ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (61) Hồi ký Tống Văn Công Hầu Ban Tuyên huấn Làm báo trong chế độ xã hội chủ nghĩa ngán nhất là phải hầu ban Tuyên huấn. Lâu nay khi bàn về tự do báo chí, người ta thường cho rằng vấn đề chủ yếu là được phép ra báo tư nhân. Không đúng! Sau tháng tư năm 1975, Đảng Cộng sản đã từng cho phép Tin Sáng và Đứng Dậy (Đối diện của Chân Tín Nguyễn Ngọc Lan trước 1975) tái xuất bản. Nhưng cả hai tờ báo này hoàn toàn không có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Bởi vì hàng tuần họ phải đến nghe đại diện ban Tuyên huấn của Đảng chỉ đạo: việc nào được phép nói, và nói to hay nói nhỏ; việc nào tuyệt đối không được đụng tới, không được nói bóng nói gió. Đó là biện pháp “siêu kiểm duyệt”. Vậy mà cuối cùng Đảng vẫn không yên tâm, đã cho họ “hoàn thành nhiệm vụ”. Do đó, tự do báo chí trước hết là không bị đảng cầm quyền chỉ đạo. Suốt đời “làm báo cách mạng” tôi phải chịu sự chỉ đạo và nhiều lần phải đi hầu ban Tuyên huấn. Xin kể vài chuyện. Báo Xuân năm 1990, Hội Nhà báo tổ chức chấm giải báo đẹp có thưởng. Báo Lao Động được giải B, không có giải A. Ban tổ chức cho biết lẽ ra Lao Động được giải A, nhưng vì đăng quảng cáo ở trang bìa, dù là bìa phụ, làm mất tính trang nghiêm nên bị hạ xuống giải B. Tôi nói, nếu vì lý do đó thì tôi không nhận giải, vì không chấp nhận cái gọi là mất tính trang nghiêm ở đây. Sau chuyện này, phó ban Tuyên huấn Hữu Thọ đưa ra góp ý trong cuộc họp đầu năm, lấy báo Nhân Dân để so sánh, coi đăng quảng cáo như dấu hiệu chạy theo thương mại. Khi lên trưởng ban Tuyên huấn, Hữu Thọ nhiều lần góp ý với tôi là nên đưa hai mục “Nói hay đừng” do Ba Thợ Tiện viết và “Tranh biếm liên hoàn” của Choé ở trang nhất vào bên trong, với lý do là “phải giữ cho trang nhất một không khí trang nghiêm”. Tôi trả lời ông, bạn đọc cần nghiêm túc, chính xác, bổ ích chứ không cần trang nghiêm. Sau vụ tố cáo âm mưu diễn biến hòa bình, tôi bị cho về hưu, Hữu Thọ lại nhắc nhở tổng biên tập Phạm Huy Hoàn điều này, hai mục trên được đưa vào trong cho tới nay. Năm 1992 nhà báo Lưu Trọng Văn đặt câu hỏi với nhạc sĩ Trần Kiết Tường rằng “bài hát ‘Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người’ ông sáng tác trong hoàn cảnh nào?” Nhạc sĩ Trần Kiết Tường trả lời: “Sở dĩ sáng tác được bài này là nhờ tôi ở ngoài Đảng.” Đọc câu này tổng thư ký tòa soạn Lý Quý Chung và phó tổng biên tập Hồng Đăng đều ngạc nhiên và thích thú, nhưng lại sợ bị quy “quan điểm lập trường” nên chờ tôi đọc và yêu cầu, nếu tổng biên tập đồng ý thì xin cho một chữ ký với hai chữ “đã duyệt”. Đọc câu trả lời của nhạc sĩ Trần Kiết Tường tôi nhớ ngay đến chuyện ban giám khảo văn nghệ Nam bộ thời chống Pháp do ông Hà Huy Giáp phó bí thư kiêm trưởng ban Tuyên huấn Trung ương cục miền Nam phê phán bài “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Hữu Trí đảng viên, đại đội phó, trưởng ban Quân nhạc Khu 8 là một bài hát lai căng cả nhạc và lời. Ý kiến phê bình vô lý đó đã khiến Nguyễn Hữu Trí rời bỏ quân ngũ về ở ẩn tại Cần Thơ quê nhà, còn Nguyễn Bính thì ra bờ sông ven Huyện Sử, mở quán bán sách báo. Ở vùng mỏ Quảng Ninh năm 1967, tại cuộc triển lãm tranh của các họa sĩ trong tỉnh, ông ủy viên ban Thường vụ Tỉnh ủy đã to tiếng phê bình một bức tranh vẽ cây cổ thụ cành lá quấn quýt xum xuê: “Tác giả bức tranh này không quán triệt nhiệm vụ phát triển ngành than, nền kinh tế chủ yếu của tỉnh nhà. Nếu trồng toàn những cây có cành lá uốn éo cong queo thế này thì làm sao có gỗ ngay thẳng để chống lò? Tất cả các mỏ hầm lò chắc chắn phải ngừng khai thác?” Ý kiến trên đã được tờ báo địa phương in chữ đậm và tác giả của nó được suy tôn là “vị Các Mác của tỉnh nhà!” Nhà văn Sơn Nam, người đã từng được ban giám khảo do Hà Huy Giáp lãnh đạo chấm giải nhất những tác phẩm “Bên rừng Cù lao Dung” và “Tây đầu đỏ”, nhưng sau 20 năm “sống trong lòng địch” đã bị “tự diễn biến” cho nên nhiều lần nói lén với tôi: “Ông Công này, bao giờ còn dưới sự lãnh đạo của Đảng các ông thì không thể có tác phẩm ‘ra hồn’ được đâu”. Do đó, tôi quyết định phải công bố ý kiến của Trần Kiết Tường. Quả nhiên báo in bài này vừa phát hành đã bị Bộ Văn hóa Thông tin phê bình trong bảng thông báo hàng tuần, tiếp theo là ban Tư tưởng Văn hóa chất vấn trong cuộc họp với các tổng biên tập do trưởng ban Trần Trọng Tân trụ trì. Trả lời câu hỏi tại sao lại cho đăng “ý kiến oái oăm này”, tôi đáp: Theo tôi được biết, bản nhạc này vừa ra đời đã bị Tố Hữu phê bình là ủy mị không thể hiện đúng đắn tình cảm lành mạnh của nhân dân anh hùng ca ngợi lãnh tụ anh minh của mình. Trước nguy cơ bản nhạc sắp bị cấm, một số người đã đưa nó vào đêm nhạc giải trí của chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ Hồ nghe bài hát ca tụng mình đã rưng rưng xúc động. Một lúc sau, cụ hỏi “chú nào là tác giả bài hát này?” Câu hỏi ấy đã cứu bài hát khỏi bị bức tử và sau đó được xuất hiện trên các sân khấu ca nhạc nhiều hơn hẳn so với các bài ca ngợi Cụ Hồ trước kia. Tôi đã trả lời chất vấn của ban Văn hóa Tư tưởng rằng, đăng ý kiến trung thực của nhạc sĩ Trần Kiết Tường tác giả bài hát là để ngăn chặn những người lãnh đạo bảo thủ dùng quyền lực giết chết sự sáng tạo của nghệ sĩ đã từng xảy ra nhiều lần. Tôi kể từ bài “Tiểu đoàn 307” thời chống Pháp đến tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh Tuân, tiểu thuyết “Mùa hoa giẻ” của Văn Linh, thơ “Trò chuyện với Thúy Kiều” của Lý Phương Liên… đã bị bức tử ở thời xã hội chủ nghĩa. Ông Trần Trọng Tân im lặng hồi lâu rồi nói: “Tuy vậy những ý kiến này chỉ nên trao đổi trong nội bộ, chưa nên phổ biến trên truyền thông đại chúng gây những suy diễn không có lợi cho sự lãnh đạo của Đảng ta trên mặt trận văn hóa văn nghệ vốn rất phức tạp đã từng xảy ra Nhân văn Giai phẩm”. Sau đó ông chuyển sang vấn đề khác. Năm 1991 trong vòng một tháng báo Lao Động có bốn bài phê bình bốn vị bộ trưởng. (Bộ trưởng bộ Y tế Phạm Song lem nhem giành nhà cửa; Thống đốc ngân hàng nhà nước Cao Sĩ Kiêm không nghiêm túc thực hiện sắc lệnh đổi mới ngân hàng; Bộ trưởng lâm nghiệp Phan Xuân Đợt phá rừng mà không trồng rừng bù lại; bộ trưởng bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải chậm xây dựng nhà máy điện). Tôi được ban tư tưởng văn hóa mời riêng để góp ý. Lúc này ông Trần Trọng Tân đã vào Sài Gòn làm Phó bí thư Thành ủy. Ông Hữu Thọ lên trưởng ban. Tôi nói, tất cả các bài báo đều rất chính xác. Nếu các bộ trưởng không đồng ý thì xin cứ gửi bài phản biện, chúng tôi sẽ trả lời đúng quy định của pháp luật. Trưởng ban Hữu Thọ cười đáp: “Hôm nay ban không mời Tổng Biên tập Tống Văn Công mà mời đảng viên Tống Văn Công, cho nên chúng ta không nói chuyện pháp luật mà chỉ nói về ý thức trách nhiệm của đảng viên đối với chính phủ do Đảng mình lãnh đạo”. Tôi nói, dù chỉ xét về trách nhiệm đảng viên cũng vẫn phải căn cứ theo luật pháp chứ anh. Hữu Thọ cười, rồi thân tình nói bỗ bã theo kiểu bạn bè: “Tao hỏi mày, một chính phủ mà chỉ trong một tháng bị mày phê phán te tua tới bốn vị bộ trưởng thì còn đâu uy tín với trong, ngoài nước?” Tôi đáp, nếu chính phủ chân thành tiếp thu phê bình và có cách sửa chữa tốt thì uy tín không thể giảm mà càng tăng cao, và quan trọng hơn là đất nước phát triển, nhân dân được lợi. Trong số báo 96-97-98 năm 2012 báo Lao Động tôi có kể lại câu chuyện trên. Trong dịp gặp nhau ở Hà Nội, Hữu Thọ vui vẻ nói “tao có đọc bài mày chửi tao. Thù dai thế!” Posted on Tháng Chín 16, 2018 by Phan Ba Līnk: https://phanba.wordpress.com/2018/09/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-61-hau-ban-tuyen-huan/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (62): https://www.minds.com/newsfeed/1020229600191000576?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (60): https://www.minds.com/newsfeed/1020228129955303424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
