thủ tướng Võ Văn Kiệt không đồng tình. Và hiện nay, nhân dân cũng đang hết sức băn khoăn vì cuộc điều tra lại mà cơ quan điều tra cũng vẫn đặt dưới quyền chỉ đạo của những người cần có bản án kết tội bà Ba Sương để thực hiện một dự án đất đai đẻ ra tiền! – Sẽ không có vụ án mới nhất, chẳng những gây phản ứng xấu trong dư luận mà còn vô cùng nguy hiểm. Đó là vụ án Cù Huy Hà Vũ, khiến nhiều đảng viên lão thành không đồng tình và nhiều người dân phản đối. Giáo sư Ngô Bảo Châu, một trí thức lớn được Đảng và nhân dân ta vinh danh là trí tuệ Việt Nam đã phải nhận xét rằng, những người thực hiện vụ án này, dù có ai đó muốn “cố tình làm mất thể diện quốc gia chắc cũng khó mà làm hơn”. Giáo sư đã tế nhị không muốn nói xa hơn, nhưng người nghe chắc chắn có nhiều cách hiểu xa! Để tránh “nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ” cũng tức là của Đảng, chúng ta cần thực hiện tam quyền phân lập, với nền tư pháp độc lập, đưa Đảng ra khỏi cái bẫy tham nhũng, lấy lại sự tín nhiệm và niềm tin của nhân dân. Từ đó, Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng sẵn sàng và ung dung đối thoại trực tuyến hoặc trong phòng họp trực rỡ ánh sáng văn minh với những Cù Huy Hà Vũ, để toàn thể nhân dân nhìn vào mà tâm phục khẩu phục. Trong khi chờ đợi có lẽ Chủ tịch nên bàn với Bộ Chính trị làm một việc vô cùng quang minh chính đại là: trả tự do ngay cho Cù Huy Hà Vũ. Posted on Tháng Mười 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-68-tran-tro-cung-chu-tich-nuoc/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69): https://www.minds.com/newsfeed/1020240325804347392?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67): https://www.minds.com/newsfeed/1020238720285253632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
20 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67) Hồi ký Tống Văn Công Điều 19 của ICCPR Năm 1946 khi phải chấp nhận chính phủ liên hiệp đa đảng, Hồ Chí Minh định nghĩa dân chủ là người dân được mở miệng. Đó chính là tự do ngôn luận. Điều mà cách đây hơn 150 năm, ông Robert Lowe, chính khách người Anh đã miêu tả cụ thể: “Chúng ta nhất định phải nói lên sự thật, đúng như chúng ta thấy, không sợ mọi hậu quả, nhất định không cung cấp chỗ ẩn náu thuận tiện cho những hành vi bất công hay áp chế mà phải lập tức giao chúng cho sự phán xét của thế giới”. Hiến pháp đầu tiên năm 1946 do Quốc Hội có 70 đại biểu Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội và Quốc Dân Đảng đã ghi nhận tinh thần đó. Luật Báo Chí hiện hành cũng có ghi nhận tuy không thật cụ thể: “Thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới”. Vậy thì tại sao thực tế vận hành của báo chí Việt Nam lại không phải như vậy? Tại sao cứ tiếp tục rập khuôn theo thứ báo chí phản thông tin của Lênin mà ngày nay chính đồng bào Nga của ông cũng kiên quyết từ bỏ? Tại cuộc họp Hội đồng Nhân quyền hồi tháng 5/ 2009 có hàng chục đại diện các quốc gia đề nghị Việt Nam thực hiện một phần, hoặc phù hợp, hoặc trùng khớp với điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, như: Gia tăng sự độc lập của truyền thông, cho phép ra báo tư nhân, dỡ bỏ hạn chế internet…, tất cả đều bị Việt Nam bác bỏ. Lạ thay, Việt Nam là quốc gia đã ký cam kết gia nhập Công ước Quốc tế này từ ngày 24 tháng 9 năm 1982! Tại sao vậy? Xin hãy đọc kỹ nội dung điều 19 của công ước này xem nó chịu đựng những gì nguy hiểm đến nổi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải kiên quyết chối bỏ? Từ theo cộng đến chống cộng Điều 19 1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào. 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm các quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ. 3. Việc thực hiện những điều quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn đến một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để: – Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; – Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng. (“Các văn kiện quốc tế về quyền con người”, do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quyền Con người biên soạn, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1997, trang 117). Bạn đọc Việt Nam có thấy điều 19 có gì đáng sợ? Tôi thấy nó rất cao quý, tin ở con người, tôn trọng con người và tạo điều kiện cho con người đóng góp trí tuệ cho cuộc sống. Đảng và nhà nước Việt Nam luôn luôn hô hào tìm những biện pháp đi trước đón đầu trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, trong khi đó lại từ chối không chịu đi kịp những vấn đề của dân chủ, nhân quyền, Không chịu thực hiện tự do báo chí, điều mà Thomas Jefferson đánh giá là “công cụ tốt nhất cho việc mở mang trí tuệ của con người, nâng con người lên trở thành có lí trí, phẩm hạnh và mang tính xã hội”! Khi tôi chép vừa xong điều 19 thì bạn tôi điện thoại cho hay, báo Dân Trí vừa đưa tin: Sở Giáo dục Quảng Nam buộc thôi việc cô giáo dạy văn cấp ba Nguyễn Thị Bích Hạnh, bởi cô đã chỉ cho học sinh cách tự học, tìm tòi phân tích thông tin trên các trang web của talawas, Tiền Vệ. Như vậy là quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức ở điều 19 đã không được chấp nhận! Có phải lý do chính là “không để tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”? Có lẽ toàn dân Việt Nam đều đồng ý với Bộ Chính Trị là phải ngăn chặn mọi hành vi gây tổn hại lợi ích đất nước. Nhưng tại sao tất cả các quốc gia tiên tiến, hiện đại trên thế giới đều thực hiện điều 19 đấy mà không bị gây tổn hại lợi ích đất nước của họ? Dân tộc ta kém thiên hạ điều gì chứ lòng yêu nước thì đâu có thua ai? Nếu luật pháp Việt Nam chưa đủ chặt chẽ để ngăn chặn các hành vi lợi dụng chi phối ấy thì chúng ta nên gấp rút hoàn thiện luật pháp để thực thi cho được điều 19, sẽ tốt hơn gấp trăm lần cấm đoán! Hay là chúng ta sợ mình không đủ lý lẽ chống lại sự ngụy biện xuyên tạc của kẻ xấu? Trong lịch sử không có chính nhân quân tử nào lại sợ kẻ xấu cả! Ngụy biện xuyên tạc là hành vi mờ ám, chỉ cần soi ánh sáng sự thật là nó sẽ vỡ vụn ngay. Chẳng lẽ chúng ta sợ những ý kiến phản biện? Tôn trọng ý kiến khác biệt thì phải chấp nhận tranh luận, để tìm ra chân lý! Người lớn, cấp cao chịu làm như vậy không hề hạ thấp mình mà càng được khẩu phục tâm phục. Nếu như vụ Bauxite được cho công khai tranh biện trên tất cả các báo thì trí tuệ Việt Nam được nhân lên, mọi ngờ vực tan biến và uy tín của lãnh đạo sẽ nâng cao, rất cao. Tại sao Bộ Chính trị không làm như vậy? Bộ Chính trị của khóa 10 này đã có những hành xử rất đáng lo ngại. Chắc vì chẳng những không coi trọng nguyện vọng của người dân mà còn nhiều lần bỏ ngoài tai những góp ý, kiến nghị của các bậc đại công thần, đại trí tuệ của chế độ, những người mới hôm qua còn là những bậc thầy cao không với tới đối với họ như Võ Nguyên giáp, Võ Văn Kiệt. Đáng nói hơn là những kiến nghị của các cụ được nhân dân cả nước đánh giá là rất sáng suốt, hết lòng vì nước vì dân. Hàng ngàn trí thức, hàng vạn người dân hưởng ứng những lá thư tâm huyết của đại tướng, vậy mà các vị vẫn phớt lờ. Cách hành xử đó tồi tệ và độc đoán nhiều lần so với việc các vua Trần, vua Nguyễn bác bỏ “Thất trảm sở” của Chu Văn An, “tám điều cấp cứu” của Nguyễn Trường Tộ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không muốn tin câu nói này của Frederick Douglass có thể đang ám những người lãnh đạo của nước Việt Nam đã trải qua 64 tuổi “dân chủ”: “Trong các quyền con người, quyền biểu tỏ ý kiến là nỗi kinh hoàng của các hôn quân bạo chúa, là thứ quyền mà chúng phải ra tay triệt hạ đầu tiên.” Tôi vẫn cứ muốn tin rằng thời của bạo chúa đã qua từ lâu rồi và chính đảng Cộng sản Việt Nam từng tự hào góp phần chôn vùi nó ở đất nước này! Tôi vẫn muốn tin rằng nhân dân ta đang thực sự xây dựng một chế độ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tôi vẫn muốn tin rằng từ dân chủ trong câu trên có ý nghĩa thực chất chứ không phải để làm cảnh. Nhưng đã có quá nhiều sự thật nhơ nhớp xếp đầy trí nhớ tôi, giờ đây thêm sự thật Bauxite khổng lồ sặc mùi máu mê của những con bạc, lộ nhiều toan tính gian manh, lại đầy nghi vấn âm mưu “cõng rắn”! Làm sao tin được đây? “Không có tự do báo chí thì sẽ chẳng còn gì ngoài sự tồi tệ” (Albert Camus). Nếu Đảng tự tin rằng mình đang nắm được chân lý và rất trong sáng trước nhân dân thì hãy đường hoàng thực hiện tự do báo chí. Đó là lửa thử vàng, là cơ sở tạo niềm tin cho nhân dân. (Tôi viết bài này với bút danh Thiện Ý gửi đăng trên Talawas Nhân 21/6 ngày báo chí cách mạng của nước Việt Nam Cộng sản năm 2009.) Posted on Tháng Mười 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-67-dieu-19-cua-iccpr/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68): https://www.minds.com/newsfeed/1020239355225538560?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (66): https://www.minds.com/newsfeed/1020237711308042240?