ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (65) Hồi ký Tống Văn Công Báo chí nói tiếng nói của ai? Báo chí là công cụ của Đảng! Nguyên lý đó những người làm báo Việt Nam đều phải thuộc nằm lòng. Kỷ niệm Ngày Nhà báo Việt Nam, trước một tuần, trên truyền hình HTV ra rả bài hát tuyên truyền: Nhà báo nhà báo Việt Nam, một lòng trung thành với Đảng. Sau đổi mới, ông tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã có sáng kiến quan trọng thêm cho báo chí Việt Nam mệnh đề thứ hai: “Là diễn đàn của quần chúng”. Một vài cán bộ báo chí quá say sưa với đổi mới cứ tưởng cái diễn đàn của ông Linh đã hoàn toàn chấp nhận tự do tư tưởng, nhà báo có thể phản biện mọi chính sách đã ban hành. nhầm lẫn đó khiến không ít người phải trả giá. Trong cuộc hội nghị quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương (khóa 6) ở buổi thảo luận tổ, ông Bùi Tín, khi đó là phó tổng biên tập báo Nhân Dân kể, ông rất khó trả lời khi các đồng nghiệp Phương Tây hỏi vì sao đảng Cộng sản Việt Nam không chấp nhận đa nguyên? Ông Bùi Tín cho rằng Đảng nên chấp nhận đa nguyên để thực hiện dân chủ. Theo ông, thực tế Việt Nam đã có những yếu tố đa nguyên: đảng Cộng sản, đảng Dân chủ và đảng Xã hội hợp tác với nhau rất tốt đẹp; Mặt trận Tổ quốc gồm nhiều đoàn thể có những tiếng nói khác nhau; các tờ báo của mọi giới, mọi từng lớp thể hiện những mong muốn rất đa dạng. Ông Bùi Tín nói dài hơn 30 phút, được toàn tổ gồm những tổng biên tập báo, đài phát thanh, đài truyền hình lắng nghe. Tổ trưởng tổ này là ông Thái Linh, phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương không ngắt lời mà có vẻ khuyến khích ông Bùi Tín. Không ai ngờ trong buổi tổng kết hội nghị, ông Đào Duy Tùng, ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách cả khối tuyên huấn, báo chí, văn nghệ đã cao giọng phê phán: thật đáng chê trách là tại cuộc họp gồm toàn cán bộ cốt cán của Đảng mà lại có một đồng chí nồng nhiệt cổ vũ thực hiện đa nguyên! Đồng chí đó không biết rằng đa nguyên là hình thức dân chủ mị dân của chủ nghĩa tư bản. Đòi đa nguyên được, rồi sẽ đòi đa đảng! Hôm đó ông Bùi Tín ngồi ở hàng ghế gần cuối hội trường, rất ít người nhìn thấy ông hai tay chống cằm, mặt cúi gằm, mớ tóc dài rũ xuống hai vai, không biết ông đang bực tức hay ngượng ngùng, nhưng vẻ thiểu não thì lộ rõ. Ít lâu sau, nhân có cơ hội đi công tác sang Pháp, ông Bùi Tín đã trình bày một cách có hệ thống quan điểm của mình trong bài trả lời đài BBC Việt ngữ. Thật ra, trước đó ở trong nước đã có nhiều người từng nói những điều ông Bùi Tín nêu ra như các ông Trần Xuân Bách, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Hộ, Phan Đình Diệu…). Năm 1989, nhân dịp đi công tác ở Bắc Triều Tiên, bà Kim Hạnh tổng biên tập báo Tuổi Trẻ đã viết một bài bút ký miêu tả rất sinh động tệ sùng bái cá nhân ở đất nước này đối với lãnh tụ Kim Nhật Thành. Tờ Tuổi Trẻ đăng bài bút ký của bà vừa phát hành thì Bắc Triều Tiên lập tức gửi công hàm phản đối Việt Nam bôi nhọ lãnh tụ và nhân dân họ. Cuối năm đó, trong cuộc hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động báo chí do ông Đào Duy Tùng chủ trì, chuyện phản ứng của Bắc Triều Tiên được đem ra mổ xẻ. Ông Hà Xuân Trường, ủy viên Trung ương Đảng, tổng biên tập tạp chí Cộng Sản xin hiến kế. Ông Trường cho rằng sở dĩ Bắc Triều Tiên có cớ phản ứng bài báo của Kim Hạnh là do cơ chế quản lý báo chí của Đảng ta: “Báo là công cụ của Đảng, báo nói tiếng nói của Đảng”. Để tránh bị phản ứng kiểu này, Đảng nên thay đổi cơ chế quản lý báo chí: Đảng lãnh đạo báo chí, nhưng mỗi tờ báo có tiếng nói riêng của mình, chứ không phải chỉ nói tiếng nói của Đảng. Hình như ông Trường chưa nói hết ý mình nhưng tiếng đập bàn khá mạnh của ông Tùng đã cắt ngang lời ông. Ông Tùng với vẻ mặt giận dữ cố nén, gằn từng tiếng: “Đồng chí phụ trách cơ quan lý luận của Đảng, chẳng lẽ đồng chí quên rằng báo chí là công cụ của Đảng là một vấn đề có tính nguyên tắc? Tôi xin nhắc lại cho tất cả các đồng chí phải ghi nhớ: Báo chí là công cụ của Đảng, nói tiếng nói của Đảng! Nguyên tắc đó là bất di bất dịch, không bao giờ được phép thay đổi, không có đổi mới ở chỗ này!” Ông Hà Xuân Trường đỏ bừng mặt, im lặng. Ông Đào Duy Tùng hạ giọng: “Vấn đề của chúng ta là phải chọn những người có trình độ chính trị vững vàng làm tổng biên tập để không phạm phải những lỗi quá ấu trĩ”. Ông Hà Xuân Trường im lặng suốt buổi họp còn lại. Trước đây, ông Trường đã một lần bị hụt chân khi cùng với các ông Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Nguyễn Kiến Giang tán thành quan điểm “xét lại hiện đại” của tổng bí thư Kruchchev. Tất cả các ông kia đều phải vô tù, chỉ ông Trường mau mắn xin sám hối nên được thăng quan tiến chức. Lần này, Đảng không bỏ qua cho ông. Đại hội Đảng khóa 7, mặc dù ông hãy còn trẻ, khỏe hơn nhiều người khác, nhưng đã không được đề cử vào Ban Chấp hành Trung ương và phải trao lại chiếc ghế tổng biên tập tạp chí Cộng Sản cho ông Hà Đăng, dù ông này không có nhiều lý luận bằng ông. Bà Kim Hạnh lại phạm một lỗi mới không thể tha thứ, đó là đưa lên Tuổi Trẻ một tin rất cũ: Bác Hồ đã từng có vợ! Toàn thế giới đã biết chuyện này, nhưng người Việt Nam chưa được phép biết. Lần này bà bị cấm làm báo vô thời hạn! Nhưng thật đáng khen, bà đã có sáng kiến đẻ ra tờ Sài Gòn Tiếp Thị bằng cách nhẫn nại âm thầm đứng sau lưng một người khác. Thực hiện nghị quyết đại hội 6 Đổi mới của đảng, Quốc hội Việt Nam xây dựng Luật Báo Chí. Tại cuộc họp này, giáo sư Lý Chánh Trung, một cây bút báo chí nổi tiếng trước 1975 (với những bài viết chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đặc biệt có bài viết ca tụng chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc vĩ nhân khi cụ từ trần) đề nghị cho xuất bản báo chí tư nhân, đúng tinh thần của hiến pháp và phù hợp với xu thế mở rộng dân chủ, hội nhập. Có lẽ giáo sư không thể ngờ vấn đề ông đặt ra là gây bực tức cho các nhà lãnh đạo của Đảng đối với ông, đặc biệt là tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Người chống lại ông mạnh mẽ nhất không phải các đảng viên là đại biểu Quốc hội mà là bà luật sư Ngô Bá Thành, người đồng đội của ông ở nội thành ngày nào. Cũng khoảng thời gian này, với tư cách Phó Chủ tịch Liên hiệp Các Hội Khoa học Kỹ thuật, giáo sư Trung tổ chức cho nhà văn trẻ Dương Thu Hương nói về quyển tiểu thuyết “Những thiên đường mù” đang gây xôn xao dư luận bởi động tới một đề tài cấm kỵ trước “đổi mới”. Ông đã không ngờ, quyển sách này bị coi là vượt xa ranh giới “đổi mới”, một quyển sách chống Đảng! Giọt nước tràn ly. Giáo sư không được Mặt trận Tổ quốc để cử vào danh sách Quốc Hội khóa kế tiếp. Tệ hại hơn, đầy đó râm ran rằng lợi dụng tình hình Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, một số phần tử thuộc lực lượng thứ ba đang âm mưu diễn biến hòa bình, cụ thể là giáo sư Lý Chánh Trung tạo diễn đàn cho nhà văn phản động Dương Thu Hương chửi Đảng, rồi dùng diễn đàn Quốc Hội đòi cho ra báo tư nhân. Tại trường cán bộ cao cấp quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh nói toẹt câu chuyện trên nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cho các sĩ quan. Ông Bộ trưởng đang hùng hồn thì bất ngờ một sĩ quan trẻ đập bàn hét lớn: “Nói láo!” rồi đứng lên rời khỏi hội trường. Lập tức cảnh vệ đuổi theo đưa anh gặp đại tá phó hiệu trưởng. Đó là đại úy Lý Tiến Dũng, quân nhân có quân hàm thấp nhất cuộc họp, vừa mới từ chiến trường chống bọn diệt chủng Pol Pot trở về. Trả lời ông đại tá, Lý Tiến Dũng nói: “Nếu ban nãy ngồi đối diện với ông ấy, tôi đã cho một cái tát! Bởi vì tôi không thể ngồi nghe kẻ nào chửi cha mình”. Sau đó, anh cởi áo lính, đi tập viết báo. Hơn 10 năm sau, anh trở thành một cây bút chính luận sắc bén, rồi trở thành tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết và nổi tiếng vì dám quyết định đăng thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu không phá bỏ Hội trường Ba Đình, sau khi đã có lệnh cấm của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng (có 9 tờ báo không dám đăng lá thư này). Anh bị bãi chức tổng biên tập bởi đi không đúng lề phải của ông Lê Doãn Hợp, lại còn viết bài xài xể phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Hồng Vinh là người thiếu năng lực và không có tư cách (Hồng Vinh cũng là người không cho báo Quốc Tế của Bộ Ngoại giao đăng bài của ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt chất vấn, nhưng không được trưởng Ban Tuyên huấn Nguyễn Khoa Điềm trả lời. Trong cuộc họp hội đồng nhân quyền năm 2009, nhiều quốc gia yêu cầu Việt Nam cho xuất bản báo chí tư nhân, đã bị Việt Nam bác bỏ. Thật ra, dù cho ra báo tư nhân mà vẫn phải chịu sự chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản thì cũng không thực sự có tự do báo chí, không thoát khỏi chiếc kim cô công cụ. Những năm vận hành của tờ Tin Sáng sau 1975 đã chứng minh điều ấy. Tin Sáng không phải là tờ báo được thông tin tự do, bởi thường xuyên phải nhận chỉ thị “định hướng”. Thế mà Đảng vẫn không yên tâm, vẫn buộc nó sớm “hoàn thành nhiệm vụ”. Posted on Tháng Mười 12, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/12/tu-theo-cong-den-chong-cong-65-bao-chi-noi-tieng-noi-cua-ai/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (66): https://www.minds.com/newsfeed/1020237711308042240?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (64): https://www.minds.com/newsfeed/1020234125012013056?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (64) Hồi ký Tống Văn Công Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải Báo chí vô sản định hình ở Liên Xô sau Cách Mạng Tháng Mười. Năm 1920, trong thư gửi Emma Goldman nữ chính trị gia Hoa Kỳ, Lênin cho tự do ngôn luận là một thiên kiến tư sản. Như vậy có thể hiểu báo chí vô sản thoát ra khỏi trào lưu giành quyền tự do ngôn luận mà nhân loại đã đeo đuổi từ những năm 40 của thế kỷ 19. Báo chí vô sản, theo Lênin, có chức năng tuyên truyền, giáo dục, cổ động và tổ chức phong trào hành động cách mạng thực hiện thắng lợi các nghị quyết của đảng Cộng sản. Để làm tốt chức năng đó, báo chí vô sản phải theo định hướng tuyên truyền trong từng thời kỳ, do Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng chỉ đạo. Theo định hướng, tức là phải chọn sự thật nào có lợi và loại bỏ sự thật nào không có lợi cho mục đích tuyên truyền. Để làm tốt việc tuyên truyền theo định hướng, báo chí cách mạng liên tục đưa tin, bài về những điển hình người tốt việc tốt nảy sinh từ phong trào thi đua trên các mặt trận chiến đấu, lao động sản xuất, học tập rèn luyện để trở thành những con người mới vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nội dung nói trên cho thấy mấy điều: Đó là nền báo chí của một xã hội khép kín. Báo chí thực chất chỉ là công cụ truyền đạt mệnh lệnh từ trên (đảng, chính phủ) dội xuống, không có chức năng thông tin, không chấp nhận phản biện, không tự do ngôn luận. Cán bộ biên tập không xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, không nhằm đáp ứng quyền được thông tin của bạn đọc để chuẩn bị nội dung tờ báo. Họ căn cứ vào tiến độ tuyên truyền do cấp trên chỉ đạo để lập kế hoạch minh họa bằng các bài báo. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan viết: “Họ chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng chứ không phải trước độc giả. Và chỉ quan tâm tới mục tiêu hơn là nội dung các bài báo” (Nhật ký 1990, ngày 5-11). Không có tự do ngôn luận thì mọi truy tìm sự thật là bất khả (Charles Bradlaugh – nhà cải cách xã hội Anh). Báo chí vô sản tước bỏ, bóp méo và bưng bít sự thật nhằm phục vụ cho mục đích tuyên truyền. Do đó, lẽ ra là công cụ tốt nhất cho việc mở mang trí tuệ con người thì ngược lại nó là công cụ ngu dân! Trong cuộc họp báo đầu tiên sau khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ Obama nói: Một chính phủ lấn lướt báo chí, một chính quyền không phải đối mặt với giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ không phải là sự lựa chọn của nước Mỹ. Đối chiếu với câu nói đó, chúng ta thấy các báo chí vô sản ngược hẳn lại. Báo chí cách mạng Việt Nam theo hình mẫu báo chí vô sản của Lênin. Do đó chúng ta cùng xét xem nó đã gây những hậu quả gì cho xã hội và người đọc? Cách mạng và sự thật Trong các tập nhật ký, linh mục Nguyễn Ngọc Lan nhiều lần châm biếm các báo cách mạng cắt xén sự thật. Nhà xuất bản Tin (Paris) giới thiệu “Nhật ký 1988” của ông đặt câu hỏi: “Cái gì làm cho chúng ta tuy cùng một tiếng mẹ đẻ nhưng không cùng một ngôn ngữ? Cái gì làm chúng ta sợ sự thật?” Người viết bài này luôn dằn vặt bởi câu hỏi đó. Ở Việt Nam (cũng giống như các nước do đảng cộng sản lãnh đạo) để buộc cỗ xe báo chí đi đúng định hướng có đến bốn tay lái: Lái chính là Ban Tuyên huấn Đảng, 3 lái phụ là Bộ Thông tin Truyền thông, Cục An ninh Văn hóa Bộ Công an và cơ quan chủ quản tờ báo. Để làm tốt việc tuyên truyền theo định hướng, báo chí cách mạng liên tục đưa tin những người và việc điển hình xuất hiện trong quần chúng để cổ vũ phong trào cách mạng. Trong bài giảng về viết tin, ông Hoàng Tuấn, tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam kể: Hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, khi chưa tìm ra một điển hình nông dân giỏi hưởng ứng lời kêu gọi tăng gia sản xuất của chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã cho bịa ra câu chuyện về một người nông dân gương mẫu vỡ hoang trồng khoai sắn. Không ngờ chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tin đó, đã hỏi địa chỉ người nông dân để tặng thưởng huy hiệu. Ông Tuấn đành phải báo cáo thật là mình cho bịa ra “điển hình” để cổ vũ phong trào. Trong chiến tranh rất cần có những điển hình xả thân vì chiến thắng. Nhiều tên tuổi được báo chị loan truyền theo sự hướng dẫn của các chính ủy và ban tuyên huấn Đảng đã đi vào lịch sử. Có nhiều chuyện nghe cứ lung linh như huyền thoại, Nhưng không mấy ai muốn hoặc dám nghi vấn. Ví dụ như tại sao anh Phan Đình Giót không dùng vật gì mà lại lấy thân mình lấp lỗ châu mai? Gần 30 năm sau chiến tranh, nhân kỷ niệm lần thứ năm mươi chiến thắng Điện Biên Phủ nhà báo Lưu Trọng Văn đã hết sức công phu sưu tầm tài liệu viết một loạt bài đăng trên năm kỳ tạp chí Kiến Thức Gia Đình (phụ bản báo Nông Nghiệp Việt Nam) chứng minh rằng: Không có chuyện Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Không có chuyện Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo; Cũng không có chuyện (thời chống chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của Mỹ) giữa trận địa pháo Nguyễn Viết Xuân hô to: “Hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn!” Câu này chỉ là một câu được ghi trong nghị quyết của chi bộ đại đội pháo cao xạ! Tất cả các chiến sĩ nói trên đều chiến đấu rất ngoan cường, hy sinh rất anh dũng, góp phần cho chiến thắng. Tuy nhiên trước lúc hy sinh tất cả họ đều không có ai làm cái gì mà sau này các nhà báo đã tô vẽ. Những bài báo của Lưu Trọng Văn đăng trên một tạp chí ít người đọc nhưng đã làm cho ông Nguyễn Khoa Điềm, ủy viên Bộ Chính trị, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương tức giận phê phán gay gắt. Cũng năm đó, Lưu Trọng Văn trích “Hồi ký không tên” của Lý Quý Chung, đoạn kể ông Dương Văn Minh chủ động đầu hàng như là thực hiện một nhiệm vụ cao cả, đăng trên Nhà Báo và Công Luận cuối tháng (của Hội Nhà báo Việt Nam), số kỷ niệm 30/4. Báo này vừa phát hành đã bị thu hồi nhưng không cho đưa tin lý do bị thu hồi và bị đình bản. Lý do thu hồi thực sự là ở thời điểm đó chưa cho phép đề cao vai trò ông Dương Văn Minh, mà đề cao sức mạnh của các quân đoàn buộc ông Minh phải đầu hàng. (Dù đã được ông Võ Văn Kiệt đọc, ông Trần Bạch Đằng viết lời giới thiệu, quyển hồi ký này vẫn buộc phải biên tập và in lại). Mới đây, trong cuộc góp ý kiến cho một tờ báo đang sa sút, ông Xuân Cang nguyên tổng biên tập báo Lao Động tâm sự: ngay khi bước vào nghề làm báo ông đã dặn mình, bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải nói cho được sự thật. Ông kể, năm 1986 ông cho rằng bài viết của ông Lê Giản, nguyên giám đốc Nha Công an đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong bài có câu “nhà đã dột từ nóc rồi”. Vì câu nói đó, ông bị Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng dũa te tua. Người ta hỏi, ông không biết nói nóc nhà là ám chỉ Bộ Chính trị hay sao? (Thực ra nhà thơ Việt Phương là người đầu tiên có ý nghĩ này trong câu thơ “bùn đã vấy đến chín tầng mây”. Ông đã phải trả giá bằng những năm rời khỏi bàn viết trong dinh thủ tướng để lao động cải tạo tư tưởng). May do ông Xuân Cang, thời điểm này vừa bắt đầu “đổi mới” cho nên ông được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thông cảm cho làm bản kiểm điểm, tránh không được tái phạm. Ông Xuân Cang kết luận: “Cho đăng bài viết đó là không biết cách nói sự thật!” Người nghe lấy làm tiếc vì ông không cho biết trước cái sự thật “nhà đã dột từ nóc rồi” thì phải biết dùng cách nói nào để không bị dũa te tua? Chẳng lẽ cách tốt nhất là… cất bút? Trong tập “Hồi ký của các nhà báo lão thành” ở thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2003 có bài “làm báo không dễ” của tôi đã bị cắt sửa te tua. Tôi than “có lẽ mình phải viết thêm bài ‘viết hồi ký cũng không dễ’!” Ông Đinh Phong (nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hồ Chí Minh) là người biên tập thanh minh: Ông phải thông cảm cho cái khó khăn của tôi. Khi ông Phạm Dân chủ nhiệm Câu lạc bộ Nhà báo Cao tuổi đưa bài này sang cho tôi đã có lời răn đe: ‘Cậu muốn ở tù thì đăng nguyên văn bài này!’ Mình phải cố cắt bỏ, sửa chữa để đăng được bài cho ông đấy!” Bài hồi ký nói trên kể lại mấy bài báo viết những sự thật không được nhà cầm quyền bằng lòng: Một là chuyện ông La Ngọc Toàn, chủ nhiệm Hợp tác xã Cơ khí Đồng Tâm tham nhũng và đánh đập những xã viên dám tố cáo ông ta. Đảng bộ quận Gò Vấp bao che cho ông và giới thiệu ứng cử vào Hội đồng Nhân dân Thành phố khoá đầu tiên. Chuyện thứ hai là ông Nguyễn Văn Tài, giám đốc Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình phơi nắng công nhân và cắt tiêu chuẩn gạo của họ, nhưng được Nguyễn Văn Linh bao che. Nói về tác hại của việc kiểm duyệt, cắt xén sự thật, nhà văn Nga vĩ đại A. Solzhenitsyn đã viết: “Đây không chỉ đơn thuần là bóp nghẹt tự do mà là sự gắn xi vào trái tim dân tộc đó, xóa bỏ ký ức của dân tộc đó”. Vì vậy rất cần phục hồi những bài viết đã bị kiểm duyệt cắt bỏ, nếu còn có thể tìm lại. Một lần, tôi đem vấn đề báo chí cách mạng và sự thật bàn với ông Trương Tịnh Đức, nguyên Ủy viên Ban biên tập Đài phát thanh Giải phóng và là giảng viên Trường Báo chí Giải phóng. Ông Trương Tịnh Đức kể: Sau Mậu Thân 1968, các cơ quan lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng miền Nam không còn đất để trú đóng an toàn đã phải kéo sang ở nhờ đất nước bạn Campuchia. Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam đã có sáng kiến chỉ đạo Đài Phát thanh Giải phóng soạn bài tường thuật về một cuộc hội nghị đã được tổ chức rất hoành tráng ở giữa vùng giải phóng miền Nam. Lúc ấy ông Trương Tịnh Đức tỏ ý băn khoăn, làm như vậy là vi phạm quá nghiêm trọng tính chân thật của báo chí. Ông Võ Nhân Lý, Giám đốc Thông tấn xã Giải phóng thuyết phục: “Ông đừng quá trung thành với lý thuyết. Trong hoàn cảnh chiến tranh chúng ta phải đặt lợi ích của cách mạng lên trên tính chân thật ông ạ. Báo chí cũng là một mặt trận mà!” Dù ở hoàn cảnh nào, khi đã một lần đặt lợi ích lên trên sự thật thì từ đây các lợi ích sẽ có nhiều lý do để đòi phải tiếp tục được đặt lên trên sự thật. Đầu tháng 6 năm 2009, trong cuộc họp hội nghị về định hướng thông tin, ông Đặng Khắc Thắng phó giám đốc Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Nghệ An đã cho rằng: “Bảo định hướng thông tin phù hợp với lợi ích xã hội, thật ra là phù hợp ý kiến lãnh đạo của Đảng chứ không hẳn phù hợp với lợi ích của nhân dân!” Cứ xem cách chỉ đạo thông tin về dự án Bauxite, vấn đề mà cả nước đang quan tâm hiện nay thì quả đúng như phát biểu của ông Thắng. Báo chí chỉ đăng ý kiến của những người hùa theo Bộ Chính trị, tất cả những phản biện của các nhà khoa học không báo nào đăng. Nhà thơ Bùi Minh Quốc có hai câu chua xót về tình trạng này: “Khí trời mỗi ngày ta thở, Bị ô nhiễm bởi bao lời dối trá!” Posted on Tháng Mười 6, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/06/tu-theo-cong-den-chong-cong-64-xa-lo-thong-tin-chi-con-le-phai/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (65): https://www.minds.com/newsfeed/1020235546598387712?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (63): https://www.minds.com/newsfeed/1020233177873592320?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
26 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (63) Hồi ký Tống Văn Công Vụ đàn áp báo chí ở Kiên Giang Tết năm 1986 sang 1987 cả hai tờ báo Xuân, Văn Nghệ Kiên Giang và báo Kiên Giang, đều bị thu hồi, ban biên tập và những người viết bài phê bình việc xây dựng cảng Hòn Chông đều bị đình chỉ công tác, làm bản kiểm điểm, chờ xử lý. Hai tờ báo trung ương là Đại Đoàn Kết và Lao Động đã đưa tin này, cho rằng cách xử lý như vậy là quá nặng nề, không đúng luật báo chí. Tháng 4 năm 1987, đáp thư mời của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Kiên Giang, anh Đặng Ngọc Nam thay mặt báo Đại Đoàn Kết và tôi, Tống Văn công, thay mặt báo Lao Động đã đến Kiên Giang. Chúng tôi được Ban Thường vụ Tỉnh ủy có mặt bí thư Lâm Kiên Trì và Phó bí thư Nguyễn Tấn Dũng trao đổi ý kiến. Anh Đặng Ngọc Nam và tôi cho rằng những bài đăng trên Văn Nghệ Kiên Giang và Kiên Giang phê bình chủ trương xây dựng cảng Hòn Chông rất tốn kém, nhưng không đem lại hiệu quả; các cơ quan có trách nhiệm nên xem xét lập luận của các bài báo, tiếp thu những điểm đúng, chỉ ra những điểm chưa thỏa đáng, nếu sai thì yêu cầu đăng bài đính chính. Chúng tôi đề nghị Ban Thường vụ xem “báo chí vừa là công cụ của Đảng, vừa là diễn đàn của nhân dân” như ý kiến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, để có cách quản lý báo thích hợp, không nên đình chỉ công tác, truy bức, quy chụp các nhà báo trong vụ này. Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đặc biệt là Bí thư và Phó Bí thư đều nhất trí với đề nghị của chúng tôi. Phó bí thư Nguyễn Tấn Dũng được ban thường vụ giao nhiệm vụ đưa hai chúng tôi đi ăn, nghỉ, giúp chúng tôi biết những đổi mới của thị xã Rạch Giá và tỉnh Kiên Giang. Việc xử lý hai tờ báo ở Kiên Giang tưởng đã xong ngày sau đó. Nhưng sau khi chúng tôi rời Kiên Giang sự việc lại trở nên phức tạp. Xin đọc bài viết của nhà văn Hà Văn Thùy, nguyên cán bộ báo Văn Nghệ Kiên Giang, in trong tập “Hồi ký số 5 của các nhà báo cao tuổi”: “… Lâu lắm chúng tôi mới làm được tờ Văn Nghệ Kiên Giang ưng ý như vậy. Báo đẹp đầy đặn, bài vở phong phú, đầy sức sống. Mặt báo hội đủ những người viết chủ lực của phong trào: lão tướng Năm Thạnh, rồi Anh Động, Khoa Đăng, anh bạn giáo viên Nguyễn Thiện Cân tận ngoài Phú Quốc, nhà kinh doanh Hà Văn Nam cống hiến chuyện vui, cười ra nước mắt… … Báo ra được một ngày, ngày 27 tết có điện thoại từ văn phòng tỉnh ủy gọi tới, kêu anh Chín Sĩ, chủ tịch Hội Văn nghệ lên. Lúc này có tin báo Kiên Giang đã bị thu hồi. Chúng tôi đưa anh Chín Sĩ đi mà lòng dạ bồn chồn, nét mặt anh Chín cũng không dấu nỗi vẻ lo lắng. Cuối giờ làm việc, anh về. Nhìn anh chúng tôi biết là có chuyện! “Mấy anh trên không chịu một số điểm” – anh Chín Sĩ nói – nhưng anh Năm Trì đồng ý cho bôi đi những chỗ đó rồi phát hành”. Khỏi cần biết trúng trật, chúng tôi ngoan ngoãn lao vào bôi xóa những dòng chữ từ tỉnh ủy đưa về, có gạch chân. Phải nói thật là trong bụng cũng mừng thầm vì tờ báo không bị đến nỗi nào. Chúng tôi còn may mắn hơn bên anh Tư Châu, tổng biên tập báo Kiên Giang (cơ quan ngôn luận của tỉnh đảng bộ). Có thể khẳng định thế này: Có sai sót về cách trình bày, những sơ hở về câu chữ nhưng cả hai tờ báo không có sai sót về chính trị! Yên tâm về nội dung báo, nhưng tôi lo lắng ở mặt khác: tình hình xấu có thể xảy ra, trước hết là uy tín của cấp ủy bị đe dọa và sau đó, hoạt động báo chí sẽ rất khó khăn! Điều mấu chốt là phải biết cơ chế nào đã tạo ra tình trạng trông gà hóa cuốc này? Và phải tác động vào nó thế nào để gỡ rối? Sáng hôm sau lại có điện thoại triệu anh Chín Sĩ vô tỉnh ủy! … Trở về cơ quan, mặt anh Chín xạm lại. Anh im lặng nặng nề. Lúc lâu anh bước vào văn phòng nơi anh em đang bày đồ nghề dập xóa, bảo: “Thôi dẹp bỏ luôn!” Rồi quay sang nói với chúng tôi: “Ý anh Năm Trì như vậy nhưng anh Ba Hương không chịu. Ảnh nói tội báo mình còn nặng hơn báo Tư Châu. Nhưng chẳng lẽ thu hồi cả hai tờ một lúc. Vậy phải bỏ tờ này, làm gấp tờ khác thế vô”. … Có cách nào cứu vãn tình hình? Tôi lo lắng thực sự. Không phải lo cho riêng mình! Tuy có dính cả hai tờ báo, nhưng tôi tin chắc bài của tôi hoàn toàn vô tội. Tôi cũng đọc rất kỹ những bài bị coi là có vấn đề. Tôi nhớ lại vụ báo Xuân hồi năm 1982. Tờ báo tuy có sai sót không lớn nhưng nếu bị lợi dụng suy diễn thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Chúng tôi báo với anh Hai Huỳnh, tỉnh ủy viên, trưởng ban Khoa giáo, chủ tịch Hội Văn nghệ. Anh Hai gặp đồng chí Tám Quýt, bí thư Tỉnh ủy khóa đó và cùng thống nhất: Để tờ báo phát hành không bàn gì thêm cho rối chuyện, sau đó sẽ kiểm điểm nội bộ. Chính quyết định tỉnh táo này đã cứu nguy một bàn thua trông thấy. Tôi tìm anh Hai. Tuy khóa này anh rút khỏi Tỉnh ủy và cũng không còn phụ trách Hội Văn nghệ, nhưng anh vẫn lo lắng cho chúng tôi. Anh đọc kỹ hai tờ báo rồi bàn với đồng chí Tám Quýt (khoá này anh Tám Quýt là ủy viên Thường vụ phụ trách dân vận) và hai người cùng vào gặp thường trực Tỉnh ủy để bày tỏ ý kiến. Nhưng khi gặp anh Năm Trì đưa cho coi quyết định thu hồi báo thì còn nói gì được nữa. Anh Hai ra hiệu cho anh Tám, hai người ăn vài miếng bánh Tết rồi về. Anh trách chúng tôi: “Mấy chú dốt quá, viết mà không biết lách”. Những ngày Tết nặng nề quá đi. Anh em chúng tôi có người mất ăn mất ngủ. Không có báo đọc dân chúng xôn xao. Có người mua trước được báo đem bán lại giá cao gấp chục lần. Biết rằng sau Tết có cuộc họp giải quyết tờ báo, chúng tôi chờ đợi trong âu lo thấp thỏm. … ngày mùng năm tết, cuộc họp xử hai tờ báo được triệu tập. Không thể xài chữ nào đúng hơn chữ xét xử. Một số người ngỡ ngàng với tâm trạng rờn rợn. Nói là để kiểm điểm nội bộ mà không có mặt anh em viết bài. Trong khi đó xuất hiện Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Kiểm tra Đảng, Đảng ủy các cơ quan cấp tỉnh và công an bảo vệ nội bộ. Anh Tư Châu, tổng biên tập báo Kiên Giang trơ trọi giữa cuộc họp, bị chất vấn, bị quy kết mà không có quyền bào chữa, không được tranh luận. Những điều anh trình bày bị coi là ngoan cố, không thành khẩn, thậm chí là chống đối. Khoảng 9 giờ một chàng trai trẻ bước vào phòng họp. Đặt cặp lên bàn, anh ta nói: “Tôi được giao trách nhiệm truyền đạt ý kiến đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tới cuộc họp của các đồng chí”. Nói rồi anh đưa tờ giấy lên đọc. Tất nhiên không thể nhớ hết nguyên văn, nhưng sau này anh Tư Châu kể với bọn tôi: “Trước hết, bài ‘Xuân về trên cảng Hòn Chông’, nói ‘bây giờ Đảng ta mới biết lấy dân làm gốc’ là xuyên tạc lịch sử lãnh đạo của Đảng. Còn nói dựa trên cảm hứng chủ trương xây dựng cảng Hòn Chông là xuyên tạc sự lãnh đạo của cấp ủy. Chúng ta làm công trình kinh tế có giá trị lớn mà là dựa vào cảm hứng hay sao?’ Bài ‘Phía sau người lính’ là khuyến khích độc canh, trái với chủ trương phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh ủy. Nói năng suất lúa cao như thế trên bắt nộp thêm thì sao? Bài ‘Gặp gỡ cuối năm’ nói Nghị quyết 306 của Bộ Chính trị là vật cản. Lại nói từ nhà máy đay tới công ty thủy sản. Như vậy là xúc phạm Bộ Chính trị và đả kích sự lãnh đạo của cấp ủy. Bài ‘Mùa xuân đổi mới’ là nói móc Tỉnh ủy xây dựng công trình thế kỷ, báo cáo màu hường, quan liêu”. Truyền đạt xong những lời có gang có thép ấy, anh ta cắp cặp chào mọi người ra đi. Ngày sau cuộc họp mồng 5, Tư Châu bị đình chỉ công tác. Cũng lúc này có đơn tố cáo Tư Châu gây mất đoàn kết nội bộ, bê bối về tài chính, được thu thập chữ ký gửi lên Tỉnh ủy. Một đoàn kiểm tra tài chính báo Kiên Giang được thành lập cùng với quyết định ngưng công tác Ba Yến, trưởng phòng Trị sự. Công an về tận tỉnh Thái Bình kiểm tra lý lịch anh Khoa Đăng, những việc này chúng tôi về chuyện đã xảy ra năm 1983. Năm 83, sau khi Đài Phát thanh Kiên Giang phát hai bài điều tra về phong trào thi đua dỏm của Trường Phổ thông Cơ sở 3 Vĩnh Thanh Tân và trường mẫu giáo thị xã Rạch Giá, Phó giám đốc, Tổng Biên tập đài, anh Ba Sáng bị đình chỉ công tác, bị gọi lên ban Tổ chức Thành ủy, không được ra ngoài, không ai được vào thăm, quần áo lót phải nhờ người tới nhà lấy giúp. Đêm có người bồng súng gác cho ngủ! Từ Cơ quan Kiểm tra Đảng một tin sét đánh loan ra: Ba Sáng làm tình báo cho Nhật, khi vô Đảng không báo cáo tổ chức! Lập tức căn nhà 12 Nguyễn Đình Chiểu của anh bị cô lập hoàn toàn. Người ta tránh xa anh như tránh ôn hoàng dịch lệ. Tiếp đó là quyết định khai trừ Đảng đối với anh với những tội: – Chống đường lối củaĐđảng bộ địa phương một cách có hệ thống; – Dùng Đài Phát thanh đả kích sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương; – Gây khó khăn trong phong trào xây dựng địa phương; – Nói không đúng sự thật. Còn một tội rất nghiêm trọng không được ghi vào quyết định kỷ luật là nghe theo luận điệu chiến tranh tâm lý nói xấu Bí thư Tỉnh ủy. Nguyên do như sau: Vốn là con nhà nòi tuyên huấn, anh Ba Sáng được Phó bí thư tỉnh ủy Võ Quang Trinh giao nhiệm vụ tập họp dư luận xã hội hàng tháng báo cáo cho Tỉnh ủy. Trong một báo cáo loại đó, anh Ba Sáng thực thà ghi: “Có dư luận nói đồng chí bí thư tỉnh ủy Lâm Văn Thê trên đường về Kiên Giang, có ghé Hậu Giang uống rượu Tây, mấy ngàn đồng một chai”. Chính vì việc này khiến bí thư nổi xung và anh Ba Sáng chịu trận. Với một cán bộ 30 tuổi Đảng, lâu năm trong ngành truyền thông đại chúng, quen biết nhiều cơ quan và nhân vật có cỡ nên cơ quan thanh tra trung ương nhiều lần đến làm việc căng thẳng cuối cùng đã xác định rõ sự vô tội của anh Ba. Vậy mà cũng phải mất bốn năm tới tháng 10 năm 1987, anh Ba Sáng mới được phục hồi Đảng tịch! Thân phận của Dương Tôn Hưng, người viết những bài báo trên thì cay đắng hơn. Học xong tú tài, như nhiều thanh niên khác, Hưng không thể thoát khỏi quân dịch, phải lo lót để làm lính kiểng. Tới năm 1974, theo lời kêu gọi của Mặt trận Giải phóng miền Nam, Hưng trốn vào vùng giải phóng làm quân y. Sau giải phóng, cách mạng cho Hưng đi học, học xong về công tác bên Đài. Thời gian làm lính kiểng Hưng không ghi vào lý lịch. Sau sự cố mấy bài báo, anh bị đình chỉ công tác. Ít lâu sau bị bắt về tội khai man lý lịch, trước đây là “sĩ quan ác ôn”, “từng là cai ngục”. Hơn một năm trời anh bị giam ở Cầu Ván. Và giờ đây năm 1988, chuyện cũ diễn lại. Dường như buộc tội Tư Châu về tờ báo có gì đó chưa thật sự yên tâm, những biện pháp tổ chức được khẩn cấp thi hành. Ban kiểm tra tài chính hoạt động căng thẳng hai tháng. Trong lúc đó bạn bè làm báo hỏi thăm về vụ báo bị thu hồi, về Lê Hồng Châu bị cách chức, những người có quyền có chức giải thích: Chuyện tờ báo sai sót thì có, nhưng là chuyện nhỏ, Tư Châu bị kỷ luật về tài chính! Nghe thế mọi người tránh xa Tư Châu. Mãi hơn năm sau, trong cuộc họp bàn lại về việc thu hồi báo, tội trạng của Tư Châu mới được công bố: “Có trách nhiệm để tờ báo bị thu hồi và để nội bộ mất đoàn kết”. Như vậy Tư Châu không có chuyện gì về tài chính! Còn với Ngô Văn Tước người ta cũng có cách. Biết chẳng có thể xoay xở được gì ở anh chàng cựu chiến binh xuất thân từ gia đình cách mạng ở đất Quảng Trị nên biện pháp khác được áp dụng. Thước bị cơ quan, bị Đoàn Thanh niên kiểm điểm kỷ luật vì vạ báo. Tước cũng bị tuyên huấn gọi lên kết những tội tày đình: Chống lại chủ trương của Đảng! Tước khăng khăng: “Có thể bài viết của tôi chưa đạt, nhưng dứt khoát tôi không sai. Tôi cũng không chống Đảng. Tội trạng của Tước được chuyển hướng có thể bài viết của tôi chưa đạt, nhưng dứt khoát tôi không sai. Tôi cũng không chống Đảng”. Tội trạng của Tước được chuyển hướng: “Sai lầm về bài báo là rõ ràng nhưng chúng tôi không đánh giá chuyện đó nặng lắm. Cái quan trọng là cậu ta ngoan cố, không chịu nhận sai lầm, lại còn tỏ ra kiêu căng, coi thường lãnh đạo, coi thường tập thể. Nhân sự như thế không thể làm báo được”. Tước bị thải hồi về quê sản xuất. Biện pháp cuối cùng là không cho viết báo, không được công tác trong khối tư tưởng. Vậy là bắt đầu năm tháng thất nghiệp chạy ăn chạy việc của nhà báo… hại này! Sau sự việc này, một số nhà báo sống rất vất vả. Tư Châu như người chết rồi, sao cú đòn báo chí. Anh hầu như không nói, thỉnh thoảng chỉ mỉm cười cay đắng. Ngô Văn Tước lang thang trên những nẻo đường Rạch Giá, chiếc xe đạp duy nhất không còn, tay ẵm con, tay xách giỏ rau kéo lê đôi dép mòn vẹt gót, đi xin việc năm lần bẩy lượt đều bị bật ra, bởi có lệnh không thành văn ban xuống: “không cho viết báo”. Đầu bạc của anh Ba Sáng bạc thêm, trong những ngày bị truy bức vu khống. Dương Tôn Hưng nằm trên nền xi măng lạnh của trại giam. Có người giữ lại những bài viết chưa in của tôi để tính! Có thể chúng tôi sẽ còn gặp chuyện này chuyện khác nhưng làm sao có thể không nói lên sự thật? Và dù có thế nào đi nữa, thì đâu có bằng nỗi khổ chồng chất mà bà con đang phải chịu đựng? Có thể từ chối nhiều điều, nhưng không thể nào không viết và càng không thể nào bẻ cong ngòi bút. Tôi đã viết bài nói lên sự nghiệt ngã đó. Do bài của tôi được đăng trên báo Văn Nghệ mà tôi bị xóa tên ở Hội Văn nghệ Kiên Giang và bị mất việc, lâm vào cảnh nghèo đói từ năm 1988 đến nay. Vì tố cáo sự nghiệt ngã đối với làng báo Kiên Giang mà tôi lâm vào tình cảnh nghiệt ngã, khốn cùng.” Không quốc gia nào có nhiều đầu báo so với số dân như Việt Nam: hơn 800 tờ báo, gần 100 đài phát thanh truyền hình cho 90 triệu dân. Ông Bộ trưởng Thông tin Truyền thông nói Bộ phải chọn tổng biên tập cho các báo. Báo Tuổi Trẻ ngày 11 tháng 10 năm 2012 đăng ý kiến của ông Nguyễn Thế Kỷ phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương đã phát biểu tại cuộc Hội thảo “Đạo đức nghề báo trong khai thác và xử lý nguồn tin”: “Phải nâng chất lượng đầu vào đối với sinh viên báo chí, thậm chí phải xếp cái yếu tố nhân thân, tương tự với sinh viên vào các trường công an, quân đội”. Ông muốn nhà báo phải có những tiêu chuẩn giống như cảnh sát. Quá bức xúc trước tình trạng báo chí công cụ ngày càng bị siết chặt, tôi viết bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải”. Posted on Tháng Chín 28, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/09/28/tu-theo-cong-den-chong-cong-63-vu-dan-ap-bao-chi-o-kien-giang/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (64): https://www.minds.com/newsfeed/1020234125012013056?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (62): https://www.minds.com/newsfeed/1020229600191000576?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
29 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (62) Hồi ký Tống Văn Công Vu cáo âm mưu diễn biến hòa bình Ở thập kỷ 80 hầu hết các báo ở trung ương trong đó có báo Lao Động đều được bù lỗ từ tiền của ngân sách. Ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động giao khoán cho ban biên tập báo Lao Động định mức số tiền được phép lỗ. Cuối năm nếu số tiền bị lỗ thấp hơn định mức thì được coi là “lãi” và được thưởng vì đã “có lãi”! Tờ báo được mua từ quỹ Công đoàn, hoàn toàn không bán được ở các sạp báo ngoài thị trường. Tôi đề nghị với Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Phạm Thế Duyệt hai điều và được ông chấp nhận: – Nếu báo Lao Động thoát khỏi bù lỗ thì được phép chi trả nhuận bút vượt quy định của Bộ Thông tin Văn hóa và trả phụ cấp cho phóng viên không theo quy định của Ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. – Tổng biên tập có quyền sắp xếp lại nhân sự của cơ quan báo Lao Động: Giảm biên chế, bãi chức vụ những người không đủ năng lực; sau khi có đủ khả năng tài chính tự trang trải chi thu thì có quyền tặng biên chế theo sự cần thiết để phát triển tờ báo. Khi tôi nhận làm tổng biên tập, tổ chức nhân sự của báo là một hệ thống thứ bậc “sống lâu lên lão làng”, hoặc “kinh qua trường Đảng”. Tất cả các trưởng ban, trưởng phòng đều là đảng viên “4 tốt”, đã học qua trường Đảng, nhưng không đủ năng lực để đảm đương chức vụ. Có những trường hợp kỳ quặc như: anh V. là lái xe lâu năm được đề bạt làm chánh văn phòng, anh Q. chữa morat lâu năm được đề bạt làm tổng thư ký tòa soạn, cô B. đánh máy lâu năm được lên phóng viên đặc biệt (phóng viên có 6 bậc, trên bậc 6 là phóng viên đặc biệt ngang với bậc chuyên viên của công chức). Có ba phóng viên có năng lực hơn hẳn các trưởng ban, nhưng do chưa vào Đảng nên không được đề bạt là: Phạm Huy Hoàn, Trần Đức Chính, Nguyễn An Định. Đảng ủy cơ quan báo Lao Động (đều là các trưởng ban, trưởng phòng) viện mọi lý do để không cho ba người này vào Đảng vì sợ họ vượt qua mình: Anh Chính bị cho là tự cao, tự đại; Anh Hoàn bị loại vì xuất thân từ gia đình tư sản; anh Định có bố theo đạo Công giáo. Tôi quyết định đề bạt ba anh này lên trưởng ban. Sau khi họ làm tốt chức trách của trưởng ban, Đảng ủy không có lý do chính đáng để ngăn họ vào Đảng. Sau này Phạm Huy Hoàn kế nhiệm tôi. Sau khi nghỉ hưu, anh làm tổng biên tập báo mạng Dân Trí cho đến nay. Anh Trần Đức Chính làm phó tổng biên tập báo Lao Động, sau đó là tổng biên tập báo Nhà Báo và Công Luận, hiện nay anh vẫn đều đặn có bài trào lộng ở mục “Nói hay đừng” trên báo Lao Động với bút danh Lý Sinh Sự nổi tiếng. Nguyễn An Định là cây bút tài hoa, nhưng mất sớm. Trong số hơn 30 phóng viên đã phải loại 10 người không biết viết! Để anh em này yên tâm ra đi, chúng tôi nâng lương cho mỗi người lên hai bậc. Việc tinh giản bộ máy như thế này là chưa từng có. Đồng thời với việc tinh giản bộ máy, chúng tôi tuyển dụng những cây bút có nghề. Lúc ấy Sài Gòn đã có ba tờ báo ngày và đều tỏ ra có sức sống ở thị trường hơn hẳn các tờ báo ở trung ương. Trong đó có tờ Tuổi Trẻ, trước năm 1981 còn là tờ báo yếu nhất (năm 1981, báo Sài Gòn Giải Phóng 90.000 tờ/kỳ; báo Phụ Nữ Thành Phố và Công Nhân Giải Phóng 25.000 tờ/kỳ; Tuổi Trẻ 10.000 tờ/kỳ). Sau khi báo Tin Sáng bị đình bản, các nhà báo Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Võ Văn