3Upvotes
1Remind

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (60) Hồi ký Tống Văn Công Hai cuộc phỏng vấn Năm 1992, tờ báo đã tích lũy được một số tiền khá lớn, chúng tôi chủ trương trang bị máy móc hiện đại cho Xí nghiệp In Lao Động ở Hà Nội. Sau khi vay thêm tiền ở ngân hàng đầu tư phát triển, tôi mời ông tổng giám đốc bữa cơm. Tôi để máy ghi âm trên bàn, rồi vừa ăn vừa trò chuyện với ông tổng giám đốc về những khó khăn trong hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển, những đề án vay tiền có kèm theo thư tay của một “ông cốp”, tệ “phết phẩy” (hưởng tỉ lệ phần trăm khi thực hiện dự án vay). Tôi mở máy ghi âm chép lại cuộc trò chuyện, chuyển cho ông tổng giám đốc xem lại trước khi đăng báo. Bài báo đã gây tác động mạnh trong dư luận. Nhà báo Lý Quý Chung cho rằng bài này có thể làm mẫu cho trường báo chí khi sinh viên học thể loại phỏng vấn. Tết năm 1992 (Nhâm Thân), tôi gọi điện anh Hà Nghiệp trợ lý tổng bí thư Đỗ Mười đề nghị anh bố trí giúp tôi gặp phỏng vấn Tổng Bí thư để đăng báo. Anh Hà Nghiệp bảo tôi: “Anh ơi, tổng bí thư chỉ trả lời trong cuộc họp báo có phóng viên trong ngoài nước sau đại hội Đảng thôi. Anh muốn Tổng Bí thư nói gì cho tờ báo của Công đoàn thì anh cứ đặt câu hỏi và anh cũng viết nội dung trả lời giùm luôn. Sáng thứ hai, anh Mười nói chuyện với cán bộ thủ đô tại hội trường Ủy ban Nhân dân Thành phố. Anh đến sớm, khoảng 11 giờ 15, chịu khó chờ anh ấy kết thúc cuộc nói, để đưa bài cho ông ấy xem lại và tôi bố trí để chụp bức ảnh anh phỏng vấn tổng bí thư”. Quá ngây thơ, tôi cứ tưởng bở, phen này ta sẽ đưa ý kiến Tổng Bí thư giải phóng cho Công đoàn thực sự là một tổ chức thay mặt và bảo vệ quyền lợi của công nhân, không phải là thân phận của một lũ “ăn theo nói leo” nữa. Tôi đã đặt vào miệng ông Tổng Bí thư những lời vàng ngọc về trách nhiệm của công đoàn tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất, kèm theo phải có kế hoạch bảo hộ lao động, đảm bảo tiền lương tương xứng với lao động bỏ ra, tổ chức bữa ăn giữa ca đủ dinh dưỡng và hợp vệ sinh; Công đoàn phải căn cứ tình hình thực tế để chủ động đề ra biện pháp giải quyết, không nên chờ đảng ra nghị quyết rồi mới dựa theo đó mà lập chương trình hành động (câu này đã phạm huý vô cùng nghiêm trọng). Tôi đến sớm hơn giờ hẹn mười lăm phút. Tổng bí thư đang nói chuyện với cán bộ Hà Nội. Tôi ngồi với anh Hà Nghiệp đến hơn 12 giờ trưa mà ông ấy vẫn chưa dừng lời! Khi rời hội trường, ông có vẻ rất mệt mỏi, ngồi phịch xuống ghế ngã bật ra sau. Anh Hà Nghiệp bố trí cho tôi ngồi một cái ghế bành ngang với ông qua chiếc bàn nhỏ. Tôi cho ngồi như vậy giống như hai chính khách ngồi đàm luận, không giống nhà báo phỏng vấn, nên chạy tìm một cái ghế khác kiểu đặt chênh chếch phía ngoài ông ấy. Hôm sau, văn phòng tổng bí thư gửi lại tòa báo bài phỏng vấn. Tôi đọc, không còn một chữ nào của tôi cả! Tôi đọc mà phát ngượng vì phải đứng tên bài “phỏng vấn” này: hỏi điều mà ai cũng biết. Trả lời y như từ nghị quyết đại hội đảng mà suốt năm qua mọi người đó phải nghe đi, nghe lại đến phát chán. Anh em trong ban biên tập an ủi tôi: “Có ảnh tổng bí thư trả lời tổng biên tập ở trang bìa tờ báo Xuân là sang trọng rồi. Ngày Tết người ta chỉ xem qua chớ có ai đọc đâu. Bài này người ta gọi là loại bài ‘cúng cụ’ mà!” Posted on Tháng Chín 8, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/09/08/tu-theo-cong-den-chong-cong-60-hai-cuoc-phong-van/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (61): https://www.minds.com/newsfeed/1020228931710853120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (59): https://www.minds.com/newsfeed/1020227243914899456?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
20 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (59) Hồi ký Tống Văn Công Tổng chỉ huy đường dây 500 kV Vũ Ngọc Hải phải vào tù Báo Lao Động vào ngày 6 tháng 5 năm 1990, có bài “Ai chịu trách nhiệm về tình hình điện hiện nay?” của nhà báo Nguyễn Minh Đức. Bài báo cho rằng miền Nam thiếu điện là do lãnh đạo ngành điện thiếu trách nhiệm, câu cuối bài “chúng tôi chờ người có trách nhiệm cao nhất của ngành điện trả lời thẳng thắn và trung thực”. Ngay hôm sau, Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương Đảng mời Chủ tịch, Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động cùng với Tổng Biên tập báo Lao Động lên văn phòng của ban để đối thoại với Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải. Tôi đến sớm đứng trước khu nhà để đón chủ tịch Nguyễn Văn Tư và phó chủ tịch Cù Thị Hậu vì hai người này chưa từng đến đây. Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải đến sớm. Thấy ông, tôi lên tiếng chào, nhưng ông ngoảnh mặt, đi thẳng. Chủ trì cuộc họp là Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng Trần Trọng Tân. Mở đầu, ông Tân tỏ ý lấy làm đáng tiếc sự việc đã đưa tới bất hòa không đáng có giữa các đồng chí, mong rằng với thiện chí xây dựng trong buổi gặp gỡ này sẽ tháo gỡ được vướng mắc, hai bên thông cảm nhau. Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải đặt câu hỏi “tại sao một trung ủy (chữ ông dùng có ý nói ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng), có thể bị bêu rếu trên báo quá dễ dàng như vậy? Anh Công đâu có xa lạ gì đối với tôi, mới hồi đầu năm tôi đã mời anh nâng ly mừng năm mới. Tòa báo của anh cũng đâu có quá xa cơ quan Bộ Năng lượng, thế mà tại sao anh không thèm hỏi tôi một câu?” Chủ tịch Nguyễn Văn Tư đề nghị tôi phát biểu. Tôi cho rằng luật báo chí không quy định những đòi hỏi của bộ trưởng, nhưng tôi cũng nhận là mình có thiếu sót về cách cư xử với anh Hải với tư cách là những người từng có quan hệ thân mật. Bây giờ sự việc đã ra công luận, tôi đề nghị Bộ Năng lượng, hoặc là có bài tiếp thụ phê bình, nói rõ sự chậm trễ của mình do có những khó khăn, hoặc là hoàn toàn bác bỏ bài báo của chúng tôi. Chúng tôi đăng nguyên văn bài của Bộ Năng lượng và sau đó chúng tôi xin phép sẽ có bài đáp lại. Chúng ta cứ đối đáp như thế cho tới khi tìm ra sự thật. Cả hội nghị im lặng mấy phút, sau đó ông Trần Trọng Tân hỏi ý kiến ông Hải và ông Hải trả lời tán thành cách xử lý đó. Cuộc họp kết thúc. Một tuần sau, chánh văn phòng Bộ Năng lượng thừa lệnh Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải mang đến tặng báo Lao Động hai chai rượu ngoại và một lá thư cảm ơn bài “phê bình xây dựng ngành năng lượng chúng tôi”. Sau đó ít lâu, tôi có dịp gặp lại Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải, ông phân trần: “Tôi không thể công khai trả lời trên báo rằng ai phải chịu trách nhiệm về tình trạng miền Nam thiếu điện như hiện nay. Bởi vì đó là cấp rất cao, ở trên chính phủ, nói như vậy chắc anh đã biết. Do đó, ở thời điểm này, chúng tôi đành chịu tội oan vậy, hy vọng rồi thời gian sẽ minh oan”. Ông Võ Văn Kiệt được bầu làm thủ tướng ngày 8 tháng 8 năm 1991, ngay sau đó ông bàn với tổng bí thư Đỗ Mười việc xây dựng đường dây 500 kV tải điện từ Bắc vào Nam. Có người nhắc ông về chủ trương bán điện cho Trung Quốc của nguyên tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Ông Kiệt nói, “miền Nam đang thiếu điện tại sao không nghĩ cách đưa điện vào Nam? Tôi còn làm thủ tướng thì không bao giờ bán điện ra nước ngoài, trong khi có nơi đồng bào chưa có điện”. Ông Đỗ Mười tán thành ý kiến ông Kiệt, nhưng không đưa ra bàn trong Bộ Chính trị vì biết sẽ có người phản đối. Sau cuộc mật đàm Thành Đô, ông Linh chủ trương bán điện cho Trung Quốc để tăng cường quan hệ hữu nghị hai nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nhưng đến hết nhiệm kỳ, ông vẫn chưa thực hiện được việc bán điện cho Trung Quốc, vì chưa xây dựng được đường dây tải. Lê Đức Anh, cái đuôi của Nguyễn Văn Linh, nhân vật thứ hai trong bộ chính trị, chủ tịch nước, kẻ có mặc cảm từng là cấp dưới của ông Kiệt nên luôn ngấm ngầm chống lại. Ngày 25 tháng 2 năm 1992 chính phủ quyết định xây dựng đường dây 500 kV Bắc Nam dài 1487 km có 3000 trụ điện. Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải được giao nhiệm vụ như một tổng công trình sư. Ngày 24 tháng 3 năm 1992 ông Nguyễn Hà Phan đề nghị ông Kiệt dự buổi khai mạc kỳ họp cuối của Quốc Hội khóa 8, nhưng ông Kiệt từ chối, để đi ngay lên công trình đường dây 500 kV. Khởi công đường dây 500 kV trước kỳ họp Quốc Hội đã làm mất lòng các vị lãnh đạo Quốc Hội. Bà Ngô Bá Thành được ông Nguyễn Văn Linh đưa làm chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội to mồm phán, không có ý kiến của Quốc Hội, sau này trụ điện đổ thì ai chịu trách nhiệm. Tháng 9 năm 1992, tại cuộc họp hội nghị cán bộ tổ chức toàn quốc tại Sài Gòn, ông Nguyễn Văn Linh với tư cách “cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng” đã lên án ông Kiệt “làm đường dây 500 kV là một chủ trương phiêu lưu, mạo hiểm, lãng phí tiền của nhà nước, tiêu tiền của nhà nước để gây thanh danh cho cá nhân”. Trong tình hình như vậy, xuất hiện lá thư của giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn từ Pháp gửi về cho rằng đường dây dài sẽ tạo ra chênh lệch 1/4 bước sóng không thể tải điện vào Nam được. Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải trả lời bằng phương án bù 1/4 bước sóng. Ông Kiệt khẳng định, “chúng ta nhất định thành công, nếu thất bại tôi xin chịu cách chức”. Ông Hải không biết rằng mình đang ở trong tầm ngắm của những kẻ chống chủ trương xây dựng đường dây, nói cho đúng là của những kẻ quyết chống ông Kiệt. Dịp Tết năm 1992 ông Đoàn Trung Thành tổng giám đốc Công ty Vinapol, thường trực Hội Hữu nghị Việt Nam – Ba Lan báo cáo với ông Hải chủ tịch hội này, rằng quỹ của hội đã cạn. Ông Hải vừa được các công ty xây lắp đường dây báo cáo là đến tháng 3 năm 1992 vẫn chưa nhập khẩu kịp số thép cần cho việc thi công đường dây 500K. Do đó, Ông Hải gợi ý ông Thành cung ứng 4000t thép trong tháng 3, để kịp đáp ứng cho việc thi công đường dây 500 kV và việc này sẽ giúp Vinapol thu được 3,1 tỉ đồng tiền Việt Nam bổ sung cho quỹ hội. Các báo ở trung ương rộ lên phê phán vụ này là “mua bán lòng vòng làm thất thoát 3,1 tỉ đồng của đường dây 500 kV”. Ông Nguyễn Văn Linh và đệ tử ruột Lê Đức Anh coi đây là dịp tốt để hạ thủ ông Võ Văn Kiệt, họ cho đây là vụ rút ruột công trình và quyết liệt đòi phải nghiêm trị. Ông Kiệt cho rằng việc làm này là sai, nhưng không có động cơ tư lợi, chỉ nên phê bình rút kinh nghiệm. Dịp đó, tôi và anh Phạm Thanh trưởng Ban Công nghiệp báo Nhân Dân cùng một số đồng nghiệp bàn với nhau, liệu vụ này sẽ kết cục thế nào? Chúng tôi cho rằng đây không phải là vụ tham nhũng, không phải “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 22 của Bộ Luật Hình sự. Anh Phạm Thanh hạ giọng thì thầm, “luật gì cũng thua ý kiến của các cụ. Ông Kiệt muốn tha, ông Lê Đức Anh quyết chém đầu, chỉ còn chờ ông Đỗ Mười ngã về phía nào. Nếu ông Đỗ Mười ngã về ông Lê Đức Anh thì Vũ Ngọc Hải phải ‘bóc lịch'”. Tòa án tối cao cũng chỉ cố gắng diễn sao cho thật đẹp “bản án bỏ túi”! Dự đoán của chúng tôi đúng nhưng chưa đủ: ông Đỗ Mười không chỉ đứng về phía ông Lê Đức Anh mà là phải thực hiện ý của “cố vấn Nguyễn Văn Linh”. Dù đã cho ý kiến với ông Mười, nhưng ông Linh còn trực tiếp ra Hà Nội gặp Lê Thanh Đạo, viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, cho ý kiến phải đưa ông Hải vào “khung 2” tức là vào tù. Tòa án Nhân dân Tối cao diễn vượt yêu cầu của ông Linh, ông Mười, ông Anh: đưa vụ án ra xử một phiên sơ thẩm đồng thời là chung thẩm, tước quyền lợi của bị cáo không được qua phiên phúc thẩm. Ông Vũ Ngọc Hải nhận ra cái gốc của vấn đề quá muộn màng: Người ta cho ông vô tù “vì họ muốn ‘chơi’ đường dây 500 kV”! Báo Lao Động đưa đầy đủ ý kiến bào chữa sắc bén của các luật sư và là tờ báo duy nhất đăng lời phát biểu cuối cùng của ông Vũ Ngọc Hải: “Tôi đã nhận khuyết điểm trước chính phủ. Còn nếu kết tội thì phải theo pháp luật. Chính vì vậy tôi đã trình bày trước tòa các yếu tố cấu thành tội phạm theo điều 221 của Bộ Luật Hình sự, tôi đều không vi phạm. Lấy chứng cớ nào để buộc tội tôi đạo diễn ra vụ này? Trong mấy ngày qua, tôi đã được khích lệ ở sự sáng suốt công minh của hội đồng xét xử khi đưa những lời ‘cung’ buộc tội tôi ra cho phân tích, cuối cùng những lời cung vô căn cứ đã bị phủ định. Phần còn lại, tôi hết sức tin tưởng vào hội đồng xét xử sẽ kết luận tôi vô tội”. Lòng tin tưởng của ông vào sự công minh của luật pháp đã bị giáng một đòn nặng: Ba năm tù không cho kháng án! Tết năm 1995 ông Kiệt gợi ý ông Mười ban lệnh đặc xá mấy ngàn phạm nhân. Biết tin này, ông Linh kêu lên “đây là con bài để tha thằng Vũ Ngọc Hải”! Sau khi ra tù, ông Hải bay vào Sài Gòn nhờ nhà báo Minh Thu mời tôi và hai nhà báo Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức gặp nhau ở quán Tip của gia đình Trịnh Công Sơn cùng nâng ly mừng với nhau như những “chiến hữu”. Tôi đến muộn, lúc tôi vừa tới, ông Hải từ thêm nhà hàng chạy vội ra đón, ôm chầm lấy, nói như reo lên: “Anh Công, được gặp nhau, vui quá!” Posted on Tháng Chín 4, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/09/04/tu-theo-cong-den-chong-cong-59-tong-chi-huy-duong-day-500-kv-vu-ngoc-hai-phai-vao-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (60): https://www.minds.com/newsfeed/1020228129955303424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (58): https://www.minds.com/newsfeed/1020225866595209216?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (58) Hồi ký Tống Văn Công Ông Nguyễn Hộ ly khai đảng Cộng sản Tháng 3 năm 1990, ông Nguyễn Hộ rời thành phố về sống ở vùng Phú Giáo, miền Đông Nam bộ. Cuối tháng 8, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đến gặp, khuyên ông nên về Sài Gòn. Ông nói: “Phải chi anh bảo tôi sớm hai tháng thì tôi về. Bây giờ đã muộn rồi, vì tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bí thư thành ủy Võ Trần Chí và các ông Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân chỉ đạo vu cáo tôi, cho rằng tôi là tên phản động, móc nối với CIA, lập Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến để chống Đảng. Họ đã đẩy tôi xuống bùn đen. Trong tình hình như vậy, tôi về thành phố làm gì. Tôi chỉ trở về thành phố khi đất nước Việt Nam có dân chủ tự do”. Khoảng nửa tháng sau, ngày 7 tháng 9 trong khi ông đang bơi xuồng trên sông hái rau cho bữa cơm thì bị công an bắt, xích tay đưa về Sài Gòn giam giữ ở nhiều nơi, cuối cùng quản thúc ông tại nhà. Tôi biết tiếng ông Nguyễn Hộ từ thời chống Pháp, khi ông là Bí thư Đảng đoàn Liên hiệp Công đoàn