ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45) Hồi ký Tống Văn Công Khi ngòi bút chạm vào quyền lực Mấy chục năm đấu tranh chống tham nhũng của báo chí cách mạng Việt Nam trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có cuộc đấu tranh trên báo Lao Động đối với ban lãnh đạo Tổng cục Cao su đứng đầu là ủy viên Trung ương Đảng, tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện là giành được thắng lợi. Không phải các nhà báo làm vụ này tài giỏi hơn những đồng nghiệp ở các khu khác mà chỉ vì vụ này bắt đầu ngay sau đại hội 6 năm 1986 khi mà luồng gió dân chủ sau “đổi mới” đang mạnh và các nhà lãnh đạo cộng sản chưa bị hoảng sợ bởi sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu. Tôi về cơ quan miền Nam báo Lao Động đúng lúc phóng viên Trương Đăng Lân phát hiện chuyện trù dập rất man rợ ở Tổng cục Cao su: Đầu năm 1985, đoàn thanh tra nhà nước đến thanh tra Tổng cục Cao su, phát hiện nhiều “phi vụ” mua bán, ăn chia bất hợp pháp mà đầu mối quan trọng là Công ty Phục vụ Đời sống do tổng cục trưởng trực tiếp chỉ đạo. Đoàn thanh tra dành nhiều thời gian làm việc riêng với Ngô Văn Định phó giám đốc công ty này. Ông Đỗ Văn Nguyện, ủy viên Trung ương Đảng, tổng cục trưởng Tổng cục Cao su được mật báo là Ngô Văn Định đã bị đoàn thanh tra khuất phục, đã cung khai nhiều việc làm sai trái mà người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là ông. Đỗ Văn Nguyện nghĩ cách vô hiệu hóa bản kết luận của đoàn thanh tra dựa vào lời khai của Ngô Văn Định. Ông ta cho rằng cách tốt nhất là phải biến Ngô Văn Định thành bệnh nhân tâm thần! Vậy là một kế hoạch cưỡng bức định được tổ chức tỉ mỉ: Trước hết, trưởng ban y tế Tổng cục Cao su, bác sĩ Đoàn Huỳnh làm tờ trình chi tiết gửi lên Tổng Cục trưởng, kể ra rất nhiều hiện tượng điên khùng của Ngô Văn Định và cho rằng “một người có bệnh tâm thần mà buộc phải đảm trách công việc kinh doanh, suốt ngày tính toán lo toan thì chẳng những sẽ làm hư hỏng công việc, có nguy cơ vi phạm pháp luật mà còn có hại cho sức khỏe của anh ta”. Ban y tế kiến nghị: “Do người bệnh tâm thần không bao giờ nhận mình có bệnh, cho nên cần phải tổ chức cưỡng bức anh ta đi chữa bệnh”. Căn cứ đề nghị của trưởng ban y tế, ngày 18-5-1985, tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện ký quyết định tổ chức đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Để che mắt cán bộ cơ quan tổng cục, bộ máy thực hiện việc cưỡng chế này huy động nhiều cán bộ đảng viên trung, cao cấp như phó vụ trưởng vụ tổ chức, phó trưởng ban bảo vệ, trưởng ban y tế và nhiều bác sĩ. Ngày 18 -5-1985, như mọi ngày, Ngô Văn Định đang làm việc tại văn phòng phó giám đốc công ty thì trưởng ban y tế Đoàn Huỳnh tới đọc quyết định của Tổng Cục trưởng. Thừa lệnh Tổng Cục trưởng, ông Huỳnh yêu cầu Ngô Văn Định tạm ngưng công việc để đi khám bệnh. Đứng sau Đoàn Huỳnh là phó ban bảo vệ có mang súng và nhiều vệ sĩ mang theo dây trói. Ngô Văn Định kể: “Họ bảo tôi chích hai mũi thuốc cho khỏe. Chích xong tôi liệm đi, đến 7 tiếng đồng hồ sau mới tỉnh dậy thì thấy mình bị nhốt trong gian phòng có chấn song sắt cùng với bốn bệnh nhân tâm thần”. Các bác sĩ, y tá của Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định rất ngạc nhiên khi được trưởng ban y tế, bác sĩ Đoàn Huỳnh nhờ họ ghi tên những ai đến thăm Ngô Văn Định. Do đó, anh em rất chú ý quan sát bệnh nhân đặc biệt này. Sau một ngày tiếp xúc, không thấy anh Định có biểu hiện của người bệnh tâm thần, lại nghe anh kể chuyện mình bị cưỡng bức, họ khuyên anh nên giấu số thuốc được cấp, để sau này làm chứng cứ cho cuộc đấu tranh. Nhờ sự giúp đỡ đó, anh định giấu được một bọc to các thứ thuốc Aminazin, Séduxen. Do việc cưỡng chế được tổ chức với quy mô và cách thực hiện không bình thường, khiến dư luận trong Tổng cục Cao su đặt ra nhiều nghi vấn: Tại sao Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần nặng mà lâu nay mọi người tiếp xúc với anh, cả những nhân viên dưới quyền anh không ai nhận thấy? Tại sao việc đưa một bệnh nhân đi bệnh viện mà Tổng Cục trưởng phải ra quyết định? Tại sao không đưa bệnh nhân đi đúng tuyến là Bệnh viện Thống Nhất, nơi đây cũng có khoa tâm thần? Hàng trăm cán bộ nhân viên làm kiến nghị cá nhân và tập thể yêu cầu Tổng Cục trưởng ký quyết định đưa Ngô Văn Định trở về, nếu không họ sẽ tố giác với Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Ông Đỗ Văn Nguyện buộc phải ký quyết định cho Ngô Văn Định về làm việc để xoa dịu anh em. Tôi xem rất kỹ hồ sơ tài liệu, nhưng vẫn băn khoăn: Chẳng lẽ bao nhiêu người mang danh nghĩa rất khả kính, chỉ vì muốn che dấu sự thật mà nhẫn tâm dùng thủ đoạn cực kỳ tàn bạo đối với đồng chí của mình? Tôi nói với phóng viên Trương Đăng Lân: Trước khi quyết định đưa vụ này lên báo, mình muốn được gặp trực tiếp những anh chị có vai trò chủ chốt đứng ra tố cáo. Bởi nhiều năm làm báo đã cho mình bài học kinh nghiệm (hình như cũng đã được các bậc thầy đúc kết thành bài giảng cho nghề báo là: “Không có nguồn tin nào không đáng cho nhà báo phải nghi ngờ. Nên nhớ rằng người cung cấp nguồn tin có thể sử dụng nhà báo cho mục đích của họ, cũng ngang như nhà báo sử dụng họ cung cấp tư liệu cho bài viết của mình. Thông thường, nhà báo tìm nguồn tin ở các đối tượng: Kẻ chống đối, kẻ thua cuộc, nạn nhân, các chuyên gia, cơ quan chức năng. Ở trường hợp này, những người chúng ta định viết bài chỉ trích, phê phán đang là những cán bộ cách mạng cao cấp, ‘mũ cao áo dài’. Do đó mình nghĩ rằng, chúng ta phải có những người ‘đạo cao, đức trọng’ dám đứng ra đương đầu với cường quyền, cung cấp và bảo trợ nguồn tin”. Hôm sau, Trương Đăng Lân đưa Ngô Văn Định và 5 cán bộ Tổng cục Cao su đến cơ quan miền Nam báo Lao Động. Trong số đó, tôi đặc biệt chú ý hai người thuộc lớp cán bộ cách mạng đàn anh là ông Nguyễn Gia Đằng, cán bộ tiền khởi nghĩa, hiện là phó trưởng ban thi đua của Tổng cục Cao su mà trưởng ban là Tổng Cục trưởng (sau này, Nguyễn Gia Đằng sang Campuchia làm cố vấn an ninh cho các ông Heng Sam ring, Chia xim). Người thứ hai là ông Vũ Lăng, nguyên tổng biên tập báo Hải Phòng Kiến Thiết (nơi có cô nữ phóng viên Nguyễn Thụy Nga, tức Bảy Vân vợ hai của tổng bí thư Lê Duẩn) đang làm trưởng ban thanh tra của Tổng cục Cao su. Cả hai ông có phong thái đỉnh đạc, khoan hòa, trình bày và phân tích sự việc rành mạch, khách quan. Hai người này đã cho tôi niềm tin rằng, họ chỉ vì sự thật và lẽ phải mà đứng ra. Bây giờ là cách đưa lên báo bài đầu tiên như thế nào cho có sức thuyết phục cao, gây tiếng vang lớn. Tôi cho rằng, nên dùng nguyên văn lá thư của chính Ngô Văn Định đứng ra tố giác việc mình bị cưỡng bức hơn là bài viết của phóng viên. Ngày 7 tháng 8 năm 1986, báo Lao Động số 32 đăng lá thư tố giác của Ngô Văn Định. Bài báo chẳng những chấn động trong ngành cao su mà còn gây xúc động nhân dân cả nước. Đây là lần đầu tiên, báo chí tố cáo một ủy viên Trung ương Đảng bịt miệng người chống tiêu cực một cách thô bạo và có tổ chức. Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện phản ứng quyết liệt, ra lệnh toàn ngành cao su phải thu hồi tờ báo Lao Động số 32, không để cán bộ công nhân đọc. Ông đích thân gọi điện cho chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Phạm Thế Duyệt (cơ quan chủ quản của báo Lao Động): “Báo Lao Động đã đăng bài của một kẻ đang mắc bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Anh ta đang là con rối trong tay những kẻ bất mãn. Bài báo này có tác động rất xấu, gây mất ổn định trong toàn ngành cao su, phá hoại sản xuất và đời sống của hàng vạn cán bộ công nhân cao su. Quan trọng hơn là nó xúc phạm một ủy viên Trung ương Đảng, cũng tức là bôi nhọ Đảng. Tôi đề nghị đồng chí chủ tịch ra lệnh cho báo Lao Động ngưng ngay việc đưa tin sai trái về vụ này, đồng thời mau chóng có bài viết đính chính theo quan điểm của Đảng Đoàn Tổng cục Cao su”. Chủ tịch Phạm Thế Duyệt hứa sẽ nghiêm túc xem xét vấn đề này. Sau đó, ông nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo tình trạng tiêu cực của ngành cao su và nguyên nhân vụ cưỡng chế Ngô Văn định. Tuy đã nghe tổng biên tập Xuân Cang báo cáo, nhưng chủ tịch Phạm Thế Duyệt vẫn trực tiếp gọi điện cho tôi, hỏi “Anh Công có tin chắc bài này viết đúng sự thật không?” Tôi đáp: “Tôi tin chắc và xin chịu trách nhiệm”. Ông nói: “Chắc anh cũng đã lường trước là lần này các anh phải đương đầu với một thế lực rất mạnh, cho nên phải hết sức thận trọng, kiểm tra kỹ từng chi tiết trước khi đưa lên báo”. Cuối cùng ông hỏi: “Anh Công còn có điều gì lo ngại không?” Tôi đáp thật lòng: “Chúng tôi đã nhận thấy mình đang phải đương đầu với một đối tượng khổng lồ, những nguồn tin thu được cũng khổng lồ và đầy mâu thuẫn. Chúng tôi không chỉ là một bài điều tra mà phải lập một kế hoạch chi tiết cho một loạt bài điều tra, chuyện nào trước, chuyện nào sau, phân công anh em chia nhau mà làm. Đồng thời chúng tôi còn lường trước các trở ngại, các bước ngoặt bất ngờ có thể xảy ra. Thú thật, trước khi bắt đầu vụ này, chúng tôi lo nhất là tổng biên tập rụt rè trước một đối tượng đầy quyền lực và lo lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động không ủng hộ. Còn bây giờ chúng tôi đã yên tâm”. Những số báo sau đó, chúng tôi đưa liên tiếp ý kiến cán bộ, công nhân ngành cao su hưởng ứng thư tố cáo của Ngô Văn Định và cung cấp tài liệu phanh phui nhiều tiêu cực ở các công ty cao su nơi họ đang làm việc. Phó ban thi đua Tổng cục Cao su Nguyễn Gia Đằng gửi đăng báo một lá thư nặng ký: xác nhận tố cáo của Ngô Văn Định và các cán bộ công nhân toàn ngành là đúng sự thật: “Tất cả những bê bối tiêu cực của các vị trong ban lãnh đạo Tổng cục Cao su mà báo Lao Động đã nêu ra là có thật. Tôi xin đề nghị các cơ quan cấp trên của Đảng và nhà nước chỉ đạo các ban ngành chức năng vào cuộc, làm rõ đúng, sai để giúp cho những người đấu tranh chống tiêu cực ở ngành cao su không bị trù dập”. Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su ra lệnh cho báo Cao Su ngày 15 tháng 9 năm 1986 phải đăng 2 văn bản “để cho cán bộ công nhân toàn ngành cao su được biết sự thật về việc vì sao tổng cục trưởng phải quyết định đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hoà”: Một là, công văn số 2474-ĐTR ngày 2 tháng 5 năm 1986 của tiến sĩ Phạm Song, Thứ trưởng Bộ Y tế, chủ tịch Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương xác nhận: Hội đồng Giám định Y khoa do ông làm chủ tịch gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu khoa tâm thần của cả nước đã giám định rất kỹ và nhất trí kết luận Ngô Văn Định bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng. Văn bản này còn ghi thêm một câu “do bị bệnh tâm thần phân liệt thể hoang tưởng, ông Ngô Văn Định không phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình trước pháp luật”. Câu này có tác dụng “chiêu hồi” Ngô Văn Định, lúc bấy giờ là phó giám đốc Công ty Phục vụ Đời sống, một trung tâm thực hiện những chủ trương mua bán, chia chác gian dối, nếu bị phanh phui thì anh phải liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật. Văn bản thứ hai là công văn số 859-BV.TT ngày 16-6-1986 của bác sĩ Nguyễn Quốc Hà giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, có nội dung giống như công văn số 2474-ĐTR của Thứ trưởng Bộ Y tế tiến sĩ Phạm Song. Chúng tôi nhận ra hai điều không minh bạch của hai văn bản nói trên: một là, Tổng Cục trưởng Đỗ Văn Nguyện yêu cầu Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định sau khi Ngô Văn Định đã xuất viện hơn 6 tháng, đang làm việc bình thường. Sự thật là biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương không đạt được sự “nhất trí kết luận” như ông Thứ trưởng tiến sĩ Phạm Song nói. Một thành viên rất quan trọng là giáo sư Trần Đình Xiêm, giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP. HCM (nhà thương điên Chợ Quán cũ), không đồng ý ký tên. Giáo sư Trần Đình Xiêm chủ biên một công trình nghiên cứu tâm thần học dài hơn 400 trang. Ông đã chủ trì một ban giám định gồm nhiều giáo sư tâm thần hàng đầu ở phía Nam để giám định tâm thần Ngô Văn Định, kết luận anh này không có bệnh. Ông là một bác sĩ trong hội đồng giám định y khoa của Phạm Song có điều kiện biết rõ người và