ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21) Hồi ký Tống Văn Công Giơ hai ngón tay hẹn hai năm gặp lại! Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, tất cả các cơ quan quân, dân, chính, đảng đều tổ chức học tập về “thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ cho toàn nhân loại”. Tôi được học tập ở đại đội thông tin liên lạc của Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam bộ. Sau đó chuẩn bị tập kết ra Bắc để rèn luyện quân đội lên chính quy, hiện đại, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước năm 1957 theo Hiệp Định. Cuộc học tập của cơ quan cha tôi (tạp chí Tân Trung Hoa, thuộc Hội Việt-Hoa Hữu Nam bộ) có nhiều trí thức từ Sài Gòn ra dự. Điều rắc rối cho cha tôi là ông cứ khăng khăng cho rằng không thể thực hiện được việc tổng tuyển cử thống nhất nước nhà vào năm 1957. Ông lập luận các hiệp định được ký kết giữa hai phe đối nghịch không phải là để cùng nhau thực hiện. Pháp rút, Mỹ sẽ thay để giữ Nam Việt ở phe tư bản. Bắc Việt theo phe xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa để dành thống nhất. Tương quan lực lượng giữa hai phe cho thấy không thể thống nhất nước nhà trong vòng hai năm. Phát biểu của cha tôi làm cho ban tổ chức cuộc học tập rất tức giận. Họ gặp riêng khuyên cha tôi phải đặt niềm tin vào sức mạnh của nhân dân đoàn kết đấu tranh chính trị dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Nhưng cha tôi vẫn giữ ý kiến của mình. Cha tôi đến thăm tôi, căn dặn sau khi tập kết ra Bắc phải tìm mọi cách để học qua đại học. Cha tôi phải ở lại để phụng dưỡng ông nội bà nội tôi, bởi vì đã biết chắc không thể có thống nhất sau hai năm. Những người lãnh đạo đợt học tập hiệp định chỉ cố tạo cho được một không khí lạc quan, vui vẻ, tin tưởng để thực hiện trôi chảy cuộc tập kết. Cán bộ, bộ đội giơ hai ngón tay hứa hẹn với cha mẹ vợ con và đồng bào Việt Nam là hai năm sẽ gặp lại, những người ở lại cũng phải tin chắc như vậy. Tôi rất băn khoăn khi nghe cha tôi nói hoàn toàn trái ngược với ông tướng Dương Quốc Chính, tư lệnh quân đội Nam bộ khi ông này lên lớp truyền đạt ý kiến của Trung ương Đảng là “tập kết hai năm”. Sau này tôi mới biết, công tác tư tưởng cho cán bộ và nhân dân như thế, nhưng Trung ương Đảng đã chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài. Ở các địa phương miền Nam đều thực hiện việc bí mật chôn giấu súng đạn, máy móc của các binh công xưởng. Chiều 30 Tết, ông Lê Duẩn bí thư Trung ương Cục miền Nam cùng lên chuyến tàu áp chót (tàu Ba Lan Kerensky) với chúng tôi ở vàm sông Ông Đốc, nhưng đến nửa đêm đã bí mật xuống xuồng trở vào bờ. Sau đó, ông thảo Đề cương Cách mạng miền Nam, đưa ra chiến lược giải phóng miền Nam bằng bạo lực cách mạng với “ba mũi giáp công”: chính trị, quân sự, ngoại giao và trên cả “ba vùng chiến lược” là thành thị, nông thôn, rừng núi. Ra Bắc, cán bộ chiến sĩ của hai Phân liên khu của Nam bộ (Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây) phải qua khám sức khỏe, loại khỏi biên chế những người không đạt yêu cầu xây dựng quân đội chính quy hiện đại. Những người đủ sức khỏe được biên chế vào hai sư đoàn 30 và 38. Số người bị loại khỏi quân đội do kém sức khỏe sẽ được tập trung vào Sư đoàn 9 xuống Sầm Sơn an dưỡng, bồi dưỡng sức khỏe, sau đó sẽ được phân công đi làm tùy theo khả năng và sức khỏe. Ban kiểm tra sức khỏe xếp tôi vào loại B2, tức là loại bét. Sau khi đi an dưỡng khoảng một tháng, tôi được tiểu đoàn trưởng gọi lên thông báo: “Xin chúc mừng đồng chí. Cả tiểu đoàn chúng ta chỉ có một mình đồng chí được chọn về thủ đô, học trường giao thông công chính”. Tôi hỏi: “Thưa đồng chí, học trường này ra làm việc gì?” Tiểu đoàn trưởng vui vẻ: “À, làm đường sá, cầu cống. Nghề này rất thiết yếu cho công cuộc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Trong quân đội thì Tổng Cục Hậu Cần đang phát triển binh chủng này để đảm bảo mạch máu giao thông, rồi còn mở đường Trường Sơn vào miền Nam”. Tôi ngắt lời ông: “Thưa đồng chí. Rất tiếc, tôi hoàn toàn không có chút yêu thích nào đối với công việc này!” Vô cùng ngạc nhiên, rồi với giọng khó chịu ông nói: “Đây là nhiệm vụ cách mạng, sao lại có thể nói thích với không thích. Hơn nữa đây còn là đặc ân, là chiếu cố bộ đội miền Nam. Đồng chí chưa có diplom (bằng tú tài). Nếu là người miền Bắc thì người ta đòi phải có tú tài. Tại sao đồng chí không đặt mình trong tám vạn quân