ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (36) Hồi ký Tống Văn Công Chủ nghĩa lý lịch quật ngã ông thường vụ tỉnh ủy Là phóng viên báo Lao Động, tôi quen thuộc với trụ sở công đoàn các tỉnh như cơ quan mình. Tôi đến Liên hiệp Công đoàn Nam Định nhiều hơn vì tỉnh này có nhà máy dệt, nhà máy tơ có hàng vạn công nhân. Đặc biệt ông Lê Quốc Tế, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn Nam Định là một người nắm rất chắc tình hình các cơ sở, nghe ông kể đã thấy hiện ra trong đầu tôi bao nhiêu đề tài hấp dẫn. Cán bộ, nhân viên cơ quan rất khâm phục và quý mến ông chủ tịch của mình, họ kể với tôi nhiều chuyện xuất quỷ nhập thần của ông trong thời chiến tranh chống Pháp. Ông nhiều lần hóa trang như người thợ sửa chữa máy thâm nhập vào thành phố Nam Định dày đặc lính Tây. Trong thời hòa bình xây dựng, ông phát hiện rất nhanh những điển hình xuất sắc trong lao động sản xuất. Trong đợt bầu chọn anh hùng lao động năm 1967, có nhiều cán bộ lãnh đạo trong tỉnh ủy Nam Định không đồng ý chọn Đào Thị Hào vì lý do lý lịch. Vấn đề khó chấp nhận nhất đối với những đảng viên Cộng sản là gia đình bà Đào Thị Hào nhiều đời theo đạo Công giáo. Anh ruột của Hào từng là lính của thực dân Pháp, nay đang là thợ cắt tóc. Ông Lê Quốc Tế phản bác rất quyết liệt quan điểm quy chụp về lý lịch nói trên. Ông bảo họ, không ai chọn gia đình sinh ra mình, phải đánh giá con người ở cách sống, việc làm hiện tại đóng góp lợi ích cho cộng đồng, cho đất nước ra sao. Dù là anh em ruột, mỗi người chịu trách nhiệm về hành động của cá nhân mình. Đối với người anh của Hào, xã hội cũng chỉ nên bỏ qua quá khứ, chỉ quan tâm đến cách sống và việc làm của anh ta hiện nay. Thợ cắt tóc là một nghề lương thiện, có ích. Đối với tôi, ông vừa cư xử với tình đồng chí vừa chăm sóc như người em miền Nam xa quê, không có gia đình. Ông dặn tôi, lúc này máy bay Mỹ thường ném bom khoảng 10 giờ sáng và 10 giờ đêm, nên cố gắng về trụ sở khoảng thời gian này, vì ở đây có hầm trú ẩn kiên cố. Biết tôi đang có quan hệ với cô gái ở thành phố này, ông hỏi: “Chú định làm lễ cưới ở đâu? Theo mình nên tổ chức lễ cưới ở đây, mời ban biên tập và anh em tòa báo về dự. Ở đây mình và anh em trong công đoàn có điều kiện giúp đỡ chú tốt hơn ở Hà Nội”. Tôi nghe theo lời khuyên đó và ông đã đứng ra làm chủ tọa hôn lễ. Đùng một cái, tôi được tin ông Lê Quốc Tế bị cách chức và bị đưa ra khỏi Đảng! Ông phạm khuyết điểm gì ghê gớm vậy? Không sai phạm gì cả mà chỉ là vấn đề lý lịch. Một lần, tổng bí thư Trường Chinh “hạ phóng” tìm hiểu tình hình Nam Định quê ông. Toàn bộ ban thường vụ Tỉnh ủy Nam Định tiếp ông. Bí thư tỉnh ủy báo cáo tình hình tổng quát, mỗi ủy viên báo cáo tình hình của ngành mình phụ trách. Sau buổi làm việc ông Trường Chinh gặp riêng bí thư tỉnh ủy chỉ thị: không thể để một tên cảnh sát của thực dân Pháp đã từng đuổi bắt đảng viên Cộng sản chui vào Đảng và leo cao đến ban thường vụ của tỉnh ủy. Phải đưa anh ta ra khỏi Đảng, bãi chức, thay người khác ngay lập tức! Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam thương tình ông ủy viên đoàn chủ tịch Lê Quốc Tế từng tham gia cách mạng trước năm 1945 rồi lãnh đạo khởi nghĩa tháng Tám ở Nam Định và rất dũng cảm trong cuộc kháng chiến chống Pháp vậy mà lại bị xử lý kỷ luật chỉ vì chuyện ngày xưa, đã cố sắp xếp cho ông một công việc đời sống: phụ trách xưởng in tài liệu của công đoàn có khoảng vài chục công nhân. Posted on Tháng Năm 20, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/20/tu-theo-cong-den-chong-cong-36-chu-nghia-ly-lich-quat-nga-ong-thuong-vu-tinh-uy/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (37): https://www.minds.com/newsfeed/1020195109053112320?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (35): https://www.minds.com/newsfeed/1020194178893053952?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (35) Hồi ký Tống Văn Công Hôn nhân theo “quan điểm lập trường” Chị Phan Dung, trưởng phòng tổ chức của báo Lao Động là một người đẹp, vậy mà chị hay kể, mỗi lần lên làm việc ở cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động, trước khi ra về chị thường đến bên cửa sổ phòng hành chính để ngắm cô Toan: “Chao ơi, người sao mà đẹp đến thế chứ!” Nhiều lần nghe chị Dung trầm trồ như thế, nhà thơ Thái Giang tò mò đi tìm “ngắm”, rồi bảo tôi “Cậu định nghĩa thế nào là một người đẹp?” Tôi đáp, ta mượn lời cụ Nguyễn Du vậy: “Làn thu thuỷ nét xuân sơn…” Thái Giang không chịu, anh hắng giọng “Người đẹp là người khi đã bảy con mà tuổi trẻ của ta chỉ mong được quỳ mọp dưới chân người!” Nghe nói, các bạn đại học của con trai chị Toan khi đến chơi đã ngẩn ngơ trước sắc đẹp của bà mẹ bạn mình! Lứa cán bộ thời Cách mạng tháng Tám kể: Năm 1945, ông Bùi Thủy là trưởng ty công an tỉnh Phú Thọ. Thời cách mạng 1945 trong hàng ngũ Việt Minh, công an là “oách” nhất. Ông hơi lùn, gầy gò, đã đen nhẻm. Thời ấy, cán bộ đảng viên rất dị ứng với người theo đạo Công giáo. Phía bà con Công giáo cũng tự biết mình đang bị “cách mạng” định kiến, phải luôn e dè, tự giữ mình. Cô Toan xinh đẹp sinh ra trong gia đình giàu có theo công giáo nhiều đời. Người ta nói những người sùng đạo kính Chúa, sinh con gái sẽ rất giống Đức Mẹ. Đó là cái đẹp của cô Toan. Giữa lúc cô đang được nhiều chàng trai tuấn tú ngấp nghé thì ông trưởng ty công an Bùi Thủy xuất hiện và tỏ tình. Cô rất lo sợ, vì không hề yêu mà không dám từ chối. Bà con, bạn bè trong họ đạo đang sống trong tâm trạng lo âu đều cho rằng cô và gia đình đã gặp may. Cô bị một mạng lưới của những toan tính cơ hội bủa vây, cuối cùng phải chịu đầu hàng số phận. Điều này phía những người cộng sản gọi là “đầu hàng giai cấp”. Khi Bùi Thủy báo cáo xin cưới cô Toan thì cả chi bộ phê bình hết sức nghiêm khắc: “Đồng chí là đảng viên, cán bộ lãnh đạo ngành công an, cơ quan chuyên chính của giai cấp, tại sao lại xin lấy vợ là tín đồ Thiên Chúa?” Đảng viên Bùi Thủy đã khóc nấc tại chi bộ. Ông làm đơn xin chuyển công tác sang “cơ quan đoàn kết dân tộc” là Mặt trận Việt Minh để được cưới một tín đồ Công giáo, sau đó xin cho vợ vào làm nhân viên của Công đoàn. Dù là ủy viên ban chấp hành tổng cộng đoàn, nhưng Bùi Thúy