việc ở ngành cao su hơn cả. Chúng tôi còn có trong tay giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp trước cuộc giám định của Phạm Song 6 tháng ghi rằng: “Không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần”. Có lẽ lúc ấy Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa không dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh, còn nay họ đã có chỗ dựa là biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch! Ngày 26-9-1986 báo Lao Động đăng bức thư của Ngô Văn Định kính gửi “Thứ trưởng Phạm Song”, có đoạn viết: “Là người có phần trách nhiệm về các vụ tiêu cực, nếu muốn cứ tiếp tục lao vào bóng tối, chắc tôi phải cảm ơn Thứ trưởng vì đã có văn bản cho tôi được miễn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng tôi không nhận sự ‘nhân đạo’ giả dối ấy, tôi quyết rời khỏi bóng tối, tố cáo tiêu cực, đem lại sự trong sạch lành mạnh trong ngành cao su”. Tôi trực tiếp đến Bệnh viện Tâm thần TP HCM xin gặp giáo sư Trần Đình Xiêm. Ông tiếp tôi rất lịch sự, nhưng xin được từ chối trả lời câu hỏi vì sao ông không ký tên vào biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương do tiến sĩ Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch. Ông nói “Xin nhà báo thông cảm vì lý do rất tế nhị trong ngành, tôi không thể trả lời. Bởi vì tôi không ký tên, nhưng nhiều đồng nghiệp của tôi đã ký”. Biết khó thuyết phục ông lúc này, trước khi chào từ biệt, tôi chỉ nói: “Việc giáo sư từ chối ký tên vào biên bản giám định do Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Song làm chủ tịch là rất trung thực và dũng cảm. Tôi rất cảm phục. Tuy nhiên nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì vẫn không thể đẩy lùi cái ác. Biên bản đó đã giúp cho cái ác lộng hành. Tôi mong giáo sư suy nghĩ thêm vì số phận của nhiều người thấp cổ bé họng đang bị đày ải”. Ông im lặng tiễn tôi ra cửa. Hai hôm sau, bác sĩ trợ lý của ông đến trụ sở miền Nam báo Lao Động tìm tôi, cho biết: “Sau khi từ chối trả lời nhà báo, thầy Trần Đình Xiêm của chúng tôi bứt rứt không ăn không ngủ được. Thầy cử tôi lên mời nhà báo trở lại bệnh viện để thầy trả lời câu hỏi mà thầy thấy mình phải có trách nhiệm”. Giáo sư Trần Đình Xiêm mời nhiều giáo sư, bác sĩ tâm thần đã cùng ông tổ chức giám định tâm thần cho Ngô Văn Định tiếp tôi. Ông cho biết: Sau khi từ chối ký tên vào biên bản của Hội đồng Giám định Y khoa do Thứ trưởng Phạm Song làm chủ tịch, ông đã cùng các giáo sư có mặt hôm nay tổ chức một cuộc giám định suốt hai buổi đối với Ngô Văn Định. Trong cuộc giám định y khoa này, các giáo sư đã dùng các hiện tượng mà Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương dùng làm căn cứ để kết luận Ngô Văn Định mắc bệnh tâm thần phân liệt. Ông mời nhiều thành viên hội đồng cùng tiếp tôi và tặng báo Lao Động 2 băng cát xét ghi âm cuộc giám định ấy. Ngoài ra, ông còn cử phó giám đốc bệnh viện đến Ban Tổ chức Thành ủy TP HCM xin bản báo cáo dài 16 trang giấy A4 của chuyên viên Nguyễn Văn Đích được ban này cử đi điều tra việc cưỡng bức Ngô Văn Định. Bản báo cáo tường thuật chi tiết, phân tích rành mạch nguyên nhân và hậu quả của việc này. Bản báo cáo đặt ra nghi vấn: Vì sao sau khi Ngô Văn Định đã có giấy xuất viện ghi là “không thấy có hiện tượng của bệnh tâm thần” và anh đã làm việc bình thường 6 tháng, mà sau đó Tổng cục Cao su lại tổ chức để Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương giám định bệnh tâm thần? Chuyên viên Nguyễn Văn Đích nhận xét “nhiều kết luận của hội đồng giám định y khoa trung ương có tính áp đặt, không khách quan”. Các giáo sư đều cho rằng bản báo cáo của chuyên viên Nguyễn Văn Đích có giá trị khoa học rất cao. Trên cơ sở các tài liệu đã có, tôi viết một bài báo bác bỏ biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Biên bản này đã giúp cho lãnh đạo ngành cao su che giấu bộ mặt gian trá và bào chữa hành động tàn bạo của họ. Rất tiếc, tổng biên tập Xuân Cang không đồng ý đăng bài này. Ông cho rằng: Cuộc chiến với lãnh đạo Tổng cục Cao su đang hồi quyết liệt, không nên mở thêm một trận chiến khác, đối đầu với một lực lượng gồm nhiều giáo sư tiến sĩ khoa học hàng đầu của cả nước (!) Tuy vậy, ông đồng ý cho chúng tôi tiếp tục điều tra tình trạng tiêu cực tham nhũng ở toàn ngành cao su. Sự nhân nhượng của ông Xuân Cang đã đưa Phạm Song sau đó vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản khóa 7, thăng lên ghế Bộ trưởng Y tế, được phong thầy thuốc nhân dân, leo lên viện sĩ viện Hàn lâm Liên bang Nga, đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh. Chỗ yếu chí mạng của Phạm Song và Hội đồng Giám định Y khoa của ông ta là sự giả dối: Ngô Văn Định, người mà họ kết luận điên khùng đang minh mẫn kết tội họ! Kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa do giáo sư Trần Đình Xiêm chủ trì có đủ căn cứ khoa học bác bỏ họ. Tiếc thay, trong chế độ toàn trị không có chỗ để làm điều đó. Báo Lao Động số 39, đăng bài viết của tôi, tựa đề “Không thể để công nhân cao su sống như thế” dẫn chứng tình trạng: Các tiêu chuẩn gạo, thịt, dầu thắp sáng, thuốc chữa bệnh của công nhân đều bị cắt xén. Hầu hết cán bộ công nhân ngành cao su đang phải sống trong nhà tranh dột nát. Ban Y tế Tổng cục Cao su nhiều năm bán thuốc cấp theo tiêu chuẩn của công nhân để lập quỹ đen. Bài báo kết luận: Chính các tổ chức được gọi là “phục vụ đời sống” của Tổng cục Cao su mới thực sự mắc bệnh tâm thần phân liệt! Tiếp theo báo đăng bài “Cây cao su kêu cứu” của Minh Phương. Bài báo nêu những hành vi tiêu cực đang làm cho cây cao su ngày càng ốm yếu: Nạn buôn bán phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật; tổ chức chăm sóc vườn cây không đúng quy trình kỹ thuật. Tuần kế tiếp báo đăng bài “Sự lộng hành của một giám đốc”, nói về “ông trời con” ở công ty cao su Chư Pa. Sau mấy bài báo này, tôi được điện thoại của ông Trần Bạch Đằng mời tới nhà riêng để “bàn chuyện cao su”. Tôi đề nghị, sẽ đến cùng với một phóng viên chuyên trách theo dõi ngành cao su. Ông không đồng ý: “Cậu nên đến một mình thôi, chúng mình nói chuyện cho thoải mái”. Khi tôi tới, ông đã đứng đợi sẵn trước cổng sau nhà ở đầu đường Phan Kế Bính, trong tay có cầm mấy tờ báo Lao Động. Ông đưa tôi vào phòng khách, bắt đầu câu chuyện: “Anh Sáu Dân tức đồng chí Võ Văn Kiệt mới hỏi mình có nắm được vụ Tư Nguyện trên báo Lao Động không. Mình bảo, theo tôi biết, thì vụ này do Tống Văn Công chủ trì. Mình hứa sẽ gọi hỏi cậu cho rõ. Ngày hôm qua, Tư Nguyện tới nhà mình cầu cứu. Chắc cậu chưa biết, Tư Nguyện thời chống Mỹ là chỉ huy đội bảo vệ cơ quan Trung ương Cục miền Nam. Như vậy có thể coi anh ta là cấp dưới của mình. Tư Nguyện tha thiết yêu cầu mình viết bài phản bác loạt bài của báo Lao Động. Mình đã được Tư Nguyện cung cấp nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có biên bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương. Chắc cậu cũng thấy, nếu như tớ ‘xuất chiêu’ thì có thể cán cân sẽ chao đảo, gây bất lợi cho các cậu”. Tôi quen biết ông Trần Bạch Đằng từ năm 1952, khi ông là chủ bút báo Nhân Dân Miền Nam còn tôi là cộng tác viên tích cực của báo này. Về mối quan hệ với tôi, ông Trần Bạch Đằng có kể trong hồi ký “Nhớ một thời làm báo Nhân Dân” (Nhà XBCTQG, 1996, trang 61). Do đó tôi thẳng thắn nói với ông: “Nếu anh viết bài thì chỉ có hại cho uy tín của anh thôi, chứ cán cân không thể chao đảo. Bởi vì trong tay tôi đang có: 1 – Giấy xuất viện của Ngô Văn Định do Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cấp tháng 11 năm 1985, tức là sau 6 tháng nhốt Ngô Văn Định trong phòng bệnh có chấn song sắt để theo dõi. Giấy này ghi: “Không thấy bất cứ hiện tượng nào của bệnh tâm thần”. Lúc này, chưa có bản kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa Trung ương, cho nên ông giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa chưa dám liều lĩnh ghi Ngô Văn Định có bệnh. 2 – Chúng tôi có một băng ghi âm do ông Vũ Lăng, trưởng Ban Thanh tra của Tổng cục Cao su ghi lại cuộc hỏi đáp giữa ông với Ngô Văn Định qua song sắt của gian phòng nhốt bệnh nhân tâm thần. Ngô Văn Định đã trả lời rất rành mạch các câu hỏi của ông Vũ Lăng. Xen vào băng ghi âm này còn có tiếng của phát thanh viên “Đài phát thanh Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa”. 3 – Một băng ghi âm ý kiến nhận xét của các bác sĩ và y tá Trực tiếp điều trị cho Ngô Văn Định, tất cả đều cho rằng, theo kinh nghiệm nhiều năm điều trị bệnh nhân tâm thần, họ đoan chắc rằng, Ngô Văn Định bị trù dập chứ không hề có bệnh tâm thần. 4 – Hàng trăm thư, kiến nghị của đảng viên, cán bộ, công nhân Tổng cục Cao su cung cấp nhiều chứng cứ tiêu cực, tham nhũng rất lớn ở các đồn điền cao su. 5 – Bản báo cáo dài 16 trang của chuyên viên Nguyễn Văn Đích thực hiện theo chỉ thị của Ban Thường vụ Thành ủy TP HCM 6 – Hai băng ghi âm cuộc giám định y khoa đối với Ngô Văn Định do giáo sư Trần đ...

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (44) Hồi ký Tống Văn Công Bị Nguyễn Văn linh phản đòn Điều ông Mai Văn Bảy dự báo đã xảy ra: Ông Nguyễn Văn Linh đã bắt thóp được tôi. Hôm đó, tôi đang dự cuộc họp do Ban Tuyên giáo Thành ủy triệu tập thì anh Năm Dũng trưởng phòng báo chí của Ban Tuyên giáo đến rỉ tai: báo Công Nhân Giải Phóng vừa báo cáo, cách đó nửa giờ cô vợ tôi đến tòa báo làm ầm ĩ, tố cáo tôi có quan hệ bất chính với phóng viên Mai Hiền. Anh Năm Dũng vừa lo cho việc chung của hệ thống báo chí thành phố vừa muốn bảo vệ cá nhân tôi, nên góp ý: “Theo mình thì Công nên viết bản kiểm điểm, nhận sai lầm và hứa chấm dứt mối quan hệ giữa hai người. Tổ chức sẽ tìm mọi cách bảo vệ Công.” Tôi trả lời vắn tắt: “Tôi đã sai vì chưa ly dị mà yêu người khác. Nhưng đây không phải là chuyện trăng gió mà là chúng tôi yêu nhau”. Anh Năm Dũng ngạc nhiên, lo lắng. Sự lo lắng của anh Năm Dũng cũng giống như nhiều người cấp trên của tôi. Bởi vì lúc này tôi kiêm nhiệm nhiều chức vụ phó ban Pháp chế Hội đồng Nhân dân Thành phố, ủy viên Thường vụ Hội Nhà báo Thành phố, ủy viên ban thường vụ như: trưởng Ban Tuyên giáo Liên hiệp Công đoàn thành phố, tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng, phó tổng biên tập phụ trách phía Nam của báo Lao Động, ủy viên Thường vụ, trưởng ban Tuyên giáo của đảng ủy cơ quan công đoàn. Ngay chiều đó tôi gửi một lá thư nhận tội đến bà Lê Thị Bạch, bí thư đảng ủy, phó chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Thành phố. Lập tức ông Mai Văn Bảy, ủy viên ban thường vụ Thành ủy, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Thành phố gọi tôi đến nhà riêng và hỏi: “Trong túi của vợ anh có cái gì chứng minh được quan hệ tình cảm của anh với phóng viên Mai Hiền không?” Tôi đáp: “Không”. Ông nói: “Vậy thì anh có điên không mà nhận tội? Chối ngay! Rồi đưa đơn ra tòa xin ly dị. Ly dị xong sẽ tính. Hiểu không?” Tôi đáp: “Tôi đã đưa thư nhận tội tới bí thư đảng ủy Chín Bạch rồi?” Ông Mai Văn bảy cười đáp: “Bà ấy đã xé vứt sọt rác rồi!” Tôi nói: “Không được! Chuyện này có nhiều người biết. Vợ tôi gửi đơn tố cáo tôi tới ông Nguyễn Văn Linh rồi. Nếu tôi chối, nhiều người không tin, họ cho là tôi hèn. Tôi không muốn dối, tôi nhận kỷ luật một cách sòng phẳng, xong, sẽ đưa đơn ly dị”. Ông Mai Văn Bảy lắc đầu. Sau này, Đinh Khắc Cần anh ruột phi công Nguyễn Thành Trung nói lại: “Mai Văn Bảy bảo, cứ tưởng thằng cha Công thông minh không ngờ quá sức cù lần!” Hôm Ban Thường vụ Liên hiệp Công đoàn và đảng ủy cơ quan kiểm thảo tôi có ông Lê Công Trung chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy đến dự. Tôi đọc bản kiểm điểm chỉ một trang giấy: Sai lầm đầu tiên của tôi là, giữa lúc thất vọng buồn chán, tôi đã lấy người mình không yêu làm vợ. Sau khi sinh con gái đầu lòng, tôi đã rất cố gắng cho cuộc sống chung vì con. Nhưng chúng tôi tính nết không hợp nhau, đến năm con gái lên hai, chịu hết nổi, tôi quyết định sống ly thân và đưa đơn xin ly dị. Thời ấy, chi bộ đảng Cộng sản rất giống giáo hội, không tán thành ly hôn. Tòa án ở miền Bắc không bao giờ xử ly hôn. Ở báo Lao Động có anh Nguyễn Thế Dân đưa đơn ly hôn 15 năm mà không được xử, phẫn uất quá anh viết lá thư tuyệt mệnh trước khi đến hồ Tây tự tử, khiến cả cơ quan tìm cứu. Trong bốn năm ly