ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (26) Hồi ký Tống Văn Công Suốt đời không thể sửa sai! Tôi vào báo Lao Động thì anh Nguyễn Anh Tài đang làm phóng viên thường trú ở khu 4 (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh). Anh vừa tốt nghiệp trường kỹ nghệ thì Cách Mạng Tháng Tám, rồi kháng chiến chống Pháp. Anh vào làm ở binh công xưởng. Một lần anh trộn thuốc bị nổ, gãy xương cánh tay và mù một mắt. Anh vào nghề viết lách bằng bài thơ ‘Con đường Lâm’, ca ngợi một anh hùng hy sinh thời chống Pháp, tên được đặt trong một con đường ở thị xã Quảng Bình. Anh lấy vợ là một ca sỹ trong đội đồng ca đoàn Văn công Tổng cục Chính trị Quân đội. Anh hay kể với giọng tự hào về cô vợ xuất thân bần nông của mình: “Cô ấy kể từ năm lên tám đã khéo léo tự leo lên lưng con trâu cổ.” Những lúc như vậy, anh tỏ ra là một đảng viên thấm nhuần lập trường giai cấp của đảng Cộng sản. Khi thân nhau, không ít lần tôi được anh thổ lộ nỗi khổ về sự thô bạo “dùi đục chấm mắm cáy” của cô vợ bần nông. Sau đó anh kể về mối tình đầu đẹp đẽ nhưng trái ngang của mình với một chị tên Hương. Từ năm 1969 tôi chuyển nhà từ nơi cùng khu phố với anh ở quận Hoàn Kiếm về quận Đống Đa. Vậy mà khi có chuyện không vui với vợ, ngay dưới nắng hè cháy da anh vẫn đạp xe đạp tới nhà tôi để tâm sự. Tôi phải nghe đi nghe lại không biết là lần thứ mấy câu chuyện cũ mà vì thương bạn, tôi cứ tỏ ra chăm chú lắng tai như mới được nghe lần đầu! Ngày anh làm kỹ thuật viên ở binh công xưởng, chị làm cán bộ Phụ nữ Cứu quốc. Những chiều chủ nhật hẹn hò, cùng dắt tay vào bìa rừng, anh trao bài thơ mới làm, chị ngâm nga diễn cảm, khi đanh thép lúc mượt mà. Chị có khả năng ‘thôi xao’ một từ chưa thật chỉnh. Giữa khi “hương càng đượm lửa càng nồng” thì từ quê chị báo tin dữ: Gia đình chị bị quy thành phần địa chủ. Nông dân đấu tố đã từng bị bố mẹ chị bóc lột áp bức rất dã man. Họ đòi phải trừng trị bố chị bằng hình thức treo cổ. Chị đến tìm anh, những mong được chia sẻ nỗi đau quá lớn. Chi bộ binh công xưởng biết chuyện đã quyết định giáo dục anh “giác ngộ giai cấp, chấm dứt ngay mối quan hệ với con gái của địa chủ, kẻ thù của cách mạng đang phải kiên quyết tiêu diệt”. Anh đề nghị với chị, tạm ngưng mối quan hệ vì đó là mệnh lệnh của Đảng. Chị khóc khi nhớ lại những lời ngọt ngào tình yêu mà mới hôm qua chị vẫn tin chắc rằng không có một thế lực nào có thể chia cắt được. Chỉ một tháng sau, cụ Hồ đọc báo cáo sửa sai. Bố mẹ chị báo tin đã được “hạ thành phần”. Anh vô cùng mừng rỡ, vội vàng tìm đến chị. Nhưng trước sự vui mừng của anh, chị lạnh lùng, đanh thép: “Chẳng lẽ, anh không hiểu rằng tình yêu đã chết khi phải đối mặt với sự toan tính hèn hạ?” Anh Thanh Minh, anh cầu xin và anh chờ đợi. Nhưng con người dịu dàng ấy, con người mẫn cảm với từng ý thơ ấy đã coi anh như người xa lạ! Cho đến khi chị Hương lập gia đình, anh mới chấm dứt niềm hy vọng. Khi mái đầu đã muối nhiều hơn tiêu, con gái Thùy Dương của anh du học ở Tiệp Khắc, anh vẫn bùi ngùi nhắc lại mối tình đầu: “Đảng tuyên bố sửa sai cải cách ruộng đất đã hơn 20 năm. Không biết vết thương trong hồn dân tộc đã lành lặn chưa. Nhưng mà cái sai của mình thì tới hết đời rồi vẫn không sửa được!” Posted on Tháng Tư 22, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/22/tu-theo-cong-den-chong-cong-26-suot-doi-khong-the-sua-sai/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (27): https://www.minds.com/newsfeed/1020190034006343680?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (25): https://www.minds.com/newsfeed/1020181434628386816?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (25) Hồi ký Tống Văn Công Người có lý lịch rất xấu và bị nhiễm dân chủ tư sản Từ vụ việc kể trên, tôi tò mò tìm hiểu về anh Hoàng Nghinh. Anh hơn tuổi tôi đúng một giáp, lúc ấy vừa tròn 40, nhưng đầu tóc bạc phơ như ông lão 80. Những người quen biết anh nói ông ấy lo nghĩ còn hơn cả Ngủ Tử Tư (nhân vật trong tiểu thuyết Đông Châu Liệt Quốc sau một đêm suy nghĩ không ngủ được, toàn bộ râu tóc biến thành trắng xoá). Sau khi tốt nghiệp trường kỹ nghệ, anh bị sung vào lính thợ đưa sang Pháp trong Chiến tranh Thế Giới Thứ Nhì. Có học vấn, tính tình thẳng thắn, trung thực, quan tâm chăm sóc anh em, nên không bao lâu anh được tập thể lính thợ tính nhiệm bầu làm tổng thư ký nghiệp đoàn lính thợ Việt Nam ở Pháp. Khi Hồ Chủ tịch và phái đoàn Phạm Văn Đồng sang hội nghị Fontainebleau, anh Hoàng Nghinh không đồng tình, cho rằng thương lượng và nhân nhượng quá nhiều đối với bọn thực dân Pháp là sai lầm. Anh tổ chức một cuộc biểu tình của hàng ngàn lính thợ Việt Nam với những khẩu hiệu: “Không thể nhân nhượng bọn thực dân”, “Độc lập chỉ có thể giành lại bằng máu”. Lẽ ra, những người cộng sản Việt Nam nên coi đó là biểu hiện lòng yêu nước đáng mừng của anh em lính thợ và hành động đó gây sức ép với bọn thực dân, chứ không nên oán giận cho là họ chống mình. Sau ngày 19-12-1946, toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Đọc lời kêu gọi kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh Hoàng Nghinh lập tức tìm cách rời nước Pháp, về chiến khu Bình Trị Thiên tham gia kháng chiến và được kết nạp vào Đảng. Một năm sau, anh được Ban Tổ chức Trung ương Đảng điều ra Việt Bắc, làm trưởng ban Quốc tế của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do ông Hoàng Quốc Việt làm chủ tịch. Sau khi Trung Cộng giải phóng lục địa và Việt Cộng giải phóng biên giới phía Bắc thì nhiều đại biểu Cộng sản Pháp tới Việt Bắc bằng đường bộ. Một đảng viên Cộng sản Pháp báo cho Hoàng Quốc Việt biết