ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (49) Hồi ký Tống Văn Công Ngày nhận việc được gặp các bạn văn nổi tiếng Ngày đầu từ Sài Gòn ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động không có lễ lạc nhận chức. Không biết vì sao lại được sự có mặt của bốn bạn văn nổi tiếng thời ấy là Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Mai Thục, Vương Trí Nhàn. Mai Thục là tổng biên tập tờ Phụ Nữ Hà Nội, là đồng tác giả với Đỗ Đức Hiểu soạn quyển “Điển tích văn học” xuất bản năm 1995. Chị bận với tờ báo của mình nên không có bài cho Lao Động. Anh Vương Trí Nhàn viết bài cho Lao Động đều đặn. Khi Hoàng Hưng xuất bản tập thơ có bài “Người về” (nói lên tâm trạng, tình cảnh người tù chế độ), bị công an văn hóa bắt bẻ, anh đưa đơn từ chức trưởng ban văn hóa văn nghệ báo Lao Động. Lúc ấy, tôi mời anh Vương Trí Nhàn về thay vị trí của Hoàng Hưng, việc chưa xong thì tôi đã bị buộc về hưu. Phạm Thị Hoài đã nổi tiếng với tiểu thuyết “Thiên Sứ”. Lao Động Chủ Nhật số 2 có bài phỏng vấn Hồ Xuân Hương của chị. Trong bài này, chị đã để bà chúa thơ nôm đưa ra quan điểm về tính dục trong sáng tác văn học, một vấn đề đang bị các nhà tuyên huấn của Đảng lúc nào lên giọng đạo đức săm soi, phê phán. Chị khai sinh và viết cho báo Lao Động Chủ Nhật chuyên mục “Câu lạc bộ bạn trăm năm” được bạn đọc hoan nghênh. Chị đóng góp nhiều truyện ngắn hay suốt thời gian tôi làm tổng biên tập. Năm 1990 Hội Nhà văn Việt Nam lúc này ông Vũ Tú Nam là tổng thư ký công bố hoãn việc xét kết nạp chị vào hội nhà văn. Phạm Thị Hoài có thư đáp lại, sẽ không bao giờ xin vào Hội Nhà văn nữa. Tôi đăng thư này trên Lao Động gây dư luận lên án thói quan liêu của Hội Nhà văn. Trong cuộc họp thường kỳ, ông Trần Trọng Tân góp ý nhẹ: “Lẽ ra chuyện này anh nên trao đổi riêng với anh Vũ Tú Nam, tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Anh đưa tuyên bố của nhà văn Phạm Thị Hoài như vậy là mất mặt Hội Nhà văn quá!” Dương Thu Hương đã nổi tiếng với “Những bông hoa bần ly”, “Chuyện tình kể trước lúc rạng đông”, “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”… Sau khi quen nhau ở ngày tôi nhận việc, tuần nào chị cũng đến chơi. Chị thân thiết với những nhà bất đồng chính kiến như Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, còn tôi tổng biên tập tờ báo “công cụ” mà được chị kết bạn là một biệt lệ. Anh chị em báo Lao Động xem chị như người thân, ban bảo vệ, phòng hành chánh không ai hỏi chị đến vì việc gì. Chị nghĩ, nhà báo là nhà nghèo nên thường mua bia mang đến phòng tổng biên tập cùng tôi nhâm nhi và bàn đủ thứ chuyện. Một hôm chị đến, thấy tôi đang tiếp nhà văn Lê Phương, chị hỏi: “Hai người quen nhau à?” Tôi đáp: “Bạn nối khố đấy. Khi quen với mình, anh ta chưa viết được câu văn nào”. Dương Thu Hương cười: “Nhưng có một chuyện anh ta chưa kể với anh đâu”. Dương Thu Hương ngồi xuống ghế, kể: “Khi lần đầu em đi dự trại viết văn ở Vũng Tàu thì anh ta đã có cuốn ‘Thung lũng Cô Tan’, đã là nhà văn nổi tiếng rồi, cho nên nhìn em như con cừu non và sáp vào tán tỉnh rất thô bạo…” Kể xong chị hỏi: “Bà có nói oan điều gì không hở, thằng mặt dày?” Lê Phương ngồi đực ra, im lặng. Cứ tưởng Dương Thu Hương chẳng coi Lê Phương ra gì, nhưng đọc “Đỉnh cao chói lọi”, mà ở lời nói đầu chị cho biết các nhân vật đều đúng sự thật, chuyện của nhân vật Lê Phương được miêu tả một cách trân trọng. Tháng tư năm 1991, người ta gài bẫy để bắt Dương Thu Hương, bảy tháng sau, do áp lực quốc tế, phải thả với “lý do nhân đạo”. Ra tù Dương Thu Hương đến thăm tôi, nói hôm nay em mời anh đi nhà hàng. Tôi nói, hôm nay để mình mời, mừng Hương ra tù, nhưng Dương Thu Hương dứt khoát không đồng ý. Khi cô tiếp viên đưa món đầu tiên là lẫu cá quả, tôi hỏi, có giữ bộ lòng cá không. Cô đáp không, lòng cá này đắng, không ăn được. Tôi nói, con cá này trong miền Nam gọi là cá lóc. Số đông người trong đó có tôi coi bộ lòng có giá trị 70 % của con cá, có người chỉ ăn bộ lòng còn thịt cá nhường cho con trẻ. Dương Thu Hương hỏi tôi nói thật hay đùa. Tôi đáp, nói thật chứ. Trưa hôm sau, Hương lại đến bảo, hôm nay em muốn đền anh con cá quả còn bộ lòng. Đến nhà hàng, chị đưa tới bể nuôi cá hỏi tôi, làm sao biết con cá nào ngon nhất. Tôi nói, con có thân ngắn mập tròn là con cá cái. Hương dặn đầu bếp phải giữ bộ lòng cá. Vừa ăn, Hương vừa kể với tôi chuyện trong tù. Một hôm anh trưởng trại giam báo cho biết để chị chuẩn bị ngày hôm sau sẽ được bộ trưởng Mai Chí Thọ đến gặp. Anh này cứ nghĩ chị sẽ vui mừng vì đây là một ân huệ vô tiền khoáng hậu. Nhưng Hương cau mặt đáp, “bà chẳng thích nhìn thấy hắn, bảo hắn đừng hòng được gặp và nói chuyện với bà”. Trưởng trại đành phải xuống nước năn nỉ: “Chị ơi, chị thương em. Chị mà không chịu gặp ông ấy thì em bị kỷ luật nặng”. Thương hại anh trưởng đài, Hương đồng ý gặp Mai Chí Thọ. Chị lên tiếng trước: “Vì sao ông xin được gặp tôi?” Mai Chí Thọ tỏ vẻ bình thản đáp: “Tôi muốn gặp cô để biết vì sao mà cô căm thù chế độ này đến thế?” Dương Thu Hương cau mày hỏi: “Thằng nào báo cáo với ông như thế, hay ông tự nghĩ ra? Chế độ này được dựng lên có mồ hôi và máu của tôi đó. Tôi từng có mặt bên chiến tuyến biên giới phía Bắc chống bọn bành trướng Bắc Kinh xâm lược. Căm thù à? Tôi chỉ căm thù và muốn tiêu diệt cái lũ quan liêu như ông thôi!” Tôi hỏi, khi bị cô giáng một đòn kinh khủng như vậy thái độ và thế nào? Hương đáp, ông ta ngửa mặt lên cười to. Tôi khen, cha mày giỏi, ngang cơ với Dương Thu Hương. Một người ngay thẳng, trung thực, ăn nói không kiêng dè như Dương Thu Hương luôn luôn đối chọi với cái chế độ đã buộc phải ly hương. Posted on Tháng Bảy 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-49-ngay-nhan-viec-duoc-gap-cac-ban-van-noi-tieng/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (50): https://www.minds.com/newsfeed/1020205306154749952?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (48): https://www.minds.com/newsfeed/1020204418679939072?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
1Upvote

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (48) Hồi ký Tống Văn Công Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh vĩ nhân tôm cá Từ 17 đến 20 tháng 10 năm 1988 Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 6 đã bầu ông Xuân Cang tổng biên tập báo Lao Động vào ban lãnh đạo Tổng Liên đoàn, phụ trách trưởng ban tuyên giáo. Tổng Liên đoàn Lao động tổ chức thăm dò chọn tổng biên tập mới bằng hình thức bỏ phiếu kín. Có lẽ vì tôi đã làm tốt cuộc đấu tranh với Tổng Cục trưởng Tổng cục Cao su, nên số đông cán bộ, phóng viên báo Lao Động bỏ phiếu chọn tôi làm tổng biên tập. Ông Phạm Thế Duyệt chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động đã vào Sài Gòn gợi ý tôi ra Hà Nội nhận trách nhiệm tổng biên tập báo Lao Động. Khóa trước, tôi đã từ chối, nhưng lần này tôi muốn nhận vì để chứng tỏ, dù ông Nguyễn Văn Linh quyết “đánh” cho chết, tôi vẫn sống đàng hoàng. Từ đại hội VI, không khí dân chủ đã đem lại hy vọng sáng tạo. Tôi cũng muốn nhân dịp này góp phần đổi mới báo lao động, đưa nó ra khỏi ngăn kéo của cán bộ công đoàn, góp mặt trên các sạp báo cả nước. Tại đại hội 6, Lê Đức Thọ muốn tranh chức tổng bí thư với Trường Chinh, để nội bộ Đảng được yên, người ta chọn phương án Nguyễn Văn Linh. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thi thố tài năng ra sao mọi người đã biết. Ở đây chỉ xin kể đôi việc ông chỉ đạo tổ chức công đoàn. Ông Mai Văn Bảy chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh cho biết, vì ông đã tích cực bảo vệ tôi, chống lại chỉ thị của Nguyễn Văn Linh là phải khai trừ đảng và khởi tố tôi, do đó ông Linh đã gây mọi áp lực buộc Mai Văn Bảy phải rời khỏi mọi chức vụ ở thành phố. Bà Hoàng Thị Khánh là người được đề cử lên thay Mai Văn Bảy. Ông Linh cũng không đồng ý. Nhiều người cho rằng chỉ vì Hoàng Thị Khánh tính thẳng thắn, dám nói trái ý ông. Ông Linh chỉ đạo đưa ông Nguyễn Văn Tư, ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường sắt về làm chủ tịch công đoàn thành phố. Đây là chuyện chưa từng có trong việc chọn người cho chức vị này. Được Tổng bí thư giới thiệu, ông Nguyễn Văn Tư đắc cử chủ tịch công đoàn thành phố, rồi đi dự Đại hội Công đoàn toàn quốc và đắc cử Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động ngoài ý muốn của cả ông và ông Linh. Vậy là bà Hoàng Thị Khánh lên thay ông Tư ngoài dự liệu của ông Linh. Ở Đại hội Công đoàn toàn quốc, ông Nguyễn Văn Linh cho rằng những cán bộ đang có trong hệ thống công đoàn không có ai xứng đáng lên ghế chủ tịch. Ông chỉ thị đưa ông Nguyễn Văn An, ủy viên Trung ương Đảng, Phó Ban Tổ chức Trung ương ứng cử chức chủ tịch. Ông đến đại hội thuyết phục đại biểu bầu cho ông Nguyễn Văn An. Đại hội chia tổ thảo luận, 100 % số tổ không đồng ý chọn Nguyễn Văn An làm chủ tịch với lý do: ông này chưa bao giờ làm công tác công đoàn. Cuối cùng ông Linh phải cho rút ông An và chỉ thị đại hội bầu một người trong các phó chủ tịch nhiệm kỳ vừa qua. Ông hứa sẽ đưa người đắc cử chức chủ tịch bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 6. Một lần nữa, đại hội cũng không bỏ phiếu theo chỉ đạo của ông mà bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Văn Tư làm chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động. Sau này dư luận cho rằng ông Nguyễn Văn An là người may mắn nhất trong vụ Đại hội Công đoàn bác chỉ thị của ông Linh, bởi vì nhờ bị thất cử mà ông không bị kẹt ở Công đoàn, có cơ hội để đến Đại hội 7 được bầu vào Bộ Chính trị làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương, rồi kế tiếp là chủ tịch Quốc hội! Sau khi tôi ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động khoảng nửa tháng thì có cuộc họp của ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đến huấn thị về công tác công đoàn thực hiện nghị quyết của Đảng. Đứng trên lễ đài nhìn xuống cử tọa, chạm mắt tôi đang ngồi cạnh chủ tịch