thân, nhiều lần vợ tôi năn nỉ, hứa hẹn sẽ sửa chữa tính nết. Trong bốn năm ly thân, tôi cũng có quan hệ yêu đương, nhưng khi những người yêu tôi tỏ ra không yêu con gái tôi thì tôi chia tay. Vì thương con, nên khi vợ tôi nhận lỗi, tôi dễ xiêu lòng, tái hợp. Tuy nhiên, sau khi có đứa con trai thứ hai thì vợ tôi không cần giữ ý nữa mà hằng ngày bộc lộ mọi xung khắc trái chiều với tôi! Về phóng viên Mai Hiền, tức vợ tôi hiện nay cùng làm việc trong cơ quan báo, được nghe các đồng nghiệp kể về tình trạng gia đình tôi, cô đã đem lòng thương cảm. Cô rất cố gắng tạo quan hệ tốt với các con tôi, làm cho tôi vô cùng cảm kích. Chưa ly hôn mà tôi có quan hệ yêu đương với người khác là sai. Tôi sẽ tạm dừng mối quan hệ này và xin nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào. Ông Lê Công Trung tỏ ra rất thông cảm đối với tôi, ông nói: “Các đồng chí đã biết rõ tình trạng gia đình của đồng chí Công không yên ấm, đã từng ly thân tới bốn năm là quá nghiêm trọng, sao cố ép phải sống chung? Nếu sớm ly dị thì không bị vấp váp thế này”. Sau này tòa xử cho tôi ly hôn dễ dàng (không qua hai lần hòa giải như quy định thời đó) là vì tôi đề nghị tòa tham khảo ý kiến của Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh nơi vợ tôi công tác và thành ủy thành phố Hồ Chí Minh nơi quản lý tôi để biết rõ sự việc. Khi xét khuyết điểm của tôi, hầu như những người có trách nhiệm không có ai nỡ chọn một hình thức kỷ luật nào đối với tôi. Nhưng ông Nguyễn Văn Linh có ý kiến hoàn toàn khác. Ông nói: “Cơm no bò cưỡi. Đã ‘gái’ thì cần phải có ‘tiền’. Do đó phải tổ chức ngay một cuộc thanh tra để kết luận đã có thâm làm thế nào, phải khởi tố cần thì cho thích đáng”. Đó là lời của quyền lực. Dù không đồng tình, nhưng Liên hiệp Công đoàn Thành phố phải phối hợp với Sở Thông tin Văn hóa tổ chức một đoàn thanh tra báo Công Nhân Giải Phóng. Sau hơn một tháng, đoàn thanh tra kết luận: mọi thu chi đều minh bạch, đúng chính sách, công bằng. Thế nhưng ý kiến chỉ đạo của bí thư Nguyễn Văn Linh khai trừ Đảng, cách chức vẫn không được rút lại! Dư luận so sánh mức sai phạm của tôi với sai phạm của ông T.N., giám đốc một cơ quan để cho rằng có sự bất công quá đáng trong việc xử lý kỷ luật. Ông T.N. gia đình yên ấm, lại bí mật sống như vợ chồng với người khác, làm cho người vợ phẫn uất đâm đầu vào xe hơi. Nhưng ông chỉ bị phê bình, vì thời kỳ ở trong rừng ông này thân cận với Nguyễn Văn Linh. Dù không muốn thi hành kỷ luật tôi, nhưng không ai dám nói ra, do đó, việc bị “đình chỉ công tác chờ xử lý” của tôi trở thành vô thời hạn. Chờ đợi gần một năm, tôi phải lên gặp ông Lê Công Trung xin được nhận kỷ luật với hình thức cách chức, để tôi sớm ổn định công tác và cuộc sống. Tôi cảm thấy ông Lê Công Trung dù như trút được gánh nặng, nhưng vẫn không đành: “Đồng chí không thấy như vậy là quá nặng sao?” Tôi đáp: “Trước đây, có lúc tôi đã được giao một trọng trách, nhưng Đảng đã giao thêm một chức vụ nữa, rồi hai chức vụ nữa, tôi vẫn không từ chối. Thế thì nay tôi phạm khuyết điểm, bị cách chức sao lại không muốn nhận”. Ngay hôm sau, Ban Thường vụ Thành ủy họp và ra quyết định cách chức tôi do chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Lê Công Trung ký. Sau khi đã có quyết định cách chức tức là vụ việc đã được xử lý xong, tôi gửi thư cho anh Xuân Cang tổng biên tập báo Lao Động xin anh cho tôi được trở về báo Lao Động. Anh Xuân Cang trả lời rất nhanh, anh nói nếu năm 1983, Công trở về báo Lao Động thì Xuân Cang phụ tá cho Công, còn nay tình thế đảo ngược, Công phải ra Hà Nội làm phụ tá cho Xuân Cang. Trả lời anh, tôi nói, mình chưa ra Hà Nội được vì còn phải làm hai việc: ly hôn và cưới vợ. Một tuần sau, ông Phạm Thế Duyệt, chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, vào đề nghị thành ủy cho tôi được chuyển công tác về cơ quan báo Lao Động ở miền Nam. Ông Phạm Văn Hùng (cha của nhà báo Phạm Chí Dũng hiện nay đang là Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam) mời tôi đến góp ý: “Lãnh đạo thành phố hiện nay đều quý anh, muốn anh ở lại làm việc. Chúng tôi chọn cho anh bốn nơi: một là nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố, hai là Ban Tuyên huấn Thành ủy, ba là Đài Phát thanh, bốn là báo Sài Gòn Giải Phóng. Anh về một trong bốn nơi đó làm chuyên viên, sau một thời gian sẽ tính tiếp”. Tôi nói: “Tôi đã ly dị, nhường nhà ở cho vợ con, đang ở nhờ trong trụ sở báo Lao Động. Nếu tôi không về làm việc cho báo Lao Động thì không thể ở trong nhà của người ta. Vậy trước khi nhận công tác ở thành phố, tôi xin được một chỗ ở”. Ông Phạm Văn Hùng đồng ý với yêu cầu chính đáng đó. Nhưng ông Mười Hải giám đốc Sở Nhà đất không đồng ý, ông nói: “Ly dị thì chia nhà ra mà ở chứ sao phải cấp nhà mới?” Không giải quyết được yêu cầu của tôi, tháng sáu năm 1986, ông Phạm Văn Hùng ký quyết định cho tôi chuyển công tác về báo Lao Động. Tổng biên tập Xuân Cang thông báo miệng (không có ký quyết định) ban biên tập giao cho tôi phụ trách cơ quan miền Nam của báo Lao Động. Lúc này, ông Nguyễn Văn Linh đã được điều động ra Hà Nội làm thường trực Ban Bí thư Trung ương. Dịp kỷ niệm thành lập Đài Phát thanh, ông được mời vào dự. Tại đây, gặp anh Nguyễn Nam Lộc người thay tôi làm tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng, ông hỏi: “Cái tay Tống Văn Công bây giờ làm gì?” Anh Nam Lộc cho biết tôi đã chuyển sang phụ trách cơ quan miền Nam của báo Lao Động. Ông Linh cau mày: “Lại đá lên à?” Tôi trách anh Nam Lộc, phải chi anh đừng nói tôi là phụ trách, rồi đây tôi sẽ còn mệt với ông ấy! Một hôm với tư cách phóng viên tôi đi bộ theo đường Nguyễn Du vào cổng bên hông tới hội trường thống nhất Dinh Độc Lập để dự cuộc họp do ông Võ Văn Kiệt chủ trì, anh Lê Văn Triết (sau này là bộ trưởng bộ thương mại) lúc đó là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố nhìn thấy tôi, anh cho dừng xe hơi, xuống đi bộ với tôi, nói: “Hôm xét kỷ luật mày tao có dự. Chúng ta đều thấy mày không có khuyết điểm gì để kỷ luật cả! Nhưng mày cũng biết, chúng tao phải làm như vậy”. Anh Lê Văn Chiến từng là bạn cùng lớp với tôi thời trung học, chúng tôi không sửa được cách xưng hô mày tao đã quen. Tôi nói đùa: “Tao không có thắc mắc gì chuyện bị cách chức. Nhưng nghe mày nói vậy tao đâm ra bực mình, chiều nay tao sẽ gửi đơn kiện chúng mày”. Anh Triết kêu lên: “Chớ có dại. Tao nói là để mày biết mọi người thông cảm với mày. Nhưng nếu mày kiện thì mày thua nặng đấy. Mày phải biết có lúc phải im lặng, nghe chưa?” Posted on Tháng Sáu 12, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/06/12/tu-theo-cong-den-chong-cong-44-bi-nguyen-van-linh-phan-don/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45): https://www.minds.com/newsfeed/1020199026186948608?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (43): https://www.minds.com/newsfeed/1020197959254646784?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (43) Hồi ký Tống Văn Công Ông Nguyễn Văn Linh lại hỏi “Tại sao a thần phù đánh vào điển hình tiên tiến?” Đầu năm 1983, nhiều tờ báo ở Sài Gòn có bài ca gửi một nhân vật xuất chúng: đó là ông Nguyễn Văn Tài phó tiến sĩ Đông Đức, phó giám đốc xí nghiệp Hoá màu Tân Bình. Tài là “hạt giống đỏ”, con trai bí thư tỉnh ủy Tây Ninh thời chống Mỹ, đồng chí thân thiết của bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh. Xí nghiệp này đã chết sau 30/4/1975, nhờ tài năng và nghị lực phi thường của Nguyễn Văn Tài nó hồi sinh và trở thành “Lá cờ đầu phong trào thi đua ngành công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh”. Nhưng sau đó không lâu, có hàng chục cán bộ công nhân của xí nghiệp kéo đến Ban sản xuất thử (cấp trên của xí nghiệp này), Liên hiệp Công đoàn thành phố, báo Công Nhân Giải Phóng, báo Lao Động, tố cáo ông Tài phạm rất nhiều điều sai trái. Họ cho biết, ông Tài vượt quyền giám đốc tự tiện đặt ra những quy định trái pháp luật: Hạ mức lương thực của nữ công nhân làm việc nặng từ 17kg xuống 13,5kg. Tài nói: “Mấy thằng cha làm chính sách dốt quá! Đàn bà dù làm việc nặng cũng không thể ăn nhiều được. Ông bà đã nói ‘nữ thực như miêu’ mà!” Ông cắt lương những ngày nghỉ lễ vì: “Mấy thằng làm chính sách không quán triệt nguyên tắc ‘không lao động không trả lương'”. Ông đặt ra những hình phạt đối với người lao động như ở thời Trung cổ: phơi nắng, quỳ gối, bò vòng quanh xí nghiệp… Anh Trần Thanh Bình phó tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng viết một loạt bài về sai phạm của Tài đăng liên tiếp mấy kỳ báo. Tài chạy lên tòa soạn yêu cầu ngưng đăng những bài viết “gây tác hại cho sản xuất”. Anh ta từ chối tiếp thu phê bình trên báo cũng với lý do đó: “Làm mất uy tín của lãnh đạo trước mắt công nhân, ảnh hưởng xấu đến kỷ luật sản xuất”. Tải chạy thẳng lên bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh cầu cứu. Xin nhắc lại đôi chút về Nguyễn Văn Linh: tháng 12 năm 1976 ông rời vị trí bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh để nhận chức Trưởng ban Cải tạo Công Nông Thương nghiệp Trung ương sau đó được chuyển sang làm chủ tịch Tổng Công đoàn. Đại hội 5 (tháng 3 -1982) không được vào Bộ Chính Trị, ông xin về làm bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4 – 1982) Thay cho ông Võ Văn Kiệt ra trung ương. Trong hồi ký (đăng trên viet-studies tháng 3 – 2015), Dương Văn Ba kể: Trong bữa cơm cô Hòa con gái ông góp ý với bố: “Con thấy chú Sáu Kiệt đâu có vấn đề gì căng thẳng với bố mà bố không được khách quan của chú”. Ông Linh nổi nóng quát: “Mày biết gì mà nói” rồi ông cầm tô canh tạt vào mặt con gái. Dương Văn Ba còn kể chuyện đứa con trai duy nhất của ông nằm trên giường bố mẹ, dùng súng của bố bắn vào đầu mình, nhưng không nói rõ nguyên do. Ông Mai Văn Bảy nguyên ủy viên Ban Thường Vụ thành ủy kể với tôi: Đó là đứa con trai duy nhất tên Nguyễn Văn Linh mà ông Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc) đã mượn tên làm bí danh khi hoạt động ở miền Nam, rồi sau này trở thành tên chính thức khi ông mang các chức vụ của Đảng. Nguyên do khiến cậu Linh tự sát là: cũng trong một bữa cơm, ông Mười Cúc nổi nóng vì cậu con nuông đã học dốt lại lười học, sau khi tốt nghiệp trung cấp, không chịu học tiếp đại học. Đã vậy khi ông mắng, nó còn dám lớn tiếng trả treo. Vốn quen ra lệnh, không quen nghe ai trái ý mình, huống hồ là ai là thằng con, ông nổi xung bưng tô canh tạt thẳng vào mặt nó. Lập tức Linh buông đũa nhảy xuống, chạy biến khỏi nhà. Hơn một tuần sau, không thấy bố mẹ tìm kiếm mình, đã cạn túi, cậu ta quay trở về và được biết bố mẹ vừa đi Liên Xô nghỉ dưỡng. Có lẽ cậu con nuông phẫn uất bố mẹ quá vô tình, bố thô bạo khiến mình phải bỏ nhà, vậy mà không thèm tìm kiếm, lại còn dắt nhau đi du hí! Tháng 4-1982 khi ông trở lại làm bí thư thành ủy tôi đang là Trưởng ban Tuyên giáo của Liên hiệp Công đoàn thành phố, do đó có nhiều dịp làm việc với ông. Một lần báo cáo về tình hình công nhân thành phố, tôi nói, giai cấp công nhân ở thành phố này rất ngạc nhiên khi nghe chúng ta nói họ là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Họ nói với nhau, mấy cha này coi tụi mình như con nít, xí gạt quá trắng trợn. Họ cho rằng chế độ Sài Gòn đối xử với công nhân tốt hơn nhiều. Trong giờ nghỉ giải lao, ông Linh bảo anh Quới thư ký riêng của ông ra gọi tôi, anh Mười bảo mời anh vào gặp riêng. Ông Linh hỏi tôi định làm gì để tuyên truyền giáo dục công nhân đạt hiệu quả và yêu cầu tôi nói thêm điều đó trước hội nghị. Tôi cho rằng “bốn bài học cơ bản để giáo dục giai cấp công nhân” do Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng soạn với “lý thuyết cao siêu” không thích hợp. Do đó, tôi tự biên soạn quyển “Công nhân làm gì để khôi phục sản xuất cải thiện đời sống”. (Tôi dùng bút danh là Anh Thông, được Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố in, công đoàn mua phổ biến đến công đoàn cơ sở toàn thành phố). Ông Linh tỏ ra hết sức hài lòng. Sau này, nhiều người nói đùa với tôi: “Ngay từ đầu ông ấy đã để mắt xanh tới cậu rồi, nếu cậu ngoan ngoãn, giữ cái đà ấy mà đi tới thì chắc đời cậu đã lên hương!” Tôi hoàn toàn thất bại trong mối quan hệ với ông Linh. Bước ngoặt xấu nhất trong quan hệ của tôi đối với ông là vụ Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình và ông phó giám đốc Nguyễn Văn Tài của xí nghiệp này. Hôm đó, bí thư thành ủy triệu tập cuộc họp với trưởng ban tuyên giáo các đoàn thể và quận, huyện. Tôi đến họp khi cử tọa đã khá đông. Bí thư Nguyễn Văn Linh ngồi trên ghế chủ tọa. Khi tôi vừa ngồi xuống hàng ghế đầu đối diện thì ông lên tiếng: “Này ông công đoàn. Tại sao tờ báo của ông ‘a thần phù’ đánh vào điển hình tiên tiến của thành phố mà không thèm hỏi ý kiến tôi một câu?” Tôi đứng lên trả lời: “Thưa anh Mười, chúng tôi làm việc này với đầy đủ ý thức trách nhiệm. Nếu anh Mười sắp xếp thời gian để nghe chúng tôi báo cáo trong vòng một giờ, anh sẽ thấy chúng tôi đúng 100 %.” Bí thư Nguyễn Văn Linh cau mặt lại, lên giọng: “Chao, đến lúc này mà anh vẫn còn tự cho là mình hoàn toàn đúng à? Các anh có vẻ đúng về hình thức, nhưng cái cốt lõi là sai, sai từ trong bản chất! Lênin đã dạy, quần chúng có ba loại: tiên tiến, trung bình và lạc hậu. Người cộng sản phải biết dựa vào số người tiên tiến ít ỏi, để lôi kéo người trung bình và giáo dục người lạc hậu bằng nhiều hình thức kể cả kỷ luật, phạt. Các anh đã không làm như vậy. Nghe quần chúng lạc hậu kêu ca, các anh nhảy vô bênh họ ngay. Thái độ đó không phải là của những đảng viên Cộng sản chân chính theo Chủ nghĩa Mác Lê mà là của những kẻ theo đuôi quần chúng lạc hậu. Lênin lên án gọi ‘đó là những kẻ theo chủ nghĩa công đoàn’! Đồng chí Nguyễn Văn Tài là phó tiến sĩ khoa học ở Cộng hòa Dân chủ Đức, nước phát triển nhất trong phe xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ phát triển nhất trong phe là do người Đức có kỷ luật thép. Đồng chí Nguyễn Văn Tài quyết đem tinh thần kỷ luật thép của nước bạn về thực hiện ở Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình thì bị các phân tử lạc hậu phản ứng và các anh những người theo chủ nghĩa cộng đoàn lên tiếng bênh vực họ”. Thấy ông đã dứt lời, tôi liền đứng lên với ý định sẽ nói rằng việc làm của Tài không nên gọi là áp dụng kỷ luật thép mà phải nói đó là thứ hình phạt của chủ nô lệ. Nhưng không để cho tôi được nói, ông tiếp tục ề à thêm mấy câu, rồi cáu kỉnh gắt lên: “Đồng chí ngồi xuống đi chứ!” Cả hội trường ái ngại nhìn tôi. Dù rất bức xúc, nhưng tôi biết ở đây không phải là lúc đôi co, nên im lặng ngồi xuống. Lúc giải lao, mọi người ra ngoài sân uống nước. Anh Võ Nhân Lý (Bảy Lý), nguyên là người phát ngôn của Ban Quân quản Sài Gòn Gia định, lúc này đang là phó ban thứ nhất Ban Tuyên huấn thành ủy, kiêm tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng gặp tôi, tỏ ý thông cảm: “Tôi làm việc với ông ấy gần 20 năm ở trong rừng chưa bao giờ thấy ông ấy mất bình tĩnh, cáu kỉnh như hôm nay. Ban nãy anh trả lời như vậy là đúng mực và anh ngồi xuống cũng đúng. Theo tôi, anh nên bàn với lãnh đạo công đoàn, gửi văn bản kiến nghị tổ chức một cuộc thanh tra xí nghiệp này. Sau khi thanh tra, nếu ý kiến của anh là đúng thì anh lại đưa lên báo. Lúc đó dù không muốn ông ấy cũng phải nhận là mình sai”. Sau khi Liên hiệp Công đoàn thành phố gửi kiến nghị yêu cầu tổ chức thanh tra, ủy ban thanh tra nhà nước thành phố đã thành lập “Đoàn thanh tra Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình” do ông phó chủ nhiệm ủy ban làm trưởng đoàn. Sao bảy tháng, đoàn thanh tra mới gửi “Bản dự thảo kết luận thanh tra Xí nghiệp Hoá màu Tân Bình” cho thành ủy, Ủy ban Nhân dân thành phố và các cơ quan có liên quan. Bản dự thảo có nội dung như là để minh họa ý kiến của bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh tại cuộc họp tuyên huấn các đoàn thể. Trong đó, họ dành hai trang phân tích những bài trên báo Công Nhân Giải Phóng phê phán Nguyễn Văn Tài và kết luận: do xơ cứng về nhận thức và hạn chế về kiến thức quản lý xí nghiệp xã hội chủ nghĩa, tác giả các bài báo đã lệch lạc. Tôi đáp lại bằng một văn bản có tiêu đề “Nhận xét về bản dự thảo kết luận thanh tra xí nghiệp hoá màu Tân Bình” với kết luận: Đoàn thanh tra kém năng lực hoặc không công tâm trong công tác thanh tra. Chúng tôi đề nghị đoàn này đứng sang một bên quan sát chúng tôi thanh tra. Trong ba tháng nếu chúng tôi không kết luận được những tiêu cực sai trái như nội dung các bài báo thì tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng xin nhận hình thức kỷ luật cách chức. Anh em công nhân viên chức Xí nghiệp Hóa màu biết đoàn thanh tra bao che cho Nguyễn Văn Tài và chống lại báo Công Nhân Giải Phóng đã hết sức phẫn nộ. Anh em đến tòa báo cung cấp những chứng cứ rất quan trọng: Bà Bảy Huệ (Ngô Thị Huệ) vợ bí thư Nguyễn Văn Linh đã gửi tiền ở xí nghiệp hoa màu Tân Bình với lãi suất cao hơn hẳn mức lãi suất do ngân hàng nhà nước quy định; hàng tháng bà Huệ đi chiếc xe của bí thư thành ủy đến xí nghiệp nhận tiền lãi. Tôi kể chuyện này với ông Trần Bạch Đằng chỉ với ý chia sẻ sự khó khăn trong việc đấu tranh chống tiêu cực. Không ngờ ông đến nhà riêng của ông Linh, kể lại chuyện trên và đặt câu hỏi: Nếu ở Đại hội Đảng sắp tới Tống Văn Công đưa chuyện này ra tố cáo thì anh tính sao? Trần Bạch Đằng cho biết, khi ông hỏi như vậy, ông Linh giận tái mặt và nói, để tránh dư luận xấu, trước mắt ông sẽ chuyển giao việc chỉ đạo thanh tra Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình cho ông Chín Đào (tức Phan Minh Tánh, lúc đó là phó bí thư, Trưởng ban Tổ chức Thành ủy. Đến đại hội 6 ông là ủy viên trung ương, Trưởng ban Dân vận Trung ương. Ông nghỉ hưu, sống ở Sài Gòn, năm 2015 có bài viết trên báo Tuổi Trẻ về yêu cầu cấp bách phải dân chủ hóa đất nước, được dư luận hoan nghênh). Dưới sự chỉ đạo của ông Chín Đào, không đến hai tháng sau, đoàn thanh tra gửi giấy mời các cơ quan có liên quan đến dự cuộc họp công bố kết luận chính thức của đoàn thanh tra. Lẽ ra, người đại diện Liên hiệp Công đoàn thành phố đi dự cuộc họp này là ông Lê Hồng Tư, chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Công đoàn, nhưng Ban Thường vụ Công đoàn yêu cầu tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng đi dự. Trước khi đi, tôi chuẩn bị tư liệu chứng cứ để vào cuộc “đấu đá”. Không ngờ mọi việc diễn ra hết sức tốt đẹp: Ông Nguyễn Văn Thuyền tức Ba Tôn, hiện nay là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến thành phố), Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra nhà nước thành phố trực tiếp đọc bản kết luận thanh tra, nêu ra rất nhiều chủ trương và việc làm của Nguyễn Văn Tài vi phạm pháp luật hết sức nghiêm trọng, cuối cùng đoàn thanh tra kiến nghị: Cách chức phó giám đốc và từ nay chỉ sử dụng Tài về kiến thức hóa màu, tuyệt đối không cho làm công tác quản lý, lãnh đạo. Ông Mai Văn Bảy chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh bảo tôi: “Bản kết luận thanh tra được công bố chắc đã làm cho ông Nguyễn Văn Linh khó chịu lắm”. Ông Bảy biết rõ tính nết của ông Linh nên nói thêm: “Cha này có tính thù dai và nhỏ mọn lắm, coi chừng ông ta tìm cơ hội phản đòn chúng mình đấy! Anh Năm Hoàng Phó ban Tổ chức thành ủy có lần dám góp ý nhẹ với ông ta, vậy mà mấy năm sau anh xây dựng nhà ở đường Điện Biên Phủ đã bị ông ta kiếm cớ cho là sai quy định, bảo phải giở nhà!” Bài trên đây tôi đã gửi đăng trong tập “Một thời làm báo”, tổng tập “Hồi ký của các nhà báo cao tuổi” tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 8 năm 2008, do nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành. Bài đã bị cắt xén nhiều đoạn và sửa đổi nhiều câu quan trọng, ví dụ: tôi viết bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh cau mặt, lên giọng đã bị ban biên tập đổi thành một đồng chí lãnh đạo thành ủy nhìn tôi nhẹ nhàng hỏi”? Posted on Tháng Sáu 10, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/06/10/tu-theo-cong-den-chong-cong-43-ong-nguyen-van-linh-lai-hoi-tai-sao-a-than-phu-danh-vao-dien-hinh-tien-tien/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (44): https://www.minds.com/newsfeed/1020198456546263040?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (42): https://www.minds.com/newsfeed/1020197545075515392?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (42) Hồi ký Tống Văn Công Tháp tùng ông Võ Văn Kiệt đi xé rào Từ tháng 12 năm 1976 ông Võ Văn Kiệt làm bí thư Thành ủy thay ông Nguyễn Văn Linh được điều lên làm Trưởng ban Cải tạo Trung ương. Ngày 16-2-1978 Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban Cải tạo, nâng số hộ tư sản từ 6000 lên 28.787 hộ và “quét sạch sành sanh” tư bản công thương nghiệp trong mấy ngày. Sau đó cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm nhặt. Chẳng bao lâu sau tất cả các xí nghiệp đều vấp những khó khăn giống nhau: máy móc hư hỏng không có phụ tùng thay thế; nhiên liệu, nguyên liệu cạn kiệt không có ngoại tệ để nhập khẩu. Bí thư thành ủy Võ Văn Kiệt đi khảo sát hàng chục suy nghĩ đang gặp khó khăn lớn. Biết đây là việc quan trọng tôi xin ông cho được tháp tùng hầu hết các chuyến đi. Ông Võ Văn Kiệt không chỉ nghe giám đốc báo cáo mà sau đó ông gặp từng trưởng phó phòng, ban, chủ tịch công đoàn, bí thư thanh niên và một vài tổ trưởng. Sau mỗi chuyến đi, ông còn hỏi nhận xét của chúng tôi, những người tháp tùng. Ví dụ, trong cuộc làm việc với ngành sản xuất thuốc lá có mặt các vị cục trưởng, tổng giám đốc, các giám đốc, các trưởng phòng. Sau khi ra về ông hỏi: “Theo cậu hôm nay phát biểu của anh nào có giá trị tháo gỡ nhứt?” Ông đồng ý với tôi: “Đúng, cái cậu nói tiếng Huế vạch ra những điều phi lý và chỉ rõ cách giải quyết rất căn cơ”. Đó là anh phó phòng kĩ thuật Lê Đình Thụy, người có cấp bực thấp nhất hôm đó. Ông Kiệt gợi ý Bộ Công nghiệp nhẹ bồi dưỡng, đề bạt anh Thụy trở thành Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam. Ở mỗi nơi ông Kiệt đều có ý kiến giải quyết vướng mắc một cách cụ thể. Ông nhận ra ách tắc chủ yếu không phải do hậu quả chiến tranh, không phải do thiếu ngoại tệ mà do cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa mình tự trói tay mình. Trước cải tạo, các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, lợi nhuận, hiệu quả kinh tế là lý do tồn tại của doanh nghiệp là mục tiêu của nhà quản lý. Tài năng của nhà quản lý là nhìn thấy và biết đặt ra những việc làm thiết thực để phát triển sản xuất, tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường, tích lũy thêm nhiều vốn. Cơ chế quản lý doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu bảo vệ bản chất kinh tế xã hội chủ nghĩa, xây dựng sở hữu của nhà nước, chống bóc lột, ngăn cấm chạy theo thị trường. Các xí nghiệp Dệt Thành Công, Thuốc lá Vĩnh Hội, Công ty Xe khách miền Đông… đều bị vướng mắc từ cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa. Ví dụ trường hợp Dệt Thành Công: Nếu xí nghiệp được phép vay 120.000 USD với lãi suất 18 % và phụ phí năm 1,5% để nhập sợi, thuốc nhuộm, phụ tùng thì sẽ sản xuất được 120.000m vải oxford, trả xong nợ còn lại 82.000 USD. Nhưng cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa quy định: cấm xí nghiệp không được tự vay vốn, tự mua nguyên liệu không theo giá nhà nước, không tự xây dựng kế hoạch sản xuất mà bộ chủ quản chưa cho phép, không được tự bán sản phẩm ra thị trường. Mọi kế hoạch vay vốn, sản xuất, tiêu thụ của xí nghiệp đều phải được bộ chủ quản duyệt. Nếu xí nghiệp trình kế hoạch trái với các quy định trên thì chẳng những không được phê duyệt mà còn bị kỷ luật, bởi vì cơ chế quản lý hiện hành được bảo vệ trong vòng rào ý thức cộng sản rất kiên cố. Nghe báo cáo tình trạng trên, bí thư Võ Văn Kiệt đồng ý cho xí nghiệp “xé rào” và thuyết phục giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Nguyễn Nhật Hồng, ông này cũng đồng tình “xé rào”. Cuối cùng cách làm bất hợp pháp đó đã đưa tới hiệu quả rất tốt đẹp: đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích của tập thể suy nghĩ và lợi ích của từng người lao động. Quan sát thành quả đạt được do xé rào, đầu năm 1981, tôi viết bài báo có tựa đề “Ba lợi ích” đăng trên báo Lao Động. Bài báo mở đầu bằng cảnh nhiều công nhân bỏ việc các năm trước trở lại nhà máy xin làm lại do được trả lương thỏa đáng. Giữa lúc các doanh nghiệp vui mừng “ăn nên làm ra” thì có nhiều đoàn thanh tra gồm những nhà lý luận kinh điển từ Trung ương về khảo sát. Đến Xí nghiệp May số 3, nhà