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (66) Hồi ký Tống Văn Công Nhà báo là chiến sĩ Nhà báo được đảng Cộng sản vinh danh là “những chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hoá tư tưởng”. Vinh dự này khiến cho nhiều người không tích cực trao dồi nghề nghiệp mà chỉ cố nâng cao lập trường tư tưởng. Cứ đọc lại báo chí Việt Nam hồi cải cách ruộng đất và chống Nhân văn Giai phẩm sẽ thấy các chiến sĩ xung kích đã bóp méo sự thật, vu khống trắng trợn như thế nào để biến hàng ngàn người dân vô tội trở thành bọn cường hào gian ác, biến ông Nguyễn Hữu Đang, nhà yêu nước lão thành (người thiết kế và chỉ đạo thi công lễ đài Ba Đình cho kịp buổi lễ tuyên ngôn độc lập 2/9/1945), nhà báo, học giả Phan Khôi, một nhà báo lỗi lạc, nhà văn Thụy An trở thành những tên gián điệp nguy hiểm! Những cây bút không “xung kích” theo đúng mục tiêu của Ban Tuyên huấn Đảng đều bị loại bỏ từng thời kỳ. Sau giải phóng miền Bắc, nhà báo Hiền Nhân và nhiều cây bút của Hà Nội trước kia phải cất bút. Sau khi báo Tin Sáng hoàn thành nhiệm vụ, đội ngũ này được phân loại, chỉ cho một số ít người được tiếp tục làm báo. Chủ nhiệm báo Ngô Công Đức, tổng biên tập Hồ Ngọc Nhuận được mời một cách lịch sự đi làm công việc khác. Ông Nhuận được làm Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, nghe có vẻ sang trọng nhưng là để vô hiệu hóa cây bút báo chí sắc bén và trung thực này. Nhiều cán bộ báo chí từ “phong trào” nhưng trong quá trình làm việc tỏ ra không tuân thủ sự chỉ đạo của Tuyên huấn Đảng cũng bị loại khỏi “đội ngũ xung kích” như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Kim Hạnh, Thế Thanh…, nhà văn Nguyên Ngọc, vì viết bản “Đề dẫn” đòi mở rộng tự do sáng tác và cho đăng Nguyễn Huy Thiệp phơi bày ung bướu trong cơ thể “xã hội chủ nghĩa tốt đẹp”, phải bị bãi chức. Chỉ vì bênh vực ông Nguyên Ngọc, nhà thơ kiêm nhà báo Bùi Minh Quốc đã bị khai trừ khỏi Đảng và treo bút. Năm 1994, làng báo Việt Nam xảy ra chuyện ầm ĩ ở báo Lao Động. Bốn cán bộ cốt cán của báo là tổng thư ký tòa soạn Lý Quý Chung, trưởng ban kinh tế xã hội Trần Trọng Thức, chánh văn phòng Nguyễn Hữu Tính, cây bút phiếm luận Ba Thợ Tiện (tức Hoàng Thoại Châu từng được giải nhất về thơ thời đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà) đề nghị tổng biên tập chọn giữa bốn người họ, hoặc ông Hồng Đăng phó tổng biên tập, vì ông này hách dịch tới mức anh em không chịu nổi. Hồng Đăng phản công lại bằng cách bắn tin với tổng cục 2 (tình báo thuộc Bộ Quốc phòng) rằng ở báo Lao Động có một nhóm âm mưu thực hiện diễn biến hòa bình. Vậy mà Bộ Chính trị sợ hãi, ra quyết định không cho một số người, trong đó có tổng biên tập tiếp tục làm báo! Có những người đã được coi là đạt tiêu chuẩn làm báo, nhưng sau đó vì có quan hệ với người không được tin cậy thì cũng phải bị loại. Ông Nguyễn Ngọc Lan không cùng quan điểm với Đảng về vụ Phong thánh Tử đạo thì vợ ông, bà Thanh Vân, dù đang là cây bút đắc lực của tờ Tin Quận 5 cũng phải bị sa thải. Trong “Nhật ký 1990 – 1991”, Nguyễn Ngọc Lan viết theo lời chị Thanh Vân: chỗ làm vẫn cần, nhưng có quyết định cho nghỉ việc của Ủy ban Nhân dân Quận và Quận ủy. Tru di tam tộc đó mà. Ông trưởng phòng và bà phó phòng đùn đẩy nhau việc đưa tờ giấy quyết định nghỉ việc cho nhà báo Thanh Vân, vì thấy nó kỳ cục quá, không mở miệng được. Các bạn đồng nghiệp thì được một bữa khóc. Ông Trần Trọng Thức nhiều năm là giáo viên thỉnh giảng của khoa Báo Chí trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh nhận xét nội dung đào tạo người làm báo như sau: Chương trình đại học báo chí không coi trọng đúng mức phần nghiệp vụ báo chí. Trong 194 đơn vị học trình, chỉ có 30 đơn vị học trình cho các môn tác nghiệp báo chí. Các thể loại thông tấn chỉ có bốn đơn vị học trình. Chính vì phải đào tạo “nhà báo là chiến sĩ sắc bén về tư tưởng”, cho nên các học phần về triết học, chính trị Mác-Lê được đặt cao hơn các bài học về nghiệp vụ. Học viên báo chí được tuyển với tiêu chuẩn chính trị (lý lịch gia đình, quan điểm lập trường), cao hơn nghề nghiệp, cho nên có 50% không có năng khiếu làm báo, có 20 % số người tốt nghiệp đại học báo chí không viết được bài. Từ sau 30/4/1975, báo chí cách mạng có gì mới? Xin nói rằng: có! Báo chí miền Bắc trước 1975 là hóa thân của loại truyền đơn tuyên truyền. Những sự kiện lớn như Đại hội Đảng, kỳ họp Quốc Hội, các báo chỉ được phép đăng lại đúng bản tin của Thông Tấn xã Việt Nam. Điều đặc biệt mới mẻ sau 1975 là sự có mặt của tờ nhật báo Tin Sáng và tạp chí Đứng Dậy. Mặc dù cũng phải lựa lời mà nói theo cái khuôn của Ban Tuyên huấn Đảng đưa ra, Tin Sáng có cách viết mới mẻ gần với sự thật hơn những đứa con ruột của Đảng. Đương nhiên tờ Tin Sáng có số phát hành cao hơn báo Đảng. Đó là điều chế độ không thể chấp nhận. Sau khi Tin Sáng “hoàn thành nhiệm vụ”, Ban Tuyên huấn của Đảng sàng lọc những người ít gai góc, đưa về tăng cường cho hai tờ báo Sài Gòn Giải Phóng và Tuổi Trẻ. Nhóm về Tuổi Trẻ nhanh chóng biến tờ báo này từ một tờ nội sang của Thành Đoàn trở thành một tờ báo thông tin đa dạng, sinh động. Sở dĩ nhóm này làm được điều đó là do có hai nhà báo giỏi là Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức. Nguyên nhân thứ hai không kém quan trọng là ông tổng biên tập Võ Như Lanh (vào nghề từ việc làm nội san của phong trào sinh viên) đã mạnh dạn giao việc cho các anh có nghề. Trái lại, bên báo Sài Gòn Giải Phóng tổng biên tập vốn là tổng giám đốc Thông Tấn xã Giải phóng, đương nhiệm phó trưởng ban thứ nhất Ban Tuyên huấn Thành ủy, người từng có lý thuyết “lợi ích cách mạng cao hơn sự thật”, đâu có thể để cho các nhà báo chế độ cũ vậy mình phải làm báo như thế nào! Tờ Tuổi Trẻ không lâu sau đã được bạn đọc vồ vập. Ban đầu bạn đọc của nó là sinh viên, học sinh, dần dần nó giành cả bạn đọc là cán bộ, đảng viên của báo Đảng, khiến báo chí cả nước nhìn vào đó để học hỏi đổi mới nội dung và hình thức. Tuy vậy những “ông thầy” ở đây vẫn không được quý trọng. Chị Kim Hạnh, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ (sau ông Võ Như Lanh), đã từng thổ lộ: Quản lý các anh này luôn bị trên đe dưới búa. Cấp trên thì lo ngại dò xét, còn các anh thì hay đấu tranh khi có những bài bị gác không thỏa đáng. Cuối cùng số đông trong ban biên tập muốn tờ báo khỏi bị soi mói vì sự có mặt của các nhà báo chế độ cũ. Thế là xảy ra cuộc di cư của hai ông thầy Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức và kéo theo họ có bảy học trò từ Tuổi Trẻ xin sang Lao Động, đưa tới sự ra đời báo Lao Động Chủ Nhật năm 1990 nổi tiếng một thời. Trước đó, báo Lao Động chỉ bán cho các tổ chức công đoàn mua bằng tiền kinh phí. Sau khi nhóm anh em này về, nhiều cây bút xuất sắc cũng kéo nhau về, biến Lao Động thành tờ báo mạnh nhất của báo chí ở cấp trung ương của Việt Nam, tấm gương đổi mới cho báo chí cả nước. Tiếc thay nó bị nghiêng đổ bởi một lý do không đâu như đã kể ở trên. Hai người góp phần to lớn đổi mới báo chí cách mạng Việt Nam là Lý Quý Chung và Trần Trọng Thức không được ghi nhận. Ngay ở Tuổi Trẻ những ngày kỷ niệm thành lập tờ báo cũng không ai đánh giá đúng công lao của họ. Tuy nhiên, khi tự do báo chí chỉ là hình thức thì những cố gắng đổi mới thật ra cũng chỉ là hình thức, không có mấy thực chất. Cái được nổi bật nhất trong những năm đầu đổi mới là đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, quan liêu. Tuy nhiên quan liêu, tham nhũng không hề yếu đi mà ngày càng mạnh lên. Sau năm 2000, báo chí lép vé dần trước tham nhũng, cho tới khi xảy ra sự kiện hai nhà báo chống tham nhũng bị bắt, bị xử tù thì thế thượng phong của báo chí chống tham nhũng đã chấm hết. Qua 20 năm đổi mới, báo chí cách mạng Việt Nam đang đứng trước hiện trạng sau đây: 1. “Báo chí công cụ” đã làm cho những người làm báo Việt Nam ngày càng thụ động, không có suy nghĩ độc lập, thui chột năng lực sáng tạo. Người viết xã luận thì nhai đi nhai lại nghị quyết của Đảng, bài năm nay na ná bài năm ngoái. Người viết điều tra thì chỉ dựa vào kết luận của cơ quan công an. Một lớp nhà báo thiếu lòng yêu nghề chỉ hám chức tước, bổng lộc. Miệng thì nói phục vụ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thực bụng là nhằm mục tiêu trở thành những ông “quan báo”. Trong tình trạng đạo đức băng hoại, không ít nhà báo móc ngoặc làm tiền, trở thành giàu có một cách phi pháp. Từ chỗ chỉ làm công cụ của Đảng, báo chí bắt đầu làm công cụ cho các “đại gia”, bị họ sai khiến và khinh rẻ. Một phóng viên Thông Tấn xã Việt Nam đã bị con rể bà Tư Hường (một đại gia và là bạn của nhiều nhân vật lãnh đạo cao nhất nước) tát giữa tiệc chiêu đãi mừng thành công cuộc thi Hoa hậu Thế giới. Chủ tịch hội nhà báo Việt Nam Đinh Thế Huynh có công văn yêu cầu phải làm rõ, xử lý nghiêm vụ này trước pháp luật để bảo vệ nhà báo. Nhưng vụ việc đến nay hơn một năm đã lặng lẽ chìm xuồng. 