Nguyễn Văn Tư, ông cau mày, nói như hụt hơi. Tuy biết ông đang khó chịu, nhưng tôi không thể ngờ ông tiếp tục ra “đòn thù dai” đối với tôi. Sau khi nói chuyện với hội nghị, ông gặp riêng chủ tịch Nguyễn Văn Tư chỉ thị: “Có lẽ các đồng chí không biết rõ tay Tống Văn Công nên đã bổ nhiệm hắn làm tổng biên tập cơ quan ngôn luận của tổ chức giai cấp tiên phong. Tôi đề nghị cho người khác có quan điểm giai cấp công nhân thật vững vàng để thay ngay anh ta”. Ngay hôm sau, ông Nguyễn Văn Tư triệu tập đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động phổ biến chỉ thị của tổng bí thư. Tất cả đều kinh ngạc vì thấy vô lý, nhưng chưa biết phải đối phó thế nào. Ông Định Gia Bảy, ủy viên đảng đoàn, trưởng ban tổ chức là người có trách nhiệm về nhân sự, phát biểu: “Ngay sau khi có chỉ thị của tổng bí thư, chúng ta đã họp bàn cách giải quyết. Như vậy tức là chúng ta rất nghiêm túc thực hiện chỉ thị của đồng chí ấy. Tuy nhiên, việc đánh giá cán bộ trong tổ chức của mình thì chắc chắn chúng ta có điều kiện để hiểu rõ hơn đồng chí ấy. Do đó, theo tôi chúng ta có trách nhiệm làm cho đồng chí ấy hiểu vì sao chúng ta đã quyết định chọn Tống Văn Công làm tổng biên tập”. Trừ ông bí thư Đảng đoàn Nguyễn Văn Tư, tất cả những người còn lại đều quen biết tôi không dưới 5-10 năm. Phó bí thư đảng đoàn, ủy viên trung ương Cù Thị hậu quen biết tôi từ khi bà còn là cô thợ dệt, tôi với tư cách nhà báo đã gặp gỡ bà ở xí nghiệp, đến thăm gia đình, hỏi chuyện và viết nhiều bài đăng báo, in sách. Bà nói: “Anh Công là nhà báo đi sát công nhân và tổ chức công đoàn. Anh đã viết rất nhiều điển hình của ngành dệt và ở các ngành nghề khác. Anh là người sáng lập và đồng sáng lập hai tờ báo của công đoàn. Chúng ta chọn một người như vậy làm tổng biên tập là đúng đắn. Về chuyện riêng, ai cũng biết là cuộc hôn nhân đầu tiên anh không có hạnh phúc”. Anh Dương Xuân An từng trả lời phỏng vấn của tôi thì anh là chủ tịch công đoàn ngành xây dựng kể: “Tống Văn Công có quan hệ rất tốt với các công đoàn ngành và các cơ sở, tìm hiểu mọi chuyện rất cặn kẽ. Một lần tôi được phỏng vấn, nghe cách đặt vấn đề, tôi biết tay này đã nắm chắc mọi chuyện ở đây, ta phải hợp tác cùng mổ xẻ những mắc míu, chứ không thể nói xuôi chiều”. Chị Hoàng Thị Khánh quen biết tôi khi chị còn làm chủ tịch Công đoàn Quận 10, tôi làm trưởng ban tuyên giáo kiêm tổng biên tập báo. Mỗi người nêu một chuyện để chứng minh rằng Tống Văn Công có năng lực và tinh thần trách nhiệm trong công việc, không phải là người xấu. Tất cả các ý kiến phát biểu được đi vào biên bản, cuối cùng tổng hợp lại thành bản báo cáo kính gửi đồng chí tổng bí thư. Mấy hôm sau, chủ tịch Nguyễn Văn Tư cùng với trưởng ban tư tưởng văn hóa Trần Trọng Tân đến gặp tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trình các văn bản nói trên. Theo chủ tịch Nguyễn Văn Tư kể lại, suốt buổi làm việc hôm đó tổng bí thư chỉ nghe, không hỏi, cũng không có ý kiến nhận xét. Từ đó cho tới hết nhiệm kỳ, ông Nguyễn Văn Linh không có ý kiến gì về báo Lao Động và cá nhân tôi. Đến năm 1993 khi có Tám Đăng (phó tổng biên tập, nguyên trợ lý báo chí của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) vu cáo tôi làm bình phong cho một âm mưu diễn tiến hòa bình do Lý Quý Chung (nguyên bộ trưởng trong chính phủ Dương Văn Minh) cầm đầu, ông mới gửi thư “cố vấn” cho Đỗ Mười chỉ đạo Tổng Liên đoàn Lao động buộc tôi “về vườn”. Thời chống Pháp, tôi có nhiều năm công tác ở Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ, sau đó là Đội Thông tin Liên lạc thuộc Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Nam bộ, những nơi có điều kiện để biết tên tuổi, chức vụ, địa chỉ của các nhà lãnh đạo, vậy mà tôi chưa hề nghe tên ông Nguyễn Văn Cúc (tên cúng cơm của Nguyễn Văn Linh). Đến thời chống Mỹ, tôi được biết Nguyễn Văn Linh là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam (bí thư là Nguyễn Chí Thanh, sau năm 1968 là Phạm Hùng). Năm 1969 trong lễ tang cụ Hồ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông Linh, người trẻ nhất trong những ông ủy viên Ban Chấp hành Trung ương ở lễ truy điệu tại hội trường Ba Đình. Sau 30-4-1975, ông lên làm bí thư thành ủy Sài Gòn. Lúc này tôi làm tổng biên tập báo Lao Động Mới của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam do ông Nguyễn Hộ làm chủ tịch. Bạn tôi, anh Trương Quang Lộc (tức Trương Tấn Đức phụ trách Trường Báo chí của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) bảo tôi: “Mày ơi, ông Nguyễn Văn Linh làm to vậy chứ dốt lắm. Đến bất cứ cuộc hội nghị nào ổng cũng chỉ nói ‘thế giới chia làm hai phe, có bốn mâu thuẫn'”. Tháng ba năm 1982 ông Linh bị thất sủng, rời khỏi Bộ Chính trị khóa Đại hội 5, xin về làm bí thư thành ủy Sài Gòn thay ông Võ Văn Kiệt được điều ra Trung ương. Ở đây ông hưởng kết quả “xé rào” của ông Võ Văn Kiệt. Chính môi trường này tạo cơ hội để ông trở thành tổng bí thư ở Đại hội 6. Nhưng đó là một trong những lý do khiến ông tìm cớ dìm ông Võ Văn Kiệt. Năm 1990 phong trào dân chủ nổi lên mạnh mẽ ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Ở trong nước, Trần Xuân Bách đòi đổi mới chính trị, văn nghệ sĩ đòi tự do tư tưởng, tự do sáng tác. Nguyễn Văn Linh đã dùng mọi thủ đoạn nhằm bảo vệ sự độc quyền của đảng Cộng sản: đi Thành Đô cầu hòa với địch, cách chức Trần Xuân Bách, chỉ đạo cách chức nhà văn Nguyên Ngọc, giữa hội trường Ba Đình dịp mừng ngày quốc khánh năm 1990 ông ta công khai gọi “con Dương Thu Hương chống Đảng, thằng Nguyễn Quang sáng hư hỏng”. Báo Lao Động Chủ Nhật ngày 9 tháng 9 năm 1990 đã phê phán hành vi vô văn hóa này bằng bài tiểu phẩm có tựa đề “Hai năm, ba chữ” của nhà báo Nguyễn An Định. Bài báo kể chuyện Bưu điện tỉnh Quảng Ninh Phải mất 2 năm mới huấn luyện các nhân viên tổng đài điện thoại nói được ba chữ “dạ, tôi nghe” khi trả lời khách gọi tới thay cho cách trả lời trước đây “muốn gặp ai?”, “gọi gì đó?” Bài báo kết luận “dù phải mất hai năm chỉ được có ba chữ, nhưng ta hãy cứ mừng, bởi ngay bây giờ đây, trên diễn đàn công khai, người ta còn văng thằng nó con kia cơ mà”! Báo phát hành hôm trước, hôm sau anh Hoàng Trọng Đỉnh Nguyên phó tổng biên tập báo Lao Động đã nghỉ hưu đến thăm tôi, vừa khen, vừa tỏ ra lo lắng: “Các cậu to gan, liều lĩnh quá! Đọc bài này ai cũng biết là phê bình tổng bí thư. Xóm cán bộ về hưu chúng mình xôn xao bình luận, nói chung là đồng tình với các cậu”. Sau đó ít lâu, từ Sài Gòn nhà thơ Nguyễn Duy viết bài thơ Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ có hai cầu “tức cảnh”: “Ta nhờn nhợn cái há mồm vĩ nhân tôm cá. Khạc đủ nghề thằng nọ con kia”. Posted on Tháng Bảy 21, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/21/tu-theo-cong-den-chong-cong-48-tong-bi-thu-nguyen-van-linh-vi-nhan-tom-ca/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (49): https://www.minds.com/newsfeed/1020204880177451008?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (47): https://www.minds.com/newsfeed/1020204008603201536?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (47) Hồi ký Tống Văn Công Nhân vụ học trò đánh thầy giáo Báo Tuổi Trẻ ngày 23 tháng 5 năm 1989 biết về vụ thầy Hoan bị học trò cũ tìm tới nhà hành hung. Bị đâm một nhát dao, thầy nhảy từ lầu 2 xuống, gãy nhiều xương. Thầy than thở với nhà báo: “Tôi không muốn thốt lên đây một tiếng kêu than thêm vào những tiếng kêu than đã nhiều lắm rồi. Ở một ngành có thể tiêu biểu cho mọi sự khốn khó nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ… tất cả những cái đó đã quá tủi đối với tư cách nhà giáo. Chuyện học trò đánh Thầy phải chăng là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Người xưa nói sanh nghề tử nghiệp. Nghề của chúng tôi là giáo dục học sinh nên người. Thế nhưng chúng tôi đã giáo dục tồi, tạo ra những học sinh kém, chuyện học sinh đánh thầy là trái đắng nhất mà chúng tôi phải chịu. Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp?” Mổ xẻ nguyên nhân nào đã khiến cho nhà giáo từ chỗ được xã hội “tôn sư trọng đạo” trở thành “tiêu biểu cho mọi sự khốn khổ nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ” hẳn là một việc làm không dễ dàng nhưng rất cần thiết. Trước tháng 4 năm 1975, ở miền Nam, nghề giáo vẫn còn là một nghề được trọng vọng không khác bao nhiêu so với nhà giáo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhà giáo có mức lương đủ cho gia đình có mức sống trung lưu, được xã hội tin cậy hơn những người có chức sắc trong chính quyền bởi cuộc sống thanh bạch. Thế mà chỉ 14 năm sau đã ra nông nỗi này! Nhớ lại ở miền Bắc sau 1954 nghề giáo cũng có hiện tượng sa sút na ná như vậy, bị xã hội xem thường, nhưng không quá nhanh và quá tệ như bây giờ. Khoảng cuối những năm 60 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu có chính sách ưu đãi để khuyến khích sinh viên vào ngành sư phạm. Đó là khởi đầu cho sự sa sút của ngành giáo dục. Năm 1981, khi được bổ nhiệm làm phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam, tôi ra Hà Nội thăm gia đình ông tổng biên tập Trần Nhật Dụ. Tại đây tôi được gặp hai người em rể của ông là hiệu trưởng trường cấp hai ở Hà Tĩnh vừa nghỉ hưu, được cho đi du lịch theo chế độ. Hai ông cùng tuổi, cùng vào nghề giáo trước Cách mạng tháng Tám, ông Dụ là giáo viên tiểu học, còn ông kia giáo viên trung học. Nhìn lại bước đi của hai người đã cho tôi một phát hiện lý thú: sau cách mạng, ông Dụ tham gia hoạt động công đoàn huyện, rồi lên tỉnh, lên trung ương làm chủ tịch công đoàn ngành giáo dục Việt Nam. Từ chức chủ tịch công đoàn ngành, ông bước lên ghế chánh văn phòng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Sau khi ông Lê Vân tổng biên tập báo Lao Động qua đời, ông Dụ được chuyển sang thay thế, tiền lương 150 đồng/ tháng. Trong khi đó, người em rể đồng nghiệp của ông chí thú với nghề giáo, không tham gia công tác đoàn thể, đến cuối đời lên đến chức hiệu trưởng tiền lương 86 đồng/tháng. Chuyện này gợi cho tôi nhiều tò mò. Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam đã bắt đầu được nghe: nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhà nước này sắp xếp lại thứ tự của “tứ dân”, từ sĩ, nông, công, thương trở thành: giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng thông qua đảng Cộng sản; giai cấp nông dân là quân chủ lực của cách mạng, chia thành cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần nông là chỗ dựa tin cậy; trung nông kém tin cậy hơn, phải chia ra lớp dưới và lớp trên để có phân biệt đối xử. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột, phải tước bỏ phần bóc lột của họ. Địa chủ là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là “tạch tạch xè”, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ dao động, phải luôn luôn được theo dõi, giáo dục. Thương nhân là hàng xấu xa nhất, phải cải tạo để thành người lao động. Theo cách sắp xếp này, thầy giáo Thu tiểu tư sản, “tạch tạch xè”. Nhiều người cho rằng cách sắp xếp này đã đem tay chân thay cho đầu óc của xã hội. Thời xưa các ông đồ được xã hội kính trọng không kém những bậc phú hộ và những vị có chức sắc trong chính quyền. Đến thời tân học các nhà giáo cũng được quý trọng như thế. Miền Bắc trước năm 1954 và miền Nam trước tháng 4 năm 1975, thầy giáo cấp một có mức lương đủ nuôi vợ con và thuê người giúp việc. Các chàng trai vừa tốt nghiệp ngành sư phạm đã được các gia đình giàu có đánh tiếng muốn gã con. Thời ấy phải là người học giỏi mới dám thi vào ngành sư phạm, vì ngành này tuyển sinh khắc khe nhất. Miền Bắc sau năm 1954, và miền Nam sau năm 1975, trở thành xã hội chính trị (trong chế độ toàn trị do đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo). Cấp ủy đảng được coi là những người danh giá nhất trong làng, xã, quận, huyện, tỉnh, thành. Nhà giáo là “tạch tạch xè”, nhưng chủ tịch công đoàn ngành giáo dục thì lại là “chiến sĩ vô sản”. Trong bài nói với sinh viên trường đại học sư phạm, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho nhà giáo nhiệm vụ mà họ không thể làm nổi: người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Ông thầy giáo làm sao so nổi với ông cấp ủy! Các thành viên của cấp ủy chia nhau nắm chính quyền, các đoàn thể như công đoàn, nông hội, thanh niên, phụ nữ, phụ lão. Giáo viên mà không có chân trong ban chấp hành công đoàn giáo dục thì chỉ ngang với một đoàn viên của các đoàn thể công đoàn hoặc nông hội, nhưng kém hơn họ về mức sống, vì ngoài tiền lương chết đói, ông thầy giáo không có thu nhập gì thêm. Thu nhập thấp thì địa vị xã hội cũng xuống thấp, việc tuyển sinh vào các trường sư phạm khó khăn, phải hạ dần điểm tuyển, miễn học phí, đưa tới chất lượng giáo viên kém dần. Bởi vì những người học lực kém mới phải vào ngành sư phạm. Để trang trải cuộc sống, nhà giáo phải tìm cách đối phó. Trên lớp thì dạy qua loa để buộc học sinh phải xin học thêm. Thu nhập từ dạy thêm cao gấp mấy lần tiền lương. Các thầy dạy môn lịch sử, địa lý không thể dạy thêm nên đành phải làm đủ mọi nghề, kể cả rửa bát nhà hàng, đạp xích lô. Hình ảnh và phẩm chất thầy giáo bị tàn phá từ vật chất đến tinh thần. Đòn đánh chí mạng vào nghề giáo là tinh thần tôn sư trọng đạo, sau đó mới đến đòn đánh bằng dao gậy mà thầy Hoành phải chịu kể trên. Thầy Hoành tự cho mình dạy tồi cho nên phải bị đánh. Có lẽ thật lòng thầy không nghĩ như vậy cho nên thầy mới hỏi tiếp: “Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp? “Xin lạm bàn cùng thầy. Nền giáo dục của nước ta từ 1975 đến nay có hai ách tắc không thể vượt qua được. Những điều thầy Hoành nói chỉ là cái ách tắc thứ hai. Gọng kềm ý thức hệ mới là cái ách tắc thứ nhất. Tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc trung ương (nay là Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh) đã viết vào sổ vàng của trường một câu được coi là mục tiêu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa “Học để làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự giai cấp và nhân dân, Tổ Quốc và nhân loại”. Trong bài nói ở trường Đại học sư phạm Hà Nội tháng 10 năm 1964, Hồ Chí Minh cho rằng thầy giáo phải xứng đáng là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa; và để được như vậy thì phải học tập chính trị, bởi vì “có học tập lý luận Mác, Lê-nin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác đảng giao phó”. Tiếp thụ tinh thần đó, ngày 14 tháng 11 năm 1988, thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Trần Chí Đáo tuyên bố “chủ trương của Bộ về tuyển sinh và đào tạo là bảo đảm Đảng tính và giai cấp tính” (báo Tuổi Trẻ). Nghị quyết trung ương 29-NQ/TW khóa 11, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh “Coi trọng công tác phát triển Đảng, công tác chính trị tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm trường học phải có chi bộ, trường đại học có đảng bộ. Đổi mới chương trình. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đọc những điều nói trên đây cho thấy những người lãnh đạo đảng Cộng sản muốn ngành giáo dục phải đào tạo lớp trẻ theo khuôn mẫu do họ chọn, để trở thành công cụ xã hội chủ nghĩa đắc lực. Để thực hiện điều đó, ngành giáo dục phải che giấu những thông tin, dữ kiện bất lợi cho chế độ toàn trị, phải chọn những thông tin, dữ kiện dù lỗi thời nhưng có thể phục vụ cho định hướng của đảng, đưa vào giáo trình. Năm 1985 ông Mai Chí Thọ khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn, khi đến thăm một trường mẫu giáo, đã tỏ ý ngạc nhiên vì các bài học của trẻ lên ba quá đậm chất chính trị. Ông đã có câu nói đúng: “Tôi e chẳng những không thể đạt được yêu cầu chính trị mà mục đích trồng người cũng không đạt”. Cho đến nay (2013) thử tìm xem một số sách giáo khoa cho trẻ sẽ thấy tình trạng đó vẫn còn nguyên. Quyển sách do Vũ Xuân Vinh soạn, nhà xuất bản đại học ấn hành, phần lớn theo thể thơ lục bát, một số theo thể thơ ngũ ngôn, hầu hết không có chất thơ, không đúng vần, như “Công viên đường phố thật vui. Thêm yêu đất nước thêm yêu phố phường”; “Mỗi năm một tuổi thêm vui; thi đua phấn đấu thành người trò ngoan”; “Ôi lá cờ tổ quốc. Đứng nghiêm giơ tay chào”… trong sách Tiếng Việt, lớp 3 có những “chủ điểm” như: Đơn xin vào đội, Tập tổ chức một cuộc họp; Người lính dũng cảm… Sách chỉ chọn tác phẩm của các nhà thơ kháng chiến, nhiều bài rất dở. Bài thơ “Đi hội chùa Hương” nhạt nhẽo, được chọn có lẽ vì mấy câu kết: “Ôi phải đâu lễ Phật, Người mới đi chùa Hương. Người đi thăm đất nước, Người về trong yêu thương”. Với lập trường duy vật vững vàng, nhà soạn sách chọn bài thơ này vì nó lớn tiếng hô hào rằng đi chùa không phải vì lễ Phật, còn bài thơ “Đi chùa Hương” nổi tiếng của Nguyễn Nhược Pháp cứ “Nam mô a di đà” cho nên không thể chọn! Năm 2009, trên báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh số Xuân đăng bài Điều ước đầu năm của chị Trần Mai Liên, mẹ của một học sinh cấp 1 ở Gò Vấp: “Cầu mong năm mới, sách giáo khoa sửa đổi, môn công dân giáo dục không còn tiếp tục dạy những ý tưởng quá cao xa không hợp với trẻ. Đối với trẻ, cần phải dạy cho chúng biết yêu ông bà, cha mẹ, anh em và mọi người! Biết sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, không tham lam ích kỷ”. Có lẽ chị muốn ngầm nhắc nhà báo về năm điều bác Hồ dạy được treo cao giữa các lớp học, đã không có điều nào dạy trẻ yêu cha mẹ, tôn trọng thầy giáo. Năm năm sau lời cầu mong của chị Trần Mai Liên, giáo sư Văn Như Cương bức xúc kêu lên: “Chuyện dạy làm người vẫn mãi là khoảng trống trong giáo dục phổ thông”. Ông trích sách “Giáo dục công dân” một bài giảng có tựa đề “Phủ định siêu hình và phủ định biện chứng”. Bức xúc của giáo sư Văn Như Cương không được trả lời, vì giáo dục xã hội chủ nghĩa đã khẳng định: “Không có khoảng trống nào cả! Ngành giáo dục vẫn trung thành với khuôn mẫu ý thức hệ nhằm đào tạo những con người kế thừa để xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cách làm của họ đúng như nhà giáo dục vĩ đại John Dewey Nhận xét về nền giáo dục bảo thủ là “làm cho tương lai phù hợp với quá khứ”. Thực ra “dạy người” không chỉ ở môn giáo dục công dân mà phải trong toàn bộ chương trình giáo dục. Ở các nền giáo dục tiên tiến, người ta đặt nhiệm vụ giáo dục là đào tạo con người tự do, con người đầy ắp ý kiến phản biện, con người dám khác với những người đi trước dù đó là những vĩ nhân. Albert Einstein nói: “Chúng dựa trên tự do của lòng tin và giáo dục, trên nguyên lý rằng, ước muốn tìm chân lý phải đặt trước mọi ước muốn khác” và “không có tự do kia thì sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur”. Đúng vậy, chúng ta có thể bổ sung cho câu nói của ông “không có tự do thì cũng không có Albert Einstein”. Khi tôi viết đến đây thì trên báo tuổi trẻ hôm nay (11-5-2016), cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền ở thành phố Hồ Chí Minh gửi “8 thỉnh cầu đến Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo”: 1- Giảm bớt những kiến thức ôm đồm ra đời không dùng được; dạy cho các em biết bênh vực cái tốt, dám chống lại cái ác. 2- Đừng thay đổi liên tục, từ “nghiên cứu bài học” chưa đâu vào đâu đã chuyển sang “tích hợp liên môn”, rồi “bàn tay nặn bột”. Việc thi cử cũng thay đổi xoành xoạch! 3- Xin hãy để cho tất cả giáo viên có quyền thực sự lựa chọn hiệu trưởng của trường và quyền ứng cử vào vị trí mà họ thấy thích hợp. (Hình như cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền không nhớ rằng, hiệu trưởng phải là đảng viên?) 4- Hãy đánh giá giáo viên ở phương pháp giảng dạy, chứ không phải chăm chỉ ghi chép đầy đủ vào các loại sổ do bộ quy định. 5- Thời đại công nghệ thông tin nhưng cách quản lý vẫn còn “đèn nhà ai nấy rạng”. 