Hoàng Nghinh là người cầm đầu cuộc biểu tình của lính thợ Việt Nam chống Hồ Chủ tịch đàm phán với Pháp ở hội nghị Fontanebleau. Hoàng Quốc Việt gọi Hoàng Nghinh tới vỗ bàn xài xể để anh về hành động gây rối phá hoại hoạt động ngoại giao của lãnh tụ. Mặc cho Hoàng Nghinh thanh minh về sự ấu trĩ của mình, anh vẫn bị kết tội là một phần tử có lý lịch rất xấu, phải giáng xuống làm Trưởng ban Quốc tế của báo Lao Động. Tức là từ cương vị ngang và có phần hơi nhỉnh hơn ông tổng biên tập báo Lao Động, thì từ đây anh trở thành cấp dưới của ông ta. Vụ mang lý lịch có “tì vết chính trị”, là điều tệ hại nhất trong xã hội do đảng Cộng sản lãnh đạo, nhưng không vì thế mà anh rụt rè không dám lên tiếng trước những điều sai trái. Trong cuộc họp chi bộ đấu tranh với Tổng biên tập về cách quản lý phóng viên theo lối hành chính, thái độ thẳng thắn của anh hoàn toàn thuyết phục tôi. Đến thập niên sáu mươi, quan hệ Trung Xô căng thẳng, Trung ương Đảng ra nghị quyết 9 chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, thực chất là đứng về phía Trung Quốc, chống Liên Xô. Ông Hoàng Quốc Việt chỉ thị: tình hình thế giới rất phức tạp, phải thanh lọc kĩ cán bộ làm công tác đối ngoại. Một lần nữa anh Hoàng Nghinh bị ban tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động theo lệnh chủ tịch Hoàng Quốc Việt xem xét lại tội tổ chức lính thợ Việt Nam biểu tình chống lãnh tụ Hồ Chí Minh ở Paris là “không đủ tiêu chuẩn làm công tác đối ngoại trong tình hình mới”. Anh bị giáng chức trưởng ban quốc tế báo Lao Động, xuống làm phóng viên cùng lứa với tôi. Tổng Liên đoàn Lao động bổ nhiệm anh Võ Thế Dân, thương binh thời chống Pháp, người được anh Nghinh kèm cặp nghề báo lên làm trưởng bản quốc tế. Ngày đầu tiên anh Hoàng Nghinh nhận quyết định làm phóng viên, tôi có gặp anh chia sẻ chuyện không vui. Anh bảo, không nên coi đây là chuyện không vui, mà là một thử thách mới không dễ có của đời người. Anh còn nói vui: “Mình làm báo hàng chục năm mà chưa biết làm phóng viên. Chú Công phải kèm cặp cho mình nha”. Tôi không được vinh dự kèm cặp anh, vì sao đó anh được giao nhiệm vụ đi làm phóng viên thường trú vùng tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh, được coi là “túi bom” của miền Bắc. Anh em trẻ chúng tôi đều cho rằng đưa một người có tuổi vào một nơi “mưa bom bão đạn” là vô nhân đạo. Nhưng anh Hoàng Nghinh muốn bằng hành động của mình, trả lời những người “thù dai” rằng anh vẫn có đủ phẩm chất của một chiến sĩ vì độc lập tự do của dân tộc, sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh. Ngày ngày, trên chiếc xe đạp tung hoành trên các vùng “đất lửa”, đêm xuống rút vào hầm trú ẩn đốt đèn dầu ngồi viết tin, anh không chịu kém các phóng viên trẻ. “Người lính già đầu bạc” là biệt danh bọn trẻ chúng tôi ca ngợi anh. Thời ấy ở miền Bắc, cán bộ đảng viên rất sợ hai chữ liên quan. Chị Thanh, vợ anh phải chịu sự săm soi, mỗi khi đến dịp xét lên lương, đề bạt. Có lẽ nhờ hành động dũng cảm của anh xông xáo nơi đất lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh, chị được đề bạt lên chức cục phó ở Bộ Giao thông Vận tải mà không bị những tiếng xì xầm làm cản trở. Chị lên cục phó, theo tiêu chuẩn được cấp căn nhà rộng hơn. Ngày dọn về nhà mới, mọi người châm chọc anh là “thực lộc chi thê”, là “ăn theo vợ”. Anh cười: “Nói như vậy là còn trọng nam khinh nữ đấy”. Đôi khi vì thương anh, tôi phàn nàn: “Nhiều tài liệu của Đảng đề cao khả năng tự tu dưỡng, rèn luyện quan điểm giai cấp nhưng trong thực tế thì đâu đâu cũng thấy chủ nghĩa lý lịch, định kiến với quá khứ xa lắc”. Anh bỗng trở thành nhà biện hộ: “Dù lý thuyết tuyệt vời đến đâu cũng do con người thực hiện, Công à! Cán bộ, đảng viên chúng ta đều từ nông dân, làm sao khỏi bệnh ấu trĩ, hẹp hòi. Phải chờ đợi thôi!” Nhớ lời bào chữa đó, tôi càng băn khoăn: Sao bệnh ấu trĩ, hẹp hòi sống dai thế! Liệu có đúng căn nguyên là do ấu trĩ? Năm 1988, tôi ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động. Anh Hoàng Nghinh đã về hưu hơn 10 năm. Anh vừa vui vừa mừng, vừa lo lắng cho tôi: “Công là cây bút viết tốt, nhưng làm lãnh đạo thì anh lo, nghề này, tập thể này phải có thủ đoạn chính trị, cái khoản này anh thấy chú mày ngờ nghệch lắm”. Tôi nói: “Thủ đoạn của em là không để ai đoán mò ý mình, cứ nói thẳng ra với nhau.” Anh vui hẳn lên: “Ừ, ngày xưa anh cứ phải đoán mò ý của ông tổng biên tập và cấp trên! Không gì tốt hơn là công khai hết, em ạ”. Anh bị bệnh tiểu đường rất nặng, có người mách ăn trái cóc miền Nam có tác dụng tốt. Tôi nhắn vợ tôi, mỗi tuần gửi ra cho anh 10 trái cóc, nhưng chỉ được sáu tháng sau anh qua đời! Posted on Tháng Tư 18, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/18/tu-theo-cong-den-chong-cong-25-nguoi-co-ly-lich-rat-xau-va-bi-nhiem-dan-chu-tu-san/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (26): https://www.minds.com/newsfeed/1020189556155691008?