2. Hội nhập thế giới sâu rộng, bị tấm gương của nhiều nền báo chí tự do tương phản làm cho báo chí Việt Nam lộ rõ sự lạc hậu rất tệ hại trước trào lưu dân chủ, nhân quyền. Một đất nước có hơn 800 tờ báo mà luôn luôn bị các tổ chức nhân quyền quốc tế lên án là không có tự do báo chí. Hiện có gần trăm tờ báo của các đảng bộ tỉnh, thành phố in ra đem phát không, rồi đem bán ve chai. Nhà báo cộng sản lão thành, ông Nguyễn Văn Tuấn, nguyên Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đã phải kêu lên trong quyển sách ông viết có tựa đề “Kính gửi Mẹ và Quốc Hội”: Xin cho được tự do báo chí bằng với thời đô hộ của thực dân Pháp! 3. Tự do kinh tế đã tạo ra lớp doanh nhân đông đảo. Càng ngày càng có nhiều con em của người có tiền được gửi đi du học ở các nước tiên tiến. Xã hội Việt Nam đang hình thành một tầng lớp trí thức trung lưu có yêu cầu cao về quyền được thông tin kịp thời, chính xác, đa dạng. Lớp người này phải tìm đến các nguồn thông tin của báo, đài nước ngoài, các tờ báo mạng, các blog. Họ sẽ là lực lượng ngày càng lớn mạnh đòi hỏi một nền báo chí tự do. Trong bài viết “Vì sao đạo đức băng hoại”, tôi cho rằng đạo đức cách mạng xung khắc với “đổi mới”. Nay lại xin nói: báo chí cách mạng cũng xung khắc với “đổi mới”! 4. Để thoát khỏi sự kềm kẹp tự do báo chí, một phong trào viết blog xuất hiện. Các địa chỉ blog được đông đảo người đọc tin cậy tìm đọc như Blog Osin của nhà báo Huy Đức. Tiếp theo đó là các mạng xã hội, một luồng gió tự do từ các blogger, từ mạng xã hội, như Facebook của Hương Trà (Cô Gái Đồ Long), nhạc sĩ Tuấn Khanh…, đang thổi bùng lòng khát khao quyền được thông tin của nhân dân từ lâu bị bưng bít, khiến cho nỗi bức xúc căng lên. “Đây chính là một quyền lực thứ năm”. (Thế giới phẳng, Thomas L. Friedman). “Hoàn toàn có tự do, nếu đi đúng lề đường bên phải!” Nói như vậy không khác nào bảo hãy vào nhà giam đi, ở trong đó sẽ tha hồ mà tự do! Có lẽ, trong công cuộc “đổi mới” ở Việt Nam, báo chí là một ngành vận hành theo chiều ngược, tức là càng ngày càng bị siết lại. Giữa năm 2008, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng truyền đạt ý kiến Bộ Chính trị, gồm mấy ý lớn sau đây: – Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước. – Kiên quyết đình chỉ các cơ quan báo chí không chấp hành đúng pháp luật, không thực hiện đúng tôn chỉ mục đích. – Việc xem xét xử lý sai phạm của các cơ quan báo chí phải được thực hiện đồng bộ giữa xử lý kỷ luật về chính quyền đi đôi với xử lý kỷ luật về Đảng, xử lý người trực tiếp có sai phạm gắn với xử lý trách nhiệm của người đứng đầu và người có liên quan. Từ tư tưởng chỉ đạo ấy mà có sự lựa chọn bộ trưởng. Ông Lê Doãn Hợp là mẫu người thích hợp. Ông này ăn nói thô bạo không cần giữ ý: “Tổng biên tập là người Bộ Thông tin và Truyền thông sau này cắm ở từng tờ báo”. (Nhà thơ Hoàng Hưng gọi đây là dòng ý nghĩ đen). Ông tuyên bố sẽ quản lý chặt cả báo mạng và các blog cá nhân. Là người chỉ huy đội quân chữ nghĩa của một đất nước ngàn năm văn hiến, nhưng ông ăn nói không cần chọn từ ngữ chuẩn xác, cứ nói văng mạng như một kẻ vô học. Trong cuộc giao lưu trực tuyến với nhân dân, ông Bộ trưởng đã giải thích quản lý báo chí là: “Quản một cách có lý, bao gồm cả đạo lý và nguyên lý. Đạo lý là ủng hộ người tốt, răn đe người không tốt. Nguyên lý là tạo hành lang cho người ta hành động”. Nhiều ý kiến trên mạng cho rằng ông nói nghe thật dốt nát và buồn cười. Sự quản lý của ông hợp theo tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị đã làm cho báo chí cách mạng Việt Nam mấy năm qua có nhiều biểu hiện không bình thường. Vụ báo chí Nhật Bản đưa tin công ty PCI của họ hối lộ quan chức Việt Nam Huỳnh Ngọc Sỹ, sau mấy tuần lễ, báo chí Việt Nam vẫn im như thóc không dám đưa tin vì chưa có lệnh tuyên huấn! Bạn đọc châm biếm hỏi: “Phải chăng công khai sự thật tức là đi ra ngoài hành lang của ông Lê Doãn Hợp?” Vụ khởi tố nữ phóng viên Lan Anh của báo Tuổi Trẻ là mở đầu đánh vào nhà báo chống tiêu cực, đối tượng từ lâu được khuyến khích và bảo vệ. Bị dư luận phản đối dữ dội, vụ án phải đình chỉ, phóng viên Lan Anh thoát nạn. Năm 2008, vụ án khởi tố hàng loạt phóng viên của nhiều tờ báo đưa tin về vụ tham nhũng ở PMU 18 với tội danh làm lộ bí mật nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ. Cũng như Lan Anh, các nhà báo trong vụ án này đều là những người trung thành với lý tưởng làm báo cách mạng, quyết lôi bọn tham nhũng ra ánh sáng, làm trong sạch bộ máy Đảng và nhà nước. Nhà báo Nguyễn Việt Chiến trước tòa vẫn khăng khăng rằng mình không có tội mà chỉ có quyết tâm chống tham nhũng. Các ban biên tập báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên và nhiều đồng nghiệp của họ đã hăm hở viết bài bảo vệ họ. Việc làm đó đã bị dập tắt ngay lập tức. Tất cả báo chí cả nước im phắc cùng một ngày. Tiếp theo là án tù ngồi cho người không tự biết mình có tội (Nguyễn Việt Chiến) tù treo cho người biết nhận tội (Nguyễn Văn Hải). Tiếp theo nữa là tước quyền hành nghề của các phó tổng biên tập, tổng biên tập của các báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ, những người đã viết bài hoặc duyệt bài bảo vệ những người bị bắt. Nhà báo Uyên Vũ cho rằng vụ tước quyền hành nghề của bảy nhà báo một lúc có thể so sánh với vụ Nhân văn Giai phẩm, chỉ có điều khác xưa là họ không bị “đấu tố” và “ném đá” bởi các đồng nghiệp! Phó tổng biên tập Bùi Thanh của Tuổi Trẻ, một nhà báo đầy “lý tưởng cách mạng” bị cách chức trong vụ này đã ngơ ngác hỏi “vì sao?” khi nhìn các đồng nghiệp tử tế và trong sáng của mình bị xe cảnh sát đưa vào nhà giam. Ông lại tiếp tục ngây thơ khi viết trên blog: “Đừng nản lòng, hãy vì những trang báo sống động ngày mai, vì bạn đọc của mình!” Trong khi đó, trả lời câu hỏi “Liệu vụ án này có làm sa sút ý chí chống tham nhũng của các nhà báo?” Ông Đinh Thế Huynh ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, kiêm tổng biên tập báo Nhân Dân tỉnh bơ trả lời: “Làm sao lại có thể sa sút được! Bởi vì chống tham nhũng là một kênh của báo chí cách mạng!” Có hai nhận định đáng lưu ý về vụ này là: – Nhà báo Huy Đức cho rằng vụ án cho thấy các nhà báo Việt Nam không có nghiệp vụ báo chí để tiến hành điều tra độc lập mà chỉ dựa vào cơ quan điều tra và tin rằng đó là tư liệu hoàn toàn chính xác. Vụ án cũng cho thấy tư pháp Việt Nam bất cập khi kết tội các nhà báo viết bài bởi động cơ trong sáng không vụ lợi và tin chắc rằng tư liệu mình có trong tay là sự thật. – Ký giả Trần Tiến Dũng cho rằng vụ án này là dấu chấm hết của báo chí lý tưởng, bởi nó đã đánh vào những nhà báo tự nguyện làm công cụ của Đảng để thực hiện lý tưởng cách mạng! Ngẫm ra nhận định này không phải không có cơ sở. Thực tế cho thấy tham nhũng đã xâm nhập vào các cấp cao nhất của guồng máy Đảng và nhà nước khiến cho họ không có cách nào khác là phải bẻ gãy những cây bút công cụ đang chỉ vào chính những ông chủ! Năm 2008, báo chí Việt Nam vốn ngoan ngoãn với chức năng công cụ, đã bị trừng phạt nặng nề: 6 cơ quan báo chí bị cảnh cáo, 252 trường hợp bị khiển trách, 15 nhà báo bị tịch thu thẻ hành nghề, trong đó có hai tổng biên tập, 4 phó tổng biên tập, 6 nhà báo bị khởi tố, 2 nhà báo vào tù. Mới đây, nhà báo, văn nghệ sĩ lại bị trấn áp với tội danh mới, tội yêu nước! Đó là vụ ông Nguyễn Trung Dân, phó tổng biên tập báo Du Lịch Việt Nam bị cách chức, thu thẻ nhà báo vì đăng tin bài chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Một số nhà báo, văn nghệ sĩ bị bắt, bị thẩm vấn và gây khó khăn trong cuộc sống vì đã tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm đảo biển tổ quốc. Đạo diễn Song Chi, một blogger có nhiều bài viết mạnh mẽ đã phải rời đất nước xin đi nạn chính trị ở Na Uy, được nước này tiếp nhận như là một guest writer (khách văn). Bà Song Chi cho biết sau khi bị bắt vì tội biểu tình chống Trung Quốc bà bị gây khó không thể làm việc được. Đây quả là một bi kịch của báo chí cách mạng Việt Nam! Mới đây nhà báo Nguyễn Chính trong bài viết “Báo và blog và bầu trời” kể rằng mười lăm năm trước khi ông nói báo Nhân Dân là tờ báo mà nhân dân ít đọc nhất đã bị ông Đinh Thế Huynh, Chủ tịch Hội đồng Khoa học báo Nhân Dân, bực dọc vặn lại: “Nói thế là không được! Xin hỏi anh Nguyễn Chính, đó là nhân dân nào?” Nay ông Huynh đã lên tổng biên tập và kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác. Nhưng báo Nhân Dân thì vẫn giữ vững kỷ lục là tờ báo ít nhân dân mua nhất! Nhà báo Trương Duy Nhất cho rằng không chỉ báo Nhân Dân không có người đọc mà nói chung ngày nay “đọc báo giấy chán bỏ mẹ!” Bạn đọc Việt Nam, nhất là số người có học, đang tìm thông tin trên các mạng xã hội, các blog. “Đọc báo giấy chán bỏ mẹ!” Đó chính là hậu quả của cách quản lý “hoàn toàn có tự do nếu đi đúng lề bên phải” của ông Lê Doãn Hợp! Hậu quả đó được giảng viên Đại học Sư phạm kiêm nhà báo Hà Văn Thịnh miêu tả như sau: “Còn nếu quý vị có ai đó đã từng viết báo sẽ biết là rất nhiều câu chữ người ta đọc qua điện thoại cho tôi, và chúng phải có. Vấn đề là lách như thế nào để rồi người đọc hiểu đến đâu là câu chuyện quá dài. Nói là bồi bút thì cũng phải, không sai. Thế nhưng cần phải lật ngược vấn đề rằng có ai ăn lương hiện nay mà không từng một lần làm bồi bút?” Chao ơi, có đau đớn không, khi chính sách của đảng cầm quyền từng được tung hô “quang vinh muôn năm” lại biến những người cầm bút của báo chí cách mạng vốn được giao thiên chức xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng trở thành những tên bồi bút! Và càng đáng sợ hơn là người ta có thể nói ra điều nhục nhã đó một cách thản nhiên. Vậy thì người đọc của dân tộc anh hùng này đang đi theo cái định hướng để trở thành những tên bồi gì đây? Posted on Tháng Mười 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-66-nha-bao-la-chien-si/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67): https://www.minds.com/newsfeed/1020238720285253632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (65): https://www.minds.com/newsfeed/1020235546598387712?