Nam bộ. Năm 1960 tôi vào làm báo Lao Động thì ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1962 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu thực hiện bảo hiểm xã hội và giao cho Tổng Công đoàn quản lý. Ông Nguyễn Hộ làm trưởng ban Bảo hiểm Xã hội, hai phó ban là Lương Bình Áng, Nguyễn Văn Lạc (Lương Bình Áng sau tháng 5-1975 là giám đốc sở lao động Quảng Nam-Đà Nẵng. Nguyễn Văn Lạc loạn luân, bị Lê Duẩn đòi truy tố, đã tự tử). Tôi được báo Lao Động phân công tuyên truyền hoạt động bảo hiểm xã hội nên thường tiếp xúc với ông. Tôi đã viết quyển sách những bài học qua một năm thực hiện luật bảo hiểm xã hội, nhờ ông đọc trước khi đưa cho Nhà Xuất bản Lao động. Tháng 7-1975, tôi được phân công vào Sài Gòn thành lập tờ báo Lao Động Mới, cơ quan ngôn luận của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam. Sau đó tôi là tổng biên tập đầu tiên của báo Công Nhân Giải Phóng (nay là Người Lao Động) và kiêm trưởng ban Tuyên giáo của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam do ông làm chủ tịch. Ông là người bộc trực, gặp truyện trái ý thì hay to tiếng. Có lần ông ủng hộ hợp tác xã Phước Thanh (ở đường Phan Thanh Giản, nay là Điện Biên Phủ) khi cơ sở này xin phép luyện bô xít ra nhôm thỏi. Tôi góp ý với ông: Luyện nhôm không khó. Cái khó là nó tiêu hao lượng điện quá lớn, trong lúc chúng ta cần điện để làm những việc cấp thiết hơn. Thế là ông quát to, “anh đừng có mà thọc gậy bánh xe”. Nhưng sau khi nắm rõ mọi chuyện, ông tìm tôi nói lời xin lỗi. Ông là người rất thoáng trong truyện dùng người. Ông đưa linh mục Phan Khắc Từ làm Phó Chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định, vì việc này mà Hoàng Quốc Việt và nhiều vị bảo thủ trong Đảng phản đối dữ dội. Chính Phan Khắc Từ đã kể với tôi: trước năm 1975, ông nhận nhiệm vụ làm chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Lao động, sau đó được ông Trương văn Khâm ủy viên Thường vụ Liên hiệp Công đoàn Giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định đưa vào rừng Long Thành gặp ông Nguyễn Hộ lúc đó là ủy viên Thường vụ Khu ủy Sài Gòn-Gia Định phụ trách dân vận, công vận, hoa vận. Ông Từ kể: “Lúc đó, ông Nguyễn Hộ vô cùng hấp dẫn đối với tôi. Một người cao lớn, tiếng nói trầm ấm, ngồi giữa rừng sâu mà phân tích tình hình trong nước và thế giới đâu ra đó. Đặc biệt ông nói về thái độ của các tầng lớp, đảng phái, giai cấp ở Sài Gòn hết sức sáng tỏ. Tự nhiên tôi cảm nhận đây là bài giảng của một đức ‘tổng giám mục cách mạng’. Tôi muốn sống bên cạnh ông để được truyền thụ đức tin cách mạng. Khi nghe tôi ngõ ý như vậy, ông nói ‘cách mạng cần đức cha ở tại thành phố, bởi vì công việc đức cha đang làm không đảng viên nào có thể thay thế được. Đức cha cứ tiếp tục hoạt động thực tế, chính chúng tôi phải học hỏi đức cha'”. Một lần, ông triệu tập họp ban Thường vụ Liên hiệp Công đoàn vào buổi tối và tại nhà riêng của ông ở đường Trần Quốc Thảo. Hôm đó trời nóng, nhưng tôi đang bị cảm, nên mặc áo len. Ông hỏi, cậu bịnh à, rồi quay vào trong gọi “Chánh ơi! Ra đây, ra đây!” Cửa phòng mở, một anh cao lớn, có bộ râu ngoách hiếm thấy bước ra. Ông Nguyễn Hộ chỉ tôi, nói “cậu giải cảm giùm thằng cha này coi”. Chánh bước lại sờ trán tôi, bảo vén áo lên và xoa lưng tôi mấy cái rồi nói “Xong! Sáng mai bác bình phục”. Sau khi Chánh đã vào phòng, ông nói: “Nó bị Ủy ban Nhân dân Quận 6 cấm hành nghề, dọa bắt. Mình đưa nó về trốn ở đây, nuôi cơm và xem nó có tài thực hay nói dóc. Thấy ra nó có tài thực đấy. Mấy cái ông duy vật nhà mình là chúa đa nghi!” Sáng hôm sau, tôi phải đi nhà thương cấp cứu, nhưng không muốn cho ông biết. Một trường hợp khác là ông Bùi Quốc Châu, người sáng tạo ra môn “Diện Chẩn” (xem mặt đoán bệnh như câu ca dao: “Xem mặt mà bắt hình dong. Con lợn có béo thì lòng mới ngon.”). Bùi Quốc Châu đang bị nhiều ông thầy đông y có vai vế kích bác. Ông Nguyễn Hộ mời Bùi Quốc Châu tới thuyết trình cho mình nghe “học thuyết Diện Chẩn”. Nghe xong, ông nói “cậu cố gắng nghiên cứu để hoàn chỉnh Diện Chẩn, mình sẽ làm mọi cách giúp cậu”. Với tư cách phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố, ông gửi công văn yêu cầu Sở Nhà đất cấp ngôi nhà 17B Trần Quốc Thảo để nhà phát minh diện chẩn Bùi Quốc Châu có nơi nghiên cứu và thực nghiệm. Năm 1988 tôi ra Hà Nội, phóng viên Liên Xô Kalatnikov hỏi Sài Gòn có gì mới, tôi kể chuyện diện chẩn của Bùi Quốc Châu cho anh nghe. Kalatnikov báo về Liên Xô, ít lâu sau Bùi Quốc Châu được mời sang Mátxcơva. Từ Mátxcơva truyền tin sang Cu Ba. Bùi Quốc Châu được Cu Ba mời sang và phong “tiến sĩ danh dự”. Sau khi nghỉ hưu, ông Nguyễn Hộ xin thành lập Hội Những Người Kháng Chiến Cũ nhằm mục đích phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đoàn kết giúp nhau trong cuộc sống. Trong đơn xin thành lập Hội, ông cho rằng đây là thực hiện quyền công dân đã được Hiến Pháp ghi nhận. Nhưng lãnh đạo Thành ủy không chấp nhận việc thành lập hội mà chỉ cho ông thành lập Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ. Ông chất vấn: vì sao Hiến Pháp ghi nhận quyền lập hội mà người dân không được cho phép? Không được trả lời, ông đành phải chấp nhận thành lập Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ và xây dựng nội dung hoạt động như sau: Hoạt động bằng các hình thức: tổ chức hội thảo, mít tinh, kiến nghị, viết báo, xuất bản tờ báo Truyền Thống Kháng Chiến, nhằm các mục tiêu cụ thể như chống tiêu cực, quan liêu, cửa quyền, bức hiếp trù dập quần chúng, tham nhũng, bè phái, bao giờ lẫn nhau vì đặc quyền đặc lợi trong hàng ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước. Xây dựng tổ chức, phát triển thành viên, thực hiện đoàn kết, tương trợ, thăm hỏi, chăm sóc gia đình anh chị em có khó khăn, thương binh, liệt sĩ. Kiến nghị Bộ Chính trị phải kiểm điểm định kỳ về sự lãnh đạo của mình, ai có tài có đức thì tiếp tục phát huy, ai không đủ tài đức thì phải rút lui, không cho phép “sống lâu lên lão làng”. Đòi phải thực hiện bầu cử dân chủ, chấm dứt hình thức bầu cử độc diễn. Đòi Quốc Hội cách chức những bộ trưởng, thứ trưởng kém năng lực, thiếu trách nhiệm đưa tới nạn đói trên 10 triệu người năm 1987, và làm cho nhân dân cả nước sống cơ cực kéo dài. Đảng Cộng sản coi những đòi hỏi kể trên đe dọa quyền lãnh đạo của mình, đã làm mọi cách để ngăn chặn: cấm hội thảo, mít ting, cấm ra báo, tịch thu báo Truyền Thống Kháng Chiến tại nhà in. Do có quan hệ rộng, Ông Nguyễn Hộ đưa số báo thứ ba xuống Mỹ Tho, Cần Thơ in được 20.000 tờ. Hôm anh em đưa báo Truyền Thống vừa in xong về Sài Gòn, gặp lúc tôi đến nhà thăm ông. Ông đưa cho tôi 20 tờ và dặn: cậu mang báo ra Hà Nội phân phát cho anh em cán bộ Tổng Công đoàn và nghe góp ý, rồi phản hồi lại, để mình rút kinh nghiệm làm cho tờ báo càng ngày càng tốt hơn. Ngay hôm sau, sở văn hóa thành phố ra lệnh tịch thu báo, cấm phát hành. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bí thư thành ủy Võ Trần Chí chỉ đạo kế hoạch đàn áp Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ, ra lệnh cấm hoạt động, cấm ra báo. Trước tình hình đó, ngày 21-3-1990 ông Nguyễn Hộ rời thành phố, tuyên bố “ly khai đảng Cộng sản, để tiếp tục đấu tranh thực hiện tự do, dân chủ cho nhân dân”. Lập tức những thành viên còn lại của câu lạc bộ bị bắt giam: Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu, Lê Đình Mạnh… Trong một lần bơi xuồng hái rau cho bữa cơm chiều, ông bị cảnh sát còng tay bắt đưa về Sài Gòn. Trong thời gian bị quản thúc tại nhà, ông Nguyễn Hộ tự thấy mình hoàn toàn tự do: “Trên đầu tôi không còn bị kẹp chặt bởi cái ‘kiềm sắt chủ nghĩa Mác-Lênin’. Tôi nhìn thẳng vào sự thật, dám chỉ ra sự thật. Tôi tự phát hiện cho mình nhiều điều lý thú mà bạn đọc sẽ thấy trong bài viết này”. Ông đã chấp bút tác phẩm “Quan Điểm và Cuộc Sống”, rút ra những kết luận nhức nhối về tình trạng đất nước dưới chế độ toàn trị của đảng Cộng sản. Sau đây là những tiêu đề trong quyển sách của ông: Dân chủ tự do là thước đo chính xác lòng trung thành của đảng Cộng sản đối với nhân dân. Những hệ quả khi các quyền tự do dân chủ của nhân dân bị tước đoạt. Đảng Cộng sản Việt Nam quy chụp trấn áp những ai có ý kiến khác họ. Đảng Cộng sản Việt Nam chống đa nguyên, đa đảng. Đa nguyên: biểu hiện muôn màu của mọi sự vật. Dân chủ tự do phải trả giá. Chuyên chế, độc tài: thách thức nghiêm trọng của dân tộc Việt Nam. Ý thức hệ cộng sản dẫn đến các việc đàn áp tôn giáo. Xin trích ra một vài đoạn: “Tôi làm cách mạng trên năm 56 năm, gia đình tôi có hai liệt sĩ: Nguyễn Văn Đảo, anh ruột, đại tá quân đội nhân dân hi sinh ngày 9 tháng 1 năm 1966 trong trận ném bom đầu tiên của quân xâm lược Mỹ vào Việt Nam. Trần Thị Thiệt, vợ tôi – cán bộ phụ nữ Sài Gòn, bị bắt và bị đánh chết tại Tổng nha Cảnh sát hồi Tết Mậu thân, 1968. Nhưng phải thú nhận rằng chúng tôi đã chọn sai lý tưởng chủ nghĩa cộng sản. Bởi vì suốt 60 năm trên con đường cách mạng cộng sản ấy, nhân dân Việt Nam đã chịu sự hy sinh quá lớn lao, nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sỉ nhục.” Đầu năm 2008, ông đã dành cho anh Nguyễn Tiến Trung – Tập hợp Thanh niên Dân chủ một cuộc phỏng vấn. Ông nói “Không dân chủ là phản bội! Trời đất ơi! Không dân chủ là phản bội!” Ông cho rằng không thể chấp nhận chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới thể chế chính trị. Ông nói: “Nếu muốn nói cải cách cho đúng nghĩa của nó thì phải toàn diện. Hiện nay chủ yếu chỉ là tập trung giải quyết kinh tế thôi, còn chính trị đã có Đảng có Nhà nước lãnh đạo. Chưa chắc đúng! Bởi vì theo quy luật, thường thường thằng cha nào có quyền trong tay thì nó luôn luôn hướng về độc tài. Nhân dân là chủ chứ không phải anh là chủ. Dân tộc Việt Nam là chủ đất nước. Không phải dân tộc Việt Nam chỉ biết có ăn thôi. Kinh tế là chỉ biết có ăn thôi! Không lẽ dân tộc này chiến đấu xong rồi chỉ biết có ăn thôi, không biết nói, không biết suy nghĩ gì hết? Không phải vậy! Anh hiểu như vậy là không đúng! Anh coi thường dân tộc anh! Không cho phép anh suy nghĩ như vậy.” Quyển “Quan Điểm của Cuộc Sống” khiến ông bị bắt lần thứ hai. Tổ chức theo dõi nhân quyền đã tặng thưởng cho ông Giải tự do phát biểu Hellmann-Hammett. Hàng tháng, anh Đinh Khắc Cần phó chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh với danh nghĩa đại diện cơ quan đến thăm thủ trưởng cũ, giúp ông những khó khăn trong đời sống. Một dịp Tết, tôi đến mừng tuổi ông. Ông đưa tôi xem tấm thiệp của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh chúc tết ông: “Cậu xem này, họ vẫn cứ gọi mình là đồng chí!” Tôi cười nói: “Người ta muốn chiêu hồi anh đó mà”. Ông đáp: “Mình không chiêu hồi họ thì chớ, làm sao họ chiêu hồi mình được. Chính nghĩa thuộc về mình mà!” Ông qua đời ngày 2 tháng 7 năm 2009 thọ 93 tuổi trong sự bùi ngùi thương tiếc của những người Việt Nam đấu tranh cho tự do dân chủ. Ông Hà Sĩ Phu đã viết câu đối viếng ông: “Quan điểm tựa Sáu Dân mấy trận sửa sai thành quyết tử Cuộc sống như Năm Hộ, hai lần kháng chiến để trường sinh.” Posted on Tháng Tám 31, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/08/31/tu-theo-cong-den-chong-cong-58-ong-nguyen-ho-ly-khai-dang-cong-san/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (59): https://www.minds.com/newsfeed/1020227243914899456?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (57): https://www.minds.com/newsfeed/1020222267179900928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (60) Hồi ký Tống Văn Công Hai cuộc phỏng vấn Năm 1992, tờ báo đã tích lũy được một số tiền khá lớn, chúng tôi chủ trương trang bị máy móc hiện đại cho Xí nghiệp In Lao Động ở Hà Nội. Sau khi vay thêm tiền ở ngân hàng đầu tư phát triển, tôi mời ông tổng giám đốc bữa cơm. Tôi để máy ghi âm trên bàn, rồi vừa ăn vừa trò chuyện với ông tổng giám đốc về những khó khăn trong hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển, những đề án vay tiền có kèm theo thư tay của một “ông cốp”, tệ “phết phẩy” (hưởng tỉ lệ phần trăm khi thực hiện dự án vay). Tôi mở máy ghi âm chép lại cuộc trò chuyện, chuyển cho ông tổng giám đốc xem lại trước khi đăng báo. Bài báo đã gây tác động mạnh trong dư luận. Nhà báo Lý Quý Chung cho rằng bài này có thể làm mẫu cho trường báo chí khi sinh viên học thể loại phỏng vấn. Tết năm 1992 (Nhâm Thân), tôi gọi điện anh Hà Nghiệp trợ lý tổng bí thư Đỗ Mười đề nghị anh bố trí giúp tôi gặp phỏng vấn Tổng Bí thư để đăng báo. Anh Hà Nghiệp bảo tôi: “Anh ơi, tổng bí thư chỉ trả lời trong cuộc họp báo có phóng viên trong ngoài nước sau đại hội Đảng thôi. Anh muốn Tổng Bí thư nói gì cho tờ báo của Công đoàn thì anh cứ đặt câu hỏi và anh cũng viết nội dung trả lời giùm luôn. Sáng thứ hai, anh Mười nói chuyện với cán bộ thủ đô tại hội trường Ủy ban Nhân dân Thành phố. Anh đến sớm, khoảng 11 giờ 15, chịu khó chờ anh ấy kết thúc cuộc nói, để đưa bài cho ông ấy xem lại và tôi bố trí để chụp bức ảnh anh phỏng vấn tổng bí thư”. Quá ngây thơ, tôi cứ tưởng bở, phen này ta sẽ đưa ý kiến Tổng Bí thư giải phóng cho Công đoàn thực sự là một tổ chức thay mặt và bảo vệ quyền lợi của công nhân, không phải là thân phận của một lũ “ăn theo nói leo” nữa. Tôi đã đặt vào miệng ông Tổng Bí thư những lời vàng ngọc về trách nhiệm của công đoàn tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất, kèm theo phải có kế hoạch bảo hộ lao động, đảm bảo tiền lương tương xứng với lao động bỏ ra, tổ chức bữa ăn giữa ca đủ dinh dưỡng và hợp vệ sinh; Công đoàn phải căn cứ tình hình thực tế để chủ động đề ra biện pháp giải quyết, không nên chờ đảng ra nghị quyết rồi mới dựa theo đó mà lập chương trình hành động (câu này đã phạm huý vô cùng nghiêm trọng). Tôi đến sớm hơn giờ hẹn mười lăm phút. Tổng bí thư đang nói chuyện với cán bộ Hà Nội. Tôi ngồi với anh Hà Nghiệp đến hơn 12 giờ trưa mà ông ấy vẫn chưa dừng lời! Khi rời hội trường, ông có vẻ rất mệt mỏi, ngồi phịch xuống ghế ngã bật ra sau. Anh Hà Nghiệp bố trí cho tôi ngồi một cái ghế bành ngang với ông qua chiếc bàn nhỏ. Tôi cho ngồi như vậy giống như hai chính khách ngồi đàm luận, không giống nhà báo phỏng vấn, nên chạy tìm một cái ghế khác kiểu đặt chênh chếch phía ngoài ông ấy. Hôm sau, văn phòng tổng bí thư gửi lại tòa báo bài phỏng vấn. Tôi đọc, không còn một chữ nào của tôi cả! Tôi đọc mà phát ngượng vì phải đứng tên bài “phỏng vấn” này: hỏi điều mà ai cũng biết. Trả lời y như từ nghị quyết đại hội đảng mà suốt năm qua mọi người đó phải nghe đi, nghe lại đến phát chán. Anh em trong ban biên tập an ủi tôi: “Có ảnh tổng bí thư trả lời tổng biên tập ở trang bìa tờ báo Xuân là sang trọng rồi. Ngày Tết người ta chỉ xem qua chớ có ai đọc đâu. Bài này người ta gọi là loại bài ‘cúng cụ’ mà!” Posted on Tháng Chín 8, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/09/08/tu-theo-cong-den-chong-cong-60-hai-cuoc-phong-van/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (61): https://www.minds.com/newsfeed/1020228931710853120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (59): https://www.minds.com/newsfeed/1020227243914899456?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