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24): https://www.minds.com/newsfeed/1020180972931620864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24) Hồi ký Tống Văn Công Truyện ngắn “Dũng” đưa tôi vào nghề báo Tôi đến xin việc ở vài tờ báo. Người ta tiếp tôi rất lạnh nhạt, bảo trước hết hãy viết bài gửi cho báo cho đến bao giờ ban biên tập thấy có khả năng sẽ gửi giấy gọi. Đầu năm 1958 báo Thống Nhất tổ chức cuộc thi viết về đề tài miền Nam. Tôi viết truyện ngắn “Dũng” gửi dự thi có ý để tìm việc làm ở ngành viết lách. Đây là chuyện viết theo luận đề minh họa lý thuyết của đảng Cộng sản “có áp bức thì có đấu tranh”. Nhân vật chính trong truyện Dũng một bé gái tên Nhu tính nhút nhát, không dám nhìn thấy máu, dù là máu của con gà, con ếch, nhưng trước sự đe dọa tính mạng của cha mình, em vụt trở nên dũng cảm. Năm 1959 công bố giải ở Câu lạc bộ Thống Nhất. Cụ Tôn Đức Thắng đến dự và trao giải. Về thơ, giải nhất trao cho tập “Mộ anh hoa nở” tác phẩm đầu tay của Thanh Hải, một tác giả đang ở miền Nam. Văn xuôi, không có giải nhất, có hai giải nhì là chuyện “Ông Năm Hạng” của Nguyễn Quang Sáng, “Câu chuyện chiều thứ Bảy” của Trần Thanh Giao, giải ba là “Dũng” của tôi; giải khuyến khích là truyện ngắn của Xuân Vũ. Truyện ngắn Dũng được giải ba vì nó minh họa Nghị quyết 9 của Đảng Cộng sản quyết định giải phóng miền Nam bằng bạo lực vũ trang. Sau khi được giải ba cuộc thi truyện ngắn viết về miền Nam, tôi được ba cơ quan báo nhận làm phóng viên (báo Thống Nhất, Đài Phát Thanh và báo Lao Động). Anh Trương Quang Lộc trưởng phòng văn nghệ báo Thống Nhất rủ tôi cùng về báo Lao Động với lý do: đây là nơi được tìm hiểu thực tế công cuộc công nghiệp hóa miền Bắc. Tôi nhận công tác gần nửa tháng mới nhìn thấy ông tổng biên tập. Ông tới dự bữa cơm “liên hoan” chào mừng anh em mới được tuyển dụng, để đưa tuần báo Lao Động tăng lên 3 kỳ / tuần. Ông có khuôn mặt lạnh không thích hợp với một nghề cần quảng giao. Ông nói như miễn cưỡng phải mở miệng và hay dùng hai từ “các cái” thay vì là “những việc”. Ông từng là lính thợ sang Pháp sau khi ra trường kỹ nghệ. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ông là quản đốc của một binh công xưởng. Vợ ông là em ruột của ông Lê Thanh Nghị ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nổi tiếng là người đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi xin viện trợ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1949, binh công xưởng bắt đầu thực hiện chủ trương làm bích báo (báo tường), ông quản đốc Lê Vân nêu gương viết một bài thơ Tình máy tiện, có đoạn: “… Sao máy ngập ngừng? Thân máy nóng bừng, đầu máy hâm hiu. Máy mệt lắm rồi! Ngừng quay nghỉ chút máy ơi Ta làm mồi thuốc, máy xơi giọt dầu…” Bài thơ được đăng trên báo Lao Động số 114 năm 1949 và được khen là một đề tài khô khan mà tác giả đã có thể “tức cảnh sinh tình” thành thơ. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lập tức điều động ông về làm phó tổng biên tập báo Lao Động. Năm 1956, ông được đề bạt tổng biên tập thay ông Đỗ Trọng Giang (cũng là một nhà thơ công nhân lên làm trưởng ban tuyên giáo Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam). Khi tôi về đây, ông kiêm nhiệm rất nhiều chức vụ: Ủy viên đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam; tổng biên tập báo Lao Động; giám đốc Nhà xuất bản Lao Động. Ông không viết bài, cũng không duyệt bài. Ông chỉ đạo ban biên tập theo các quyết định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hằng tuần ông đến họp cơ quan, phát biểu nhận xét tờ báo trong tuần qua, chỉ đạo trọng tâm tuyên truyền trong tuần tới. Mọi việc cụ thể ở báo Lao Động đều do phó tổng biên tập Ngô Tùng quán xuyến. Năm 1964, ông Ngô Tùng qua đời, ông Hoàng Trọng Đỉnh lên thay, mọi việc vẫn tiếp tục nền nếp cũ. Ở Nhà xuất bản Lao Động mọi việc do ông Băng Cơ quán xuyến, hằng tuần ông đến “cho ý kiến” giống như ở báo Lao Động. Ông rất có uy với cấp dưới. Các phó tổng biên tập trước khi vào phòng của ông để xin ý kiến, đều tự chấn chỉnh trang phục, bỏ áo vào quần cẩn thận. Năm 1963, ông nghĩ ra cách chấn chỉnh cách quản lý công tác của phóng viên: xếp bàn làm việc để phóng viên ngồi hướng mặt vào tường; bàn của mỗi phóng viên có vách ngăn riêng để không ai có thể tán chuyện làm ảnh hưởng người bên cạnh; quy định phóng viên phải đến ngồi vào bàn của mình đúng giờ, nếu vắng mặt, phải xin phép. Qua một tháng thực hiện, hoạt động của tờ báo chẳng những không tốt hơn mà lại sa sút, bài vở kém hẳn. Cuộc họp chi bộ sau đó một tháng chính là dịp mổ xẻ chủ trương làm việc này. Các đảng viên là ủy viên ban biên tập, hoặc trưởng bàn là những người có trách nhiệm lên tiếng phân tích vụ việc, nhưng sự có mặt của ông tổng biên tập khiến họ cứ e dè nhìn nhau. Anh Hoàng Nghinh trưởng Ban Quốc tế, đứng lên phát pháo, dù anh không có chân trong ban biên tập và Ban Thời sự Quốc tế của anh không bị ảnh hưởng gì với việc “cải tiến” này. Anh nói, mấy tuần qua anh em làm việc thì ít mà xì xầm mọi lúc mọi nơi, nhưng không dám nói trên báo tường và trong cuộc họp cơ quan. Họ cho rằng đây là lối quản lý nhân viên hành chính, không thích hợp với hoạt động của phóng viên. Anh em cho rằng, tổng biên tập đã không hiểu công việc phóng viên mà lại còn không tin anh em, không bàn bạc với ban biên tập và chi bộ áp đặt ý mình theo cung cách của một ông chủ. Nguy hiểm là đã có sự phản ứng ngầm, làm sút giảm cả lượng và chất của tin bài trên báo. Anh quay sang các ủy viên ban biên tập và trưởng ban: “Tôi biết nhiều đồng chí ngồi đây không đồng tình với cách làm này. Đề nghị các đồng chí thẳng thắn vì sự sống của tờ báo và lợi ích của bạn đọc.” Các ủy viên ban biên tập và trưởng ban lần lượt bày tỏ ý kiến, chủ yếu nói về hiện tượng tiêu cực của phóng viên, chứ không dám cho rằng chủ trương của Tổng biên tập là sai, cũng không ai yêu cầu trở lại nền nếp cũ. Ông tổng biên tập chống đỡ yếu ớt, ông cho rằng cái mới ra đời bao giờ cũng gặp khó khăn. Ông không bảo vệ cách quản lý đang bị phản ứng, nhưng cũng không tuyên bố phải dẹp bỏ. Ông nói dài lê thê về những hiện tượng la cà của phóng viên, việc không phát hiện kịp thời những nhân tố mới trong phong trào thi đua tập thể. Khi ông dứt lời mà không đưa ra quyết