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68) Hồi ký Tống Văn Công Trăn trở cùng chủ tịch nước Vào dịp tết Tân Mão, tâm sự với bạn đọc báo Sài Gòn Tiếp Thị, chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhắc chuyện người thầy của mình thời đại học đã gửi gắm kỳ vọng vào anh học trò Nguyễn Minh Triết giỏi toán, nay là chủ tịch nước, chắc chắn sẽ giải được bài toán khó của đất nước: quốc nạn tham nhũng! Chủ tịch nói những lời ân hận: chống tham nhũng là mong mỏi tha thiết và chính đáng của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi chưa làm xong. Rất tiếc, ngày Chủ tịch về làm bí thư thành ủy, anh Năm Tân, bạn tôi (tức Triều, cán bộ Ban Dân vận Trung ương Cục, người thay mặt Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam tiếp nhận sinh viên Nguyễn Minh Triết mới từ thành phố vào bưng), rủ tôi cùng đến thăm nhà tân bí thư thành ủy nhưng tôi không chịu đi. Anh nói: “Chúng mình thường xuyên cung cấp chứng cứ tham nhũng để đồng chí bí thư quan tâm xử lý”. Tôi từ chối ngay: “Tôi không tham gia đâu. Ngày còn là tổng biên tập báo Lao Động, tôi đã quyết liệt chống tham nhũng, quan liêu và đã bị Ban Tư tưởng Văn hóa nhiều lần góp ý. Có lần không phải góp ý với tổng biên tập mà với ‘đảng viên có trách nhiệm’. Khi tôi trả lời chúng tôi làm không sai luật, đồng chí Hữu Thọ tươi cười nói khéo theo kiểu bạn bè: ‘Một chính phủ mà trong hơn một tháng bị mày chỉ trích đến 4 ông bộ trưởng thì sẽ ra sao trước dư luận quốc tế và trong nước?’ (Bốn bộ trưởng bị báo Lao Động chỉ trích là Phạm Song, bộ trưởng Y tế, Cao Sĩ Kiêm thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Vũ Ngọc Hải bộ trưởng Bộ Năng lượng, Phan Xuân Đạt bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp). Tôi đã trả lời anh: Một chế độ chấp nhận cho báo chí liên tục chỉ trích chính phủ là một chế độ dân chủ, vững mạnh và chính phủ tiếp thu sự chỉ trích, sẽ đổi mới phục vụ nhân dân đắc lực hơn. Nhưng Hữu Thọ nhân danh đại diện Trung ương Đảng không chấp nhận quan điểm của tôi. Huống hồ ngày nay, trong tay tôi không có quân, cũng chẳng có quyền, thôi tôi chẳng chơi dại!” Anh Năm Tân nổi cáu: “Mày bạc nhược đến thế à? Vậy thì mày còn ở trong Đảng để làm gì?” Anh Năm Tân đã một mình tới nhà bí thư thành ủy Nguyễn Minh Triết. Hai tháng sau đó, có chuyện không vui xảy ra cho anh Năm Tân: Bà Kim Em – phó bí thư, trưởng Ban Tổ chức Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh – gửi công văn “yêu cầu đồng chí Năm Tân rút tên ra khỏi bản đăng ký đi tham quan Hà Nội, để ở lại làm ngay bản kiểm điểm, vì theo công văn của tỉnh ủy Long An, đồng chí đã kích động nhân dân khiếu kiện về đất đai, chống lại chính quyền Long An” (Trước khi về hưu, anh Năm Tân là chủ tịch Liên hiệp Công đoàn tỉnh Long An, lúc đó đã có huy hiệu năm mươi tuổi Đảng, hiện giờ thì đã sáu mươi). Trước việc trớ trêu này tôi đã nói đùa với anh Năm: “Dù anh đã lớn tiếng đòi đuổi tôi khỏi Đảng, tôi vẫn cầu mong cho anh không bị đuổi ra trước tôi!” Xin lỗi Chủ tịch, tôi đã dài dòng, để nói rằng bài toán chống tham nhũng rất khó, và thực ra nó cũng không phải chỉ thuộc trách nhiệm của chủ tịch nước với quyền hạn chế theo Hiến Pháp. Cho nên dù có tiếp tục thêm một nhiệm kỳ nữa (việc đó không thể có rồi!) Chủ tịch cũng không thể làm xong được. Do đó tôi muốn Chủ tịch cùng suy ngẫm vấn đề trọng đại này với đất nước, dù đã muộn lắm! Trước hết tôi muốn được cùng Chủ tịch nhớ lại những ý kiến của chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946 do phải chấp nhận đại diện các đảng phái tham gia chính phủ liên hiệp, Hồ Chí Minh đã có những phát biểu tiến bộ: – “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà Xuất bản Sự Thật, 1986, tập 6, trang 271). – “Pháp luật phải trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ đó ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” (sách đã dẫn, tập 5, trang 245). – Hồ Chí Minh cho rằng bọn quan liêu, tham nhũng “xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân, không tin cậy nhân dân, không hiểu biết nhân dân, không thương yêu nhân dân” (sách đã dẫn, tập sáu, trang 112). – “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập, trang 283). – “Nghị quyết gì mà do dân chúng cho là không hợp thì để cho họ đề nghị sửa chữa” (Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Sự Thật, 1984, tập 5, trang 297). Hồ Chí Minh cho rằng phải có dân chủ mới chống tham nhũng được. Nhưng rất tiếc là Cụ Hồ chưa nói rạch ròi là thứ dân chủ nào? Từ sau năm 1954, cụ Hồ chỉ nói về dân chủ xã hội chủ nghĩa. Năm 1959, Hồ Chí Minh chính thức vứt bỏ Hiến pháp 1946, ban hành Hiến pháp 1959, không chấp nhận nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, Đảng nhất định phải lãnh đạo tư pháp. Nhiều năm qua cho thấy dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng không thể chống nổi tham nhũng. Bởi vì nếu Đảng chống tham nhũng là tự chặt tay mình. Hãy nhìn lại cách chống tham nhũng của chúng ta, xem vì sao không thể đạt hiệu quả như các nước dân chủ. Tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư Năm 2006, tổng bí thư Nông Đức Mạnh cũng đã thừa nhận: tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ. Đến nay đã qua bốn năm, năm nào ta và các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cũng có tổng kết về vấn đề này. Xin chỉ nêu những kết luận gần nhất: – Ngày 1-12-2010, hội nghị tổng kết do Ban Bí thư Trung ương chủ trì kết luận: “Hiện nay tham nhũng vẫn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Tham nhũng chưa được ngăn chặn và từng bước đầy lùi như mục tiêu Nghị quyết Trung ương 3 đề ra. Tham nhũng vẫn là vấn đề bức xúc, mối quan tâm lớn của toàn xã hội”. – Ngày 6-4-2011, Thủ tướng chủ trì phiên họp tổng kết quý một năm 2011 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng nhận định: “Số vụ tham nhũng được phát hiện và xử lý giảm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thiếu quyết tâm, ngại đưa ra xử lý các vụ việc ở thời điểm nhạy cảm về chính trị”. Nhận xét như vậy có điều tốt là trung thực, nhưng bộc lộ chủ yếu rất khó khắc phục: Đó là che giấu bớt vì sợ nhạy cảm chính trị! Về nhận xét quốc tế: – Năm 2008, Chương trình Hỗ trợ Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) có một báo cáo khá chi tiết. Báo cáo nêu: “Tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đã xảy ra với 3 hình thức: Hối lộ còn được gọi là bôi trơn; tư nhân hóa tài sản nhà nước trong việc thực hiện chính sách cổ phần hóa; và mua bán quyền lực”! Báo cáo của bà Lê Hiền Đức (giáo viên hưu trí ở Hà Nội, người được Tổ chức Minh bạch Quốc tế tặng giải thưởng Liêm Chính năm 2009) minh họa cho nhận định nói trên. Bà nói “Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả”! – Chỉ số thứ hạng tham nhũng của Việt Nam từ năm 1997 đến nay hầu như không thay đổi. Năm 2009, Tổ chức Tư vấn rủi ro xếp nước ta là nước tham nhũng đứng thứ ba châu Á, khá hơn Indonesia, Philippines, nhưng tham nhũng trong lĩnh vực bất động sản thì ta đứng trên hai nước này! Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã rút ra kết luận: Bọn tham nhũng lộng hành khi nguy cơ phát hiện thấp và nếu bị phát hiện thì hình phạt nhẹ mà mối lợi thu được thì quá lớn. Cơ chế để phòng, chống tham nhũng hiệu quả cần phải có hai điều kiện thiết yếu: tính minh bạch và khả năng kiểm soát. Từ đó người ta rút ra công thức: Tham nhũng = Nhà nước độc quyền + Quyền quyết định của viên chức thừa hành quá rộng + Khả năng kiểm soát yếu kém. Chúng ta có thể dùng công thức này để tìm thấy nguyên nhân bất trị của nạn tham nhũng ở nước mình. Bạn đọc Phan Châu Thành đã lần tìm và so sánh tình trạng tham nhũng qua các thời kỳ đã diễn tả như sau: – Tham nhũng từ năm 1945 tới 1975 gọi là thế hệ thứ nhất Thời ấy, kẻ tham nhũng hành động đơn lẻ, lợi dụng chức quyền chiếm trực tiếp những gì chúng ham muốn. Đội quân chống tham nhũng thời ấy rất hùng hậu bao gồm một xã hội tốt đẹp có đông đảo dân chúng có đạo đức và noi theo tấm gương cần kiệm liêm chính trong sáng của lãnh tụ. – Từ 1976 đến 1999, tham nhũng bước qua thế hệ thứ hai. Bọn tham nhũng buộc mọi người phải “mua” từ công việc, chức vụ, tất cả các quyền lợi chính đáng lẽ ra người dân đương nhiên được hưởng. “Văn hóa chạy chọt” xuất hiện. Cái gì cũng “chạy” được, từ quan hệ, chức tước, đặc quyền, sở hữu đất đai, bằng cấp. Chúng chiếm đoạt những thứ không có giá trị vật chất, nhưng lại dễ dàng thu được tài sản, vật chất. Người trong các lực lượng chống tham nhũng bắt đầu tham gia tham nhũng ngày càng công khai! Tham nhũng trở thành hiện tượng xã hội bình thường. Hai vụ tham nhũng vang dội là PMU 18 và Đại lộ Đông Tây cũng chỉ mới ở trình độ cấp hai này. – Từ năm 2000 đến nay, tham nhũng đã sang thế hệ thứ ba. Tham nhũng thiết kế, bố trí, xây dựng và đầu tư, đằng sau mỗi đường dây của chúng là vài ông trùm chủ chốt có quyền thế rất cao. Không thể tìm ra, bắt bẻ tính bất hợp pháp của chúng. Chúng chỉ có thể bị lộ khi có một đường dây tham nhũng khác cạnh tranh, nhưng chưa chắc đã có thể đưa được chúng ra tòa. – Tham nhũng thế hệ thứ tư xuất hiện từ khoảng năm 2005, đó là các nhóm lợi ích thông đồng nhau can thiệp vào hệ thống làm ra chính sách. Những nhà lý luận về kinh tế như bà Phạm Chi Lan, ông Lê Đăng Doanh, ông Nguyễn Trung đã có nhiều bài viết nói về “những nhóm lợi ích” cài cắm ngay khi soạn thảo luật, cơ chế. Xin dẫn chứng quá trình lớn mạnh của tham nhũng ở ngành đóng tàu để minh họa: – Cách đây 17 năm, ngày 27 tháng 5 năm 1993 cách báo đồng loạt đưa tin sau: tại Quảng Ninh, cơ quan điều tra đã khởi tố bắt giam ông Nguyễn Đình Quý – Tổng giám đốc Liên hiệp Đóng tàu Việt Nam về hành vi tham ô. Khi là giám đốc Nhà máy Đóng tàu Hạ Long, ông Quý bán con tàu Ăngco Vat 01, trọng tải 3000 tấn với giá 1.031.000 USD, thanh toán bằng ba khoản: 95.700 USD; 1000 tấn thép; 200 kiện đầu lọc thuốc lá. Ông Quý bán thép được 2 tỉ tiền đồng, chỉ nộp quỹ 1,5 tỉ. Số ngoại tệ ông chỉ nộp 525 triệu đồng (tương đương 50.000 USD)… – Tối ngày 4 tháng 8 năm 2010, Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an thực hiện lệnh bắt giam ông Phạm Thanh Bình – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng. Sau đó, cơ quan an ninh điều tra khám xét nơi làm việc và hai nhà riêng của ông Bình ở số 10 Ngô Văn Sở và 17T6 khu Trung Hòa, Nhân Chính. “Thiệt hại nghiêm trọng” được biết là khoảng 86.000.000.000.000 đồng. Như vậy, nếu so sánh vụ án ở ngành đóng tàu năm 1993 thì thấy nó ở cấp tham nhũng thế hệ thứ hai, còn vụ Vinashin năm 2010 đã vọt lên thế hệ thứ ba, và trách nhiệm xử lý đã từ cấp tỉnh vọt lên cấp Bộ Chính trị! Đồng chí lão thành cách mạng, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh có thơ than rằng: “Quan tham ăn hối lộ, Sống như bậc đế vương … Công Lý luôn thuộc kẻ cầm quyền. Tai họa đều đổ đầu dân đen.” Từ năm 2010, một nhà lý luận hàng đầu của Đảng giáo sư tiến sĩ Mạch Quang Thắng đã viết: “Thật đáng tiếc là cho đến nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái một cách nghiêm trọng!” Nguyên nhân của việc không thể ngăn chặn tham nhũng đã được nhiều nhà lý luận của Đảng phân tích khéo léo, nhưng cũng khá rõ ràng. Tiến sĩ Hồ Bá Thâm, trong bài viết “Dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11-2009 đã viết: “Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta, càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiểm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hỏng và yếu kém nhất trong hệ thống tam quyền của nhà nước, phải được khắc phục sớm cả bằng nhận thức và thể chế”. Hình như ông còn quá e ngại đụng chạm đến khái niệm pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một sáng tạo của tổng bí thư Đỗ Mười, nên đã dè dặt đưa ra giải pháp gọi là “tam quyền phân hợp giám, gọi tắt là tam quyền phân giám”! Là người quan tâm đến cải cách tư pháp, chắc Chủ tịch cũng thấy việc “phân công ba quyền” đã không cân đối. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, đối với trong Đảng, trước đây chỉ là ủy viên Trung ương, nay mới vào Ban Bí thư. Tòa án Nhân dân Tối cao không có quyền xem xét những luật pháp vi hiến, không có quyền mời thủ tướng ra tòa. Trong cuộc hội thảo do Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức ngày 25-7-2010, đại sứ Thụy Điển nói, Việt Nam có nhiều văn bản luật và nhiều tổ chức chống tham nhũng hơn Thụy Điển. Lời nói của một vị đại diện một đất nước gần như không có tham nhũng cho ta nhiều suy ngẫm. Trong khi đó, cuộc họp mới nhất cho tới khi tôi viết bài này là 6-4-2011, cả thủ tướng và bộ trưởng Công an đều cho rằng điều lúng túng nhất là khó phân rõ trách nhiệm của người đứng đầu! Tôi xin phép được nói thẳng rằng: Trong khi tham nhũng đã sang thế hệ thứ tư mà chúng ta còn loay hoay tìm chưa ra cách bổ sung để củng cố công cụ chống tham nhũng của thế hệ thứ nhất! Vừa qua ở Ninh Bình, ông bí thư tỉnh ủy, ủy viên Trung ương Đảng, là kẻ đại tham nhũng, nhưng lại là cấp trên của trưởng Ban Chống Tham nhũng. Nếu cơ chế chỉ sửa bằng cách giao cho bí thư tỉnh ủy làm trưởng Ban Chống Tham nhũng thì có hơn gì? Từ 2500 năm trước, nhà hiền triết Platon đã nói: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó. Còn nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì, ở đó tôi nhìn thấy có sự cứu thoát của nhà nước”. Học trò xuất sắc nhất của ông là Aristote, người được Karl Marx coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời Cổ đại đã cụ thể hóa tư tưởng của thầy mình, cho rằng quyền lực phải chia làm ba lĩnh vực: Lập pháp, Tư pháp và Liên hợp. Suốt 2000 năm, những đầu óc lớn của nhân loại không ngừng tiếp tục khám phá, cụ thể hóa tư tưởng phân quyền mà hai người đánh những cột mốc lớn nhất là J. Locke và Montesquieu. Cho tới nay đã có hàng trăm quốc gia dân chủ vận dụng cách tổ chức nhà nước theo tam quyền phân lập và trở nên ổn định và giàu mạnh. Nội dung chủ yếu của nó như Montesquieu viết là: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, người ta sợ rằng chính ông ta hoặc Viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân. Quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa của kẻ có sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn ba quyền lực nói trên thì sẽ mất hết”! Do đó, theo ông, “trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều phù hợp với luật dân sự”. Điều nổi bật là ông nhấn mạnh quyền tư pháp phải nhất thiết được đặt ra, độc lập với hai quyền lập pháp và hành pháp. Điều này rất quan trọng, hiện nay nhân loại coi “tòa án là pháo đài của tự do”! Trong thế giới văn minh, dân chủ và nhân quyền đã trở thành xu thế của thời đại, người ta đề cao những chính quyền, nhà nước nào nhằm thực hiện các mục tiêu: – Xã hội tự do khi chính phủ bị kiểm soát bởi luật pháp mà mục đích chính là để bảo vệ con người. – Xã hội được quản lý bởi một chính phủ của luật pháp. Một cá nhân có thể làm bất cứ điều gì luật pháp không cấm; còn quan chức chính phủ chỉ được làm những gì luật pháp cho phép. Nếu chúng ta thực hiện tam quyền phân lập, thì như Hồ Chí Minh thời trẻ đã nói “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” và đúng với Karl Marx và Engels. Chúng ta đều biết, từ năm 1866, tại Đại hội Quốc tế ở Giơ-ne-vơ, K. Marx đã tạo ra “Chỉ thị gửi các đại biểu của Hội đồng Trung ương Lâm thời về một vài vấn đề”, đã chấp nhận đấu tranh nghị trường với các nhà nước tam quyền phân lập lúc bấy giờ để đòi ngày làm 8 giờ, cấm lao động trẻ em, quy định cho lao động phụ nữ, lao động hợp tác, hội công liên và quân đội (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, nhà xuất bản Sự Thật, 1974, trang 109). Nội dung chỉ thị này mở đầu cho việc Engels thành lập Quốc tế II năm 1889. Nếu thực sự có nhà nước pháp quyền thì có thể: – Tham nhũng đã không lập lại ở ngành đóng tàu với mức độ lớn hơn gấp 10 lần mà không truy cứu được trách nhiệm người đứng đầu (cũng như nhiều vụ án khác). – Không có những vụ án kéo dài như Đại lộ Đông Tây, không có những vụ làm ngắc ngứ như vụ in tiền polime. – Chúng ta sẽ không có vụ án bà Ba Sương do Thành ủy Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra mà cố thủ tướng Võ Văn Kiệt không đồng tình. Và hiện nay, nhân dân cũng đang hết sức băn khoăn vì cuộc điều tra lại mà cơ quan điều tra cũng vẫn đặt dưới quyền chỉ đạo của những người cần có bản án kết tội bà Ba Sương để thực hiện một dự án đất đai đẻ ra tiền! – Sẽ không có vụ án mới nhất, chẳng những gây phản ứng xấu trong dư luận mà còn vô cùng nguy hiểm. Đó là vụ án Cù Huy Hà Vũ, khiến nhiều đảng viên lão thành không đồng tình và nhiều người dân phản đối. Giáo sư Ngô Bảo Châu, một trí thức lớn được Đảng và nhân dân ta vinh danh là trí tuệ Việt Nam đã phải nhận xét rằng, những người thực hiện vụ án này, dù có ai đó muốn “cố tình làm mất thể diện quốc gia chắc cũng khó mà làm hơn”. Giáo sư đã tế nhị không muốn nói xa hơn, nhưng người nghe chắc chắn có nhiều cách hiểu xa! Để tránh “nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ” cũng tức là của Đảng, chúng ta cần thực hiện tam quyền phân lập, với nền tư pháp độc lập, đưa Đảng ra khỏi cái bẫy tham nhũng, lấy lại sự tín nhiệm và niềm tin của nhân dân. Từ đó, Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng sẵn sàng và ung dung đối thoại trực tuyến hoặc trong phòng họp trực rỡ ánh sáng văn minh với những Cù Huy Hà Vũ, để toàn thể nhân dân nhìn vào mà tâm phục khẩu phục. Trong khi chờ đợi có lẽ Chủ tịch nên bàn với Bộ Chính trị làm một việc vô cùng quang minh chính đại là: trả tự do ngay cho Cù Huy Hà Vũ. Posted on Tháng Mười 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-68-tran-tro-cung-chu-tich-nuoc/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (69): https://www.minds.com/newsfeed/1020240325804347392?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67): https://www.minds.com/newsfeed/1020238720285253632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
