ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (48) Hồi ký Tống Văn Công Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh vĩ nhân tôm cá Từ 17 đến 20 tháng 10 năm 1988 Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 6 đã bầu ông Xuân Cang tổng biên tập báo Lao Động vào ban lãnh đạo Tổng Liên đoàn, phụ trách trưởng ban tuyên giáo. Tổng Liên đoàn Lao động tổ chức thăm dò chọn tổng biên tập mới bằng hình thức bỏ phiếu kín. Có lẽ vì tôi đã làm tốt cuộc đấu tranh với Tổng Cục trưởng Tổng cục Cao su, nên số đông cán bộ, phóng viên báo Lao Động bỏ phiếu chọn tôi làm tổng biên tập. Ông Phạm Thế Duyệt chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động đã vào Sài Gòn gợi ý tôi ra Hà Nội nhận trách nhiệm tổng biên tập báo Lao Động. Khóa trước, tôi đã từ chối, nhưng lần này tôi muốn nhận vì để chứng tỏ, dù ông Nguyễn Văn Linh quyết “đánh” cho chết, tôi vẫn sống đàng hoàng. Từ đại hội VI, không khí dân chủ đã đem lại hy vọng sáng tạo. Tôi cũng muốn nhân dịp này góp phần đổi mới báo lao động, đưa nó ra khỏi ngăn kéo của cán bộ công đoàn, góp mặt trên các sạp báo cả nước. Tại đại hội 6, Lê Đức Thọ muốn tranh chức tổng bí thư với Trường Chinh, để nội bộ Đảng được yên, người ta chọn phương án Nguyễn Văn Linh. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thi thố tài năng ra sao mọi người đã biết. Ở đây chỉ xin kể đôi việc ông chỉ đạo tổ chức công đoàn. Ông Mai Văn Bảy chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh cho biết, vì ông đã tích cực bảo vệ tôi, chống lại chỉ thị của Nguyễn Văn Linh là phải khai trừ đảng và khởi tố tôi, do đó ông Linh đã gây mọi áp lực buộc Mai Văn Bảy phải rời khỏi mọi chức vụ ở thành phố. Bà Hoàng Thị Khánh là người được đề cử lên thay Mai Văn Bảy. Ông Linh cũng không đồng ý. Nhiều người cho rằng chỉ vì Hoàng Thị Khánh tính thẳng thắn, dám nói trái ý ông. Ông Linh chỉ đạo đưa ông Nguyễn Văn Tư, ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường sắt về làm chủ tịch công đoàn thành phố. Đây là chuyện chưa từng có trong việc chọn người cho chức vị này. Được Tổng bí thư giới thiệu, ông Nguyễn Văn Tư đắc cử chủ tịch công đoàn thành phố, rồi đi dự Đại hội Công đoàn toàn quốc và đắc cử Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động ngoài ý muốn của cả ông và ông Linh. Vậy là bà Hoàng Thị Khánh lên thay ông Tư ngoài dự liệu của ông Linh. Ở Đại hội Công đoàn toàn quốc, ông Nguyễn Văn Linh cho rằng những cán bộ đang có trong hệ thống công đoàn không có ai xứng đáng lên ghế chủ tịch. Ông chỉ thị đưa ông Nguyễn Văn An, ủy viên Trung ương Đảng, Phó Ban Tổ chức Trung ương ứng cử chức chủ tịch. Ông đến đại hội thuyết phục đại biểu bầu cho ông Nguyễn Văn An. Đại hội chia tổ thảo luận, 100 % số tổ không đồng ý chọn Nguyễn Văn An làm chủ tịch với lý do: ông này chưa bao giờ làm công tác công đoàn. Cuối cùng ông Linh phải cho rút ông An và chỉ thị đại hội bầu một người trong các phó chủ tịch nhiệm kỳ vừa qua. Ông hứa sẽ đưa người đắc cử chức chủ tịch bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 6. Một lần nữa, đại hội cũng không bỏ phiếu theo chỉ đạo của ông mà bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Văn Tư làm chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động. Sau này dư luận cho rằng ông Nguyễn Văn An là người may mắn nhất trong vụ Đại hội Công đoàn bác chỉ thị của ông Linh, bởi vì nhờ bị thất cử mà ông không bị kẹt ở Công đoàn, có cơ hội để đến Đại hội 7 được bầu vào Bộ Chính trị làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương, rồi kế tiếp là chủ tịch Quốc hội! Sau khi tôi ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động khoảng nửa tháng thì có cuộc họp của ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đến huấn thị về công tác công đoàn thực hiện nghị quyết của Đảng. Đứng trên lễ đài nhìn xuống cử tọa, chạm mắt tôi đang ngồi cạnh chủ tịch Nguyễn Văn Tư, ông cau mày, nói như hụt hơi. Tuy biết ông đang khó chịu, nhưng tôi không thể ngờ ông tiếp tục ra “đòn thù dai” đối với tôi. Sau khi nói chuyện với hội nghị, ông gặp riêng chủ tịch Nguyễn Văn Tư chỉ thị: “Có lẽ các đồng chí không biết rõ tay Tống Văn Công nên đã bổ nhiệm hắn làm tổng biên tập cơ quan ngôn luận của tổ chức giai cấp tiên phong. Tôi đề nghị cho người khác có quan điểm giai cấp công nhân thật vững vàng để thay ngay anh ta”. Ngay hôm sau, ông Nguyễn Văn Tư triệu tập đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động phổ biến chỉ thị của tổng bí thư. Tất cả đều kinh ngạc vì thấy vô lý, nhưng chưa biết phải đối phó thế nào. Ông Định Gia Bảy, ủy viên đảng đoàn, trưởng ban tổ chức là người có trách nhiệm về nhân sự, phát biểu: “Ngay sau khi có chỉ thị của tổng bí thư, chúng ta đã họp bàn cách giải quyết. Như vậy tức là chúng ta rất nghiêm túc thực hiện chỉ thị của đồng chí ấy. Tuy nhiên, việc đánh giá cán bộ trong tổ chức của mình thì chắc chắn chúng ta có điều kiện để hiểu rõ hơn đồng chí ấy. Do đó, theo tôi chúng ta có trách nhiệm làm cho đồng chí ấy hiểu vì sao chúng ta đã quyết định chọn Tống Văn Công làm tổng biên tập”. Trừ ông bí thư Đảng đoàn Nguyễn Văn Tư, tất cả những người còn lại đều quen biết tôi không dưới 5-10 năm. Phó bí thư đảng đoàn, ủy viên trung ương Cù Thị hậu quen biết tôi từ khi bà còn là cô thợ dệt, tôi với tư cách nhà báo đã gặp gỡ bà ở xí nghiệp, đến thăm gia đình, hỏi chuyện và viết nhiều bài đăng báo, in sách. Bà nói: “Anh Công là nhà báo đi sát công nhân và tổ chức công đoàn. Anh đã viết rất nhiều điển hình của ngành dệt và ở các ngành nghề khác. Anh là người sáng lập và đồng sáng lập hai tờ báo của công đoàn. Chúng ta chọn một người như vậy làm tổng biên tập là đúng đắn. Về chuyện riêng, ai cũng biết là cuộc hôn nhân đầu tiên anh không có hạnh phúc”. Anh Dương Xuân An từng trả lời phỏng vấn của tôi thì anh là chủ tịch công đoàn ngành xây dựng kể: “Tống Văn Công có quan hệ rất tốt với các công đoàn ngành và các cơ sở, tìm hiểu mọi chuyện rất cặn kẽ. Một lần tôi được phỏng vấn, nghe cách đặt vấn đề, tôi biết tay này đã nắm chắc mọi chuyện ở đây, ta phải hợp tác cùng mổ xẻ những mắc míu, chứ không thể nói xuôi chiều”. Chị Hoàng Thị Khánh quen biết tôi khi chị còn làm chủ tịch Công đoàn Quận 10, tôi làm trưởng ban tuyên giáo kiêm tổng biên tập báo. Mỗi người nêu một chuyện để chứng minh rằng Tống Văn Công có năng lực và tinh thần trách nhiệm trong công việc, không phải là người xấu. Tất cả các ý kiến phát biểu được đi vào biên bản, cuối cùng tổng hợp lại thành bản báo cáo kính gửi đồng chí tổng bí thư. Mấy hôm sau, chủ tịch Nguyễn Văn Tư cùng với trưởng ban tư tưởng văn hóa Trần Trọng Tân đến gặp tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trình các văn bản nói trên. Theo chủ tịch Nguyễn Văn Tư kể lại, suốt buổi làm việc hôm đó tổng bí thư chỉ nghe, không hỏi, cũng không có ý kiến nhận xét. Từ đó cho tới hết nhiệm kỳ, ông Nguyễn Văn Linh không có ý kiến gì về báo Lao Động và cá nhân tôi. Đến năm 1993 khi có Tám Đăng (phó tổng biên tập, nguyên trợ lý báo chí của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) vu cáo tôi làm bình phong cho một âm mưu diễn tiến hòa bình do Lý Quý Chung (nguyên bộ trưởng trong chính phủ Dương Văn Minh) cầm đầu, ông mới gửi thư “cố vấn” cho Đỗ Mười chỉ đạo Tổng Liên đoàn Lao động buộc tôi “về vườn”. Thời chống Pháp, tôi có nhiều năm công tác ở Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ, sau đó là Đội Thông tin Liên lạc thuộc Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Nam bộ, những nơi có điều kiện để biết tên tuổi, chức vụ, địa chỉ của các nhà lãnh đạo, vậy mà tôi chưa hề nghe tên ông Nguyễn Văn Cúc (tên cúng cơm của Nguyễn Văn Linh). Đến thời chống Mỹ, tôi được biết Nguyễn Văn Linh là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam (bí thư là Nguyễn Chí Thanh, sau năm 1968 là Phạm Hùng). Năm 1969 trong lễ tang cụ Hồ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông Linh, người trẻ nhất trong những ông ủy viên Ban Chấp hành Trung ương ở lễ truy điệu tại hội trường Ba Đình. Sau 30-4-1975, ông lên làm bí thư thành ủy Sài Gòn. Lúc này tôi làm tổng biên tập báo Lao Động Mới của Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam do ông Nguyễn Hộ làm chủ tịch. Bạn tôi, anh Trương Quang Lộc (tức Trương Tấn Đức phụ trách Trường Báo chí của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) bảo tôi: “Mày ơi, ông Nguyễn Văn Linh làm to vậy chứ dốt lắm. Đến bất cứ cuộc hội nghị nào ổng cũng chỉ nói ‘thế giới chia làm hai phe, có bốn mâu thuẫn'”. Tháng ba năm 1982 ông Linh bị thất sủng, rời khỏi Bộ Chính trị khóa Đại hội 5, xin về làm bí thư thành ủy Sài Gòn thay ông Võ Văn Kiệt được điều ra Trung ương. Ở đây ông hưởng kết quả “xé rào” của ông Võ Văn Kiệt. Chính môi trường này tạo cơ hội để ông trở thành tổng bí thư ở Đại hội 6. Nhưng đó là một trong những lý do khiến ông tìm cớ dìm ông Võ Văn Kiệt. Năm 1990 phong trào dân chủ nổi lên mạnh mẽ ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Ở trong nước, Trần Xuân Bách đòi đổi mới chính trị, văn nghệ sĩ đòi tự do tư tưởng, tự do sáng tác. Nguyễn Văn Linh đã dùng mọi thủ đoạn nhằm bảo vệ sự độc quyền của đảng Cộng sản: đi Thành Đô cầu hòa với địch, cách chức Trần Xuân Bách, chỉ đạo cách chức nhà văn Nguyên Ngọc, giữa hội trường Ba Đình dịp mừng ngày quốc khánh năm 1990 ông ta công khai gọi “con Dương Thu Hương chống Đảng, thằng Nguyễn Quang sáng hư hỏng”. Báo Lao Động Chủ Nhật ngày 9 tháng 9 năm 1990 đã phê phán hành vi vô văn hóa này bằng bài tiểu phẩm có tựa đề “Hai năm, ba chữ” của nhà báo Nguyễn An Định. Bài báo kể chuyện Bưu điện tỉnh Quảng Ninh Phải mất 2 năm mới huấn luyện các nhân viên tổng đài điện thoại nói được ba chữ “dạ, tôi nghe” khi trả lời khách gọi tới thay cho cách trả lời trước đây “muốn gặp ai?”, “gọi gì đó?” Bài báo kết luận “dù phải mất hai năm chỉ được có ba chữ, nhưng ta hãy cứ mừng, bởi ngay bây giờ đây, trên diễn đàn công khai, người ta còn văng thằng nó con kia cơ mà”! Báo phát hành hôm trước, hôm sau anh Hoàng Trọng Đỉnh Nguyên phó tổng biên tập báo Lao Động đã nghỉ hưu đến thăm tôi, vừa khen, vừa tỏ ra lo lắng: “Các cậu to gan, liều lĩnh quá! Đọc bài này ai cũng biết là phê bình tổng bí thư. Xóm cán bộ về hưu chúng mình xôn xao bình luận, nói chung là đồng tình với các cậu”. Sau đó ít lâu, từ Sài Gòn nhà thơ Nguyễn Duy viết bài thơ Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ có hai cầu “tức cảnh”: “Ta nhờn nhợn cái há mồm vĩ nhân tôm cá. Khạc đủ nghề thằng nọ con kia”. Posted on Tháng Bảy 21, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/21/tu-theo-cong-den-chong-cong-48-tong-bi-thu-nguyen-van-linh-vi-nhan-tom-ca/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (49): https://www.minds.com/newsfeed/1020204880177451008?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (47): https://www.minds.com/newsfeed/1020204008603201536?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
1Upvote

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (47) Hồi ký Tống Văn Công Nhân vụ học trò đánh thầy giáo Báo Tuổi Trẻ ngày 23 tháng 5 năm 1989 biết về vụ thầy Hoan bị học trò cũ tìm tới nhà hành hung. Bị đâm một nhát dao, thầy nhảy từ lầu 2 xuống, gãy nhiều xương. Thầy than thở với nhà báo: “Tôi không muốn thốt lên đây một tiếng kêu than thêm vào những tiếng kêu than đã nhiều lắm rồi. Ở một ngành có thể tiêu biểu cho mọi sự khốn khó nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ… tất cả những cái đó đã quá tủi đối với tư cách nhà giáo. Chuyện học trò đánh Thầy phải chăng là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Người xưa nói sanh nghề tử nghiệp. Nghề của chúng tôi là giáo dục học sinh nên người. Thế nhưng chúng tôi đã giáo dục tồi, tạo ra những học sinh kém, chuyện học sinh đánh thầy là trái đắng nhất mà chúng tôi phải chịu. Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp?” Mổ xẻ nguyên nhân nào đã khiến cho nhà giáo từ chỗ được xã hội “tôn sư trọng đạo” trở thành “tiêu biểu cho mọi sự khốn khổ nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ” hẳn là một việc làm không dễ dàng nhưng rất cần thiết. Trước tháng 4 năm 1975, ở miền Nam, nghề giáo vẫn còn là một nghề được trọng vọng không khác bao nhiêu so với nhà giáo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhà giáo có mức lương đủ cho gia đình có mức sống trung lưu, được xã hội tin cậy hơn những người có chức sắc trong chính quyền bởi cuộc sống thanh bạch. Thế mà chỉ 14 năm sau đã ra nông nỗi này! Nhớ lại ở miền Bắc sau 1954 nghề giáo cũng có hiện tượng sa sút na ná như vậy, bị xã hội xem thường, nhưng không quá nhanh và quá tệ như bây giờ. Khoảng cuối những năm 60 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu có chính sách ưu đãi để khuyến khích sinh viên vào ngành sư phạm. Đó là khởi đầu cho sự sa sút của ngành giáo dục. Năm 1981, khi được bổ nhiệm làm phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam, tôi ra Hà Nội thăm gia đình ông tổng biên tập Trần Nhật Dụ. Tại đây tôi được gặp hai người em rể của ông là hiệu trưởng trường cấp hai ở Hà Tĩnh vừa nghỉ hưu, được cho đi du lịch theo chế độ. Hai ông cùng tuổi, cùng vào nghề giáo trước Cách mạng tháng Tám, ông Dụ là giáo viên tiểu học, còn ông kia giáo viên trung học. Nhìn lại bước đi của hai người đã cho tôi một phát hiện lý thú: sau cách mạng, ông Dụ tham gia hoạt động công đoàn huyện, rồi lên tỉnh, lên trung ương làm chủ tịch công đoàn ngành giáo dục Việt Nam. Từ chức chủ tịch công đoàn ngành, ông bước lên ghế chánh văn phòng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Sau khi ông Lê Vân tổng biên tập báo Lao Động qua đời, ông Dụ được chuyển sang thay thế, tiền lương 150 đồng/ tháng. Trong khi đó, người em rể đồng nghiệp của ông chí thú với nghề giáo, không tham gia công tác đoàn thể, đến cuối đời lên đến chức hiệu trưởng tiền lương 86 đồng/tháng. Chuyện này gợi cho tôi nhiều tò mò. Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam đã bắt đầu được nghe: nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhà nước này sắp xếp lại thứ tự của “tứ dân”, từ sĩ, nông, công, thương trở thành: giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng thông qua đảng Cộng sản; giai cấp nông dân là quân chủ lực của cách mạng, chia thành cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần nông là chỗ dựa tin cậy; trung nông kém tin cậy hơn, phải chia ra lớp dưới và lớp trên để có phân biệt đối xử. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột, phải tước bỏ phần bóc lột của họ. Địa chủ là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là “tạch tạch xè”, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ dao động, phải luôn luôn được theo dõi, giáo dục. Thương nhân là hàng xấu xa nhất, phải cải tạo để thành người lao động. Theo cách sắp xếp này, thầy giáo Thu tiểu tư sản, “tạch tạch xè”. Nhiều người cho rằng cách sắp xếp này đã đem tay chân thay cho đầu óc của xã hội. Thời xưa các ông đồ được xã hội kính trọng không kém những bậc phú hộ và những vị có chức sắc trong chính quyền. Đến thời tân học các nhà giáo cũng được quý trọng như thế. Miền Bắc trước năm 1954 và miền Nam trước tháng 4 năm 1975, thầy giáo cấp một có mức lương đủ nuôi vợ con và thuê người giúp việc. Các chàng trai vừa tốt nghiệp ngành sư phạm đã được các gia đình giàu có đánh tiếng muốn gã con. Thời ấy phải là người học giỏi mới dám thi vào ngành sư phạm, vì ngành này tuyển sinh khắc khe nhất. Miền Bắc sau năm 1954, và miền Nam sau năm 1975, trở thành xã hội chính trị (trong chế độ toàn trị do đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo). Cấp ủy đảng được coi là những người danh giá nhất trong làng, xã, quận, huyện, tỉnh, thành. Nhà giáo là “tạch tạch xè”, nhưng chủ tịch công đoàn ngành giáo dục thì lại là “chiến sĩ vô sản”. Trong bài nói với sinh viên trường đại học sư phạm, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho nhà giáo nhiệm vụ mà họ không thể làm nổi: người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Ông thầy giáo làm sao so nổi với ông cấp ủy! Các thành viên của cấp ủy chia nhau nắm chính quyền, các đoàn thể như công đoàn, nông hội, thanh niên, phụ nữ, phụ lão. Giáo viên mà không có chân trong ban chấp hành công đoàn giáo dục thì chỉ ngang với một đoàn viên của các đoàn thể công đoàn hoặc nông hội, nhưng kém hơn họ về mức sống, vì ngoài tiền lương chết đói, ông thầy giáo không có thu nhập gì thêm. Thu nhập thấp thì địa vị xã hội cũng xuống thấp, việc tuyển sinh vào các trường sư phạm khó khăn, phải hạ dần điểm tuyển, miễn học phí, đưa tới chất lượng giáo viên kém dần. Bởi vì những người học lực kém mới phải vào ngành sư phạm. Để trang trải cuộc sống, nhà giáo phải tìm cách đối phó. Trên lớp thì dạy qua loa để buộc học sinh phải xin học thêm. Thu nhập từ dạy thêm cao gấp mấy lần tiền lương. Các thầy dạy môn lịch sử, địa lý không thể dạy thêm nên đành phải làm đủ mọi nghề, kể cả rửa bát nhà hàng, đạp xích lô. Hình ảnh và phẩm chất thầy giáo bị tàn phá từ vật chất đến tinh thần. Đòn đánh chí mạng vào nghề giáo là tinh thần tôn sư trọng đạo, sau đó mới đến đòn đánh bằng dao gậy mà thầy Hoành phải chịu kể trên. Thầy Hoành tự cho mình dạy tồi cho nên phải bị đánh. Có lẽ thật lòng thầy không nghĩ như vậy cho nên thầy mới hỏi tiếp: “Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp? “Xin lạm bàn cùng thầy. Nền giáo dục của nước ta từ 1975 đến nay có hai ách tắc không thể vượt qua được. Những điều thầy Hoành nói chỉ là cái ách tắc thứ hai. Gọng kềm ý thức hệ mới là cái ách tắc thứ nhất. Tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc trung ương (nay là Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh) đã viết vào sổ vàng của trường một câu được coi là mục tiêu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa “Học để làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự giai cấp và nhân dân, Tổ Quốc và nhân loại”. Trong bài nói ở trường Đại học sư phạm Hà Nội tháng 10 năm 1964, Hồ Chí Minh cho rằng thầy giáo phải xứng đáng là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa; và để được như vậy thì phải học tập chính trị, bởi vì “có học tập lý luận Mác, Lê-nin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác đảng giao phó”. Tiếp thụ tinh thần đó, ngày 14 tháng 11 năm 1988, thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Trần Chí Đáo tuyên bố “chủ trương của Bộ về tuyển sinh và đào tạo là bảo đảm Đảng tính và giai cấp tính” (báo Tuổi Trẻ). Nghị quyết trung ương 29-NQ/TW khóa 11, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh “Coi trọng công tác phát triển Đảng, công tác chính trị tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm trường học phải có chi bộ, trường đại học có đảng bộ. Đổi mới chương trình. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đọc những điều nói trên đây cho thấy những người lãnh đạo đảng Cộng sản muốn ngành giáo dục phải đào tạo lớp trẻ theo khuôn mẫu do họ chọn, để trở thành công cụ xã hội chủ nghĩa đắc lực. Để thực hiện điều đó, ngành giáo dục phải che giấu những thông tin, dữ kiện bất lợi cho chế độ toàn trị, phải chọn những thông tin, dữ kiện dù lỗi thời nhưng có thể phục vụ cho định hướng của đảng, đưa vào giáo trình. Năm 1985 ông Mai Chí Thọ khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn, khi đến thăm một trường mẫu giáo, đã tỏ ý ngạc nhiên vì các bài học của trẻ lên ba quá đậm chất chính trị. Ông đã có câu nói đúng: “Tôi e chẳng những không thể đạt được yêu cầu chính trị mà mục đích trồng người cũng không đạt”. Cho đến nay (2013) thử tìm xem một số sách giáo khoa cho trẻ sẽ thấy tình trạng đó vẫn còn nguyên. Quyển sách do Vũ Xuân Vinh soạn, nhà xuất bản đại học ấn hành, phần lớn theo thể thơ lục bát, một số theo thể thơ ngũ ngôn, hầu hết không có chất thơ, không đúng vần, như “Công viên đường phố thật vui. Thêm yêu đất nước thêm yêu phố phường”; “Mỗi năm một tuổi thêm vui; thi đua phấn đấu thành người trò ngoan”; “Ôi lá cờ tổ quốc. Đứng nghiêm giơ tay chào”… trong sách Tiếng Việt, lớp 3 có những “chủ điểm” như: Đơn xin vào đội, Tập tổ chức một cuộc họp; Người lính dũng cảm… Sách chỉ chọn tác phẩm của các nhà thơ kháng chiến, nhiều bài rất dở. Bài thơ “Đi hội chùa Hương” nhạt nhẽo, được chọn có lẽ vì mấy câu kết: “Ôi phải đâu lễ Phật, Người mới đi chùa Hương. Người đi thăm đất nước, Người về trong yêu thương”. Với lập trường duy vật vững vàng, nhà soạn sách chọn bài thơ này vì nó lớn tiếng hô hào rằng đi chùa không phải vì lễ Phật, còn bài thơ “Đi chùa Hương” nổi tiếng của Nguyễn Nhược Pháp cứ “Nam mô a di đà” cho nên không thể chọn! Năm 2009, trên báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh số Xuân đăng bài Điều ước đầu năm của chị Trần Mai Liên, mẹ của một học sinh cấp 1 ở Gò Vấp: “Cầu mong năm mới, sách giáo khoa sửa đổi, môn công dân giáo dục không còn tiếp tục dạy những ý tưởng quá cao xa không hợp với trẻ. Đối với trẻ, cần phải dạy cho chúng biết yêu ông bà, cha mẹ, anh em và mọi người! Biết sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, không tham lam ích kỷ”. Có lẽ chị muốn ngầm nhắc nhà báo về năm điều bác Hồ dạy được treo cao giữa các lớp học, đã không có điều nào dạy trẻ yêu cha mẹ, tôn trọng thầy giáo. Năm năm sau lời cầu mong của chị Trần Mai Liên, giáo sư Văn Như Cương bức xúc kêu lên: “Chuyện dạy làm người vẫn mãi là khoảng trống trong giáo dục phổ thông”. Ông trích sách “Giáo dục công dân” một bài giảng có tựa đề “Phủ định siêu hình và phủ định biện chứng”. Bức xúc của giáo sư Văn Như Cương không được trả lời, vì giáo dục xã hội chủ nghĩa đã khẳng định: “Không có khoảng trống nào cả! Ngành giáo dục vẫn trung thành với khuôn mẫu ý thức hệ nhằm đào tạo những con người kế thừa để xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cách làm của họ đúng như nhà giáo dục vĩ đại John Dewey Nhận xét về nền giáo dục bảo thủ là “làm cho tương lai phù hợp với quá khứ”. Thực ra “dạy người” không chỉ ở môn giáo dục công dân mà phải trong toàn bộ chương trình giáo dục. Ở các nền giáo dục tiên tiến, người ta đặt nhiệm vụ giáo dục là đào tạo con người tự do, con người đầy ắp ý kiến phản biện, con người dám khác với những người đi trước dù đó là những vĩ nhân. Albert Einstein nói: “Chúng dựa trên tự do của lòng tin và giáo dục, trên nguyên lý rằng, ước muốn tìm chân lý phải đặt trước mọi ước muốn khác” và “không có tự do kia thì sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur”. Đúng vậy, chúng ta có thể bổ sung cho câu nói của ông “không có tự do thì cũng không có Albert Einstein”. Khi tôi viết đến đây thì trên báo tuổi trẻ hôm nay (11-5-2016), cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền ở thành phố Hồ Chí Minh gửi “8 thỉnh cầu đến Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo”: 1- Giảm bớt những kiến thức ôm đồm ra đời không dùng được; dạy cho các em biết bênh vực cái tốt, dám chống lại cái ác. 2- Đừng thay đổi liên tục, từ “nghiên cứu bài học” chưa đâu vào đâu đã chuyển sang “tích hợp liên môn”, rồi “bàn tay nặn bột”. Việc thi cử cũng thay đổi xoành xoạch! 3- Xin hãy để cho tất cả giáo viên có quyền thực sự lựa chọn hiệu trưởng của trường và quyền ứng cử vào vị trí mà họ thấy thích hợp. (Hình như cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền không nhớ rằng, hiệu trưởng phải là đảng viên?) 4- Hãy đánh giá giáo viên ở phương pháp giảng dạy, chứ không phải chăm chỉ ghi chép đầy đủ vào các loại sổ do bộ quy định. 5- Thời đại công nghệ thông tin nhưng cách quản lý vẫn còn “đèn nhà ai nấy rạng”. 6- Tăng thêm mức đãi ngộ, đặc biệt là giáo viên vùng sâu, vùng xa. 7- Hiện nay nhiều sinh viên ra trường khó tìm được việc làm là vì chương trình đại học có đến 30% những điều không cần trong cuộc sống. 8- Nói chung chú trọng nhồi nhét kiến thức (nhiều điều không dùng được) mà không chú ý giáo dục đạo đức nhân cách con người. Ngày 12-5-2016 rất nhiều người hưởng ứng bức thư cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, đã đề xuất thêm điều thứ 9: “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” và “Hãy để cho giáo viên sống được bằng lương”. Posted on Tháng Bảy 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-47-nhan-vu-hoc-tro-danh-thay-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (48): https://www.minds.com/newsfeed/1020204418679939072?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (46): https://www.minds.com/newsfeed/1020203299069206528?