6- Tăng thêm mức đãi ngộ, đặc biệt là giáo viên vùng sâu, vùng xa. 7- Hiện nay nhiều sinh viên ra trường khó tìm được việc làm là vì chương trình đại học có đến 30% những điều không cần trong cuộc sống. 8- Nói chung chú trọng nhồi nhét kiến thức (nhiều điều không dùng được) mà không chú ý giáo dục đạo đức nhân cách con người. Ngày 12-5-2016 rất nhiều người hưởng ứng bức thư cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, đã đề xuất thêm điều thứ 9: “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” và “Hãy để cho giáo viên sống được bằng lương”. Posted on Tháng Bảy 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-47-nhan-vu-hoc-tro-danh-thay-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (48): https://www.minds.com/newsfeed/1020204418679939072?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (46): https://www.minds.com/newsfeed/1020203299069206528?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (46) Hồi ký Tống Văn Công Vụ phong thánh 117 chân phúc tử đạo Việt Nam Ngày 22-6-1987 Giáo hoàng Gioan – Phao lô II Chủ trì cuộc họp tại Roma (Italia) quyết định phong Hiển thánh cho 117 Á thánh chết vì đạo ở Việt Nam từ 1625 đến 1861 và ấn định năm sau, ngày 19-6-1988 sẽ tổ chức lễ phong thánh tại Roma. Ngày 12-10-1987 Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam gửi công văn cho Ủy ban Nhân dân và Ban Tôn giáo các tỉnh, thành, đặc khu cả nước, nhận định: “Quyết định của Vatican là một việc làm có dụng ý chính trị xấu và xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, kích động tâm lý cuồng tính tử vì đạo trong một bộ phận giáo dân và giáo sĩ Việt Nam; gây chia rẽ giáo, lương; làm tổn hại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và nhà nước ta đang ra sức thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo, tăng cường đoàn kết toàn dân vượt qua mọi thử thách, khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Trước tình hình đó, ngày 18-9-1987, thừa lệnh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ban Tôn giáo của chính phủ đã triệu tập các giám mục trong Ủy ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam để vạch rõ tính nghiêm trọng của sự kiện nói trên, nghiêm khắc phê phán việc làm sai trái này của một số giám mục trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, của Vatican và bàn biện pháp xử lý tình hình phức tạp có lý có tình. Sau đó nhiều cuộc hội thảo được tổ chức khắp cả nước, nhiều cây bút sắc bén nhất của chế độ như Trần Bạch Đằng, Nguyễn Khắc Viện… viết bài theo quan điểm nói trên. Bài viết của Nguyễn Khắc Viện có tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai?” Mở đầu ông cho rằng “Tôi vẫn cảnh giác cao độ với những mưu đồ xuất phát từ Phương Tây mong lợi dụng Đạo Kitô để phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta”. Ông cho rằng không thể biết chính xác tất cả những người được nêu tên đã chết trong hoàn cảnh nào, họa chăng tư liệu còn lại cho biết rõ trường hợp một vài người. Ông nhấn mạnh sự kiện: – Một là chuyện giám mục Adran đưa hoàng tử Cảnh bái yết vua Pháp Louis 16 năm 1787, với kế hoạch tấn công Đà Nẵng. – Hai là chuyện người Công giáo đã giúp Pháp tiêu diệt phong trào Văn Thân (Văn Thân có khẩu hiệu “bình Tây sát tả”, có nghĩa là dẹp Tây, diệt đạo). Nguyễn Khắc Viện nhận định lễ phong thánh sẽ gây ra: “Rồi nhiều người trên thế giới, đặc biệt trong giáo dân, đâm ra thương hại cho Giáo hội Việt Nam đang sống trong cảnh bị áp bức, rồi một số người Việt Nam ngoại đạo, một số cán bộ sẵn có định kiến lại thốt lên: Đã bảo mà, tin sao được bên đạo, bao giờ họ cũng hướng về Phương Tây. Rõ ràng việc phong thánh này là một đòn hiểm đối với khối đoàn kết dân tộc của chúng ta.” Thật là “thần hồn nát thần tính”, Đảng Cộng sản Việt Nam cứ nghĩ là các thế lực thù địch lúc nào cũng đang âm mưu đánh phá mình, phong thánh chắc phải là đòn hiểm (!) Thực ra tất cả 117 vị tử đạo không có người nào bị giết vì dính líu với thực dân Pháp, họ chỉ bị giết vì là “tả đạo”, trái với đạo Nho mà triều đình nhà Nguyễn tôn thờ. Các vị đều có lý lịch rõ ràng về quê quán, chức sắc, ngày bị giết, hình thức bị giết (xử trảm, xử giảo, hay chết trong tù). Những người Công giáo chân chính có nhiều bài viết cho rằng chuyện phong thánh là việc riêng của Giáo hội và việc này hoàn toàn đúng đắn bởi mục đích tôn vinh những giáo dân dám từ chối đạp lên thập giá, chịu chết vì đạo Chúa. Các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Ngô Văn Ân, Thanh Lãng có những bài viết, tham luận bác bỏ những lập luận không đúng sự thật lịch sử. Đặc biệt hai ông Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan đã từng hoạt động chống chiến tranh, chống sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam, đòi trả tự do cho tù chính trị, những người bị giam ở Côn Đảo, do đó họ đã bị chế độ miền Nam cho là thân cộng. Sau 1975, hai ông được nhà nước cộng sản mời tục bản Đối Diện với tên mới là Đứng Dậy, nhưng chẳng bao lâu đã bị đóng cửa. Giờ đây với việc bảo vệ vụ phong thánh, hai ông bị nhà nước cộng sản cho là phá bỉnh, đã dùng biện pháp bịt mồm, rồi một người bị quản chế tại gia, một người được mời rời khỏi xứ đạo, an trí ở Cần Giờ. Bài “Nói chuyện tử đạo với ông Nguyễn Khắc Viện” của linh mục Nguyễn Ngọc Lan (Bài có gửi cho báo Công Giáo Và Dân Tộc do linh mục Trương Bá Cần làm tổng biên tập nhưng không được đăng) có đoạn: “… Ông muốn dạy dỗ chúng tôi, những người công giáo Việt Nam nên nghĩ thế nào về việc phong 117 vị thánh liên hệ trực tiếp và trước tiên đến chúng tôi. Đó là quyền của ông, quyền hiểu theo nghĩa tự do chủ nghĩa (libéralisme) tạm gọi là của thế giới tư bản. Còn nếu quyền được hiểu với một chút màu sắc đạo đức nào đó thì thưa ông, tại sao ông không tự đặt cho mình một số câu hỏi tương tự như: Bài của ông là bài thứ mấy viết về vấn đề này? Ông có thể tính bằng đầu ngón tay thì phải… Tại sao chỉ có giám mục Bùi Tuần có tiếng nói về vấn đề này trên tờ Công Giáo Và Dân Tộc? Các giám mục Việt Nam khác ở đâu? Các người Công giáo khác ở đâu? Họ không biết nghĩ thế nào cả sao? Họ không biết viết thành câu cú những điều họ nghĩ sao? Tại sao mấy trang góp ý của linh mục Chân Tín một người quen thuộc với cả báo chí trong nước và ngoài nước không hề được đăng trên báo Công Giáo Và Dân Tộc, khi mà những trang góp ý ấy đã được đọc lên trong buổi họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Quận 3 chiều ngày 18 tháng 1 năm 1988 và đã được giới Công giáo chú ý đến nhiều? Tại sao ngay cả trong tập ‘Tài liệu tham khảo’ về ‘Việc phong thánh các Chân phúc tử đạo Việt Nam’ do văn phòng Ủy ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh in ronéo tháng 2 năm 1988 trong phần II dành cho ‘một số bài viết liên quan đến việc phong thánh’ người ta đăng 9 bài viết ở Việt Nam, trong số đó có bài của ông, hai bài của linh mục Thiện Cẩm ba bài của giám mục Bùi Tuần, nhưng vẫn không có bài của Chân Tín để rộng đường dư luận? Chúng ta đang sống ở thời nào đây? Thời Staline hay thời Gorbatchev? Thời báo Etudes Vietnamiennes của ông ngày trước hay tờ Đoàn Kết của việt kiều ta bây giờ ở Pháp?” Nguyễn Ngọc Lan phê bình cái tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai” là “lớn lối”. Ông Lan hỏi, giả sử “học giả nào đó viết mấy chữ ‘chết vì nước chết cho ai’ trên tấm bia liệt sĩ thì liệu có tờ báo nào vô ý thức, thiếu tự trọng đến mức có thể đăng lên một cái tựa đề như vậy? Còn nội dung bài thì cũn cỡn mà lại lạc đề, bởi vì 117 vị tử đạo không có ai bị giết bởi phong trào Văn thân cả!” Linh mục Chân Tín kể: Ông bị ông đại tá Nguyễn Văn Tòng giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh chất vấn vì sao báo nước ngoài đăng bài tham luận của ông ở Mặt trận Tổ quốc? Linh mục Chân Tín đáp: “Lẽ ra đó là điều tôi hỏi ông chứ không phải ông hỏi tôi! Bởi vì sau khi đọc xong tôi nộp bản tham luận cho các ông”. Ông giám đốc Sở văn hóa Nguyễn Văn Tòng đe dọa nếu gửi bài viết sai trái chủ trương chính sách của nhà nước ta ra nước ngoài thì có thể bị trừng trị. Chân Tín bảo mình đã bị chế độ Sài Gòn đe dọa như vậy nhiều rồi, nhưng mình đâu có ngán, lúc nào cũng vẫn hành động theo hai câu thơ của Nguyễn Trãi: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ, Cuối ngửa theo người quyết chẳng theo” Giám đốc Tòng nói, chính quyền Sài Gòn bắt ông là vinh dự cho ông, còn đây là nhà nước cách mạng bắt ông thì đó là ô nhục cho ông. Linh mục Chân Tín đáp: “Tôi thấy không có gì khác nhau cả, đều là quyền lực chống lại con người dám nói thẳng nói thật đó thôi”. Tháng 5 năm 1990, linh mục Chân Tín bị trục xuất khỏi nội thành, lưu đày ra Cần Giờ. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã xuất tu và lập gia đình với bà Thanh Vân biên tập viên tờ Tin Quận 5. Ông Lan bị quản chế tại gia, bà Thanh Vân bị buộc thôi việc. Ông Lan qua đời năm 2007. Linh mục Chân Tín mãn hạn lưu đày trở về Dòng Chúa Cứu Thế năm 1993. Năm 2006 ông chủ trương tờ báo chui “Tự do ngôn luận” đòi quyền tự do căn bản cho người dân Việt Nam. Linh mục Chân Tín từ trần ngày 1 tháng 12 năm 2012. Cái “định kiến” mà ông Viện nêu ra vẫn còn cho tới hôm nay. Nguồn gốc của nó từ đâu? Vì quan điểm “tôn giáo là thuốc phiện của dân nghèo”, hay là vì “Công giáo là đạo giáo được người Pháp ưu đãi?” Trong quyển sách “Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay” của giáo sư, tiến sĩ Dương Phú Hiệp chủ biên, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2010 nhận định: “Trong giai đoạn hiện nay, những thế lực chống đối trong và ngoài nước chưa từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo để làm mất ổn định chính trị, gây hoang mang chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy cần giải quyết vấn đề tôn giáo dưới góc độ văn hóa và phải xem giáo dục tôn giáo là vấn đề quan trọng”. Thật ra chẳng có thế lực trong ngoài nước nào gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc cả. Xin nêu một chuyện xảy ra ở nhà thờ Thuận Phát, phường Tân Kiểng, quận 7, nơi tôi cư ngụ nhiều năm. Sau 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng yêu cầu nhà thờ giao 3 phòng họp trong