20 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67) Hồi ký Tống Văn Công Điều 19 của ICCPR Năm 1946 khi phải chấp nhận chính phủ liên hiệp đa đảng, Hồ Chí Minh định nghĩa dân chủ là người dân được mở miệng. Đó chính là tự do ngôn luận. Điều mà cách đây hơn 150 năm, ông Robert Lowe, chính khách người Anh đã miêu tả cụ thể: “Chúng ta nhất định phải nói lên sự thật, đúng như chúng ta thấy, không sợ mọi hậu quả, nhất định không cung cấp chỗ ẩn náu thuận tiện cho những hành vi bất công hay áp chế mà phải lập tức giao chúng cho sự phán xét của thế giới”. Hiến pháp đầu tiên năm 1946 do Quốc Hội có 70 đại biểu Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội và Quốc Dân Đảng đã ghi nhận tinh thần đó. Luật Báo Chí hiện hành cũng có ghi nhận tuy không thật cụ thể: “Thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới”. Vậy thì tại sao thực tế vận hành của báo chí Việt Nam lại không phải như vậy? Tại sao cứ tiếp tục rập khuôn theo thứ báo chí phản thông tin của Lênin mà ngày nay chính đồng bào Nga của ông cũng kiên quyết từ bỏ? Tại cuộc họp Hội đồng Nhân quyền hồi tháng 5/ 2009 có hàng chục đại diện các quốc gia đề nghị Việt Nam thực hiện một phần, hoặc phù hợp, hoặc trùng khớp với điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, như: Gia tăng sự độc lập của truyền thông, cho phép ra báo tư nhân, dỡ bỏ hạn chế internet…, tất cả đều bị Việt Nam bác bỏ. Lạ thay, Việt Nam là quốc gia đã ký cam kết gia nhập Công ước Quốc tế này từ ngày 24 tháng 9 năm 1982! Tại sao vậy? Xin hãy đọc kỹ nội dung điều 19 của công ước này xem nó chịu đựng những gì nguy hiểm đến nổi các nhà lãnh đạo Việt Nam phải kiên quyết chối bỏ? Từ theo cộng đến chống cộng Điều 19 1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào. 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm các quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ. 3. Việc thực hiện những điều quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn đến một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để: – Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; – Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng. (“Các văn kiện quốc tế về quyền con người”, do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quyền Con người biên soạn, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1997, trang 117). Bạn đọc Việt Nam có thấy điều 19 có gì đáng sợ? Tôi thấy nó rất cao quý, tin ở con người, tôn trọng con người và tạo điều kiện cho con người đóng góp trí tuệ cho cuộc sống. Đảng và nhà nước Việt Nam luôn luôn hô hào tìm những biện pháp đi trước đón đầu trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, trong khi đó lại từ chối không chịu đi kịp những vấn đề của dân chủ, nhân quyền, Không chịu thực hiện tự do báo chí, điều mà Thomas Jefferson đánh giá là “công cụ tốt nhất cho việc mở mang trí tuệ của con người, nâng con người lên trở thành có lí trí, phẩm hạnh và mang tính xã hội”! Khi tôi chép vừa xong điều 19 thì bạn tôi điện thoại cho hay, báo Dân Trí vừa đưa tin: Sở Giáo dục Quảng Nam buộc thôi việc cô giáo dạy văn cấp ba Nguyễn Thị Bích Hạnh, bởi cô đã chỉ cho học sinh cách tự học, tìm tòi phân tích thông tin trên các trang web của talawas, Tiền Vệ. Như vậy là quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức ở điều 19 đã không được chấp nhận! Có phải lý do chính là “không để tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”? Có lẽ toàn dân Việt Nam đều đồng ý với Bộ Chính Trị là phải ngăn chặn mọi hành vi gây tổn hại lợi ích đất nước. Nhưng tại sao tất cả các quốc gia tiên tiến, hiện đại trên thế giới đều thực hiện điều 19 đấy mà không bị gây tổn hại lợi ích đất nước của họ? Dân tộc ta kém thiên hạ điều gì chứ lòng yêu nước thì đâu có thua ai? Nếu luật pháp Việt Nam chưa đủ chặt chẽ để ngăn chặn các hành vi lợi dụng chi phối ấy thì chúng ta nên gấp rút hoàn thiện luật pháp để thực thi cho được điều 19, sẽ tốt hơn gấp trăm lần cấm đoán! Hay là chúng ta sợ mình không đủ lý lẽ chống lại sự ngụy biện xuyên tạc của kẻ xấu? Trong lịch sử không có chính nhân quân tử nào lại sợ kẻ xấu cả! Ngụy biện xuyên tạc là hành vi mờ ám, chỉ cần soi ánh sáng sự thật là nó sẽ vỡ vụn ngay. Chẳng lẽ chúng ta sợ những ý kiến phản biện? Tôn trọng ý kiến khác biệt thì phải chấp nhận tranh luận, để tìm ra chân lý! Người lớn, cấp cao chịu làm như vậy không hề hạ thấp mình mà càng được khẩu phục tâm phục. Nếu như vụ Bauxite được cho công khai tranh biện trên tất cả các báo thì trí tuệ Việt Nam được nhân lên, mọi ngờ vực tan biến và uy tín của lãnh đạo sẽ nâng cao, rất cao. Tại sao Bộ Chính trị không làm như vậy? Bộ Chính trị của khóa 10 này đã có những hành xử rất đáng lo ngại. Chắc vì chẳng những không coi trọng nguyện vọng của người dân mà còn nhiều lần bỏ ngoài tai những góp ý, kiến nghị của các bậc đại công thần, đại trí tuệ của chế độ, những người mới hôm qua còn là những bậc thầy cao không với tới đối với họ như Võ Nguyên giáp, Võ Văn Kiệt. Đáng nói hơn là những kiến nghị của các cụ được nhân dân cả nước đánh giá là rất sáng suốt, hết lòng vì nước vì dân. Hàng ngàn trí thức, hàng vạn người dân hưởng ứng những lá thư tâm huyết của đại tướng, vậy mà các vị vẫn phớt lờ. Cách hành xử đó tồi tệ và độc đoán nhiều lần so với việc các vua Trần, vua Nguyễn bác bỏ “Thất trảm sở” của Chu Văn An, “tám điều cấp cứu” của Nguyễn Trường Tộ. Mặc dù vậy, tôi vẫn không muốn tin câu nói này của Frederick Douglass có thể đang ám những người lãnh đạo của nước Việt Nam đã trải qua 64 tuổi “dân chủ”: “Trong các quyền con người, quyền biểu tỏ ý kiến là nỗi kinh hoàng của các hôn quân bạo chúa, là thứ quyền mà chúng phải ra tay triệt hạ đầu tiên.” Tôi vẫn cứ muốn tin rằng thời của bạo chúa đã qua từ lâu rồi và chính đảng Cộng sản Việt Nam từng tự hào góp phần chôn vùi nó ở đất nước này! Tôi vẫn muốn tin rằng nhân dân ta đang thực sự xây dựng một chế độ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Tôi vẫn muốn tin rằng từ dân chủ trong câu trên có ý nghĩa thực chất chứ không phải để làm cảnh. Nhưng đã có quá nhiều sự thật nhơ nhớp xếp đầy trí nhớ tôi, giờ đây thêm sự thật Bauxite khổng lồ sặc mùi máu mê của những con bạc, lộ nhiều toan tính gian manh, lại đầy nghi vấn âm mưu “cõng rắn”! Làm sao tin được đây? “Không có tự do báo chí thì sẽ chẳng còn gì ngoài sự tồi tệ” (Albert Camus). Nếu Đảng tự tin rằng mình đang nắm được chân lý và rất trong sáng trước nhân dân thì hãy đường hoàng thực hiện tự do báo chí. Đó là lửa thử vàng, là cơ sở tạo niềm tin cho nhân dân. (Tôi viết bài này với bút danh Thiện Ý gửi đăng trên Talawas Nhân 21/6 ngày báo chí cách mạng của nước Việt Nam Cộng sản năm 2009.) Posted on Tháng Mười 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-67-dieu-19-cua-iccpr/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (68): https://www.minds.com/newsfeed/1020239355225538560?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (66): https://www.minds.com/newsfeed/1020237711308042240?