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (46) Hồi ký Tống Văn Công Vụ phong thánh 117 chân phúc tử đạo Việt Nam Ngày 22-6-1987 Giáo hoàng Gioan – Phao lô II Chủ trì cuộc họp tại Roma (Italia) quyết định phong Hiển thánh cho 117 Á thánh chết vì đạo ở Việt Nam từ 1625 đến 1861 và ấn định năm sau, ngày 19-6-1988 sẽ tổ chức lễ phong thánh tại Roma. Ngày 12-10-1987 Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam gửi công văn cho Ủy ban Nhân dân và Ban Tôn giáo các tỉnh, thành, đặc khu cả nước, nhận định: “Quyết định của Vatican là một việc làm có dụng ý chính trị xấu và xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, kích động tâm lý cuồng tính tử vì đạo trong một bộ phận giáo dân và giáo sĩ Việt Nam; gây chia rẽ giáo, lương; làm tổn hại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và nhà nước ta đang ra sức thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo, tăng cường đoàn kết toàn dân vượt qua mọi thử thách, khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Trước tình hình đó, ngày 18-9-1987, thừa lệnh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ban Tôn giáo của chính phủ đã triệu tập các giám mục trong Ủy ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam để vạch rõ tính nghiêm trọng của sự kiện nói trên, nghiêm khắc phê phán việc làm sai trái này của một số giám mục trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, của Vatican và bàn biện pháp xử lý tình hình phức tạp có lý có tình. Sau đó nhiều cuộc hội thảo được tổ chức khắp cả nước, nhiều cây bút sắc bén nhất của chế độ như Trần Bạch Đằng, Nguyễn Khắc Viện… viết bài theo quan điểm nói trên. Bài viết của Nguyễn Khắc Viện có tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai?” Mở đầu ông cho rằng “Tôi vẫn cảnh giác cao độ với những mưu đồ xuất phát từ Phương Tây mong lợi dụng Đạo Kitô để phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta”. Ông cho rằng không thể biết chính xác tất cả những người được nêu tên đã chết trong hoàn cảnh nào, họa chăng tư liệu còn lại cho biết rõ trường hợp một vài người. Ông nhấn mạnh sự kiện: – Một là chuyện giám mục Adran đưa hoàng tử Cảnh bái yết vua Pháp Louis 16 năm 1787, với kế hoạch tấn công Đà Nẵng. – Hai là chuyện người Công giáo đã giúp Pháp tiêu diệt phong trào Văn Thân (Văn Thân có khẩu hiệu “bình Tây sát tả”, có nghĩa là dẹp Tây, diệt đạo). Nguyễn Khắc Viện nhận định lễ phong thánh sẽ gây ra: “Rồi nhiều người trên thế giới, đặc biệt trong giáo dân, đâm ra thương hại cho Giáo hội Việt Nam đang sống trong cảnh bị áp bức, rồi một số người Việt Nam ngoại đạo, một số cán bộ sẵn có định kiến lại thốt lên: Đã bảo mà, tin sao được bên đạo, bao giờ họ cũng hướng về Phương Tây. Rõ ràng việc phong thánh này là một đòn hiểm đối với khối đoàn kết dân tộc của chúng ta.” Thật là “thần hồn nát thần tính”, Đảng Cộng sản Việt Nam cứ nghĩ là các thế lực thù địch lúc nào cũng đang âm mưu đánh phá mình, phong thánh chắc phải là đòn hiểm (!) Thực ra tất cả 117 vị tử đạo không có người nào bị giết vì dính líu với thực dân Pháp, họ chỉ bị giết vì là “tả đạo”, trái với đạo Nho mà triều đình nhà Nguyễn tôn thờ. Các vị đều có lý lịch rõ ràng về quê quán, chức sắc, ngày bị giết, hình thức bị giết (xử trảm, xử giảo, hay chết trong tù). Những người Công giáo chân chính có nhiều bài viết cho rằng chuyện phong thánh là việc riêng của Giáo hội và việc này hoàn toàn đúng đắn bởi mục đích tôn vinh những giáo dân dám từ chối đạp lên thập giá, chịu chết vì đạo Chúa. Các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Ngô Văn Ân, Thanh Lãng có những bài viết, tham luận bác bỏ những lập luận không đúng sự thật lịch sử. Đặc biệt hai ông Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan đã từng hoạt động chống chiến tranh, chống sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam, đòi trả tự do cho tù chính trị, những người bị giam ở Côn Đảo, do đó họ đã bị chế độ miền Nam cho là thân cộng. Sau 1975, hai ông được nhà nước cộng sản mời tục bản Đối Diện với tên mới là Đứng Dậy, nhưng chẳng bao lâu đã bị đóng cửa. Giờ đây với việc bảo vệ vụ phong thánh, hai ông bị nhà nước cộng sản cho là phá bỉnh, đã dùng biện pháp bịt mồm, rồi một người bị quản chế tại gia, một người được mời rời khỏi xứ đạo, an trí ở Cần Giờ. Bài “Nói chuyện tử đạo với ông Nguyễn Khắc Viện” của linh mục Nguyễn Ngọc Lan (Bài có gửi cho báo Công Giáo Và Dân Tộc do linh mục Trương Bá Cần làm tổng biên tập nhưng không được đăng) có đoạn: “… Ông muốn dạy dỗ chúng tôi, những người công giáo Việt Nam nên nghĩ thế nào về việc phong 117 vị thánh liên hệ trực tiếp và trước tiên đến chúng tôi. Đó là quyền của ông, quyền hiểu theo nghĩa tự do chủ nghĩa (libéralisme) tạm gọi là của thế giới tư bản. Còn nếu quyền được hiểu với một chút màu sắc đạo đức nào đó thì thưa ông, tại sao ông không tự đặt cho mình một số câu hỏi tương tự như: Bài của ông là bài thứ mấy viết về vấn đề này? Ông có thể tính bằng đầu ngón tay thì phải… Tại sao chỉ có giám mục Bùi Tuần có tiếng nói về vấn đề này trên tờ Công Giáo Và Dân Tộc? Các giám mục Việt Nam khác ở đâu? Các người Công giáo khác ở đâu? Họ không biết nghĩ thế nào cả sao? Họ không biết viết thành câu cú những điều họ nghĩ sao? Tại sao mấy trang góp ý của linh mục Chân Tín một người quen thuộc với cả báo chí trong nước và ngoài nước không hề được đăng trên báo Công Giáo Và Dân Tộc, khi mà những trang góp ý ấy đã được đọc lên trong buổi họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Quận 3 chiều ngày 18 tháng 1 năm 1988 và đã được giới Công giáo chú ý đến nhiều? Tại sao ngay cả trong tập ‘Tài liệu tham khảo’ về ‘Việc phong thánh các Chân phúc tử đạo Việt Nam’ do văn phòng Ủy ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh in ronéo tháng 2 năm 1988 trong phần II dành cho ‘một số bài viết liên quan đến việc phong thánh’ người ta đăng 9 bài viết ở Việt Nam, trong số đó có bài của ông, hai bài của linh mục Thiện Cẩm ba bài của giám mục Bùi Tuần, nhưng vẫn không có bài của Chân Tín để rộng đường dư luận? Chúng ta đang sống ở thời nào đây? Thời Staline hay thời Gorbatchev? Thời báo Etudes Vietnamiennes của ông ngày trước hay tờ Đoàn Kết của việt kiều ta bây giờ ở Pháp?” Nguyễn Ngọc Lan phê bình cái tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai” là “lớn lối”. Ông Lan hỏi, giả sử “học giả nào đó viết mấy chữ ‘chết vì nước chết cho ai’ trên tấm bia liệt sĩ thì liệu có tờ báo nào vô ý thức, thiếu tự trọng đến mức có thể đăng lên một cái tựa đề như vậy? Còn nội dung bài thì cũn cỡn mà lại lạc đề, bởi vì 117 vị tử đạo không có ai bị giết bởi phong trào Văn thân cả!” Linh mục Chân Tín kể: Ông bị ông đại tá Nguyễn Văn Tòng giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh chất vấn vì sao báo nước ngoài đăng bài tham luận của ông ở Mặt trận Tổ quốc? Linh mục Chân Tín đáp: “Lẽ ra đó là điều tôi hỏi ông chứ không phải ông hỏi tôi! Bởi vì sau khi đọc xong tôi nộp bản tham luận cho các ông”. Ông giám đốc Sở văn hóa Nguyễn Văn Tòng đe dọa nếu gửi bài viết sai trái chủ trương chính sách của nhà nước ta ra nước ngoài thì có thể bị trừng trị. Chân Tín bảo mình đã bị chế độ Sài Gòn đe dọa như vậy nhiều rồi, nhưng mình đâu có ngán, lúc nào cũng vẫn hành động theo hai câu thơ của Nguyễn Trãi: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ, Cuối ngửa theo người quyết chẳng theo” Giám đốc Tòng nói, chính quyền Sài Gòn bắt ông là vinh dự cho ông, còn đây là nhà nước cách mạng bắt ông thì đó là ô nhục cho ông. Linh mục Chân Tín đáp: “Tôi thấy không có gì khác nhau cả, đều là quyền lực chống lại con người dám nói thẳng nói thật đó thôi”. Tháng 5 năm 1990, linh mục Chân Tín bị trục xuất khỏi nội thành, lưu đày ra Cần Giờ. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã xuất tu và lập gia đình với bà Thanh Vân biên tập viên tờ Tin Quận 5. Ông Lan bị quản chế tại gia, bà Thanh Vân bị buộc thôi việc. Ông Lan qua đời năm 2007. Linh mục Chân Tín mãn hạn lưu đày trở về Dòng Chúa Cứu Thế năm 1993. Năm 2006 ông chủ trương tờ báo chui “Tự do ngôn luận” đòi quyền tự do căn bản cho người dân Việt Nam. Linh mục Chân Tín từ trần ngày 1 tháng 12 năm 2012. Cái “định kiến” mà ông Viện nêu ra vẫn còn cho tới hôm nay. Nguồn gốc của nó từ đâu? Vì quan điểm “tôn giáo là thuốc phiện của dân nghèo”, hay là vì “Công giáo là đạo giáo được người Pháp ưu đãi?” Trong quyển sách “Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay” của giáo sư, tiến sĩ Dương Phú Hiệp chủ biên, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2010 nhận định: “Trong giai đoạn hiện nay, những thế lực chống đối trong và ngoài nước chưa từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo để làm mất ổn định chính trị, gây hoang mang chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy cần giải quyết vấn đề tôn giáo dưới góc độ văn hóa và phải xem giáo dục tôn giáo là vấn đề quan trọng”. Thật ra chẳng có thế lực trong ngoài nước nào gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc cả. Xin nêu một chuyện xảy ra ở nhà thờ Thuận Phát, phường Tân Kiểng, quận 7, nơi tôi cư ngụ nhiều năm. Sau 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng yêu cầu nhà thờ giao 3 phòng họp trong khuôn viên của nhà thờ. Từ đó, ba phòng này được dùng để hội họp dân phố. Mấy năm gần đây, nhà thờ Thuận Phát gửi đơn lên Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận 7 xin được trả lại 3 phòng họp này để sinh hoạt tôn giáo. Quận ủy chủ trương không trả lại. Đảng viên lão thành Lê Ngọc Tưởng, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy Nhà Bè (thời 1975-1980, vùng đất này thuộc quận 7 còn nằm trong Nhà Bè) gửi thư góp ý: Quận ủy nên đồng ý cho Ủy ban Nhân dân Quận 7 trả 3 phòng họp lại cho nhà thờ Thuận Phát làm nơi sinh hoạt hội họp giáo dân. Ông Tưởng viết: “Giáo dân cũng là công dân, Đảng có trách nhiệm giúp họ có nơi hội họp, học tập. Làm được như vậy giáo dân sẽ gắn bó với chế độ do Đảng lãnh đạo.” Ông Tưởng không được những người kế nhiệm mình cầm quyền sau 40 năm (lúc ông cầm quyền, họ còn là những đứa trẻ, được ông đưa vô nhà trường xã hội chủ nghĩa) trả lời. Họ phái một đại úy công an đến nhà ông Tưởng chất vấn: “Tại sao ông khuyến khích giáo dân ở giáo xứ Thuận Phát vùng dậy đòi phải trả ba phòng họp?” Hội bảo vệ quyền tự do tôn giáo, trong báo cáo tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2015 nhận xét: “Cả năm 2015 các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam đã có năm mươi vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo. Các giáo hội đều bị nhà nước khống chế, lũng đoạn và xâm nhập. Các quyền tự do tôn giáo chính yếu đều bị cấm cản: – Mọi tôn giáo không được độc lập trong việc tổ chức nội bộ. Nhà cầm quyền tìm cách kiểm soát và ảnh hưởng lên việc chiêu sinh, huấn luyện, tấn phong, bổ nhiệm và thuyên chuyển hàng ngũ chức chắc lãnh đạo. – Mọi tôn giáo không được tự do trong sinh hoạt phụng thờ. Các sinh hoạt này chỉ được thực hiện trong những nơi thừa tự đã được nhà nước công nhận. Các lễ nghi hay lễ hội lớn đều phải xin phép nhà cầm quyền. – Mọi tôn giáo không được truyền bá giáo lý bên ngoài các cơ sở của mình ra xã hội, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, lên mạng thông tin toàn cầu. – Mọi tôn giáo không được góp phần giáo dục giới trẻ qua hệ thống giáo dục từ tiểu học đến đại học. Hiện thời các giáo hội chỉ được mở trường mẫu giáo, nhưng vẫn dưới sự kiểm soát đủ mặt của chế độ. – Mọi tôn giáo không được có tín đồ giữ các chức vụ cao trong bộ máy cai trị (quốc hội và chính quyền), trong hàng ngũ công an, quân đội cũng như trong hệ thống giáo dục. – Mọi tôn giáo đều bị chính quyền tước đoạt đất đai và cơ sở thừa tự trước đó, nhưng không được trả lại. Hiện nay các giáo hội đều không có sở hữu đất đai và không dễ dàng mở rộng cơ sở. Posted on Tháng Bảy 17, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/17/tu-theo-cong-den-chong-cong-46-vu-phong-thanh-117-chan-phuc-tu-dao-viet-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (47): https://www.minds.com/newsfeed/1020204008603201536?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45): https://www.minds.com/newsfeed/1020199026186948608?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45) Hồi ký Tống Văn Công Khi ngòi bút chạm vào quyền lực Mấy chục năm đấu tranh chống tham nhũng của báo chí cách mạng Việt Nam trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có cuộc đấu tranh trên báo Lao Động đối với ban lãnh đạo Tổng cục Cao su đứng đầu là ủy viên Trung ương Đảng, tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện là giành được thắng lợi. Không phải các nhà báo làm vụ này tài giỏi hơn những đồng nghiệp ở các khu khác mà chỉ vì vụ này bắt đầu ngay sau đại hội 6 năm 1986 khi mà luồng gió dân chủ sau “đổi mới” đang mạnh và các nhà lãnh đạo cộng sản chưa bị hoảng sợ bởi sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu. Tôi về cơ quan miền Nam báo Lao Động đúng lúc phóng viên Trương Đăng Lân phát hiện chuyện trù dập rất man rợ ở Tổng cục Cao su: Đầu năm 1985, đoàn thanh tra nhà nước đến thanh tra Tổng cục Cao su, phát hiện nhiều “phi vụ” mua bán, ăn chia bất hợp pháp mà đầu mối quan trọng là Công ty Phục vụ Đời sống do tổng cục trưởng trực tiếp chỉ đạo. Đoàn thanh tra dành nhiều thời gian làm việc riêng với Ngô Văn Định phó giám đốc công ty này. Ông Đỗ Văn Nguyện, ủy viên Trung ương Đảng, tổng cục trưởng Tổng cục Cao su được mật báo là Ngô Văn Định đã bị đoàn thanh tra khuất phục, đã cung khai nhiều việc làm sai trái mà người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là ông. Đỗ Văn Nguyện nghĩ cách vô hiệu hóa bản kết luận của đoàn thanh tra dựa vào lời khai của Ngô Văn Định. Ông ta cho rằng cách tốt nhất là phải biến Ngô Văn Định thành bệnh nhân tâm thần! Vậy là một kế hoạch cưỡng bức định được tổ chức tỉ mỉ: Trước hết, trưởng ban y tế Tổng cục Cao su, bác sĩ Đoàn Huỳnh làm tờ trình chi tiết gửi lên Tổng Cục trưởng, kể ra rất nhiều hiện tượng điên khùng của Ngô Văn Định và cho rằng “một người có bệnh tâm thần mà buộc phải đảm trách công việc kinh doanh, suốt ngày tính toán lo toan thì chẳng những sẽ làm hư hỏng công việc, có nguy cơ vi phạm pháp luật mà còn có hại cho sức khỏe của anh ta”. Ban y tế kiến nghị: “Do người bệnh tâm thần không bao giờ nhận mình có bệnh, cho nên cần phải tổ chức cưỡng bức anh ta đi chữa bệnh”. Căn cứ đề nghị của trưởng ban y tế, ngày 18-5-1985, tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện ký quyết định tổ chức đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Để che mắt cán bộ cơ quan tổng cục, bộ máy thực hiện việc cưỡng chế này huy động nhiều cán bộ đảng viên trung, cao