khuôn viên của nhà thờ. Từ đó, ba phòng này được dùng để hội họp dân phố. Mấy năm gần đây, nhà thờ Thuận Phát gửi đơn lên Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận 7 xin được trả lại 3 phòng họp này để sinh hoạt tôn giáo. Quận ủy chủ trương không trả lại. Đảng viên lão thành Lê Ngọc Tưởng, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy Nhà Bè (thời 1975-1980, vùng đất này thuộc quận 7 còn nằm trong Nhà Bè) gửi thư góp ý: Quận ủy nên đồng ý cho Ủy ban Nhân dân Quận 7 trả 3 phòng họp lại cho nhà thờ Thuận Phát làm nơi sinh hoạt hội họp giáo dân. Ông Tưởng viết: “Giáo dân cũng là công dân, Đảng có trách nhiệm giúp họ có nơi hội họp, học tập. Làm được như vậy giáo dân sẽ gắn bó với chế độ do Đảng lãnh đạo.” Ông Tưởng không được những người kế nhiệm mình cầm quyền sau 40 năm (lúc ông cầm quyền, họ còn là những đứa trẻ, được ông đưa vô nhà trường xã hội chủ nghĩa) trả lời. Họ phái một đại úy công an đến nhà ông Tưởng chất vấn: “Tại sao ông khuyến khích giáo dân ở giáo xứ Thuận Phát vùng dậy đòi phải trả ba phòng họp?” Hội bảo vệ quyền tự do tôn giáo, trong báo cáo tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2015 nhận xét: “Cả năm 2015 các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam đã có năm mươi vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo. Các giáo hội đều bị nhà nước khống chế, lũng đoạn và xâm nhập. Các quyền tự do tôn giáo chính yếu đều bị cấm cản: – Mọi tôn giáo không được độc lập trong việc tổ chức nội bộ. Nhà cầm quyền tìm cách kiểm soát và ảnh hưởng lên việc chiêu sinh, huấn luyện, tấn phong, bổ nhiệm và thuyên chuyển hàng ngũ chức chắc lãnh đạo. – Mọi tôn giáo không được tự do trong sinh hoạt phụng thờ. Các sinh hoạt này chỉ được thực hiện trong những nơi thừa tự đã được nhà nước công nhận. Các lễ nghi hay lễ hội lớn đều phải xin phép nhà cầm quyền. – Mọi tôn giáo không được truyền bá giáo lý bên ngoài các cơ sở của mình ra xã hội, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, lên mạng thông tin toàn cầu. – Mọi tôn giáo không được góp phần giáo dục giới trẻ qua hệ thống giáo dục từ tiểu học đến đại học. Hiện thời các giáo hội chỉ được mở trường mẫu giáo, nhưng vẫn dưới sự kiểm soát đủ mặt của chế độ. – Mọi tôn giáo không được có tín đồ giữ các chức vụ cao trong bộ máy cai trị (quốc hội và chính quyền), trong hàng ngũ công an, quân đội cũng như trong hệ thống giáo dục. – Mọi tôn giáo đều bị chính quyền tước đoạt đất đai và cơ sở thừa tự trước đó, nhưng không được trả lại. Hiện nay các giáo hội đều không có sở hữu đất đai và không dễ dàng mở rộng cơ sở. Posted on Tháng Bảy 17, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/17/tu-theo-cong-den-chong-cong-46-vu-phong-thanh-117-chan-phuc-tu-dao-viet-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (47): https://www.minds.com/newsfeed/1020204008603201536?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45): https://www.minds.com/newsfeed/1020199026186948608?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (48) Hồi ký Tống Văn Công Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh vĩ nhân tôm cá Từ 17 đến 20 tháng 10 năm 1988 Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 6 đã bầu ông Xuân Cang tổng biên tập báo Lao Động vào ban lãnh đạo Tổng Liên đoàn, phụ trách trưởng ban tuyên giáo. Tổng Liên đoàn Lao động tổ chức thăm dò chọn tổng biên tập mới bằng hình thức bỏ phiếu kín. Có lẽ vì tôi đã làm tốt cuộc đấu tranh với Tổng Cục trưởng Tổng cục Cao su, nên số đông cán bộ, phóng viên báo Lao Động bỏ phiếu chọn tôi làm tổng biên tập. Ông Phạm Thế Duyệt chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động đã vào Sài Gòn gợi ý tôi ra Hà Nội nhận trách nhiệm tổng biên tập báo Lao Động. Khóa trước, tôi đã từ chối, nhưng lần này tôi muốn nhận vì để chứng tỏ, dù ông Nguyễn Văn Linh quyết “đánh” cho chết, tôi vẫn sống đàng hoàng. Từ đại hội VI, không khí dân chủ đã đem lại hy vọng sáng tạo. Tôi cũng muốn nhân dịp này góp phần đổi mới báo lao động, đưa nó ra khỏi ngăn kéo của cán bộ công đoàn, góp mặt trên các sạp báo cả nước. Tại đại hội 6, Lê Đức Thọ muốn tranh chức tổng bí thư với Trường Chinh, để nội bộ Đảng được yên, người ta chọn phương án Nguyễn Văn Linh. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thi thố tài năng ra sao mọi người đã biết. Ở đây chỉ xin kể đôi việc ông chỉ đạo tổ chức công đoàn. Ông Mai Văn Bảy chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh cho biết, vì ông đã tích cực bảo vệ tôi, chống lại chỉ thị của Nguyễn Văn Linh là phải khai trừ đảng và khởi tố tôi, do đó ông Linh đã gây mọi áp lực buộc Mai Văn Bảy phải rời khỏi mọi chức vụ ở thành phố. Bà Hoàng Thị Khánh là người được đề cử lên thay Mai Văn Bảy. Ông Linh cũng không đồng ý. Nhiều người cho rằng chỉ vì Hoàng Thị Khánh tính thẳng thắn, dám nói trái ý ông. Ông Linh chỉ đạo đưa ông Nguyễn Văn Tư, ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường sắt về làm chủ tịch công đoàn thành phố. Đây là chuyện chưa từng có trong việc chọn người cho chức vị này. Được Tổng bí thư giới thiệu, ông Nguyễn Văn Tư đắc cử chủ tịch công đoàn thành phố, rồi đi dự Đại hội Công đoàn toàn quốc và đắc cử Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động ngoài ý muốn của cả ông và ông Linh. Vậy là bà Hoàng Thị Khánh lên thay ông Tư ngoài dự liệu của ông Linh. Ở Đại hội Công đoàn toàn quốc, ông Nguyễn Văn Linh cho rằng những cán bộ đang có trong hệ thống công đoàn không có ai xứng đáng lên ghế chủ tịch. Ông chỉ thị đưa ông Nguyễn Văn An, ủy viên Trung ương Đảng, Phó Ban Tổ chức Trung ương ứng cử chức chủ tịch. Ông đến đại hội thuyết phục đại biểu bầu cho ông Nguyễn Văn An. Đại hội chia tổ thảo luận, 100 % số tổ không đồng ý chọn Nguyễn Văn An làm chủ tịch với lý do: ông này chưa bao giờ làm công tác công đoàn. Cuối cùng ông Linh phải cho rút ông An và chỉ thị đại hội bầu một người trong các phó chủ tịch nhiệm kỳ vừa qua. Ông hứa sẽ đưa người đắc cử chức chủ tịch bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 6. Một lần nữa, đại hội cũng không bỏ phiếu theo chỉ đạo của ông mà bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Văn Tư làm chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động. Sau này dư luận cho rằng ông Nguyễn Văn An là người may mắn nhất trong vụ Đại hội Công đoàn bác chỉ thị của ông Linh, bởi vì nhờ bị thất cử mà ông không bị kẹt ở Công đoàn, có cơ hội để đến Đại hội 7 được bầu vào Bộ Chính trị làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương, rồi kế tiếp là chủ tịch Quốc hội! Sau khi tôi ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động khoảng nửa tháng thì có cuộc họp của ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đến huấn thị về công tác công đoàn thực hiện nghị quyết của Đảng. Đứng trên lễ đài nhìn xuống cử tọa, chạm mắt tôi đang ngồi cạnh chủ tịch Nguyễn Văn Tư, ông cau mày, nói như hụt hơi. Tuy biết ông đang khó chịu, nhưng tôi không thể ngờ ông tiếp tục ra “đòn thù dai” đối với tôi. Sau khi nói chuyện với hội nghị, ông gặp riêng chủ tịch Nguyễn Văn Tư chỉ thị: “Có lẽ các đồng chí không biết rõ tay Tống Văn Công nên đã bổ nhiệm hắn làm tổng biên tập cơ quan ngôn luận của tổ chức giai cấp tiên phong. Tôi đề nghị cho người khác có quan điểm giai cấp công nhân thật vững vàng để thay ngay anh ta”. Ngay hôm sau, ông Nguyễn Văn Tư triệu tập đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động phổ biến chỉ thị của tổng bí thư. Tất cả đều kinh ngạc vì thấy vô lý, nhưng chưa biết phải đối phó thế nào. Ông Định Gia Bảy, ủy viên đảng đoàn, trưởng ban tổ chức là người có trách nhiệm về nhân sự, phát biểu: “Ngay sau khi có chỉ thị của tổng bí thư, chúng ta đã họp bàn cách giải quyết. Như vậy tức là chúng ta rất nghiêm túc thực hiện chỉ thị của đồng chí ấy. Tuy nhiên, việc đánh giá cán bộ trong tổ chức của mình thì chắc chắn chúng ta có điều kiện để hiểu rõ hơn đồng chí ấy. Do đó, theo tôi chúng ta có trách nhiệm làm cho đồng chí ấy hiểu vì sao chúng ta đã quyết định chọn Tống Văn Công làm tổng biên tập”. Trừ ông bí thư Đảng đoàn Nguyễn Văn Tư, tất cả những người còn lại đều quen biết tôi không dưới 5-10 năm. Phó bí thư đảng đoàn, ủy viên trung ương Cù Thị hậu quen biết tôi từ khi bà còn là cô thợ dệt, tôi với tư cách nhà báo đã gặp gỡ bà ở xí nghiệp, đến thăm gia đình, hỏi chuyện và viết nhiều bài đăng báo, in sách. Bà nói: “Anh Công là nhà báo đi sát công nhân và tổ chức công đoàn. Anh đã viết rất nhiều điển hình của ngành dệt và ở các ngành nghề khác. Anh là người sáng lập và đồng sáng lập hai tờ báo của công đoàn. Chúng ta chọn một người như vậy làm tổng biên tập là đúng đắn. Về chuyện riêng, ai cũng biết là cuộc hôn nhân đầu tiên anh không có hạnh phúc”. Anh Dương Xuân An từng trả lời phỏng vấn của tôi thì anh là chủ tịch công đoàn ngành xây dựng kể: “Tống Văn Công có quan hệ rất tốt với các công đoàn ngành và các cơ sở, tìm hiểu mọi chuyện rất cặn kẽ. Một lần tôi được phỏng vấn, nghe cách đặt vấn đề, tôi biết tay này đã nắm chắc mọi chuyện ở đây, ta phải hợp tác cùng mổ xẻ những mắc míu, chứ không thể nói xuôi chiều”. Chị Hoàng Thị Khánh quen biết tôi khi chị còn làm chủ tịch Công đoàn Quận 10, tôi làm trưởng ban tuyên giáo kiêm tổng biên tập báo. Mỗi người nêu một chuyện để chứng minh rằng Tống Văn Công có năng lực và tinh thần trách nhiệm trong công việc, không phải là người xấu. Tất cả các ý kiến phát biểu được đi vào biên bản, cuối cùng tổng hợp lại thành bản báo cáo kính gửi đồng chí tổng bí thư. Mấy hôm sau, chủ tịch Nguyễn Văn Tư cùng với trưởng ban tư tưởng văn hóa Trần Trọng Tân đến gặp tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trình các văn bản nói trên. Theo chủ tịch Nguyễn Văn Tư kể lại, suốt buổi làm việc hôm đó tổng bí thư chỉ nghe, không hỏi, cũng không có ý kiến nhận xét. Từ đó cho tới hết nhiệm kỳ, ông Nguyễn Văn Linh không có ý kiến gì về báo Lao