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (66) Hồi ký Tống Văn Công Nhà báo là chiến sĩ Nhà báo được đảng Cộng sản vinh danh là “những chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hoá tư tưởng”. Vinh dự này khiến cho nhiều người không tích cực trao dồi nghề nghiệp mà chỉ cố nâng cao lập trường tư tưởng. Cứ đọc lại báo chí Việt Nam hồi cải cách ruộng đất và chống Nhân văn Giai phẩm sẽ thấy các chiến sĩ xung kích đã bóp méo sự thật, vu khống trắng trợn như thế nào để biến hàng ngàn người dân vô tội trở thành bọn cường hào gian ác, biến ông Nguyễn Hữu Đang, nhà yêu nước lão thành (người thiết kế và chỉ đạo thi công lễ đài Ba Đình cho kịp buổi lễ tuyên ngôn độc lập 2/9/1945), nhà báo, học giả Phan Khôi, một nhà báo lỗi lạc, nhà văn Thụy An trở thành những tên gián điệp nguy hiểm! Những cây bút không “xung kích” theo đúng mục tiêu của Ban Tuyên huấn Đảng đều bị loại bỏ từng thời kỳ. Sau giải phóng miền Bắc, nhà báo Hiền Nhân và nhiều cây bút của Hà Nội trước kia phải cất bút. Sau khi báo Tin Sáng hoàn thành nhiệm vụ, đội ngũ này được phân loại, chỉ cho một số ít người được tiếp tục làm báo. Chủ nhiệm báo Ngô Công Đức, tổng biên tập Hồ Ngọc Nhuận được mời một cách lịch sự đi làm công việc khác. Ông Nhuận được làm Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, nghe có vẻ sang trọng nhưng là để vô hiệu hóa cây bút báo chí sắc bén và trung thực này. Nhiều cán bộ báo chí từ “phong trào” nhưng trong quá trình làm việc tỏ ra không tuân thủ sự chỉ đạo của Tuyên huấn Đảng cũng bị loại khỏi “đội ngũ xung kích” như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Kim Hạnh, Thế Thanh…, nhà văn Nguyên Ngọc, vì viết bản “Đề dẫn” đòi mở rộng tự do sáng tác và cho đăng Nguyễn Huy Thiệp phơi bày ung bướu trong cơ thể “xã hội chủ nghĩa tốt đẹp”, phải bị bãi chức. Chỉ vì bênh vực ông Nguyên Ngọc, nhà thơ kiêm nhà báo Bùi Minh Quốc đã bị khai trừ khỏi Đảng và treo bút. Năm 1994, làng báo Việt Nam xảy ra chuyện ầm ĩ ở báo Lao Động. Bốn cán bộ cốt cán của báo là tổng thư ký tòa soạn Lý Quý Chung, trưởng ban kinh tế xã hội Trần Trọng Thức, chánh văn phòng Nguyễn Hữu Tính, cây bút phiếm luận Ba Thợ Tiện (tức Hoàng Thoại Châu từng được giải nhất về thơ thời đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà) đề nghị tổng biên tập chọn giữa bốn người họ, hoặc ông Hồng Đăng phó tổng biên tập, vì ông này hách dịch tới mức anh em không chịu nổi. Hồng Đăng phản công lại bằng cách bắn tin với tổng cục 2 (tình báo thuộc Bộ Quốc phòng) rằng ở báo Lao Động có một nhóm âm mưu thực hiện diễn biến hòa bình. Vậy mà Bộ Chính trị sợ hãi, ra quyết định không cho một số người, trong đó có tổng biên tập tiếp tục làm báo! Có những người đã được coi là đạt tiêu chuẩn làm báo, nhưng sau đó vì có quan hệ với người không được tin cậy thì cũng phải bị loại. Ông Nguyễn Ngọc Lan không cùng quan điểm với Đảng về vụ Phong thánh Tử đạo thì vợ ông, bà Thanh Vân, dù đang là cây bút đắc lực của tờ Tin Quận 5 cũng phải bị sa thải. Trong “Nhật ký 1990 – 1991”, Nguyễn Ngọc Lan viết theo lời chị Thanh Vân: chỗ làm vẫn cần, nhưng có quyết định cho nghỉ việc của Ủy ban Nhân dân Quận và Quận ủy. Tru di tam tộc đó mà. Ông trưởng phòng và bà phó phòng đùn đẩy nhau việc đưa tờ giấy quyết định nghỉ việc cho nhà báo Thanh Vân, vì thấy nó kỳ cục quá, không mở miệng được. Các bạn đồng nghiệp thì được một bữa khóc. Ông Trần Trọng Thức nhiều năm là giáo viên thỉnh giảng của khoa Báo Chí trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh nhận xét nội dung đào tạo người làm báo như sau: Chương trình đại học báo chí không coi trọng đúng mức phần nghiệp vụ báo chí. Trong 194 đơn vị học trình, chỉ có 30 đơn vị học trình cho các môn tác nghiệp báo chí. Các thể loại thông tấn chỉ có bốn đơn vị học trình. Chính vì phải đào tạo “nhà báo là chiến sĩ sắc bén về tư tưởng”, cho nên các học phần về triết học, chính trị Mác-Lê được đặt cao hơn các bài học về nghiệp vụ. Học viên báo chí được tuyển với tiêu chuẩn chính trị (lý lịch gia đình, quan điểm lập trường), cao hơn nghề nghiệp, cho nên có 50% không có năng khiếu làm báo, có 20 % số người tốt nghiệp đại học báo chí không viết được bài. Từ sau 30/4/1975, báo chí cách mạng có gì mới? Xin nói rằng: có! Báo chí miền Bắc trước 1975 là hóa thân của loại truyền đơn tuyên truyền. Những sự kiện lớn như Đại hội Đảng, kỳ họp Quốc Hội, các báo chỉ được phép đăng lại đúng bản tin của Thông Tấn xã Việt Nam. Điều đặc biệt mới mẻ sau 1975 là sự có mặt của tờ nhật báo Tin Sáng và tạp chí Đứng Dậy. Mặc dù cũng phải lựa lời mà nói theo cái khuôn của Ban Tuyên huấn Đảng đưa ra, Tin Sáng có cách viết mới mẻ gần với sự thật hơn những đứa con ruột của Đảng. Đương nhiên tờ Tin Sáng có số phát hành cao hơn báo Đảng. Đó là điều chế độ không thể chấp nhận. Sau khi Tin Sáng “hoàn thành nhiệm vụ”, Ban Tuyên huấn của Đảng sàng lọc những người ít gai góc, đưa về tăng cường cho hai tờ báo Sài Gòn Giải Phóng và Tuổi Trẻ. Nhóm về Tuổi Trẻ nhanh chóng biến tờ báo này từ một tờ nội sang của Thành Đoàn trở thành một tờ báo thông tin đa dạng, sinh động. Sở dĩ nhóm này làm được điều đó là do có hai nhà báo giỏi là Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức. Nguyên nhân thứ hai không kém quan trọng là ông tổng biên tập Võ Như Lanh (vào nghề từ việc làm nội san của phong trào sinh viên) đã mạnh dạn giao việc cho các anh có nghề. Trái lại, bên báo Sài Gòn Giải Phóng tổng biên tập vốn là tổng giám đốc Thông Tấn xã Giải phóng, đương nhiệm phó trưởng ban thứ nhất Ban Tuyên huấn Thành ủy, người từng có lý thuyết “lợi ích cách mạng cao hơn sự thật”, đâu có thể để cho các nhà báo chế độ cũ vậy mình phải làm báo như thế nào! Tờ Tuổi Trẻ không lâu sau đã được bạn đọc vồ vập. Ban đầu bạn đọc của nó là sinh viên, học sinh, dần dần nó giành cả bạn đọc là cán bộ, đảng viên của báo Đảng, khiến báo chí cả nước nhìn vào đó để học hỏi đổi mới nội dung và hình thức. Tuy vậy những “ông thầy” ở đây vẫn không được quý trọng. Chị Kim Hạnh, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ (sau ông Võ Như Lanh), đã từng thổ lộ: Quản lý các anh này luôn bị trên đe dưới búa. Cấp trên thì lo ngại dò xét, còn các anh thì hay đấu tranh khi có những bài bị gác không thỏa đáng. Cuối cùng số đông trong ban biên tập muốn tờ báo khỏi bị soi mói vì sự có mặt của các nhà báo chế độ cũ. Thế là xảy ra cuộc di cư của hai ông thầy Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức và kéo theo họ có bảy học trò từ Tuổi Trẻ xin sang Lao Động, đưa tới sự ra đời báo Lao Động Chủ Nhật năm 1990 nổi tiếng một thời. Trước đó, báo Lao Động chỉ bán cho các tổ chức công đoàn mua bằng tiền kinh phí. Sau khi nhóm anh em này về, nhiều cây bút xuất sắc cũng kéo nhau về, biến Lao Động thành tờ báo mạnh nhất của báo chí ở cấp trung ương của Việt Nam, tấm gương đổi mới cho báo chí cả nước. Tiếc thay nó bị nghiêng đổ bởi một lý do không đâu như đã kể ở trên. Hai người góp phần to lớn đổi mới báo chí cách mạng Việt Nam là Lý Quý Chung và Trần Trọng Thức không được ghi nhận. Ngay ở Tuổi Trẻ những ngày kỷ niệm thành lập tờ báo cũng không ai đánh giá đúng công lao của họ. Tuy nhiên, khi tự do báo chí chỉ là hình thức thì những cố gắng đổi mới thật ra cũng chỉ là hình thức, không có mấy thực chất. Cái được nổi bật nhất trong những năm đầu đổi mới là đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, quan liêu. Tuy nhiên quan liêu, tham nhũng không hề yếu đi mà ngày càng mạnh lên. Sau năm 2000, báo chí lép vé dần trước tham nhũng, cho tới khi xảy ra sự kiện hai nhà báo chống tham nhũng bị bắt, bị xử tù thì thế thượng phong của báo chí chống tham nhũng đã chấm hết. Qua 20 năm đổi mới, báo chí cách mạng Việt Nam đang đứng trước hiện trạng sau đây: 1. “Báo chí công cụ” đã làm cho những người làm báo Việt Nam ngày càng thụ động, không có suy nghĩ độc lập, thui chột năng lực sáng tạo. Người viết xã luận thì nhai đi nhai lại nghị quyết của Đảng, bài năm nay na ná bài năm ngoái. Người viết điều tra thì chỉ dựa vào kết luận của cơ quan công an. Một lớp nhà báo thiếu lòng yêu nghề chỉ hám chức tước, bổng lộc. Miệng thì nói phục vụ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thực bụng là nhằm mục tiêu trở thành những ông “quan báo”. Trong tình trạng đạo đức băng hoại, không ít nhà báo móc ngoặc làm tiền, trở thành giàu có một cách phi pháp. Từ chỗ chỉ làm công cụ của Đảng, báo chí bắt đầu làm công cụ cho các “đại gia”, bị họ sai khiến và khinh rẻ. Một phóng viên Thông Tấn xã Việt Nam đã bị con rể bà Tư Hường (một đại gia và là bạn của nhiều nhân vật lãnh đạo cao nhất nước) tát giữa tiệc chiêu đãi mừng thành công cuộc thi Hoa hậu Thế giới. Chủ tịch hội nhà báo Việt Nam Đinh Thế Huynh có công văn yêu cầu phải làm rõ, xử lý nghiêm vụ này trước pháp luật để bảo vệ nhà báo. Nhưng vụ việc đến nay hơn một năm đã lặng lẽ chìm xuồng. 2. Hội nhập thế giới sâu rộng, bị tấm gương của nhiều nền báo chí tự do tương phản làm cho báo chí Việt Nam lộ rõ sự lạc hậu rất tệ hại trước trào lưu dân chủ, nhân quyền. Một đất nước có hơn 800 tờ báo mà luôn luôn bị các tổ chức nhân quyền quốc tế lên án là không có tự do báo chí. Hiện có gần trăm tờ báo của các đảng bộ tỉnh, thành phố in ra đem phát không, rồi đem bán ve chai. Nhà báo cộng sản lão thành, ông Nguyễn Văn Tuấn, nguyên Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đã phải kêu lên trong quyển sách ông viết có tựa đề “Kính gửi Mẹ và Quốc Hội”: Xin cho được tự do báo chí bằng với thời đô hộ của thực dân Pháp! 3. Tự do kinh tế đã tạo ra lớp doanh nhân đông đảo. Càng ngày càng có nhiều con em của người có tiền được gửi đi du học ở các nước tiên tiến. Xã hội Việt Nam đang hình thành một tầng lớp trí thức trung lưu có yêu cầu cao về quyền được thông tin kịp thời, chính xác, đa dạng. Lớp người này phải tìm đến các nguồn thông tin của báo, đài nước ngoài, các tờ báo mạng, các blog. Họ sẽ là lực lượng ngày càng lớn mạnh đòi hỏi một nền báo chí tự do. Trong bài viết “Vì sao đạo đức băng hoại”, tôi cho rằng đạo đức cách mạng xung khắc với “đổi mới”. Nay lại xin nói: báo chí cách mạng cũng xung khắc với “đổi mới”! 