đen đúa, xấu xí so với cô vợ quá xinh đẹp nên luôn bị xầm xì là “đôi đũa lệch”. Những chàng khảo sát vây quanh chị Toan do đó lúc nào cũng có chuyện đồn thổi rằng chị đang lén lút với người này người nọ. Ông Bùi Thủy chỉ còn biết đối phó bằng cách cho vợ đẻ năm một! Ban lãnh đạo Tổng Công đoàn hồi ấy do Hoàng Quốc Việt làm chủ tịch, các vị Trần Danh Tuyên, Nguyễn Công Hòa, Trương Thị Mỹ là phó chủ tịch. Nhưng ai cũng biết người thật sự điều hành hoạt động toàn hệ thống công đoàn là ủy viên thường trực Nguyễn Minh, một người sắc sảo tài năng và đặc biệt là rất đẹp trai. Trong ban lãnh đạo “tổ chức của giai cấp” chỉ có ông có bằng tú tài toàn phần. Con nhà giàu, học giỏi nên khi tham gia cách mạng, ông tự thấy chỗ yếu của mình là thành phần xuất thân. Để bù chỗ yếu đó, ông tìm người bạn đời là công nhân, ít học. Vợ ông là chị Tâm công nhân nhà máy dệt kim Đồng Xuân, lam lũ, gầy gò. Vì là vợ của vị lãnh đạo cao cấp Tổng Công Đoàn, nên người ta cố bồi dưỡng, đưa chị làm cán bộ công đoàn nhà máy. Vợ chồng họ cũng bị xem là đôi đũa lệch, không chỉ về nhan sắc mà cả về kiến thức, văn hóa, nếp sống. Văn phòng của thủ trưởng Nguyễn Minh rộng, bên ngoài là bàn làm việc có bộ salông tiếp khách, bên trong là giường nghỉ. Buổi trưa thủ trưởng khóa trái cửa, là một không gian bất khả xâm phạm. Cho nên không ai có thể ngờ, người đẹp bảy con đã là đồng chủ nhân của văn phòng ấy từ lâu. Cho tới đầu năm 70, khi chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Đào tạo Nghề và ông Nguyễn Minh được bổ nhiệm làm tổng cục trưởng. Trước hôm nhận quyết định chuyển công tác, tức là phải rồi khỏi trụ sở cơ quan Tổng Công đoàn để sang cơ quan mới thì ông đã gây ra một “chuyện động trời”. Khoảng 11 giờ đêm, bà Dụ thường trực cơ quan Nhận được điện thoại từ đồn công an hỏi: “Cơ quan tổng liên đoàn có cán bộ tên Minh hay không?” Bà Dụ đáp: “Ở đây nhiều Minh lắm, các ông muốn hỏi ông Minh nào?” Đầu dây bên kia nói như thiệt: “Nguyễn Minh đẹp trai! Bị thanh niên cờ đỏ buộc vào đồn công an do ngồi quá khuya với phụ nữ trong công viên Lênin”. Sáng hôm sau, cả cơ quan Tổng Công đoàn và các cơ quan trực thuộc ồn ã câu chuyện với rất nhiều tình tiết: Để trao đổi cách liên lạc sau ngày phải rời gian phòng thân thiết, thủ trưởng Nguyễn Minh hẹn gặp người đẹp ở công viên Lênin. Đến 10 giờ tối, một thanh niên mang băng đỏ tới nhắc hai bác đã hết giờ được ngồi ở đây. Do quen lối của thủ trưởng cơ quan đối với cấp dưới, Nguyễn Minh gắt: “Các cháu đừng quấy rầy. Hai bác còn nhiều công việc cần bàn.” Bọn trẻ đã theo dõi thấy hai bác ôm ghì nhau nhiều hơn là “bàn công việc” nên gọi nhau quy tụ hơn 10 đội viên cờ đỏ tới vây quanh, yêu cầu hai bác cho xem giấy tờ tùy thân. Cả hai bác đều không chịu trình giấy mà còn tỏ ý chê trách tại sao các cháu cứ quấy rầy. Không ngờ đội trưởng cờ đó dõng dạc: “Nội quy công viên không cho phép ngồi quá 10 giờ đêm. Hai bác đã vi phạm quy định! Xin mời đứng lên, tới đồn công an”. Sau khi được bà Dụ, bảo vệ cơ quan, xác nhận cả hai là cán bộ Tổng Công Đoàn, phía công an yêu cầu xuất trình giấy chủ quyền chiếc xe đạp (thời ấy ở miền Bắc chiếc xe đạp là cả một gia tài nên phải được cấp giấy chủ quyền). Khốn nỗi thủ trưởng lén vợ đi với bồ, nên mượn xe đạp của nhân viên mà không kèm theo giấy! Công an yêu cầu sáng hôm sau phải mang giấy giới thiệu của cơ quan kèm theo giấy chủ quyền chiếc xe mới được nhận lại! Ông Hoàng Quốc Việt nghe báo cáo “chuyện động trời” đã gọi Nguyễn Minh tới văn phòng chủ tịch, xài xể nặng lời, rồi rút tờ quyết định bổ nhiệm chức tổng cục trưởng ra, xé toẹt, ném vào sọt rác! Trái với sự thất vọng, tức tối của các vị lãnh đạo, lớp trẻ trong trụ sở tổng công đoàn và các cơ quan trực thuộc cho rằng hai người họ phạm lỗi ngoại tình đáng chê trách, nhưng nguyên nhân sâu xa là: Cả hai đều bị buộc vào cuộc “hôn nhân lập trường giai cấp”. Posted on Tháng Năm 17, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/17/tu-theo-cong-den-chong-cong-35-hon-nhan-theo-quan-diem-lap-truong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (36): https://www.minds.com/newsfeed/1020194615186763776?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34): https://www.minds.com/newsfeed/1020193689652658176?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34) Hồi ký Tống Văn Công Gặp ba nhà văn bị vùi dập Tôi gặp nhà văn Hà Minh Tuân ngay sau khi ông bị lâm nạn năm 1962. Bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến nguyên là cảm tử quân Hà Nội năm 1946, phụ trách công tác tuyên truyền thi đua của nhà máy gỗ Hà Nội ở bến Chương Dương, gần bãi sông Hồng. Tôi đến nhà máy gặp anh Tiến tìm tài liệu viết báo và nhân đó xin mua gỗ vụn làm củi đun bếp. Anh Tiến cho biết, ông Hà Minh Tuân vừa bị cách chức giám đốc Nhà xuất bản Văn học, đang lao động cải tạo ở đây. Công việc của ông là khuân gỗ dưới bến sông Hồng xếp lên xe hai bánh, kéo xe về, xếp gỗ vào kho nhà máy. Lúc giải lao giữa ca, anh Tiến mời ông vào văn phòng uống nước, trò chuyện với chúng tôi. Ông hơn tôi một giáp, hoạt động cách mạng từ năm 1943, tham gia Khởi nghĩa Tháng tám ở Hà Nội, rồi vào bộ đội lên đến chính ủy trung đoàn, sau tiếp quản Hà Nội được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của Nhà Xuất bản Văn học. Nếu ông cứ chuyên tâm vào việc “gác cổng chính trị” như các vị giám đốc khác thì hẳn đã leo lên cấp vụ, cấp bộ rồi, hoặc ít nhất cũng được yên vị tới lúc hưởng lương hưu. Nhưng do có máu mê văn chương, năm 1957 ông biết quyển “Trong lòng Hà Nội”, năm 1960 ông viết “Giữa hai trận tuyến”. Cả hai tác phẩm đều được đánh giá “đã đóng góp xuất sắc cho nền văn học xã hội chủ nghĩa”. Ông hăm hở viết một tác phẩm không né tránh, không bóp méo hiện thực, từng trang nóng bỏng hơi thở cuộc sống, có tựa đề “Vào Đời”, một bài học cho lớp trẻ trong giai đoạn mới. Quyển sách vừa xuất bản thì lập tức bị “ăn đòn hội chợ” của các nhà phê bình nhân danh “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Số bài phê bình tốn giấy mực hàng chục lần quyển sách 200 trang của ông. Ông phải làm bản tự kiểm điểm sai lầm vì đã viết quyển sách bôi nhọ xã hội tốt đẹp những sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và ngồi nghe cấp trên và các cấp dưới của mình xỉ vả, rồi nhận quyết định cách chức, đi lao động cải tạo vô thời hạn. Nhà thơ Xuân Sách có bốn câu thơ đúc kết cho ông về sự kiện này: “Bốn mươi tuổi mới Vào đời, Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ. Giữa hai trận tuyết ngu ngơ, Trong lòng Hà Nội, bây giờ là đâu?” Cho đến nay có nhiều bài viết về chuyện ông bị kỷ luật cách chức, đều bảo là không rõ sau đó ông làm gì ở đâu. Về tuổi tác, các bậc ở bộ đội, ở cơ quan và học vấn tôi thấy mình ở dưới ông rất xa. Từ khi bắt đầu cầm bút tôi chỉ chuyên tô hồng, cho nên tôi nghĩ là ông sai, nhất là Đảng đã cho rằng ông sai. Do đó, anh Trần Dũng Tiến và tôi khuyên ông nên cố gắng lao động cải tạo cho tốt để được phục hồi công tác. Nhưng ông vác gỗ mãi cho tới ngày Mỹ ném bom Hà Nội mà cấp trên cũng chẳng đoái hoài tới. Ông bỏ việc, biến mất, không ai biết “Trong lòng Hà Nội bây giờ là đâu”? Lúc ấy bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến chê trách Hà Minh Tuân vô Đảng sớm mà sao quá thiếu “đảng tính”! Không ngờ tới cuối đời, bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến cùng các cựu chiến binh Hà Văn Quận, Trần Anh Kim tích cực góp ý “Đảng phải đổi mới chính trị”, đã bị đòn đau hơn Hà Minh Tuân: ngồi tù! Nhiều bài viết về nhà văn Hồ Dzếnh đều nói ông chỉ làm thợ hợp đồng ở Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Có người nói ông chỉ làm ở Nhà máy Cơ khí Hà Nội. Năm 1968 tôi đến Nhà máy Cơ khí Quang Trung Hà Nội (gần bệnh viện Bạch Mai) để viết về phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai”. Thư ký công đoàn nhà máy là ông Lâm Thành Keng (người Việt gốc Hoa Chợ Lớn, sau 30-4-1975 làm chủ tịch Công đoàn quận 5) giới thiệu với tôi có hai tổ đạt danh hiệu Tổ Lao động Xã hội Chủ nghĩa: Tổ đúc và tổ hàn. Ông nói thêm, đặc biệt tổ đúc có một nhà văn nổi tiếng trước cách mạng là Hồ Dzếnh nay là thợ làm khuôn đúc rất giỏi. Tôi chọn viết về tổ hàn vì từng thích bài “Thợ hàn lò cao” nổi tiếng của Chính Yên miêu tả những người thợ hàn tài hoa như nghệ sĩ. Tuy vậy, tôi cũng gặp tổ trưởng tổ đúc và ông Hồ Dzếnh để tìm hiểu về những người thợ làm công việc nặng nhọc nhất. Nghe tôi nói tiếng Sài Gòn ông Hồ Dzếnh vui vẻ bảo ông từng sống trong ấy và hiện nay có nhiều người ruột thịt của ông ở trong ấy. Tôi thắc mắc hỏi ông vì sao một nhà thơ, một nhà văn nổi tiếng như ông đến tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” lại chọn cho mình cái công việc quá nặng nhọc này. Tôi có quen biết một vài nhà văn nhà thơ thời tiền chiến ở các cơ quan văn hóa văn nghệ và nghĩ nếu ông ở đó thì thích hợp và có ích cho đất nước hơn. Ban đầu ông nói úp úp mở mở, có lẽ vì e dè trước một nhà báo của chế độ. Dần dần thấy sự chân thành ngô nghê của tôi, ông cởi mở kể cho nghe những éo le oan khuất của mình không dễ gì được thông cảm. Sau khi Hà Nội nổ súng chống Pháp, số đông văn nghệ sĩ tản cư đã chuyển dần theo hướng lên Việt Bắc. Ông lại chạy ngược về Thanh Hóa quê ông, rồi xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Huyền Nhân, sinh con được bốn tháng thì bà bị thổ tả qua đời. Cuộc sống quá khó khăn, con không có sữa, ông buộc phải mang con vào Sài Gòn sống nhờ người anh ruột có cửa hàng xe đạp ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu). Năm 1954, Hiệp định Geneve quy định đất nước tạm thời chia làm hai miền. Đang có cuộc sống yên ổn ở Sài Gòn, nhưng ông lại nhất quyết phải mang đứa con bốn tuổi ra miền Bắc, bởi ngoài đó mới là chế độ mà ông đã góp phần xây dựng. Ra Bắc, ông đi bước nữa với bà Hồng Nhật ở 26B phố Huế. Vợ chồng ông ở tầng trệt có thể buôn bán kiếm sống. Sau giải phóng Hà Nội, cán bộ quản lý nhà đất cho rằng gia đình ông ít người mà chiếm khu nhà quá rộng, họ quyết định lấy tầng trệt phân phối cho cán bộ từ chiến khu về. Ông đến các cơ quan văn hóa tìm bạn cũ. Lãnh đạo văn nghệ từ Việt Bắc về coi ông là kẻ đã rời bỏ kháng chiến “dinh tê” về thành, nhìn ông “đầy cảnh giác”! Ông Trần Đĩnh kể trong cuốn Đèn Cù: “Đại hội Văn nghệ năm 1961, giờ nghỉ, Tố Hữu tìm tôi lắc đầu chán ngán nói ‘chuẩn bị để Hồng Linh nhận hoa của Bác thì lại thành Hồ Dzếnh’! Tôi nói, có ai bảo Hồng Linh đâu, với lại, tôi đùa, cũng là người Hoa cả mà anh. Tố Hữu nghiêm mặt: Hồng Linh kháng chiến, Hồ Dzếnh trong thành, sao lại ‘cũng’ được? Bác mà biết thì ra làm sao?” (Đèn Cù, trang 172). Để kiếm sống, ông xin ký hợp đồng với Nhà máy Xe lửa Gia Lâm làm những công việc nặng nhọc không đòi hỏi tay nghề cao và ít ai muốn làm. Sau khi tiếp quản nhà máy, cán bộ quan tâm đến lý lịch, họ xếp ông vào diện không đưa vào biên chế để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Đến khi Mỹ ném bom miền Bắc, ông xin làm ở Nhà máy Cơ khí Quang Trung để được gần nhà, tiện việc đi lại và chăm sóc vợ con. Dù có thấy tiếc cho sự không may của ông, nhưng tôi không nhận thức được sự “bất cận nhân tình” của chế độ mà ông là nạn nhân. Đứng bên ngoài hệ thống chính trị, Hồ Dzếnh quan sát miền Bắc xã hội chủ nghĩa một cách tỉnh táo trong hồi ký “Quyển sách không tên” (Nhà xuất bản Thanh Văn, Hoa Kỳ). Ông nhận ra cái sai cốt lõi tác hại lâu dài của nền giáo dục: bây giờ quy tất cả các môn học về chính trị. Ông cũng là người sớm nhận ra “văn học nô lệ cho chính trị”, do đó “nhà văn không khác gái điếm. Cô gái chiều khách hàng, nhà văn chiều thời đại”. Và “tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, nhưng phải xen vào công trình của tập thể”. Ông quan sát tình trạng của đất nước: “Lẽ sống dệt bằng khói lửa, người ta không biết gì hơn là thủ tiêu nhau để hòng thoát ngõ bí. Trong cuộc xáo trộn Bắc-Nam, có cái gì còn nguyên giá trị cố hữu đâu. Cái quý nhất là con người không còn quý nữa nếu nó không là thứ xuất phẩm được rèn đúc theo khuôn khổ của thời đại”. Ngày 20 tháng 8 năm 1970 báo Nhân Dân đăng 5 bài thơ của Lý Phương Liên: “Ca bình minh”, “Em mơ có một phiên toà”, “Lời ru với anh”, “Về người cha đã khuất”, “Thư gửi người bạn gái Mỹ”. Tác giả là công nhân trẻ ở nhà máy cơ khí. Báo của Đảng ca ngợi: “Một bông hoa vừa nở đã ngát hương”. Tất cả các báo đua nhau tìm xin thơ Lý Phương Liên coi như đó là giành đẳng cấp về cho tờ báo. Báo Lao Động bị chậm chân vì người phụ trách việc này là nhà thơ Thái Giang đang nghỉ phép. Do đó, tôi được giao nhiệm vụ khó khăn này: phải xin cho được ít nhất một bài thơ của Lý Phương Liên cho số báo sắp ra. Tôi đến nhà Lý Phương Liên gặp lúc chị đang tiếp hai người khách, nhà thơ Minh Giang phụ trách phòng văn hóa văn nghệ của nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân và nhà thơ Phạm Tiến Duật mới từ chiến trường miền Nam ra. Tôi thuộc bài thơ “Gửi anh bạn Triều Tiên” của Minh Giang từ năm 1950 đến nay mới được gặp nhà thơ cho nên rất vui. Với tư cách một đàng anh từng trải, hiểu biết, nhà thơ Minh Giang nhận xét, hiện nay chúng ta có hai nhiệm vụ chiến lược, giải phóng miền Nam và xây dựng miền Bắc. Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu ở chiến trường giải phóng miền Nam. Lý Phương Liên là nhà thơ tiêu biểu của hậu phương lớn miền Bắc. Lựa lúc thích hợp, tôi nói xin thơ đăng báo thì Lý Phương Liên cho biết, tập thơ chép tay của chị do bác Huyền Kiêu và bác Hải Như giữ. Các báo muốn đăng thơ của chị đều phải qua hai bác ấy. Mừng quá, nhà thơ Hải Như là bạn vong niên của tôi (anh hơn tôi chín tuổi). Tôi vội vã cáo từ mọi người để đi xin thơ đăng báo. Báo Lao Động đăng ba bài thơ của Lý Phương Liên có bài bình luận do tôi chấp bút. Ít lâu sau, báo Văn Nghệ đăng một trang thơ Lý Phương Liên có bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Dư luận sôi lên cho rằng cho tới lúc ấy, “Nghĩ về Thúy Kiều” là bài thơ hay nhất của Lý Phương Liên. Nhiều anh em báo Lao Động chê trách tôi không biết chọn thơ hay đã để sổng mất bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Nhưng ngay hôm sau có tin “một đồng chí lãnh đạo” (nghe nói là Trường Chinh) cho rằng “Nghĩ về Thúy Kiều” ẩn chứa tư tưởng phản động! Một cây đa cây đề của làng thơ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ông Hoàng Trung Thông phê phán “Nghĩ về Thúy Kiều” là: “Rắc rối cầu kỳ trong diễn tả, yếu đuối sướt mướt trong tình cảm, bi quan tăm tối trong tư tưởng”. Các nhà tuyên huấn đảng cho rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa không thể tồn tại một thân phận Thúy Kiều: “… Trái đất chúng mình cho đến hôm nay, Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi. Thời gian còn nửa ngày là đêm tối. Còn đồng tiền đổi trắng thay đen. Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen. Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến. Còn những đất đai triền miên chinh chiến…” Trong giới văn chương, nhiều người không đồng ý với những nhận xét áp đặt của tuyên huấn, nhưng như giáo sư Trần Văn Giàu viết trên báo Văn Nghệ ngày 19/9/1987 về tình trạng phê bình trong chế độ xã hội chủ nghĩa: “Lắm khi để nhận xét độc đoán không cho phép cãi lại”. Hơn 40 năm sau, nhiều bạn đọc vẫn nhớ và có lời khuyến khích, Lý Phương Liên đưa in tập thơ của thời tuổi trẻ, mang tên “Ca Bình Minh”, tên của một trong năm bài thơ in trên báo Nhân Dân lần đầu tiên. Chị thổ lộ: “Tôi nín lặng suốt 40 năm nay vì lời nguyền bỏ thơ của chính tôi. Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn, cơ cực, không liên quan đến ai. Tôi không thán oán. Người chịu nhiều cay đắng vì thơ tôi là chồng tôi.” Bạn đọc dễ dàng cảm nhận được vị đắng cay trong những lời “tôi không thán oán” của chị. Posted on Tháng Năm 14, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/14/tu-theo-cong-den-chong-cong-34-gap-ba-nha-van-bi-vui-dap/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (35): https://www.minds.com/newsfeed/1020194178893053952?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33): https://www.minds.com/newsfeed/1020193235434700800?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33) Hồi ký Tống Văn Công Khiếu nại là phụ lòng tập thể chi bộ Năm 1967 tôi làm phóng viên thường trú của báo Lao Động ở vùng than Quảng Ninh. Liên hiệp Công đoàn Quảng Ninh do ông Lê Bùi làm chủ tịch sắp xếp cho tôi ăn ở cạnh cơ quan trong một hốc núi vùng Khe Hùm, hằng ngày đi lại bằng xe đạp đến các mỏ than sưu tầm tài liệu. Một lần đến mỏ than Cọc Sáu tôi được một nhân viên phòng hành chính là Kế chăm sóc rất chu đáo. Anh Kế gầy ốm, miệng méo vì bị gãy xương hàm, nói hơi ngọng. Anh không để tôi đến nhà ăn tập thể mà mang cơm về nhà khách cho tôi. Mỗi sáng anh đi mua thức ăn điểm tâm giúp tôi, pha trà mời tôi. Đặc biệt anh rất hay hỏi về tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Tôi cảm mến, hỏi thăm và được anh kể chuyện đời riêng. Anh là thương binh bị gãy xương quai hàm ở trận Điện Biên Phủ. Sau khi rời quân đội, anh được phân công về đây làm nhân viên hành chính. Ở thời ấy ít ai muốn sống suốt đời với vùng mỏ. Người ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định vào đây làm thợ mỏ, ky cóp năm mười năm có lưng vốn thì trở về quê. Thanh niên ra đây làm ăn, đến tuổi lập gia đình, bố mẹ gọi về quê lấy vợ. Vùng mỏ rất hiếm các cô gái chưa chồng. Anh Kế luống tuổi, miệng méo, ngọng nghịu càng khó lọt vào mắt các cô gái vốn đã “cao giá”. Tại nhà ăn cơ quan có một cô cấp dưỡng đẹp người, tốt nết, luống tuổi mà vẫn phòng không, chỉ vì ông bố xưa kia là thư ký của chủ mỏ người Pháp. Thời này, giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, việc chọn vợ trước hết phải có “lập trường giai cấp”. Tuy vậy, do hoàn cảnh éo le của mình nên anh Kế và cô cấp dưỡng dễ tìm đến nhau. Chi bộ Đảng sớm phát hiện mối quan hệ bị coi là “bất chính” và anh Kế được các đồng chí của mình nhắc nhở trong cuộc họp thường kỳ. Bí thư chi bộ là một đồng chí miền Nam tập kết hỏi: “Là một đảng viên Cộng sản, đồng chí có thể gọi kẻ thù giai cấp là bố vợ được hay sao?” Anh Kế thừa nhận trước chi bộ mình sai lầm và hứa sẽ chấm dứt mối quan hệ bất chính này! Nhưng ra khỏi cuộc họp chi bộ thì tiếng gọi của tình yêu lại mạnh hơn! Anh Kế vẫn không thể chấm dứt “quan hệ bất chính” với cô cấp dưỡng đẹp người, ngoan nết. Cuối cùng, chi ủy đưa anh ra kiểm điểm trong cuộc họp chi bộ bất thường và quyết định khai trừ anh ra khỏi Đảng. Sau khi bị khai trừ anh Kế lẵng lặng đưa cô cấp dưỡng về sống chung. Nghe xong, tôi bảo chi bộ quyết định khai