ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34) Hồi ký Tống Văn Công Gặp ba nhà văn bị vùi dập Tôi gặp nhà văn Hà Minh Tuân ngay sau khi ông bị lâm nạn năm 1962. Bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến nguyên là cảm tử quân Hà Nội năm 1946, phụ trách công tác tuyên truyền thi đua của nhà máy gỗ Hà Nội ở bến Chương Dương, gần bãi sông Hồng. Tôi đến nhà máy gặp anh Tiến tìm tài liệu viết báo và nhân đó xin mua gỗ vụn làm củi đun bếp. Anh Tiến cho biết, ông Hà Minh Tuân vừa bị cách chức giám đốc Nhà xuất bản Văn học, đang lao động cải tạo ở đây. Công việc của ông là khuân gỗ dưới bến sông Hồng xếp lên xe hai bánh, kéo xe về, xếp gỗ vào kho nhà máy. Lúc giải lao giữa ca, anh Tiến mời ông vào văn phòng uống nước, trò chuyện với chúng tôi. Ông hơn tôi một giáp, hoạt động cách mạng từ năm 1943, tham gia Khởi nghĩa Tháng tám ở Hà Nội, rồi vào bộ đội lên đến chính ủy trung đoàn, sau tiếp quản Hà Nội được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của Nhà Xuất bản Văn học. Nếu ông cứ chuyên tâm vào việc “gác cổng chính trị” như các vị giám đốc khác thì hẳn đã leo lên cấp vụ, cấp bộ rồi, hoặc ít nhất cũng được yên vị tới lúc hưởng lương hưu. Nhưng do có máu mê văn chương, năm 1957 ông biết quyển “Trong lòng Hà Nội”, năm 1960 ông viết “Giữa hai trận tuyến”. Cả hai tác phẩm đều được đánh giá “đã đóng góp xuất sắc cho nền văn học xã hội chủ nghĩa”. Ông hăm hở viết một tác phẩm không né tránh, không bóp méo hiện thực, từng trang nóng bỏng hơi thở cuộc sống, có tựa đề “Vào Đời”, một bài học cho lớp trẻ trong giai đoạn mới. Quyển sách vừa xuất bản thì lập tức bị “ăn đòn hội chợ” của các nhà phê bình nhân danh “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Số bài phê bình tốn giấy mực hàng chục lần quyển sách 200 trang của ông. Ông phải làm bản tự kiểm điểm sai lầm vì đã viết quyển sách bôi nhọ xã hội tốt đẹp những sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và ngồi nghe cấp trên và các cấp dưới của mình xỉ vả, rồi nhận quyết định cách chức, đi lao động cải tạo vô thời hạn. Nhà thơ Xuân Sách có bốn câu thơ đúc kết cho ông về sự kiện này: “Bốn mươi tuổi mới Vào đời, Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ. Giữa hai trận tuyết ngu ngơ, Trong lòng Hà Nội, bây giờ là đâu?” Cho đến nay có nhiều bài viết về chuyện ông bị kỷ luật cách chức, đều bảo là không rõ sau đó ông làm gì ở đâu. Về tuổi tác, các bậc ở bộ đội, ở cơ quan và học vấn tôi thấy mình ở dưới ông rất xa. Từ khi bắt đầu cầm bút tôi chỉ chuyên tô hồng, cho nên tôi nghĩ là ông sai, nhất là Đảng đã cho rằng ông sai. Do đó, anh Trần Dũng Tiến và tôi khuyên ông nên cố gắng lao động cải tạo cho tốt để được phục hồi công tác. Nhưng ông vác gỗ mãi cho tới ngày Mỹ ném bom Hà Nội mà cấp trên cũng chẳng đoái hoài tới. Ông bỏ việc, biến mất, không ai biết “Trong lòng Hà Nội bây giờ là đâu”? Lúc ấy bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến chê trách Hà Minh Tuân vô Đảng sớm mà sao quá thiếu “đảng tính”! Không ngờ tới cuối đời, bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến cùng các cựu chiến binh Hà Văn Quận, Trần Anh Kim tích cực góp ý “Đảng phải đổi mới chính trị”, đã bị đòn đau hơn Hà Minh Tuân: ngồi tù! Nhiều bài viết về nhà văn Hồ Dzếnh đều nói ông chỉ làm thợ hợp đồng ở Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Có người nói ông chỉ làm ở Nhà máy Cơ khí Hà Nội. Năm 1968 tôi đến Nhà máy Cơ khí Quang Trung Hà Nội (gần bệnh viện Bạch Mai) để viết về phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai”. Thư ký công đoàn nhà máy là ông Lâm Thành Keng (người Việt gốc Hoa Chợ Lớn, sau 30-4-1975 làm chủ tịch Công đoàn quận 5) giới thiệu với tôi có hai tổ đạt danh hiệu Tổ Lao động Xã hội Chủ nghĩa: Tổ đúc và tổ hàn. Ông nói thêm, đặc biệt tổ đúc có một nhà văn nổi tiếng trước cách mạng là Hồ Dzếnh nay là thợ làm khuôn đúc rất giỏi. Tôi chọn viết về tổ hàn vì từng thích bài “Thợ hàn lò cao” nổi tiếng của Chính Yên miêu tả những người thợ hàn tài hoa như nghệ sĩ. Tuy vậy, tôi cũng gặp tổ trưởng tổ đúc và ông Hồ Dzếnh để tìm hiểu về những người thợ làm công việc nặng nhọc nhất. Nghe tôi nói tiếng Sài Gòn ông Hồ Dzếnh vui vẻ bảo ông từng sống trong ấy và hiện nay có nhiều người ruột thịt của ông ở trong ấy. Tôi thắc mắc hỏi ông vì sao một nhà thơ, một nhà văn nổi tiếng như ông đến tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” lại chọn cho mình cái công việc quá nặng nhọc này. Tôi có quen biết một vài nhà văn nhà thơ thời tiền chiến ở các cơ quan văn hóa văn nghệ và nghĩ nếu ông ở đó thì thích hợp và có ích cho đất nước hơn. Ban đầu ông nói úp úp mở mở, có lẽ vì e dè trước một nhà báo của chế độ. Dần dần thấy sự chân thành ngô nghê của tôi, ông cởi mở kể cho nghe những éo le oan khuất của mình không dễ gì được thông cảm. Sau khi Hà Nội nổ súng chống Pháp, số đông văn nghệ sĩ tản cư đã chuyển dần theo hướng lên Việt Bắc. Ông lại chạy ngược về Thanh Hóa quê ông, rồi xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Huyền Nhân, sinh con được bốn tháng thì bà bị thổ tả qua đời. Cuộc sống quá khó khăn, con không có sữa, ông buộc phải mang con vào Sài Gòn sống nhờ người anh ruột có cửa hàng xe đạp ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu). Năm 1954, Hiệp định Geneve quy định đất nước tạm thời chia làm hai miền. Đang có cuộc sống yên ổn ở Sài Gòn, nhưng ông lại nhất quyết phải mang đứa con bốn tuổi ra miền Bắc, bởi ngoài đó mới là chế độ mà ông đã góp phần xây dựng. Ra Bắc, ông đi bước nữa với bà Hồng Nhật ở 26B phố Huế. Vợ chồng ông ở tầng trệt có thể buôn bán kiếm sống. Sau giải phóng Hà Nội, cán bộ quản lý nhà đất cho rằng gia đình ông ít người mà chiếm khu nhà quá rộng, họ quyết định lấy tầng trệt phân phối cho cán bộ từ chiến khu về. Ông đến các cơ quan văn hóa tìm bạn cũ. Lãnh đạo văn nghệ từ Việt Bắc về coi ông là kẻ đã rời bỏ kháng chiến “dinh tê” về thành, nhìn ông “đầy cảnh giác”! Ông Trần Đĩnh kể trong cuốn Đèn Cù: “Đại hội Văn nghệ năm 1961, giờ nghỉ, Tố Hữu tìm tôi lắc đầu chán ngán nói ‘chuẩn bị để Hồng Linh nhận hoa của Bác thì lại thành Hồ Dzếnh’! Tôi nói, có ai bảo Hồng Linh đâu, với lại, tôi đùa, cũng là người Hoa cả mà anh. Tố Hữu nghiêm mặt: Hồng Linh kháng chiến, Hồ Dzếnh trong thành, sao lại ‘cũng’ được? Bác mà biết thì ra làm sao?” (Đèn Cù, trang 172). Để kiếm sống, ông xin ký hợp đồng với Nhà máy Xe lửa Gia Lâm làm những công việc nặng nhọc không đòi hỏi tay nghề cao và ít ai muốn làm. Sau khi tiếp quản nhà máy, cán bộ quan tâm đến lý lịch, họ xếp ông vào diện không đưa vào biên chế để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Đến khi Mỹ ném bom miền Bắc, ông xin làm ở Nhà máy Cơ khí Quang Trung để được gần nhà, tiện việc đi lại và chăm sóc vợ con. Dù có thấy tiếc cho sự không may của ông, nhưng tôi không nhận thức được sự “bất cận nhân tình” của chế độ mà ông là nạn nhân. Đứng bên ngoài hệ thống chính trị, Hồ Dzếnh quan sát miền Bắc xã hội chủ nghĩa một cách tỉnh