cấp như phó vụ trưởng vụ tổ chức, phó trưởng ban bảo vệ, trưởng ban y tế và nhiều bác sĩ. Ngày 18 -5-1985, như mọi ngày, Ngô Văn Định đang làm việc tại văn phòng phó giám đốc công ty thì trưởng ban y tế Đoàn Huỳnh tới đọc quyết định của Tổng Cục trưởng. Thừa lệnh Tổng Cục trưởng, ông Huỳnh yêu cầu Ngô Văn Định tạm ngưng công việc để đi khám bệnh. Đứng sau Đoàn Huỳnh là phó ban bảo vệ có mang súng và nhiều vệ sĩ mang theo dây trói. Ngô Văn Định kể: “Họ bảo tôi chích hai mũi thuốc cho khỏe. Chích xong tôi liệm đi, đến 7 tiếng đồng hồ sau mới tỉnh dậy thì thấy mình bị nhốt trong gian phòng có chấn song sắt cùng với bốn bệnh nhân tâm thần”. Các bác sĩ, y tá của Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định rất ngạc nhiên khi được trưởng ban y tế, bác sĩ Đoàn Huỳnh nhờ họ ghi tên những ai đến thăm Ngô Văn Định. Do đó, anh em rất chú ý quan sát bệnh nhân đặc biệt này. Sau một ngày tiếp xúc, không thấy anh Định có biểu hiện của người bệnh tâm thần, lại nghe anh kể chuyện mình bị cưỡng bức, họ khuyên anh nên giấu số thuốc được cấp, để sau này làm chứng cứ cho cuộc đấu tranh. Nhờ sự giúp đỡ đó, anh định giấu được một bọc to các thứ thuốc Aminazin, Séduxen. Do việc cưỡng chế được tổ chức với quy mô và cách thực hiện không bình thường, khiến dư luận trong Tổng cục Cao su đặt ra nhiều nghi vấn: Tại sao Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần nặng mà lâu nay mọi người tiếp xúc với anh, cả những nhân viên dưới quyền anh không ai nhận thấy? Tại sao việc đưa một bệnh nhân đi bệnh viện mà Tổng Cục trưởng phải ra quyết định? Tại sao không đưa bệnh nhân đi đúng tuyến là Bệnh viện Thống Nhất, nơi đây cũng có khoa tâm thần? Hàng trăm cán bộ nhân viên làm kiến nghị cá nhân và tập thể yêu cầu Tổng Cục trưởng ký quyết định đưa Ngô Văn Định trở về, nếu không họ sẽ tố giác với Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Ông Đỗ Văn Nguyện buộc phải ký quyết định cho Ngô Văn Định về làm việc để xoa dịu anh em. Tôi xem rất kỹ hồ sơ tài liệu, nhưng vẫn băn khoăn: Chẳng lẽ bao nhiêu người mang danh nghĩa rất khả kính, chỉ vì muốn che dấu sự thật mà nhẫn tâm dùng thủ đoạn cực kỳ tàn bạo đối với đồng chí của mình? Tôi nói với phóng viên Trương Đăng Lân: Trước khi quyết định đưa vụ này lên báo, mình muốn được gặp trực tiếp những anh chị có vai trò chủ chốt đứng ra tố cáo. Bởi nhiều năm làm báo đã cho mình bài học kinh nghiệm (hình như cũng đã được các bậc thầy đúc kết thành bài giảng cho nghề báo là: “Không có nguồn tin nào không đáng cho nhà báo phải nghi ngờ. Nên nhớ rằng người cung cấp nguồn tin có thể sử dụng nhà báo cho mục đích của họ, cũng ngang như nhà báo sử dụng họ cung cấp tư liệu cho bài viết của mình. Thông thường, nhà báo tìm nguồn tin ở các đối tượng: Kẻ chống đối, kẻ thua cuộc, nạn nhân, các chuyên gia, cơ quan chức năng. Ở trường hợp này, những người chúng ta định viết bài chỉ trích, phê phán đang là những cán bộ cách mạng cao cấp, ‘mũ cao áo dài’. Do đó mình nghĩ rằng, chúng ta phải có những người ‘đạo cao, đức trọng’ dám đứng ra đương đầu với cường quyền, cung cấp và bảo trợ nguồn tin”. Hôm sau, Trương Đăng Lân đưa Ngô Văn Định và 5 cán bộ Tổng cục Cao su đến cơ quan miền Nam báo Lao Động. Trong số đó, tôi đặc biệt chú ý hai người thuộc lớp cán bộ cách mạng đàn anh là ông Nguyễn Gia Đằng, cán bộ tiền khởi nghĩa, hiện là phó trưởng ban thi đua của Tổng cục Cao su mà trưởng ban là Tổng Cục trưởng (sau này, Nguyễn Gia Đằng sang Campuchia làm cố vấn an ninh cho các ông Heng Sam ring, Chia xim). Người thứ hai là ông Vũ Lăng, nguyên tổng biên tập báo Hải Phòng Kiến Thiết (nơi có cô nữ phóng viên Nguyễn Thụy Nga, tức Bảy Vân vợ hai của tổng bí thư Lê Duẩn) đang làm trưởng ban thanh tra của Tổng cục Cao su. Cả hai ông có phong thái đỉnh đạc, khoan hòa, trình bày và phân tích sự việc rành mạch, khách quan. Hai người này đã cho tôi niềm tin rằng, họ chỉ vì sự thật và lẽ phải mà đứng ra. Bây giờ là cách đưa lên báo bài đầu tiên như thế nào cho có sức thuyết phục cao, gây tiếng vang lớn. Tôi cho rằng, nên dùng nguyên văn lá thư của chính Ngô Văn Định đứng ra tố giác việc mình bị cưỡng bức hơn là bài viết của phóng viên. Ngày 7 tháng 8 năm 1986, báo Lao Động số 32 đăng lá thư tố giác của Ngô Văn Định. Bài báo chẳng những chấn động trong ngành cao su mà còn gây xúc động nhân dân cả nước. Đây là lần đầu tiên, báo chí tố cáo một ủy viên Trung ương Đảng bịt miệng người chống tiêu cực một cách thô bạo và có tổ chức. Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện phản ứng quyết liệt, ra lệnh toàn ngành cao su phải thu hồi tờ báo Lao Động số 32, không để cán bộ công nhân đọc. Ông đích thân gọi điện cho chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Phạm Thế Duyệt (cơ quan chủ quản của báo Lao Động): “Báo Lao Động đã đăng bài của một kẻ đang mắc bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Anh ta đang là con rối trong tay những kẻ bất mãn. Bài báo này có tác động rất xấu, gây mất ổn định trong toàn ngành cao su, phá hoại sản xuất và đời sống của hàng vạn cán bộ công nhân cao su. Quan trọng hơn là nó xúc phạm một ủy viên Trung ương Đảng, cũng tức là bôi nhọ Đảng. Tôi đề nghị đồng chí chủ tịch ra lệnh cho báo Lao Động ngưng ngay việc đưa tin sai trái về vụ này, đồng thời mau chóng có bài viết đính chính theo quan điểm của Đảng Đoàn Tổng cục Cao su”. Chủ tịch Phạm Thế Duyệt hứa sẽ nghiêm túc xem xét vấn đề này. Sau đó, ông nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo tình trạng tiêu cực của ngành cao su và nguyên nhân vụ cưỡng chế Ngô Văn định. Tuy đã nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo, nhưng chủ tịch Phạm Thế Duyệt vẫn trực tiếp gọi điện cho tôi, hỏi “Anh Công có tin chắc bài này viết đúng sự thật không?” Tôi đáp: “Tôi tin chắc và xin chịu trách nhiệm”. Ông nói: “Chắc anh cũng đã lường trước là lần này các anh phải đương đầu với một thế lực rất mạnh, cho nên phải hết sức thận trọng, kiểm tra kỹ từng chi tiết trước khi đưa lên báo”. Cuối cùng ông hỏi: “Anh Công còn có điều gì lo ngại không?” Tôi đáp thật lòng: “Chúng tôi đã nhận thấy mình đang phải đương đầu với một đối tượng khổng lồ, những nguồn tin thu được cũng khổng lồ và đầy mâu thuẫn. Chúng tôi không chỉ là một bài điều tra mà phải lập một kế hoạch chi tiết cho một loạt bài điều tra, chuyện nào trước, chuyện nào sau, phân công anh em chia nhau mà làm. Đồng thời chúng tôi còn lường trước các trở ngại, các bước ngoặt bất ngờ có thể xảy ra. Thú thật, trước khi bắt đầu vụ này, chúng tôi lo nhất là tổng biên tập rụt rè trước một đối tượng đầy quyền lực và lo lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động không ủng hộ. Còn bây giờ chúng tôi đã yên tâm”. Những số báo sau đó, chúng tôi đưa liên tiếp ý kiến cán bộ, công nhân ngành cao su hưởng ứng thư tố cáo của Ngô Văn Định và cung cấp tài liệu phanh phui nhiều tiêu cực ở các công ty cao su nơi họ đang làm việc. Phó ban thi đua Tổng cục Cao su Nguyễn Gia Đằng gửi đăng báo một lá thư nặng ký: xác nhận tố cáo của Ngô Văn Định và các cán bộ công nhân toàn ngành là đúng sự thật: “Tất cả những bê bối tiêu cực của các vị trong ban lãnh đạo Tổng cục Cao su mà báo Lao Động đã nêu ra là có thật. Tôi xin đề nghị các cơ quan cấp trên của Đảng và nhà nước chỉ đạo các ban ngành chức năng vào cuộc, làm rõ đúng, sai để giúp cho những người đấu tranh chống tiêu cực ở ngành cao su không bị trù dập”. Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su ra lệnh cho báo Cao Su ngày 15 tháng 9 năm 1986 phải đăng 2 văn bản “để cho cán bộ công nhân toàn ngành cao su được biết sự thật về việc vì sao tổng cục trưởng phải quyết định đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hoà”: Một là, công văn số 2474-ĐTR ngày 2 tháng 5 năm 1986 của tiến sĩ Phạm Song, Thứ trưởng Bộ Y tế, chủ tịch Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương xác nhận: Hội đồng Giám định Y khoa do ông làm chủ tịch gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu khoa tâm thần của cả nước đã giám định rất kỹ và nhất trí kết luận Ngô Văn Định bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Văn bản này còn ghi thêm một câu “do bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng, ông Ngô Văn Định không phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình trước pháp luật”. Câu này có tác dụng “chiêu hồi” Ngô Văn Định, lúc bấy giờ là phó giám đốc Công ty Phục vụ Đời sống, một trung tâm thực hiện những chủ trương mua bán, chia chác gian dối, nếu bị phanh phui thì anh phải liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật. Văn bản thứ hai là công văn số 859-BV.TT ngày 16-6-1986 của bác sĩ Nguyễn Quốc Hà giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, có nội dung giống như công văn số 2474-ĐTR của Thứ trưởng Bộ Y tế tiến sĩ Phạm Song. Chúng tôi nhận ra hai điều không minh bạch của hai văn bản nói trên: một là, Tổng Cục trưởng Đỗ Văn Nguyện yêu cầu Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định sau khi Ngô Văn Định đã xuất viện hơn 6 tháng, đang làm việc bình thường. Sự thật là biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương không đạt được sự “nhất trí kết luận” như ông Thứ trưởng tiến sĩ Phạm Song nói. Một thành viên rất quan trọng là giáo sư Trần Đình Xiêm, giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP. HCM (nhà thương điên Chợ Quán cũ), không đồng ý ký tên. Giáo sư Trần Đình Xiêm chủ biên một công trình nghiên cứu tâm thần học dài hơn 400 trang. Ông đã chủ trì một ban giám định gồm nhiều giáo sư tâm thần hàng đầu ở phía Nam để giám định tâm thần Ngô Văn Định, kết luận anh này không có bệnh. Ông là một bác sĩ trong hội đồng giám định y khoa của Phạm Song có điều kiện biết rõ người và việc ở ngành cao su hơn cả. Chúng tôi còn có trong tay giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp trước cuộc giám định của Phạm Song 6 tháng ghi rằng: “Không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần”. Có lẽ lúc ấy Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa không dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh, còn nay họ đã có chỗ dựa là biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch! Ngày 26-9-1986 báo Lao Động đăng bức thư của Ngô Văn Định kính gửi “Thứ trưởng Phạm Song”, có đoạn viết: “Là người có phần trách nhiệm về các vụ tiêu cực, nếu muốn cứ tiếp tục lao vào bóng tối, chắc tôi phải cảm ơn Thứ trưởng vì đã có văn bản cho tôi được miễn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng tôi không nhận sự ‘nhân đạo’ giả dối ấy, tôi quyết rời khỏi bóng tối, tố cáo tiêu cực, đem lại sự trong sạch lành mạnh trong ngành cao su”. Tôi trực tiếp đến Bệnh viện Tâm thần TP HCM xin gặp giáo sư Trần Đình Xiêm. Ông tiếp tôi rất lịch sự, nhưng xin được từ chối trả lời câu hỏi vì sao ông không ký tên vào biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch. Ông nói “Xin nhà báo thông cảm vì lý do rất tế nhị trong ngành, tôi không thể trả lời. Bởi vì tôi không ký tên, nhưng nhiều đồng nghiệp của tôi đã ký”. Biết khó thuyết phục ông lúc này, trước khi chào từ biệt, tôi chỉ nói: “Việc giáo sư từ chối ký tên vào biên bản giám định do Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Song làm chủ tịch là rất trung thực và dũng cảm. Tôi rất cảm phục. Tuy nhiên nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì vẫn không thể đẩy lùi cái ác. Biên bản đó đã giúp cho cái ác lộng hành. Tôi mong giáo sư suy nghĩ thêm vì số phận của nhiều người thấp cổ bé họng đang bị đày ải”. Ông im lặng tiễn tôi ra cửa. Hai hôm sau, bác sĩ trợ lý của ông đến trụ sở miền Nam báo Lao Động tìm tôi, cho biết: “Sau khi từ chối trả lời nhà báo, thầy Trần Đình Xiêm của chúng tôi bứt rứt không ăn không ngủ được. Thầy cử tôi lên mời nhà báo trở lại bệnh viện để thầy trả lời câu hỏi mà thầy thấy mình phải có trách nhiệm”. Giáo sư Trần Đình Xiêm mời nhiều giáo sư, bác sĩ tâm thần đã cùng ông tổ chức giám định tâm thần cho Ngô Văn Định tiếp tôi. Ông cho biết: Sau khi từ chối ký tên vào biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa do Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch, ông đã cùng các giáo sư có mặt hôm nay tổ chức một cuộc giám định suốt hai buổi đối với Ngô Văn Định. Trong cuộc giám định y khoa này, các giáo sư đã dùng các hiện tượng mà Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương dùng làm căn cứ để kết luận Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần phân liệt. Ông mời nhiều thành viên hội đồng cùng tiếp tôi và tặng báo Lao Động 2 băng cát xét ghi âm cuộc giám định ấy. Ngoài ra, ông còn cử phó giám đốc bệnh viện đến Ban Tổ chức Thành ủy TP HCM xin bản báo cáo dài 16 trang giấy A4 của chuyên viên Nguyễn Văn Đích được ban này cử đi điều tra việc cưỡng bức Ngô Văn Định. Bản báo cáo tường thuật chi tiết, phân tích rành mạch nguyên nhân và hậu quả của việc này. Bản báo cáo đặt ra nghi vấn: Vì sao sau khi Ngô Văn Định đã có giấy xuất viện ghi là “không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần” và anh đã làm việc bình thường 