4. Để thoát khỏi sự kềm kẹp tự do báo chí, một phong trào viết blog xuất hiện. Các địa chỉ blog được đông đảo người đọc tin cậy tìm đọc như Blog Osin của nhà báo Huy Đức. Tiếp theo đó là các mạng xã hội, một luồng gió tự do từ các blogger, từ mạng xã hội, như Facebook của Hương Trà (Cô Gái Đồ Long), nhạc sĩ Tuấn Khanh…, đang thổi bùng lòng khát khao quyền được thông tin của nhân dân từ lâu bị bưng bít, khiến cho nỗi bức xúc căng lên. “Đây chính là một quyền lực thứ năm”. (Thế giới phẳng, Thomas L. Friedman). “Hoàn toàn có tự do, nếu đi đúng lề đường bên phải!” Nói như vậy không khác nào bảo hãy vào nhà giam đi, ở trong đó sẽ tha hồ mà tự do! Có lẽ, trong công cuộc “đổi mới” ở Việt Nam, báo chí là một ngành vận hành theo chiều ngược, tức là càng ngày càng bị siết lại. Giữa năm 2008, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng truyền đạt ý kiến Bộ Chính trị, gồm mấy ý lớn sau đây: – Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước. – Kiên quyết đình chỉ các cơ quan báo chí không chấp hành đúng pháp luật, không thực hiện đúng tôn chỉ mục đích. – Việc xem xét xử lý sai phạm của các cơ quan báo chí phải được thực hiện đồng bộ giữa xử lý kỷ luật về chính quyền đi đôi với xử lý kỷ luật về Đảng, xử lý người trực tiếp có sai phạm gắn với xử lý trách nhiệm của người đứng đầu và người có liên quan. Từ tư tưởng chỉ đạo ấy mà có sự lựa chọn bộ trưởng. Ông Lê Doãn Hợp là mẫu người thích hợp. Ông này ăn nói thô bạo không cần giữ ý: “Tổng biên tập là người Bộ Thông tin và Truyền thông sau này cắm ở từng tờ báo”. (Nhà thơ Hoàng Hưng gọi đây là dòng ý nghĩ đen). Ông tuyên bố sẽ quản lý chặt cả báo mạng và các blog cá nhân. Là người chỉ huy đội quân chữ nghĩa của một đất nước ngàn năm văn hiến, nhưng ông ăn nói không cần chọn từ ngữ chuẩn xác, cứ nói văng mạng như một kẻ vô học. Trong cuộc giao lưu trực tuyến với nhân dân, ông Bộ trưởng đã giải thích quản lý báo chí là: “Quản một cách có lý, bao gồm cả đạo lý và nguyên lý. Đạo lý là ủng hộ người tốt, răn đe người không tốt. Nguyên lý là tạo hành lang cho người ta hành động”. Nhiều ý kiến trên mạng cho rằng ông nói nghe thật dốt nát và buồn cười. Sự quản lý của ông hợp theo tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị đã làm cho báo chí cách mạng Việt Nam mấy năm qua có nhiều biểu hiện không bình thường. Vụ báo chí Nhật Bản đưa tin công ty PCI của họ hối lộ quan chức Việt Nam Huỳnh Ngọc Sỹ, sau mấy tuần lễ, báo chí Việt Nam vẫn im như thóc không dám đưa tin vì chưa có lệnh tuyên huấn! Bạn đọc châm biếm hỏi: “Phải chăng công khai sự thật tức là đi ra ngoài hành lang của ông Lê Doãn Hợp?” Vụ khởi tố nữ phóng viên Lan Anh của báo Tuổi Trẻ là mở đầu đánh vào nhà báo chống tiêu cực, đối tượng từ lâu được khuyến khích và bảo vệ. Bị dư luận phản đối dữ dội, vụ án phải đình chỉ, phóng viên Lan Anh thoát nạn. Năm 2008, vụ án khởi tố hàng loạt phóng viên của nhiều tờ báo đưa tin về vụ tham nhũng ở PMU 18 với tội danh làm lộ bí mật nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ. Cũng như Lan Anh, các nhà báo trong vụ án này đều là những người trung thành với lý tưởng làm báo cách mạng, quyết lôi bọn tham nhũng ra ánh sáng, làm trong sạch bộ máy Đảng và nhà nước. Nhà báo Nguyễn Việt Chiến trước tòa vẫn khăng khăng rằng mình không có tội mà chỉ có quyết tâm chống tham nhũng. Các ban biên tập báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên và nhiều đồng nghiệp của họ đã hăm hở viết bài bảo vệ họ. Việc làm đó đã bị dập tắt ngay lập tức. Tất cả báo chí cả nước im phắc cùng một ngày. Tiếp theo là án tù ngồi cho người không tự biết mình có tội (Nguyễn Việt Chiến) tù treo cho người biết nhận tội (Nguyễn Văn Hải). Tiếp theo nữa là tước quyền hành nghề của các phó tổng biên tập, tổng biên tập của các báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ, những người đã viết bài hoặc duyệt bài bảo vệ những người bị bắt. Nhà báo Uyên Vũ cho rằng vụ tước quyền hành nghề của bảy nhà báo một lúc có thể so sánh với vụ Nhân văn Giai phẩm, chỉ có điều khác xưa là họ không bị “đấu tố” và “ném đá” bởi các đồng nghiệp! Phó tổng biên tập Bùi Thanh của Tuổi Trẻ, một nhà báo đầy “lý tưởng cách mạng” bị cách chức trong vụ này đã ngơ ngác hỏi “vì sao?” khi nhìn các đồng nghiệp tử tế và trong sáng của mình bị xe cảnh sát đưa vào nhà giam. Ông lại tiếp tục ngây thơ khi viết trên blog: “Đừng nản lòng, hãy vì những trang báo sống động ngày mai, vì bạn đọc của mình!” Trong khi đó, trả lời câu hỏi “Liệu vụ án này có làm sa sút ý chí chống tham nhũng của các nhà báo?” Ông Đinh Thế Huynh ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, kiêm tổng biên tập báo Nhân Dân tỉnh bơ trả lời: “Làm sao lại có thể sa sút được! Bởi vì chống tham nhũng là một kênh của báo chí cách mạng!” Có hai nhận định đáng lưu ý về vụ này là: – Nhà báo Huy Đức cho rằng vụ án cho thấy các nhà báo Việt Nam không có nghiệp vụ báo chí để tiến hành điều tra độc lập mà chỉ dựa vào cơ quan điều tra và tin rằng đó là tư liệu hoàn toàn chính xác. Vụ án cũng cho thấy tư pháp Việt Nam bất cập khi kết tội các nhà báo viết bài bởi động cơ trong sáng không vụ lợi và tin chắc rằng tư liệu mình có trong tay là sự thật. – Ký giả Trần Tiến Dũng cho rằng vụ án này là dấu chấm hết của báo chí lý tưởng, bởi nó đã đánh vào những nhà báo tự nguyện làm công cụ của Đảng để thực hiện lý tưởng cách mạng! Ngẫm ra nhận định này không phải không có cơ sở. Thực tế cho thấy tham nhũng đã xâm nhập vào các cấp cao nhất của guồng máy Đảng và nhà nước khiến cho họ không có cách nào khác là phải bẻ gãy những cây bút công cụ đang chỉ vào chính những ông chủ! Năm 2008, báo chí Việt Nam vốn ngoan ngoãn với chức năng công cụ, đã bị trừng phạt nặng nề: 6 cơ quan báo chí bị cảnh cáo, 252 trường hợp bị khiển trách, 15 nhà báo bị tịch thu thẻ hành nghề, trong đó có hai tổng biên tập, 4 phó tổng biên tập, 6 nhà báo bị khởi tố, 2 nhà báo vào tù. Mới đây, nhà báo, văn nghệ sĩ lại bị trấn áp với tội danh mới, tội yêu nước! Đó là vụ ông Nguyễn Trung Dân, phó tổng biên tập báo Du Lịch Việt Nam bị cách chức, thu thẻ nhà báo vì đăng tin bài chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Một số nhà báo, văn nghệ sĩ bị bắt, bị thẩm vấn và gây khó khăn trong cuộc sống vì đã tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm đảo biển tổ quốc. Đạo diễn Song Chi, một blogger có nhiều bài viết mạnh mẽ đã phải rời đất nước xin đi nạn chính trị ở Na Uy, được nước này tiếp nhận như là một guest writer (khách văn). Bà Song Chi cho biết sau khi bị bắt vì tội biểu tình chống Trung Quốc bà bị gây khó không thể làm việc được. Đây quả là một bi kịch của báo chí cách mạng Việt Nam! Mới đây nhà báo Nguyễn Chính trong bài viết “Báo và blog và bầu trời” kể rằng mười lăm năm trước khi ông nói báo Nhân Dân là tờ báo mà nhân dân ít đọc nhất đã bị ông Đinh Thế Huynh, Chủ tịch Hội đồng Khoa học báo Nhân Dân, bực dọc vặn lại: “Nói thế là không được! Xin hỏi anh Nguyễn Chính, đó là nhân dân nào?” Nay ông Huynh đã lên tổng biên tập và kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác. Nhưng báo Nhân Dân thì vẫn giữ vững kỷ lục là tờ báo ít nhân dân mua nhất! Nhà báo Trương Duy Nhất cho rằng không chỉ báo Nhân Dân không có người đọc mà nói chung ngày nay “đọc báo giấy chán bỏ mẹ!” Bạn đọc Việt Nam, nhất là số người có học, đang tìm thông tin trên các mạng xã hội, các blog. “Đọc báo giấy chán bỏ mẹ!” Đó chính là hậu quả của cách quản lý “hoàn toàn có tự do nếu đi đúng lề bên phải” của ông Lê Doãn Hợp! Hậu quả đó được giảng viên Đại học Sư phạm kiêm nhà báo Hà Văn Thịnh miêu tả như sau: “Còn nếu quý vị có ai đó đã từng viết báo sẽ biết là rất nhiều câu chữ người ta đọc qua điện thoại cho tôi, và chúng phải có. Vấn đề là lách như thế nào để rồi người đọc hiểu đến đâu là câu chuyện quá dài. Nói là bồi bút thì cũng phải, không sai. Thế nhưng cần phải lật ngược vấn đề rằng có ai ăn lương hiện nay mà không từng một lần làm bồi bút?” Chao ơi, có đau đớn không, khi chính sách của đảng cầm quyền từng được tung hô “quang vinh muôn năm” lại biến những người cầm bút của báo chí cách mạng vốn được giao thiên chức xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng trở thành những tên bồi bút! Và càng đáng sợ hơn là người ta có thể nói ra điều nhục nhã đó một cách thản nhiên. Vậy thì người đọc của dân tộc anh hùng này đang đi theo cái định hướng để trở thành những tên bồi gì đây? Posted on Tháng Mười 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-66-nha-bao-la-chien-si/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (67): https://www.minds.com/newsfeed/1020238720285253632?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (65): https://www.minds.com/newsfeed/1020235546598387712?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·