táo trong hồi ký “Quyển sách không tên” (Nhà xuất bản Thanh Văn, Hoa Kỳ). Ông nhận ra cái sai cốt lõi tác hại lâu dài của nền giáo dục: bây giờ quy tất cả các môn học về chính trị. Ông cũng là người sớm nhận ra “văn học nô lệ cho chính trị”, do đó “nhà văn không khác gái điếm. Cô gái chiều khách hàng, nhà văn chiều thời đại”. Và “tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, nhưng phải xen vào công trình của tập thể”. Ông quan sát tình trạng của đất nước: “Lẽ sống dệt bằng khói lửa, người ta không biết gì hơn là thủ tiêu nhau để hòng thoát ngõ bí. Trong cuộc xáo trộn Bắc-Nam, có cái gì còn nguyên giá trị cố hữu đâu. Cái quý nhất là con người không còn quý nữa nếu nó không là thứ xuất phẩm được rèn đúc theo khuôn khổ của thời đại”. Ngày 20 tháng 8 năm 1970 báo Nhân Dân đăng 5 bài thơ của Lý Phương Liên: “Ca bình minh”, “Em mơ có một phiên toà”, “Lời ru với anh”, “Về người cha đã khuất”, “Thư gửi người bạn gái Mỹ”. Tác giả là công nhân trẻ ở nhà máy cơ khí. Báo của Đảng ca ngợi: “Một bông hoa vừa nở đã ngát hương”. Tất cả các báo đua nhau tìm xin thơ Lý Phương Liên coi như đó là giành đẳng cấp về cho tờ báo. Báo Lao Động bị chậm chân vì người phụ trách việc này là nhà thơ Thái Giang đang nghỉ phép. Do đó, tôi được giao nhiệm vụ khó khăn này: phải xin cho được ít nhất một bài thơ của Lý Phương Liên cho số báo sắp ra. Tôi đến nhà Lý Phương Liên gặp lúc chị đang tiếp hai người khách, nhà thơ Minh Giang phụ trách phòng văn hóa văn nghệ của nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân và nhà thơ Phạm Tiến Duật mới từ chiến trường miền Nam ra. Tôi thuộc bài thơ “Gửi anh bạn Triều Tiên” của Minh Giang từ năm 1950 đến nay mới được gặp nhà thơ cho nên rất vui. Với tư cách một đàng anh từng trải, hiểu biết, nhà thơ Minh Giang nhận xét, hiện nay chúng ta có hai nhiệm vụ chiến lược, giải phóng miền Nam và xây dựng miền Bắc. Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu ở chiến trường giải phóng miền Nam. Lý Phương Liên là nhà thơ tiêu biểu của hậu phương lớn miền Bắc. Lựa lúc thích hợp, tôi nói xin thơ đăng báo thì Lý Phương Liên cho biết, tập thơ chép tay của chị do bác Huyền Kiêu và bác Hải Như giữ. Các báo muốn đăng thơ của chị đều phải qua hai bác ấy. Mừng quá, nhà thơ Hải Như là bạn vong niên của tôi (anh hơn tôi chín tuổi). Tôi vội vã cáo từ mọi người để đi xin thơ đăng báo. Báo Lao Động đăng ba bài thơ của Lý Phương Liên có bài bình luận do tôi chấp bút. Ít lâu sau, báo Văn Nghệ đăng một trang thơ Lý Phương Liên có bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Dư luận sôi lên cho rằng cho tới lúc ấy, “Nghĩ về Thúy Kiều” là bài thơ hay nhất của Lý Phương Liên. Nhiều anh em báo Lao Động chê trách tôi không biết chọn thơ hay đã để sổng mất bài “Nghĩ về Thúy Kiều”. Nhưng ngay hôm sau có tin “một đồng chí lãnh đạo” (nghe nói là Trường Chinh) cho rằng “Nghĩ về Thúy Kiều” ẩn chứa tư tưởng phản động! Một cây đa cây đề của làng thơ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ông Hoàng Trung Thông phê phán “Nghĩ về Thúy Kiều” là: “Rắc rối cầu kỳ trong diễn tả, yếu đuối sướt mướt trong tình cảm, bi quan tăm tối trong tư tưởng”. Các nhà tuyên huấn đảng cho rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa không thể tồn tại một thân phận Thúy Kiều: “… Trái đất chúng mình cho đến hôm nay, Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi. Thời gian còn nửa ngày là đêm tối. Còn đồng tiền đổi trắng thay đen. Còn sắc tài bạc mệnh với hờn ghen. Còn những Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến. Còn những đất đai triền miên chinh chiến…” Trong giới văn chương, nhiều người không đồng ý với những nhận xét áp đặt của tuyên huấn, nhưng như giáo sư Trần Văn Giàu viết trên báo Văn Nghệ ngày 19/9/1987 về tình trạng phê bình trong chế độ xã hội chủ nghĩa: “Lắm khi để nhận xét độc đoán không cho phép cãi lại”. Hơn 40 năm sau, nhiều bạn đọc vẫn nhớ và có lời khuyến khích, Lý Phương Liên đưa in tập thơ của thời tuổi trẻ, mang tên “Ca Bình Minh”, tên của một trong năm bài thơ in trên báo Nhân Dân lần đầu tiên. Chị thổ lộ: “Tôi nín lặng suốt 40 năm nay vì lời nguyền bỏ thơ của chính tôi. Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn, cơ cực, không liên quan đến ai. Tôi không thán oán. Người chịu nhiều cay đắng vì thơ tôi là chồng tôi.” Bạn đọc dễ dàng cảm nhận được vị đắng cay trong những lời “tôi không thán oán” của chị. Posted on Tháng Năm 14, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/14/tu-theo-cong-den-chong-cong-34-gap-ba-nha-van-bi-vui-dap/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (35): https://www.minds.com/newsfeed/1020194178893053952?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33): https://www.minds.com/newsfeed/1020193235434700800?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33) Hồi ký Tống Văn Công Khiếu nại là phụ lòng tập thể chi bộ Năm 1967 tôi làm phóng viên thường trú của báo Lao Động ở vùng than Quảng Ninh. Liên hiệp Công đoàn Quảng Ninh do ông Lê Bùi làm chủ tịch sắp xếp cho tôi ăn ở cạnh cơ quan trong một hốc núi vùng Khe Hùm, hằng ngày đi lại bằng xe đạp đến các mỏ than sưu tầm tài liệu. Một lần đến mỏ than Cọc Sáu tôi được một nhân viên phòng hành chính là Kế chăm sóc rất chu đáo. Anh Kế gầy ốm, miệng méo vì bị gãy xương hàm, nói hơi ngọng. Anh không để tôi đến nhà ăn tập thể mà mang cơm về nhà khách cho tôi. Mỗi sáng anh đi mua thức ăn điểm tâm giúp tôi, pha trà mời tôi. Đặc biệt anh rất hay hỏi về tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Tôi cảm mến, hỏi thăm và được anh kể chuyện đời riêng. Anh là thương binh bị gãy xương quai hàm ở trận Điện Biên Phủ. Sau khi rời quân đội, anh được phân công về đây làm nhân viên hành chính. Ở thời ấy ít ai muốn sống suốt đời với vùng mỏ. Người ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định vào đây làm thợ mỏ, ky cóp năm mười năm có lưng vốn thì trở về quê. Thanh niên ra đây làm ăn, đến tuổi lập gia đình, bố mẹ gọi về quê lấy vợ. Vùng mỏ rất hiếm các cô gái chưa chồng. Anh Kế luống tuổi, miệng méo, ngọng nghịu càng khó lọt vào mắt các cô gái vốn đã “cao giá”. Tại nhà ăn cơ quan có một cô cấp dưỡng đẹp người, tốt nết, luống tuổi mà vẫn phòng không, chỉ vì ông bố xưa kia là thư ký của chủ mỏ người Pháp. Thời này, giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, việc chọn vợ trước hết phải có “lập trường giai cấp”. Tuy vậy, do hoàn cảnh éo le của mình nên anh Kế và cô cấp dưỡng dễ tìm đến nhau. Chi bộ Đảng sớm phát hiện mối quan hệ bị coi là “bất chính” và anh Kế được các đồng chí của mình nhắc nhở trong cuộc họp thường kỳ. Bí thư chi bộ là một đồng chí miền Nam tập kết hỏi: “Là một đảng viên Cộng sản, đồng chí có thể gọi kẻ thù giai cấp là bố vợ được hay sao?” Anh Kế thừa nhận trước chi bộ mình sai lầm và hứa sẽ chấm dứt mối quan hệ bất chính này! Nhưng ra khỏi cuộc họp chi bộ thì tiếng gọi của tình yêu lại mạnh hơn! Anh Kế vẫn không thể chấm dứt “quan hệ bất chính” với cô cấp