định rõ ràng, mọi người vẫn im lặng. Không khí nặng nề bị phá vỡ bởi cái đập bàn của Hoàng Nghinh trước khi đứng phắt dậy, đanh thép hỏi: “Đồng chí không tự phê bình là mình sai à? Đồng chí không chịu vứt bỏ cái chủ trương không thích hợp, đã gây tiêu cực làm giảm hoạt động của phóng viên sao?” Khuôn mặt tái xanh của ông Tổng biên tập bỗng đỏ rực lên. Ông đáp một cách chậm rãi: “Tôi đang lắng nghe ý kiến chân thành xây dựng. Ban biên tập đang lắng nghe chi bộ, tập thể ban biên tập chúng tôi sẽ có quyết định trong cuộc họp sắp tới!” Vậy là khi bị quy trách nhiệm, ông đưa tập thể ban biên tập ra để thoát hiểm. Tuần sau đó, chủ tịch Hoàng Quốc Việt “hạ phóng” xuống tòa báo để chấn chỉnh trật tự. Ông lên án tình trạng mất đoàn kết âm ỉ trong chi bộ là điều không thể chấp nhận được trong cơ quan ngôn luận của giai cấp công nhân có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ông cho rằng sức mạnh của một tập thể chỉ có thể phát huy khi kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ: cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng cấp trên. Ông tổng biên tập chủ trì cuộc tiếp đón, trân trọng chào mừng “vị lãnh tụ giai cấp”, nhưng ông gợi ý ông ủy viên ban biên tập kiêm bí thư chi bộ phát biểu ý kiến. Tôi hết sức kinh ngạc, không hiểu vì sao một người tôi rất quý trọng, đã dành cho ông lá phiếu bầu vào địa vị bí thư chi bộ đã đứng lên khóc nức nở, nói không nên lời! Tôi lờ mờ hiểu lý do không ngăn nổi dòng nước mắt là vì cảm thấy tập thể ở đây đã phạm lỗi quá lớn, lòng phiền lòng vị lãnh tụ tổ chức cách mạng của giai cấp tiên phong đang bận trăm công ngàn việc mà phải đến vì sự việc cỏn con này. (Trước khi viết lại chuyện này, tôi đã gọi điện hỏi nguyên bí thư chi bộ đã khóc năm ấy. Lạ thay, anh bảo mình hoàn toàn không nhớ gì cả! Anh hỏi lại tôi: ” Thế à? Lúc đó mình có khóc à? Tại sao mình lại khóc nhỉ?”) Sau cuộc họp, một vài anh có tuổi và có thâm niên ở đây nhận định: cụ Hoàng Quốc Việt xuống để yểm trợ tổng biên tập, nhân đó dằn mặt anh Hoàng Nghinh, một đảng viên có lý lịch rất xấu và nhiễm thói dân chủ tư sản Phương Tây chưa chịu gột rửa. Posted on Tháng Tư 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-24-truyen-ngan-dung-dua-toi-vao-nghe-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (25): https://www.minds.com/newsfeed/1020181434628386816?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23): https://www.minds.com/newsfeed/1020180411612110848?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23) Hồi ký Tống Văn Công Làm thơ cải cách ruộng đất Năm 1956, sau khi sắp xếp lại tổ chức xong, các đơn vị bộ đội miền Nam bắt đầu học chỉnh huấn về cải cách ruộng đất. Các chính trị viên giảng về lý luận của cuộc cách mạng “phản phong”, xóa bỏ hình thức bóc lột của địa chủ, phú nông ở nông thôn. Sau đó, “cốt cán chuỗi rễ” là những bần cố nông có thành tích đấu tố xuất sắc trong cải cách ruộng đất ở địa phương đến kể chuyện thực tế. Hồi này chưa phát hiện những sai lầm ghê gớm trong cải cách ruộng đất, chưa có từ “tố điêu” nói về những bịa đặt của bần cố nông cố gắng làm vừa lòng cán bộ đội cải cách. Tôi chỉ có thắc mắc: “Vì sao mà địa chủ ở miền Bắc ác hơn hẳn địa chủ ở miền Nam?” Các chính trị viên giải thích: “Vì địa chủ miền Bắc nghèo hơn nên cố vơ vét!” Từ các buổi nghe kể chuyện thực tế, tôi viết bài thơ “Chị Cả” đăng lên báo tường của đại đội và gửi một bản lên báo Quân đội Nhân dân. Không ngờ bài thơ này được vào chung khảo cuộc thi của ủy ban cải cách ruộng đất và được in trong tập mang tên “Đường Làng” tên bài thơ của Phác Văn. Tập thơ gồm những tác giả: Thanh Tịnh, Nguyễn Bao, Nguyễn Viết Lãm, Phác Văn, Hải Như, Hữu Thọ, Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vượng. Dưới tên tôi, được chua thêm hai chữ “bộ đội”. Sau này tôi mới biết, địa chủ miền Bắc cũng giống như địa chủ miền Nam, họ là những người có trí, có học, tổ chức công việc giỏi giang nên trở nên giàu có. Hầu hết họ đã đóng góp lớn cho Tuần Lễ Vàng, đã tham gia kháng chiến. Người địa chủ lớn tiêu biểu là bà Nguyễn Thị Năm đã bị đấu tố, giết hại thê thảm. Ngoài ra còn rất nhiều địa chủ miền Bắc lâm cảnh như thế. Bố anh Hữu Tính trưởng văn phòng miền Nam báo Lao Động tham gia cách mạng từ năm 1945, làm chủ nhiệm Ủy ban Mặt trận Việt Minh huyện, có con gái là bí thư đảng ủy các cơ quan trung ương, con rể là thư ký phó chủ tịch tôn Đức Thắng, đã bị đấu tố là một tên địa chủ chui vào hàng ngũ cách mạng, phải xử bắn! Anh Ngọc Liên, trưởng ban Bảo hộ Lao động của Tổng Liên đoàn Lao động thời ấy cũng bị đấu tố là địa chủ phản động, bị bắt giam, bỏ đói suýt chết. Vào làm phóng viên báo Lao Động ngày 1 tháng 1 năm 1960, sau “sửa sai cải cách ruộng đất” đã 3 năm, tôi mới được biết bài thơ của mình được vào chung khảo một cuộc thi và in chung với nhiều tác giả đã nổi tiếng. Nhưng lúc ấy tôi không thấy vui mà cảm thấy xấu hổ vì đã được đọc bài thơ “Em bé lên sáu tuổi” của Hoàng Cầm cũng được viết khoảng thời gian đó, có những câu: Chị bần nông cốt cán, Ứa nước mắt quay đi: Nó là con địa chủ, Bé bỏng đã biết gì. Hôm em cho bác cháo, Chịu ba ngày hỏi truy, Chi đội bỗng lùi lại, Nhìn đứa bé mồ coi, Cố tìm vết thù địch, Chỉ thấy một con người! Cùng trải qua một tình huống tương tự mà tôi cố viết theo ý đồ tuyên truyền, không có cảm xúc nhân văn như ông! Tiểu đội tôi đóng quân trong ngôi nhà của địa chủ nay cấp cho gia đình cố nông. Gia đình địa chủ bị dồn vô dãy nhà sau trước kia dành cho người làm, người ở. Một hôm chúng tôi đang ăn cơm thì bé gái con địa chủ đứng ngoài cửa sổ nhìn vào với vẻ thèm thuồng. Cảm thấy tội nghiệp, tôi xúc cho nó bát cơm đưa qua cửa sổ. Vì chuyện này tôi bị phê phán “mất lập trường giai cấp”. Sau khi học chỉnh huấn cách mạng ruộng đất, chi bộ xóa tên tôi khỏi danh sách “quần chúng cảm tình Đảng chuẩn bị kết nạp”. Cũng trong thời gian này Huỳnh Dư Khải ghé thăm tôi, báo tin buồn. Ra Bắc, Khải đã là thiếu úy, chi ủy viên của chi bộ đại đội trong Tiểu đoàn 308 nổi tiếng (chỉ đứng sau tiểu đoàn 307). Cấp trên cho biết với lý lịch vào bộ đội từ lúc 15 tuổi, “chiến công đầy mình”, nếu lãnh đạo cuộc chỉnh huấn đại đội đạt kết quả tốt, Khải sẽ được đề bạt vượt cấp. Khải đã trung thực khai cha mình là địa chủ, Hương cả Huỳnh Dư Khiêm đứng đầu Ban Hội tề. Khải sống với bác ruột là ông hội đồng Huỳnh Dư Thuần để gần trường học. Sau chỉnh huấn, cấp trên bảo Khải “từ trong trứng của giai cấp bóc lột, cần phải thử thách cải tạo nhiều hơn nữa”. Anh được đưa vào danh sách giảm quân giống như tôi, nhưng anh không thể chịu cam phận như tôi, bởi đã từng là một người hùng. Khải kể: “Tao đã xé giấy giới thiệu đảng viên vứt vô mặt thằng bí thư. Tao sẽ mua chiếc xe ba gác để chở hàng thuê và làm giường ngủ. Khi nào mày về Hà Nội thì kiếm tao ở chợ Hàng Da.” Sau tháng Tư năm 1975, Huỳnh Dư Khải về quê. Cả làng An Bình Tây vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn từ năm 1947 nay chỉ là một anh bạch đinh, đi làm thuê kiếm sống. Posted on Tháng Tư 13, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/13/tu-theo-cong-den-chong-cong-23-lam-tho-cai-cach-ruong-dat/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24): https://www.minds.com/newsfeed/1020180972931620864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22): https://www.minds.com/newsfeed/1020179678219112448?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (25) Hồi ký Tống Văn Công Người có lý lịch rất xấu và bị nhiễm dân chủ tư sản Từ vụ việc kể trên, tôi tò mò tìm hiểu về anh Hoàng Nghinh. Anh hơn tuổi tôi đúng một giáp, lúc ấy vừa tròn 40, nhưng đầu tóc bạc phơ như ông lão 80. Những người quen biết anh nói ông ấy lo nghĩ còn hơn cả Ngủ Tử Tư (nhân vật trong tiểu thuyết Đông Châu Liệt Quốc sau một đêm suy nghĩ không ngủ được, toàn bộ râu tóc biến thành trắng xoá). Sau khi tốt nghiệp trường kỹ nghệ, anh bị sung vào lính thợ đưa sang Pháp trong Chiến tranh Thế Giới Thứ Nhì. Có học vấn, tính tình thẳng thắn, trung thực, quan tâm chăm sóc anh em, nên không bao lâu anh được tập thể lính thợ tính nhiệm bầu làm tổng thư ký nghiệp đoàn lính thợ Việt Nam ở Pháp. Khi Hồ Chủ tịch và phái đoàn Phạm Văn Đồng sang hội nghị Fontainebleau, anh Hoàng Nghinh không đồng tình, cho rằng thương lượng và nhân nhượng quá nhiều đối với bọn thực dân Pháp là sai lầm. Anh tổ chức một cuộc biểu tình của hàng ngàn lính thợ Việt Nam với những khẩu hiệu: “Không thể nhân nhượng bọn thực dân”, “Độc lập chỉ có thể giành lại bằng máu”. Lẽ ra, những người cộng sản Việt Nam nên coi đó là biểu hiện lòng yêu nước đáng mừng của anh em lính thợ và hành động đó gây sức ép với bọn thực dân, chứ không nên oán giận cho là họ chống mình. Sau ngày 19-12-1946, toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Đọc lời kêu gọi kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh Hoàng Nghinh lập tức tìm cách rời nước Pháp, về chiến khu Bình Trị Thiên tham gia kháng chiến và được kết nạp vào Đảng. Một năm sau, anh được Ban Tổ chức Trung ương Đảng điều ra Việt Bắc, làm trưởng ban Quốc tế của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do ông Hoàng Quốc Việt làm chủ tịch. Sau khi Trung Cộng giải phóng lục địa và Việt Cộng giải phóng biên giới phía Bắc thì nhiều đại biểu Cộng sản Pháp tới Việt Bắc bằng đường bộ. Một đảng viên Cộng sản Pháp báo cho Hoàng Quốc Việt biết Hoàng Nghinh là người cầm đầu cuộc biểu tình của lính thợ Việt Nam chống Hồ Chủ tịch đàm phán với Pháp ở hội nghị Fontanebleau. Hoàng Quốc Việt gọi Hoàng Nghinh tới vỗ bàn xài xể để anh về hành động gây rối phá hoại hoạt động ngoại giao của lãnh tụ. Mặc cho Hoàng Nghinh thanh minh về sự ấu trĩ của mình, anh vẫn bị kết tội là một phần tử có lý lịch rất xấu, phải giáng xuống làm Trưởng ban Quốc tế của báo Lao Động. Tức là từ cương vị ngang và có phần hơi nhỉnh hơn ông tổng biên tập báo Lao Động, thì từ đây anh trở thành cấp dưới của ông ta. Vụ mang lý lịch có “tì vết chính trị”, là điều tệ hại nhất trong xã hội do đảng Cộng sản lãnh đạo, nhưng không vì thế mà anh rụt rè không dám lên tiếng trước những điều sai trái. Trong cuộc họp chi bộ đấu tranh với Tổng biên tập về cách quản lý phóng viên theo lối hành chính, thái độ thẳng thắn của anh hoàn toàn thuyết phục tôi. Đến thập niên sáu mươi, quan hệ Trung Xô căng thẳng, Trung ương Đảng ra nghị quyết 9 chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, thực chất là đứng về phía Trung Quốc, chống Liên Xô. Ông Hoàng Quốc Việt chỉ thị: tình hình thế giới rất phức tạp, phải thanh lọc kĩ cán bộ làm công tác đối ngoại. Một lần nữa anh Hoàng Nghinh bị ban tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động theo lệnh chủ tịch Hoàng Quốc Việt xem xét lại tội tổ chức lính thợ Việt Nam biểu tình chống lãnh tụ Hồ Chí Minh ở Paris là “không đủ tiêu chuẩn làm công tác đối ngoại trong tình hình mới”. Anh bị giáng chức trưởng ban quốc tế báo Lao Động, xuống làm phóng viên cùng lứa với tôi. Tổng Liên đoàn Lao động bổ nhiệm anh Võ Thế Dân, thương binh thời chống Pháp, người được anh Nghinh kèm cặp nghề báo lên làm trưởng bản quốc tế. Ngày đầu tiên anh Hoàng Nghinh nhận quyết định làm phóng viên, tôi có gặp anh