Điểm về báo Tuổi Trẻ, biến tờ báo này trở thành tờ báo đi đầu đổi mới. Lẽ ra các nhà báo này phải được quý trọng, nhưng ngược lại Thành Đoàn và ban biên tập Tuổi Trẻ thường tỏ ra không mặn đối với họ, những người xuất thân từ chế độ cũ thường bị ban Tuyên huấn Đảng và cơ quan an ninh săm soi. Đó là thời cơ để chúng tôi trải thảm mời các bạn ấy về báo Lao Động. Anh Hữu Tính trưởng cơ quan miền Nam được giao nhiệm vụ tiếp xúc mời mọc các anh. Nhiều nhà báo giỏi muốn rời Tuổi Trẻ sang với chúng tôi: Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Huỳnh Dũng Nhân, Quang Đồng, Kim Phi, Phan Tùng. Tất cả các anh này đều yêu cầu tôi nhận thêm anh Hồng Đăng vừa rời nhiệm vụ trợ lý báo chí của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Tôi bảo họ ở đây đang thừa cán bộ chính trị, chỉ cần người giỏi nghề như các anh. Anh Lý Quý Chung bảo: “Hồng Đăng không phải chỉ là cán bộ chính trị mà cũng rất giỏi nghề. Chúng tôi cần có anh ấy”. Anh Hoàng Thoại Châu thuyết phục tôi gần một tiếng đồng hồ để tôi tin rằng Hồng Đăng tương lai sẽ là một “ngôi sao lãnh đạo báo chí cách mạng”. Tôi miễn cưỡng nhận Hồng Đăng vì chiều ý anh em. Tôi không lường được anh này rất có ý thức lợi dụng “gót chân Achile” của tôi là bị Nguyễn Văn Linh ghét và các anh giỏi nghề đều có vấn đề về lý lịch: Lý Quý Chung là bộ trưởng chính phủ Dương Văn Minh, Trần Trọng thức là sĩ quan, biên tập viên Việt Tân xã, nhà thơ Hoàng Hưng đã bị tù ba năm, họa sĩ Chóe vừa ra tù sau mười năm… Bằng sự từng trải nghề nghiệp, Lý Quý Chung nhận xét theo ngôn ngữ bóng đá: “Báo Lao Động là một đội hình đẹp như mơ!” Lý Quý Chung thiết kế tờ báo Lao Động Chủ Nhật với sự góp ý của Trần Trọng Thức. Trong buổi họp trước khi in báo, ông Nguyễn Văn Dòng giám đốc nhà in chân thành góp ý: “Tờ báo ăn khách hay không chủ yếu là do nội dung, chứ không phải hình thức. Các anh chủ trương in bốn màu thì giá thành tờ báo rất cao, bán mắc, khó lòng được bạn đọc chấp nhận”. Trái lại, tất cả chúng tôi tin rằng với nội dung hấp dẫn, bạn đọc sẽ vui lòng bỏ thêm tiền để nó có hình thức đẹp, làm một bó hoa trao cho bạn đọc ngày chủ nhật. Số báo thứ 8 ra ngày 11-3-1990 đưa tới bước ngoặt khi đăng bài “Xưởng nước hoa Thanh Hương tồn tại đến bao giờ?” nói về chuyện huy động vốn 19 tỉ đồng với lãi suất 14% trong khi sản xuất thu lại chưa tới 2 triệu đồng / tháng của Nguyễn Văn Mười Hai. Loạt bài về nước hoa Thanh Hương đã đưa số lượng in của tờ báo tăng vọt. Lao Động Chủ Nhật thắng lớn đưa tới quyết định xuất bản ba kỳ báo / tuần, cũng rất thành công. Cả ba kỳ báo đều phát hành ra sạp trên toàn quốc với số lượng cao nhất trong các báo trung ương. Tôi từ chối ứng cử vào Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động, đề đề cử người trẻ tuổi Hồng Đăng. Hồng Đăng đắc cử vào Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động với số phiếu rất cao. Cuối năm 1993, tôi nói với Hồng Đăng, mình rất yên tâm để nghỉ hưu vì đã có chú kế nhiệm. Vẫn biết quyền lực làm tha hóa con người, nhưng ở trường hợp Hồng Đăng thì vừa “đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”. Sau Đại hội Công đoàn toàn quốc khoảng hai tháng, tôi vào Sài Gòn thì hôm sau, bốn anh Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Nguyễn Hữu Tính yêu cầu gặp riêng. Mỗi người kể một số biểu hiện không hay của Hồng Đăng. Nói chung là hách dịch, độc đoán, không minh bạch trong thu, chi. Cuối buổi gặp, anh Lý Quý Chung lại đề nghị, khi góp ý với Tám Đăng xin anh giữ kín chuyện bốn anh em chúng tôi gặp anh hôm nay. Trong “Hồi Ký Không Tên”, khi nhắc lại chuyện đổ vỡ của tập thể chủ chốt báo Lao Động, anh Lý Quý Chung viết “tôi cho rằng trong cương vị tổng biên tập, anh Tống Văn Công thiếu sự quyết đoán và không kịp thời chặn đứng những lệch lạc trong nội bộ, khiến cho con đường phát triển độc đáo của tờ báo – một tờ báo mang tính đột phá về nghề nghiệp ở thời điểm đó – bị khựng lại giữa lúc đầy hưng phấn”. Cái lỗi “không kịp thời chận đứng” của tôi có một phần từ yêu cầu “giữ kín” của anh! Cuối năm 1993 tôi cao hứng làm một bài thơ và nộp bài cho nhà thơ Hoàng Hưng trưởng ban Văn hóa Văn nghệ, trước khi ra Hà Nội. Trong khi làm báo Xuân, Lý Quý Chung vẫn hay gọi điện cho tôi tán chuyện. “Tán” với nhau một lúc, tôi chợt hỏi, bài thơ của mình có được Hoàng Hưng duyệt cho vào báo Xuân không? Lý Quý Chung đáp có, nhưng không phải vào báo Xuân mà là báo Tết. Ngưng mấy giây, anh hỏi thêm, anh thấy sao? Tôi nói, được vô báo Tết cũng khoái, nhưng vô báo Xuân thì khoái hơn. Chung nói, thế à? Không ngờ sau đó anh đưa bài thơ vô báo Xuân. Trong cuộc họp cuối năm, Hồng Đăng đã gay gắt phê bình Lý Quý Chung là “vô tổ chức, vô kỷ luật, tùy tiện đưa bài thơ đã được người chủ biên xếp vào báo Tết chuyển qua báo Xuân mà không xin ý kiến”. Lý Quý Chung trả lời, anh thấy không cần xin ý kiến là vì: 1/ bài đã được duyệt, tức là nội dung không có vấn đề; 2/ bài không hề kém những bài đã được chọn cho trang thơ báo Xuân. Đến đây thì Hồng Đăng nổi nóng, dùng những từ ngữ mà Lý Quý Chung gọi là “xài xể”. Sở dĩ Lý Quý Chung quá bức xúc là vì trước đó một tuần có một việc xảy ra khi Hồng Đăng đi vắng, anh Chung trực tiếp báo cáo ra Hà Nội cho tôi. Biết chuyện này, Hồng Đăng đã to tiếng phê bình anh Chung ngay giữa sân cơ quan, “từ nay ông đừng làm việc với tôi mà cứ trực tiếp với Hà Nội!” Tết năm 1994, từ Hà Nội tôi về tới Sài Gòn thì các anh Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Nguyễn Hữu Tính yêu cầu gặp và đưa ra yêu cầu: Cả bốn người không thể cộng tác với Hồng Đăng, nếu tổng biên tập chọn Hồng Đăng thì ngay ngày mai cả bốn người xin thôi việc. Tôi gặp Hồng Đăng bàn cách hòa giải. Không ngờ vừa nghe nửa chừng, anh đứng lên nói to, “anh bảo cho bốn anh đó biết để họ yên tâm, ngay bây giờ, tôi thôi việc!” Nói xong, anh bước nhanh ra cửa. Tôi gọi giật lại, “Chú Tám, chú nên bình tỉnh cùng tôi hòa giải với anh em”. Hồng Đăng xua tay rồi đi nhanh không ngoái lại. Mồng bốn Tết, tôi phải ra Hà Nội để kịp dự cuộc họp do ban Tư tưởng Văn hóa triệu tập. Hai hôm sau, khoảng 9 giờ tối, Hồng Đăng gọi điện thoại: “Anh ơi, tôi gọi để báo với anh một tin quá bất ngờ. Bên an ninh người ta phát hiện là ở cơ quan mình có một âm mưu chính trị diễn biến hòa bình nhằm vô hiệu hóa tôi, người mà họ cho là có vai trò ‘gác cổng chính trị’! Theo cơ quan an ninh thì người chủ mưu vụ này là Lý Quý Chung”. Tôi không thể ngờ Hồng Đăng có thể phản đòn bằng cách vu khống chính trị bẩn thỉu như vậy. Dù rất tức giận, nhưng tôi cũng cố ôn tồn: “Chú Tám à, mấy anh em này vốn là những người rất quý chú. Chú cũng là người nhiều năm qua có nhận xét rất tốt về họ khi làm việc với cơ quan an ninh. Nay dù có bất mãn, có phản ứng quá đáng, nhưng chú là người lãnh đạo, trước hết nên tự xét mình và nên rộng lượng đối với anh em, không nên đánh lại anh em bằng đòn chính trị! Tôi không thể đồng tình với chú trong chuyện này. Hồng Đăng đáp: “Anh ơi, tại sao anh lại nói như vậy, tôi xin nhắc lại, đây là phát hiện của cơ quan an ninh. Tôi vừa mới biết đã vội báo ngay cho anh”. Tôi nói, chúng ta dừng câu chuyện ở đây để hai anh em mình cùng suy nghĩ, sau 30 phút tôi sẽ gọi lại chú. Sau này tôi mới biết, ngay hôm tuyên bố bỏ việc về nhà, Tám Đăng gọi hai anh cán bộ báo Quân Đội Nhân Dân ở bộ phận phía Nam đã nhiều năm làm công việc chữa morat cho tờ Lao Động Chủ Nhật, bàn cách tố giác “âm mưu chính trị” tới Cục 2 (từ năm 1995 là Tổng cục 2) và ông Lê Khả Phiêu, thường trực ban Bí thư Trung ương Đảng và ông Nguyễn Văn Linh cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ đó đưa tới cuộc họp của Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Đỗ Mười chủ trì, đưa ra kết luận bốn điểm: 1- đội ngũ báo Lao Động do Tống Văn công tập hợp không đảm bảo an ninh chính trị. 2- Từ ngày Tống Văn công làm tổng biên tập có nhiều loạt bài làm Bộ Chính trị không yên tâm. 3- Báo Lao Động là cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại sao Tống Văn Công đặt phòng thư ký tòa soạn ở Sài Gòn? 4- Hiện nay có tố giác đang xảy là âm mưu diễn biến hòa bình. Dừng nói với Hồng Đăng, tôi gọi điện thoại cho anh Khổng Minh Dụ, cục phó A 25. Gia đình cho biết anh Dụ còn ở cơ quan. Tôi gọi lên cơ quan. Sau khi nghe tôi kể, anh nói, giờ này tôi còn ở cơ quan là để giải quyết những chuyện chính trị, nhưng không phải của báo Lao Động. Ở báo Lao Động chỉ là mất đoàn kết nội bộ, chứ chả có chính trị chính em gì cả. Nghe vậy tôi có phần yên tâm, nhưng lại nghĩ, Hồng Đăng có thể đã đánh động tới Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Nguyễn Văn Tư, tôi liền đến nhà ông. Ông Tư mở cửa, dưới ánh điện, mặt ông đỏ rực vẻ hết sức căng thẳng nói, tôi định gọi anh thì may quá, anh đã tới. Tôi hỏi lại, chú Tám Đăng vừa gọi cho anh phải không? Anh yên tâm anh Khổng Minh Dụ cục A 25 vừa cho tôi biết, ở báo Lao Động chỉ là mất đoàn kết, chẳng có vấn đề chính trị chính em gì cả. Ông Tư lắc đầu, không phải từ A 25! Đây là Cục 2 Tình báo Quân đội, họ đã báo cáo với Bộ Chính trị! Anh gọi điện ngay cho Hồng Đăng để tôi nói chuyện. Tôi quay điện thoại trên bàn ông Tư. Vợ Hồng Đăng trả lời, anh Công à, anh Tám đi vắng, sáng mai anh hẵn gọi nha. Tôi bảo, cô đi tìm Chú Tám ngay, bảo anh Tư cần nói chuyện. Nghe vậy vợ Hồng Đăng vội vã gọi to, anh Tám ơi, dậy, dậy nói chuyện với anh Tư. Thì ra, sau khi bắn mũi tên “chính trị”, chú ta đi ngủ, không cần nói gì với tôi nữa. Ông Từ chỉ nói một câu: sáng mai chú phải đến cơ quan, ngày kia, tôi với anh Công sẽ vào. Ông Tư họp cơ quan miền Nam báo Lao Động, cho biết ông đã nhận được nhiều dấu hiệu mất đoàn kết trong anh em, nên muốn được nghe ý kiến từng người. Sau hai tuần, nghe ý kiến tất cả anh em, ông Tư họp cơ quan nói rõ nhận xét của mình: Không có âm mưu chính trị nào cả mà chỉ do mất đoàn kết nội bộ. Nguyên nhân là do anh Tống Văn Công quá tin tưởng, giao quyền cho anh Hồng Đăng rộng quá mà thiếu sự kiểm soát. Anh Hồng Đăng lạm quyền, độc đoán, không tôn trọng anh em, hoạt động kinh doanh ngoài tờ báo không minh bạch. Từ ngày mai, anh Công phân công lại tòa soạn, sau đó từng thành viên trong ban biên tập phải tự kiểm điểm trách nhiệm của mình về tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng hiện nay. Tôi nói với Hồng Đăng, vì mấy anh em ở ban thư ký tòa soạn không chịu cộng tác với chú, nên tạm thời chú làm việc ở vòng ngoài, bao giờ hòa giải với nhau xong tôi sẽ đưa chú trở lại vị trí cũ. Tám Đăng phản ứng rất ngớ ngẩn, anh ạ, tôi xin nhắc anh, chức vụ của tôi là do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam bổ nhiệm đấy. Tôi bảo, chức vụ của chú là do tôi đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động bổ nhiệm, phó tổng biên tập là người giúp việc cho tổng biên tập, có đúng thế không? Hồng Đăng cười gượng. Nhưng sau đó, anh ta tiếp tục sử dụng một số người thân cận gây rối. Loan truyền tin tức về cố vấn Nguyễn Văn Linh đang rất quan tâm đến người trợ lý cũ của mình bị vô hiệu hóa. Ngấm ngầm vận động anh em ký tên vào bản kiến nghị gửi lên Trung ương Đảng yêu cầu khôi phục vai trò người ‘gác cổng chính trị’ ở báo Lao Động. Phan Tùng trưởng ban Quốc tế (nhân vật mà trước đó hai năm nhà văn Bùi Việt Sĩ cho là có nhân tướng phản phúc) viết lá thư hướng dẫn cô Thanh Vân nhân viên ban thư ký tòa soạn cách gài bẫy tổng thư ký tòa soạn Lý Quý Chung bằng bản tin về vụ Thiên An Môn. Cô Thanh Vân xem thư xong đã xé nhỏ ném vào sọt rác. Anh Trần Thức nguyên giảng viên trường Đại học Sư phạm Huế, lúc đó làm công việc sửa morat nhìn thấy, đã moi từng mảnh nhỏ của lá thư, dán lại trên giấy, nộp cho tổng biên tập. Tôi gọi Phan Tùng, đưa lá thư bị xé đã được dán lại, yêu cầu anh viết bản tự kiểm điểm nói rõ anh biết lá thư này nhằm mục đích gì. Phan Tùng không tự kiểm điểm mà viết bản tường trình kể rằng mình nhận nhiệm vụ do Đảng cấp trên giao nhằm phát hiện bọn âm mưu diễn biến hòa bình trong tờ báo. Tôi bảo, Phan Tùng ghi rõ tên người thay mặt Đảng cấp trên chỉ đạo anh làm việc này, tôi sẽ xem anh là người có công làm nhiệmm vụ đặc biệt cho Đảng, tuy có sơ suất. Nếu anh không nói được tên người chỉ đạo thì ngay ngày mai tôi mời họp chi bộ đuổi anh ra khỏi Đảng, sau đó cho anh hưởng ba tháng lương để đi tìm việc nơi khác. Phan Tùng không thể tin rằng tôi là một kẻ có tên trong sổ đen vì âm mưu diễn biến hòa bình, lại có thể đuổi ra khỏi “Đảng quang vinh” một người có lý lịch như anh ta: Nguyên chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, con rể ông Phan Văn Dỉnh Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế, cánh tay phải của nguyên trợ lý báo chí tổng bí thư Nguyễn Văn Linh! Phan Tùng nộp bản tường trình mới khẳng định: không thể công khai tên của đồng chí cấp trên, vì đó là nguyên tắc của Đảng. Tôi họp đảng bộ báo Lao Động cả miền Bắc và miền Nam, chỉ trừ ba phiếu của Phan Tùng, Tám Đăng, Tư Hạnh (vợ Tám Đăng), còn lại đều biểu quyết khai trừ Phan Tùng ra khỏi Đảng. Sau đó, Phan Tùng xin về Liên hiệp Hợp tác xã thành phố Hồ Chí Minh. Đoàn kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra thuộc Tổng Liên đoàn Lao động kết luận các hoạt động kinh tế ở cơ quan báo Lao Động thường trú miền Nam do Hồng Đăng trực tiếp điều hành có 5 sai phạm nghiêm trọng: Mua bán đất Cầu Tre vi phạm luật đất đai; mua bán ở phòng Kinh Doanh và thu chi tiền quảng cáo không minh bạch. Đảng bộ báo Lao Động quyết định khai trừ Hồng Đăng ra khỏi Đảng và được Đảng ủy cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chấp nhận. Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động quyết định cách chức phó tổng biên tập và buộc thôi việc đối với Hồng Đăng. Suốt hai tháng thực hiện việc “kiểm điểm”, số đông anh em, nhất là các cán bộ chủ chốt của tờ báo quan tâm cách xử lý đối với tôi. Lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động biết điều đó nên đã luôn trấn an là “anh Công sẽ còn tiếp tục làm việc” và tổ chức thăm dò xem những ai sẽ nghỉ việc nếu tôi bị buộc phải nghỉ hưu. Ngày 9 tháng 10 năm 1994, anh Nguyễn Hữu Tính trưởng cơ quan miền Nam báo Lao Động có thư báo cáo Tổng Liên đoàn Lao động là đã có 19 người gặp anh “bày tỏ sẽ nghỉ việc ngay”. Trong đó có Lý Quý Chung tổng thư ký tòa soạn, Trần Trọng Thức trưởng ban Kinh tế, Hoàng Thoại Châu (bút danh Ba Thợ Tiện), họa sĩ Chóe, Lê Xuân Tiến trưởng ban Thể thao, Đinh Quang Hùng trưởng ban In ấn và Phát hành báo, Lưu Trọng Văn cây bút phóng sự điều tra sắc bén. Từ danh sách này bà Hoàng Thị Khánh phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động chọn mời 4 người mà bà cho là quan trọng nhất đối với chất lượng tờ báo là Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Chóe, Ba Thợ Tiện để “công tác tư tưởng”. Bà nói tờ báo không phải của riêng anh Tống Văn Công mà nó là của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn. Tổng Liên đoàn Lao động vừa muốn bảo vệ tôi để giữ được những nhà báo giỏi, vừa muốn chứng tỏ đã tôn trọng các kết luận của Bộ Chính trị. Phương án giải quyết được chọn là: Tôi không còn là tổng biên tập mà là “cố vấn” hoặc “phó tổng biên tập”, nhưng vẫn là người thực sự điều hành tờ báo y như trước. Các nhà báo có vai trò chủ chốt đứng đầu là Lý Quý Chung không chịu như vậy. Lý Quý Chung nói: “Chỉ thêm chữ Q. trước ba chữ tổng biên tập tôi cũng thôi việc, chứ chưa cần hạ xuống phó tổng biên tập” (thêm chữ Q. tức là “quyền tổng biên tập”). Ngày tôi nhận quyết định nghỉ hưu, cầm vé máy bay để hôm sau về Sài Gòn, thì bất ngờ có giáo sư Nguyễn Lân Dũng đến thăm. Tôi phân trần, mình lu bu quá nên không báo cho Nguyễn Lân Dũng biết chuyện mình nghỉ hưu và về Sài Gòn. Nguyễn Lân Dũng trố mắt ngạc nhiên hỏi “vì sao?” Tôi nói, mình phải chịu trách nhiệm về nội bộ lục đục và bị tố cáo có âm mưu diễn biến hòa bình. Lân Dũng bảo, anh nào tố cáo bậy bạ vậy? Anh không quen với một ông Bộ Chính trị nào hay sao? Tôi nói, mình quen ít nhất ba bốn ông chứ, nhưng để làm gì? Chẳng lẽ chạy đến xin được giúp đỡ? Dũng hỏi, anh Phạm Thế Duyệt có biết chuyện này không? Không chờ tôi trả lời, Nguyễn Lân Dũng quay chiếc điện thoại trên bàn tổng biên tập. “Thưa anh Duyệt, tôi Nguyễn Lân Dũng đây! Tôi đang ở chỗ anh Công. Tại sao anh Công nói ngày mai anh ấy về Sài Gòn, không ra nữa, anh đã biết chuyện này chưa ạ? Vâng, vâng, anh Công đang ở đây, anh Duyệt muốn nói với anh”. Tôi bước lại cầm ống nghe. Anh Duyệt hỏi, hai giờ chiều nay anh Công đến nhà mình được không? Tôi nghĩ, đến từ giã người đã đưa mình ra Hà Nội là phải lẽ. Khi anh Phạm Thế Duyệt từ chỗ là chủ tịch Công đoàn Mỏ Mạo Khê, do “cơ cấu” đã vọt lên làm chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động, tôi đang kiêm nhiệm phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam. Tôi đã đưa anh đi thăm các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên gần một tháng do đó đã nảy nở một tình thân. Dù là cấp trên, nhưng anh kém tôi bốn tuổi, tham gia cách mạng và vào Đảng đều sau tôi gần 10 năm cho nên tôi cũng được anh nễ trọng. Khi tôi bị Thành ủy Sài Gòn cách chức, anh đã vào xin Thành ủy cho chuyển tôi về cơ quan miền Nam của báo Lao Động. Anh Phạm Thế Duyệt ra tận cổng đón tôi vào. Từ ngày anh rời Tổng Liên đoàn Lao động, làm bí thư Thành ủy Hà Nội cho đến nay tôi mới tới nhà anh. Chỉ có hai anh em trong phòng khách, nhưng anh hạ giọng thầm thì: Bộ Chính trị có một phiên họp đặc biệt về báo Lao Động. Tống Văn Công bị kết luận bốn vấn đề: Một là anh tổ chức nhân sự báo Lao Động làm cho cơ quan an ninh không yên tâm; hai ...
31 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (64) Hồi ký Tống Văn Công Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải Báo chí vô sản định hình ở Liên Xô sau Cách Mạng Tháng Mười. Năm 1920, trong thư gửi Emma Goldman nữ chính trị gia Hoa Kỳ, Lênin cho tự do ngôn luận là một thiên kiến tư sản. Như vậy có thể hiểu báo chí vô sản thoát ra khỏi trào lưu giành quyền tự do ngôn luận mà nhân loại đã đeo đuổi từ những năm 40 của thế kỷ 19. Báo chí vô sản, theo Lênin, có chức năng tuyên truyền, giáo dục, cổ động và tổ chức phong trào hành động cách mạng thực hiện thắng lợi các nghị quyết của đảng Cộng sản. Để làm tốt chức năng đó, báo chí vô sản phải theo định hướng tuyên truyền trong từng thời kỳ, do Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng chỉ đạo. Theo định hướng, tức là phải chọn sự thật nào có lợi và loại bỏ sự thật nào không có lợi cho mục đích tuyên truyền. Để làm tốt việc tuyên truyền theo định hướng, báo chí cách mạng liên tục đưa tin, bài về những điển hình người tốt việc tốt nảy sinh từ phong trào thi đua trên các mặt trận chiến đấu, lao động sản xuất, học tập rèn luyện để trở thành những con người mới vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nội dung nói trên cho thấy mấy điều: Đó là nền báo chí của một xã hội khép kín. Báo chí thực chất chỉ là công cụ truyền đạt mệnh lệnh từ trên (đảng, chính phủ) dội xuống, không có chức năng thông tin, không chấp nhận phản biện, không tự do ngôn luận. Cán bộ biên tập không xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, không nhằm đáp ứng quyền được thông tin của bạn đọc để chuẩn bị nội dung tờ báo. Họ căn cứ vào tiến độ tuyên truyền do cấp trên chỉ đạo để lập kế hoạch minh họa bằng các bài báo. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan viết: “Họ chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng chứ không phải trước độc giả. Và chỉ quan tâm tới mục tiêu hơn là nội dung các bài báo” (Nhật ký 1990, ngày 5-11). Không có tự do ngôn luận thì mọi truy tìm sự thật là bất khả (Charles Bradlaugh – nhà cải cách xã hội Anh). Báo chí vô sản tước bỏ, bóp méo và bưng bít sự thật nhằm phục vụ cho mục đích tuyên truyền. Do đó, lẽ ra là công cụ tốt nhất cho việc mở mang trí tuệ con người thì ngược lại nó là công cụ ngu dân! Trong cuộc họp báo đầu tiên sau khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ Obama nói: Một chính phủ lấn lướt báo chí, một chính quyền không phải đối mặt với giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ không phải là sự lựa chọn của nước Mỹ. Đối chiếu với câu nói đó, chúng ta thấy các báo chí vô sản ngược hẳn lại. Báo chí cách mạng Việt Nam theo hình mẫu báo chí vô sản của Lênin. Do đó chúng ta cùng xét xem nó đã gây những hậu quả gì cho xã hội và người đọc? Cách mạng và sự thật Trong các tập nhật ký, linh mục Nguyễn Ngọc Lan nhiều lần châm biếm các báo cách mạng cắt xén sự thật. Nhà xuất bản Tin (Paris) giới thiệu “Nhật ký 1988” của ông đặt câu hỏi: “Cái gì làm cho chúng ta tuy cùng một tiếng mẹ đẻ nhưng không cùng một ngôn ngữ? Cái gì làm chúng ta sợ sự thật?” Người viết bài này luôn dằn vặt bởi câu hỏi đó. Ở Việt Nam (cũng giống như các nước do đảng cộng sản lãnh đạo) để buộc cỗ xe báo chí đi đúng định hướng có đến bốn tay lái: Lái chính là Ban Tuyên huấn Đảng, 3 lái phụ là Bộ Thông tin Truyền thông, Cục An ninh Văn hóa Bộ Công an và cơ quan chủ quản tờ báo. Để làm tốt việc tuyên truyền theo định hướng, báo chí cách mạng liên tục đưa tin những người và việc điển hình xuất hiện trong quần chúng để cổ vũ phong trào cách mạng. Trong bài giảng về viết tin, ông Hoàng Tuấn, tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam kể: Hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, khi chưa tìm ra một điển hình nông dân giỏi hưởng ứng lời kêu gọi tăng gia sản xuất của chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã cho bịa ra câu chuyện về một người nông dân gương mẫu vỡ hoang trồng khoai sắn. Không ngờ chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tin đó, đã hỏi địa chỉ người nông dân để tặng thưởng huy hiệu. Ông Tuấn đành phải báo cáo thật là mình cho bịa ra “điển hình” để cổ vũ phong trào. Trong chiến tranh rất cần có những điển hình xả thân vì chiến thắng. Nhiều tên tuổi được báo chị loan truyền theo sự hướng dẫn của các chính ủy và ban tuyên huấn Đảng đã đi vào lịch sử. Có nhiều chuyện nghe cứ lung linh như huyền thoại, Nhưng không mấy ai muốn hoặc dám nghi vấn. Ví dụ như tại sao anh Phan Đình Giót không dùng vật gì mà lại lấy thân mình lấp lỗ châu mai? Gần 30 năm sau chiến tranh, nhân kỷ niệm lần thứ năm mươi chiến thắng Điện Biên Phủ nhà báo Lưu Trọng Văn đã hết sức công phu sưu tầm tài liệu viết một loạt bài đăng trên năm kỳ tạp chí Kiến Thức Gia Đình (phụ bản báo Nông Nghiệp Việt Nam) chứng minh rằng: Không có chuyện Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; Không có chuyện Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo; Cũng không có chuyện (thời chống chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của Mỹ) giữa trận địa pháo Nguyễn Viết Xuân hô to: “Hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn!” Câu này chỉ là một câu được ghi trong nghị quyết của chi bộ đại đội pháo cao xạ! Tất cả các chiến sĩ nói trên đều chiến đấu rất ngoan cường, hy sinh rất anh dũng, góp phần cho chiến thắng. Tuy nhiên trước lúc hy sinh tất cả họ đều không có ai làm cái gì mà sau này các nhà báo đã tô vẽ. Những bài báo của Lưu Trọng Văn đăng trên một tạp chí ít người đọc nhưng đã làm cho ông Nguyễn Khoa Điềm, ủy viên Bộ Chính trị, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương tức giận phê phán gay gắt. Cũng năm đó, Lưu Trọng Văn trích “Hồi ký không tên” của Lý Quý Chung, đoạn kể ông Dương Văn Minh chủ động đầu hàng như là thực hiện một nhiệm vụ cao cả, đăng trên Nhà Báo và Công Luận cuối tháng (của Hội Nhà báo Việt Nam), số kỷ niệm 30/4. Báo này vừa phát hành đã bị thu hồi nhưng không cho đưa tin lý do bị thu hồi và bị đình bản. Lý do thu hồi thực sự là ở thời điểm đó chưa cho phép đề cao vai trò ông Dương Văn Minh, mà đề cao sức mạnh của các quân đoàn buộc ông Minh phải đầu hàng. (Dù đã được ông Võ Văn Kiệt đọc, ông Trần Bạch Đằng viết lời giới thiệu, quyển hồi ký này vẫn buộc phải biên tập và in lại). Mới đây, trong cuộc góp ý kiến cho một tờ báo đang sa sút, ông Xuân Cang nguyên tổng biên tập báo Lao Động tâm sự: ngay khi bước vào nghề làm báo ông đã dặn mình, bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải nói cho được sự thật. Ông kể, năm 1986 ông cho rằng bài viết của ông Lê Giản, nguyên giám đốc Nha Công an đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong bài có câu “nhà đã dột từ nóc rồi”. Vì câu nói đó, ông bị Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng dũa te tua. Người ta hỏi, ông không biết nói nóc nhà là ám chỉ Bộ Chính trị hay sao? (Thực ra nhà thơ Việt Phương là người đầu tiên có ý nghĩ này trong câu thơ “bùn đã vấy đến chín tầng mây”. Ông đã phải trả giá bằng những năm rời khỏi bàn viết trong dinh thủ tướng để lao động cải tạo tư tưởng). May do ông Xuân Cang, thời điểm này vừa bắt đầu “đổi mới” cho nên ông được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thông cảm cho làm bản kiểm điểm, tránh không được tái phạm. Ông Xuân Cang kết luận: “Cho đăng bài viết đó là không biết cách nói sự thật!” Người nghe lấy làm tiếc vì ông không cho biết trước cái sự thật “nhà đã dột từ nóc rồi” thì phải biết dùng cách nói nào để không bị dũa te tua? Chẳng lẽ cách tốt nhất là… cất bút? Trong tập “Hồi ký của các nhà báo lão thành” ở thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2003 có bài “làm báo không dễ” của tôi đã bị cắt sửa te tua. Tôi than “có lẽ mình phải viết thêm bài ‘viết hồi ký cũng không dễ’!” Ông Đinh Phong (nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hồ Chí Minh) là người biên tập thanh minh: Ông phải thông cảm cho cái khó khăn của tôi. Khi ông Phạm Dân chủ nhiệm Câu lạc bộ Nhà báo Cao tuổi đưa bài này sang cho tôi đã có lời răn đe: ‘Cậu muốn ở tù thì đăng nguyên văn bài này!’ Mình phải cố cắt bỏ, sửa chữa để đăng được bài cho ông đấy!” Bài hồi ký nói trên kể lại mấy bài báo viết những sự thật không được nhà cầm quyền bằng lòng: Một là chuyện ông La Ngọc Toàn, chủ nhiệm Hợp tác xã Cơ khí Đồng Tâm tham nhũng và đánh đập những xã viên dám tố cáo ông ta. Đảng bộ quận Gò Vấp bao che cho ông và giới thiệu ứng cử vào Hội đồng Nhân dân Thành phố khoá đầu tiên. Chuyện thứ hai là ông Nguyễn Văn Tài, giám đốc Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình phơi nắng công nhân và cắt tiêu chuẩn gạo của họ, nhưng được Nguyễn Văn Linh bao che. Nói về tác hại của việc kiểm duyệt, cắt xén sự thật, nhà văn Nga vĩ đại A. Solzhenitsyn đã viết: “Đây không chỉ đơn thuần là bóp nghẹt tự do mà là sự gắn xi vào trái tim dân tộc đó, xóa bỏ ký ức của dân tộc đó”. Vì vậy rất cần phục hồi những bài viết đã bị kiểm duyệt cắt bỏ, nếu còn có thể tìm lại. Một lần, tôi đem vấn đề báo chí cách mạng và sự thật bàn với ông Trương Tịnh Đức, nguyên Ủy viên Ban biên tập Đài phát thanh Giải phóng và là giảng viên Trường Báo chí Giải phóng. Ông Trương Tịnh Đức kể: Sau Mậu Thân 1968, các cơ quan lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng miền Nam không còn đất để trú đóng an toàn đã phải kéo sang ở nhờ đất nước bạn Campuchia. Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam đã có sáng kiến chỉ đạo Đài Phát thanh Giải phóng soạn bài tường thuật về một cuộc hội nghị đã được tổ chức rất hoành tráng ở giữa vùng giải phóng miền Nam. Lúc ấy ông Trương Tịnh Đức tỏ ý băn khoăn, làm như vậy là vi phạm quá nghiêm trọng tính chân thật của báo chí. Ông Võ Nhân Lý, Giám đốc Thông tấn xã Giải phóng thuyết phục: “Ông đừng quá trung thành với lý thuyết. Trong hoàn cảnh chiến tranh chúng ta phải đặt lợi ích của cách mạng lên trên tính chân thật ông ạ. Báo chí cũng là một mặt trận mà!” Dù ở hoàn cảnh nào, khi đã một lần đặt lợi ích lên trên sự thật thì từ đây các lợi ích sẽ có nhiều lý do để đòi phải tiếp tục được đặt lên trên sự thật. Đầu tháng 6 năm 2009, trong cuộc họp hội nghị về định hướng thông tin, ông Đặng Khắc Thắng phó giám đốc Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Nghệ An đã cho rằng: “Bảo định hướng thông tin phù hợp với lợi ích xã hội, thật ra là phù hợp ý kiến lãnh đạo của Đảng chứ không hẳn phù hợp với lợi ích của nhân dân!” Cứ xem cách chỉ đạo thông tin về dự án Bauxite, vấn đề mà cả nước đang quan tâm hiện nay thì quả đúng như phát biểu của ông Thắng. Báo chí chỉ đăng ý kiến của những người hùa theo Bộ Chính trị, tất cả những phản biện của các nhà khoa học không báo nào đăng. Nhà thơ Bùi Minh Quốc có hai câu chua xót về tình trạng này: “Khí trời mỗi ngày ta thở, Bị ô nhiễm bởi bao lời dối trá!” Posted on Tháng Mười 6, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/10/06/tu-theo-cong-den-chong-cong-64-xa-lo-thong-tin-chi-con-le-phai/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (65): https://www.minds.com/newsfeed/1020235546598387712?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (63): https://www.minds.com/newsfeed/1020233177873592320?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
26 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (63) Hồi ký Tống Văn Công Vụ đàn áp báo chí ở Kiên Giang Tết năm 1986 sang 1987 cả hai tờ báo Xuân, Văn Nghệ Kiên Giang và báo Kiên Giang, đều bị thu hồi, ban biên tập và những người viết bài phê bình việc xây dựng cảng Hòn Chông đều bị đình chỉ công tác, làm bản kiểm điểm, chờ xử lý. Hai tờ báo trung ương là Đại Đoàn Kết và Lao Động đã đưa tin này, cho rằng cách xử lý như vậy là quá nặng nề, không đúng luật báo chí. Tháng 4 năm 1987, đáp thư mời của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Kiên Giang, anh Đặng Ngọc Nam thay mặt báo Đại Đoàn Kết và tôi, Tống Văn công, thay mặt báo Lao Động đã đến Kiên Giang. Chúng tôi được Ban Thường vụ Tỉnh ủy có mặt bí thư Lâm Kiên Trì và Phó bí thư Nguyễn Tấn Dũng trao đổi ý kiến. Anh Đặng Ngọc Nam và tôi cho rằng những bài đăng trên Văn Nghệ Kiên Giang và Kiên Giang phê bình chủ trương xây dựng cảng Hòn Chông rất tốn kém, nhưng không đem lại hiệu quả; các cơ quan có trách nhiệm nên xem xét lập luận của các bài báo, tiếp thu những điểm đúng, chỉ ra những điểm chưa thỏa đáng, nếu sai thì yêu cầu đăng bài đính chính. Chúng tôi đề nghị Ban Thường vụ xem “báo chí vừa là công cụ của Đảng, vừa là diễn đàn của nhân dân” như ý kiến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, để có cách quản lý báo thích hợp, không nên đình chỉ công tác, truy bức, quy chụp các nhà báo trong vụ này. Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đặc biệt là Bí thư và Phó Bí thư đều nhất trí với đề nghị của chúng tôi. Phó bí thư Nguyễn Tấn Dũng được ban thường vụ giao nhiệm vụ đưa hai chúng tôi đi ăn, nghỉ, giúp chúng tôi biết những đổi mới của thị xã Rạch Giá và tỉnh Kiên Giang. Việc xử lý hai tờ báo ở Kiên Giang tưởng đã xong ngày sau đó. Nhưng sau khi chúng tôi rời Kiên Giang sự việc lại trở nên phức tạp. Xin đọc bài viết của nhà văn Hà Văn Thùy, nguyên cán bộ báo Văn Nghệ Kiên Giang, in trong tập “Hồi ký số 5 của các nhà báo cao tuổi”: “… Lâu lắm chúng tôi mới làm được tờ Văn Nghệ Kiên Giang ưng ý như vậy. Báo đẹp đầy đặn, bài vở phong phú, đầy sức sống. Mặt báo hội đủ những người viết chủ lực của phong trào: lão tướng Năm Thạnh, rồi Anh Động, Khoa Đăng, anh bạn giáo viên Nguyễn Thiện Cân tận ngoài Phú Quốc, nhà kinh doanh Hà Văn Nam cống hiến chuyện vui, cười ra nước mắt… … Báo ra được một ngày, ngày 27 tết có điện thoại từ văn phòng tỉnh ủy gọi tới, kêu anh Chín Sĩ, chủ tịch Hội Văn nghệ lên. Lúc này có tin báo Kiên Giang đã bị thu hồi. Chúng tôi đưa anh Chín Sĩ đi mà lòng dạ bồn chồn, nét mặt anh Chín cũng không dấu nỗi vẻ lo lắng. Cuối giờ làm việc, anh về. Nhìn anh chúng tôi biết là có chuyện! “Mấy anh trên không chịu một số điểm” – anh Chín Sĩ nói – nhưng anh Năm Trì đồng ý cho bôi đi những chỗ đó rồi phát hành”. Khỏi cần biết trúng trật, chúng tôi ngoan ngoãn lao vào bôi xóa những dòng chữ từ tỉnh ủy đưa về, có gạch chân. Phải nói thật là trong bụng cũng mừng thầm vì tờ báo không bị đến nỗi nào. Chúng tôi còn may mắn hơn bên anh Tư Châu, tổng biên tập báo Kiên Giang (cơ quan ngôn luận của tỉnh đảng bộ). Có thể khẳng định thế này: Có sai sót về cách trình bày, những sơ hở về câu chữ nhưng cả hai tờ báo không có sai sót về chính trị! Yên tâm về nội dung báo, nhưng tôi lo lắng ở mặt khác: tình hình xấu có thể xảy ra, trước hết là uy tín của cấp ủy bị đe dọa và sau đó, hoạt động báo chí sẽ rất khó khăn! Điều mấu chốt là phải biết cơ chế nào đã tạo ra tình trạng trông gà hóa cuốc này? Và phải tác động vào nó thế nào để gỡ rối? Sáng hôm sau lại có điện thoại triệu anh Chín Sĩ vô tỉnh ủy! … Trở về cơ quan, mặt anh Chín xạm lại. Anh im lặng nặng nề. Lúc lâu anh bước vào văn phòng nơi anh em đang bày đồ nghề dập xóa, bảo: “Thôi dẹp bỏ luôn!” Rồi quay sang nói với chúng tôi: “Ý anh Năm Trì như vậy nhưng anh Ba Hương không chịu. Ảnh nói tội báo mình còn nặng hơn báo Tư Châu. Nhưng chẳng lẽ thu hồi cả hai tờ một lúc. Vậy phải bỏ tờ này, làm gấp tờ khác thế vô”. … Có cách nào cứu vãn tình hình? Tôi lo lắng thực sự. Không phải lo cho riêng mình! Tuy có dính cả hai tờ báo, nhưng tôi tin chắc bài của tôi hoàn toàn vô tội. Tôi cũng đọc rất kỹ những bài bị coi là có vấn đề. Tôi nhớ lại vụ báo Xuân hồi năm 1982. Tờ báo tuy có sai sót không lớn nhưng nếu bị lợi dụng suy diễn thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Chúng tôi báo với anh Hai Huỳnh, tỉnh ủy viên, trưởng ban Khoa giáo, chủ tịch Hội Văn nghệ. Anh Hai gặp đồng chí Tám Quýt, bí thư Tỉnh ủy khóa đó và cùng thống nhất: Để tờ báo phát hành không bàn gì thêm cho rối chuyện, sau đó sẽ kiểm điểm nội bộ. Chính quyết định tỉnh táo này đã cứu nguy một bàn thua trông thấy. Tôi tìm anh Hai. Tuy khóa này anh rút khỏi Tỉnh ủy và cũng không còn phụ trách Hội Văn nghệ, nhưng anh vẫn lo lắng cho chúng tôi. Anh đọc kỹ hai tờ báo rồi bàn với đồng chí Tám Quýt (khoá này anh Tám Quýt là ủy viên Thường vụ phụ trách dân vận) và hai người cùng vào gặp thường trực Tỉnh ủy để bày tỏ ý kiến. Nhưng khi gặp anh Năm Trì đưa cho coi quyết định thu hồi báo thì còn nói gì được nữa. Anh Hai ra hiệu cho anh Tám, hai người ăn vài miếng bánh Tết rồi về. Anh trách chúng tôi: “Mấy chú dốt quá, viết mà không biết lách”. Những ngày Tết nặng nề quá đi. Anh em chúng tôi có người mất ăn mất ngủ. Không có báo đọc dân chúng xôn xao. Có người mua trước được báo đem bán lại giá cao gấp chục lần. Biết rằng sau Tết có cuộc họp giải quyết tờ báo, chúng tôi chờ đợi trong âu lo thấp thỏm. … ngày mùng năm tết, cuộc họp xử hai tờ báo được triệu tập. Không thể xài chữ nào đúng hơn chữ xét xử. Một số người ngỡ ngàng với tâm trạng rờn rợn. Nói là để kiểm điểm nội bộ mà không có mặt anh em viết bài. Trong khi đó xuất hiện Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Kiểm tra Đảng, Đảng ủy các cơ quan cấp tỉnh và công an bảo vệ nội bộ. Anh Tư Châu, tổng biên tập báo Kiên Giang trơ trọi giữa cuộc họp, bị chất vấn, bị quy kết mà không có quyền bào chữa, không được tranh luận. Những điều anh trình bày bị coi là ngoan cố, không thành khẩn, thậm chí là chống đối. Khoảng 9 giờ một chàng trai trẻ bước vào phòng họp. Đặt cặp lên bàn, anh ta nói: “Tôi được giao trách nhiệm truyền đạt ý kiến đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tới cuộc họp của các đồng chí”. Nói rồi anh đưa tờ giấy lên đọc. Tất nhiên không thể nhớ hết nguyên văn, nhưng sau này anh Tư Châu kể với bọn tôi: “Trước hết, bài ‘Xuân về trên cảng Hòn Chông’, nói ‘bây giờ Đảng ta mới biết lấy dân làm gốc’ là xuyên tạc lịch sử lãnh đạo của Đảng. Còn nói dựa trên cảm hứng chủ trương xây dựng cảng Hòn Chông là xuyên tạc sự lãnh đạo của cấp ủy. Chúng ta làm công trình kinh tế có giá trị lớn mà là dựa vào cảm hứng hay sao?’ Bài ‘Phía sau người lính’ là khuyến khích độc canh, trái với chủ trương phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh ủy. Nói năng suất lúa cao như thế trên bắt nộp thêm thì sao? Bài ‘Gặp gỡ cuối năm’ nói Nghị quyết 306 của Bộ Chính trị là vật cản. Lại nói từ nhà máy đay tới công ty thủy sản. Như vậy là xúc phạm Bộ Chính trị và đả kích sự lãnh đạo của cấp ủy. Bài ‘Mùa xuân đổi mới’ là nói móc Tỉnh ủy xây dựng công trình thế kỷ, báo cáo màu hường, quan liêu”. Truyền đạt xong những lời có gang có thép ấy, anh ta cắp cặp chào mọi người ra đi. Ngày sau cuộc họp mồng 5, Tư Châu bị đình chỉ công tác. Cũng lúc này có đơn tố cáo Tư Châu gây mất đoàn kết nội bộ, bê bối về tài chính, được thu thập chữ ký gửi lên Tỉnh ủy. Một đoàn kiểm tra tài chính báo Kiên Giang được thành lập cùng với quyết định ngưng công tác Ba Yến, trưởng phòng Trị sự. Công an về tận tỉnh Thái Bình kiểm tra lý lịch anh Khoa Đăng, những việc này chúng tôi về chuyện đã xảy ra năm 1983. Năm 83, sau khi Đài Phát thanh Kiên Giang phát hai bài điều tra về phong trào thi đua dỏm của Trường Phổ thông Cơ sở 3 Vĩnh Thanh Tân và trường mẫu giáo thị xã Rạch Giá, Phó giám đốc, Tổng Biên tập đài, anh Ba Sáng bị đình chỉ công tác, bị gọi lên ban Tổ chức Thành ủy, không được ra ngoài, không ai được vào thăm, quần áo lót phải nhờ người tới nhà lấy giúp. Đêm có người bồng súng gác cho ngủ! Từ Cơ quan Kiểm tra Đảng một tin sét đánh loan ra: Ba Sáng làm tình báo cho Nhật, khi vô Đảng không báo cáo tổ chức! Lập tức căn nhà 12 Nguyễn Đình Chiểu của anh bị cô lập hoàn toàn. Người ta tránh xa anh như tránh ôn hoàng dịch lệ. Tiếp đó là quyết định khai trừ Đảng đối với anh với những tội: – Chống đường lối củaĐđảng bộ địa phương một cách có hệ thống; – Dùng Đài Phát thanh đả kích sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương; – Gây khó khăn trong phong trào xây dựng địa phương; – Nói không đúng sự thật. Còn một tội rất nghiêm trọng không được ghi vào quyết định kỷ luật là nghe theo luận điệu chiến tranh tâm lý nói xấu Bí thư Tỉnh ủy. Nguyên do như sau: Vốn là con nhà nòi tuyên huấn, anh Ba Sáng được Phó bí thư tỉnh ủy Võ Quang Trinh giao nhiệm vụ tập họp dư luận xã hội hàng tháng báo cáo cho Tỉnh ủy. Trong một báo cáo loại đó, anh Ba Sáng thực thà ghi: “Có dư luận nói đồng chí bí thư tỉnh ủy Lâm Văn Thê trên đường về Kiên Giang, có ghé Hậu Giang uống rượu Tây, mấy ngàn đồng một chai”. Chính vì việc này khiến bí thư nổi xung và anh Ba Sáng chịu trận. Với một cán bộ 30 tuổi Đảng, lâu năm trong ngành truyền thông đại chúng, quen biết nhiều cơ quan và nhân vật có cỡ nên cơ quan thanh tra trung ương nhiều lần đến làm việc căng thẳng cuối cùng đã xác định rõ sự vô tội của anh Ba. Vậy mà cũng phải mất bốn năm tới tháng 10 năm 1987, anh Ba Sáng mới được phục hồi Đảng tịch! Thân phận của Dương Tôn Hưng, người viết những bài báo trên thì cay đắng hơn. Học