lý luận kinh điển lớn tiếng phê phán: “Các anh sai đứt đuôi con nòng nọc rồi! Theo lý luận kinh tế Mác-Lênin thì tiền lương không bao giờ được tăng vượt quá mức năng suất lao động. So với năm trước năng suất lao động chỉ tăng 10 % vậy hà cớ gì tiền lương tăng đến 50%?” Hóa ra lỗi là do đơn giá của Bộ Công nghiệp ban hành đã 5 năm không được điều chỉnh. Ngày đó đơn giá may một áo sơ mi là 30 xu. Một công nhân may một ngày tám cái áo, thu nhập 2 đồng 40 xu. Thời đó công may ngoài thị trường là 20 đồng / một áo sơ mi. Nếu trả lương theo đơn giá của bộ thì công may một cái áo không đủ tiền thuê bơm một bánh xe đạp! Tác giả bình rằng “lý luận kinh điển vẫn luôn phải được bổ sung từ thực tiễn cuộc sống tươi xanh, có khi lắm gai nữa, nếu không thì rất dễ xảy ra ‘lý luận trở thành màu xám'”! Ở Nhà máy In Tổng hợp, nhà lý luận của đoàn thanh tra hỏi: “Vì sao công nhân ở đây không ăn độn theo chính sách lương thực hiện hành? Bí thư thành ủy cũng phải ăn độn kia mà?” Bài báo kể: Bí thư Võ Văn Kiệt trả lời câu hỏi này: “Bí thư thành ủy chưa làm gì đạt hiệu quả kinh tế thì cứ phải ăn độn. Còn công nhân làm vượt mức giao thì không phải ăn độn. Có khi các vị thanh tra của mình còn bị ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội chia đều nghèo khổ đấy!” Bài báo được người trình bày lâu năm nhất của báo Lao Động (từ 1945) là nhạc sĩ Văn Cao vẽ minh họa: Một nhà lý luận mang kính, một tay bóp trán vẻ trầm tư bên chồng sách kinh điển. Sau khi tờ báo có bài “Ba lợi ích” phát hành hơn một tuần thì tôi được điện thoại của anh Trần Tâm Trí, vụ phó Vụ Báo chí phụ trách miền Nam của Ban Tuyên huấn Trung ương mời “anh đến tôi, có chuyện rất cần mà không thể nói qua điện thoại”. Anh Trần Tâm Trí cho tôi biết, anh vừa ra Hà Nội học nghị quyết trung ương. Trong buổi thảo luận tổ, tiến sĩ Đặng Xuân Kỳ (con cả ông Trường Chinh) đang làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê lên phát biểu: “Có tay Tống Văn trong Sài Gòn vừa viết bài báo tựa đề Ba Lợi Ích với giọng hết sức bố láo, dè bĩu các nhà lý luận Mác-Lênin”. Anh Trần Tâm Trí đã “đỡ đòn” cho tôi: “Tống Văn là bút danh của Tống Văn Công phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam. Bài này chắc chắn không phải thể hiện quan điểm cá nhân của anh ta mà là của tập thể ban biên tập và rất có thể của Tổng Liên đoàn Lao động đấy anh à (lúc này chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động là Nguyễn Văn Linh)”. Nghe vậy Đặng Xuân Kỳ im lặng. Cuối năm 1981, trong cuộc học tập nghị quyết trung ương ở Hà Nội, tôi quyết định phải đi dự với tư cách phó tổng biên tập để biết tình hình ở “chóp bu” của Đảng. Tôi dự buổi thảo luận ở tổ dân vận gồm đại biểu các cơ quan thuộc Ban Dân vận Trung ương Đảng do ông Vũ Quang, trưởng ban dân vận làm tổ trưởng. Tại đây tôi được nghe tất cả các vị hò hét công kích “chủ nghĩa tự do kinh tế Sài Gòn”. Tháng 3-1982 Đại hội 5 Đảng Cộng sản, Nguyễn Văn Linh bị đẩy ra khỏi Bộ Chính trị, ông xin về lại Sài Gòn làm bí thư thay ông Võ Văn Kiệt được điều ra Hà Nội. Tại đây ông thừa hưởng thành quả “xé rào” của ông Kiệt. Trong khi đó, ông Kiệt ra Hà Nội bị vạ lây bởi vụ “giá lương tiền” của Lê Duẩn, Tố Hữu. Cuối năm 1985, Trần Bạch Đằng chấp bút quyển “Thành phố Hồ Chí Minh, 10 năm” để ông Nguyễn Văn Linh đứng tên (lẽ ra người đứng tên sách này phải là Võ Văn Kiệt). Nhiều đảng viên cao cấp đọc sách này đã kêu lên: “Tổng bí thư khóa 6 đã xuất hiện đây rồi!” Trong dịp chuẩn bị Đại hội Công đoàn thành phố lần thứ nhất, ông Kiệt bảo Nguyễn Hộ: “Anh bảo cậu nào viết báo cáo chánh trị đại hội công đoàn đến văn phòng của tôi mà viết. Để có lúc rảnh tôi góp ý.” Tôi đến văn phòng bí thư Thành ủy lúc ấy đóng ở một ngôi nhà rất rộng của Nguyễn Tấn Đời (ông này đã di tản). Lúc này ông Kiệt có ba người giúp việc là Thép Mới nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, Ba Huấn (sau này là phó chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh), Ba Hương (sau này là chủ nhiệm Viện Xã hội học Thành phố). Ba người này không biết tôi đã từng đi theo ông Kiệt qua hàng chục xí nghiệp nên đã kể nhiều nét đặc biệt trong tính cách của ông sếp để giúp tôi dễ dàng khi tiếp cận: ông không thích theo lối mòn, không chịu lý thuyết suông, đòi phải mổ xẻ tình hình cụ thể và đề ra giải pháp khả thi. Một hôm, ông đến ngồi đối diện với tôi qua bàn viết, tỏ ý muốn đọc phần đầu bản báo cáo. Đọc xong, ông đưa trả và hỏi: “Anh đánh giá tình hình công nhân Sài Gòn thế nào?” Tôi nhắc lại chuyện ông Trần Bạch Đằng trả lời ủy viên bộ chính trị Nguyễn Chí Thanh: Công nhân Sài Gòn ‘xệ dái’ rồi, không thể dựa họ làm ngồi nổ phong trào đấu tranh được. Ngòi nổ của phong trào thành phố Sài Gòn phải là sinh viên học sinh. Nguyễn Chí Thanh hết sức tức giận khi nghe một bí thư thành ủy đảng tiên phong của giai cấp công nhân mà ăn nói “phi giai cấp” đến thế! Lập tức Trần Bạch Đằng bị cách chức. Tôi trả lời ông Kiệt: Hồi chiến tranh ông Trần Bạch Đằng trả lời Nguyễn Chí Thanh về công nhân như vậy là đúng. Ngày nay, công nhân Sài Gòn vẫn luyến tiếc chế độ cũ, họ cho rằng hồi đó tiền lương thỏa đáng so với công sức bỏ ra và khi giá cả thị trường tăng vọt thì cũng được tăng lương tương ứng. Nếu đem bài của Ban Tuyên huấn Trung ương giảng cho họ nghe về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng thì họ sẽ phì cười, cho rằng mấy anh cộng sản nói dóc có sách”. Do đó, tôi tránh nói theo tài liệu của Ban Tuyên huấn Trung ương mà chỉ nói với họ về những khó khăn của thành phố và những việc cần phải cố gắng làm để khôi phục sản xuất, vì lợi ích đất nước mà cũng làm gì cuộc sống của họ”. Ông Kiệt tỏ ra đồng tình. Ông góp ý thêm: “Công đoàn còn coi trọng người lao động chân tay hơn lao động trí óc. Như vậy là không đúng. Hiện nay trí thức vượt biên rất nhiều. Chúng ta chưa có chánh sách tốt để giữ anh em này, chống chảy máu chất xám. Riêng anh đang nắm hai tờ báo, nên quan tâm đúng chuyện này”. Tiếp thu ý kiến của ông, tôi đặt vấn đề này thành một chương quan trọng của bản báo cáo Đại hội Công đoàn. Trên báo Công nhân Giải phóng cũng đưa tin và bài đậm nét về chủ đề này, nổi bật là loạt bài về bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng từ chối lời đòi hỏi của chồng phải đi ra nước ngoài thì mới có thể sum họp. Hôm đó đọc báo ông tỏ ra rất vui, đến bữa ăn, ông sớt bát phở của mình một phần đưa sang tôi: “Cậu Công đáng được thưởng thêm một suất, vậy mình nhờ một phần!” Tôi không chịu nhận, ông kèo nài: “Mình nói đùa mà, sự thật là hôm nay bụng mình có vấn đề. Cậu giúp mình”. Khi tôi làm tổng biên tập báo Lao Động, ông thường đến thăm và góp ý nhiều điều bổ ích. Ông thường đến thăm tờ báo còn vì quan tâm đến Lý Quý Chung nguyên Bộ trưởng Thông tin chính phủ Dương Văn Minh, lúc đó là tổng thư ký tòa soạn báo Lao Động. Khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn, ông mời ông Nguyễn Xuân Oánh phụ trách nghiên cứu chính sách kinh tế. Nhóm thứ sáu do anh Phan Chánh Dưỡng tập họp gồm các chuyên gia chế độ Việt Nam Cộng Hòa như Lâm Võ Hoàng, Trần Bá Tước, Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Nguyễn Ngọc Bích, Phan Tường Vân… họp định kỳ vào ngày thứ sáu nghiên cứu, phản biện các chính sách vừa ban hành. Biết sự kiện này, ông Võ Văn Kiệt gặp gỡ, khuyến khích, chăm sóc từng anh em như người trong gia đình. Ông sinh hoạt, trò chuyện, quan tâm chăm sóc từng anh em như trong một gia đình. Ông Lâm Võ Hoàng cán bộ cao cấp ngành tài chánh Việt Nam Cộng Hòa kể với tôi, ông bị đi tù cải tạo hơn 10 năm, ra tù đang chuẩn bị ra nước ngoài thì được thư mời của ông Kiệt đến cuộc họp góp ý xây dựng sắc lệnh đổi mới ngân hàng. Ông Hoàng ngạc nhiên và phân vân: Nên đến hay không? Đến thì có nói thẳng với họ hay không? Nói thẳng, liệu họ có bắt đi cải tạo lần nữa? Cuối cùng ông tò mò muốn đến để nói thẳng xem bọn họ cư xử ra sao. Cuộc họp có mặt đông đủ cán bộ lãnh đạo ngân hàng đứng đầu là thống đốc Cao Sĩ Kiêm. Sau khi các quan chức, học giả xã hội chủ nghĩa hết ý kiến, ông Kiệt mời ông Hoàng phát biểu. Ông Hoàng nói với giọng xỉa xói phía bên kia: “Ngân hàng của mấy ông không phải là ngân hàng. Nó chỉ là người giữ két bạc cho mấy ông. Đồng tiền của mấy ông không phải là đồng tiền, đồng tiền gì mà có hai ba giá khác nhau”. Phía ngân hàng nhà nước ồ lên phản đối. Ông Kiệt khoác tay, yêu cầu họ im lặng lắng nghe, suy nghĩ, rồi sẽ được mời phát biểu. Ông mời họ phản bác. Sau đó, ông phân tích cho họ thấy ngân hàng xã hội chủ nghĩa chỉ phục vụ tốt cho chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng sẽ cản trở phát triển kinh tế thị trường. Ông Hoàng rất ngạc nhiên vì ông Kiệt lãnh hội rất chắc những vấn đề chuyên môn, chỉ ra được chỗ cần phải thay đổi và những điều mà người bảo thủ làm chỗ dựa. Ông Kiệt để lại nhiều dấu ấn trong những quyết định có tầm chiến lược đổi mới kinh tế. Ông cũng là người sớm nhận ra yêu cầu đổi mới chính trị, từ bỏ mô hình chuyên chính vô sản, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền. Trong lá thư gửi Bộ Chính trị ngày 9 tháng 8 năm 1995 để chuẩn bị Đại hội 8 của đảng Cộng sản Việt Nam, ông cho rằng, thế giới ngày nay không còn mâu thuẫn đối kháng giữa hai phe chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc mà trước hết là tính chất đa dạng, đa cực trở thành nhân tố nổi trội. bốn nước xã hội chủ nghĩa còn lại thì tính chất quốc gia đã lấn át tính xã hội chủ nghĩa. Thậm chí trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tồn tại không ít điểm nóng. Ông cho rằng hoàn cảnh ngày nay có nhiều thuận lợi để đạt mục tiêu dân giầu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh. Chúng ta có thể học kinh nghiệm của các con rồng châu Á để rút ngắn thời gian công nghiệp hóa từ mấy trăm năm xuống vài thập kỷ. Đảng phải phấn đấu để trở thành một bộ phận tinh hoa tiêu biểu trí tuệ, nghị lực và phẩm chất cao quý của toàn dân tộc bao gồm toàn thể cộng Đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang hướng về tổ quốc. Bức thư nói trên được cơ quan của đảng đóng dấu “tối mật”. Hàng chục năm sau do lưu giữ nó mà các ông Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Kiến Giang bị bắt, bị tù tội. Posted on Tháng Sáu 7, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/06/07/tu-theo-cong-den-chong-cong-42-thap-tung-ong-vo-van-kiet-di-xe-rao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (43): https://www.minds.com/newsfeed/1020197959254646784?