dưỡng đẹp người, ngoan nết. Cuối cùng, chi ủy đưa anh ra kiểm điểm trong cuộc họp chi bộ bất thường và quyết định khai trừ anh ra khỏi Đảng. Sau khi bị khai trừ anh Kế lẵng lặng đưa cô cấp dưỡng về sống chung. Nghe xong, tôi bảo chi bộ quyết định khai trừ anh là sai. Anh yêu cô cấp dưỡng, một người lao động thì tại sao lại bị khai trừ. Anh nên viết đơn khiếu nại, tôi xin mang lá đơn của anh đi gặp lãnh đạo tỉnh ủy Quảng Ninh đấu tranh bảo vệ anh. Thật không ngờ, anh nhất quyết từ chối: “Tôi rất cảm ơn đồng chí, các đồng chí đều rất yêu thương tôi, muốn bảo vệ lý lịch quân nhân, đảng viên cho tôi. Nhưng tôi không đủ tinh thần cách mạng và lập trường giai cấp, đã phụ lòng của các đồng chí. Vậy mà nay lại còn làm đơn khiếu nại thì vô ơn quá, tệ bạc quá, tôi không thể làm như thế được!” Dù anh Kế kiên quyết từ chối việc khiếu nại, tôi vẫn đi gặp ông Thúc Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Than Quảng Ninh để yêu cầu ông can thiệp. Ông Thúc bảo, bản thân người bị khai trừ đã chấp nhận việc đó là đúng, kiên quyết từ chối khiếu nại, vì vậy thì chúng ta không nên bới chuyện ra làm gì! Tôi lại mang chuyện này lên ông Lê Bùi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn, đề nghị tỉnh ủy xem xét lại quyết định kỷ luật này. Ông Lê Bùi cũng có ý kiến giống như ông Thúc. Hóa ra ý nghĩ cho rằng quyết định kỷ luật hai trừ đảng đối với anh Kế là sai chỉ có thể nảy ra từ những ai có não trạng không bình thường trong chế độ xã hội chủ nghĩa! Một lần tôi kể chuyện này cho nhà văn Bùi Ngọc Tấn nghe, anh ngẫm nghĩ rồi bảo: “Chuyện hay quá! Anh cho tôi xin nhé, nhưng tôi không viết thể ký sự mà sẽ viết thành một truyện ngắn.” Tôi đồng ý ngay, nhưng cho tới khi qua đời, anh Tấn vẫn chưa kịp viết chuyện này! Posted on Tháng Năm 10, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/10/tu-theo-cong-den-chong-cong-33-khieu-nai-la-phu-long-tap-the-chi-bo/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34): https://www.minds.com/newsfeed/1020193689652658176?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32): https://www.minds.com/newsfeed/1020192789393285120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32) Hồi ký Tống Văn Công Viết ký sự anh hùng lao động Trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ còn hai thành phần kinh tế là hợp tác xã và quốc dân, cho nên không có cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển. Sau Cách mạng tháng Mười, Lênin đề ra phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa nhằm thay thế cho cạnh tranh. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh vận dụng có “sáng tạo” bài học đó với tên mới thi đua yêu nước. Có điều, cạnh tranh là nỗ lực của từng xí nghiệp, ngành hàng, không có sự lãnh đạo của một tổ chức chính trị, không có phong trào, chọn và bồi dưỡng điển hình, không có bình bầu các danh hiệu chiến sĩ, anh hùng. Có lẽ vì sự khác nhau đó mà không ai đánh giá tác dụng của thi đua giống như Karl Marx đánh giá cạnh tranh: “Đối với lao động, cạnh tranh có ý nghĩa trọng yếu như phân công vậy. Nó cần thiết cho việc thiết lập sự bình đẳng.” (Sự khốn cùng của triết học) Ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa cứ 5 năm tổ chức một kỳ Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua. Năm 1966 Đại hội lần thứ tư mang tên đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước. Tên gọi đã nói lên mục đích phục vụ cho cuộc chiến đang ở thời điểm quyết liệt nhất. Báo cáo của đại hội do phó thủ tướng Lê Thanh Nghị trình bày có câu: “Dân tộc anh hùng, thời đại anh hùng, tất nhiên sản sinh ra nhiều người con anh hùng.” Báo Lao Động phân công tôi viết tin đại hội anh hùng và ký sự các nhân vật anh hùng. Báo cáo của đại hội chỉ nêu tên năm nhân vật đặc sắc nhất của các ngành, trong đó cô thợ dệt Đào Thị Hào được nói trước nhất, lại được cái thành tích: “Đồng chí Đào Thị Hào một mình điều khiển 24 máy dệt suốt mấy năm liền với năng suất cao nhất, chất lượng tốt nhất, tiết kiệm từng mẫu sợi, anh dũng tham gia chiến đấu nhiều trận, quên mình bảo vệ của công.” Lý lịch gia đình của cô Hào có nhiều điều thuộc vào loại kiêng kỵ của chế độ như: tín đồ công giáo nhiều đời; người anh trai là lính của quân đội Pháp chiếm đóng Nam Định, nay là thợ cắt tóc. Đào Thị Hào đã phải phấn đấu vượt bậc để được xếp vào tốp đầu của 29 công nhân sắp được tuyên dương danh hiệu anh hùng lao động. Do đó, các nhà báo, nhà văn tranh nhau xin gặp Đào Thị Hào. Tôi hẹn gặp chị cùng với nhà thơ Thái Giang, tác giả Lửa sáng rừng đoạt giải nhất về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Trong buổi gặp đầu tiên, khi mời chúng tôi uống nước, Đào Thị Hào hỏi “Gia đình hai anh sống ở đâu?” Thái Giang vui vẻ khoe vợ anh là cô giáo ở Hà Nội đã có hai con và giành trả lời thay cho tôi: “Còn cái ông Công này thì còn phải chạy ‘mòn lốp xe đạp'” (ý nói còn chạy tìm vợ mòn cả lốp xe đạp). Buổi chiều, tôi đi tới một mình, xin lỗi cô Hào vì lúc sáng không tiện đính chính chuyện anh Thái Giang nói đùa, thực ra tôi đã lập gia đình và có một con. Quan hệ giữa hai bên như vậy là rạch ròi: một anh nhà báo đã có gia đình hỏi chuyện nữ anh hùng lao động chỉ nhằm mục đích viết được bài báo chân thật. Do đó cuộc hỏi chuyện rất cởi mở. Cô Hào đã kể cho tôi nghe về nhiều chuyện riêng tư, do đó sau này tôi được bạn bè gọi đùa là “chuyên gia về Đào Thị Hào”. Ban đầu tôi không có ý định viết một quyển sách mà chỉ viết một bài báo đăng trước ngày khai mạc đại hội thi đua toàn quốc. Để tăng sức thuyết phục người đọc, tôi viết theo cách nhân vật tự kể về mình. Điều đó khó cho tôi là một chàng trai Bến Tre của miền Nam phải viết độc thoại cho cô gái Nam Định, Bắc Kỳ. Báo đang in thì có lệnh hoãn Đại hội lại sau ba tháng. Do đó khi Đại hội sắp khai mạc, tôi phải viết bài thứ hai về Đào Thị Hào. Nhà thơ Hải Như thấy tôi đã viết được hai bài về Đào Thị Hào nên yêu cầu tôi viết dùm một bài nữa cho báo Cứu Quốc. Nhà xuất bản Lao Động thấy tôi đã có tới ba bài báo viết về Đào Thị Hào nên gọi tôi ký hợp đồng viết một quyển sách. Tôi chỉ viết thêm bài thứ tư nữa là đã có quyển sách gần 100 trang với tựa đề “Mơ ước và chiến công”. Bất ngờ Cục xuất bản của Bộ Văn hóa Thông tin thông báo về sự “đụng hàng”. Có ba người biết về Đào Thị Hào: nhà xuất bản Thanh Niên xin phép in sách của nhà văn Huy Phương viết về Đào Thị Hào; nhà xuất bản Phụ Nữ xin in sách của nhà văn Mộng Sơn cũng biết về Đào Thị Hào. Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng cho rằng còn 28 anh hùng lao động được tuyên dương tại kỳ đại hội này, nhưng chưa có ai viết, do đó không thể cho phép in 3 quyển sách về một người. Cục xuất bản yêu cầu ba nhà xuất bản nộp bản thảo viết về Đào Thị Hào lên Ban Tuyên huấn Trung ương. Ông Trần Quang Huy Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương đọc cả ba bản thảo và ông chọn quyển “Mơ ước và chiến công” của tôi (bút danh là Tống Văn) với lời phê: “Tôi rất xúc động khi đọc quyển sách này và đề nghị cho in số lượng lớn và vận động toàn miền Bắc đọc cùng với quyển ‘Sống như anh’ viết về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.” Thực hiện lệnh này, nhà xuất bản Lao Động cho in 50.000 quyển “Mơ ước và chiến công”, Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng Liên đoàn Lao động ra văn thư liên tịch chỉ đạo ngành văn hóa thông tin và hệ thống công đoàn phối hợp tổ chức cho toàn miền Bắc đọc sách. Sau này, Đào Thị Hào nói riêng với tôi: “Hai nhà văn Huy Phương, Mộng Sơn bỏ công sức nhiều hơn anh gấp bội. Chị Mộng Sơn đã một năm sống thực tế ở nhà máy, cùng ăn cùng ở với chúng em. Anh Huy Phương cũng đi thực tế ở đây nửa năm. Anh chị ấy có kế hoạch viết một quyển sách ngay từ đầu chứ không phải như anh. Em rất tiếc sách họ không được duyệt.” Tôi không đọc được sách của hai “đối thủ” của mình trong vụ này, do đó tôi chỉ đoán mò có lẽ là nhà văn họ không sành công việc tuyên huấn của Đảng như tôi để thể hiện các “tính cách” cần phải có của một điển hình lao động tập thể xã hội chủ nghĩa? Sau Đại hội Anh hùng tôi xuống Nam Định công tác thì anh Hoàng Minh, trưởng ban Tuyên huấn Liên hiệp Công đoàn kể một chuyện không vui vừa xảy ra: phóng viên L. B. của Việt Nam Thông tấn xã gửi đơn kiện Đào Thị Hào, vì sau khi được bầu anh hùng lao động, cô muốn trèo cao hơn đã chấm dứt quan hệ tình cảm với anh ta. Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho biết tuần sau sẽ họp để xem xét việc này. Tôi nói với anh Hoàng Minh nên kiến nghị với tỉnh ủy đừng xem xét việc riêng tư này. Dù đã là vợ chồng, người ta cũng có thể li dị khi không còn yêu nhau, uống hồ chỉ mới là “quan hệ tình cảm”. Ít lâu sau, anh Hoàng Minh cho biết, tỉnh ủy hủy bỏ chuyện xem xét đơn kiện. Anh chàng L. B. bị đá là vì cô Hào phát hiện anh ta tuy đã là phóng viên ở cơ quan trung ương mà vẫn còn “bạch vệ” (tức là chưa được vào đảng). Thế thì bị “đá” quả là không oan. Nghe vậy, tôi chỉ phì cười! Quan tâm nhân vật của mình, tôi ngõ ý muốn đứng ra mai mối cho cô “một người xứng đáng”. Trong dịp Hào lên Hà Nội, tôi đèo cô bằng xe đạp đến khu nhà tập thể của Bộ Ngoại giao ở đường Trần Hưng Đạo thăm nhà anh Nguyễn Giáp (lúc đó anh là Vụ phó Vụ châu Á, sau này là đại sứ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nhật Bản). Anh Giáp rất niềm nở, nhưng Hào thì lặng lẽ. Lúc ra đường, với giọng cười cợt cô hỏi: “Anh định giới thiệu ông ấy làm bố em đấy phỏng?” Tôi vừa ngạc nhiên vừa bực mình đáp: “Cô đã 29, anh ấy 43, sao lại là bố? Thôi, để xem cô chết già!” Cô đáp: “Vâng, thà chết già!” Cô về Nam Định, khoảng hai tháng sau lên Hà Nội, cho tôi xem ảnh anh Nguyễn Văn An lúc đó là kỹ sư học ở Liên Xô về làm ở Sở điện lực Nam Định. Tôi kêu lên: “Ô, đẹp trai quá!” Không nói ra, nhưng tôi nghĩ anh này có lẽ nhỏ tuổi hơn cô Hào. Sau này biết anh hơn có một tuổi. Năm 2001, Nguyễn Văn An được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Nhà thơ Hải Như so sánh quyển sách tôi viết về Đào Thị Hào với quyển “Sống như anh” của anh Thái Duy (bút danh là Trần Đình Vân) và cho rằng đọc “‘Mơ ước và chiến công’ thấy rõ Đào Thị Hào là một cô gái thùy mị, nết na, vừa khiêm tốn học hỏi chị em, lại vừa gương mẫu lôi kéo chị em. “Sống như anh” của Thái Duy chưa làm rõ cá tính Nguyễn Văn Trỗi.” Hóa ra điều được khen là hay nhất lại là điều xa sự thật nhất! Xin kể chuyện này: 20 năm sau, tôi từ Sài Gòn trở ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động. Lúc này Đào Thị Hào làm giám đốc nhà máy dệt Dân Sinh, nhưng quản lý không tốt, nhà máy lụn bại sắp sụp đổ. Ở chế độ xã hội chủ nghĩa sau khi được bầu danh hiệu anh hùng lao động thì sẽ được đề bạt vượt cấp. Công nhân Nhà máy Toa xe Lê Minh Đức trở thành Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường sắt. Công dân dệt Cù Thị Hậu trở thành Chủ tịch Công đoàn ngành dệt, cuối cùng là Ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động, đến nay vẫn đang là Chủ tịch Hội người Cao tuổi. Đó là những chức vụ “ăn theo nói leo”. Đào Thị Hào thất bại vì không được giao một việc “ăn theo nói leo” mà làm giám đốc một nhà máy, đòi hỏi phải có kiến thức quản lý kinh tế. Báo Lao Động đăng bài của một cộng tác viên ở Nam Định phân tích những sai phạm trong quản lý do sự kém cỏi của giám đốc Đào Thị Hào. Đã quen được ca tụng, nay lại là phu nhân của ông Ủy viên Trung ương, Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng làm sao chịu được sự chê bai. Chống lại báo lao động thì ngại đụng chạm tôi, dù sao cũng đã từng có quan hệ như là ông anh với cô em. Hào đến Tổng Liên đoàn Lao động đòi gặp phó chủ tịch Cù Thị Hậu, là người học làm thợ dệt ở Nam Định khi Hào đã nổi tiếng và sắp trở thành anh hùng. Người bảo vệ cơ quan cho biết phó chủ tịch Cù Thị Hậu đang chủ trì cuộc họp, do đó không thể tiếp khách. Hảo nói với người bảo vệ: “Tao muốn hỏi con Hậu, có phải nó định dùng tờ báo Lao Động để đánh chồng tao (ý muốn nói bôi xấu vợ tức là bêu rếu chồng)?” Bà Cù Thị Hậu nghe chuyện chỉ lắc đầu im lặng, còn tôi thì nhớ lại lời khen của nhà thơ Hải Như để tự rút ra cho mình bài học về viết ký sự nhân vật: Có thật tôi đã miêu tả trung thực một nhân vật anh hùng đang được vận động thanh niên cả nước học tập? Hóa ra tôi đã góp phần khuyến khích xã hội tôn vinh một mẫu người thượng tôn thành tích mà không cần trau dồi nhân cách! Posted on Tháng Năm 7, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/07/tu-theo-cong-den-chong-cong-32-viet-ky-su-anh-hung-lao-dong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33): https://www.minds.com/newsfeed/1020193235434700800?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (31): https://www.minds.com/newsfeed/1020192278617489408?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (31) Hồi ký Tống Văn Công Bài viết theo chỉ thị của thủ tướng Sau giải phóng miền Bắc, sản xuất nông nghiệp có phát triển đôi chút, nhưng sau khi hoàn thành hợp tác hóa thì năng suất lúa sa sút dần. Đảng không ngừng khuyến khích phong trào nông dân “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt” và “Tăng cường liên minh công nông, tích cực phục vụ nông nghiệp”. Nhưng ở đâu cũng nghe câu ca dao mới “Mỗi người làm việc bằng hai. Để cho chủ nhiệm mua đài sắm xe. Mỗi người làm việc bằng ba. Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân” nói lên nỗi bất bình trước nạn tham nhũng. Và câu tục ngữ mới: “Ăn cơm trước kẻng” là sự phản ứng của nông dân bỏ bê việc hợp tác xã để có thì giờ chăm chút mảnh đất 5 % của riêng mình. Trong hội nghị tổng kết tình hình sản xuất nông nghiệp miền Bắc, thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc lá thư của lá cờ đầu phong trào hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Hà Tây tố cáo một đội xe thuộc công ty vận tải hàng hóa Hà Nội, do không được “bồi dưỡng” đã từ chối chở phân vào tận kho. Dù hợp tác xã tha thiết yêu cầu, họ vẫn cứ đổ phân ngoài đường cách kho chứa phân hơn 200m. Giữa lúc thiếu nhân công mà hợp tác xã phải cắt ra 200 người chuyển phần vào kho! Đọc xong lá thư, ông thủ tướng gằn giọng từng lời đanh thép cho rằng, những việc như vậy không thể để tiếp tục xảy ra trong giai cấp công nhân, làm xấu đi quan hệ liên minh công nông. Cả hội trường phẫn nộ. Chột dạ nhất là những người lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vì tự thấy mình có trách nhiệm làm “trường học chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân” mà đã để cho đoàn viên công nhân tha hóa đến như vậy! Kế đó là những người làm báo Lao Động, cơ quan ngôn luận có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận động và tổ chức phong trào hành động cách mạng của giai cấp công nhân, không kịp thời phê phán chuyện xấu xa tày đình như vậy! Tôi, một phóng viên chuyên theo dõi đời sống công nhân, nhưng lại được giao đi điều tra vụ này. Tôi không tốn nhiều công sức điều tra, bởi sự thật đã bày ra trước mắt: xe từ tỉnh lộ vào còn cách kho phân một quảng đồng thì dừng lại. Từ đây băng qua kho phân chỉ khoảng 200m, mùa này nắng nóng như thiêu, mặt đất khô nứt nẻ. Vậy tại sao các anh lái xe không chịu chạy xoẹt qua quảng đồng để đỡ tốn công sức của 200 nhân công giữa ngày mùa? Câu trả lời chỉ có thể là: Họ ngấm ngầm vòi vĩnh! Tại sao hợp tác xã không trả giá cho sự vòi vĩnh đó, nó rẻ hơn tốn phí 200 nhân công. Ông tân chủ nhiệm đã nói rồi: “Đạo đức xã hội chủ nghĩa không cho phép chúng tôi chiều cái thói vòi hối lộ như thế!” Tôi viết bài báo không khó khăn gì, chỉ là làm rõ thêm các tình tiết đã có trong lá thư của hợp tác xã lá cờ đầu gửi lên Thủ tướng. Tòa soạn giục nộp bài. Tôi nói với anh Đinh Gia Bảy, Ủy viên ban biên tập chờ tôi đưa bài cho giám đốc công ty vận tải hàng hóa Hà Nội đọc xem họ có ý kiến thế nào. Các anh đều bảo không cần: “Lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải, Ủy ban Nhân dân Hà Nội, Liên hiệp Công đoàn Hà Nội còn đang hối hả còn hơn cả chúng ta, họ đã chỉ đạo việc kiểm điểm từ dưới lên trên. Bài này đăng lên báo xong, chỉ có việc là đòi họ nhanh chóng nghiêm khắc tiếp thu và đề ra phương pháp sửa chữa, có thể họ phải cử đại biểu đi xin lỗi bà con nông dân đấy!” Tôi mang tờ báo nóng hổi tới 14 Hàng Nón, nhà riêng của anh Phúc Kính (anh Phúc cận thị phải mang kính nên gọi kèm theo tên) Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, thư ký Công đoàn Công ty Vận tải Hàng hóa Hà Nội để bàn với anh chuyện góp ý giám đốc công ty viết bài tiếp thu phê bình nhanh chóng kịp đăng vào số báo sắp tới. Anh Phúc Kính nhận lời một cách vui vẻ. Nhưng sáng hôm sau anh Phúc Kính gọi điện cho tôi biết đã xảy ra chuyện trục trặc chưa giải quyết được. Tất cả anh em đội xe vận chuyển phân bón hôm đó kiên quyết không chịu nhận khuyết điểm. Họ nói nếu kỷ luật vô lý thì họ phản đối tới cùng! Anh Phúc Kính yêu cầu tôi chiều hôm đó sang công ty để cùng bàn với đảng ủy, giám đốc, và tổ chức công đoàn tìm cách giải quyết. Chiều hôm đó, cùng tiếp tôi còn có thêm bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản, phía chủ nhà ngồi chật cả phòng. Tôi cảm thấy mình có lỗi vì đã không sớm đến với họ, không “nghe hai tai”, gây rắc rối cho họ. Nhưng lạ thay họ không hề khiển trách tôi mà coi tôi chỉ là người đã chấp hành chỉ thị của thủ tướng và giờ đây đang đến để cùng họ tìm cách gỡ rối! Tổng giám đốc công ty cho biết, anh em đội xe hôm đó từ chối không chở hàng hóa chạy băng ngang qua cánh đồng 200m là họ nghiêm túc chấp hành quy định về kĩ thuật. Nguyên tắc vận tải hàng hóa chỉ cho phép xe tải chạy trên mặt đường có đủ sức chịu tải trọng đúng theo quy định kĩ thuật. Xe không được phép chạy trên đồng ruộng, dù với mắt nhìn thấy mặt ruộng khô nẻ. Bởi vì không ai dám đảm bảo ở bên dưới một hai tấc đất khô không có bùn nhão. Làm sao đảm bảo sẽ không bị sa lầy? Nếu xe bị sa lầy thì 200 nhân công của hợp tác xã cũng không thể kéo lên được! Rắc rối to! Chao ơi, sự thật giản đơn như vậy mà tôi không nghĩ ra! Ông giám đốc đề nghị giải pháp cần tìm: 1 – Đảm bảo sự chấp hành chỉ thị của thủ tướng một cách nghiêm túc, không gây ra nghi ngờ về “sự sáng suốt” của đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng chính phủ. 2 – Đảm bảo uy tín của tờ báo Lao Động, cơ quan ngôn luận của tổ chức công đoàn và giai cấp công nhân Việt Nam. 3 – Bảo vệ được hành động đúng đắn của anh em đội xe. 4 – Tôn trọng ý muốn của bà con nông dân, nhưng giải thích có lý có tình để bà con thông cảm. Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhưng tự nghĩ, mình không đáng được hưởng nhiều sự “đảm bảo” đến thế! Bốn cái “đảm bảo” của ông giám đốc, thật ra thì họ đã bàn bạc thâu đêm cặn kẽ rồi mới mời tôi sang. Bây giờ chỉ có việc chia ra từng bước mà thực hiện. Trước tiên, công ty có công văn gửi báo lao động xin thành khẩn tiếp thu bài báo đã thẳng thắn chỉ ra nhiều nội dung bổ ích, hứa sẽ kiểm điểm nghiêm túc, chân thành, cảm ơn tờ báo của giai cấp công nhân và phóng viên viết bài. Cuối cùng là bản kiểm điểm chân tình một cách cẩn thận, nhẹ nhàng, nhưng chỉ rõ ra sự vô tội của đội xe. Đúng ra việc cần làm không phải chỉ có vậy! Chẳng lẽ hệ thống giúp việc của thủ tướng không có trách nhiệm gì khi trao cho ông tài liệu nói trước cả ngàn cán bộ chủ chốt những điều không đúng bản chất của sự việc? Chẳng lẽ, tôi, một phóng viên đi viết bài điều tra, nhưng không điều tra gì cả mà vẫn được miễn trách nhiệm bởi vì mọi công cụ tuyên truyền của đảng đều phải được bảo vệ? Chẳng lẽ… Posted on Tháng Năm 4, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/04/tu-theo-cong-den-chong-cong-31-bai-viet-theo-chi-thi-cua-thu-tuong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32): https://www.minds.com/newsfeed/1020192789393285120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (30): https://www.minds.com/newsfeed/1020191645118287872?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33) Hồi ký Tống Văn Công Khiếu nại là phụ lòng tập thể chi bộ Năm 1967 tôi làm phóng viên thường trú của báo Lao Động ở vùng than Quảng Ninh. Liên hiệp Công đoàn Quảng Ninh do ông Lê Bùi làm chủ tịch sắp xếp cho tôi ăn ở cạnh cơ quan trong một hốc núi vùng Khe Hùm, hằng ngày đi lại bằng xe đạp đến các mỏ than sưu tầm tài liệu. Một lần đến mỏ than Cọc Sáu tôi được một nhân viên phòng hành chính là Kế chăm sóc rất chu đáo. Anh Kế gầy ốm, miệng méo vì bị gãy xương hàm, nói hơi ngọng. Anh không để tôi đến nhà ăn tập thể mà mang cơm về nhà khách cho tôi. Mỗi sáng anh đi mua thức ăn điểm tâm giúp tôi, pha trà mời tôi. Đặc biệt anh rất hay hỏi về tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Tôi cảm mến, hỏi thăm và được anh kể chuyện đời riêng. Anh là thương binh bị gãy xương quai hàm ở trận Điện Biên Phủ. Sau khi rời quân đội, anh được phân công về đây làm nhân viên hành chính. Ở thời ấy ít ai muốn sống suốt đời với vùng mỏ. Người ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định vào đây làm thợ mỏ, ky cóp năm mười năm có lưng vốn thì trở về quê. Thanh niên ra đây làm