20 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (59) Hồi ký Tống Văn Công Tổng chỉ huy đường dây 500 kV Vũ Ngọc Hải phải vào tù Báo Lao Động vào ngày 6 tháng 5 năm 1990, có bài “Ai chịu trách nhiệm về tình hình điện hiện nay?” của nhà báo Nguyễn Minh Đức. Bài báo cho rằng miền Nam thiếu điện là do lãnh đạo ngành điện thiếu trách nhiệm, câu cuối bài “chúng tôi chờ người có trách nhiệm cao nhất của ngành điện trả lời thẳng thắn và trung thực”. Ngay hôm sau, Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương Đảng mời Chủ tịch, Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động cùng với Tổng Biên tập báo Lao Động lên văn phòng của ban để đối thoại với Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải. Tôi đến sớm đứng trước khu nhà để đón chủ tịch Nguyễn Văn Tư và phó chủ tịch Cù Thị Hậu vì hai người này chưa từng đến đây. Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải đến sớm. Thấy ông, tôi lên tiếng chào, nhưng ông ngoảnh mặt, đi thẳng. Chủ trì cuộc họp là Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng Trần Trọng Tân. Mở đầu, ông Tân tỏ ý lấy làm đáng tiếc sự việc đã đưa tới bất hòa không đáng có giữa các đồng chí, mong rằng với thiện chí xây dựng trong buổi gặp gỡ này sẽ tháo gỡ được vướng mắc, hai bên thông cảm nhau. Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải đặt câu hỏi “tại sao một trung ủy (chữ ông dùng có ý nói ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng), có thể bị bêu rếu trên báo quá dễ dàng như vậy? Anh Công đâu có xa lạ gì đối với tôi, mới hồi đầu năm tôi đã mời anh nâng ly mừng năm mới. Tòa báo của anh cũng đâu có quá xa cơ quan Bộ Năng lượng, thế mà tại sao anh không thèm hỏi tôi một câu?” Chủ tịch Nguyễn Văn Tư đề nghị tôi phát biểu. Tôi cho rằng luật báo chí không quy định những đòi hỏi của bộ trưởng, nhưng tôi cũng nhận là mình có thiếu sót về cách cư xử với anh Hải với tư cách là những người từng có quan hệ thân mật. Bây giờ sự việc đã ra công luận, tôi đề nghị Bộ Năng lượng, hoặc là có bài tiếp thụ phê bình, nói rõ sự chậm trễ của mình do có những khó khăn, hoặc là hoàn toàn bác bỏ bài báo của chúng tôi. Chúng tôi đăng nguyên văn bài của Bộ Năng lượng và sau đó chúng tôi xin phép sẽ có bài đáp lại. Chúng ta cứ đối đáp như thế cho tới khi tìm ra sự thật. Cả hội nghị im lặng mấy phút, sau đó ông Trần Trọng Tân hỏi ý kiến ông Hải và ông Hải trả lời tán thành cách xử lý đó. Cuộc họp kết thúc. Một tuần sau, chánh văn phòng Bộ Năng lượng thừa lệnh Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải mang đến tặng báo Lao Động hai chai rượu ngoại và một lá thư cảm ơn bài “phê bình xây dựng ngành năng lượng chúng tôi”. Sau đó ít lâu, tôi có dịp gặp lại Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải, ông phân trần: “Tôi không thể công khai trả lời trên báo rằng ai phải chịu trách nhiệm về tình trạng miền Nam thiếu điện như hiện nay. Bởi vì đó là cấp rất cao, ở trên chính phủ, nói như vậy chắc anh đã biết. Do đó, ở thời điểm này, chúng tôi đành chịu tội oan vậy, hy vọng rồi thời gian sẽ minh oan”. Ông Võ Văn Kiệt được bầu làm thủ tướng ngày 8 tháng 8 năm 1991, ngay sau đó ông bàn với tổng bí thư Đỗ Mười việc xây dựng đường dây 500 kV tải điện từ Bắc vào Nam. Có người nhắc ông về chủ trương bán điện cho Trung Quốc của nguyên tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Ông Kiệt nói, “miền Nam đang thiếu điện tại sao không nghĩ cách đưa điện vào Nam? Tôi còn làm thủ tướng thì không bao giờ bán điện ra nước ngoài, trong khi có nơi đồng bào chưa có điện”. Ông Đỗ Mười tán thành ý kiến ông Kiệt, nhưng không đưa ra bàn trong Bộ Chính trị vì biết sẽ có người phản đối. Sau cuộc mật đàm Thành Đô, ông Linh chủ trương bán điện cho Trung Quốc để tăng cường quan hệ hữu nghị hai nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nhưng đến hết nhiệm kỳ, ông vẫn chưa thực hiện được việc bán điện cho Trung Quốc, vì chưa xây dựng được đường dây tải. Lê Đức Anh, cái đuôi của Nguyễn Văn Linh, nhân vật thứ hai trong bộ chính trị, chủ tịch nước, kẻ có mặc cảm từng là cấp dưới của ông Kiệt nên luôn ngấm ngầm chống lại. Ngày 25 tháng 2 năm 1992 chính phủ quyết định xây dựng đường dây 500 kV Bắc Nam dài 1487 km có 3000 trụ điện. Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải được giao nhiệm vụ như một tổng công trình sư. Ngày 24 tháng 3 năm 1992 ông Nguyễn Hà Phan đề nghị ông Kiệt dự buổi khai mạc kỳ họp cuối của Quốc Hội khóa 8, nhưng ông Kiệt từ chối, để đi ngay lên công trình đường dây 500 kV. Khởi công đường dây 500 kV trước kỳ họp Quốc Hội đã làm mất lòng các vị lãnh đạo Quốc Hội. Bà Ngô Bá Thành được ông Nguyễn Văn Linh đưa làm chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội to mồm phán, không có ý kiến của Quốc Hội, sau này trụ điện đổ thì ai chịu trách nhiệm. Tháng 9 năm 1992, tại cuộc họp hội nghị cán bộ tổ chức toàn quốc tại Sài Gòn, ông Nguyễn Văn Linh với tư cách “cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng” đã lên án ông Kiệt “làm đường dây 500 kV là một chủ trương phiêu lưu, mạo hiểm, lãng phí tiền của nhà nước, tiêu tiền của nhà nước để gây thanh danh cho cá nhân”. Trong tình hình như vậy, xuất hiện lá thư của giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn từ Pháp gửi về cho rằng đường dây dài sẽ tạo ra chênh lệch 1/4 bước sóng không thể tải điện vào Nam được. Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải trả lời bằng phương án bù 1/4 bước sóng. Ông Kiệt khẳng định, “chúng ta nhất định thành công, nếu thất bại tôi xin chịu cách chức”. Ông Hải không biết rằng mình đang ở trong tầm ngắm của những kẻ chống chủ trương xây dựng đường dây, nói cho đúng là của những kẻ quyết chống ông Kiệt. Dịp Tết năm 1992 ông Đoàn Trung Thành tổng giám đốc Công ty Vinapol, thường trực Hội Hữu nghị Việt Nam – Ba Lan báo cáo với ông Hải chủ tịch hội này, rằng quỹ của hội đã cạn. Ông Hải vừa được các công ty xây lắp đường dây báo cáo là đến tháng 3 năm 1992 vẫn chưa nhập khẩu kịp số thép cần cho việc thi công đường dây 500K. Do đó, Ông Hải gợi ý ông Thành cung ứng 4000t thép trong tháng 3, để kịp đáp ứng cho việc thi công đường dây 500 kV và việc này sẽ giúp Vinapol thu được 3,1 tỉ đồng tiền Việt Nam bổ sung cho quỹ hội. Các báo ở trung ương rộ lên phê phán vụ này là “mua bán lòng vòng làm thất thoát 3,1 tỉ đồng của đường dây 500 kV”. Ông Nguyễn Văn Linh và đệ tử ruột Lê Đức Anh coi đây là dịp tốt để hạ thủ ông Võ Văn Kiệt, họ cho đây là vụ rút ruột công trình và quyết liệt đòi phải nghiêm trị. Ông Kiệt cho rằng việc làm này là sai, nhưng không có động cơ tư lợi, chỉ nên phê bình rút kinh nghiệm. Dịp đó, tôi và anh Phạm Thanh trưởng Ban Công nghiệp báo Nhân Dân cùng một số đồng nghiệp bàn với nhau, liệu vụ này sẽ kết cục thế nào? Chúng tôi cho rằng đây không phải là vụ tham nhũng, không phải “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 22 của Bộ Luật Hình sự. Anh Phạm Thanh hạ giọng thì thầm, “luật gì cũng thua ý kiến của các cụ. Ông Kiệt muốn tha, ông Lê Đức Anh quyết chém đầu, chỉ còn chờ ông Đỗ Mười ngã về phía nào. Nếu ông Đỗ Mười ngã về ông Lê Đức Anh thì Vũ Ngọc Hải phải ‘bóc lịch'”. Tòa án tối cao cũng chỉ cố gắng diễn sao cho thật đẹp “bản án bỏ túi”! Dự đoán của chúng tôi đúng nhưng chưa đủ: ông Đỗ Mười không chỉ đứng về phía ông Lê Đức Anh mà là phải thực hiện ý của “cố vấn Nguyễn Văn Linh”. Dù đã cho ý kiến với ông Mười, nhưng ông Linh còn trực tiếp ra Hà Nội gặp Lê Thanh Đạo, viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, cho ý kiến phải đưa ông Hải vào “khung 2” tức là vào tù. Tòa án Nhân dân Tối cao diễn vượt yêu cầu của ông Linh, ông Mười, ông Anh: đưa vụ án ra xử một phiên sơ thẩm đồng thời là chung thẩm, tước quyền lợi của bị cáo không được qua phiên phúc thẩm. Ông Vũ Ngọc Hải nhận ra cái gốc của vấn đề quá muộn màng: Người ta cho ông vô tù “vì họ muốn ‘chơi’ đường dây 500 kV”! Báo Lao Động đưa đầy đủ ý kiến bào chữa sắc bén của các luật sư và là tờ báo duy nhất đăng lời phát biểu cuối cùng của ông Vũ Ngọc Hải: “Tôi đã nhận khuyết điểm trước chính phủ. Còn nếu kết tội thì phải theo pháp luật. Chính vì vậy tôi đã trình bày trước tòa các yếu tố cấu thành tội phạm theo điều 221 của Bộ Luật Hình sự, tôi đều không vi phạm. Lấy chứng cớ nào để buộc tội tôi đạo diễn ra vụ này? Trong mấy ngày qua, tôi đã được khích lệ ở sự sáng suốt công minh của hội đồng xét xử khi đưa những lời ‘cung’ buộc tội tôi ra cho phân tích, cuối cùng những lời cung vô căn cứ đã bị phủ định. Phần còn lại, tôi hết sức tin tưởng vào hội đồng xét xử sẽ kết luận tôi vô tội”. Lòng tin tưởng của ông vào sự công minh của luật pháp đã bị giáng một đòn nặng: Ba năm tù không cho kháng án! Tết năm 1995 ông Kiệt gợi ý ông Mười ban lệnh đặc xá mấy ngàn phạm nhân. Biết tin này, ông Linh kêu lên “đây là con bài để tha thằng Vũ Ngọc Hải”! Sau khi ra tù, ông Hải bay vào Sài Gòn nhờ nhà báo Minh Thu mời tôi và hai nhà báo Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức gặp nhau ở quán Tip của gia đình Trịnh Công Sơn cùng nâng ly mừng với nhau như những “chiến hữu”. Tôi đến muộn, lúc tôi vừa tới, ông Hải từ thêm nhà hàng chạy vội ra đón, ôm chầm lấy, nói như reo lên: “Anh Công, được gặp nhau, vui quá!” Posted on Tháng Chín 4, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/09/04/tu-theo-cong-den-chong-cong-59-tong-chi-huy-duong-day-500-kv-vu-ngoc-hai-phai-vao-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (60): https://www.minds.com/newsfeed/1020228129955303424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (58): https://www.minds.com/newsfeed/1020225866595209216?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (58) Hồi ký Tống Văn Công Ông Nguyễn Hộ ly khai đảng Cộng sản Tháng 3 năm 1990, ông Nguyễn Hộ rời thành phố về sống ở vùng Phú Giáo, miền Đông Nam bộ. Cuối tháng 8, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đến gặp, khuyên ông nên về Sài Gòn. Ông nói: “Phải chi anh bảo tôi sớm hai tháng thì tôi về. Bây giờ đã muộn rồi, vì tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bí thư thành ủy Võ Trần Chí và các ông Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân chỉ đạo vu cáo tôi, cho rằng tôi là tên phản động, móc nối với CIA, lập Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến để chống Đảng. Họ đã đẩy tôi xuống bùn đen. Trong tình hình như vậy, tôi về thành phố làm gì. Tôi chỉ trở về thành phố khi đất nước Việt Nam có dân chủ tự do”. Khoảng nửa tháng sau, ngày 7 tháng 9 trong khi ông đang bơi xuồng trên sông hái rau cho bữa cơm thì bị công an bắt, xích tay đưa về Sài Gòn giam giữ ở nhiều nơi, cuối cùng quản thúc ông tại nhà. Tôi biết tiếng ông Nguyễn Hộ từ thời chống Pháp, khi ông là Bí thư Đảng đoàn Liên hiệp Công đoàn Nam bộ. Năm 1960 tôi vào làm báo Lao Động thì ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam. Năm 1962 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu thực hiện bảo hiểm xã hội và giao cho Tổng Công đoàn quản lý. Ông Nguyễn Hộ làm trưởng ban Bảo hiểm Xã hội, hai phó ban là Lương Bình Áng, Nguyễn Văn Lạc (Lương Bình Áng sau tháng 5-1975 là giám đốc sở lao động Quảng Nam-Đà Nẵng. Nguyễn Văn Lạc loạn luân, bị Lê Duẩn đòi truy tố, đã tự tử). Tôi được báo Lao Động phân công tuyên truyền hoạt động bảo hiểm xã hội nên thường tiếp xúc với ông. Tôi đã viết quyển sách những bài học qua một năm thực hiện luật bảo hiểm xã hội, nhờ ông đọc trước khi đưa cho Nhà Xuất bản Lao động. Tháng 7-1975, tôi được phân công vào Sài Gòn thành lập tờ báo Lao Động Mới, cơ quan ngôn luận của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam. Sau đó tôi là tổng biên tập đầu tiên của báo Công Nhân Giải Phóng (nay là Người Lao Động) và kiêm trưởng ban Tuyên giáo của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam do ông làm chủ tịch. Ông là người bộc trực, gặp truyện trái ý thì hay to tiếng. Có lần ông ủng hộ hợp tác xã Phước Thanh (ở đường Phan Thanh Giản, nay là Điện Biên Phủ) khi cơ sở này xin phép luyện bô xít ra nhôm thỏi. Tôi góp ý với ông: Luyện nhôm không khó. Cái khó là nó tiêu hao lượng điện quá lớn, trong lúc chúng ta cần điện để làm những việc cấp thiết hơn. Thế là ông quát to, “anh đừng có mà thọc gậy bánh xe”. Nhưng sau khi nắm rõ mọi chuyện, ông tìm tôi nói lời xin lỗi. Ông là người rất thoáng trong truyện dùng người. Ông đưa linh mục Phan Khắc Từ làm Phó Chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định, vì việc này mà Hoàng Quốc Việt và nhiều vị bảo thủ trong Đảng phản đối dữ dội. Chính Phan Khắc Từ đã kể với tôi: trước năm 1975, ông nhận nhiệm vụ làm chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Lao động, sau đó được ông Trương văn Khâm ủy viên Thường vụ Liên hiệp Công đoàn Giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định đưa vào rừng Long Thành gặp ông Nguyễn Hộ lúc đó là ủy viên Thường vụ Khu ủy Sài Gòn-Gia Định phụ trách dân vận, công vận, hoa vận. Ông Từ kể: “Lúc đó, ông Nguyễn Hộ vô cùng hấp dẫn đối với tôi. Một người cao lớn, tiếng nói trầm ấm, ngồi giữa rừng sâu mà phân tích tình hình trong nước và thế giới đâu ra đó. Đặc biệt ông nói về thái độ của các tầng lớp, đảng phái, giai cấp ở Sài Gòn hết sức sáng tỏ. Tự nhiên tôi cảm nhận đây là bài giảng của một đức ‘tổng giám mục cách mạng’. Tôi muốn sống bên cạnh ông để được truyền thụ đức tin cách mạng. Khi nghe tôi ngõ ý như vậy, ông nói ‘cách mạng cần đức cha ở tại thành phố, bởi vì công việc đức cha đang làm không đảng viên nào có thể thay thế được. Đức cha cứ tiếp tục hoạt động thực tế, chính chúng tôi phải học hỏi đức cha'”. Một lần, ông triệu tập họp ban Thường vụ Liên hiệp Công đoàn vào buổi tối và tại nhà riêng của ông ở đường Trần Quốc Thảo. Hôm đó trời nóng, nhưng tôi đang bị cảm, nên mặc áo len. Ông hỏi, cậu bịnh à, rồi quay vào trong gọi “Chánh ơi! Ra đây, ra đây!” Cửa phòng mở, một anh cao lớn, có bộ râu ngoách hiếm thấy bước ra. Ông Nguyễn Hộ chỉ tôi, nói “cậu giải cảm giùm thằng cha này coi”. Chánh bước lại sờ trán tôi, bảo vén áo lên và xoa lưng tôi mấy cái rồi nói “Xong! Sáng mai bác bình phục”. Sau khi Chánh đã vào phòng, ông nói: “Nó bị Ủy ban Nhân dân Quận 6 cấm hành nghề, dọa bắt. Mình đưa nó về trốn ở đây, nuôi cơm và xem nó có tài thực hay nói dóc. Thấy ra nó có tài thực đấy. Mấy cái ông duy vật nhà mình là chúa đa nghi!” Sáng hôm sau, tôi phải đi nhà thương cấp cứu, nhưng không muốn cho ông biết. Một trường hợp khác là ông Bùi Quốc Châu, người sáng tạo ra môn “Diện Chẩn” (xem mặt đoán bệnh như câu ca dao: “Xem mặt mà bắt hình dong. Con lợn có béo thì lòng mới ngon.”). Bùi Quốc Châu đang bị nhiều ông thầy đông y có vai vế kích bác. Ông Nguyễn Hộ mời Bùi Quốc Châu tới thuyết trình cho mình nghe “học thuyết Diện Chẩn”. Nghe