Động và cá nhân tôi. Đến năm 1993 khi có Tám Đăng (phó tổng biên tập, nguyên trợ lý báo chí của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) vu cáo tôi làm bình phong cho một âm mưu diễn tiến hòa bình do Lý Quý Chung (nguyên bộ trưởng trong chính phủ Dương Văn Minh) cầm đầu, ông mới gửi thư “cố vấn” cho Đỗ Mười chỉ đạo Tổng Liên đoàn Lao động buộc tôi “về vườn”. Thời chống Pháp, tôi có nhiều năm công tác ở Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ, sau đó là Đội Thông tin Liên lạc thuộc Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Nam bộ, những nơi có điều kiện để biết tên tuổi, chức vụ, địa chỉ của các nhà lãnh đạo, vậy mà tôi chưa hề nghe tên ông Nguyễn Văn Cúc (tên cúng cơm của Nguyễn Văn Linh). Đến thời chống Mỹ, tôi được biết Nguyễn Văn Linh là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam (bí thư là Nguyễn Chí Thanh, sau năm 1968 là Phạm Hùng). Năm 1969 trong lễ tang cụ Hồ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông Linh, người trẻ nhất trong những ông ủy viên Ban Chấp hành Trung ương ở lễ truy điệu tại hội trường Ba Đình. Sau 30-4-1975, ông lên làm bí thư thành ủy Sài Gòn. Lúc này tôi làm tổng biên tập báo Lao Động Mới của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam do ông Nguyễn Hộ làm chủ tịch. Bạn tôi, anh Trương Quang Lộc (tức Trương Tấn Đức phụ trách Trường Báo chí của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) bảo tôi: “Mày ơi, ông Nguyễn Văn Linh làm to vậy chứ dốt lắm. Đến bất cứ cuộc hội nghị nào ổng cũng chỉ nói ‘thế giới chia làm hai phe, có bốn mâu thuẫn'”. Tháng ba năm 1982 ông Linh bị thất sủng, rời khỏi Bộ Chính trị khóa Đại hội 5, xin về làm bí thư thành ủy Sài Gòn thay ông Võ Văn Kiệt được điều ra Trung ương. Ở đây ông hưởng kết quả “xé rào” của ông Võ Văn Kiệt. Chính môi trường này tạo cơ hội để ông trở thành tổng bí thư ở Đại hội 6. Nhưng đó là một trong những lý do khiến ông tìm cớ dìm ông Võ Văn Kiệt. Năm 1990 phong trào dân chủ nổi lên mạnh mẽ ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Ở trong nước, Trần Xuân Bách đòi đổi mới chính trị, văn nghệ sĩ đòi tự do tư tưởng, tự do sáng tác. Nguyễn Văn Linh đã dùng mọi thủ đoạn nhằm bảo vệ sự độc quyền của đảng Cộng sản: đi Thành Đô cầu hòa với địch, cách chức Trần Xuân Bách, chỉ đạo cách chức nhà văn Nguyên Ngọc, giữa hội trường Ba Đình dịp mừng ngày quốc khánh năm 1990 ông ta công khai gọi “con Dương Thu Hương chống Đảng, thằng Nguyễn Quang sáng hư hỏng”. Báo Lao Động Chủ Nhật ngày 9 tháng 9 năm 1990 đã phê phán hành vi vô văn hóa này bằng bài tiểu phẩm có tựa đề “Hai năm, ba chữ” của nhà báo Nguyễn An Định. Bài báo kể chuyện Bưu điện tỉnh Quảng Ninh Phải mất 2 năm mới huấn luyện các nhân viên tổng đài điện thoại nói được ba chữ “dạ, tôi nghe” khi trả lời khách gọi tới thay cho cách trả lời trước đây “muốn gặp ai?”, “gọi gì đó?” Bài báo kết luận “dù phải mất hai năm chỉ được có ba chữ, nhưng ta hãy cứ mừng, bởi ngay bây giờ đây, trên diễn đàn công khai, người ta còn văng thằng nó con kia cơ mà”! Báo phát hành hôm trước, hôm sau anh Hoàng Trọng Đỉnh Nguyên phó tổng biên tập báo Lao Động đã nghỉ hưu đến thăm tôi, vừa khen, vừa tỏ ra lo lắng: “Các cậu to gan, liều lĩnh quá! Đọc bài này ai cũng biết là phê bình tổng bí thư. Xóm cán bộ về hưu chúng mình xôn xao bình luận, nói chung là đồng tình với các cậu”. Sau đó ít lâu, từ Sài Gòn nhà thơ Nguyễn Duy viết bài thơ Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ có hai cầu “tức cảnh”: “Ta nhờn nhợn cái há mồm vĩ nhân tôm cá. Khạc đủ nghề thằng nọ con kia”. Posted on Tháng Bảy 21, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/21/tu-theo-cong-den-chong-cong-48-tong-bi-thu-nguyen-van-linh-vi-nhan-tom-ca/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (49): https://www.minds.com/newsfeed/1020204880177451008?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (47): https://www.minds.com/newsfeed/1020204008603201536?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (47) Hồi ký Tống Văn Công Nhân vụ học trò đánh thầy giáo Báo Tuổi Trẻ ngày 23 tháng 5 năm 1989 biết về vụ thầy Hoan bị học trò cũ tìm tới nhà hành hung. Bị đâm một nhát dao, thầy nhảy từ lầu 2 xuống, gãy nhiều xương. Thầy than thở với nhà báo: “Tôi không muốn thốt lên đây một tiếng kêu than thêm vào những tiếng kêu than đã nhiều lắm rồi. Ở một ngành có thể tiêu biểu cho mọi sự khốn khó nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ… tất cả những cái đó đã quá tủi đối với tư cách nhà giáo. Chuyện học trò đánh Thầy phải chăng là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Người xưa nói sanh nghề tử nghiệp. Nghề của chúng tôi là giáo dục học sinh nên người. Thế nhưng chúng tôi đã giáo dục tồi, tạo ra những học sinh kém, chuyện học sinh đánh thầy là trái đắng nhất mà chúng tôi phải chịu. Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp?” Mổ xẻ nguyên nhân nào đã khiến cho nhà giáo từ chỗ được xã hội “tôn sư trọng đạo” trở thành “tiêu biểu cho mọi sự khốn khổ nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ” hẳn là một việc làm không dễ dàng nhưng rất cần thiết. Trước tháng 4 năm 1975, ở miền Nam, nghề giáo vẫn còn là một nghề được trọng vọng không khác bao nhiêu so với nhà giáo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhà giáo có mức lương đủ cho gia đình có mức sống trung lưu, được xã hội tin cậy hơn những người có chức sắc trong chính quyền bởi cuộc sống thanh bạch. Thế mà chỉ 14 năm sau đã ra nông nỗi này! Nhớ lại ở miền Bắc sau 1954 nghề giáo cũng có hiện tượng sa sút na ná như vậy, bị xã hội xem thường, nhưng không quá nhanh và quá tệ như bây giờ. Khoảng cuối những năm 60 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu có chính sách ưu đãi để khuyến khích sinh viên vào ngành sư phạm. Đó là khởi đầu cho sự sa sút của ngành giáo dục. Năm 1981, khi được bổ nhiệm làm phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam, tôi ra Hà Nội thăm gia đình ông tổng biên tập Trần Nhật Dụ. Tại đây tôi được gặp hai người em rể của ông là hiệu trưởng trường cấp hai ở Hà Tĩnh vừa nghỉ hưu, được cho đi du lịch theo chế độ. Hai ông cùng tuổi, cùng vào nghề giáo trước Cách mạng tháng Tám, ông Dụ là giáo viên tiểu học, còn ông kia giáo viên trung học. Nhìn lại bước đi của hai người đã cho tôi một phát hiện lý thú: sau cách mạng, ông Dụ tham gia hoạt động công đoàn huyện, rồi lên tỉnh, lên trung ương làm chủ tịch công đoàn ngành giáo dục Việt Nam. Từ chức chủ tịch công đoàn ngành, ông bước lên ghế chánh văn phòng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Sau khi ông Lê Vân tổng biên tập báo Lao Động qua đời, ông Dụ được chuyển sang thay thế, tiền lương 150 đồng/ tháng. Trong khi đó, người em rể đồng nghiệp của ông chí thú với nghề giáo, không tham gia công tác đoàn thể, đến cuối đời lên đến chức hiệu trưởng tiền lương 86 đồng/tháng. Chuyện này gợi cho tôi nhiều tò mò. Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam đã bắt đầu được nghe: nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhà nước này sắp xếp lại thứ tự của “tứ dân”, từ sĩ, nông, công, thương trở thành: giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng thông qua đảng Cộng sản; giai cấp nông dân là quân chủ lực của cách mạng, chia thành cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần nông là chỗ dựa tin cậy; trung nông kém tin cậy hơn, phải chia ra lớp dưới và lớp trên để có phân biệt đối xử. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột, phải tước bỏ phần bóc lột của họ. Địa chủ là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là “tạch tạch xè”, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ dao động, phải luôn luôn được theo dõi, giáo dục. Thương nhân là hàng xấu xa nhất, phải cải tạo để thành người lao động. Theo cách sắp xếp này, thầy giáo Thu tiểu tư sản, “tạch tạch xè”. Nhiều người cho rằng cách sắp xếp này đã đem tay chân thay cho đầu óc của xã hội. Thời xưa các ông đồ được xã hội kính trọng không kém những bậc phú hộ và những vị có chức sắc trong chính quyền. Đến thời tân học các nhà giáo cũng được quý trọng như thế. Miền Bắc trước năm 1954 và miền Nam trước tháng 4 năm 1975, thầy giáo cấp một có mức lương đủ nuôi vợ con và thuê người giúp việc. Các chàng trai vừa tốt nghiệp ngành sư phạm đã được các gia đình giàu có đánh tiếng muốn gã con. Thời ấy phải là người học giỏi mới dám thi vào ngành sư phạm, vì ngành này tuyển sinh khắc khe nhất. Miền Bắc sau năm 1954, và miền Nam sau năm 1975, trở thành xã hội chính trị (trong chế độ toàn trị do đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo). Cấp ủy đảng được coi là những người danh giá nhất trong làng, xã, quận, huyện, tỉnh, thành. Nhà giáo là “tạch tạch xè”, nhưng chủ tịch công đoàn ngành giáo dục thì lại là “chiến sĩ vô sản”. Trong bài nói với sinh viên trường đại học sư phạm, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho nhà giáo nhiệm vụ mà họ không thể làm nổi: người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Ông thầy giáo làm sao so nổi với ông cấp ủy! Các thành viên của cấp ủy chia nhau nắm chính quyền, các đoàn thể như công đoàn, nông hội, thanh niên, phụ nữ, phụ lão. Giáo viên mà không có chân trong ban chấp hành công đoàn giáo dục thì chỉ ngang với một đoàn viên của các đoàn thể công đoàn hoặc nông hội, nhưng kém hơn họ về mức sống, vì ngoài tiền lương chết đói, ông thầy giáo không có thu nhập gì thêm. Thu nhập thấp thì địa vị xã hội cũng xuống thấp, việc tuyển sinh vào các trường sư phạm khó khăn, phải hạ dần điểm tuyển, miễn học phí, đưa tới chất lượng giáo viên kém dần. Bởi vì những người học lực kém mới phải vào ngành sư phạm. Để trang trải cuộc sống, nhà giáo phải tìm cách đối phó. Trên lớp thì dạy qua loa để buộc học sinh phải xin học thêm. Thu nhập từ dạy thêm cao gấp mấy lần tiền lương. Các thầy dạy môn lịch sử, địa lý không thể dạy