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (41): https://www.minds.com/newsfeed/1020196944323186688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (44) Hồi ký Tống Văn Công Bị Nguyễn Văn linh phản đòn Điều ông Mai Văn Bảy dự báo đã xảy ra: Ông Nguyễn Văn Linh đã bắt thóp được tôi. Hôm đó, tôi đang dự cuộc họp do Ban Tuyên giáo Thành ủy triệu tập thì anh Năm Dũng trưởng phòng báo chí của Ban Tuyên giáo đến rỉ tai: báo Công Nhân Giải Phóng vừa báo cáo, cách đó nửa giờ cô vợ tôi đến tòa báo làm ầm ĩ, tố cáo tôi có quan hệ bất chính với phóng viên Mai Hiền. Anh Năm Dũng vừa lo cho việc chung của hệ thống báo chí thành phố vừa muốn bảo vệ cá nhân tôi, nên góp ý: “Theo mình thì Công nên viết bản kiểm điểm, nhận sai lầm và hứa chấm dứt mối quan hệ giữa hai người. Tổ chức sẽ tìm mọi cách bảo vệ Công.” Tôi trả lời vắn tắt: “Tôi đã sai vì chưa ly dị mà yêu người khác. Nhưng đây không phải là chuyện trăng gió mà là chúng tôi yêu nhau”. Anh Năm Dũng ngạc nhiên, lo lắng. Sự lo lắng của anh Năm Dũng cũng giống như nhiều người cấp trên của tôi. Bởi vì lúc này tôi kiêm nhiệm nhiều chức vụ phó ban Pháp chế Hội đồng Nhân dân Thành phố, ủy viên Thường vụ Hội Nhà báo Thành phố, ủy viên ban thường vụ như: trưởng Ban Tuyên giáo Liên hiệp Công đoàn thành phố, tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng, phó tổng biên tập phụ trách phía Nam của báo Lao Động, ủy viên Thường vụ, trưởng ban Tuyên giáo của đảng ủy cơ quan công đoàn. Ngay chiều đó tôi gửi một lá thư nhận tội đến bà Lê Thị Bạch, bí thư đảng ủy, phó chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Thành phố. Lập tức ông Mai Văn Bảy, ủy viên ban thường vụ Thành ủy, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Thành phố gọi tôi đến nhà riêng và hỏi: “Trong túi của vợ anh có cái gì chứng minh được quan hệ tình cảm của anh với phóng viên Mai Hiền không?” Tôi đáp: “Không”. Ông nói: “Vậy thì anh có điên không mà nhận tội? Chối ngay! Rồi đưa đơn ra tòa xin ly dị. Ly dị xong sẽ tính. Hiểu không?” Tôi đáp: “Tôi đã đưa thư nhận tội tới bí thư đảng ủy Chín Bạch rồi?” Ông Mai Văn bảy cười đáp: “Bà ấy đã xé vứt sọt rác rồi!” Tôi nói: “Không được! Chuyện này có nhiều người biết. Vợ tôi gửi đơn tố cáo tôi tới ông Nguyễn Văn Linh rồi. Nếu tôi chối, nhiều người không tin, họ cho là tôi hèn. Tôi không muốn dối, tôi nhận kỷ luật một cách sòng phẳng, xong, sẽ đưa đơn ly dị”. Ông Mai Văn Bảy lắc đầu. Sau này, Đinh Khắc Cần anh ruột phi công Nguyễn Thành Trung nói lại: “Mai Văn Bảy bảo, cứ tưởng thằng cha Công thông minh không ngờ quá sức cù lần!” Hôm Ban Thường vụ Liên hiệp Công đoàn và đảng ủy cơ quan kiểm thảo tôi có ông Lê Công Trung chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy đến dự. Tôi đọc bản kiểm điểm chỉ một trang giấy: Sai lầm đầu tiên của tôi là, giữa lúc thất vọng buồn chán, tôi đã lấy người mình không yêu làm vợ. Sau khi sinh con gái đầu lòng, tôi đã rất cố gắng cho cuộc sống chung vì con. Nhưng chúng tôi tính nết không hợp nhau, đến năm con gái lên hai, chịu hết nổi, tôi quyết định sống ly thân và đưa đơn xin ly dị. Thời ấy, chi bộ đảng Cộng sản rất giống giáo hội, không tán thành ly hôn. Tòa án ở miền Bắc không bao giờ xử ly hôn. Ở báo Lao Động có anh Nguyễn Thế Dân đưa đơn ly hôn 15 năm mà không được xử, phẫn uất quá anh viết lá thư tuyệt mệnh trước khi đến hồ Tây tự tử, khiến cả cơ quan tìm cứu. Trong bốn năm ly thân, nhiều lần vợ tôi năn nỉ, hứa hẹn sẽ sửa chữa tính nết. Trong bốn năm ly thân, tôi cũng có quan hệ yêu đương, nhưng khi những người yêu tôi tỏ ra không yêu con gái tôi thì tôi chia tay. Vì thương con, nên khi vợ tôi nhận lỗi, tôi dễ xiêu lòng, tái hợp. Tuy nhiên, sau khi có đứa con trai thứ hai thì vợ tôi không cần giữ ý nữa mà hằng ngày bộc lộ mọi xung khắc trái chiều với tôi! Về phóng viên Mai Hiền, tức vợ tôi hiện nay cùng làm việc trong cơ quan báo, được nghe các đồng nghiệp kể về tình trạng gia đình tôi, cô đã đem lòng thương cảm. Cô rất cố gắng tạo quan hệ tốt với các con tôi, làm cho tôi vô cùng cảm kích. Chưa ly hôn mà tôi có quan hệ yêu đương với người khác là sai. Tôi sẽ tạm dừng mối quan hệ này và xin nhận bất cứ hình thức kỷ luật nào. Ông Lê Công Trung tỏ ra rất thông cảm đối với tôi, ông nói: “Các đồng chí đã biết rõ tình trạng gia đình của đồng chí Công không yên ấm, đã từng ly thân tới bốn năm là quá nghiêm trọng, sao cố ép phải sống chung? Nếu sớm ly dị thì không bị vấp váp thế này”. Sau này tòa xử cho tôi ly hôn dễ dàng (không qua hai lần hòa giải như quy định thời đó) là vì tôi đề nghị tòa tham khảo ý kiến của Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh nơi vợ tôi công tác và thành ủy thành phố Hồ Chí Minh nơi quản lý tôi để biết rõ sự việc. Khi xét khuyết điểm của tôi, hầu như những người có trách nhiệm không có ai nỡ chọn một hình thức kỷ luật nào đối với tôi. Nhưng ông Nguyễn Văn Linh có ý kiến hoàn toàn khác. Ông nói: “Cơm no bò cưỡi. Đã ‘gái’ thì cần phải có ‘tiền’. Do đó phải tổ chức ngay một cuộc thanh tra để kết luận đã có thâm làm thế nào, phải khởi tố cần thì cho thích đáng”. Đó là lời của quyền lực. Dù không đồng tình, nhưng Liên hiệp Công đoàn Thành phố phải phối hợp với Sở Thông tin Văn hóa tổ chức một đoàn thanh tra báo Công Nhân Giải Phóng. Sau hơn một tháng, đoàn thanh tra kết luận: mọi thu chi đều minh bạch, đúng chính sách, công bằng. Thế nhưng ý kiến chỉ đạo của bí thư Nguyễn Văn Linh khai trừ Đảng, cách chức vẫn không được rút lại! Dư luận so sánh mức sai phạm của tôi với sai phạm của ông T.N., giám đốc một cơ quan để cho rằng có sự bất công quá đáng trong việc xử lý kỷ luật. Ông T.N. gia đình yên ấm, lại bí mật sống như vợ chồng với người khác, làm cho người vợ phẫn uất đâm đầu vào xe hơi. Nhưng ông chỉ bị phê bình, vì thời kỳ ở trong rừng ông này thân cận với Nguyễn Văn Linh. Dù không muốn thi hành kỷ luật tôi, nhưng không ai dám nói ra, do đó, việc bị “đình chỉ công tác chờ xử lý” của tôi trở thành vô thời hạn. Chờ đợi gần một năm, tôi phải lên gặp ông Lê Công Trung xin được nhận kỷ luật với hình thức cách chức, để tôi sớm ổn định công tác và cuộc sống. Tôi cảm thấy ông Lê Công Trung dù như trút được gánh nặng, nhưng vẫn không đành: “Đồng chí không thấy như vậy là quá nặng sao?” Tôi đáp: “Trước đây, có lúc tôi đã được giao một trọng trách, nhưng Đảng đã giao thêm một chức vụ nữa, rồi hai chức vụ nữa, tôi vẫn không từ chối. Thế thì nay tôi phạm khuyết điểm, bị cách chức sao lại không muốn nhận”. Ngay hôm sau, Ban Thường vụ Thành ủy họp và ra quyết định cách chức tôi do chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Lê Công Trung ký. Sau khi đã có quyết định cách chức tức là vụ việc đã được xử lý xong, tôi gửi thư cho anh Xuân Cang tổng biên tập báo Lao Động xin anh cho tôi được trở về báo Lao Động. Anh Xuân Cang trả lời rất nhanh, anh nói nếu năm 1983, Công trở về báo Lao Động thì Xuân Cang phụ tá cho Công, còn nay tình thế đảo ngược, Công phải ra Hà Nội làm phụ tá cho Xuân Cang. Trả lời anh, tôi nói, mình chưa ra Hà Nội được vì còn phải làm hai việc: ly hôn và cưới vợ. Một tuần sau, ông Phạm Thế Duyệt, chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, vào đề nghị thành ủy cho tôi được chuyển công tác về cơ quan báo Lao Động ở miền Nam. Ông Phạm Văn Hùng (cha của nhà báo Phạm Chí Dũng hiện nay đang là Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam) mời tôi đến góp ý: “Lãnh đạo thành phố hiện nay đều quý anh, muốn anh ở lại làm việc. Chúng tôi chọn cho anh bốn nơi: một là nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố, hai là Ban Tuyên huấn Thành ủy, ba là Đài Phát thanh, bốn là báo Sài Gòn Giải Phóng. Anh về một trong bốn nơi đó làm chuyên viên, sau một thời gian sẽ tính tiếp”. Tôi nói: “Tôi đã ly dị, nhường nhà ở cho vợ con, đang ở nhờ trong trụ sở báo Lao Động. Nếu tôi không về làm việc cho báo Lao Động thì không thể ở trong nhà của người ta. Vậy trước khi nhận công tác ở thành phố, tôi xin được một chỗ ở”. Ông Phạm Văn Hùng đồng ý với yêu cầu chính đáng đó. Nhưng ông Mười Hải giám đốc Sở Nhà đất không đồng ý, ông nói: “Ly dị thì chia nhà ra mà ở chứ sao phải cấp nhà mới?” Không giải quyết được yêu cầu của tôi, tháng sáu năm 1986, ông Phạm Văn Hùng ký quyết định cho tôi chuyển công tác về báo Lao Động. Tổng biên tập Xuân Cang thông báo miệng (không có ký quyết định) ban biên tập giao cho tôi phụ trách cơ quan miền Nam của báo Lao Động. Lúc này, ông Nguyễn Văn Linh đã được điều động ra Hà Nội làm thường trực Ban Bí thư Trung ương. Dịp kỷ niệm thành lập Đài Phát thanh, ông được mời vào dự. Tại đây, gặp anh Nguyễn Nam Lộc người thay tôi làm tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng, ông hỏi: “Cái tay Tống Văn Công bây giờ làm gì?” Anh Nam Lộc cho biết tôi đã chuyển sang phụ trách cơ quan miền Nam của báo Lao Động. Ông Linh cau mày: “Lại đá lên à?” Tôi trách anh Nam Lộc, phải chi anh đừng nói tôi là phụ trách, rồi đây tôi sẽ còn mệt với ông ấy! Một hôm với tư cách phóng viên tôi đi bộ theo đường Nguyễn Du vào cổng bên hông tới hội trường thống nhất Dinh Độc Lập để dự cuộc họp do ông Võ Văn Kiệt chủ trì, anh Lê Văn Triết (sau này là bộ trưởng bộ thương mại) lúc đó là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố nhìn thấy tôi, anh cho dừng xe hơi, xuống đi bộ với tôi, nói: “Hôm xét kỷ luật mày tao có dự. Chúng ta đều thấy mày không có khuyết điểm gì để kỷ luật cả! Nhưng mày cũng biết, chúng tao phải làm như vậy”. Anh Lê Văn Chiến từng là bạn cùng lớp với tôi thời trung học, chúng tôi không sửa được cách xưng hô mày tao đã quen. Tôi nói đùa: “Tao không có thắc mắc gì chuyện bị cách chức. Nhưng nghe mày nói vậy tao đâm ra bực mình, chiều nay tao sẽ gửi đơn kiện chúng mày”. Anh Triết kêu lên: “Chớ có dại. Tao nói là để mày biết mọi người thông cảm với mày. Nhưng nếu mày kiện thì mày thua nặng đấy. Mày phải biết có lúc phải im lặng, nghe chưa?” Posted on Tháng Sáu 12, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/06/12/tu-theo-cong-den-chong-cong-44-bi-nguyen-van-linh-phan-don/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (45): https://www.minds.com/newsfeed/1020199026186948608?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (43): https://www.minds.com/newsfeed/1020197959254646784?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (43) Hồi ký Tống Văn Công Ông Nguyễn Văn Linh lại hỏi “Tại sao a thần phù đánh vào điển hình tiên tiến?” Đầu năm 1983, nhiều tờ báo ở Sài Gòn có bài ca gửi một nhân vật xuất chúng: đó là ông Nguyễn Văn Tài phó tiến sĩ Đông Đức, phó giám đốc xí nghiệp Hoá màu Tân Bình. Tài là “hạt giống đỏ”, con trai bí thư tỉnh ủy Tây Ninh thời chống Mỹ, đồng chí thân thiết của bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh. Xí nghiệp này đã chết sau 30/4/1975, nhờ tài năng và nghị lực phi thường của Nguyễn Văn Tài nó hồi sinh và trở thành “Lá cờ đầu phong trào thi đua ngành công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh”. Nhưng sau đó không lâu, có hàng chục cán bộ công nhân của xí nghiệp kéo đến Ban sản xuất thử (cấp trên của xí nghiệp này), Liên hiệp Công đoàn thành phố, báo Công Nhân Giải Phóng, báo Lao Động, tố cáo ông Tài phạm rất nhiều điều sai trái. Họ cho biết, ông Tài vượt quyền giám đốc tự tiện đặt ra những quy định trái pháp luật: Hạ mức lương thực của nữ công nhân làm việc nặng từ 17kg xuống 13,5kg. Tài nói: “Mấy thằng cha làm chính sách dốt quá! Đàn bà dù làm việc nặng cũng không thể ăn nhiều được. Ông bà đã nói ‘nữ thực như miêu’ mà!” Ông cắt lương những ngày nghỉ lễ vì: “Mấy thằng làm chính sách không quán triệt nguyên tắc ‘không lao động không trả lương'”. Ông đặt ra những hình phạt đối với người lao động như ở thời Trung cổ: phơi nắng, quỳ gối, bò vòng quanh xí nghiệp… Anh Trần Thanh Bình phó tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng viết một loạt bài về sai phạm của Tài đăng liên tiếp mấy kỳ báo. Tài chạy lên tòa soạn yêu cầu ngưng đăng những bài viết “gây tác hại cho sản xuất”. Anh ta từ chối tiếp thu phê bình trên báo cũng với lý do đó: “Làm mất uy tín của lãnh đạo trước mắt công nhân, ảnh hưởng xấu đến kỷ luật sản xuất”. Tải chạy thẳng lên bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh cầu cứu. Xin nhắc lại đôi chút về Nguyễn Văn Linh: tháng 12 năm 1976 ông rời vị trí bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh để nhận chức Trưởng ban Cải tạo Công Nông Thương nghiệp Trung ương sau đó được chuyển sang làm chủ tịch Tổng Công đoàn. Đại hội 5 (tháng 3 -1982) không được vào Bộ Chính Trị, ông xin về làm bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4 – 1982) Thay cho ông Võ Văn Kiệt ra trung ương. Trong hồi ký (đăng trên viet-studies tháng 3 – 2015), Dương Văn Ba kể: Trong bữa cơm cô Hòa con gái ông góp ý với bố: “Con thấy chú Sáu Kiệt đâu có vấn đề gì căng thẳng với bố mà bố không được khách quan của chú”. Ông Linh nổi nóng quát: “Mày biết gì mà nói” rồi ông cầm tô canh tạt vào mặt con gái. Dương Văn Ba còn kể chuyện đứa con trai duy nhất của ông nằm trên giường bố mẹ, dùng súng của bố bắn vào đầu mình, nhưng không nói rõ nguyên do. Ông Mai Văn Bảy nguyên ủy viên Ban Thường Vụ thành ủy kể với tôi: Đó là đứa con trai duy nhất tên Nguyễn Văn Linh mà ông Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc) đã mượn tên làm bí danh khi hoạt động ở miền Nam, rồi sau này trở thành tên chính thức khi ông mang các chức vụ của Đảng. Nguyên do khiến cậu Linh tự sát là: cũng trong một bữa cơm, ông Mười Cúc nổi nóng vì cậu con nuông đã học dốt lại lười học, sau khi tốt nghiệp trung cấp, không chịu học tiếp đại học. Đã vậy khi ông mắng, nó còn dám lớn tiếng trả treo. Vốn quen ra lệnh, không quen nghe ai trái ý mình, huống hồ là ai là thằng con, ông nổi xung bưng tô canh tạt thẳng vào mặt nó. Lập tức Linh buông đũa nhảy xuống, chạy biến khỏi nhà. Hơn một tuần sau, không thấy bố mẹ tìm kiếm mình, đã cạn túi, cậu ta quay trở về và được biết bố mẹ vừa đi Liên Xô nghỉ dưỡng. Có lẽ cậu con nuông phẫn uất bố mẹ quá vô tình, bố thô bạo khiến mình phải bỏ nhà, vậy mà không thèm tìm kiếm, lại còn dắt nhau đi du hí! Tháng 4-1982 khi ông trở lại làm bí thư thành ủy tôi đang là Trưởng ban Tuyên giáo của Liên hiệp Công đoàn thành phố, do đó có nhiều dịp làm việc với ông. Một lần báo cáo về tình hình công nhân thành phố, tôi nói, giai cấp công nhân ở thành phố này rất ngạc nhiên khi nghe chúng ta nói họ là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Họ nói với nhau, mấy cha này coi tụi mình như con nít, xí gạt quá trắng trợn. Họ cho rằng chế độ Sài Gòn đối xử với công nhân tốt hơn nhiều. Trong giờ nghỉ giải lao, ông Linh bảo anh Quới thư ký riêng của ông ra gọi tôi, anh Mười bảo mời anh vào gặp riêng. Ông Linh hỏi tôi định làm gì để tuyên truyền giáo dục công nhân đạt hiệu quả và yêu cầu tôi nói thêm điều đó trước hội nghị. Tôi cho rằng “bốn bài học cơ bản để giáo dục giai cấp công nhân” do Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng soạn với “lý thuyết cao siêu” không thích hợp. Do đó, tôi tự biên soạn quyển “Công nhân làm gì để khôi phục sản xuất cải thiện đời sống”. (Tôi dùng bút danh là Anh Thông, được Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố in, công đoàn mua phổ biến đến công đoàn cơ sở toàn thành phố). Ông Linh tỏ ra hết sức hài lòng. Sau này, nhiều người nói đùa với tôi: “Ngay từ đầu ông ấy đã để mắt xanh tới cậu rồi, nếu cậu ngoan ngoãn, giữ cái đà ấy mà đi tới thì chắc đời cậu đã lên hương!” Tôi hoàn toàn thất bại trong mối quan hệ với ông Linh. Bước ngoặt xấu nhất trong quan hệ của tôi đối với ông là vụ Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình và ông phó giám đốc Nguyễn Văn Tài của xí nghiệp này. Hôm đó, bí thư thành ủy triệu tập cuộc họp với trưởng ban tuyên giáo các đoàn thể và quận, huyện. Tôi đến họp khi cử tọa đã khá đông. Bí thư Nguyễn Văn Linh ngồi trên ghế chủ tọa. Khi tôi vừa ngồi xuống hàng ghế đầu đối diện thì ông lên tiếng: “Này ông công đoàn. Tại sao tờ báo của ông ‘a thần phù’ đánh vào điển hình tiên tiến của thành phố mà không thèm hỏi ý kiến tôi một câu?” Tôi đứng lên trả lời: “Thưa anh Mười, chúng tôi làm việc này với đầy đủ ý thức trách nhiệm. Nếu anh Mười sắp xếp thời gian để nghe chúng tôi báo cáo trong vòng một giờ, anh sẽ thấy chúng tôi đúng 100 %.” Bí thư Nguyễn Văn Linh cau mặt lại, lên giọng: “Chao, đến lúc này mà anh vẫn còn tự cho là mình hoàn toàn đúng à? Các anh có vẻ đúng về hình thức, nhưng cái cốt lõi là sai, sai từ trong bản chất! Lênin đã dạy, quần chúng có ba loại: tiên tiến, trung bình và lạc hậu. Người cộng sản phải biết dựa vào số người tiên tiến ít ỏi, để lôi kéo người trung bình và giáo dục người lạc hậu bằng nhiều hình thức kể cả kỷ luật, phạt. Các anh đã không làm như vậy. Nghe quần chúng lạc hậu kêu ca, các anh nhảy vô bênh họ ngay. Thái độ đó không phải là của những đảng viên Cộng sản chân chính theo Chủ nghĩa Mác Lê mà là của những kẻ theo đuôi quần chúng lạc hậu. Lênin lên án gọi ‘đó là những kẻ theo chủ nghĩa công đoàn’! Đồng chí Nguyễn Văn Tài là phó tiến sĩ khoa học ở Cộng hòa Dân chủ Đức, nước phát triển nhất trong phe xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ phát triển nhất trong phe là do người Đức có kỷ luật thép. Đồng chí Nguyễn Văn Tài quyết đem tinh thần kỷ luật thép của nước bạn về thực hiện ở Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình thì bị các phân tử lạc hậu phản ứng và các anh những người theo chủ nghĩa cộng đoàn lên tiếng bênh vực họ”. Thấy ông đã dứt lời, tôi liền đứng lên với ý định sẽ nói rằng việc làm của Tài không nên gọi là áp dụng kỷ luật thép mà phải nói đó là thứ hình phạt của chủ nô lệ. Nhưng không để cho tôi được nói, ông tiếp tục ề à thêm mấy câu, rồi cáu kỉnh gắt lên: “Đồng chí ngồi xuống đi chứ!” Cả hội trường ái ngại nhìn tôi. Dù rất bức xúc, nhưng tôi biết ở đây không phải là lúc đôi co, nên im lặng ngồi xuống. Lúc giải lao, mọi người ra ngoài sân uống nước. Anh Võ Nhân Lý (Bảy Lý), nguyên là người phát ngôn của Ban Quân quản Sài Gòn Gia định, lúc này đang là phó ban thứ nhất Ban Tuyên huấn thành ủy, kiêm tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng gặp tôi, tỏ ý thông cảm: “Tôi làm việc với ông ấy gần 20 năm ở trong rừng chưa bao giờ thấy ông ấy mất bình tĩnh, cáu kỉnh như hôm nay. Ban nãy anh trả lời như vậy là đúng mực và anh ngồi xuống cũng đúng. Theo tôi, anh nên bàn với lãnh đạo công đoàn, gửi văn bản kiến nghị tổ chức một cuộc thanh tra xí nghiệp này. Sau khi thanh tra, nếu ý kiến của anh là đúng thì anh lại đưa lên báo. Lúc đó dù không muốn ông ấy cũng phải nhận là mình sai”. Sau khi Liên hiệp Công đoàn thành phố gửi kiến nghị yêu cầu tổ chức thanh tra, ủy ban thanh tra nhà nước thành phố đã thành lập “Đoàn thanh tra Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình” do ông phó chủ nhiệm ủy ban làm trưởng đoàn. Sao bảy tháng, đoàn thanh tra mới gửi “Bản dự thảo kết luận thanh tra Xí nghiệp Hoá màu Tân Bình” cho thành ủy, Ủy ban Nhân dân thành phố và các cơ quan có liên quan. Bản dự thảo có nội dung như là để minh họa ý kiến của bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh tại cuộc họp tuyên huấn các đoàn thể. Trong đó, họ dành hai trang phân tích những bài trên báo Công Nhân Giải Phóng phê phán Nguyễn Văn Tài và kết luận: do xơ cứng về nhận thức và hạn chế về kiến thức quản lý xí nghiệp xã hội chủ nghĩa, tác giả các bài báo đã lệch lạc. Tôi đáp lại bằng một văn bản có tiêu đề “Nhận xét về bản dự thảo kết luận thanh tra xí nghiệp hoá màu Tân Bình” với kết luận: Đoàn thanh tra kém năng lực hoặc không công tâm trong công tác thanh tra. Chúng tôi đề nghị đoàn này đứng sang một bên quan sát chúng tôi thanh tra. Trong ba tháng nếu chúng tôi không kết luận được những tiêu cực sai trái như nội dung các bài báo thì tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng xin nhận hình thức kỷ luật cách chức. Anh em công nhân viên chức Xí nghiệp Hóa màu biết đoàn thanh tra bao che cho Nguyễn Văn Tài và chống lại báo Công Nhân Giải Phóng đã hết sức phẫn nộ. Anh em đến tòa báo cung cấp những chứng cứ rất quan trọng: Bà Bảy Huệ (Ngô Thị Huệ) vợ bí thư Nguyễn Văn Linh đã gửi tiền ở xí nghiệp hoa màu Tân Bình với lãi suất cao hơn hẳn mức lãi suất do ngân hàng nhà nước quy định; hàng tháng bà Huệ đi chiếc xe của bí thư thành ủy đến xí nghiệp nhận tiền lãi. Tôi kể chuyện này với ông Trần Bạch Đằng chỉ với ý chia sẻ sự khó khăn trong việc đấu tranh chống tiêu cực. Không ngờ ông đến nhà riêng của ông Linh, kể lại chuyện trên và đặt câu hỏi: Nếu ở Đại hội Đảng sắp tới Tống Văn Công đưa chuyện này ra tố cáo thì anh tính sao? Trần Bạch Đằng cho biết, khi ông hỏi như vậy, ông Linh giận tái mặt và nói, để tránh dư luận xấu, trước mắt ông sẽ chuyển giao việc chỉ đạo thanh tra Xí nghiệp Hóa màu Tân Bình cho ông Chín Đào (tức Phan Minh Tánh, lúc đó là phó bí thư, Trưởng ban Tổ chức Thành ủy. Đến đại hội 6 ông là ủy viên trung ương, Trưởng ban Dân vận Trung ương. Ông nghỉ hưu, sống ở Sài Gòn, năm 2015 có bài viết trên báo Tuổi Trẻ về yêu cầu cấp bách phải dân chủ hóa đất nước, được dư luận hoan nghênh). Dưới sự chỉ đạo của ông Chín Đào, không đến hai tháng sau, đoàn thanh tra gửi giấy mời các cơ quan có liên quan đến dự cuộc họp công bố kết luận chính thức của đoàn thanh tra. Lẽ ra, người đại diện Liên hiệp Công đoàn thành phố đi dự cuộc họp này là ông Lê Hồng Tư, chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Công đoàn, nhưng Ban Thường vụ Công đoàn yêu cầu tổng biên tập báo Công Nhân Giải Phóng đi dự. Trước khi đi, tôi chuẩn bị tư liệu chứng cứ để vào cuộc “đấu đá”. Không ngờ mọi việc diễn ra hết sức tốt đẹp: Ông Nguyễn Văn Thuyền tức Ba Tôn, hiện nay là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến thành phố), Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra nhà nước thành phố trực tiếp đọc bản kết luận thanh tra, nêu ra rất nhiều chủ trương và việc làm của Nguyễn Văn Tài vi phạm pháp luật hết sức nghiêm trọng, cuối cùng đoàn thanh tra kiến nghị: Cách chức phó giám đốc và từ nay chỉ sử dụng Tài về kiến thức hóa màu, tuyệt đối không cho làm công tác quản lý, lãnh đạo. Ông Mai Văn Bảy chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh bảo tôi: “Bản kết luận thanh tra được công bố chắc đã làm cho ông Nguyễn Văn Linh khó chịu lắm”. Ông Bảy biết rõ tính nết của ông Linh nên nói thêm: “Cha này có tính thù dai và nhỏ mọn lắm, coi chừng ông ta tìm cơ hội phản đòn chúng mình đấy! Anh Năm Hoàng Phó ban Tổ chức thành ủy có lần dám góp ý nhẹ với ông ta, vậy mà mấy năm sau anh xây dựng nhà ở đường Điện Biên Phủ đã bị ông ta kiếm cớ cho là sai quy định, bảo phải giở nhà!” Bài trên đây tôi đã gửi đăng trong tập “Một thời làm báo”, tổng tập “Hồi ký của các nhà báo cao tuổi” tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 8 năm 2008, do nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành. Bài đã bị cắt xén nhiều đoạn và sửa đổi nhiều câu quan trọng, ví dụ: tôi viết bí thư thành ủy Nguyễn Văn Linh cau mặt, lên giọng đã bị ban biên tập đổi thành một đồng chí lãnh đạo thành ủy nhìn tôi nhẹ nhàng hỏi”? Posted on Tháng Sáu 10, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/06/10/tu-theo-cong-den-chong-cong-43-ong-nguyen-van-linh-lai-hoi-tai-sao-a-than-phu-danh-vao-dien-hinh-tien-tien/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (44): https://www.minds.com/newsfeed/1020198456546263040?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (42): https://www.minds.com/newsfeed/1020197545075515392?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (42) Hồi ký Tống Văn Công Tháp tùng ông Võ Văn Kiệt đi xé rào Từ tháng 12 năm 1976 ông Võ Văn Kiệt làm bí thư Thành ủy thay ông Nguyễn Văn Linh được điều lên làm Trưởng ban Cải tạo Trung ương. Ngày 16-2-1978 Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban Cải tạo, nâng số hộ tư sản từ 6000 lên 28.787 hộ và “quét sạch sành sanh” tư bản công thương nghiệp trong mấy ngày. Sau đó cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm nhặt. Chẳng bao lâu sau tất cả các xí nghiệp đều vấp những khó khăn giống nhau: máy móc hư hỏng không có phụ tùng thay thế; nhiên liệu, nguyên liệu cạn kiệt không có ngoại tệ để nhập khẩu. Bí thư thành ủy Võ Văn Kiệt đi khảo sát hàng chục suy nghĩ đang gặp khó khăn lớn. Biết đây là việc quan trọng tôi xin ông cho được tháp tùng hầu hết các chuyến đi. Ông Võ Văn Kiệt không chỉ nghe giám đốc báo cáo mà sau đó ông gặp từng trưởng phó phòng, ban, chủ tịch công đoàn, bí thư thanh niên và một vài tổ trưởng. Sau mỗi chuyến đi, ông còn hỏi nhận xét của chúng tôi, những người tháp tùng. Ví dụ, trong cuộc làm việc với ngành sản xuất thuốc lá có mặt các vị cục trưởng, tổng giám đốc, các giám đốc, các trưởng phòng. Sau khi ra về ông hỏi: “Theo cậu hôm nay phát biểu của anh nào có giá trị tháo gỡ nhứt?” Ông đồng ý với tôi: “Đúng, cái cậu nói tiếng Huế vạch ra những điều phi lý và chỉ rõ cách giải quyết rất căn cơ”. Đó là anh phó phòng kĩ thuật Lê Đình Thụy, người có cấp bực thấp nhất hôm đó. Ông Kiệt gợi ý Bộ Công nghiệp nhẹ bồi dưỡng, đề bạt anh Thụy trở thành Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam. Ở mỗi nơi ông Kiệt đều có ý kiến giải quyết vướng mắc một cách cụ thể. Ông nhận ra ách tắc chủ yếu không phải do hậu quả chiến tranh, không phải do thiếu ngoại tệ mà do cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa mình tự trói tay mình. Trước cải tạo, các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, lợi nhuận, hiệu quả kinh tế là lý do tồn tại của doanh nghiệp là mục tiêu của nhà quản lý. Tài năng của nhà quản lý là nhìn thấy và biết đặt ra những việc làm thiết thực để phát triển sản xuất, tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường, tích lũy thêm nhiều vốn. Cơ chế quản lý doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu bảo vệ bản chất kinh tế xã hội chủ nghĩa, xây dựng sở hữu của nhà nước, chống bóc lột, ngăn cấm chạy theo thị trường. Các xí nghiệp Dệt Thành Công, Thuốc lá Vĩnh Hội, Công ty Xe khách miền Đông… đều bị vướng mắc từ cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa. Ví