trừ anh là sai. Anh yêu cô cấp dưỡng, một người lao động thì tại sao lại bị khai trừ. Anh nên viết đơn khiếu nại, tôi xin mang lá đơn của anh đi gặp lãnh đạo tỉnh ủy Quảng Ninh đấu tranh bảo vệ anh. Thật không ngờ, anh nhất quyết từ chối: “Tôi rất cảm ơn đồng chí, các đồng chí đều rất yêu thương tôi, muốn bảo vệ lý lịch quân nhân, đảng viên cho tôi. Nhưng tôi không đủ tinh thần cách mạng và lập trường giai cấp, đã phụ lòng của các đồng chí. Vậy mà nay lại còn làm đơn khiếu nại thì vô ơn quá, tệ bạc quá, tôi không thể làm như thế được!” Dù anh Kế kiên quyết từ chối việc khiếu nại, tôi vẫn đi gặp ông Thúc Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Than Quảng Ninh để yêu cầu ông can thiệp. Ông Thúc bảo, bản thân người bị khai trừ đã chấp nhận việc đó là đúng, kiên quyết từ chối khiếu nại, vì vậy thì chúng ta không nên bới chuyện ra làm gì! Tôi lại mang chuyện này lên ông Lê Bùi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn, đề nghị tỉnh ủy xem xét lại quyết định kỷ luật này. Ông Lê Bùi cũng có ý kiến giống như ông Thúc. Hóa ra ý nghĩ cho rằng quyết định kỷ luật hai trừ đảng đối với anh Kế là sai chỉ có thể nảy ra từ những ai có não trạng không bình thường trong chế độ xã hội chủ nghĩa! Một lần tôi kể chuyện này cho nhà văn Bùi Ngọc Tấn nghe, anh ngẫm nghĩ rồi bảo: “Chuyện hay quá! Anh cho tôi xin nhé, nhưng tôi không viết thể ký sự mà sẽ viết thành một truyện ngắn.” Tôi đồng ý ngay, nhưng cho tới khi qua đời, anh Tấn vẫn chưa kịp viết chuyện này! Posted on Tháng Năm 10, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/10/tu-theo-cong-den-chong-cong-33-khieu-nai-la-phu-long-tap-the-chi-bo/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34): https://www.minds.com/newsfeed/1020193689652658176?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32): https://www.minds.com/newsfeed/1020192789393285120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (35) Hồi ký Tống Văn Công Hôn nhân theo “quan điểm lập trường” Chị Phan Dung, trưởng phòng tổ chức của báo Lao Động là một người đẹp, vậy mà chị hay kể, mỗi lần lên làm việc ở cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động, trước khi ra về chị thường đến bên cửa sổ phòng hành chính để ngắm cô Toan: “Chao ơi, người sao mà đẹp đến thế chứ!” Nhiều lần nghe chị Dung trầm trồ như thế, nhà thơ Thái Giang tò mò đi tìm “ngắm”, rồi bảo tôi “Cậu định nghĩa thế nào là một người đẹp?” Tôi đáp, ta mượn lời cụ Nguyễn Du vậy: “Làn thu thuỷ nét xuân sơn…” Thái Giang không chịu, anh hắng giọng “Người đẹp là người khi đã bảy con mà tuổi trẻ của ta chỉ mong được quỳ mọp dưới chân người!” Nghe nói, các bạn đại học của con trai chị Toan khi đến chơi đã ngẩn ngơ trước sắc đẹp của bà mẹ bạn mình! Lứa cán bộ thời Cách mạng tháng Tám kể: Năm 1945, ông Bùi Thủy là trưởng ty công an tỉnh Phú Thọ. Thời cách mạng 1945 trong hàng ngũ Việt Minh, công an là “oách” nhất. Ông hơi lùn, gầy gò, đã đen nhẻm. Thời ấy, cán bộ đảng viên rất dị ứng với người theo đạo Công giáo. Phía bà con Công giáo cũng tự biết mình đang bị “cách mạng” định kiến, phải luôn e dè, tự giữ mình. Cô Toan xinh đẹp sinh ra trong gia đình giàu có theo công giáo nhiều đời. Người ta nói những người sùng đạo kính Chúa, sinh con gái sẽ rất giống Đức Mẹ. Đó là cái đẹp của cô Toan. Giữa lúc cô đang được nhiều chàng trai tuấn tú ngấp nghé thì ông trưởng ty công an Bùi Thủy xuất hiện và tỏ tình. Cô rất lo sợ, vì không hề yêu mà không dám từ chối. Bà con, bạn bè trong họ đạo đang sống trong tâm trạng lo âu đều cho rằng cô và gia đình đã gặp may. Cô bị một mạng lưới của những toan tính cơ hội bủa vây, cuối cùng phải chịu đầu hàng số phận. Điều này phía những người cộng sản gọi là “đầu hàng giai cấp”. Khi Bùi Thủy báo cáo xin cưới cô Toan thì cả chi bộ phê bình hết sức nghiêm khắc: “Đồng chí là đảng viên, cán bộ lãnh đạo ngành công an, cơ quan chuyên chính của giai cấp, tại sao lại xin lấy vợ là tín đồ Thiên Chúa?” Đảng viên Bùi Thủy đã khóc nấc tại chi bộ. Ông làm đơn xin chuyển công tác sang “cơ quan đoàn kết dân tộc” là Mặt trận Việt Minh để được cưới một tín đồ Công giáo, sau đó xin cho vợ vào làm nhân viên của Công đoàn. Dù là ủy viên ban chấp hành tổng cộng đoàn, nhưng Bùi Thúy đen đúa, xấu xí so với cô vợ quá xinh đẹp nên luôn bị xầm xì là “đôi đũa lệch”. Những chàng khảo sát vây quanh chị Toan do đó lúc nào cũng có chuyện đồn thổi rằng chị đang lén lút với người này người nọ. Ông Bùi Thủy chỉ còn biết đối phó bằng cách cho vợ đẻ năm một! Ban lãnh đạo Tổng Công đoàn hồi ấy do Hoàng Quốc Việt làm chủ tịch, các vị Trần Danh Tuyên, Nguyễn Công Hòa, Trương Thị Mỹ là phó chủ tịch. Nhưng ai cũng biết người thật sự điều hành hoạt động toàn hệ thống công đoàn là ủy viên thường trực Nguyễn Minh, một người sắc sảo tài năng và đặc biệt là rất đẹp trai. Trong ban lãnh đạo “tổ chức của giai cấp” chỉ có ông có bằng tú tài toàn phần. Con nhà giàu, học giỏi nên khi tham gia cách mạng, ông tự thấy chỗ yếu của mình là thành phần xuất thân. Để bù chỗ yếu đó, ông tìm người bạn đời là công nhân, ít học. Vợ ông là chị Tâm công nhân nhà máy dệt kim Đồng Xuân, lam lũ, gầy gò. Vì là vợ của vị lãnh đạo cao cấp Tổng Công Đoàn, nên người ta cố bồi dưỡng, đưa chị làm cán bộ công đoàn nhà máy. Vợ chồng họ cũng bị xem là đôi đũa lệch, không chỉ về nhan sắc mà cả về kiến thức, văn hóa, nếp sống. Văn phòng của thủ trưởng Nguyễn Minh rộng, bên ngoài là bàn làm việc có bộ salông tiếp khách, bên trong là giường nghỉ. Buổi trưa thủ trưởng khóa trái cửa, là một không gian bất khả xâm phạm. Cho nên không ai có thể ngờ, người đẹp bảy con đã là đồng chủ nhân của văn phòng ấy từ lâu. Cho tới đầu năm 70, khi chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Đào tạo Nghề và ông Nguyễn Minh được bổ nhiệm làm tổng cục trưởng. Trước hôm nhận quyết định chuyển công tác, tức là phải rồi khỏi trụ sở cơ quan Tổng Công đoàn để sang cơ quan mới thì ông đã gây ra một “chuyện động trời”. Khoảng 11 giờ đêm, bà Dụ thường trực cơ quan Nhận được điện thoại từ đồn công an hỏi: “Cơ quan tổng liên đoàn có cán bộ tên Minh hay không?” Bà Dụ đáp: “Ở đây nhiều Minh lắm, các ông muốn hỏi ông Minh nào?” Đầu