thêm nên đành phải làm đủ mọi nghề, kể cả rửa bát nhà hàng, đạp xích lô. Hình ảnh và phẩm chất thầy giáo bị tàn phá từ vật chất đến tinh thần. Đòn đánh chí mạng vào nghề giáo là tinh thần tôn sư trọng đạo, sau đó mới đến đòn đánh bằng dao gậy mà thầy Hoành phải chịu kể trên. Thầy Hoành tự cho mình dạy tồi cho nên phải bị đánh. Có lẽ thật lòng thầy không nghĩ như vậy cho nên thầy mới hỏi tiếp: “Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp? “Xin lạm bàn cùng thầy. Nền giáo dục của nước ta từ 1975 đến nay có hai ách tắc không thể vượt qua được. Những điều thầy Hoành nói chỉ là cái ách tắc thứ hai. Gọng kềm ý thức hệ mới là cái ách tắc thứ nhất. Tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc trung ương (nay là Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh) đã viết vào sổ vàng của trường một câu được coi là mục tiêu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa “Học để làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự giai cấp và nhân dân, Tổ Quốc và nhân loại”. Trong bài nói ở trường Đại học sư phạm Hà Nội tháng 10 năm 1964, Hồ Chí Minh cho rằng thầy giáo phải xứng đáng là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa; và để được như vậy thì phải học tập chính trị, bởi vì “có học tập lý luận Mác, Lê-nin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác đảng giao phó”. Tiếp thụ tinh thần đó, ngày 14 tháng 11 năm 1988, thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Trần Chí Đáo tuyên bố “chủ trương của Bộ về tuyển sinh và đào tạo là bảo đảm Đảng tính và giai cấp tính” (báo Tuổi Trẻ). Nghị quyết trung ương 29-NQ/TW khóa 11, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh “Coi trọng công tác phát triển Đảng, công tác chính trị tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm trường học phải có chi bộ, trường đại học có đảng bộ. Đổi mới chương trình. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đọc những điều nói trên đây cho thấy những người lãnh đạo đảng Cộng sản muốn ngành giáo dục phải đào tạo lớp trẻ theo khuôn mẫu do họ chọn, để trở thành công cụ xã hội chủ nghĩa đắc lực. Để thực hiện điều đó, ngành giáo dục phải che giấu những thông tin, dữ kiện bất lợi cho chế độ toàn trị, phải chọn những thông tin, dữ kiện dù lỗi thời nhưng có thể phục vụ cho định hướng của đảng, đưa vào giáo trình. Năm 1985 ông Mai Chí Thọ khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn, khi đến thăm một trường mẫu giáo, đã tỏ ý ngạc nhiên vì các bài học của trẻ lên ba quá đậm chất chính trị. Ông đã có câu nói đúng: “Tôi e chẳng những không thể đạt được yêu cầu chính trị mà mục đích trồng người cũng không đạt”. Cho đến nay (2013) thử tìm xem một số sách giáo khoa cho trẻ sẽ thấy tình trạng đó vẫn còn nguyên. Quyển sách do Vũ Xuân Vinh soạn, nhà xuất bản đại học ấn hành, phần lớn theo thể thơ lục bát, một số theo thể thơ ngũ ngôn, hầu hết không có chất thơ, không đúng vần, như “Công viên đường phố thật vui. Thêm yêu đất nước thêm yêu phố phường”; “Mỗi năm một tuổi thêm vui; thi đua phấn đấu thành người trò ngoan”; “Ôi lá cờ tổ quốc. Đứng nghiêm giơ tay chào”… trong sách Tiếng Việt, lớp 3 có những “chủ điểm” như: Đơn xin vào đội, Tập tổ chức một cuộc họp; Người lính dũng cảm… Sách chỉ chọn tác phẩm của các nhà thơ kháng chiến, nhiều bài rất dở. Bài thơ “Đi hội chùa Hương” nhạt nhẽo, được chọn có lẽ vì mấy câu kết: “Ôi phải đâu lễ Phật, Người mới đi chùa Hương. Người đi thăm đất nước, Người về trong yêu thương”. Với lập trường duy vật vững vàng, nhà soạn sách chọn bài thơ này vì nó lớn tiếng hô hào rằng đi chùa không phải vì lễ Phật, còn bài thơ “Đi chùa Hương” nổi tiếng của Nguyễn Nhược Pháp cứ “Nam mô a di đà” cho nên không thể chọn! Năm 2009, trên báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh số Xuân đăng bài Điều ước đầu năm của chị Trần Mai Liên, mẹ của một học sinh cấp 1 ở Gò Vấp: “Cầu mong năm mới, sách giáo khoa sửa đổi, môn công dân giáo dục không còn tiếp tục dạy những ý tưởng quá cao xa không hợp với trẻ. Đối với trẻ, cần phải dạy cho chúng biết yêu ông bà, cha mẹ, anh em và mọi người! Biết sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, không tham lam ích kỷ”. Có lẽ chị muốn ngầm nhắc nhà báo về năm điều bác Hồ dạy được treo cao giữa các lớp học, đã không có điều nào dạy trẻ yêu cha mẹ, tôn trọng thầy giáo. Năm năm sau lời cầu mong của chị Trần Mai Liên, giáo sư Văn Như Cương bức xúc kêu lên: “Chuyện dạy làm người vẫn mãi là khoảng trống trong giáo dục phổ thông”. Ông trích sách “Giáo dục công dân” một bài giảng có tựa đề “Phủ định siêu hình và phủ định biện chứng”. Bức xúc của giáo sư Văn Như Cương không được trả lời, vì giáo dục xã hội chủ nghĩa đã khẳng định: “Không có khoảng trống nào cả! Ngành giáo dục vẫn trung thành với khuôn mẫu ý thức hệ nhằm đào tạo những con người kế thừa để xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cách làm của họ đúng như nhà giáo dục vĩ đại John Dewey Nhận xét về nền giáo dục bảo thủ là “làm cho tương lai phù hợp với quá khứ”. Thực ra “dạy người” không chỉ ở môn giáo dục công dân mà phải trong toàn bộ chương trình giáo dục. Ở các nền giáo dục tiên tiến, người ta đặt nhiệm vụ giáo dục là đào tạo con người tự do, con người đầy ắp ý kiến phản biện, con người dám khác với những người đi trước dù đó là những vĩ nhân. Albert Einstein nói: “Chúng dựa trên tự do của lòng tin và giáo dục, trên nguyên lý rằng, ước muốn tìm chân lý phải đặt trước mọi ước muốn khác” và “không có tự do kia thì sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur”. Đúng vậy, chúng ta có thể bổ sung cho câu nói của ông “không có tự do thì cũng không có Albert Einstein”. Khi tôi viết đến đây thì trên báo tuổi trẻ hôm nay (11-5-2016), cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền ở thành phố Hồ Chí Minh gửi “8 thỉnh cầu đến Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo”: 1- Giảm bớt những kiến thức ôm đồm ra đời không dùng được; dạy cho các em biết bênh vực cái tốt, dám chống lại cái ác. 2- Đừng thay đổi liên tục, từ “nghiên cứu bài học” chưa đâu vào đâu đã chuyển sang “tích hợp liên môn”, rồi “bàn tay nặn bột”. Việc thi cử cũng thay đổi xoành xoạch! 3- Xin hãy để cho tất cả giáo viên có quyền thực sự lựa chọn hiệu trưởng của trường và quyền ứng cử vào vị trí mà họ thấy thích hợp. (Hình như cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền không nhớ rằng, hiệu trưởng phải là đảng viên?) 4- Hãy đánh giá giáo viên ở phương pháp giảng dạy, chứ không phải chăm chỉ ghi chép đầy đủ vào các loại sổ do bộ quy định. 5- Thời đại công nghệ thông tin nhưng cách quản lý vẫn còn “đèn nhà ai nấy rạng”. 6- Tăng thêm mức đãi ngộ, đặc biệt là giáo viên vùng sâu, vùng xa. 7- Hiện nay nhiều sinh viên ra trường khó tìm được việc làm là vì chương trình đại học có đến 30% những điều không cần trong cuộc sống. 8- Nói chung chú trọng nhồi nhét kiến thức (nhiều điều không dùng được) mà không chú ý giáo dục đạo đức nhân cách con người. Ngày 12-5-2016 rất nhiều người hưởng ứng bức thư cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, đã đề xuất thêm điều thứ 9: “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” và “Hãy để cho giáo viên sống được bằng lương”. Posted on Tháng Bảy 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-47-nhan-vu-hoc-tro-danh-thay-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (48): https://www.minds.com/newsfeed/1020204418679939072?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (46): https://www.minds.com/newsfeed/1020203299069206528?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (46) Hồi ký Tống Văn Công Vụ phong thánh 117 chân phúc tử đạo Việt Nam Ngày 22-6-1987 Giáo hoàng Gioan – Phao lô II Chủ trì cuộc họp tại Roma (Italia) quyết định phong Hiển thánh cho 117 Á thánh chết vì đạo ở Việt Nam từ 1625 đến 1861 và ấn định năm sau, ngày 19-6-1988 sẽ tổ chức lễ phong thánh tại Roma. Ngày 12-10-1987 Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam gửi công văn cho Ủy ban Nhân dân và Ban Tôn giáo các tỉnh, thành, đặc khu cả nước, nhận định: “Quyết định của Vatican là một việc làm có dụng ý chính trị xấu và xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, kích động tâm lý cuồng tính tử vì đạo trong một bộ phận giáo dân và giáo sĩ Việt Nam; gây chia rẽ giáo, lương; làm tổn hại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và nhà nước ta đang ra sức thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo, tăng cường đoàn kết toàn dân vượt qua mọi thử thách, khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Trước tình hình đó, ngày 18-9-1987, thừa lệnh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ban Tôn giáo của chính phủ đã triệu tập các giám mục trong Ủy ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam để vạch rõ tính nghiêm trọng của sự kiện nói trên, nghiêm khắc phê phán việc làm sai trái này của một số giám mục trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, của Vatican và bàn biện pháp xử lý tình hình phức tạp có lý có tình. Sau đó nhiều cuộc hội thảo được tổ chức khắp cả nước, nhiều cây bút sắc bén nhất của chế độ như Trần Bạch Đằng, Nguyễn Khắc Viện… viết bài theo quan điểm nói trên. Bài viết của Nguyễn Khắc Viện có tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai?” Mở đầu ông cho rằng “Tôi vẫn cảnh giác cao độ với những mưu đồ xuất phát từ Phương Tây mong lợi dụng Đạo Kitô để phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta”. Ông cho rằng không thể biết chính xác tất cả những người được nêu tên đã chết trong hoàn cảnh nào, họa chăng tư liệu còn lại cho biết rõ trường hợp một vài người. Ông nhấn mạnh sự kiện: – Một là chuyện giám mục Adran đưa hoàng tử Cảnh bái yết vua Pháp Louis 16 năm 1787, với kế hoạch tấn công Đà Nẵng. – Hai là chuyện người Công giáo đã giúp Pháp tiêu diệt phong trào Văn Thân (Văn Thân có khẩu hiệu “bình Tây sát