6 tháng, mà sau đó Tổng cục Cao su lại tổ chức để Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định bệnh tâm thần? Chuyên viên Nguyễn Văn Đích nhận xét “nhiều kết luận của hội đồng giám định y khoa trung ương có tính áp đặt, không khách quan”. Các giáo sư đều cho rằng bản báo cáo của chuyên viên Nguyễn Văn Đích có giá trị khoa học rất cao. Trên cơ sở các tài liệu đã có, tôi viết một bài báo bác bỏ biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Biên bản này đã giúp cho lãnh đạo ngành cao su che giấu bộ mặt gian trá và bào chữa hành động tàn bạo của họ. Rất tiếc, tổng biên tập Xuân Cang không đồng ý đăng bài này. Ông cho rằng: Cuộc chiến với lãnh đạo Tổng cục Cao su đang hồi quyết liệt, không nên mở thêm một trận chiến khác, đối đầu với một lực lượng gồm nhiều giáo sư tiến sĩ khoa học hàng đầu của cả nước (!) Tuy vậy, ông đồng ý cho chúng tôi tiếp tục điều tra tình trạng tiêu cực tham nhũng ở toàn ngành cao su. Sự nhân nhượng của ông Xuân Cang đã đưa Phạm Song sau đó vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản khóa 7, thăng lên ghế Bộ trưởng Y tế, được phong thầy thuốc nhân dân, leo lên viện sĩ viện Hàn lâm Liên bang Nga, đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh. Chỗ yếu chí mạng của Phạm Song và Hội đồng Giám định Y khoa của ông ta là sự giả dối: Ngô Văn Định, người mà họ kết luận điên khùng đang minh mẫn kết tội họ! Kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa do giáo sư Trần Đình Xiêm chủ trì có đủ căn cứ khoa học bác bỏ họ. Tiếc thay, trong chế độ toàn trị không có chỗ để làm điều đó. Báo Lao Động số 39, đăng bài viết của tôi, tựa đề “Không thể để công nhân cao su sống như thế” dẫn chứng tình trạng: Các tiêu chuẩn gạo, thịt, dầu thắp sáng, thuốc chữa bệnh của công nhân đều bị cắt xén. Hầu hết cán bộ công nhân ngành cao su đang phải sống trong nhà tranh dột nát. Ban Y tế Tổng cục Cao su nhiều năm bán thuốc cấp theo tiêu chuẩn của công nhân để lập quỹ đen. Bài báo kết luận: Chính các tổ chức được gọi là “phục vụ đời sống” của Tổng cục Cao su mới thực sự mắc bệnh tâm thần phân liệt! Tiếp theo báo đăng bài “Cây cao su kêu cứu” của Minh Phương. Bài báo nêu những hành vi tiêu cực đang làm cho cây cao su ngày càng ốm yếu: Nạn buôn bán phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật; tổ chức chăm sóc vườn cây không đúng quy trình kỹ thuật. Tuần kế tiếp báo đăng bài “Sự lộng hành của một giám đốc”, nói về “ông trời con” ở công ty cao su Chư Pa. Sau mấy bài báo này, tôi được điện thoại của ông Trần Bạch Đằng mời tới nhà riêng để “bàn chuyện cao su”. Tôi đề nghị, sẽ đến cùng với một phóng viên chuyên trách theo dõi ngành cao su. Ông không đồng ý: “Cậu nên đến một mình thôi, chúng mình nói chuyện cho thoải mái”. Khi tôi tới, ông đã đứng đợi sẵn trước cổng sau nhà ở đầu đường Phan Kế Bính, trong tay có cầm mấy tờ báo Lao Động. Ông đưa tôi vào phòng khách, bắt đầu câu chuyện: “Anh Sáu Dân tức đồng chí Võ Văn Kiệt mới hỏi mình có nắm được vụ Tư Nguyện trên báo Lao Động không. Mình bảo, theo tôi biết, thì vụ này do Tống Văn Công chủ trì. Mình hứa sẽ gọi hỏi cậu cho rõ. Ngày hôm qua, Tư Nguyện tới nhà mình cầu cứu. Chắc cậu chưa biết, Tư Nguyện thời chống Mỹ là chỉ huy đội bảo vệ cơ quan Trung ương Cục miền Nam. Như vậy có thể coi anh ta là cấp dưới của mình. Tư Nguyện tha thiết yêu cầu mình viết bài phản bác loạt bài của báo Lao Động. Mình đã được Tư Nguyện cung cấp nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Chắc cậu cũng thấy, nếu như tớ ‘xuất chiêu’ thì có thể cán cân sẽ chao đảo, gây bất lợi cho các cậu”. Tôi quen biết ông Trần Bạch Đằng từ năm 1952, khi ông là chủ bút báo Nhân Dân Miền Nam còn tôi là cộng tác viên tích cực của báo này. Về mối quan hệ với tôi, ông Trần Bạch Đằng có kể trong hồi ký “Nhớ một thời làm báo Nhân Dân” (Nhà XBCTQG, 1996, trang 61). Do đó tôi thẳng thắn nói với ông: “Nếu anh viết bài thì chỉ có hại cho uy tín của anh thôi, chứ cán cân không thể chao đảo. Bởi vì trong tay tôi đang có: 1 – Giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp tháng 11 năm 1985, tức là sau 6 tháng nhốt Ngô Văn Định trong phòng bệnh có chấn song sắt để theo dõi. Giấy này ghi: “Không thấy bất cứ hiện tượng nào của bệnh tâm thần”. Lúc này, chưa có bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương, cho nên ông giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa chưa dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh. 2 – Chúng tôi có một băng ghi âm do ông Vũ Lăng, trưởng Ban Thanh tra của Tổng cục Cao su ghi lại cuộc hỏi đáp giữa ông với Ngô Văn Định qua song sắt của gian phòng nhốt bệnh nhân tâm thần. Ngô Văn Định đã trả lời rất rành mạch các câu hỏi của ông Vũ Lăng. Xen vào băng ghi âm này còn có tiếng của phát thanh viên “Đài phát thanh Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa”. 3 – Một băng ghi âm ý kiến nhận xét của các bác sĩ và y tá Trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định, tất cả đều cho rằng, theo kinh nghiệm nhiều năm điều trị bệnh nhân tâm thần, họ đoan chắc rằng, Ngô Văn Định bị trù dập chứ không hề có bệnh tâm thần. 4 – Hàng trăm thư, kiến nghị của đảng viên, cán bộ, công nhân Tổng cục Cao su cung cấp nhiều chứng cứ tiêu cực, tham nhũng rất lớn ở các đồn điền cao su. 5 – Bản báo cáo dài 16 trang của chuyên viên Nguyễn Văn Đích thực hiện theo chỉ thị của Ban Thường vụ Thành ủy TP HCM 6 – Hai băng ghi âm cuộc giám định y khoa đối với Ngô Văn Định do giáo sư Trần đ...
16 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH- Từ theo cộng đến chống cộng (47) Hồi ký Tống Văn Công Nhân vụ học trò đánh thầy giáo Báo Tuổi Trẻ ngày 23 tháng 5 năm 1989 biết về vụ thầy Hoan bị học trò cũ tìm tới nhà hành hung. Bị đâm một nhát dao, thầy nhảy từ lầu 2 xuống, gãy nhiều xương. Thầy than thở với nhà báo: “Tôi không muốn thốt lên đây một tiếng kêu than thêm vào những tiếng kêu than đã nhiều lắm rồi. Ở một ngành có thể tiêu biểu cho mọi sự khốn khó nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ… tất cả những cái đó đã quá tủi đối với tư cách nhà giáo. Chuyện học trò đánh Thầy phải chăng là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Người xưa nói sanh nghề tử nghiệp. Nghề của chúng tôi là giáo dục học sinh nên người. Thế nhưng chúng tôi đã giáo dục tồi, tạo ra những học sinh kém, chuyện học sinh đánh thầy là trái đắng nhất mà chúng tôi phải chịu. Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp?” Mổ xẻ nguyên nhân nào đã khiến cho nhà giáo từ chỗ được xã hội “tôn sư trọng đạo” trở thành “tiêu biểu cho mọi sự khốn khổ nhất: mặc tồi tàn, ăn kham khổ, sống hèn hạ” hẳn là một việc làm không dễ dàng nhưng rất cần thiết. Trước tháng 4 năm 1975, ở miền Nam, nghề giáo vẫn còn là một nghề được trọng vọng không khác bao nhiêu so với nhà giáo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhà giáo có mức lương đủ cho gia đình có mức sống trung lưu, được xã hội tin cậy hơn những người có chức sắc trong chính quyền bởi cuộc sống thanh bạch. Thế mà chỉ 14 năm sau đã ra nông nỗi này! Nhớ lại ở miền Bắc sau 1954 nghề giáo cũng có hiện tượng sa sút na ná như vậy, bị xã hội xem thường, nhưng không quá nhanh và quá tệ như bây giờ. Khoảng cuối những năm 60 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu có chính sách ưu đãi để khuyến khích sinh viên vào ngành sư phạm. Đó là khởi đầu cho sự sa sút của ngành giáo dục. Năm 1981, khi được bổ nhiệm làm phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam, tôi ra Hà Nội thăm gia đình ông tổng biên tập Trần Nhật Dụ. Tại đây tôi được gặp hai người em rể của ông là hiệu trưởng trường cấp hai ở Hà Tĩnh vừa nghỉ hưu, được cho đi du lịch theo chế độ. Hai ông cùng tuổi, cùng vào nghề giáo trước Cách mạng tháng Tám, ông Dụ là giáo viên tiểu học, còn ông kia giáo viên trung học. Nhìn lại bước đi của hai người đã cho tôi một phát hiện lý thú: sau cách mạng, ông Dụ tham gia hoạt động công đoàn huyện, rồi lên tỉnh, lên trung ương làm chủ tịch công đoàn ngành giáo dục Việt Nam. Từ chức chủ tịch công đoàn ngành, ông bước lên ghế chánh văn phòng của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Sau khi ông Lê Vân tổng biên tập báo Lao Động qua đời, ông Dụ được chuyển sang thay thế, tiền lương 150 đồng/ tháng. Trong khi đó, người em rể đồng nghiệp của ông chí thú với nghề giáo, không tham gia công tác đoàn thể, đến cuối đời lên đến chức hiệu trưởng tiền lương 86 đồng/tháng. Chuyện này gợi cho tôi nhiều tò mò. Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam đã bắt đầu được nghe: nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhà nước này sắp xếp lại thứ tự của “tứ dân”, từ sĩ, nông, công, thương trở thành: giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng thông qua đảng Cộng sản; giai cấp nông dân là quân chủ lực của cách mạng, chia thành cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần nông là chỗ dựa tin cậy; trung nông kém tin cậy hơn, phải chia ra lớp dưới và lớp trên để có phân biệt đối xử. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột, phải tước bỏ phần bóc lột của họ. Địa chủ là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là “tạch tạch xè”, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ dao động, phải luôn luôn được theo dõi, giáo dục. Thương nhân là hàng xấu xa nhất, phải cải tạo để thành người lao động. Theo cách sắp xếp này, thầy giáo Thu tiểu tư sản, “tạch tạch xè”. Nhiều người cho rằng cách sắp xếp này đã đem tay chân thay cho đầu óc của xã hội. Thời xưa các ông đồ được xã hội kính trọng không kém những bậc phú hộ và những vị có chức sắc trong chính quyền. Đến thời tân học các nhà giáo cũng được quý trọng như thế. Miền Bắc trước năm 1954 và miền Nam trước tháng 4 năm 1975, thầy giáo cấp một có mức lương đủ nuôi vợ con và thuê người giúp việc. Các chàng trai vừa tốt nghiệp ngành sư phạm đã được các gia đình giàu có đánh tiếng muốn gã con. Thời ấy phải là người học giỏi mới dám thi vào ngành sư phạm, vì ngành này tuyển sinh khắc khe nhất. Miền Bắc sau năm 1954, và miền Nam sau năm 1975, trở thành xã hội chính trị (trong chế độ toàn trị do đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo). Cấp ủy đảng được coi là những người danh giá nhất trong làng, xã, quận, huyện, tỉnh, thành. Nhà giáo là “tạch tạch xè”, nhưng chủ tịch công đoàn ngành giáo dục thì lại là “chiến sĩ vô sản”. Trong bài nói với sinh viên trường đại học sư phạm, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho nhà giáo nhiệm vụ mà họ không thể làm nổi: người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Ông thầy giáo làm sao so nổi với ông cấp ủy! Các thành viên của cấp ủy chia nhau nắm chính quyền, các đoàn thể như công đoàn, nông hội, thanh niên, phụ nữ, phụ lão. Giáo viên mà không có chân trong ban chấp hành công đoàn giáo dục thì chỉ ngang với một đoàn viên của các đoàn thể công đoàn hoặc nông hội, nhưng kém hơn họ về mức sống, vì ngoài tiền lương chết đói, ông thầy giáo không có thu nhập gì thêm. Thu nhập thấp thì địa vị xã hội cũng xuống thấp, việc tuyển sinh vào các trường sư phạm khó khăn, phải hạ dần điểm tuyển, miễn học phí, đưa tới chất lượng giáo viên kém dần. Bởi vì những người học lực kém mới phải vào ngành sư phạm. Để trang trải cuộc sống, nhà giáo phải tìm cách đối phó. Trên lớp thì dạy qua loa để buộc học sinh phải xin học thêm. Thu nhập từ dạy thêm cao gấp mấy lần tiền lương. Các thầy dạy môn lịch sử, địa lý không thể dạy thêm nên đành phải làm đủ mọi nghề, kể cả rửa bát nhà hàng, đạp xích lô. Hình ảnh và phẩm chất thầy giáo bị tàn phá từ vật chất đến tinh thần. Đòn đánh chí mạng vào nghề giáo là tinh thần tôn sư trọng đạo, sau đó mới đến đòn đánh bằng dao gậy mà thầy Hoành phải chịu kể trên. Thầy Hoành tự cho mình dạy tồi cho nên phải bị đánh. Có lẽ thật lòng thầy không nghĩ như vậy cho nên thầy mới hỏi tiếp: “Nhưng còn xã hội, gia đình, luật pháp? “Xin lạm bàn cùng thầy. Nền giáo dục của nước ta từ 1975 đến nay có hai ách tắc không thể vượt qua được. Những điều thầy Hoành nói chỉ là cái ách tắc thứ hai. Gọng kềm ý thức hệ mới là cái ách tắc thứ nhất. Tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc trung ương (nay là Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh) đã viết vào sổ vàng của trường một câu được coi là mục tiêu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa “Học để làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự giai cấp và nhân dân, Tổ Quốc và nhân loại”. Trong bài nói ở trường Đại học sư phạm Hà Nội tháng 10 năm 1964, Hồ Chí Minh cho rằng thầy giáo phải xứng đáng là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa; và để được như vậy thì phải học tập chính trị, bởi vì “có học tập lý luận Mác, Lê-nin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác đảng giao phó”. Tiếp thụ tinh thần đó, ngày 14 tháng 11 năm 1988, thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Trần Chí Đáo tuyên bố “chủ trương của Bộ về tuyển sinh và đào tạo là bảo đảm Đảng tính và giai cấp tính” (báo Tuổi Trẻ). Nghị quyết trung ương 29-NQ/TW khóa 11, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh “Coi trọng công tác phát triển Đảng, công tác chính trị tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm trường học phải có chi bộ, trường đại học có đảng bộ. Đổi mới chương trình. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đọc những điều nói trên đây cho thấy những người lãnh đạo đảng Cộng sản muốn ngành giáo dục phải đào tạo lớp trẻ theo khuôn mẫu do họ chọn, để trở thành công cụ xã hội chủ nghĩa đắc lực. Để thực hiện điều đó, ngành giáo dục phải che giấu những thông tin, dữ kiện bất lợi cho chế độ toàn trị, phải chọn những thông tin, dữ kiện dù lỗi thời nhưng có thể phục vụ cho định hướng của đảng, đưa vào giáo trình. Năm 1985 ông Mai Chí Thọ khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn, khi đến thăm một trường mẫu giáo, đã tỏ ý ngạc nhiên vì các bài học của trẻ lên ba quá đậm chất chính trị. Ông đã có câu nói đúng: “Tôi e chẳng những không thể đạt được yêu cầu chính trị mà mục đích trồng người cũng không đạt”. Cho đến nay (2013) thử tìm xem một số sách giáo khoa cho trẻ sẽ thấy tình trạng đó vẫn còn nguyên. Quyển sách do Vũ Xuân Vinh soạn, nhà xuất bản đại học ấn hành, phần lớn theo thể thơ lục bát, một số theo thể thơ ngũ ngôn, hầu hết không có chất thơ, không đúng vần, như “Công viên đường phố thật vui. Thêm yêu đất nước thêm yêu phố phường”; “Mỗi năm một tuổi thêm vui; thi đua phấn đấu thành người trò ngoan”; “Ôi lá cờ tổ quốc. Đứng nghiêm giơ tay chào”… trong sách Tiếng Việt, lớp 3 có những “chủ điểm” như: Đơn xin vào đội, Tập tổ chức một cuộc họp; Người lính dũng cảm… Sách chỉ chọn tác phẩm của các nhà thơ kháng chiến, nhiều bài rất dở. Bài thơ “Đi hội chùa Hương” nhạt nhẽo, được chọn có lẽ vì mấy câu kết: “Ôi phải đâu lễ Phật, Người mới đi chùa Hương. Người đi thăm đất nước, Người về trong yêu thương”. Với lập trường duy vật vững vàng, nhà soạn sách chọn bài thơ này vì nó lớn tiếng hô hào rằng đi chùa không phải vì lễ Phật, còn bài thơ “Đi chùa Hương” nổi tiếng của Nguyễn Nhược Pháp cứ “Nam mô a di đà” cho nên không thể chọn! Năm 2009, trên báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh số Xuân đăng bài Điều ước đầu năm của chị Trần Mai Liên, mẹ của một học sinh cấp 1 ở Gò Vấp: “Cầu mong năm mới, sách giáo khoa sửa đổi, môn công dân giáo dục không còn tiếp tục dạy những ý tưởng quá cao xa không hợp với trẻ. Đối với trẻ, cần phải dạy cho chúng biết yêu ông bà, cha mẹ, anh em và mọi người! Biết sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, không tham lam ích kỷ”. Có lẽ chị muốn ngầm nhắc nhà báo về năm điều bác Hồ dạy được treo cao giữa các lớp học, đã không có điều nào dạy trẻ yêu cha mẹ, tôn trọng thầy giáo. Năm năm sau lời cầu mong của chị Trần Mai Liên, giáo sư Văn Như Cương bức xúc kêu lên: “Chuyện dạy làm người vẫn mãi là khoảng trống trong giáo dục phổ thông”. Ông trích sách “Giáo dục công dân” một bài giảng có tựa đề “Phủ định siêu hình và phủ định biện chứng”. Bức xúc của giáo sư Văn Như Cương không được trả lời, vì giáo dục xã hội chủ nghĩa đã khẳng định: “Không có khoảng trống nào cả! Ngành giáo dục vẫn trung thành với khuôn mẫu ý thức hệ nhằm đào tạo những con người kế thừa để xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Cách làm của họ đúng như nhà giáo dục vĩ đại John Dewey Nhận xét về nền giáo dục bảo thủ là “làm cho tương lai phù hợp với quá khứ”. Thực ra “dạy người” không chỉ ở môn giáo dục công dân mà phải trong toàn bộ chương trình giáo dục. Ở các nền giáo dục tiên tiến, người ta đặt nhiệm vụ giáo dục là đào tạo con người tự do, con người đầy ắp ý kiến phản biện, con người dám khác với những người đi trước dù đó là những vĩ nhân. Albert Einstein nói: “Chúng dựa trên tự do của lòng tin và giáo dục, trên nguyên lý rằng, ước muốn tìm chân lý phải đặt trước mọi ước muốn khác” và “không có tự do kia thì sẽ không có Shakespeare, không có Goethe, Newton, không có Faraday và Pasteur”. Đúng vậy, chúng ta có thể bổ sung cho câu nói của ông “không có tự do thì cũng không có Albert Einstein”. Khi tôi viết đến đây thì trên báo tuổi trẻ hôm nay (11-5-2016), cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền ở thành phố Hồ Chí Minh gửi “8 thỉnh cầu đến Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo”: 1- Giảm bớt những kiến thức ôm đồm ra đời không dùng được; dạy cho các em biết bênh vực cái tốt, dám chống lại cái ác. 2- Đừng thay đổi liên tục, từ “nghiên cứu bài học” chưa đâu vào đâu đã chuyển sang “tích hợp liên môn”, rồi “bàn tay nặn bột”. Việc thi cử cũng thay đổi xoành xoạch! 3- Xin hãy để cho tất cả giáo viên có quyền thực sự lựa chọn hiệu trưởng của trường và quyền ứng cử vào vị trí mà họ thấy thích hợp. (Hình như cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền không nhớ rằng, hiệu trưởng phải là đảng viên?) 4- Hãy đánh giá giáo viên ở phương pháp giảng dạy, chứ không phải chăm chỉ ghi chép đầy đủ vào các loại sổ do bộ quy định. 5- Thời đại công nghệ thông tin nhưng cách quản lý vẫn còn “đèn nhà ai nấy rạng”. 6- Tăng thêm mức đãi ngộ, đặc biệt là giáo viên vùng sâu, vùng xa. 7- Hiện nay nhiều sinh viên ra trường khó tìm được việc làm là vì chương trình đại học có đến 30% những điều không cần trong cuộc sống. 8- Nói chung chú trọng nhồi nhét kiến thức (nhiều điều không dùng được) mà không chú ý giáo dục đạo đức nhân cách con người. Ngày 12-5-2016 rất nhiều người hưởng ứng bức thư cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, đã đề xuất thêm điều thứ 9: “Chống bệnh thành tích trong giáo dục” và “Hãy để cho giáo viên sống được bằng lương”. Posted on Tháng Bảy 19, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/19/tu-theo-cong-den-chong-cong-47-nhan-vu-hoc-tro-danh-thay-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (48): https://www.minds.com/newsfeed/1020204418679939072?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (46): https://www.minds.com/newsfeed/1020203299069206528?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (46) Hồi ký Tống Văn Công Vụ phong thánh 117 chân phúc tử đạo Việt Nam Ngày 22-6-1987 Giáo hoàng Gioan – Phao lô II Chủ trì cuộc họp tại Roma (Italia) quyết định phong Hiển thánh cho 117 Á thánh chết vì đạo ở Việt Nam từ 1625 đến 1861 và ấn định năm sau, ngày 19-6-1988 sẽ tổ chức lễ phong thánh tại Roma. Ngày 12-10-1987 Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam gửi công văn cho Ủy ban Nhân dân và Ban Tôn giáo các tỉnh, thành, đặc khu cả nước, nhận định: “Quyết định của Vatican là một việc làm có dụng ý chính trị xấu và xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, kích động tâm lý cuồng tính tử vì đạo trong một bộ phận giáo dân và giáo sĩ Việt Nam; gây chia rẽ giáo, lương; làm tổn hại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và nhà nước ta đang ra sức thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo, tăng cường đoàn kết toàn dân vượt qua mọi thử thách, khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Trước tình hình đó, ngày 18-9-1987, thừa lệnh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Ban Tôn giáo của chính phủ đã triệu tập các giám mục trong Ủy ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam để vạch rõ tính nghiêm trọng của sự kiện nói trên, nghiêm khắc phê phán việc làm sai trái này của một số giám mục trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, của Vatican và bàn biện pháp xử lý tình hình phức tạp có lý có tình. Sau đó nhiều cuộc hội thảo được tổ chức khắp cả nước, nhiều cây bút sắc bén nhất của chế độ như Trần Bạch Đằng, Nguyễn Khắc Viện… viết bài theo quan điểm nói trên. Bài viết của Nguyễn Khắc Viện có tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai?” Mở đầu ông cho rằng “Tôi vẫn cảnh giác cao độ với những mưu đồ xuất phát từ Phương Tây mong lợi dụng Đạo Kitô để phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta”. Ông cho rằng không thể biết chính xác tất cả những người được nêu tên đã chết trong hoàn cảnh nào, họa chăng tư liệu còn lại cho biết rõ trường hợp một vài người. Ông nhấn mạnh sự kiện: – Một là chuyện giám mục Adran đưa hoàng tử Cảnh bái yết vua Pháp Louis 16 năm 1787, với kế hoạch tấn công Đà Nẵng. – Hai là chuyện người Công giáo đã giúp Pháp tiêu diệt phong trào Văn Thân (Văn Thân có khẩu hiệu “bình Tây sát tả”, có nghĩa là dẹp Tây, diệt đạo). Nguyễn Khắc Viện nhận định lễ phong thánh sẽ gây ra: “Rồi nhiều người trên thế giới, đặc biệt trong giáo dân, đâm ra thương hại cho Giáo hội Việt Nam đang sống trong cảnh bị áp bức, rồi một số người Việt Nam ngoại đạo, một số cán bộ sẵn có định kiến lại thốt lên: Đã bảo mà, tin sao được bên đạo, bao giờ họ cũng hướng về Phương Tây. Rõ ràng việc phong thánh này là một đòn hiểm đối với khối đoàn kết dân tộc của chúng ta.” Thật là “thần hồn nát thần tính”, Đảng Cộng sản Việt Nam cứ nghĩ là các thế lực thù địch lúc nào cũng đang âm mưu đánh phá mình, phong thánh chắc phải là đòn hiểm (!) Thực ra tất cả 117 vị tử đạo không có người nào bị giết vì dính líu với thực dân Pháp, họ chỉ bị giết vì là “tả đạo”, trái với đạo Nho mà triều đình nhà Nguyễn tôn thờ. Các vị đều có lý lịch rõ ràng về quê quán, chức sắc, ngày bị giết, hình thức bị giết (xử trảm, xử giảo, hay chết trong tù). Những người Công giáo chân chính có nhiều bài viết cho rằng chuyện phong thánh là việc riêng của Giáo hội và việc này hoàn toàn đúng đắn bởi mục đích tôn vinh những giáo dân dám từ chối đạp lên thập giá, chịu chết vì đạo Chúa. Các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Ngô Văn Ân, Thanh Lãng có những bài viết, tham luận bác bỏ những lập luận không đúng sự thật lịch sử. Đặc biệt hai ông Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan đã từng hoạt động chống chiến tranh, chống sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam, đòi trả tự do cho tù chính trị, những người bị giam ở Côn Đảo, do đó họ đã bị chế độ miền Nam cho là thân cộng. Sau 1975, hai ông được nhà nước cộng sản mời tục bản Đối Diện với tên mới là Đứng Dậy, nhưng chẳng bao lâu đã bị đóng cửa. Giờ đây với việc bảo vệ vụ phong thánh, hai ông bị nhà nước cộng sản cho là phá bỉnh, đã dùng biện pháp bịt mồm, rồi một người bị quản chế tại gia, một người được mời rời khỏi xứ đạo, an trí ở Cần Giờ. Bài “Nói chuyện tử đạo với ông Nguyễn Khắc Viện” của linh mục Nguyễn Ngọc Lan (Bài có gửi cho báo Công Giáo Và Dân Tộc do linh mục Trương Bá Cần làm tổng biên tập nhưng không được đăng) có đoạn: “… Ông muốn dạy dỗ chúng tôi, những người công giáo Việt Nam nên nghĩ thế nào về việc phong 117 vị thánh liên hệ trực tiếp và trước tiên đến chúng tôi. Đó là quyền của ông, quyền hiểu theo nghĩa tự do chủ nghĩa (libéralisme) tạm gọi là của thế giới tư bản. Còn nếu quyền được hiểu với một chút màu sắc đạo đức nào đó thì thưa ông, tại sao ông không tự đặt cho mình một số câu hỏi tương tự như: Bài của ông là bài thứ mấy viết về vấn đề này? Ông có thể tính bằng đầu ngón tay thì phải… Tại sao chỉ có giám mục Bùi Tuần có tiếng nói về vấn đề này trên tờ Công Giáo Và Dân Tộc? Các giám mục Việt Nam khác ở đâu? Các người Công giáo khác ở đâu? Họ không biết nghĩ thế nào cả sao? Họ không biết viết thành câu cú những điều họ nghĩ sao? Tại sao mấy trang góp ý của linh mục Chân Tín một người quen thuộc với cả báo chí trong nước và ngoài nước không hề được đăng trên báo Công Giáo Và Dân Tộc, khi mà những trang góp ý ấy đã được đọc lên trong buổi họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Quận 3 chiều ngày 18 tháng 1 năm 1988 và đã được giới Công giáo chú ý đến nhiều? Tại sao ngay cả trong tập ‘Tài liệu tham khảo’ về ‘Việc phong thánh các Chân phúc tử đạo Việt Nam’ do văn phòng Ủy ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh in ronéo tháng 2 năm 1988 trong phần II dành cho ‘một số bài viết liên quan đến việc phong thánh’ người ta đăng 9 bài viết ở Việt Nam, trong số đó có bài của ông, hai bài của linh mục Thiện Cẩm ba bài của giám mục Bùi Tuần, nhưng vẫn không có bài của Chân Tín để rộng đường dư luận? Chúng ta đang sống ở thời nào đây? Thời Staline hay thời Gorbatchev? Thời báo Etudes Vietnamiennes của ông ngày trước hay tờ Đoàn Kết của việt kiều ta bây giờ ở Pháp?” Nguyễn Ngọc Lan phê bình cái tựa đề “Chết vì đạo, chết cho ai” là “lớn lối”. Ông Lan hỏi, giả sử “học giả nào đó viết mấy chữ ‘chết vì nước chết cho ai’ trên tấm bia liệt sĩ thì liệu có tờ báo nào vô ý thức, thiếu tự trọng đến mức có thể đăng lên một cái tựa đề như vậy? Còn nội dung bài thì cũn cỡn mà lại lạc đề, bởi vì 117 vị tử đạo không có ai bị giết bởi phong trào Văn thân cả!” Linh mục Chân Tín kể: Ông bị ông đại tá Nguyễn Văn Tòng giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh chất vấn vì sao báo nước ngoài đăng bài tham luận của ông ở Mặt trận Tổ quốc? Linh mục Chân Tín đáp: “Lẽ ra đó là điều tôi hỏi ông chứ không phải ông hỏi tôi! Bởi vì sau khi đọc xong tôi nộp bản tham luận cho các ông”. Ông giám đốc Sở văn hóa Nguyễn Văn Tòng đe dọa nếu gửi bài viết sai trái chủ trương chính sách của nhà nước ta ra nước ngoài thì có thể bị trừng trị. Chân Tín bảo mình đã bị chế độ Sài Gòn đe dọa như vậy nhiều rồi, nhưng mình đâu có ngán, lúc nào cũng vẫn hành động theo hai câu thơ của Nguyễn Trãi: “Ung dung ta nói điều ta nghĩ, Cuối ngửa theo người quyết chẳng theo” Giám đốc Tòng nói, chính quyền Sài Gòn bắt ông là vinh dự cho ông, còn đây là nhà nước cách mạng bắt ông thì đó là ô nhục cho ông. Linh mục Chân Tín đáp: “Tôi thấy không có gì khác nhau cả, đều là quyền lực chống lại con người dám nói thẳng nói thật đó thôi”. Tháng 5 năm 1990, linh mục Chân Tín bị trục xuất khỏi nội thành, lưu đày ra Cần Giờ. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan đã xuất tu và lập gia đình với bà Thanh Vân biên tập viên tờ Tin Quận 5. Ông Lan bị quản chế tại gia, bà Thanh Vân bị buộc thôi việc. Ông Lan qua đời năm 2007. Linh mục Chân Tín mãn hạn lưu đày trở về Dòng Chúa Cứu Thế năm 1993. Năm 2006 ông chủ trương tờ báo chui “Tự do ngôn luận” đòi quyền tự do căn bản cho người dân Việt Nam. Linh mục Chân Tín từ trần ngày 1 tháng 12 năm 2012. Cái “định kiến” mà ông Viện nêu ra vẫn còn cho tới hôm nay. Nguồn gốc của nó từ đâu? Vì quan điểm “tôn giáo là thuốc phiện của dân nghèo”, hay là vì “Công giáo là đạo giáo được người Pháp ưu đãi?” Trong quyển sách “Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay” của giáo sư, tiến sĩ Dương Phú Hiệp chủ biên, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2010 nhận định: “Trong giai đoạn hiện nay, những thế lực chống đối trong và ngoài nước chưa từ bỏ việc lợi dụng tôn giáo để làm mất ổn định chính trị, gây hoang mang chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy cần giải quyết vấn đề tôn giáo dưới góc độ văn hóa và phải xem giáo dục tôn giáo là vấn đề quan trọng”. Thật ra chẳng có thế lực trong ngoài nước nào gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc cả. Xin nêu một chuyện xảy ra ở nhà thờ Thuận Phát, phường Tân Kiểng, quận 7, nơi tôi cư ngụ nhiều năm. Sau 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng yêu cầu nhà thờ giao 3 phòng họp trong khuôn viên của nhà thờ. Từ đó, ba phòng này được dùng để hội họp dân phố. Mấy năm gần đây, nhà thờ Thuận Phát gửi đơn lên Quận ủy và Ủy ban Nhân dân Quận 7 xin được trả lại 3 phòng họp này để sinh hoạt tôn giáo. Quận ủy chủ trương không trả lại. Đảng viên lão thành Lê Ngọc Tưởng, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy Nhà Bè (thời 1975-1980, vùng đất này thuộc quận 7 còn nằm trong Nhà Bè) gửi thư góp ý: Quận ủy nên đồng ý cho Ủy ban Nhân dân Quận 7 trả 3 phòng họp lại cho nhà thờ Thuận Phát làm nơi sinh hoạt hội họp giáo dân. Ông Tưởng viết: “Giáo dân cũng là công dân, Đảng có trách nhiệm giúp họ có nơi hội họp, học tập. Làm được như vậy giáo dân sẽ gắn bó với chế độ do Đảng lãnh đạo.” Ông Tưởng không được những người kế nhiệm mình cầm quyền sau 40 năm (lúc ông cầm quyền, họ còn là những đứa trẻ, được ông đưa vô nhà trường xã hội chủ nghĩa) trả lời. Họ phái một đại úy công an đến nhà ông Tưởng chất vấn: “Tại sao ông khuyến khích giáo dân ở giáo xứ Thuận Phát vùng dậy đòi phải trả ba phòng họp?” Hội bảo vệ quyền tự do tôn giáo, trong báo cáo tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2015 nhận xét: “Cả năm 2015 các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam đã có năm mươi vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo. Các giáo hội đều bị nhà nước khống chế, lũng đoạn và xâm nhập. Các quyền tự do tôn giáo chính yếu đều bị cấm cản: – Mọi tôn giáo không được độc lập trong việc tổ chức nội bộ. Nhà cầm quyền tìm cách kiểm soát và ảnh hưởng lên việc chiêu sinh, huấn luyện, tấn phong, bổ nhiệm và thuyên chuyển hàng ngũ chức chắc lãnh đạo. – Mọi tôn giáo không được tự do trong sinh hoạt phụng thờ. Các sinh hoạt này chỉ được thực hiện trong những nơi thừa tự đã được nhà nước công nhận. Các lễ nghi hay lễ hội lớn đều phải xin phép nhà cầm quyền. – Mọi tôn giáo không được truyền bá giáo lý bên ngoài các cơ sở của mình ra xã hội, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, lên mạng thông tin toàn cầu. – Mọi tôn giáo không được góp phần giáo dục giới trẻ qua hệ thống giáo dục từ tiểu học đến đại học. Hiện thời các giáo hội chỉ được mở trường mẫu giáo, nhưng vẫn dưới sự kiểm soát đủ mặt của chế độ. – Mọi tôn giáo không được có tín đồ giữ các chức vụ cao trong bộ máy cai trị (quốc hội và chính quyền), trong hàng ngũ công an, quân đội cũng như trong hệ thống giáo dục. – Mọi tôn giáo đều bị chính quyền tước đoạt đất đai và cơ sở thừa tự trước đó, nhưng không được trả lại. Hiện nay các giáo hội đều không có sở hữu đất đai và không dễ dàng mở rộng cơ sở. Posted on Tháng Bảy 17, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/07/17/tu-theo-cong-den-chong-cong-46-vu-phong-thanh-117-chan-phuc-tu-dao-viet-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (47): https://www.minds.com/newsfeed/1020204008603201536?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45): https://www.minds.com/newsfeed/1020199026186948608?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45) Hồi ký Tống Văn Công Khi ngòi bút chạm vào quyền lực Mấy chục năm đấu tranh chống tham nhũng của báo chí cách mạng Việt Nam trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có cuộc đấu tranh trên báo Lao Động đối với ban lãnh đạo Tổng cục Cao su đứng đầu là ủy viên Trung ương Đảng, tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện là giành được thắng lợi. Không phải các nhà báo làm vụ này tài giỏi hơn những đồng nghiệp ở các khu khác mà chỉ vì vụ này bắt đầu ngay sau đại hội 6 năm 1986 khi mà luồng gió dân chủ sau “đổi mới” đang mạnh và các nhà lãnh đạo cộng sản chưa bị hoảng sợ bởi sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu. Tôi về cơ quan miền Nam báo Lao Động đúng lúc phóng viên Trương Đăng Lân phát hiện chuyện trù dập rất man rợ ở Tổng cục Cao su: Đầu năm 1985, đoàn thanh tra nhà nước đến thanh tra Tổng cục Cao su, phát hiện nhiều “phi vụ” mua bán, ăn chia bất hợp pháp mà đầu mối quan trọng là Công ty Phục vụ Đời sống do tổng cục trưởng trực tiếp chỉ đạo. Đoàn thanh tra dành nhiều thời gian làm việc riêng với Ngô Văn Định phó giám đốc công ty này. Ông Đỗ Văn Nguyện, ủy viên Trung ương Đảng, tổng cục trưởng Tổng cục Cao su được mật báo là Ngô Văn Định đã bị đoàn thanh tra khuất phục, đã cung khai nhiều việc làm sai trái mà người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là ông. Đỗ Văn Nguyện nghĩ cách vô hiệu hóa bản kết luận của đoàn thanh tra dựa vào lời khai của Ngô Văn Định. Ông ta cho rằng cách tốt nhất là phải biến Ngô Văn Định thành bệnh nhân tâm thần! Vậy là một kế hoạch cưỡng bức định được tổ chức tỉ mỉ: Trước hết, trưởng ban y tế Tổng cục Cao su, bác sĩ Đoàn Huỳnh làm tờ trình chi tiết gửi lên Tổng Cục trưởng, kể ra rất nhiều hiện tượng điên khùng của Ngô Văn Định và cho rằng “một người có bệnh tâm thần mà buộc phải đảm trách công việc kinh doanh, suốt ngày tính toán lo toan thì chẳng những sẽ làm hư hỏng công việc, có nguy cơ vi phạm pháp luật mà còn có hại cho sức khỏe của anh ta”. Ban y tế kiến nghị: “Do người bệnh tâm thần không bao giờ nhận mình có bệnh, cho nên cần phải tổ chức cưỡng bức anh ta đi chữa bệnh”. Căn cứ đề nghị của trưởng ban y tế, ngày 18-5-1985, tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện ký quyết định tổ chức đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Để che mắt cán bộ cơ quan tổng cục, bộ máy thực hiện việc cưỡng chế này huy động nhiều cán bộ đảng viên trung, cao cấp như phó vụ trưởng vụ tổ chức, phó trưởng ban bảo vệ, trưởng ban y tế và nhiều bác sĩ. Ngày 18 -5-1985, như mọi ngày, Ngô Văn Định đang làm việc tại văn phòng phó giám đốc công ty thì trưởng ban y tế Đoàn Huỳnh tới đọc quyết định của Tổng Cục trưởng. Thừa lệnh Tổng Cục trưởng, ông Huỳnh yêu cầu Ngô Văn Định tạm ngưng công việc để đi khám bệnh. Đứng sau Đoàn Huỳnh là phó ban bảo vệ có mang súng và nhiều vệ sĩ mang theo dây trói. Ngô Văn Định kể: “Họ bảo tôi chích hai mũi thuốc cho khỏe. Chích xong tôi liệm đi, đến 7 tiếng đồng hồ sau mới tỉnh dậy thì thấy mình bị nhốt trong gian phòng có chấn song sắt cùng với bốn bệnh nhân tâm thần”. Các bác sĩ, y tá của Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định rất ngạc nhiên khi được trưởng ban y tế, bác sĩ Đoàn Huỳnh nhờ họ ghi tên những ai đến thăm Ngô Văn Định. Do đó, anh em rất chú ý quan sát bệnh nhân đặc biệt này. Sau một ngày tiếp xúc, không thấy anh Định có biểu hiện của người bệnh tâm thần, lại nghe anh kể chuyện mình bị cưỡng bức, họ khuyên anh nên giấu số thuốc được cấp, để sau này làm chứng cứ cho cuộc đấu tranh. Nhờ sự giúp đỡ đó, anh định giấu được một bọc to các thứ thuốc Aminazin, Séduxen. Do việc cưỡng chế được tổ chức với quy mô và cách thực hiện không bình thường, khiến dư luận trong Tổng cục Cao su đặt ra nhiều nghi vấn: Tại sao Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần nặng mà lâu nay mọi người tiếp xúc với anh, cả những nhân viên dưới quyền anh không ai nhận thấy? Tại sao việc đưa một bệnh nhân đi bệnh viện mà Tổng Cục trưởng phải ra quyết định? Tại sao không đưa bệnh nhân đi đúng tuyến là Bệnh viện Thống Nhất, nơi đây cũng có khoa tâm thần? Hàng trăm cán bộ nhân viên làm kiến nghị cá nhân và tập thể yêu cầu Tổng Cục trưởng ký quyết định đưa Ngô Văn Định trở về, nếu không họ sẽ tố giác với Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Ông Đỗ Văn Nguyện buộc phải ký quyết định cho Ngô Văn Định về làm việc để xoa dịu anh em. Tôi xem rất kỹ hồ sơ tài liệu, nhưng vẫn băn khoăn: Chẳng lẽ bao nhiêu người mang danh nghĩa rất khả kính, chỉ vì muốn che dấu sự thật mà nhẫn tâm dùng thủ đoạn cực kỳ tàn bạo đối với đồng chí của mình? Tôi nói với phóng viên Trương Đăng Lân: Trước khi quyết định đưa vụ này lên báo, mình muốn được gặp trực tiếp những anh chị có vai trò chủ chốt đứng ra tố cáo. Bởi nhiều năm làm báo đã cho mình bài học kinh nghiệm (hình như cũng đã được các bậc thầy đúc kết thành bài giảng cho nghề báo là: “Không có nguồn tin nào không đáng cho nhà báo phải nghi ngờ. Nên nhớ rằng người cung cấp nguồn tin có thể sử dụng nhà báo cho mục đích của họ, cũng ngang như nhà báo sử dụng họ cung cấp tư liệu cho bài viết của mình. Thông thường, nhà báo tìm nguồn tin ở các đối tượng: Kẻ chống đối, kẻ thua cuộc, nạn nhân, các chuyên gia, cơ quan chức năng. Ở trường hợp này, những người chúng ta định viết bài chỉ trích, phê phán đang là những cán bộ cách mạng cao cấp, ‘mũ cao áo dài’. Do đó mình nghĩ rằng, chúng ta phải có những người ‘đạo cao, đức trọng’ dám đứng ra đương đầu với cường quyền, cung cấp và bảo trợ nguồn tin”. Hôm sau, Trương Đăng Lân đưa Ngô Văn Định và 5 cán bộ Tổng cục Cao su đến cơ quan miền Nam báo Lao Động. Trong số đó, tôi đặc biệt chú ý hai người thuộc lớp cán bộ cách mạng đàn anh là ông Nguyễn Gia Đằng, cán bộ tiền khởi nghĩa, hiện là phó trưởng ban thi đua của Tổng cục Cao su mà trưởng ban là Tổng Cục trưởng (sau này, Nguyễn Gia Đằng sang Campuchia làm cố vấn an ninh cho các ông Heng Sam ring, Chia xim). Người thứ hai là ông Vũ Lăng, nguyên tổng biên tập báo Hải Phòng Kiến Thiết (nơi có cô nữ phóng viên Nguyễn Thụy Nga, tức Bảy Vân vợ hai của tổng bí thư Lê Duẩn) đang làm trưởng ban thanh tra của Tổng cục Cao su. Cả hai ông có phong thái đỉnh đạc, khoan hòa, trình bày và phân tích sự việc rành mạch, khách quan. Hai người này đã cho tôi niềm tin rằng, họ chỉ vì sự thật và lẽ phải mà đứng ra. Bây giờ là cách đưa lên báo bài đầu tiên như thế nào cho có sức thuyết phục cao, gây tiếng vang lớn. Tôi cho rằng, nên dùng nguyên văn lá thư của chính Ngô Văn Định đứng ra tố giác việc mình bị cưỡng bức hơn là bài viết của phóng viên. Ngày 7 tháng 8 năm 1986, báo Lao Động số 32 đăng lá thư tố giác của Ngô Văn Định. Bài báo chẳng những chấn động trong ngành cao su mà còn gây xúc động nhân dân cả nước. Đây là lần đầu tiên, báo chí tố cáo một ủy viên Trung ương Đảng bịt miệng người chống tiêu cực một cách thô bạo và có tổ chức. Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện phản ứng quyết liệt, ra lệnh toàn ngành cao su phải thu hồi tờ báo Lao Động số 32, không để cán bộ công nhân đọc. Ông đích thân gọi điện cho chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Phạm Thế Duyệt (cơ quan chủ quản của báo Lao Động): “Báo Lao Động đã đăng bài của một kẻ đang mắc bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Anh ta đang là con rối trong tay những kẻ bất mãn. Bài báo này có tác động rất xấu, gây mất ổn định trong toàn ngành cao su, phá hoại sản xuất và đời sống của hàng vạn cán bộ công nhân cao su. Quan trọng hơn là nó xúc phạm một ủy viên Trung ương Đảng, cũng tức là bôi nhọ Đảng. Tôi đề nghị đồng chí chủ tịch ra lệnh cho báo Lao Động ngưng ngay việc đưa tin sai trái về vụ này, đồng thời mau chóng có bài viết đính chính theo quan điểm của Đảng Đoàn Tổng cục Cao su”. Chủ tịch Phạm Thế Duyệt hứa sẽ nghiêm túc xem xét vấn đề này. Sau đó, ông nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo tình trạng tiêu cực của ngành cao su và nguyên nhân vụ cưỡng chế Ngô Văn định. Tuy đã nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo, nhưng chủ tịch Phạm Thế Duyệt vẫn trực tiếp gọi điện cho tôi, hỏi “Anh Công có tin chắc bài này viết đúng sự thật không?” Tôi đáp: “Tôi tin chắc và xin chịu trách nhiệm”. Ông nói: “Chắc anh cũng đã lường trước là lần này các anh phải đương đầu với một thế lực rất mạnh, cho nên phải hết sức thận trọng, kiểm tra kỹ từng chi tiết trước khi đưa lên báo”. Cuối cùng ông hỏi: “Anh Công còn có điều gì lo ngại không?” Tôi đáp thật lòng: “Chúng tôi đã nhận thấy mình đang phải đương đầu với một đối tượng khổng lồ, những nguồn tin thu được cũng khổng lồ và đầy mâu thuẫn. Chúng tôi không chỉ là một bài điều tra mà phải lập một kế hoạch chi tiết cho một loạt bài điều tra, chuyện nào trước, chuyện nào sau, phân công anh em chia nhau mà làm. Đồng thời chúng tôi còn lường trước các trở ngại, các bước ngoặt bất ngờ có thể xảy ra. Thú thật, trước khi bắt đầu vụ này, chúng tôi lo nhất là tổng biên tập rụt rè trước một đối tượng đầy quyền lực và lo lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động không ủng hộ. Còn bây giờ chúng tôi đã yên tâm”. Những số báo sau đó, chúng tôi đưa liên tiếp ý kiến cán bộ, công nhân ngành cao su hưởng ứng thư tố cáo của Ngô Văn Định và cung cấp tài liệu phanh phui nhiều tiêu cực ở các công ty cao su nơi họ đang làm việc. Phó ban thi đua Tổng cục Cao su Nguyễn Gia Đằng gửi đăng báo một lá thư nặng ký: xác nhận tố cáo của Ngô Văn Định và các cán bộ công nhân toàn ngành là đúng sự thật: “Tất cả những bê bối tiêu cực của các vị trong ban lãnh đạo Tổng cục Cao su mà báo Lao Động đã nêu ra là có thật. Tôi xin đề nghị các cơ quan cấp trên của Đảng và nhà nước chỉ đạo các ban ngành chức năng vào cuộc, làm rõ đúng, sai để giúp cho những người đấu tranh chống tiêu cực ở ngành cao su không bị trù dập”. Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su ra lệnh cho báo Cao Su ngày 15 tháng 9 năm 1986 phải đăng 2 văn bản “để cho cán bộ công nhân toàn ngành cao su được biết sự thật về việc vì sao tổng cục trưởng phải quyết định đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hoà”: Một là, công văn số 2474-ĐTR ngày 2 tháng 5 năm 1986 của tiến sĩ Phạm Song, Thứ trưởng Bộ Y tế, chủ tịch Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương xác nhận: Hội đồng Giám định Y khoa do ông làm chủ tịch gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu khoa tâm thần của cả nước đã giám định rất kỹ và nhất trí kết luận Ngô Văn Định bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Văn bản này còn ghi thêm một câu “do bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng, ông Ngô Văn Định không phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình trước pháp luật”. Câu này có tác dụng “chiêu hồi” Ngô Văn Định, lúc bấy giờ là phó giám đốc Công ty Phục vụ Đời sống, một trung tâm thực hiện những chủ trương mua bán, chia chác gian dối, nếu bị phanh phui thì anh phải liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật. Văn bản thứ hai là công văn số 859-BV.TT ngày 16-6-1986 của bác sĩ Nguyễn Quốc Hà giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, có nội dung giống như công văn số 2474-ĐTR của Thứ trưởng Bộ Y tế tiến sĩ Phạm Song. Chúng tôi nhận ra hai điều không minh bạch của hai văn bản nói trên: một là, Tổng Cục trưởng Đỗ Văn Nguyện yêu cầu Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định sau khi Ngô Văn Định đã xuất viện hơn 6 tháng, đang làm việc bình thường. Sự thật là biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương không đạt được sự “nhất trí kết luận” như ông Thứ trưởng tiến sĩ Phạm Song nói. Một thành viên rất quan trọng là giáo sư Trần Đình Xiêm, giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP. HCM (nhà thương điên Chợ Quán cũ), không đồng ý ký tên. Giáo sư Trần Đình Xiêm chủ biên một công trình nghiên cứu tâm thần học dài hơn 400 trang. Ông đã chủ trì một ban giám định gồm nhiều giáo sư tâm thần hàng đầu ở phía Nam để giám định tâm thần Ngô Văn Định, kết luận anh này không có bệnh. Ông là một bác sĩ trong hội đồng giám định y khoa của Phạm Song có điều kiện biết rõ người và việc ở ngành cao su hơn cả. Chúng tôi còn có trong tay giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp trước cuộc giám định của Phạm Song 6 tháng ghi rằng: “Không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần”. Có lẽ lúc ấy Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa không dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh, còn nay họ đã có chỗ dựa là biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch! Ngày 26-9-1986 báo Lao Động đăng bức thư của Ngô Văn Định kính gửi “Thứ trưởng Phạm Song”, có đoạn viết: “Là người có phần trách nhiệm về các vụ tiêu cực, nếu muốn cứ tiếp tục lao vào bóng tối, chắc tôi phải cảm ơn Thứ trưởng vì đã có văn bản cho tôi được miễn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng tôi không nhận sự ‘nhân đạo’ giả dối ấy, tôi quyết rời khỏi bóng tối, tố cáo tiêu cực, đem lại sự trong sạch lành mạnh trong ngành cao su”. Tôi trực tiếp đến Bệnh viện Tâm thần TP HCM xin gặp giáo sư Trần Đình Xiêm. Ông tiếp tôi rất lịch sự, nhưng xin được từ chối trả lời câu hỏi vì sao ông không ký tên vào biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch. Ông nói “Xin nhà báo thông cảm vì lý do rất tế nhị trong ngành, tôi không thể trả lời. Bởi vì tôi không ký tên, nhưng nhiều đồng nghiệp của tôi đã ký”. Biết khó thuyết phục ông lúc này, trước khi chào từ biệt, tôi chỉ nói: “Việc giáo sư từ chối ký tên vào biên bản giám định do Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Song làm chủ tịch là rất trung thực và dũng cảm. Tôi rất cảm phục. Tuy nhiên nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì vẫn không thể đẩy lùi cái ác. Biên bản đó đã giúp cho cái ác lộng hành. Tôi mong giáo sư suy nghĩ thêm vì số phận của nhiều người thấp cổ bé họng đang bị đày ải”. Ông im lặng tiễn tôi ra cửa. Hai hôm sau, bác sĩ trợ lý của ông đến trụ sở miền Nam báo Lao Động tìm tôi, cho biết: “Sau khi từ chối trả lời nhà báo, thầy Trần Đình Xiêm của chúng tôi bứt rứt không ăn không ngủ được. Thầy cử tôi lên mời nhà báo trở lại bệnh viện để thầy trả lời câu hỏi mà thầy thấy mình phải có trách nhiệm”. Giáo sư Trần Đình Xiêm mời nhiều giáo sư, bác sĩ tâm thần đã cùng ông tổ chức giám định tâm thần cho Ngô Văn Định tiếp tôi. Ông cho biết: Sau khi từ chối ký tên vào biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa do Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch, ông đã cùng các giáo sư có mặt hôm nay tổ chức một cuộc giám định suốt hai buổi đối với Ngô Văn Định. Trong cuộc giám định y khoa này, các giáo sư đã dùng các hiện tượng mà Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương dùng làm căn cứ để kết luận Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần phân liệt. Ông mời nhiều thành viên hội đồng cùng tiếp tôi và tặng báo Lao Động 2 băng cát xét ghi âm cuộc giám định ấy. Ngoài ra, ông còn cử phó giám đốc bệnh viện đến Ban Tổ chức Thành ủy TP HCM xin bản báo cáo dài 16 trang giấy A4 của chuyên viên Nguyễn Văn Đích được ban này cử đi điều tra việc cưỡng bức Ngô Văn Định. Bản báo cáo tường thuật chi tiết, phân tích rành mạch nguyên nhân và hậu quả của việc này. Bản báo cáo đặt ra nghi vấn: Vì sao sau khi Ngô Văn Định đã có giấy xuất viện ghi là “không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần” và anh đã làm việc bình thường 6 tháng, mà sau đó Tổng cục Cao su lại tổ chức để Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định bệnh tâm thần? Chuyên viên Nguyễn Văn Đích nhận xét “nhiều kết luận của hội đồng giám định y khoa trung ương có tính áp đặt, không khách quan”. Các giáo sư đều cho rằng bản báo cáo của chuyên viên Nguyễn Văn Đích có giá trị khoa học rất cao. Trên cơ sở các tài liệu đã có, tôi viết một bài báo bác bỏ biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Biên bản này đã giúp cho lãnh đạo ngành cao su che giấu bộ mặt gian trá và bào chữa hành động tàn bạo của họ. Rất tiếc, tổng biên tập Xuân Cang không đồng ý đăng bài này. Ông cho rằng: Cuộc chiến với lãnh đạo Tổng cục Cao su đang hồi quyết liệt, không nên mở thêm một trận chiến khác, đối đầu với một lực lượng gồm nhiều giáo sư tiến sĩ khoa học hàng đầu của cả nước (!) Tuy vậy, ông đồng ý cho chúng tôi tiếp tục điều tra tình trạng tiêu cực tham nhũng ở toàn ngành cao su. Sự nhân nhượng của ông Xuân Cang đã đưa Phạm Song sau đó vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản khóa 7, thăng lên ghế Bộ trưởng Y tế, được phong thầy thuốc nhân dân, leo lên viện sĩ viện Hàn lâm Liên bang Nga, đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh. Chỗ yếu chí mạng của Phạm Song và Hội đồng Giám định Y khoa của ông ta là sự giả dối: Ngô Văn Định, người mà họ kết luận điên khùng đang minh mẫn kết tội họ! Kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa do giáo sư Trần Đình Xiêm chủ trì có đủ căn cứ khoa học bác bỏ họ. Tiếc thay, trong chế độ toàn trị không có chỗ để làm điều đó. Báo Lao Động số 39, đăng bài viết của tôi, tựa đề “Không thể để công nhân cao su sống như thế” dẫn chứng tình trạng: Các tiêu chuẩn gạo, thịt, dầu thắp sáng, thuốc chữa bệnh của công nhân đều bị cắt xén. Hầu hết cán bộ công nhân ngành cao su đang phải sống trong nhà tranh dột nát. Ban Y tế Tổng cục Cao su nhiều năm bán thuốc cấp theo tiêu chuẩn của công nhân để lập quỹ đen. Bài báo kết luận: Chính các tổ chức được gọi là “phục vụ đời sống” của Tổng cục Cao su mới thực sự mắc bệnh tâm thần phân liệt! Tiếp theo báo đăng bài “Cây cao su kêu cứu” của Minh Phương. Bài báo nêu những hành vi tiêu cực đang làm cho cây cao su ngày càng ốm yếu: Nạn buôn bán phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật; tổ chức chăm sóc vườn cây không đúng quy trình kỹ thuật. Tuần kế tiếp báo đăng bài “Sự lộng hành của một giám đốc”, nói về “ông trời con” ở công ty cao su Chư Pa. Sau mấy bài báo này, tôi được điện thoại của ông Trần Bạch Đằng mời tới nhà riêng để “bàn chuyện cao su”. Tôi đề nghị, sẽ đến cùng với một phóng viên chuyên trách theo dõi ngành cao su. Ông không đồng ý: “Cậu nên đến một mình thôi, chúng mình nói chuyện cho thoải mái”. Khi tôi tới, ông đã đứng đợi sẵn trước cổng sau nhà ở đầu đường Phan Kế Bính, trong tay có cầm mấy tờ báo Lao Động. Ông đưa tôi vào phòng khách, bắt đầu câu chuyện: “Anh Sáu Dân tức đồng chí Võ Văn Kiệt mới hỏi mình có nắm được vụ Tư Nguyện trên báo Lao Động không. Mình bảo, theo tôi biết, thì vụ này do Tống Văn Công chủ trì. Mình hứa sẽ gọi hỏi cậu cho rõ. Ngày hôm qua, Tư Nguyện tới nhà mình cầu cứu. Chắc cậu chưa biết, Tư Nguyện thời chống Mỹ là chỉ huy đội bảo vệ cơ quan Trung ương Cục miền Nam. Như vậy có thể coi anh ta là cấp dưới của mình. Tư Nguyện tha thiết yêu cầu mình viết bài phản bác loạt bài của báo Lao Động. Mình đã được Tư Nguyện cung cấp nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Chắc cậu cũng thấy, nếu như tớ ‘xuất chiêu’ thì có thể cán cân sẽ chao đảo, gây bất lợi cho các cậu”. Tôi quen biết ông Trần Bạch Đằng từ năm 1952, khi ông là chủ bút báo Nhân Dân Miền Nam còn tôi là cộng tác viên tích cực của báo này. Về mối quan hệ với tôi, ông Trần Bạch Đằng có kể trong hồi ký “Nhớ một thời làm báo Nhân Dân” (Nhà XBCTQG, 1996, trang 61). Do đó tôi thẳng thắn nói với ông: “Nếu anh viết bài thì chỉ có hại cho uy tín của anh thôi, chứ cán cân không thể chao đảo. Bởi vì trong tay tôi đang có: 1 – Giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp tháng 11 năm 1985, tức là sau 6 tháng nhốt Ngô Văn Định trong phòng bệnh có chấn song sắt để theo dõi. Giấy này ghi: “Không thấy bất cứ hiện tượng nào của bệnh tâm thần”. Lúc này, chưa có bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương, cho nên ông giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa chưa dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh. 2 – Chúng tôi có một băng ghi âm do ông Vũ Lăng, trưởng Ban Thanh tra của Tổng cục Cao su ghi lại cuộc hỏi đáp giữa ông với Ngô Văn Định qua song sắt của gian phòng nhốt bệnh nhân tâm thần. Ngô Văn Định đã trả lời rất rành mạch các câu hỏi của ông Vũ Lăng. Xen vào băng ghi âm này còn có tiếng của phát thanh viên “Đài phát thanh Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa”. 3 – Một băng ghi âm ý kiến nhận xét của các bác sĩ và y tá Trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định, tất cả đều cho rằng, theo kinh nghiệm nhiều năm điều trị bệnh nhân tâm thần, họ đoan chắc rằng, Ngô Văn Định bị trù dập chứ không hề có bệnh tâm thần. 4 – Hàng trăm thư, kiến nghị của đảng viên, cán bộ, công nhân Tổng cục Cao su cung cấp nhiều chứng cứ tiêu cực, tham nhũng rất lớn ở các đồn điền cao su. 5 – Bản báo cáo dài 16 trang của chuyên viên Nguyễn Văn Đích thực hiện theo chỉ thị của Ban Thường vụ Thành ủy TP HCM 6 – Hai băng ghi âm cuộc giám định y khoa đối với Ngô Văn Định do giáo sư Trần đ...
16 views ·