dây bên kia nói như thiệt: “Nguyễn Minh đẹp trai! Bị thanh niên cờ đỏ buộc vào đồn công an do ngồi quá khuya với phụ nữ trong công viên Lênin”. Sáng hôm sau, cả cơ quan Tổng Công đoàn và các cơ quan trực thuộc ồn ã câu chuyện với rất nhiều tình tiết: Để trao đổi cách liên lạc sau ngày phải rời gian phòng thân thiết, thủ trưởng Nguyễn Minh hẹn gặp người đẹp ở công viên Lênin. Đến 10 giờ tối, một thanh niên mang băng đỏ tới nhắc hai bác đã hết giờ được ngồi ở đây. Do quen lối của thủ trưởng cơ quan đối với cấp dưới, Nguyễn Minh gắt: “Các cháu đừng quấy rầy. Hai bác còn nhiều công việc cần bàn.” Bọn trẻ đã theo dõi thấy hai bác ôm ghì nhau nhiều hơn là “bàn công việc” nên gọi nhau quy tụ hơn 10 đội viên cờ đỏ tới vây quanh, yêu cầu hai bác cho xem giấy tờ tùy thân. Cả hai bác đều không chịu trình giấy mà còn tỏ ý chê trách tại sao các cháu cứ quấy rầy. Không ngờ đội trưởng cờ đó dõng dạc: “Nội quy công viên không cho phép ngồi quá 10 giờ đêm. Hai bác đã vi phạm quy định! Xin mời đứng lên, tới đồn công an”. Sau khi được bà Dụ, bảo vệ cơ quan, xác nhận cả hai là cán bộ Tổng Công Đoàn, phía công an yêu cầu xuất trình giấy chủ quyền chiếc xe đạp (thời ấy ở miền Bắc chiếc xe đạp là cả một gia tài nên phải được cấp giấy chủ quyền). Khốn nỗi thủ trưởng lén vợ đi với bồ, nên mượn xe đạp của nhân viên mà không kèm theo giấy! Công an yêu cầu sáng hôm sau phải mang giấy giới thiệu của cơ quan kèm theo giấy chủ quyền chiếc xe mới được nhận lại! Ông Hoàng Quốc Việt nghe báo cáo “chuyện động trời” đã gọi Nguyễn Minh tới văn phòng chủ tịch, xài xể nặng lời, rồi rút tờ quyết định bổ nhiệm chức tổng cục trưởng ra, xé toẹt, ném vào sọt rác! Trái với sự thất vọng, tức tối của các vị lãnh đạo, lớp trẻ trong trụ sở tổng công đoàn và các cơ quan trực thuộc cho rằng hai người họ phạm lỗi ngoại tình đáng chê trách, nhưng nguyên nhân sâu xa là: Cả hai đều bị buộc vào cuộc “hôn nhân lập trường giai cấp”. Posted on Tháng Năm 17, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/17/tu-theo-cong-den-chong-cong-35-hon-nhan-theo-quan-diem-lap-truong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (36): https://www.minds.com/newsfeed/1020194615186763776?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34): https://www.minds.com/newsfeed/1020193689652658176?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34) Hồi ký Tống Văn Công Gặp ba nhà văn bị vùi dập Tôi gặp nhà văn Hà Minh Tuân ngay sau khi ông bị lâm nạn năm 1962. Bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến nguyên là cảm tử quân Hà Nội năm 1946, phụ trách công tác tuyên truyền thi đua của nhà máy gỗ Hà Nội ở bến Chương Dương, gần bãi sông Hồng. Tôi đến nhà máy gặp anh Tiến tìm tài liệu viết báo và nhân đó xin mua gỗ vụn làm củi đun bếp. Anh Tiến cho biết, ông Hà Minh Tuân vừa bị cách chức giám đốc Nhà xuất bản Văn học, đang lao động cải tạo ở đây. Công việc của ông là khuân gỗ dưới bến sông Hồng xếp lên xe hai bánh, kéo xe về, xếp gỗ vào kho nhà máy. Lúc giải lao giữa ca, anh Tiến mời ông vào văn phòng uống nước, trò chuyện với chúng tôi. Ông hơn tôi một giáp, hoạt động cách mạng từ năm 1943, tham gia Khởi nghĩa Tháng tám ở Hà Nội, rồi vào bộ đội lên đến chính ủy trung đoàn, sau tiếp quản Hà Nội được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của Nhà Xuất bản Văn học. Nếu ông cứ chuyên tâm vào việc “gác cổng chính trị” như các vị giám đốc khác thì hẳn đã leo lên cấp vụ, cấp bộ rồi, hoặc ít nhất cũng được yên vị tới lúc hưởng lương hưu. Nhưng do có máu mê văn chương, năm 1957 ông biết quyển “Trong lòng Hà Nội”, năm 1960 ông viết “Giữa hai trận tuyến”. Cả hai tác phẩm đều được đánh giá “đã đóng góp xuất sắc cho nền văn học xã hội chủ nghĩa”. Ông hăm hở viết một tác phẩm không né tránh, không bóp méo hiện thực, từng trang nóng bỏng hơi thở cuộc sống, có tựa đề “Vào Đời”, một bài học cho lớp trẻ trong giai đoạn mới. Quyển sách vừa xuất bản thì lập tức bị “ăn đòn hội chợ” của các nhà phê bình nhân danh “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Số bài phê bình tốn giấy mực hàng chục lần quyển sách 200 trang của ông. Ông phải làm bản tự kiểm điểm sai lầm vì đã viết quyển sách bôi nhọ xã hội tốt đẹp những sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và ngồi nghe cấp trên và các cấp dưới của mình xỉ vả, rồi nhận quyết định cách chức, đi lao động cải tạo vô thời hạn. Nhà thơ Xuân Sách có bốn câu thơ đúc kết cho ông về sự kiện này: “Bốn mươi tuổi mới Vào đời, Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ. Giữa hai trận tuyết ngu ngơ, Trong lòng Hà Nội, bây giờ là đâu?” Cho đến nay có nhiều bài viết về chuyện ông bị kỷ luật cách chức, đều bảo là không rõ sau đó ông làm gì ở đâu. Về tuổi tác, các bậc ở bộ đội, ở cơ quan và học vấn tôi thấy mình ở dưới ông rất xa. Từ khi bắt đầu cầm bút tôi chỉ chuyên tô hồng, cho nên tôi nghĩ là ông sai, nhất là Đảng đã cho rằng ông sai. Do đó, anh Trần Dũng Tiến và tôi khuyên ông nên cố gắng lao động cải tạo cho tốt để được phục hồi công tác. Nhưng ông vác gỗ mãi cho tới ngày Mỹ ném bom Hà Nội mà cấp trên cũng chẳng đoái hoài tới. Ông bỏ việc, biến mất, không ai biết “Trong lòng Hà Nội bây giờ là đâu”? Lúc ấy bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến chê trách Hà Minh Tuân vô Đảng sớm mà sao quá thiếu “đảng tính”! Không ngờ tới cuối đời, bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến cùng các cựu chiến binh Hà Văn Quận, Trần Anh Kim tích cực góp ý “Đảng phải đổi mới chính trị”, đã bị đòn đau hơn Hà Minh Tuân: ngồi tù! Nhiều bài viết về nhà văn Hồ Dzếnh đều nói ông chỉ làm thợ hợp đồng ở Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Có người nói ông chỉ làm ở Nhà máy Cơ khí Hà Nội. Năm 1968 tôi đến Nhà máy Cơ khí Quang Trung Hà Nội (gần bệnh viện Bạch Mai) để viết về phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai”. Thư ký công đoàn nhà máy là ông Lâm Thành Keng (người Việt gốc Hoa Chợ Lớn, sau 30-4-1975 làm chủ tịch Công đoàn quận 5) giới thiệu với tôi có hai tổ đạt danh hiệu Tổ Lao động Xã hội Chủ nghĩa: Tổ đúc và tổ hàn. Ông nói thêm, đặc biệt tổ đúc có một nhà văn nổi tiếng trước cách mạng là Hồ Dzếnh nay