tả”, có nghĩa là dẹp Tây, diệt đạo). Nguyễn Khắc Viện nhận định lễ phong thánh sẽ gây ra: “Rồi nhiều người trên thế giới, đặc biệt trong giáo dân, đâm ra thương hại cho Giáo hội Việt Nam đang sống trong cảnh bị áp bức, rồi một số người Việt Nam ngoại đạo, một số cán bộ sẵn có định kiến lại thốt lên: Đã bảo mà, tin sao được bên đạo, bao giờ họ cũng hướng về Phương Tây. Rõ ràng việc phong thánh này là một đòn hiểm đối với khối đoàn kết dân tộc của chúng ta.” Thật là “thần hồn nát thần tính”, Đảng Cộng sản Việt Nam cứ nghĩ là các thế lực thù địch lúc nào cũng đang âm mưu đánh phá mình, phong thánh chắc phải là đòn hiểm (!) Thực ra tất cả 117 vị tử đạo không có người nào bị giết vì dính líu với thực dân Pháp, họ chỉ bị giết vì là “tả đạo”, trái với đạo Nho mà triều đình nhà Nguyễn tôn thờ. Các vị đều có lý lịch rõ ràng về quê quán, chức sắc, ngày bị giết, hình thức bị giết (xử trảm, xử giảo, hay chết trong tù). Những người Công giáo chân chính có nhiều bài viết cho rằng chuyện phong thánh là việc riêng của Giáo hội và việc này hoàn toàn đúng đắn bởi mục đích tôn vinh những giáo dân dám từ chối đạp lên thập giá, chịu chết vì đạo Chúa. Các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Ngô Văn Ân, Thanh Lãng có những bài viết, tham luận bác bỏ những lập luận không đúng sự thật lịch sử. Đặc biệt hai ông Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan đã từng hoạt động chống chiến tranh, chống sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam, đòi trả tự do cho tù chính trị, những người bị giam ở Côn Đảo, do đó họ đã bị chế độ miền Nam cho là thân cộng. Sau 1975, hai ông được nhà nước cộng sản mời tục bản Đối Diện với tên mới là Đứng Dậy, nhưng chẳng bao lâu đã bị đóng cửa. Giờ đây với việc bảo vệ vụ phong thánh, hai ông bị nhà nước cộng sản cho là phá bỉnh, đã dùng biện pháp bịt mồm, rồi một người bị quản chế tại gia, một người được mời rời khỏi xứ đạo, an trí ở Cần Giờ. Bài “Nói chuyện tử đạo với ông Nguyễn Khắc Viện” của linh mục Nguyễn Ngọc Lan (Bài có gửi cho báo Công Giáo Và Dân Tộc do linh mục Trương Bá Cần làm tổng biên tập nhưng không được đăng) có đoạn: “… Ông muốn dạy dỗ chúng tôi, những người công giáo Việt Nam nên nghĩ thế nào về việc phong 117 vị thánh liên hệ trực tiếp và trước tiên đến chúng tôi. Đó là quyền của ông, quyền hiểu theo nghĩa tự do chủ nghĩa (libéralisme) tạm gọi là của thế giới tư bản. Còn nếu quyền được hiểu với một chút màu sắc đạo đức nào đó thì thưa ông, tại sao ông không tự đặt cho mình một số câu hỏi tương tự như: Bài của ông là bài thứ mấy viết về vấn đề này? Ông có thể tính bằng đầu ngón tay thì phải… Tại sao chỉ có giám mục Bùi Tuần có tiếng nói về vấn đề này trên tờ Công Giáo Và Dân Tộc? Các giám mục Việt Nam khác ở đâu? Các người Công giáo khác ở đâu? Họ không biết nghĩ thế nào cả sao? Họ không biết viết thành câu cú những điều họ nghĩ sao? Tại sao mấy trang góp ý của linh mục Chân Tín một người quen thuộc với cả báo chí trong nước và ngoài nước không hề được đăng trên báo Công Giáo Và Dân Tộc, khi mà những trang góp ý ấy đã được đọc lên trong buổi họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Quận 3 chiều ngày 18 tháng 1 năm 1988 và đã được giới Công giáo chú ý đến nhiều? Tại sao ngay cả trong tập ‘Tài liệu tham khảo’ về ‘Việc phong thánh các Chân phúc tử đạo Việt Nam’ do văn phòng Ủy ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh in ronéo tháng 2 năm 1988 trong phần II dành cho ‘một số bài viết liên quan đến việc phong thánh’ người ta đăng 9 bài viết ở Việt Nam, trong số đó có bài của ông, hai bài của linh mục Thiện Cẩm ba bài của giám mục Bùi Tuần, nhưng vẫn không có bài của Chân Tín để rộng đường dư luận? Chúng ta đang sống ở thời nào đây? Thời Staline hay thời Gorbatchev? Thời báo Etudes Vietnamiennes của ông ngày trước hay tờ Đoàn Kết của việt kiều ta bây giờ ở Pháp?” Nguyễn Ngọc Lan phê bình cái tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai” là “lớn lối”. Ông Lan hỏi, giả sử “học giả nào đó viết mấy chữ ‘chết vì nước chết cho ai’ trên tấm bia liệt sĩ thì liệu có tờ báo nào vô ý thức, thiếu tự trọng đến mức có thể đăng lên một cái tựa đề như vậy? Còn nội dung bài thì cũn cỡn mà lại lạc đề, bởi vì 117 vị tử đạo không có ai bị giết bởi phong trào Văn thân cả!” Linh mục Chân Tín kể: Ông bị ông đại tá Nguyễn Văn Tòng giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh chất vấn vì sao báo nước ngoài đăng bài tham luận của ông ở Mặt trận Tổ quốc? Linh mục Chân Tín đáp: “Lẽ ra đó là điều tôi hỏi ông chứ không phải ông hỏi tôi! Bởi vì sau khi đọc xong tôi nộp bản tham luận cho các ông”. Ông giám đốc Sở văn hóa Nguyễn Văn Tòng đe dọa nếu gửi bài viết sai trái chủ trương chính sách của nhà nước ta ra nước ngoài thì có thể bị trừng trị. Chân Tín bảo mình đã bị chế độ Sài Gòn đe dọa như vậy nhiều rồi, nhưng mình đâu có ngán, lúc nào cũng vẫn hành động theo hai câu thơ của Nguyễn Trãi: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ, Cuối ngửa theo người quyết chẳng theo” Giám đốc Tòng nói, chính quyền Sài Gòn bắt ông là vinh dự cho ông, còn đây là nhà nước cách mạng bắt ông thì đó là ô nhục cho ông. Linh mục Chân Tín đáp: “Tôi thấy không có gì khác nhau cả, đều là quyền lực chống lại con người dám nói thẳng nói thật đó thôi”. Tháng 5 năm 1990, linh mục Chân Tín bị trục xuất khỏi nội thành, lưu đày ra Cần Giờ. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã xuất tu và lập gia đình với bà Thanh Vân biên tập viên tờ Tin Quận 5. Ông Lan bị quản chế tại gia, bà Thanh Vân bị buộc thôi việc. Ông Lan qua đời năm 2007. Linh mục Chân Tín mãn hạn lưu đày trở về Dòng Chúa Cứu Thế năm 1993. Năm 2006 ông chủ trương tờ báo chui “Tự do ngôn luận” đòi quyền tự do căn bản cho người dân Việt Nam. Linh mục Chân Tín từ trần ngày 1 tháng 12 năm 2012. Cái “định kiến” mà ông Viện nêu ra vẫn còn cho tới hôm nay. Nguồn gốc của nó từ đâu? Vì quan điểm “tôn giáo là thuốc phiện của dân nghèo”, hay là vì “Công giáo là đạo giáo được người Pháp ưu đãi?” Trong quyển sách “Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay” của giáo sư, tiến sĩ Dương Phú Hiệp chủ biên, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2010 nhận định: “Trong giai đoạn hiện nay, những thế lực chống đối trong và ngoài nước chưa từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo để làm mất ổn định chính trị, gây hoang mang chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy cần giải quyết vấn đề tôn giáo dưới góc độ văn hóa và phải xem giáo dục tôn giáo là vấn đề quan trọng”. Thật ra chẳng có thế lực trong ngoài nước nào gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc cả. Xin nêu một chuyện xảy ra ở nhà thờ Thuận Phát, phường Tân Kiểng, quận 7, nơi tôi cư ngụ nhiều năm. Sau 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng yêu cầu nhà thờ giao 3 phòng họp trong khuôn viên của nhà thờ. Từ đó, ba phòng này được dùng để hội họp dân phố. Mấy năm gần đây, nhà thờ Thuận Phát gửi đơn lên Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận 7 xin được trả lại 3 phòng họp này để sinh hoạt tôn giáo. Quận ủy chủ trương không trả lại. Đảng viên lão thành Lê Ngọc Tưởng, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy Nhà Bè (thời 1975-1980, vùng đất này thuộc quận 7 còn nằm trong Nhà Bè) gửi thư góp ý: Quận ủy nên đồng ý cho Ủy ban Nhân dân Quận 7 trả 3 phòng họp lại cho nhà thờ Thuận Phát làm nơi sinh hoạt hội họp giáo dân. Ông Tưởng viết: “Giáo dân cũng là công dân, Đảng có trách nhiệm giúp họ có nơi hội họp, học tập. Làm được như vậy giáo dân sẽ gắn bó với chế độ do Đảng lãnh đạo.” Ông Tưởng không được những người kế nhiệm mình cầm quyền sau 40 năm (lúc ông cầm quyền, họ còn là những đứa trẻ, được ông đưa vô nhà trường xã hội chủ nghĩa) trả lời. Họ phái một đại úy công an đến nhà ông Tưởng chất vấn: “Tại sao ông khuyến khích giáo dân ở giáo xứ Thuận Phát vùng dậy đòi phải trả ba phòng họp?” Hội bảo vệ quyền tự do tôn giáo, trong báo cáo tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2015 nhận xét: “Cả năm 2015 các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam đã có năm mươi vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo. Các giáo hội đều bị nhà nước khống chế, lũng đoạn và xâm nhập. Các quyền tự do tôn giáo chính yếu đều bị cấm cản: – Mọi tôn giáo không được độc lập trong việc tổ chức nội bộ. Nhà cầm quyền tìm cách kiểm soát và ảnh hưởng lên việc chiêu sinh, huấn luyện, tấn phong, bổ nhiệm và thuyên chuyển hàng ngũ chức chắc lãnh đạo. – Mọi tôn giáo không được tự do trong sinh hoạt phụng thờ. Các sinh hoạt này chỉ được thực hiện trong những nơi thừa tự đã được nhà nước công nhận. Các lễ nghi hay lễ hội lớn đều phải xin phép nhà cầm quyền. – Mọi tôn giáo không được truyền bá giáo lý bên ngoài các cơ sở của mình ra xã hội, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, lên mạng thông tin toàn cầu. – Mọi tôn giáo không được góp phần giáo dục giới trẻ qua hệ thống giáo dục từ tiểu học đến đại học. Hiện thời các giáo hội chỉ được mở trường mẫu giáo, nhưng vẫn dưới sự kiểm soát đủ mặt của chế độ. – Mọi tôn giáo không được có tín đồ giữ các chức vụ cao trong bộ máy cai trị (quốc hội và chính quyền), trong hàng ngũ công an, quân đội cũng như trong hệ thống giáo dục. – Mọi tôn giáo đều bị chính quyền tước đoạt đất đai và cơ sở thừa tự trước đó, nhưng không được trả lại. Hiện nay các giáo hội đều không có sở hữu đất đai và không dễ dàng mở rộng cơ sở. Posted on Tháng Bảy 17, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/17/tu-theo-cong-den-chong-cong-46-vu-phong-thanh-117-chan-phuc-tu-dao-viet-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (47): https://www.minds.com/newsfeed/1020204008603201536?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45): https://www.minds.com/newsfeed/1020199026186948608?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·