xong tú tài, như nhiều thanh niên khác, Hưng không thể thoát khỏi quân dịch, phải lo lót để làm lính kiểng. Tới năm 1974, theo lời kêu gọi của Mặt trận Giải phóng miền Nam, Hưng trốn vào vùng giải phóng làm quân y. Sau giải phóng, cách mạng cho Hưng đi học, học xong về công tác bên Đài. Thời gian làm lính kiểng Hưng không ghi vào lý lịch. Sau sự cố mấy bài báo, anh bị đình chỉ công tác. Ít lâu sau bị bắt về tội khai man lý lịch, trước đây là “sĩ quan ác ôn”, “từng là cai ngục”. Hơn một năm trời anh bị giam ở Cầu Ván. Và giờ đây năm 1988, chuyện cũ diễn lại. Dường như buộc tội Tư Châu về tờ báo có gì đó chưa thật sự yên tâm, những biện pháp tổ chức được khẩn cấp thi hành. Ban kiểm tra tài chính hoạt động căng thẳng hai tháng. Trong lúc đó bạn bè làm báo hỏi thăm về vụ báo bị thu hồi, về Lê Hồng Châu bị cách chức, những người có quyền có chức giải thích: Chuyện tờ báo sai sót thì có, nhưng là chuyện nhỏ, Tư Châu bị kỷ luật về tài chính! Nghe thế mọi người tránh xa Tư Châu. Mãi hơn năm sau, trong cuộc họp bàn lại về việc thu hồi báo, tội trạng của Tư Châu mới được công bố: “Có trách nhiệm để tờ báo bị thu hồi và để nội bộ mất đoàn kết”. Như vậy Tư Châu không có chuyện gì về tài chính! Còn với Ngô Văn Tước người ta cũng có cách. Biết chẳng có thể xoay xở được gì ở anh chàng cựu chiến binh xuất thân từ gia đình cách mạng ở đất Quảng Trị nên biện pháp khác được áp dụng. Thước bị cơ quan, bị Đoàn Thanh niên kiểm điểm kỷ luật vì vạ báo. Tước cũng bị tuyên huấn gọi lên kết những tội tày đình: Chống lại chủ trương của Đảng! Tước khăng khăng: “Có thể bài viết của tôi chưa đạt, nhưng dứt khoát tôi không sai. Tôi cũng không chống Đảng. Tội trạng của Tước được chuyển hướng có thể bài viết của tôi chưa đạt, nhưng dứt khoát tôi không sai. Tôi cũng không chống Đảng”. Tội trạng của Tước được chuyển hướng: “Sai lầm về bài báo là rõ ràng nhưng chúng tôi không đánh giá chuyện đó nặng lắm. Cái quan trọng là cậu ta ngoan cố, không chịu nhận sai lầm, lại còn tỏ ra kiêu căng, coi thường lãnh đạo, coi thường tập thể. Nhân sự như thế không thể làm báo được”. Tước bị thải hồi về quê sản xuất. Biện pháp cuối cùng là không cho viết báo, không được công tác trong khối tư tưởng. Vậy là bắt đầu năm tháng thất nghiệp chạy ăn chạy việc của nhà báo… hại này! Sau sự việc này, một số nhà báo sống rất vất vả. Tư Châu như người chết rồi, sao cú đòn báo chí. Anh hầu như không nói, thỉnh thoảng chỉ mỉm cười cay đắng. Ngô Văn Tước lang thang trên những nẻo đường Rạch Giá, chiếc xe đạp duy nhất không còn, tay ẵm con, tay xách giỏ rau kéo lê đôi dép mòn vẹt gót, đi xin việc năm lần bẩy lượt đều bị bật ra, bởi có lệnh không thành văn ban xuống: “không cho viết báo”. Đầu bạc của anh Ba Sáng bạc thêm, trong những ngày bị truy bức vu khống. Dương Tôn Hưng nằm trên nền xi măng lạnh của trại giam. Có người giữ lại những bài viết chưa in của tôi để tính! Có thể chúng tôi sẽ còn gặp chuyện này chuyện khác nhưng làm sao có thể không nói lên sự thật? Và dù có thế nào đi nữa, thì đâu có bằng nỗi khổ chồng chất mà bà con đang phải chịu đựng? Có thể từ chối nhiều điều, nhưng không thể nào không viết và càng không thể nào bẻ cong ngòi bút. Tôi đã viết bài nói lên sự nghiệt ngã đó. Do bài của tôi được đăng trên báo Văn Nghệ mà tôi bị xóa tên ở Hội Văn nghệ Kiên Giang và bị mất việc, lâm vào cảnh nghèo đói từ năm 1988 đến nay. Vì tố cáo sự nghiệt ngã đối với làng báo Kiên Giang mà tôi lâm vào tình cảnh nghiệt ngã, khốn cùng.” Không quốc gia nào có nhiều đầu báo so với số dân như Việt Nam: hơn 800 tờ báo, gần 100 đài phát thanh truyền hình cho 90 triệu dân. Ông Bộ trưởng Thông tin Truyền thông nói Bộ phải chọn tổng biên tập cho các báo. Báo Tuổi Trẻ ngày 11 tháng 10 năm 2012 đăng ý kiến của ông Nguyễn Thế Kỷ phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương đã phát biểu tại cuộc Hội thảo “Đạo đức nghề báo trong khai thác và xử lý nguồn tin”: “Phải nâng chất lượng đầu vào đối với sinh viên báo chí, thậm chí phải xếp cái yếu tố nhân thân, tương tự với sinh viên vào các trường công an, quân đội”. Ông muốn nhà báo phải có những tiêu chuẩn giống như cảnh sát. Quá bức xúc trước tình trạng báo chí công cụ ngày càng bị siết chặt, tôi viết bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải”. Posted on Tháng Chín 28, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/09/28/tu-theo-cong-den-chong-cong-63-vu-dan-ap-bao-chi-o-kien-giang/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (64): https://www.minds.com/newsfeed/1020234125012013056?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (62): https://www.minds.com/newsfeed/1020229600191000576?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
29 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (62) Hồi ký Tống Văn Công Vu cáo âm mưu diễn biến hòa bình Ở thập kỷ 80 hầu hết các báo ở trung ương trong đó có báo Lao Động đều được bù lỗ từ tiền của ngân sách. Ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động giao khoán cho ban biên tập báo Lao Động định mức số tiền được phép lỗ. Cuối năm nếu số tiền bị lỗ thấp hơn định mức thì được coi là “lãi” và được thưởng vì đã “có lãi”! Tờ báo được mua từ quỹ Công đoàn, hoàn toàn không bán được ở các sạp báo ngoài thị trường. Tôi đề nghị với Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Phạm Thế Duyệt hai điều và được ông chấp nhận: – Nếu báo Lao Động thoát khỏi bù lỗ thì được phép chi trả nhuận bút vượt quy định của Bộ Thông tin Văn hóa và trả phụ cấp cho phóng viên không theo quy định của Ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. – Tổng biên tập có quyền sắp xếp lại nhân sự của cơ quan báo Lao Động: Giảm biên chế, bãi chức vụ những người không đủ năng lực; sau khi có đủ khả năng tài chính tự trang trải chi thu thì có quyền tặng biên chế theo sự cần thiết để phát triển tờ báo. Khi tôi nhận làm tổng biên tập, tổ chức nhân sự của báo là một hệ thống thứ bậc “sống lâu lên lão làng”, hoặc “kinh qua trường Đảng”. Tất cả các trưởng ban, trưởng phòng đều là đảng viên “4 tốt”, đã học qua trường Đảng, nhưng không đủ năng lực để đảm đương chức vụ. Có những trường hợp kỳ quặc như: anh V. là lái xe lâu năm được đề bạt làm chánh văn phòng, anh Q. chữa morat lâu năm được đề bạt làm tổng thư ký tòa soạn, cô B. đánh máy lâu năm được lên phóng viên đặc biệt (phóng viên có 6 bậc, trên bậc 6 là phóng viên đặc biệt ngang với bậc chuyên viên của công chức). Có ba phóng viên có năng lực hơn hẳn các trưởng ban, nhưng do chưa vào Đảng nên không được đề bạt là: Phạm Huy Hoàn, Trần Đức Chính, Nguyễn An Định. Đảng ủy cơ quan báo Lao Động (đều là các trưởng ban, trưởng phòng) viện mọi lý do để không cho ba người này vào Đảng vì sợ họ vượt qua mình: Anh Chính bị cho là tự cao, tự đại; Anh Hoàn bị loại vì xuất thân từ gia đình tư sản; anh Định có bố theo đạo Công giáo. Tôi quyết định đề bạt ba anh này lên trưởng ban. Sau khi họ làm tốt chức trách của trưởng ban, Đảng ủy không có lý do chính đáng để ngăn họ vào Đảng. Sau này Phạm Huy Hoàn kế nhiệm tôi. Sau khi nghỉ hưu, anh làm tổng biên tập báo mạng Dân Trí cho đến nay. Anh Trần Đức Chính làm phó tổng biên tập báo Lao Động, sau đó là tổng biên tập báo Nhà Báo và Công Luận, hiện nay anh vẫn đều đặn có bài trào lộng ở mục “Nói hay đừng” trên báo Lao Động với bút danh Lý Sinh Sự nổi tiếng. Nguyễn An Định là cây bút tài hoa, nhưng mất sớm. Trong số hơn 30 phóng viên đã phải loại 10 người không biết viết! Để anh em này yên tâm ra đi, chúng tôi nâng lương cho mỗi người lên hai bậc. Việc tinh giản bộ máy như thế này là chưa từng có. Đồng thời với việc tinh giản bộ máy, chúng tôi tuyển dụng những cây bút có nghề. Lúc ấy Sài Gòn đã có ba tờ báo ngày và đều tỏ ra có sức sống ở thị trường hơn hẳn các tờ báo ở trung ương. Trong đó có tờ Tuổi Trẻ, trước năm 1981 còn là tờ báo yếu nhất (năm 1981, báo Sài Gòn Giải Phóng 90.000 tờ/kỳ; báo Phụ Nữ Thành Phố và Công Nhân Giải Phóng 25.000 tờ/kỳ; Tuổi Trẻ 10.000 tờ/kỳ). Sau khi báo Tin Sáng bị đình bản, các nhà báo Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Võ Văn Điểm về báo Tuổi Trẻ, biến tờ báo này trở thành tờ báo đi đầu đổi mới. Lẽ ra các nhà báo này phải được quý trọng, nhưng ngược lại Thành Đoàn và ban biên tập Tuổi Trẻ thường tỏ ra không mặn đối với họ, những người xuất thân từ chế độ cũ thường bị ban Tuyên huấn Đảng và cơ quan an ninh săm soi. Đó là thời cơ để chúng tôi trải thảm mời các bạn ấy về báo Lao Động. Anh Hữu Tính trưởng cơ quan miền Nam được giao nhiệm vụ tiếp xúc mời mọc các anh. Nhiều nhà báo giỏi muốn rời Tuổi Trẻ sang với chúng tôi: Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Huỳnh Dũng Nhân, Quang Đồng, Kim Phi, Phan Tùng. Tất cả các anh này đều yêu cầu tôi nhận thêm anh Hồng Đăng vừa rời nhiệm vụ trợ lý báo chí của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Tôi bảo họ ở đây đang thừa cán bộ chính trị, chỉ cần người giỏi nghề như các anh. Anh Lý Quý Chung bảo: “Hồng Đăng không phải chỉ là cán bộ chính trị mà cũng rất giỏi nghề. Chúng tôi cần có anh ấy”. Anh Hoàng Thoại Châu thuyết phục tôi gần một tiếng đồng hồ để tôi tin rằng Hồng Đăng tương lai sẽ là một “ngôi sao lãnh đạo báo chí cách mạng”. Tôi miễn cưỡng nhận Hồng Đăng vì chiều ý anh em. Tôi không lường được anh này rất có ý thức lợi dụng “gót chân Achile” của tôi là bị Nguyễn Văn Linh ghét và các anh giỏi nghề đều có vấn đề về lý lịch: Lý Quý Chung là bộ trưởng chính phủ Dương Văn Minh, Trần Trọng thức là sĩ quan, biên tập viên Việt Tân xã, nhà thơ Hoàng Hưng đã bị tù ba năm, họa sĩ Chóe vừa ra tù sau mười năm… Bằng sự từng trải nghề nghiệp, Lý Quý Chung nhận xét theo ngôn ngữ bóng đá: “Báo Lao Động là một đội hình đẹp như mơ!” Lý Quý Chung thiết kế tờ báo Lao Động Chủ Nhật với sự góp ý của Trần Trọng Thức. Trong buổi họp trước khi in báo, ông Nguyễn Văn Dòng giám đốc nhà in chân thành góp ý: “Tờ báo ăn khách hay không chủ yếu là do nội dung, chứ không phải hình thức. Các anh chủ trương in bốn màu thì giá thành tờ báo rất cao, bán mắc, khó lòng được bạn đọc chấp nhận”. Trái lại, tất cả chúng tôi tin rằng với nội dung hấp dẫn, bạn đọc sẽ vui lòng bỏ thêm tiền để nó có hình thức đẹp, làm một bó hoa trao cho bạn đọc ngày chủ nhật. Số báo thứ 8 ra ngày 11-3-1990 đưa tới bước ngoặt khi đăng bài “Xưởng nước hoa Thanh Hương tồn tại đến bao giờ?” nói về chuyện huy động vốn 19 tỉ đồng với lãi suất 14% trong khi sản xuất thu lại chưa tới 2 triệu đồng / tháng của Nguyễn Văn Mười Hai. Loạt bài về nước hoa Thanh Hương đã đưa số lượng in của tờ báo tăng vọt. Lao Động Chủ Nhật thắng lớn đưa tới quyết định xuất bản ba kỳ báo / tuần, cũng rất thành công. Cả ba kỳ báo đều phát hành ra sạp trên toàn quốc với số lượng cao nhất trong các báo trung ương. Tôi từ chối ứng cử vào Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động, đề đề cử người trẻ tuổi Hồng Đăng. Hồng Đăng đắc cử vào Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động với số phiếu rất cao. Cuối năm 1993, tôi nói với Hồng Đăng, mình rất yên tâm để nghỉ hưu vì đã có chú kế nhiệm. Vẫn biết quyền lực làm tha hóa con người, nhưng ở trường hợp Hồng Đăng thì vừa “đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”. Sau Đại hội Công đoàn toàn quốc khoảng hai tháng, tôi vào Sài Gòn thì hôm sau, bốn anh Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Nguyễn Hữu Tính yêu cầu gặp riêng. Mỗi người kể một số biểu hiện không hay của Hồng Đăng. Nói chung là hách dịch, độc đoán, không minh bạch trong thu, chi. Cuối buổi gặp, anh Lý Quý Chung lại đề nghị, khi góp ý với Tám Đăng xin anh giữ kín chuyện bốn anh em chúng tôi gặp anh hôm nay. Trong “Hồi Ký Không Tên”, khi nhắc lại chuyện đổ vỡ của tập thể chủ chốt báo Lao Động, anh Lý Quý Chung viết “tôi cho rằng trong cương vị tổng biên tập, anh Tống Văn Công thiếu sự quyết đoán và không kịp thời chặn đứng những lệch lạc trong nội bộ, khiến cho con đường phát triển độc đáo của tờ báo – một tờ báo mang tính đột phá về nghề nghiệp ở thời điểm đó – bị khựng lại giữa lúc đầy hưng phấn”. Cái lỗi “không kịp thời chận đứng” của tôi có một phần từ yêu cầu “giữ kín” của anh! Cuối năm 1993 tôi cao hứng làm một bài thơ và nộp bài cho nhà thơ Hoàng Hưng trưởng ban Văn hóa Văn nghệ, trước khi ra Hà Nội. Trong khi làm báo Xuân, Lý Quý Chung vẫn hay gọi điện cho tôi tán chuyện. “Tán” với nhau một lúc, tôi chợt hỏi, bài thơ của mình có được Hoàng Hưng duyệt cho vào báo Xuân không? Lý Quý Chung đáp có, nhưng không phải vào báo Xuân mà là báo Tết. Ngưng mấy giây, anh hỏi thêm, anh thấy sao? Tôi nói, được vô báo Tết cũng khoái, nhưng vô báo Xuân thì khoái hơn. Chung nói, thế à? Không ngờ sau đó anh đưa bài thơ vô báo Xuân. Trong cuộc họp cuối năm, Hồng Đăng đã gay gắt phê bình Lý Quý Chung là “vô tổ chức, vô kỷ luật, tùy tiện đưa bài thơ đã được người chủ biên xếp vào báo Tết chuyển qua báo Xuân mà không xin ý kiến”. Lý Quý Chung trả lời, anh thấy không cần xin ý kiến là vì: 1/ bài đã được duyệt, tức là nội dung không có vấn đề; 2/ bài không hề kém những bài đã được chọn cho trang thơ báo Xuân. Đến đây thì Hồng Đăng nổi nóng, dùng những từ ngữ mà Lý Quý Chung gọi là “xài xể”. Sở dĩ Lý Quý Chung quá bức xúc là vì trước đó một tuần có một việc xảy ra khi Hồng Đăng đi vắng, anh Chung trực tiếp báo cáo ra Hà Nội cho tôi. Biết chuyện này, Hồng Đăng đã to tiếng phê bình anh Chung ngay giữa sân cơ quan, “từ nay ông đừng làm việc với tôi mà cứ trực tiếp với Hà Nội!” Tết năm 1994, từ Hà Nội tôi về tới Sài Gòn thì các anh Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Nguyễn Hữu Tính yêu cầu gặp và đưa ra yêu cầu: Cả bốn người không thể cộng tác với Hồng Đăng, nếu tổng biên tập chọn Hồng Đăng thì ngay ngày mai cả bốn người xin thôi việc. Tôi gặp Hồng Đăng bàn cách hòa giải. Không ngờ vừa nghe nửa chừng, anh đứng lên nói to, “anh bảo cho bốn anh đó biết để họ yên tâm, ngay bây giờ, tôi thôi việc!” Nói xong, anh bước nhanh ra cửa. Tôi gọi giật lại, “Chú Tám, chú nên bình tỉnh cùng tôi hòa giải với anh em”. Hồng Đăng xua tay rồi đi nhanh không ngoái lại. Mồng bốn Tết, tôi phải ra Hà Nội để kịp dự cuộc họp do ban Tư tưởng Văn hóa triệu tập. Hai hôm sau, khoảng 9 giờ tối, Hồng Đăng gọi điện thoại: “Anh ơi, tôi gọi để báo với anh một tin quá bất ngờ. Bên an ninh người ta phát hiện là ở cơ quan mình có một âm mưu chính trị diễn biến hòa bình nhằm vô hiệu hóa tôi, người mà họ cho là có vai trò ‘gác cổng chính trị’! Theo cơ quan an ninh thì người chủ mưu vụ này là Lý Quý Chung”. Tôi không thể ngờ Hồng Đăng có thể phản đòn bằng cách vu khống chính trị bẩn thỉu như vậy. Dù rất tức giận, nhưng tôi cũng cố ôn tồn: “Chú Tám à, mấy anh em này vốn là những người rất quý chú. Chú cũng là người nhiều năm qua có nhận xét rất tốt về họ khi làm việc với cơ quan an ninh. Nay dù có bất mãn, có phản ứng quá đáng, nhưng chú là người lãnh đạo, trước hết nên tự xét mình và nên rộng lượng đối với anh em, không nên đánh lại anh em bằng đòn chính trị! Tôi không thể đồng tình với chú trong chuyện này. Hồng Đăng đáp: “Anh ơi, tại sao anh lại nói như vậy, tôi xin nhắc lại, đây là phát hiện của cơ quan an ninh. Tôi vừa mới biết đã vội báo ngay cho anh”. Tôi nói, chúng ta dừng câu chuyện ở đây để hai anh em mình cùng suy nghĩ, sau 30 phút tôi sẽ gọi lại chú. Sau này tôi mới biết, ngay hôm tuyên bố bỏ việc về nhà, Tám Đăng gọi hai anh cán bộ báo Quân Đội Nhân Dân ở bộ phận phía Nam đã nhiều năm làm công việc chữa morat cho tờ Lao Động Chủ Nhật, bàn cách tố giác “âm mưu chính trị” tới Cục 2 (từ năm 1995 là Tổng cục 2) và ông Lê Khả Phiêu, thường trực ban Bí thư Trung ương Đảng và ông Nguyễn Văn Linh cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ đó đưa tới cuộc họp của Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Đỗ Mười chủ trì, đưa ra kết luận bốn điểm: 1- đội ngũ báo Lao Động do Tống Văn công tập hợp không đảm bảo an ninh chính trị. 2- Từ ngày Tống Văn công làm tổng biên tập có nhiều loạt bài làm Bộ Chính trị không yên tâm. 3- Báo Lao Động là cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại sao Tống Văn Công đặt phòng thư ký tòa soạn ở Sài Gòn? 4- Hiện nay có tố giác đang xảy là âm mưu diễn biến hòa bình. Dừng nói với Hồng Đăng, tôi gọi điện thoại cho anh Khổng Minh Dụ, cục phó A 25. Gia đình cho biết anh Dụ còn ở cơ quan. Tôi gọi lên cơ quan. Sau khi nghe tôi kể, anh nói, giờ này tôi còn ở cơ quan là để giải quyết những chuyện chính trị, nhưng không phải của báo Lao Động. Ở báo Lao Động chỉ là mất đoàn kết nội bộ, chứ chả có chính trị chính em gì cả. Nghe vậy tôi có phần yên tâm, nhưng lại nghĩ, Hồng Đăng có thể đã đánh động tới Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Nguyễn Văn Tư, tôi liền đến nhà ông. Ông Tư mở cửa, dưới ánh điện, mặt ông đỏ rực vẻ hết sức căng thẳng nói, tôi định gọi anh thì may quá, anh đã tới. Tôi hỏi lại, chú Tám Đăng vừa gọi cho anh phải không? Anh yên tâm anh Khổng Minh Dụ cục A 25 vừa cho tôi biết, ở báo Lao Động chỉ là mất đoàn kết, chẳng có vấn đề chính trị chính em gì cả. Ông Tư lắc đầu, không phải từ A 25! Đây là Cục 2 Tình báo Quân đội, họ đã báo cáo với Bộ Chính trị! Anh gọi điện ngay cho Hồng Đăng để tôi nói chuyện. Tôi quay điện thoại trên bàn ông Tư. Vợ Hồng Đăng trả lời, anh Công à, anh Tám đi vắng, sáng mai anh hẵn gọi nha. Tôi bảo, cô đi tìm Chú Tám ngay, bảo anh Tư cần nói chuyện. Nghe vậy vợ Hồng Đăng vội vã gọi to, anh Tám ơi, dậy, dậy nói chuyện với anh Tư. Thì ra, sau khi bắn mũi tên “chính trị”, chú ta đi ngủ, không cần nói gì với tôi nữa. Ông Từ chỉ nói một câu: sáng mai chú phải đến cơ quan, ngày kia, tôi với anh Công sẽ vào. Ông Tư họp cơ quan miền Nam báo Lao Động, cho biết ông đã nhận được nhiều dấu hiệu mất đoàn kết trong anh em, nên muốn được nghe ý kiến từng người. Sau hai tuần, nghe ý kiến tất cả anh em, ông Tư họp cơ quan nói rõ nhận xét của mình: Không có âm mưu chính trị nào cả mà chỉ do mất đoàn kết nội bộ. Nguyên nhân là do anh Tống Văn Công quá tin tưởng, giao quyền cho anh Hồng Đăng rộng quá mà thiếu sự kiểm soát. Anh Hồng Đăng lạm quyền, độc đoán, không tôn trọng anh em, hoạt động kinh doanh ngoài tờ báo không minh bạch. Từ ngày mai, anh Công phân công lại tòa soạn, sau đó từng thành viên trong ban biên tập phải tự kiểm điểm trách nhiệm của mình về tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng hiện nay. Tôi nói với Hồng Đăng, vì mấy anh em ở ban thư ký tòa soạn không chịu cộng tác với chú, nên tạm thời chú làm việc ở vòng ngoài, bao giờ hòa giải với nhau xong tôi sẽ đưa chú trở lại vị trí cũ. Tám Đăng phản ứng rất ngớ ngẩn, anh ạ, tôi xin nhắc anh, chức vụ của tôi là do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam bổ nhiệm đấy. Tôi bảo, chức vụ của chú là do tôi đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động bổ nhiệm, phó tổng biên tập là người giúp việc cho tổng biên tập, có đúng thế không? Hồng Đăng cười gượng. Nhưng sau đó, anh ta tiếp tục sử dụng một số người thân cận gây rối. Loan truyền tin tức về cố vấn Nguyễn Văn Linh đang rất quan tâm đến người trợ lý cũ của mình bị vô hiệu hóa. Ngấm ngầm vận động anh em ký tên vào bản kiến nghị gửi lên Trung ương Đảng yêu cầu khôi phục vai trò người ‘gác cổng chính trị’ ở báo Lao Động. Phan Tùng trưởng ban Quốc tế (nhân vật mà trước đó hai năm nhà văn Bùi Việt Sĩ cho là có nhân tướng phản phúc) viết lá thư hướng dẫn cô Thanh Vân nhân viên ban thư ký tòa soạn cách gài bẫy tổng thư ký tòa soạn Lý Quý Chung bằng bản tin về vụ Thiên An Môn. Cô Thanh Vân xem thư xong đã xé nhỏ ném vào sọt rác. Anh Trần Thức nguyên giảng viên trường Đại học Sư phạm Huế, lúc đó làm công việc sửa morat nhìn thấy, đã moi từng mảnh nhỏ của lá thư, dán lại trên giấy, nộp cho tổng biên tập. Tôi gọi Phan Tùng, đưa lá thư bị xé đã được dán lại, yêu cầu anh viết bản tự kiểm điểm nói rõ anh biết lá thư này nhằm mục đích gì. Phan Tùng không tự kiểm điểm mà viết bản tường trình kể rằng mình nhận nhiệm vụ do Đảng cấp trên giao nhằm phát hiện bọn âm mưu diễn biến hòa bình trong tờ báo. Tôi bảo, Phan Tùng ghi rõ tên người thay mặt Đảng cấp trên chỉ đạo anh làm việc này, tôi sẽ xem anh là người có công làm nhiệmm vụ đặc biệt cho Đảng, tuy có sơ suất. Nếu anh không nói được tên người chỉ đạo thì ngay ngày mai tôi mời họp chi bộ đuổi anh ra khỏi Đảng, sau đó cho anh hưởng ba tháng lương để đi tìm việc nơi khác. Phan Tùng không thể tin rằng tôi là một kẻ có tên trong sổ đen vì âm mưu diễn biến hòa bình, lại có thể đuổi ra khỏi “Đảng quang vinh” một người có lý lịch như anh ta: Nguyên chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, con rể ông Phan Văn Dỉnh Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế, cánh tay phải của nguyên trợ lý báo chí tổng bí thư Nguyễn Văn Linh! Phan Tùng nộp bản tường trình mới khẳng định: không thể công khai tên của đồng chí cấp trên, vì đó là nguyên tắc của Đảng. Tôi họp đảng bộ báo Lao Động cả miền Bắc và miền Nam, chỉ trừ ba phiếu của Phan Tùng, Tám Đăng, Tư Hạnh (vợ Tám Đăng), còn lại đều biểu quyết khai trừ Phan Tùng ra khỏi Đảng. Sau đó, Phan Tùng xin về Liên hiệp Hợp tác xã thành phố Hồ Chí Minh. Đoàn kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra thuộc Tổng Liên đoàn Lao động kết luận các hoạt động kinh tế ở cơ quan báo Lao Động thường trú miền Nam do Hồng Đăng trực tiếp điều hành có 5 sai phạm nghiêm trọng: Mua bán đất Cầu Tre vi phạm luật đất đai; mua bán ở phòng Kinh Doanh và thu chi tiền quảng cáo không minh bạch. Đảng bộ báo Lao Động quyết định khai trừ Hồng Đăng ra khỏi Đảng và được Đảng ủy cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chấp nhận. Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động quyết định cách chức phó tổng biên tập và buộc thôi việc đối với Hồng Đăng. Suốt hai tháng thực hiện việc “kiểm điểm”, số đông anh em, nhất là các cán bộ chủ chốt của tờ báo quan tâm cách xử lý đối với tôi. Lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động biết điều đó nên đã luôn trấn an là “anh Công sẽ còn tiếp tục làm việc” và tổ chức thăm dò xem những ai sẽ nghỉ việc nếu tôi bị buộc phải nghỉ hưu. Ngày 9 tháng 10 năm 1994, anh Nguyễn Hữu Tính trưởng cơ quan miền Nam báo Lao Động có thư báo cáo Tổng Liên đoàn Lao động là đã có 19 người gặp anh “bày tỏ sẽ nghỉ việc ngay”. Trong đó có Lý Quý Chung tổng thư ký tòa soạn, Trần Trọng Thức trưởng ban Kinh tế, Hoàng Thoại Châu (bút danh Ba Thợ Tiện), họa sĩ Chóe, Lê Xuân Tiến trưởng ban Thể thao, Đinh Quang Hùng trưởng ban In ấn và Phát hành báo, Lưu Trọng Văn cây bút phóng sự điều tra sắc bén. Từ danh sách này bà Hoàng Thị Khánh phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động chọn mời 4 người mà bà cho là quan trọng nhất đối với chất lượng tờ báo là Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Chóe, Ba Thợ Tiện để “công tác tư tưởng”. Bà nói tờ báo không phải của riêng anh Tống Văn Công mà nó là của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn. Tổng Liên đoàn Lao động vừa muốn bảo vệ tôi để giữ được những nhà báo giỏi, vừa muốn chứng tỏ đã tôn trọng các kết luận của Bộ Chính trị. Phương án giải quyết được chọn là: Tôi không còn là tổng biên tập mà là “cố vấn” hoặc “phó tổng biên tập”, nhưng vẫn là người thực sự điều hành tờ báo y như trước. Các nhà báo có vai trò chủ chốt đứng đầu là Lý Quý Chung không chịu như vậy. Lý Quý Chung nói: “Chỉ thêm chữ Q. trước ba chữ tổng biên tập tôi cũng thôi việc, chứ chưa cần hạ xuống phó tổng biên tập” (thêm chữ Q. tức là “quyền tổng biên tập”). Ngày tôi nhận quyết định nghỉ hưu, cầm vé máy bay để hôm sau về Sài Gòn, thì bất ngờ có giáo sư Nguyễn Lân Dũng đến thăm. Tôi phân trần, mình lu bu quá nên không báo cho Nguyễn Lân Dũng biết chuyện mình nghỉ hưu và về Sài Gòn. Nguyễn Lân Dũng trố mắt ngạc nhiên hỏi “vì sao?” Tôi nói, mình phải chịu trách nhiệm về nội bộ lục đục và bị tố cáo có âm mưu diễn biến hòa bình. Lân Dũng bảo, anh nào tố cáo bậy bạ vậy? Anh không quen với một ông Bộ Chính trị nào hay sao? Tôi nói, mình quen ít nhất ba bốn ông chứ, nhưng để làm gì? Chẳng lẽ chạy đến xin được giúp đỡ? Dũng hỏi, anh Phạm Thế Duyệt có biết chuyện này không? Không chờ tôi trả lời, Nguyễn Lân Dũng quay chiếc điện thoại trên bàn tổng biên tập. “Thưa anh Duyệt, tôi Nguyễn Lân Dũng đây! Tôi đang ở chỗ anh Công. Tại sao anh Công nói ngày mai anh ấy về Sài Gòn, không ra nữa, anh đã biết chuyện này chưa ạ? Vâng, vâng, anh Công đang ở đây, anh Duyệt muốn nói với anh”. Tôi bước lại cầm ống nghe. Anh Duyệt hỏi, hai giờ chiều nay anh Công đến nhà mình được không? Tôi nghĩ, đến từ giã người đã đưa mình ra Hà Nội là phải lẽ. Khi anh Phạm Thế Duyệt từ chỗ là chủ tịch Công đoàn Mỏ Mạo Khê, do “cơ cấu” đã vọt lên làm chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động, tôi đang kiêm nhiệm phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam. Tôi đã đưa anh đi thăm các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên gần một tháng do đó đã nảy nở một tình thân. Dù là cấp trên, nhưng anh kém tôi bốn tuổi, tham gia cách mạng và vào Đảng đều sau tôi gần 10 năm cho nên tôi cũng được anh nễ trọng. Khi tôi bị Thành ủy Sài Gòn cách chức, anh đã vào xin Thành ủy cho chuyển tôi về cơ quan miền Nam của báo Lao Động. Anh Phạm Thế Duyệt ra tận cổng đón tôi vào. Từ ngày anh rời Tổng Liên đoàn Lao động, làm bí thư Thành ủy Hà Nội cho đến nay tôi mới tới nhà anh. Chỉ có hai anh em trong phòng khách, nhưng anh hạ giọng thầm thì: Bộ Chính trị có một phiên họp đặc biệt về báo Lao Động. Tống Văn Công bị kết luận bốn vấn đề: Một là anh tổ chức nhân sự báo Lao Động làm cho cơ quan an ninh không yên tâm; hai ...
31 views ·