chia sẻ chuyện không vui. Anh bảo, không nên coi đây là chuyện không vui, mà là một thử thách mới không dễ có của đời người. Anh còn nói vui: “Mình làm báo hàng chục năm mà chưa biết làm phóng viên. Chú Công phải kèm cặp cho mình nha”. Tôi không được vinh dự kèm cặp anh, vì sao đó anh được giao nhiệm vụ đi làm phóng viên thường trú vùng tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh, được coi là “túi bom” của miền Bắc. Anh em trẻ chúng tôi đều cho rằng đưa một người có tuổi vào một nơi “mưa bom bão đạn” là vô nhân đạo. Nhưng anh Hoàng Nghinh muốn bằng hành động của mình, trả lời những người “thù dai” rằng anh vẫn có đủ phẩm chất của một chiến sĩ vì độc lập tự do của dân tộc, sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh. Ngày ngày, trên chiếc xe đạp tung hoành trên các vùng “đất lửa”, đêm xuống rút vào hầm trú ẩn đốt đèn dầu ngồi viết tin, anh không chịu kém các phóng viên trẻ. “Người lính già đầu bạc” là biệt danh bọn trẻ chúng tôi ca ngợi anh. Thời ấy ở miền Bắc, cán bộ đảng viên rất sợ hai chữ liên quan. Chị Thanh, vợ anh phải chịu sự săm soi, mỗi khi đến dịp xét lên lương, đề bạt. Có lẽ nhờ hành động dũng cảm của anh xông xáo nơi đất lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh, chị được đề bạt lên chức cục phó ở Bộ Giao thông Vận tải mà không bị những tiếng xì xầm làm cản trở. Chị lên cục phó, theo tiêu chuẩn được cấp căn nhà rộng hơn. Ngày dọn về nhà mới, mọi người châm chọc anh là “thực lộc chi thê”, là “ăn theo vợ”. Anh cười: “Nói như vậy là còn trọng nam khinh nữ đấy”. Đôi khi vì thương anh, tôi phàn nàn: “Nhiều tài liệu của Đảng đề cao khả năng tự tu dưỡng, rèn luyện quan điểm giai cấp nhưng trong thực tế thì đâu đâu cũng thấy chủ nghĩa lý lịch, định kiến với quá khứ xa lắc”. Anh bỗng trở thành nhà biện hộ: “Dù lý thuyết tuyệt vời đến đâu cũng do con người thực hiện, Công à! Cán bộ, đảng viên chúng ta đều từ nông dân, làm sao khỏi bệnh ấu trĩ, hẹp hòi. Phải chờ đợi thôi!” Nhớ lời bào chữa đó, tôi càng băn khoăn: Sao bệnh ấu trĩ, hẹp hòi sống dai thế! Liệu có đúng căn nguyên là do ấu trĩ? Năm 1988, tôi ra Hà Nội làm tổng biên tập báo Lao Động. Anh Hoàng Nghinh đã về hưu hơn 10 năm. Anh vừa vui vừa mừng, vừa lo lắng cho tôi: “Công là cây bút viết tốt, nhưng làm lãnh đạo thì anh lo, nghề này, tập thể này phải có thủ đoạn chính trị, cái khoản này anh thấy chú mày ngờ nghệch lắm”. Tôi nói: “Thủ đoạn của em là không để ai đoán mò ý mình, cứ nói thẳng ra với nhau.” Anh vui hẳn lên: “Ừ, ngày xưa anh cứ phải đoán mò ý của ông tổng biên tập và cấp trên! Không gì tốt hơn là công khai hết, em ạ”. Anh bị bệnh tiểu đường rất nặng, có người mách ăn trái cóc miền Nam có tác dụng tốt. Tôi nhắn vợ tôi, mỗi tuần gửi ra cho anh 10 trái cóc, nhưng chỉ được sáu tháng sau anh qua đời! Posted on Tháng Tư 18, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/18/tu-theo-cong-den-chong-cong-25-nguoi-co-ly-lich-rat-xau-va-bi-nhiem-dan-chu-tu-san/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (26): https://www.minds.com/newsfeed/1020189556155691008?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24): https://www.minds.com/newsfeed/1020180972931620864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24) Hồi ký Tống Văn Công Truyện ngắn “Dũng” đưa tôi vào nghề báo Tôi đến xin việc ở vài tờ báo. Người ta tiếp tôi rất lạnh nhạt, bảo trước hết hãy viết bài gửi cho báo cho đến bao giờ ban biên tập thấy có khả năng sẽ gửi giấy gọi. Đầu năm 1958 báo Thống Nhất tổ chức cuộc thi viết về đề tài miền Nam. Tôi viết truyện ngắn “Dũng” gửi dự thi có ý để tìm việc làm ở ngành viết lách. Đây là chuyện viết theo luận đề minh họa lý thuyết của đảng Cộng sản “có áp bức thì có đấu tranh”. Nhân vật chính trong truyện Dũng một bé gái tên Nhu tính nhút nhát, không dám nhìn thấy máu, dù là máu của con gà, con ếch, nhưng trước sự đe dọa tính mạng của cha mình, em vụt trở nên dũng cảm. Năm 1959 công bố giải ở Câu lạc bộ Thống Nhất. Cụ Tôn Đức Thắng đến dự và trao giải. Về thơ, giải nhất trao cho tập “Mộ anh hoa nở” tác phẩm đầu tay của Thanh Hải, một tác giả đang ở miền Nam. Văn xuôi, không có giải nhất, có hai giải nhì là chuyện “Ông Năm Hạng” của Nguyễn Quang Sáng, “Câu chuyện chiều thứ Bảy” của Trần Thanh Giao, giải ba là “Dũng” của tôi; giải khuyến khích là truyện ngắn của Xuân Vũ. Truyện ngắn Dũng được giải ba vì nó minh họa Nghị quyết 9 của Đảng Cộng sản quyết định giải phóng miền Nam bằng bạo lực vũ trang. Sau khi được giải ba cuộc thi truyện ngắn viết về miền Nam, tôi được ba cơ quan báo nhận làm phóng viên (báo Thống Nhất, Đài Phát Thanh và báo Lao Động). Anh Trương Quang Lộc trưởng phòng văn nghệ báo Thống Nhất rủ tôi cùng về báo Lao Động với lý do: đây là nơi được tìm hiểu thực tế công cuộc công nghiệp hóa miền Bắc. Tôi nhận công tác gần nửa tháng mới nhìn thấy ông tổng biên tập. Ông tới dự bữa cơm “liên hoan” chào mừng anh em mới được tuyển dụng, để đưa tuần báo Lao Động tăng lên 3 kỳ / tuần. Ông có khuôn mặt lạnh không thích hợp với một nghề cần quảng giao. Ông nói như miễn cưỡng phải mở miệng và hay dùng hai từ “các cái” thay vì là “những việc”. Ông từng là lính thợ sang Pháp sau khi ra trường kỹ nghệ. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ông là quản đốc của một binh công xưởng. Vợ ông là em ruột của ông Lê Thanh Nghị ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nổi tiếng là người đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi xin viện trợ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1949, binh công xưởng bắt đầu thực hiện chủ trương làm bích báo (báo tường), ông quản đốc Lê Vân nêu gương viết một bài thơ Tình máy tiện, có đoạn: “… Sao máy ngập ngừng? Thân máy nóng bừng, đầu máy hâm hiu. Máy mệt lắm rồi! Ngừng quay nghỉ chút máy ơi Ta làm mồi thuốc, máy xơi giọt dầu…” Bài thơ được đăng trên báo Lao Động số 114 năm 1949 và được khen là một đề tài khô khan mà tác giả đã có thể “tức cảnh sinh tình” thành thơ. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lập tức điều động ông về làm phó tổng biên tập báo Lao Động. Năm 1956, ông được đề bạt tổng biên tập thay ông Đỗ Trọng Giang (cũng là một nhà thơ công nhân lên làm trưởng ban tuyên giáo Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam). Khi tôi về đây, ông kiêm nhiệm rất nhiều chức vụ: Ủy viên đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam; tổng biên tập báo Lao Động; giám đốc Nhà xuất bản Lao Động. Ông không viết bài, cũng không duyệt bài. Ông chỉ đạo ban biên tập theo các quyết định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hằng tuần ông đến họp cơ quan, phát biểu nhận xét tờ báo trong tuần qua, chỉ đạo trọng tâm tuyên truyền trong tuần tới. Mọi việc cụ thể ở báo Lao Động đều do phó tổng biên tập Ngô Tùng quán xuyến. Năm 1964, ông Ngô Tùng qua đời, ông Hoàng Trọng Đỉnh lên thay, mọi việc vẫn tiếp tục nền nếp cũ. Ở Nhà xuất bản Lao Động mọi việc do ông Băng Cơ quán xuyến, hằng tuần ông đến “cho ý kiến” giống như ở báo Lao Động. Ông rất có uy với cấp dưới. Các phó tổng biên tập trước khi vào phòng của ông để xin ý kiến, đều tự chấn chỉnh trang phục, bỏ áo vào quần cẩn thận. Năm 1963, ông nghĩ ra cách chấn chỉnh cách quản lý công tác của phóng viên: xếp bàn làm việc để phóng viên ngồi hướng mặt vào tường; bàn của mỗi phóng viên có vách ngăn riêng để không ai có thể tán chuyện làm ảnh hưởng người bên cạnh; quy định phóng viên phải đến ngồi vào bàn của mình đúng giờ, nếu vắng mặt, phải xin phép. Qua một tháng thực hiện, hoạt động của tờ báo chẳng những không tốt hơn mà lại sa sút, bài vở kém hẳn. Cuộc họp chi bộ sau đó một tháng chính là dịp mổ xẻ chủ trương làm việc này. Các đảng viên là ủy viên ban biên tập, hoặc trưởng bàn là những người có trách nhiệm lên tiếng phân tích vụ việc, nhưng sự có mặt của ông tổng biên tập khiến họ cứ e dè nhìn nhau. Anh Hoàng Nghinh trưởng Ban Quốc tế, đứng lên phát pháo, dù anh không có chân trong ban biên tập và Ban Thời sự Quốc tế của anh không bị ảnh hưởng gì với việc “cải tiến” này. Anh nói, mấy tuần qua anh em làm việc thì ít mà xì xầm mọi lúc mọi nơi, nhưng không dám nói trên báo tường và trong cuộc họp cơ quan. Họ cho rằng đây là lối quản lý nhân viên hành chính, không thích hợp với hoạt động của phóng viên. Anh em cho rằng, tổng biên tập đã không hiểu công việc phóng viên mà lại còn không tin anh em, không bàn bạc với ban biên tập và chi bộ áp đặt ý mình theo cung cách của một ông chủ. Nguy hiểm là đã có sự phản ứng ngầm, làm sút giảm cả lượng và chất của tin bài trên báo. Anh quay sang các ủy viên ban biên tập và trưởng ban: “Tôi biết nhiều đồng chí ngồi đây không đồng tình với cách làm này. Đề nghị các đồng chí thẳng thắn vì sự sống của tờ báo và lợi ích của bạn đọc.” Các ủy viên ban biên tập và trưởng ban lần lượt bày tỏ ý kiến, chủ yếu nói về hiện tượng tiêu cực của phóng viên, chứ không dám cho rằng chủ trương của Tổng biên tập là sai, cũng không ai yêu cầu trở lại nền nếp cũ. Ông tổng biên tập chống đỡ yếu ớt, ông cho rằng cái mới ra đời bao giờ cũng gặp khó khăn. Ông không bảo vệ cách quản lý đang bị phản ứng, nhưng cũng không tuyên bố phải dẹp bỏ. Ông nói dài lê thê về những hiện tượng la cà của phóng viên, việc không phát hiện kịp thời những nhân tố mới trong phong trào thi đua tập thể. Khi ông dứt lời mà không đưa ra quyết định rõ ràng, mọi người vẫn im lặng. Không khí nặng nề bị phá vỡ bởi cái đập bàn của Hoàng Nghinh trước khi đứng phắt dậy, đanh thép hỏi: “Đồng chí không tự phê bình là mình sai à? Đồng chí không chịu vứt bỏ cái chủ trương không thích hợp, đã gây tiêu cực làm giảm hoạt động của phóng viên sao?” Khuôn mặt tái xanh của ông Tổng biên tập bỗng đỏ rực lên. Ông đáp một cách chậm rãi: “Tôi đang lắng nghe ý kiến chân thành xây dựng. Ban biên tập đang lắng nghe chi bộ, tập thể ban biên tập chúng tôi sẽ có quyết định trong cuộc họp sắp tới!” Vậy là khi bị quy trách nhiệm, ông đưa tập thể ban biên tập ra để thoát hiểm. Tuần sau đó, chủ tịch Hoàng Quốc Việt “hạ phóng” xuống tòa báo để chấn chỉnh trật tự. Ông lên án tình trạng mất đoàn kết âm ỉ trong chi bộ là điều không thể chấp nhận được trong cơ quan ngôn luận của giai cấp công nhân có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ông cho rằng sức mạnh của một tập thể chỉ có thể phát huy khi kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ: cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng cấp trên. Ông tổng biên tập chủ trì cuộc tiếp đón, trân trọng chào mừng “vị lãnh tụ giai cấp”, nhưng ông gợi ý ông ủy viên ban biên tập kiêm bí thư chi bộ phát biểu ý kiến. Tôi hết sức kinh ngạc, không hiểu vì sao một người tôi rất quý trọng, đã dành cho ông lá phiếu bầu vào địa vị bí thư chi bộ đã đứng lên khóc nức nở, nói không nên lời! Tôi lờ mờ hiểu lý do không ngăn nổi dòng nước mắt là vì cảm thấy tập thể ở đây đã phạm lỗi quá lớn, lòng phiền lòng vị lãnh tụ tổ chức cách mạng của giai cấp tiên phong đang bận trăm công ngàn việc mà phải đến vì sự việc cỏn con này. (Trước khi viết lại chuyện này, tôi đã gọi điện hỏi nguyên bí thư chi bộ đã khóc năm ấy. Lạ thay, anh bảo mình hoàn toàn không nhớ gì cả! Anh hỏi lại tôi: ” Thế à? Lúc đó mình có khóc à? Tại sao mình lại khóc nhỉ?”) Sau cuộc họp, một vài anh có tuổi và có thâm niên ở đây nhận định: cụ Hoàng Quốc Việt xuống để yểm trợ tổng biên tập, nhân đó dằn mặt anh Hoàng Nghinh, một đảng viên có lý lịch rất xấu và nhiễm thói dân chủ tư sản Phương Tây chưa chịu gột rửa. Posted on Tháng Tư 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-24-truyen-ngan-dung-dua-toi-vao-nghe-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (25): https://www.minds.com/newsfeed/1020181434628386816?