dụ trường hợp Dệt Thành Công: Nếu xí nghiệp được phép vay 120.000 USD với lãi suất 18 % và phụ phí năm 1,5% để nhập sợi, thuốc nhuộm, phụ tùng thì sẽ sản xuất được 120.000m vải oxford, trả xong nợ còn lại 82.000 USD. Nhưng cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa quy định: cấm xí nghiệp không được tự vay vốn, tự mua nguyên liệu không theo giá nhà nước, không tự xây dựng kế hoạch sản xuất mà bộ chủ quản chưa cho phép, không được tự bán sản phẩm ra thị trường. Mọi kế hoạch vay vốn, sản xuất, tiêu thụ của xí nghiệp đều phải được bộ chủ quản duyệt. Nếu xí nghiệp trình kế hoạch trái với các quy định trên thì chẳng những không được phê duyệt mà còn bị kỷ luật, bởi vì cơ chế quản lý hiện hành được bảo vệ trong vòng rào ý thức cộng sản rất kiên cố. Nghe báo cáo tình trạng trên, bí thư Võ Văn Kiệt đồng ý cho xí nghiệp “xé rào” và thuyết phục giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Nguyễn Nhật Hồng, ông này cũng đồng tình “xé rào”. Cuối cùng cách làm bất hợp pháp đó đã đưa tới hiệu quả rất tốt đẹp: đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích của tập thể suy nghĩ và lợi ích của từng người lao động. Quan sát thành quả đạt được do xé rào, đầu năm 1981, tôi viết bài báo có tựa đề “Ba lợi ích” đăng trên báo Lao Động. Bài báo mở đầu bằng cảnh nhiều công nhân bỏ việc các năm trước trở lại nhà máy xin làm lại do được trả lương thỏa đáng. Giữa lúc các doanh nghiệp vui mừng “ăn nên làm ra” thì có nhiều đoàn thanh tra gồm những nhà lý luận kinh điển từ Trung ương về khảo sát. Đến Xí nghiệp May số 3, nhà lý luận kinh điển lớn tiếng phê phán: “Các anh sai đứt đuôi con nòng nọc rồi! Theo lý luận kinh tế Mác-Lênin thì tiền lương không bao giờ được tăng vượt quá mức năng suất lao động. So với năm trước năng suất lao động chỉ tăng 10 % vậy hà cớ gì tiền lương tăng đến 50%?” Hóa ra lỗi là do đơn giá của Bộ Công nghiệp ban hành đã 5 năm không được điều chỉnh. Ngày đó đơn giá may một áo sơ mi là 30 xu. Một công nhân may một ngày tám cái áo, thu nhập 2 đồng 40 xu. Thời đó công may ngoài thị trường là 20 đồng / một áo sơ mi. Nếu trả lương theo đơn giá của bộ thì công may một cái áo không đủ tiền thuê bơm một bánh xe đạp! Tác giả bình rằng “lý luận kinh điển vẫn luôn phải được bổ sung từ thực tiễn cuộc sống tươi xanh, có khi lắm gai nữa, nếu không thì rất dễ xảy ra ‘lý luận trở thành màu xám'”! Ở Nhà máy In Tổng hợp, nhà lý luận của đoàn thanh tra hỏi: “Vì sao công nhân ở đây không ăn độn theo chính sách lương thực hiện hành? Bí thư thành ủy cũng phải ăn độn kia mà?” Bài báo kể: Bí thư Võ Văn Kiệt trả lời câu hỏi này: “Bí thư thành ủy chưa làm gì đạt hiệu quả kinh tế thì cứ phải ăn độn. Còn công nhân làm vượt mức giao thì không phải ăn độn. Có khi các vị thanh tra của mình còn bị ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội chia đều nghèo khổ đấy!” Bài báo được người trình bày lâu năm nhất của báo Lao Động (từ 1945) là nhạc sĩ Văn Cao vẽ minh họa: Một nhà lý luận mang kính, một tay bóp trán vẻ trầm tư bên chồng sách kinh điển. Sau khi tờ báo có bài “Ba lợi ích” phát hành hơn một tuần thì tôi được điện thoại của anh Trần Tâm Trí, vụ phó Vụ Báo chí phụ trách miền Nam của Ban Tuyên huấn Trung ương mời “anh đến tôi, có chuyện rất cần mà không thể nói qua điện thoại”. Anh Trần Tâm Trí cho tôi biết, anh vừa ra Hà Nội học nghị quyết trung ương. Trong buổi thảo luận tổ, tiến sĩ Đặng Xuân Kỳ (con cả ông Trường Chinh) đang làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê lên phát biểu: “Có tay Tống Văn trong Sài Gòn vừa viết bài báo tựa đề Ba Lợi Ích với giọng hết sức bố láo, dè bĩu các nhà lý luận Mác-Lênin”. Anh Trần Tâm Trí đã “đỡ đòn” cho tôi: “Tống Văn là bút danh của Tống Văn Công phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam. Bài này chắc chắn không phải thể hiện quan điểm cá nhân của anh ta mà là của tập thể ban biên tập và rất có thể của Tổng Liên đoàn Lao động đấy anh à (lúc này chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động là Nguyễn Văn Linh)”. Nghe vậy Đặng Xuân Kỳ im lặng. Cuối năm 1981, trong cuộc học tập nghị quyết trung ương ở Hà Nội, tôi quyết định phải đi dự với tư cách phó tổng biên tập để biết tình hình ở “chóp bu” của Đảng. Tôi dự buổi thảo luận ở tổ dân vận gồm đại biểu các cơ quan thuộc Ban Dân vận Trung ương Đảng do ông Vũ Quang, trưởng ban dân vận làm tổ trưởng. Tại đây tôi được nghe tất cả các vị hò hét công kích “chủ nghĩa tự do kinh tế Sài Gòn”. Tháng 3-1982 Đại hội 5 Đảng Cộng sản, Nguyễn Văn Linh bị đẩy ra khỏi Bộ Chính trị, ông xin về lại Sài Gòn làm bí thư thay ông Võ Văn Kiệt được điều ra Hà Nội. Tại đây ông thừa hưởng thành quả “xé rào” của ông Kiệt. Trong khi đó, ông Kiệt ra Hà Nội bị vạ lây bởi vụ “giá lương tiền” của Lê Duẩn, Tố Hữu. Cuối năm 1985, Trần Bạch Đằng chấp bút quyển “Thành phố Hồ Chí Minh, 10 năm” để ông Nguyễn Văn Linh đứng tên (lẽ ra người đứng tên sách này phải là Võ Văn Kiệt). Nhiều đảng viên cao cấp đọc sách này đã kêu lên: “Tổng bí thư khóa 6 đã xuất hiện đây rồi!” Trong dịp chuẩn bị Đại hội Công đoàn thành phố lần thứ nhất, ông Kiệt bảo Nguyễn Hộ: “Anh bảo cậu nào viết báo cáo chánh trị đại hội công đoàn đến văn phòng của tôi mà viết. Để có lúc rảnh tôi góp ý.” Tôi đến văn phòng bí thư Thành ủy lúc ấy đóng ở một ngôi nhà rất rộng của Nguyễn Tấn Đời (ông này đã di tản). Lúc này ông Kiệt có ba người giúp việc là Thép Mới nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, Ba Huấn (sau này là phó chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh), Ba Hương (sau này là chủ nhiệm Viện Xã hội học Thành phố). Ba người này không biết tôi đã từng đi theo ông Kiệt qua hàng chục xí nghiệp nên đã kể nhiều nét đặc biệt trong tính cách của ông sếp để giúp tôi dễ dàng khi tiếp cận: ông không thích theo lối mòn, không chịu lý thuyết suông, đòi phải mổ xẻ tình hình cụ thể và đề ra giải pháp khả thi. Một hôm, ông đến ngồi đối diện với tôi qua bàn viết, tỏ ý muốn đọc phần đầu bản báo cáo. Đọc xong, ông đưa trả và hỏi: “Anh đánh giá tình hình công nhân Sài Gòn thế nào?” Tôi nhắc lại chuyện ông Trần Bạch Đằng trả lời ủy viên bộ chính trị Nguyễn Chí Thanh: Công nhân Sài Gòn ‘xệ dái’ rồi, không thể dựa họ làm ngồi nổ phong trào đấu tranh được. Ngòi nổ của phong trào thành phố Sài Gòn phải là sinh viên học sinh. Nguyễn Chí Thanh hết sức tức giận khi nghe một bí thư thành ủy đảng tiên phong của giai cấp công nhân mà ăn nói “phi giai cấp” đến thế! Lập tức Trần Bạch Đằng bị cách chức. Tôi trả lời ông Kiệt: Hồi chiến tranh ông Trần Bạch Đằng trả lời Nguyễn Chí Thanh về công nhân như vậy là đúng. Ngày nay, công nhân Sài Gòn vẫn luyến tiếc chế độ cũ, họ cho rằng hồi đó tiền lương thỏa đáng so với công sức bỏ ra và khi giá cả thị trường tăng vọt thì cũng được tăng lương tương ứng. Nếu đem bài của Ban Tuyên huấn Trung ương giảng cho họ nghe về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng thì họ sẽ phì cười, cho rằng mấy anh cộng sản nói dóc có sách”. Do đó, tôi tránh nói theo tài liệu của Ban Tuyên huấn Trung ương mà chỉ nói với họ về những khó khăn của thành phố và những việc cần phải cố gắng làm để khôi phục sản xuất, vì lợi ích đất nước mà cũng làm gì cuộc sống của họ”. Ông Kiệt tỏ ra đồng tình. Ông góp ý thêm: “Công đoàn còn coi trọng người lao động chân tay hơn lao động trí óc. Như vậy là không đúng. Hiện nay trí thức vượt biên rất nhiều. Chúng ta chưa có chánh sách tốt để giữ anh em này, chống chảy máu chất xám. Riêng anh đang nắm hai tờ báo, nên quan tâm đúng chuyện này”. Tiếp thu ý kiến của ông, tôi đặt vấn đề này thành một chương quan trọng của bản báo cáo Đại hội Công đoàn. Trên báo Công nhân Giải phóng cũng đưa tin và bài đậm nét về chủ đề này, nổi bật là loạt bài về bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng từ chối lời đòi hỏi của chồng phải đi ra nước ngoài thì mới có thể sum họp. Hôm đó đọc báo ông tỏ ra rất vui, đến bữa ăn, ông sớt bát phở của mình một phần đưa sang tôi: “Cậu Công đáng được thưởng thêm một suất, vậy mình nhờ một phần!” Tôi không chịu nhận, ông kèo nài: “Mình nói đùa mà, sự thật là hôm nay bụng mình có vấn đề. Cậu giúp mình”. Khi tôi làm tổng biên tập báo Lao Động, ông thường đến thăm và góp ý nhiều điều bổ ích. Ông thường đến thăm tờ báo còn vì quan tâm đến Lý Quý Chung nguyên Bộ trưởng Thông tin chính phủ Dương Văn Minh, lúc đó là tổng thư ký tòa soạn báo Lao Động. Khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn, ông mời ông Nguyễn Xuân Oánh phụ trách nghiên cứu chính sách kinh tế. Nhóm thứ sáu do anh Phan Chánh Dưỡng tập họp gồm các chuyên gia chế độ Việt Nam Cộng Hòa như Lâm Võ Hoàng, Trần Bá Tước, Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Nguyễn Ngọc Bích, Phan Tường Vân… họp định kỳ vào ngày thứ sáu nghiên cứu, phản biện các chính sách vừa ban hành. Biết sự kiện này, ông Võ Văn Kiệt gặp gỡ, khuyến khích, chăm sóc từng anh em như người trong gia đình. Ông sinh hoạt, trò chuyện, quan tâm chăm sóc từng anh em như trong một gia đình. Ông Lâm Võ Hoàng cán bộ cao cấp ngành tài chánh Việt Nam Cộng Hòa kể với tôi, ông bị đi tù cải tạo hơn 10 năm, ra tù đang chuẩn bị ra nước ngoài thì được thư mời của ông Kiệt đến cuộc họp góp ý xây dựng sắc lệnh đổi mới ngân hàng. Ông Hoàng ngạc nhiên và phân vân: Nên đến hay không? Đến thì có nói thẳng với họ hay không? Nói thẳng, liệu họ có bắt đi cải tạo lần nữa? Cuối cùng ông tò mò muốn đến để nói thẳng xem bọn họ cư xử ra sao. Cuộc họp có mặt đông đủ cán bộ lãnh đạo ngân hàng đứng đầu là thống đốc Cao Sĩ Kiêm. Sau khi các quan chức, học giả xã hội chủ nghĩa hết ý kiến, ông Kiệt mời ông Hoàng phát biểu. Ông Hoàng nói với giọng xỉa xói phía bên kia: “Ngân hàng của mấy ông không phải là ngân hàng. Nó chỉ là người giữ két bạc cho mấy ông. Đồng tiền của mấy ông không phải là đồng tiền, đồng tiền gì mà có hai ba giá khác nhau”. Phía ngân hàng nhà nước ồ lên phản đối. Ông Kiệt khoác tay, yêu cầu họ im lặng lắng nghe, suy nghĩ, rồi sẽ được mời phát biểu. Ông mời họ phản bác. Sau đó, ông phân tích cho họ thấy ngân hàng xã hội chủ nghĩa chỉ phục vụ tốt cho chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng sẽ cản trở phát triển kinh tế thị trường. Ông Hoàng rất ngạc nhiên vì ông Kiệt lãnh hội rất chắc những vấn đề chuyên môn, chỉ ra được chỗ cần phải thay đổi và những điều mà người bảo thủ làm chỗ dựa. Ông Kiệt để lại nhiều dấu ấn trong những quyết định có tầm chiến lược đổi mới kinh tế. Ông cũng là người sớm nhận ra yêu cầu đổi mới chính trị, từ bỏ mô hình chuyên chính vô sản, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền. Trong lá thư gửi Bộ Chính trị ngày 9 tháng 8 năm 1995 để chuẩn bị Đại hội 8 của đảng Cộng sản Việt Nam, ông cho rằng, thế giới ngày nay không còn mâu thuẫn đối kháng giữa hai phe chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc mà trước hết là tính chất đa dạng, đa cực trở thành nhân tố nổi trội. bốn nước xã hội chủ nghĩa còn lại thì tính chất quốc gia đã lấn át tính xã hội chủ nghĩa. Thậm chí trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tồn tại không ít điểm nóng. Ông cho rằng hoàn cảnh ngày nay có nhiều thuận lợi để đạt mục tiêu dân giầu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh. Chúng ta có thể học kinh nghiệm của các con rồng châu Á để rút ngắn thời gian công nghiệp hóa từ mấy trăm năm xuống vài thập kỷ. Đảng phải phấn đấu để trở thành một bộ phận tinh hoa tiêu biểu trí tuệ, nghị lực và phẩm chất cao quý của toàn dân tộc bao gồm toàn thể cộng Đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang hướng về tổ quốc. Bức thư nói trên được cơ quan của đảng đóng dấu “tối mật”. Hàng chục năm sau do lưu giữ nó mà các ông Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Kiến Giang bị bắt, bị tù tội. Posted on Tháng Sáu 7, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/06/07/tu-theo-cong-den-chong-cong-42-thap-tung-ong-vo-van-kiet-di-xe-rao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (43): https://www.minds.com/newsfeed/1020197959254646784?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (41): https://www.minds.com/newsfeed/1020196944323186688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·