là thợ làm khuôn đúc rất giỏi. Tôi chọn viết về tổ hàn vì từng thích bài “Thợ hàn lò cao” nổi tiếng của Chính Yên miêu tả những người thợ hàn tài hoa như nghệ sĩ. Tuy vậy, tôi cũng gặp tổ trưởng tổ đúc và ông Hồ Dzếnh để tìm hiểu về những người thợ làm công việc nặng nhọc nhất. Nghe tôi nói tiếng Sài Gòn ông Hồ Dzếnh vui vẻ bảo ông từng sống trong ấy và hiện nay có nhiều người ruột thịt của ông ở trong ấy. Tôi thắc mắc hỏi ông vì sao một nhà thơ, một nhà văn nổi tiếng như ông đến tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” lại chọn cho mình cái công việc quá nặng nhọc này. Tôi có quen biết một vài nhà văn nhà thơ thời tiền chiến ở các cơ quan văn hóa văn nghệ và nghĩ nếu ông ở đó thì thích hợp và có ích cho đất nước hơn. Ban đầu ông nói úp úp mở mở, có lẽ vì e dè trước một nhà báo của chế độ. Dần dần thấy sự chân thành ngô nghê của tôi, ông cởi mở kể cho nghe những éo le oan khuất của mình không dễ gì được thông cảm. Sau khi Hà Nội nổ súng chống Pháp, số đông văn nghệ sĩ tản cư đã chuyển dần theo hướng lên Việt Bắc. Ông lại chạy ngược về Thanh Hóa quê ông, rồi xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Huyền Nhân, sinh con được bốn tháng thì bà bị thổ tả qua đời. Cuộc sống quá khó khăn, con không có sữa, ông buộc phải mang con vào Sài Gòn sống nhờ người anh ruột có cửa hàng xe đạp ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu). Năm 1954, Hiệp định Geneve quy định đất nước tạm thời chia làm hai miền. Đang có cuộc sống yên ổn ở Sài Gòn, nhưng ông lại nhất quyết phải mang đứa con bốn tuổi ra miền Bắc, bởi ngoài đó mới là chế độ mà ông đã góp phần xây dựng. Ra Bắc, ông đi bước nữa với bà Hồng Nhật ở 26B phố Huế. Vợ chồng ông ở tầng trệt có thể buôn bán kiếm sống. Sau giải phóng Hà Nội, cán bộ quản lý nhà đất cho rằng gia đình ông ít người mà chiếm khu nhà quá rộng, họ quyết định lấy tầng trệt phân phối cho cán bộ từ chiến khu về. Ông đến các cơ quan văn hóa tìm bạn cũ. Lãnh đạo văn nghệ từ Việt Bắc về coi ông là kẻ đã rời bỏ kháng chiến “dinh tê” về thành, nhìn ông “đầy cảnh giác”! Ông Trần Đĩnh kể trong cuốn Đèn Cù: “Đại hội Văn nghệ năm 1961, giờ nghỉ, Tố Hữu tìm tôi lắc đầu chán ngán nói ‘chuẩn bị để Hồng Linh nhận hoa của Bác thì lại thành Hồ Dzếnh’! Tôi nói, có ai bảo Hồng Linh đâu, với lại, tôi đùa, cũng là người Hoa cả mà anh. Tố Hữu nghiêm mặt: Hồng Linh kháng chiến, Hồ Dzếnh trong thành, sao lại ‘cũng’ được? Bác mà biết thì ra làm sao?” (Đèn Cù, trang 172). Để kiếm sống, ông xin ký hợp đồng với Nhà máy Xe lửa Gia Lâm làm những công việc nặng nhọc không đòi hỏi tay nghề cao và ít ai muốn làm. Sau khi tiếp quản nhà máy, cán bộ quan tâm đến lý lịch, họ xếp ông vào diện không đưa vào biên chế để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Đến khi Mỹ ném bom miền Bắc, ông xin làm ở Nhà máy Cơ khí Quang Trung để được gần nhà, tiện việc đi lại và chăm sóc vợ con. Dù có thấy tiếc cho sự không may của ông, nhưng tôi không nhận thức được sự “bất cận nhân tình” của chế độ mà ông là nạn nhân. Đứng bên ngoài hệ thống chính trị, Hồ Dzếnh quan sát miền Bắc xã hội chủ nghĩa một cách tỉnh táo trong hồi ký “Quyển sách không tên” (Nhà xuất bản Thanh Văn, Hoa Kỳ). Ông nhận ra cái sai cốt lõi tác hại lâu dài của nền giáo dục: bây giờ quy tất cả các môn học về chính trị. Ông cũng là người sớm nhận ra “văn học nô lệ cho chính trị”, do đó “nhà văn không khác gái điếm. Cô gái chiều khách hàng, nhà văn chiều thời đại”. Và “tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, nhưng phải xen vào công trình của tập thể”. Ông quan sát tình trạng của đất nước: “Lẽ sống dệt bằng khói lửa, người ta không biết gì hơn là thủ tiêu nhau để hòng thoát ngõ bí. Trong cuộc xáo trộn Bắc-Nam, có cái gì còn nguyên giá trị cố hữu đâu. Cái quý nhất là con người không còn quý nữa nếu nó không là thứ xuất phẩm được rèn đúc theo khuôn khổ của thời đại”. Ngày 20 tháng 8 năm 1970 báo Nhân Dân đăng 5 bài thơ của Lý Phương Liên: “Ca bình minh”, “Em mơ có một phiên toà”, “Lời ru với anh”, “Về người cha đã khuất”, “Thư gửi người bạn gái Mỹ”. Tác giả là công nhân trẻ ở nhà máy cơ khí. Báo của Đảng ca ngợi: “Một bông hoa vừa nở đã ngát hương”. Tất cả các báo đua nhau tìm xin thơ Lý Phương Liên coi như đó là giành đẳng cấp về cho tờ báo. Báo Lao Động bị chậm chân vì người phụ trách việc này là nhà thơ Thái Giang đang nghỉ phép. Do đó, tôi được giao nhiệm vụ khó khăn này: phải xin cho được ít nhất một bài thơ của Lý Phương Liên cho số báo sắp ra. Tôi đến nhà Lý Phương Liên gặp lúc chị đang tiếp hai người khách, nhà thơ Minh Giang phụ trách phòng văn hóa văn nghệ của nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân và nhà thơ Phạm Tiến Duật mới từ chiến trường miền Nam ra. Tôi thuộc bài thơ “Gửi anh bạn Triều Tiên” của Minh Giang từ năm 1950 đến nay mới được gặp nhà thơ cho nên rất vui. Với tư cách một đàng anh từng trải, hiểu biết, nhà thơ Minh Giang nhận xét, hiện nay chúng ta có hai nhiệm vụ chiến lược, giải phóng miền Nam và xây dựng miền Bắc. Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu ở chiến trường giải phóng miền Nam. Lý Phương Liên là nhà thơ tiêu biểu của hậu phương lớn miền Bắc. Lựa lúc thích hợp, tôi nói xin thơ đăng báo thì Lý Phương Liên cho biết, tập thơ chép tay của chị do bác Huyền Kiêu và bác Hải Như giữ. Các báo muốn đăng thơ của chị đều phải qua hai bác ấy. Mừng quá, nhà thơ Hải Như là bạn vong niên của tôi (anh hơn tôi chín tuổi). Tôi vội vã cáo từ mọi người để đi xin thơ đăng báo. Báo Lao Động đăng ba bài thơ của Lý Phương Liên có bài bình luận do tôi chấp bút. Ít lâu sau, báo Văn Nghệ đăng một trang thơ Lý Phương Liên có bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Dư luận sôi lên cho rằng cho tới lúc ấy, “Nghĩ về Thúy Kiều” là bài thơ hay nhất của Lý Phương Liên. Nhiều anh em báo Lao Động chê trách tôi không biết chọn thơ hay đã để sổng mất bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Nhưng ngay hôm sau có tin “một đồng chí lãnh đạo” (nghe nói là Trường Chinh) cho rằng “Nghĩ về Thúy Kiều” ẩn chứa tư tưởng phản động! Một cây đa cây đề của làng thơ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ông Hoàng Trung Thông phê phán “Nghĩ về Thúy Kiều” là: “Rắc rối cầu kỳ trong diễn tả, yếu đuối sướt mướt trong tình cảm, bi quan tăm tối trong tư tưởng”. Các nhà tuyên huấn đảng cho rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa không thể tồn tại một thân phận Thúy Kiều: “… Trái đất chúng mình cho đến hôm nay, Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi. Thời gian còn nửa ngày là đêm tối. Còn đồng tiền đổi trắng thay đen. Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen. Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến. Còn những đất đai triền miên chinh chiến…” Trong giới văn chương, nhiều người không đồng ý với những nhận xét áp đặt của tuyên huấn, nhưng như giáo sư Trần Văn Giàu viết trên báo Văn Nghệ ngày 19/9/1987 về tình trạng phê bình trong chế độ xã hội chủ nghĩa: “Lắm khi để nhận xét độc đoán không cho phép cãi lại”. Hơn 40 năm sau, nhiều bạn đọc vẫn nhớ và có lời khuyến khích, Lý Phương Liên đưa in tập thơ của thời tuổi trẻ, mang tên “Ca Bình Minh”, tên của một trong năm bài thơ in trên báo Nhân Dân lần đầu tiên. Chị thổ lộ: “Tôi nín lặng suốt 40 năm nay vì lời nguyền bỏ thơ của chính tôi. Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn, cơ cực, không liên quan đến ai. Tôi không thán oán. Người chịu nhiều cay đắng vì thơ tôi là chồng tôi.” Bạn đọc dễ dàng cảm nhận được vị đắng cay trong những lời “tôi không thán oán” của chị. Posted on Tháng Năm 14, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/14/tu-theo-cong-den-chong-cong-34-gap-ba-nha-van-bi-vui-dap/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (35): https://www.minds.com/newsfeed/1020194178893053952?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33): https://www.minds.com/newsfeed/1020193235434700800?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33) Hồi ký Tống Văn Công Khiếu nại là phụ lòng tập thể chi bộ Năm 1967 tôi làm phóng viên thường trú của báo Lao Động ở vùng than Quảng Ninh. Liên hiệp Công đoàn Quảng Ninh do ông Lê Bùi làm chủ tịch sắp xếp cho tôi ăn ở cạnh cơ quan trong một hốc núi vùng Khe Hùm, hằng ngày đi lại bằng xe đạp đến các mỏ than sưu tầm tài liệu. Một lần đến mỏ than Cọc Sáu tôi được một nhân viên phòng hành chính là Kế chăm sóc rất chu đáo. Anh Kế gầy ốm, miệng méo vì bị gãy xương hàm, nói hơi ngọng. Anh không để tôi đến nhà ăn tập thể mà mang cơm về nhà khách cho tôi. Mỗi sáng anh đi mua thức ăn điểm tâm giúp tôi, pha trà mời tôi. Đặc biệt anh rất hay hỏi về tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Tôi cảm mến, hỏi thăm và được anh kể chuyện đời riêng. Anh là thương binh bị gãy xương quai hàm ở trận Điện Biên Phủ. Sau khi rời quân đội, anh được phân công về đây làm nhân viên hành chính. Ở thời ấy ít ai muốn sống suốt đời với vùng mỏ. Người ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định vào đây làm thợ mỏ, ky cóp năm mười năm có lưng vốn thì trở về quê. Thanh niên ra đây làm ăn, đến tuổi lập gia đình, bố mẹ gọi về quê lấy vợ. Vùng mỏ rất hiếm các cô gái chưa chồng. Anh Kế luống tuổi, miệng méo, ngọng nghịu càng khó lọt vào mắt các cô gái vốn đã “cao giá”. Tại nhà ăn cơ quan có một cô cấp dưỡng đẹp người, tốt nết, luống tuổi mà vẫn phòng không, chỉ vì ông bố xưa kia là thư ký của chủ mỏ người Pháp. Thời này, giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, việc chọn vợ trước hết phải có “lập trường giai cấp”. Tuy vậy, do hoàn cảnh éo le của mình nên anh Kế và cô cấp dưỡng dễ tìm đến nhau. Chi bộ Đảng sớm phát hiện mối quan hệ bị coi là “bất chính” và anh Kế được các đồng chí của mình nhắc nhở trong cuộc họp thường kỳ. Bí thư chi bộ là một đồng chí miền Nam tập kết hỏi: “Là một đảng viên Cộng sản, đồng chí có thể gọi kẻ thù giai cấp là bố vợ được hay sao?” Anh Kế thừa nhận trước chi bộ mình sai lầm và hứa sẽ chấm dứt mối quan hệ bất chính này! Nhưng ra khỏi cuộc họp chi bộ thì tiếng gọi của tình yêu lại mạnh hơn! Anh Kế vẫn không thể chấm dứt “quan hệ bất chính” với cô cấp dưỡng đẹp người, ngoan nết. Cuối cùng, chi ủy đưa anh ra kiểm điểm trong cuộc họp chi bộ bất thường và quyết định khai trừ anh ra khỏi Đảng. Sau khi bị khai trừ anh Kế lẵng lặng đưa cô cấp dưỡng về sống chung. Nghe xong, tôi bảo chi bộ quyết định khai trừ anh là sai. Anh yêu cô cấp dưỡng, một người lao động thì tại sao lại bị khai trừ. Anh nên viết đơn khiếu nại, tôi xin mang lá đơn của anh đi gặp lãnh đạo tỉnh ủy Quảng Ninh đấu tranh bảo vệ anh. Thật không ngờ, anh nhất quyết từ chối: “Tôi rất cảm ơn đồng chí, các đồng chí đều rất yêu thương tôi, muốn bảo vệ lý lịch quân nhân, đảng viên cho tôi. Nhưng tôi không đủ tinh thần cách mạng và lập trường giai cấp, đã phụ lòng của các đồng chí. Vậy mà nay lại còn làm đơn khiếu nại thì vô ơn quá, tệ bạc quá, tôi không thể làm như thế được!” Dù anh Kế kiên quyết từ chối việc khiếu nại, tôi vẫn đi gặp ông Thúc Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Than Quảng Ninh để yêu cầu ông can thiệp. Ông Thúc bảo, bản thân người bị khai trừ đã chấp nhận việc đó là đúng, kiên quyết từ chối khiếu nại, vì vậy thì chúng ta không nên bới chuyện ra làm gì! Tôi lại mang chuyện này lên ông Lê Bùi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn, đề nghị tỉnh ủy xem xét lại quyết định kỷ luật này. Ông Lê Bùi cũng có ý kiến giống như ông Thúc. Hóa ra ý nghĩ cho rằng quyết định kỷ luật hai trừ đảng đối với anh Kế là sai chỉ có thể nảy ra từ những ai có não trạng không bình thường trong chế độ xã hội chủ nghĩa! Một lần tôi kể chuyện này cho nhà văn Bùi Ngọc Tấn nghe, anh ngẫm nghĩ rồi bảo: “Chuyện hay quá! Anh cho tôi xin nhé, nhưng tôi không viết thể ký sự mà sẽ viết thành một truyện ngắn.” Tôi đồng ý ngay, nhưng cho tới khi qua đời, anh Tấn vẫn chưa kịp viết chuyện này! Posted on Tháng Năm 10, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/10/tu-theo-cong-den-chong-cong-33-khieu-nai-la-phu-long-tap-the-chi-bo/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34): https://www.minds.com/newsfeed/1020193689652658176?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32): https://www.minds.com/newsfeed/1020192789393285120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·