xong, ông nói “cậu cố gắng nghiên cứu để hoàn chỉnh Diện Chẩn, mình sẽ làm mọi cách giúp cậu”. Với tư cách phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố, ông gửi công văn yêu cầu Sở Nhà đất cấp ngôi nhà 17B Trần Quốc Thảo để nhà phát minh diện chẩn Bùi Quốc Châu có nơi nghiên cứu và thực nghiệm. Năm 1988 tôi ra Hà Nội, phóng viên Liên Xô Kalatnikov hỏi Sài Gòn có gì mới, tôi kể chuyện diện chẩn của Bùi Quốc Châu cho anh nghe. Kalatnikov báo về Liên Xô, ít lâu sau Bùi Quốc Châu được mời sang Mátxcơva. Từ Mátxcơva truyền tin sang Cu Ba. Bùi Quốc Châu được Cu Ba mời sang và phong “tiến sĩ danh dự”. Sau khi nghỉ hưu, ông Nguyễn Hộ xin thành lập Hội Những Người Kháng Chiến Cũ nhằm mục đích phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đoàn kết giúp nhau trong cuộc sống. Trong đơn xin thành lập Hội, ông cho rằng đây là thực hiện quyền công dân đã được Hiến Pháp ghi nhận. Nhưng lãnh đạo Thành ủy không chấp nhận việc thành lập hội mà chỉ cho ông thành lập Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ. Ông chất vấn: vì sao Hiến Pháp ghi nhận quyền lập hội mà người dân không được cho phép? Không được trả lời, ông đành phải chấp nhận thành lập Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ và xây dựng nội dung hoạt động như sau: Hoạt động bằng các hình thức: tổ chức hội thảo, mít tinh, kiến nghị, viết báo, xuất bản tờ báo Truyền Thống Kháng Chiến, nhằm các mục tiêu cụ thể như chống tiêu cực, quan liêu, cửa quyền, bức hiếp trù dập quần chúng, tham nhũng, bè phái, bao giờ lẫn nhau vì đặc quyền đặc lợi trong hàng ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước. Xây dựng tổ chức, phát triển thành viên, thực hiện đoàn kết, tương trợ, thăm hỏi, chăm sóc gia đình anh chị em có khó khăn, thương binh, liệt sĩ. Kiến nghị Bộ Chính trị phải kiểm điểm định kỳ về sự lãnh đạo của mình, ai có tài có đức thì tiếp tục phát huy, ai không đủ tài đức thì phải rút lui, không cho phép “sống lâu lên lão làng”. Đòi phải thực hiện bầu cử dân chủ, chấm dứt hình thức bầu cử độc diễn. Đòi Quốc Hội cách chức những bộ trưởng, thứ trưởng kém năng lực, thiếu trách nhiệm đưa tới nạn đói trên 10 triệu người năm 1987, và làm cho nhân dân cả nước sống cơ cực kéo dài. Đảng Cộng sản coi những đòi hỏi kể trên đe dọa quyền lãnh đạo của mình, đã làm mọi cách để ngăn chặn: cấm hội thảo, mít ting, cấm ra báo, tịch thu báo Truyền Thống Kháng Chiến tại nhà in. Do có quan hệ rộng, Ông Nguyễn Hộ đưa số báo thứ ba xuống Mỹ Tho, Cần Thơ in được 20.000 tờ. Hôm anh em đưa báo Truyền Thống vừa in xong về Sài Gòn, gặp lúc tôi đến nhà thăm ông. Ông đưa cho tôi 20 tờ và dặn: cậu mang báo ra Hà Nội phân phát cho anh em cán bộ Tổng Công đoàn và nghe góp ý, rồi phản hồi lại, để mình rút kinh nghiệm làm cho tờ báo càng ngày càng tốt hơn. Ngay hôm sau, sở văn hóa thành phố ra lệnh tịch thu báo, cấm phát hành. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bí thư thành ủy Võ Trần Chí chỉ đạo kế hoạch đàn áp Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ, ra lệnh cấm hoạt động, cấm ra báo. Trước tình hình đó, ngày 21-3-1990 ông Nguyễn Hộ rời thành phố, tuyên bố “ly khai đảng Cộng sản, để tiếp tục đấu tranh thực hiện tự do, dân chủ cho nhân dân”. Lập tức những thành viên còn lại của câu lạc bộ bị bắt giam: Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu, Lê Đình Mạnh… Trong một lần bơi xuồng hái rau cho bữa cơm chiều, ông bị cảnh sát còng tay bắt đưa về Sài Gòn. Trong thời gian bị quản thúc tại nhà, ông Nguyễn Hộ tự thấy mình hoàn toàn tự do: “Trên đầu tôi không còn bị kẹp chặt bởi cái ‘kiềm sắt chủ nghĩa Mác-Lênin’. Tôi nhìn thẳng vào sự thật, dám chỉ ra sự thật. Tôi tự phát hiện cho mình nhiều điều lý thú mà bạn đọc sẽ thấy trong bài viết này”. Ông đã chấp bút tác phẩm “Quan Điểm và Cuộc Sống”, rút ra những kết luận nhức nhối về tình trạng đất nước dưới chế độ toàn trị của đảng Cộng sản. Sau đây là những tiêu đề trong quyển sách của ông: Dân chủ tự do là thước đo chính xác lòng trung thành của đảng Cộng sản đối với nhân dân. Những hệ quả khi các quyền tự do dân chủ của nhân dân bị tước đoạt. Đảng Cộng sản Việt Nam quy chụp trấn áp những ai có ý kiến khác họ. Đảng Cộng sản Việt Nam chống đa nguyên, đa đảng. Đa nguyên: biểu hiện muôn màu của mọi sự vật. Dân chủ tự do phải trả giá. Chuyên chế, độc tài: thách thức nghiêm trọng của dân tộc Việt Nam. Ý thức hệ cộng sản dẫn đến các việc đàn áp tôn giáo. Xin trích ra một vài đoạn: “Tôi làm cách mạng trên năm 56 năm, gia đình tôi có hai liệt sĩ: Nguyễn Văn Đảo, anh ruột, đại tá quân đội nhân dân hi sinh ngày 9 tháng 1 năm 1966 trong trận ném bom đầu tiên của quân xâm lược Mỹ vào Việt Nam. Trần Thị Thiệt, vợ tôi – cán bộ phụ nữ Sài Gòn, bị bắt và bị đánh chết tại Tổng nha Cảnh sát hồi Tết Mậu thân, 1968. Nhưng phải thú nhận rằng chúng tôi đã chọn sai lý tưởng chủ nghĩa cộng sản. Bởi vì suốt 60 năm trên con đường cách mạng cộng sản ấy, nhân dân Việt Nam đã chịu sự hy sinh quá lớn lao, nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sỉ nhục.” Đầu năm 2008, ông đã dành cho anh Nguyễn Tiến Trung – Tập hợp Thanh niên Dân chủ một cuộc phỏng vấn. Ông nói “Không dân chủ là phản bội! Trời đất ơi! Không dân chủ là phản bội!” Ông cho rằng không thể chấp nhận chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới thể chế chính trị. Ông nói: “Nếu muốn nói cải cách cho đúng nghĩa của nó thì phải toàn diện. Hiện nay chủ yếu chỉ là tập trung giải quyết kinh tế thôi, còn chính trị đã có Đảng có Nhà nước lãnh đạo. Chưa chắc đúng! Bởi vì theo quy luật, thường thường thằng cha nào có quyền trong tay thì nó luôn luôn hướng về độc tài. Nhân dân là chủ chứ không phải anh là chủ. Dân tộc Việt Nam là chủ đất nước. Không phải dân tộc Việt Nam chỉ biết có ăn thôi. Kinh tế là chỉ biết có ăn thôi! Không lẽ dân tộc này chiến đấu xong rồi chỉ biết có ăn thôi, không biết nói, không biết suy nghĩ gì hết? Không phải vậy! Anh hiểu như vậy là không đúng! Anh coi thường dân tộc anh! Không cho phép anh suy nghĩ như vậy.” Quyển “Quan Điểm của Cuộc Sống” khiến ông bị bắt lần thứ hai. Tổ chức theo dõi nhân quyền đã tặng thưởng cho ông Giải tự do phát biểu Hellmann-Hammett. Hàng tháng, anh Đinh Khắc Cần phó chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh với danh nghĩa đại diện cơ quan đến thăm thủ trưởng cũ, giúp ông những khó khăn trong đời sống. Một dịp Tết, tôi đến mừng tuổi ông. Ông đưa tôi xem tấm thiệp của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh chúc tết ông: “Cậu xem này, họ vẫn cứ gọi mình là đồng chí!” Tôi cười nói: “Người ta muốn chiêu hồi anh đó mà”. Ông đáp: “Mình không chiêu hồi họ thì chớ, làm sao họ chiêu hồi mình được. Chính nghĩa thuộc về mình mà!” Ông qua đời ngày 2 tháng 7 năm 2009 thọ 93 tuổi trong sự bùi ngùi thương tiếc của những người Việt Nam đấu tranh cho tự do dân chủ. Ông Hà Sĩ Phu đã viết câu đối viếng ông: “Quan điểm tựa Sáu Dân mấy trận sửa sai thành quyết tử Cuộc sống như Năm Hộ, hai lần kháng chiến để trường sinh.” Posted on Tháng Tám 31, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/08/31/tu-theo-cong-den-chong-cong-58-ong-nguyen-ho-ly-khai-dang-cong-san/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (59): https://www.minds.com/newsfeed/1020227243914899456?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (57): https://www.minds.com/newsfeed/1020222267179900928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·