ăn, đến tuổi lập gia đình, bố mẹ gọi về quê lấy vợ. Vùng mỏ rất hiếm các cô gái chưa chồng. Anh Kế luống tuổi, miệng méo, ngọng nghịu càng khó lọt vào mắt các cô gái vốn đã “cao giá”. Tại nhà ăn cơ quan có một cô cấp dưỡng đẹp người, tốt nết, luống tuổi mà vẫn phòng không, chỉ vì ông bố xưa kia là thư ký của chủ mỏ người Pháp. Thời này, giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, việc chọn vợ trước hết phải có “lập trường giai cấp”. Tuy vậy, do hoàn cảnh éo le của mình nên anh Kế và cô cấp dưỡng dễ tìm đến nhau. Chi bộ Đảng sớm phát hiện mối quan hệ bị coi là “bất chính” và anh Kế được các đồng chí của mình nhắc nhở trong cuộc họp thường kỳ. Bí thư chi bộ là một đồng chí miền Nam tập kết hỏi: “Là một đảng viên Cộng sản, đồng chí có thể gọi kẻ thù giai cấp là bố vợ được hay sao?” Anh Kế thừa nhận trước chi bộ mình sai lầm và hứa sẽ chấm dứt mối quan hệ bất chính này! Nhưng ra khỏi cuộc họp chi bộ thì tiếng gọi của tình yêu lại mạnh hơn! Anh Kế vẫn không thể chấm dứt “quan hệ bất chính” với cô cấp dưỡng đẹp người, ngoan nết. Cuối cùng, chi ủy đưa anh ra kiểm điểm trong cuộc họp chi bộ bất thường và quyết định khai trừ anh ra khỏi Đảng. Sau khi bị khai trừ anh Kế lẵng lặng đưa cô cấp dưỡng về sống chung. Nghe xong, tôi bảo chi bộ quyết định khai trừ anh là sai. Anh yêu cô cấp dưỡng, một người lao động thì tại sao lại bị khai trừ. Anh nên viết đơn khiếu nại, tôi xin mang lá đơn của anh đi gặp lãnh đạo tỉnh ủy Quảng Ninh đấu tranh bảo vệ anh. Thật không ngờ, anh nhất quyết từ chối: “Tôi rất cảm ơn đồng chí, các đồng chí đều rất yêu thương tôi, muốn bảo vệ lý lịch quân nhân, đảng viên cho tôi. Nhưng tôi không đủ tinh thần cách mạng và lập trường giai cấp, đã phụ lòng của các đồng chí. Vậy mà nay lại còn làm đơn khiếu nại thì vô ơn quá, tệ bạc quá, tôi không thể làm như thế được!” Dù anh Kế kiên quyết từ chối việc khiếu nại, tôi vẫn đi gặp ông Thúc Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng Công ty Than Quảng Ninh để yêu cầu ông can thiệp. Ông Thúc bảo, bản thân người bị khai trừ đã chấp nhận việc đó là đúng, kiên quyết từ chối khiếu nại, vì vậy thì chúng ta không nên bới chuyện ra làm gì! Tôi lại mang chuyện này lên ông Lê Bùi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, chủ tịch Liên hiệp Công đoàn, đề nghị tỉnh ủy xem xét lại quyết định kỷ luật này. Ông Lê Bùi cũng có ý kiến giống như ông Thúc. Hóa ra ý nghĩ cho rằng quyết định kỷ luật hai trừ đảng đối với anh Kế là sai chỉ có thể nảy ra từ những ai có não trạng không bình thường trong chế độ xã hội chủ nghĩa! Một lần tôi kể chuyện này cho nhà văn Bùi Ngọc Tấn nghe, anh ngẫm nghĩ rồi bảo: “Chuyện hay quá! Anh cho tôi xin nhé, nhưng tôi không viết thể ký sự mà sẽ viết thành một truyện ngắn.” Tôi đồng ý ngay, nhưng cho tới khi qua đời, anh Tấn vẫn chưa kịp viết chuyện này! Posted on Tháng Năm 10, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/10/tu-theo-cong-den-chong-cong-33-khieu-nai-la-phu-long-tap-the-chi-bo/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (34): https://www.minds.com/newsfeed/1020193689652658176?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32): https://www.minds.com/newsfeed/1020192789393285120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32) Hồi ký Tống Văn Công Viết ký sự anh hùng lao động Trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ còn hai thành phần kinh tế là hợp tác xã và quốc dân, cho nên không có cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển. Sau Cách mạng tháng Mười, Lênin đề ra phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa nhằm thay thế cho cạnh tranh. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh vận dụng có “sáng tạo” bài học đó với tên mới thi đua yêu nước. Có điều, cạnh tranh là nỗ lực của từng xí nghiệp, ngành hàng, không có sự lãnh đạo của một tổ chức chính trị, không có phong trào, chọn và bồi dưỡng điển hình, không có bình bầu các danh hiệu chiến sĩ, anh hùng. Có lẽ vì sự khác nhau đó mà không ai đánh giá tác dụng của thi đua giống như Karl Marx đánh giá cạnh tranh: “Đối với lao động, cạnh tranh có ý nghĩa trọng yếu như phân công vậy. Nó cần thiết cho việc thiết lập sự bình đẳng.” (Sự khốn cùng của triết học) Ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa cứ 5 năm tổ chức một kỳ Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua. Năm 1966 Đại hội lần thứ tư mang tên đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước. Tên gọi đã nói lên mục đích phục vụ cho cuộc chiến đang ở thời điểm quyết liệt nhất. Báo cáo của đại hội do phó thủ tướng Lê Thanh Nghị trình bày có câu: “Dân tộc anh hùng, thời đại anh hùng, tất nhiên sản sinh ra nhiều người con anh hùng.” Báo Lao Động phân công tôi viết tin đại hội anh hùng và ký sự các nhân vật anh hùng. Báo cáo của đại hội chỉ nêu tên năm nhân vật đặc sắc nhất của các ngành, trong đó cô thợ dệt Đào Thị Hào được nói trước nhất, lại được cái thành tích: “Đồng chí Đào Thị Hào một mình điều khiển 24 máy dệt suốt mấy năm liền với năng suất cao nhất, chất lượng tốt nhất, tiết kiệm từng mẫu sợi, anh dũng tham gia chiến đấu nhiều trận, quên mình bảo vệ của công.” Lý lịch gia đình của cô Hào có nhiều điều thuộc vào loại kiêng kỵ của chế độ như: tín đồ công giáo nhiều đời; người anh trai là lính của quân đội Pháp chiếm đóng Nam Định, nay là thợ cắt tóc. Đào Thị Hào đã phải phấn đấu vượt bậc để được xếp vào tốp đầu của 29 công nhân sắp được tuyên dương danh hiệu anh hùng lao động. Do đó, các nhà báo, nhà văn tranh nhau xin gặp Đào Thị Hào. Tôi hẹn gặp chị cùng với nhà thơ Thái Giang, tác giả Lửa sáng rừng đoạt giải nhất về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Trong buổi gặp đầu tiên, khi mời chúng tôi uống nước, Đào Thị Hào hỏi “Gia đình hai anh sống ở đâu?” Thái Giang vui vẻ khoe vợ anh là cô giáo ở Hà Nội đã có hai con và giành trả lời thay cho tôi: “Còn cái ông Công này thì còn phải chạy ‘mòn lốp xe đạp'” (ý nói còn chạy tìm vợ mòn cả lốp xe đạp). Buổi chiều, tôi đi tới một mình, xin lỗi cô Hào vì lúc sáng không tiện đính chính chuyện anh Thái Giang nói đùa, thực ra tôi đã lập gia đình và có một con. Quan hệ giữa hai bên như vậy là rạch ròi: một anh nhà báo đã có gia đình hỏi chuyện nữ anh hùng lao động chỉ nhằm mục đích viết được bài báo chân thật. Do đó cuộc hỏi chuyện rất cởi mở. Cô Hào đã kể cho tôi nghe về nhiều chuyện riêng tư, do đó sau này tôi được bạn bè gọi đùa là “chuyên gia về Đào Thị Hào”. Ban đầu tôi không có ý định viết một quyển sách mà chỉ viết một bài báo đăng trước ngày khai mạc đại hội thi đua toàn quốc. Để tăng sức thuyết phục người đọc, tôi viết theo cách nhân vật tự kể về mình. Điều đó khó cho tôi là một chàng trai Bến Tre của miền Nam phải viết độc thoại cho cô gái Nam Định, Bắc Kỳ. Báo đang in thì có lệnh hoãn Đại hội lại sau ba tháng. Do đó khi Đại hội sắp khai mạc, tôi phải viết bài thứ hai về Đào Thị Hào. Nhà thơ Hải Như thấy tôi đã viết được hai bài về Đào Thị Hào nên yêu cầu tôi viết dùm một bài nữa cho báo Cứu Quốc. Nhà xuất bản Lao Động thấy tôi đã có tới ba bài báo viết về Đào Thị Hào nên gọi tôi ký hợp đồng viết một quyển sách. Tôi chỉ viết thêm bài thứ tư nữa là đã có quyển sách gần 100 trang với tựa đề “Mơ ước và chiến công”. Bất ngờ Cục xuất bản của Bộ Văn hóa Thông tin thông báo về sự “đụng hàng”. Có ba người biết về Đào Thị Hào: nhà xuất bản Thanh Niên xin phép in sách của nhà văn Huy Phương viết về Đào Thị Hào; nhà xuất bản Phụ Nữ xin in sách của nhà văn Mộng Sơn cũng biết về Đào Thị Hào. Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng cho rằng còn 28 anh hùng lao động được tuyên dương tại kỳ đại hội này, nhưng chưa có ai viết, do đó không thể cho phép in 3 quyển sách về một người. Cục xuất bản yêu cầu ba nhà xuất bản nộp bản thảo viết về Đào Thị Hào lên Ban Tuyên huấn Trung ương. Ông Trần Quang Huy Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương đọc cả ba bản thảo và ông chọn quyển “Mơ ước và chiến công” của tôi (bút danh là Tống Văn) với lời phê: “Tôi rất xúc động khi đọc quyển sách này và đề nghị cho in số lượng lớn và vận động toàn miền Bắc đọc cùng với quyển ‘Sống như anh’ viết về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.” Thực hiện lệnh này, nhà xuất bản Lao Động cho in 50.000 quyển “Mơ ước và chiến công”, Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng Liên đoàn Lao động ra văn thư liên tịch chỉ đạo ngành văn hóa thông tin và hệ thống công đoàn phối hợp tổ chức cho toàn miền Bắc đọc sách. Sau này, Đào Thị Hào nói riêng với tôi: “Hai nhà văn Huy Phương, Mộng Sơn bỏ công sức nhiều hơn anh gấp bội. Chị Mộng Sơn đã một năm sống thực tế ở nhà máy, cùng ăn cùng ở với chúng em. Anh Huy Phương cũng đi thực tế ở đây nửa năm. Anh chị ấy có kế hoạch viết một quyển sách ngay từ đầu chứ không phải như anh. Em rất tiếc sách họ không được duyệt.” Tôi không đọc được sách của hai “đối thủ” của mình trong vụ này, do đó tôi chỉ đoán mò có lẽ là nhà văn họ không sành công việc tuyên huấn của Đảng như tôi để thể hiện các “tính cách” cần phải có của một điển hình lao động tập thể xã hội chủ nghĩa? Sau Đại hội Anh hùng tôi xuống Nam Định công tác thì anh Hoàng Minh, trưởng ban Tuyên huấn Liên hiệp Công đoàn kể một chuyện không vui vừa xảy ra: phóng viên L. B. của Việt Nam Thông tấn xã gửi đơn kiện Đào Thị Hào, vì sau khi được bầu anh hùng lao động, cô muốn trèo cao hơn đã chấm dứt quan hệ tình cảm với anh ta. Ban Thường vụ Tỉnh ủy cho biết tuần sau sẽ họp để xem xét việc này. Tôi nói với anh Hoàng Minh nên kiến nghị với tỉnh ủy đừng xem xét việc riêng tư này. Dù đã là vợ chồng, người ta cũng có thể li dị khi không còn yêu nhau, uống hồ chỉ mới là “quan hệ tình cảm”. Ít lâu sau, anh Hoàng Minh cho biết, tỉnh ủy hủy bỏ chuyện xem xét đơn kiện. Anh chàng L. B. bị đá là vì cô Hào phát hiện anh ta tuy đã là phóng viên ở cơ quan trung ương mà vẫn còn “bạch vệ” (tức là chưa được vào đảng). Thế thì bị “đá” quả là không oan. Nghe vậy, tôi chỉ phì cười! Quan tâm nhân vật của mình, tôi ngõ ý muốn đứng ra mai mối cho cô “một người xứng đáng”. Trong dịp Hào lên Hà Nội, tôi đèo cô bằng xe đạp đến khu nhà tập thể của Bộ Ngoại giao ở đường Trần Hưng Đạo thăm nhà anh Nguyễn Giáp (lúc đó anh là Vụ phó Vụ châu Á, sau này là đại sứ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nhật Bản). Anh Giáp rất niềm nở, nhưng Hào thì lặng lẽ. Lúc ra đường, với giọng cười cợt cô hỏi: “Anh định giới thiệu ông ấy làm bố em đấy phỏng?” Tôi vừa ngạc nhiên vừa bực mình đáp: “Cô đã 29, anh ấy 43, sao lại là bố? Thôi, để xem cô chết già!” Cô đáp: “Vâng, thà chết già!” Cô về Nam Định, khoảng hai tháng sau lên Hà Nội, cho tôi xem ảnh anh Nguyễn Văn An lúc đó là kỹ sư học ở Liên Xô về làm ở Sở điện lực Nam Định. Tôi kêu lên: “Ô, đẹp trai quá!” Không nói ra, nhưng tôi nghĩ anh này có lẽ nhỏ tuổi hơn cô Hào. Sau này biết anh hơn có một tuổi. Năm 2001, Nguyễn Văn An được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Nhà thơ Hải Như so sánh quyển sách tôi viết về Đào Thị Hào với quyển “Sống như anh” của anh Thái Duy (bút danh là Trần Đình Vân) và cho rằng đọc “‘Mơ ước và chiến công’ thấy rõ Đào Thị Hào là một cô gái thùy mị, nết na, vừa khiêm tốn học hỏi chị em, lại vừa gương mẫu lôi kéo chị em. “Sống như anh” của Thái Duy chưa làm rõ cá tính Nguyễn Văn Trỗi.” Hóa ra điều được khen là hay nhất lại là điều xa sự thật nhất! Xin kể chuyện này: 20 năm sau, tôi từ Sài Gòn trở ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động. Lúc này Đào Thị Hào làm giám đốc nhà máy dệt Dân Sinh, nhưng quản lý không tốt, nhà máy lụn bại sắp sụp đổ. Ở chế độ xã hội chủ nghĩa sau khi được bầu danh hiệu anh hùng lao động thì sẽ được đề bạt vượt cấp. Công nhân Nhà máy Toa xe Lê Minh Đức trở thành Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường sắt. Công dân dệt Cù Thị Hậu trở thành Chủ tịch Công đoàn ngành dệt, cuối cùng là Ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động, đến nay vẫn đang là Chủ tịch Hội người Cao tuổi. Đó là những chức vụ “ăn theo nói leo”. Đào Thị Hào thất bại vì không được giao một việc “ăn theo nói leo” mà làm giám đốc một nhà máy, đòi hỏi phải có kiến thức quản lý kinh tế. Báo Lao Động đăng bài của một cộng tác viên ở Nam Định phân tích những sai phạm trong quản lý do sự kém cỏi của giám đốc Đào Thị Hào. Đã quen được ca tụng, nay lại là phu nhân của ông Ủy viên Trung ương, Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng làm sao chịu được sự chê bai. Chống lại báo lao động thì ngại đụng chạm tôi, dù sao cũng đã từng có quan hệ như là ông anh với cô em. Hào đến Tổng Liên đoàn Lao động đòi gặp phó chủ tịch Cù Thị Hậu, là người học làm thợ dệt ở Nam Định khi Hào đã nổi tiếng và sắp trở thành anh hùng. Người bảo vệ cơ quan cho biết phó chủ tịch Cù Thị Hậu đang chủ trì cuộc họp, do đó không thể tiếp khách. Hảo nói với người bảo vệ: “Tao muốn hỏi con Hậu, có phải nó định dùng tờ báo Lao Động để đánh chồng tao (ý muốn nói bôi xấu vợ tức là bêu rếu chồng)?” Bà Cù Thị Hậu nghe chuyện chỉ lắc đầu im lặng, còn tôi thì nhớ lại lời khen của nhà thơ Hải Như để tự rút ra cho mình bài học về viết ký sự nhân vật: Có thật tôi đã miêu tả trung thực một nhân vật anh hùng đang được vận động thanh niên cả nước học tập? Hóa ra tôi đã góp phần khuyến khích xã hội tôn vinh một mẫu người thượng tôn thành tích mà không cần trau dồi nhân cách! Posted on Tháng Năm 7, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/07/tu-theo-cong-den-chong-cong-32-viet-ky-su-anh-hung-lao-dong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (33): https://www.minds.com/newsfeed/1020193235434700800?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (31): https://www.minds.com/newsfeed/1020192278617489408?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