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23): https://www.minds.com/newsfeed/1020180411612110848?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (23) Hồi ký Tống Văn Công Làm thơ cải cách ruộng đất Năm 1956, sau khi sắp xếp lại tổ chức xong, các đơn vị bộ đội miền Nam bắt đầu học chỉnh huấn về cải cách ruộng đất. Các chính trị viên giảng về lý luận của cuộc cách mạng “phản phong”, xóa bỏ hình thức bóc lột của địa chủ, phú nông ở nông thôn. Sau đó, “cốt cán chuỗi rễ” là những bần cố nông có thành tích đấu tố xuất sắc trong cải cách ruộng đất ở địa phương đến kể chuyện thực tế. Hồi này chưa phát hiện những sai lầm ghê gớm trong cải cách ruộng đất, chưa có từ “tố điêu” nói về những bịa đặt của bần cố nông cố gắng làm vừa lòng cán bộ đội cải cách. Tôi chỉ có thắc mắc: “Vì sao mà địa chủ ở miền Bắc ác hơn hẳn địa chủ ở miền Nam?” Các chính trị viên giải thích: “Vì địa chủ miền Bắc nghèo hơn nên cố vơ vét!” Từ các buổi nghe kể chuyện thực tế, tôi viết bài thơ “Chị Cả” đăng lên báo tường của đại đội và gửi một bản lên báo Quân đội Nhân dân. Không ngờ bài thơ này được vào chung khảo cuộc thi của ủy ban cải cách ruộng đất và được in trong tập mang tên “Đường Làng” tên bài thơ của Phác Văn. Tập thơ gồm những tác giả: Thanh Tịnh, Nguyễn Bao, Nguyễn Viết Lãm, Phác Văn, Hải Như, Hữu Thọ, Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vượng. Dưới tên tôi, được chua thêm hai chữ “bộ đội”. Sau này tôi mới biết, địa chủ miền Bắc cũng giống như địa chủ miền Nam, họ là những người có trí, có học, tổ chức công việc giỏi giang nên trở nên giàu có. Hầu hết họ đã đóng góp lớn cho Tuần Lễ Vàng, đã tham gia kháng chiến. Người địa chủ lớn tiêu biểu là bà Nguyễn Thị Năm đã bị đấu tố, giết hại thê thảm. Ngoài ra còn rất nhiều địa chủ miền Bắc lâm cảnh như thế. Bố anh Hữu Tính trưởng văn phòng miền Nam báo Lao Động tham gia cách mạng từ năm 1945, làm chủ nhiệm Ủy ban Mặt trận Việt Minh huyện, có con gái là bí thư đảng ủy các cơ quan trung ương, con rể là thư ký phó chủ tịch tôn Đức Thắng, đã bị đấu tố là một tên địa chủ chui vào hàng ngũ cách mạng, phải xử bắn! Anh Ngọc Liên, trưởng ban Bảo hộ Lao động của Tổng Liên đoàn Lao động thời ấy cũng bị đấu tố là địa chủ phản động, bị bắt giam, bỏ đói suýt chết. Vào làm phóng viên báo Lao Động ngày 1 tháng 1 năm 1960, sau “sửa sai cải cách ruộng đất” đã 3 năm, tôi mới được biết bài thơ của mình được vào chung khảo một cuộc thi và in chung với nhiều tác giả đã nổi tiếng. Nhưng lúc ấy tôi không thấy vui mà cảm thấy xấu hổ vì đã được đọc bài thơ “Em bé lên sáu tuổi” của Hoàng Cầm cũng được viết khoảng thời gian đó, có những câu: Chị bần nông cốt cán, Ứa nước mắt quay đi: Nó là con địa chủ, Bé bỏng đã biết gì. Hôm em cho bác cháo, Chịu ba ngày hỏi truy, Chi đội bỗng lùi lại, Nhìn đứa bé mồ coi, Cố tìm vết thù địch, Chỉ thấy một con người! Cùng trải qua một tình huống tương tự mà tôi cố viết theo ý đồ tuyên truyền, không có cảm xúc nhân văn như ông! Tiểu đội tôi đóng quân trong ngôi nhà của địa chủ nay cấp cho gia đình cố nông. Gia đình địa chủ bị dồn vô dãy nhà sau trước kia dành cho người làm, người ở. Một hôm chúng tôi đang ăn cơm thì bé gái con địa chủ đứng ngoài cửa sổ nhìn vào với vẻ thèm thuồng. Cảm thấy tội nghiệp, tôi xúc cho nó bát cơm đưa qua cửa sổ. Vì chuyện này tôi bị phê phán “mất lập trường giai cấp”. Sau khi học chỉnh huấn cách mạng ruộng đất, chi bộ xóa tên tôi khỏi danh sách “quần chúng cảm tình Đảng chuẩn bị kết nạp”. Cũng trong thời gian này Huỳnh Dư Khải ghé thăm tôi, báo tin buồn. Ra Bắc, Khải đã là thiếu úy, chi ủy viên của chi bộ đại đội trong Tiểu đoàn 308 nổi tiếng (chỉ đứng sau tiểu đoàn 307). Cấp trên cho biết với lý lịch vào bộ đội từ lúc 15 tuổi, “chiến công đầy mình”, nếu lãnh đạo cuộc chỉnh huấn đại đội đạt kết quả tốt, Khải sẽ được đề bạt vượt cấp. Khải đã trung thực khai cha mình là địa chủ, Hương cả Huỳnh Dư Khiêm đứng đầu Ban Hội tề. Khải sống với bác ruột là ông hội đồng Huỳnh Dư Thuần để gần trường học. Sau chỉnh huấn, cấp trên bảo Khải “từ trong trứng của giai cấp bóc lột, cần phải thử thách cải tạo nhiều hơn nữa”. Anh được đưa vào danh sách giảm quân giống như tôi, nhưng anh không thể chịu cam phận như tôi, bởi đã từng là một người hùng. Khải kể: “Tao đã xé giấy giới thiệu đảng viên vứt vô mặt thằng bí thư. Tao sẽ mua chiếc xe ba gác để chở hàng thuê và làm giường ngủ. Khi nào mày về Hà Nội thì kiếm tao ở chợ Hàng Da.” Sau tháng Tư năm 1975, Huỳnh Dư Khải về quê. Cả làng An Bình Tây vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn từ năm 1947 nay chỉ là một anh bạch đinh, đi làm thuê kiếm sống. Posted on Tháng Tư 13, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/13/tu-theo-cong-den-chong-cong-23-lam-tho-cai-cach-ruong-dat/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (24): https://www.minds.com/newsfeed/1020180972931620864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22): https://www.minds.com/newsfeed/1020179678219112448?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·