13 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (31) Hồi ký Tống Văn Công Bài viết theo chỉ thị của thủ tướng Sau giải phóng miền Bắc, sản xuất nông nghiệp có phát triển đôi chút, nhưng sau khi hoàn thành hợp tác hóa thì năng suất lúa sa sút dần. Đảng không ngừng khuyến khích phong trào nông dân “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt” và “Tăng cường liên minh công nông, tích cực phục vụ nông nghiệp”. Nhưng ở đâu cũng nghe câu ca dao mới “Mỗi người làm việc bằng hai. Để cho chủ nhiệm mua đài sắm xe. Mỗi người làm việc bằng ba. Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân” nói lên nỗi bất bình trước nạn tham nhũng. Và câu tục ngữ mới: “Ăn cơm trước kẻng” là sự phản ứng của nông dân bỏ bê việc hợp tác xã để có thì giờ chăm chút mảnh đất 5 % của riêng mình. Trong hội nghị tổng kết tình hình sản xuất nông nghiệp miền Bắc, thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc lá thư của lá cờ đầu phong trào hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Hà Tây tố cáo một đội xe thuộc công ty vận tải hàng hóa Hà Nội, do không được “bồi dưỡng” đã từ chối chở phân vào tận kho. Dù hợp tác xã tha thiết yêu cầu, họ vẫn cứ đổ phân ngoài đường cách kho chứa phân hơn 200m. Giữa lúc thiếu nhân công mà hợp tác xã phải cắt ra 200 người chuyển phần vào kho! Đọc xong lá thư, ông thủ tướng gằn giọng từng lời đanh thép cho rằng, những việc như vậy không thể để tiếp tục xảy ra trong giai cấp công nhân, làm xấu đi quan hệ liên minh công nông. Cả hội trường phẫn nộ. Chột dạ nhất là những người lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vì tự thấy mình có trách nhiệm làm “trường học chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân” mà đã để cho đoàn viên công nhân tha hóa đến như vậy! Kế đó là những người làm báo Lao Động, cơ quan ngôn luận có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận động và tổ chức phong trào hành động cách mạng của giai cấp công nhân, không kịp thời phê phán chuyện xấu xa tày đình như vậy! Tôi, một phóng viên chuyên theo dõi đời sống công nhân, nhưng lại được giao đi điều tra vụ này. Tôi không tốn nhiều công sức điều tra, bởi sự thật đã bày ra trước mắt: xe từ tỉnh lộ vào còn cách kho phân một quảng đồng thì dừng lại. Từ đây băng qua kho phân chỉ khoảng 200m, mùa này nắng nóng như thiêu, mặt đất khô nứt nẻ. Vậy tại sao các anh lái xe không chịu chạy xoẹt qua quảng đồng để đỡ tốn công sức của 200 nhân công giữa ngày mùa? Câu trả lời chỉ có thể là: Họ ngấm ngầm vòi vĩnh! Tại sao hợp tác xã không trả giá cho sự vòi vĩnh đó, nó rẻ hơn tốn phí 200 nhân công. Ông tân chủ nhiệm đã nói rồi: “Đạo đức xã hội chủ nghĩa không cho phép chúng tôi chiều cái thói vòi hối lộ như thế!” Tôi viết bài báo không khó khăn gì, chỉ là làm rõ thêm các tình tiết đã có trong lá thư của hợp tác xã lá cờ đầu gửi lên Thủ tướng. Tòa soạn giục nộp bài. Tôi nói với anh Đinh Gia Bảy, Ủy viên ban biên tập chờ tôi đưa bài cho giám đốc công ty vận tải hàng hóa Hà Nội đọc xem họ có ý kiến thế nào. Các anh đều bảo không cần: “Lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải, Ủy ban Nhân dân Hà Nội, Liên hiệp Công đoàn Hà Nội còn đang hối hả còn hơn cả chúng ta, họ đã chỉ đạo việc kiểm điểm từ dưới lên trên. Bài này đăng lên báo xong, chỉ có việc là đòi họ nhanh chóng nghiêm khắc tiếp thu và đề ra phương pháp sửa chữa, có thể họ phải cử đại biểu đi xin lỗi bà con nông dân đấy!” Tôi mang tờ báo nóng hổi tới 14 Hàng Nón, nhà riêng của anh Phúc Kính (anh Phúc cận thị phải mang kính nên gọi kèm theo tên) Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, thư ký Công đoàn Công ty Vận tải Hàng hóa Hà Nội để bàn với anh chuyện góp ý giám đốc công ty viết bài tiếp thu phê bình nhanh chóng kịp đăng vào số báo sắp tới. Anh Phúc Kính nhận lời một cách vui vẻ. Nhưng sáng hôm sau anh Phúc Kính gọi điện cho tôi biết đã xảy ra chuyện trục trặc chưa giải quyết được. Tất cả anh em đội xe vận chuyển phân bón hôm đó kiên quyết không chịu nhận khuyết điểm. Họ nói nếu kỷ luật vô lý thì họ phản đối tới cùng! Anh Phúc Kính yêu cầu tôi chiều hôm đó sang công ty để cùng bàn với đảng ủy, giám đốc, và tổ chức công đoàn tìm cách giải quyết. Chiều hôm đó, cùng tiếp tôi còn có thêm bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản, phía chủ nhà ngồi chật cả phòng. Tôi cảm thấy mình có lỗi vì đã không sớm đến với họ, không “nghe hai tai”, gây rắc rối cho họ. Nhưng lạ thay họ không hề khiển trách tôi mà coi tôi chỉ là người đã chấp hành chỉ thị của thủ tướng và giờ đây đang đến để cùng họ tìm cách gỡ rối! Tổng giám đốc công ty cho biết, anh em đội xe hôm đó từ chối không chở hàng hóa chạy băng ngang qua cánh đồng 200m là họ nghiêm túc chấp hành quy định về kĩ thuật. Nguyên tắc vận tải hàng hóa chỉ cho phép xe tải chạy trên mặt đường có đủ sức chịu tải trọng đúng theo quy định kĩ thuật. Xe không được phép chạy trên đồng ruộng, dù với mắt nhìn thấy mặt ruộng khô nẻ. Bởi vì không ai dám đảm bảo ở bên dưới một hai tấc đất khô không có bùn nhão. Làm sao đảm bảo sẽ không bị sa lầy? Nếu xe bị sa lầy thì 200 nhân công của hợp tác xã cũng không thể kéo lên được! Rắc rối to! Chao ơi, sự thật giản đơn như vậy mà tôi không nghĩ ra! Ông giám đốc đề nghị giải pháp cần tìm: 1 – Đảm bảo sự chấp hành chỉ thị của thủ tướng một cách nghiêm túc, không gây ra nghi ngờ về “sự sáng suốt” của đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng chính phủ. 2 – Đảm bảo uy tín của tờ báo Lao Động, cơ quan ngôn luận của tổ chức công đoàn và giai cấp công nhân Việt Nam. 3 – Bảo vệ được hành động đúng đắn của anh em đội xe. 4 – Tôn trọng ý muốn của bà con nông dân, nhưng giải thích có lý có tình để bà con thông cảm. Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhưng tự nghĩ, mình không đáng được hưởng nhiều sự “đảm bảo” đến thế! Bốn cái “đảm bảo” của ông giám đốc, thật ra thì họ đã bàn bạc thâu đêm cặn kẽ rồi mới mời tôi sang. Bây giờ chỉ có việc chia ra từng bước mà thực hiện. Trước tiên, công ty có công văn gửi báo lao động xin thành khẩn tiếp thu bài báo đã thẳng thắn chỉ ra nhiều nội dung bổ ích, hứa sẽ kiểm điểm nghiêm túc, chân thành, cảm ơn tờ báo của giai cấp công nhân và phóng viên viết bài. Cuối cùng là bản kiểm điểm chân tình một cách cẩn thận, nhẹ nhàng, nhưng chỉ rõ ra sự vô tội của đội xe. Đúng ra việc cần làm không phải chỉ có vậy! Chẳng lẽ hệ thống giúp việc của thủ tướng không có trách nhiệm gì khi trao cho ông tài liệu nói trước cả ngàn cán bộ chủ chốt những điều không đúng bản chất của sự việc? Chẳng lẽ, tôi, một phóng viên đi viết bài điều tra, nhưng không điều tra gì cả mà vẫn được miễn trách nhiệm bởi vì mọi công cụ tuyên truyền của đảng đều phải được bảo vệ? Chẳng lẽ… Posted on Tháng Năm 4, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/05/04/tu-theo-cong-den-chong-cong-31-bai-viet-theo-chi-thi-cua-thu-tuong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (32): https://www.minds.com/newsfeed/1020192789393285120?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (30): https://www.minds.com/newsfeed/1020191645118287872?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·