sắp giải ngũ còn đang chưa biết có việc gì để làm mà lại tính toán rất cá nhân chủ nghĩa?” Tôi nhũn nhặn: “Thưa đồng chí, tôi đã chấp hành mọi việc được giao cho người lính suốt năm năm trong quân ngũ, không hề đặt là chuyện thích hay không thích. Nhưng nay là được “đặc ân”, được “chiếu cố”, được hưởng tiền của nhân dân nuôi cho ăn học, để gắn bó suốt đời với nghề nghiệp. Do đó tôi cần phải trung thực nói rõ nguyện vọng cá nhân mình để tổ chức có quyết định đúng”. Ông thấy khó bẽ lý sự của tên lính trẻ nên gút lại: “Hôm nay thứ sáu, tôi cho đồng chí hai ngày để suy nghĩ, nếu chịu đi học thì được về thủ đô, được ăn trắng mặc trơn, may kia là cán bộ kĩ thuật của quân đội chính quy hiện đại; nếu không chịu đi học thì trước mắt đồng chí có hai con đường: một là lên nông trường cày ruộng, chăn bò. Hai là ra công trường, gánh đất làm đường, hoặc gánh gạch xây nhà. Sáng thứ hai tuần sau, mời đồng chí đến đây trả lời lần cuối cùng”. Đúng hẹn, tôi đến văn phòng tiểu đoàn trưởng báo là mình đã suy nghĩ nghiêm túc, xin từ chối “đặc ân” được đi học và sẵn sàng nhận công việc ở nông trường hoặc công trường. Ba chục năm sau, khi làm tổng biên tập báo Lao Động, cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tôi được biết ông Nguyễn Văn Tư, ủy viên Trung ương Đảng, chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động và ông Bùi Danh Lưu Bộ trưởng Giao thông Vận tải đã đi học Trường Giao thông Công chính khoa đầu tiên mà tôi đã cố sức từ chối! Tôi được đưa đi công trường, vào biên chế tiểu đoàn công binh số 209 (thuộc Cục doanh trại, Tổng cục Hậu cần). Tiểu đoàn 209 hành quân (cuốc bộ) từ bãi biển Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đến Cầu Diễn (cạnh nghĩa trang Mai Dịch hiện nay), để xây khu nhà để xe ô tô của quân đội. Chúng tôi phát tranh, lau, dựng lán trại. Tiểu đoàn trưởng là ông thiếu tá Lê Văn Tây phổ biến nhiệm vụ: tất cả sẵn sàng đi gánh đất, gánh gạch, học trộn vữa, học làm thợ nề, thợ mộc. Tất cả phải sẵn sàng học làm mọi việc để xây dựng khu nhà. Thế là lời hứa “hai năm ra Bắc xây dựng quân đội làm hậu thuẫn cho đồng bào đấu tranh thống nhất” được các binh sĩ nhắc lại. Ngót năm mươi người, có một số là đảng viên đứng ra chất vấn: khi học Hiệp định Geneve, cấp trên đã chỉ đạo chúng tôi hứa hẹn với đồng bào chỉ tạm chia tay hai năm. Người ở lại thì đấu tranh chính trị, người ra đi thì xây dựng quân đội chính quy, hiện đại. Chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng ra đây để gánh đất, làm phụ hồ. Chúng tôi sẵn sàng cuốc bộ về miền Nam làm mọi việc cùng đồng bào. Hơn một chục anh có thái độ quyết liệt nhất đã mang ba lô kéo nhau đứng trước thềm cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, hô to: “Chúng tôi xin được trở về miền Nam!” Cơ quan tổng tư lệnh chỉ thị cho các đơn vị có người “vô kỷ luật” phải lên nhận người của mình đưa về đơn vị, tổ chức học tập cho thông suốt. Chấp hành lệnh ấy, ban chỉ huy Tiểu đoàn 209 quyết định chọn 40 người thực sự thông suốt nhiệm vụ mới ở công trường để đi thuyết phục 10 đồng đội nói trên. Tôi thuộc vào số người hoàn toàn thông suốt và yên tâm công tác. Cùng trong đại đội 3 với tôi có các anh Đinh Khắc Cần, (sau 1975 là phó chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh; Cần là anh ruột Trung uý lái máy bay Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập), anh Võ Thành Nghĩa (sau 1975 là phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp); anh Lê Bình Đẳng (sau 1975 là kế toán trưởng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) … Chúng tôi là những người “yên tâm gánh đất” nên được ban chỉ huy chọn vào số 40 anh em đi rước 10 đồng đội trở về. Khi đến cơ quan tổng tư lệnh, chúng tôi mới được biết không phải chỉ có 10 anh lính “vô tổ chức” của tiểu đoàn 209 lên “nằm vạ” ở đây mà đã có hàng trăm quân nhân thuộc các đơn vị quân đội miền Nam kéo lên nằm la liệt ở đây nhiều tháng rồi. Cũng ở đây tôi được biết, có nhiều đơn vị của các sư đoàn miền Nam đang tại ngũ đã mang súng vượt sông Bến Hải “trở về với đồng bào”. Sư đoàn trưởng Đồng Văn Cống đã cử nhiều đại đội đuổi theo buộc họ quay lại và những cuộc đấu súng đã xảy ra! Có những toán quân vượt tuyến trót lọt về bưng biền miền Nam được bà con nông dân đùm bọc. Nghe nói năm 1960 ông Đồng Văn Cống vào Nam đã phải vất vả để hòa giải với họ. Sau này tôi được biết thêm, không chỉ ở quân đội mà nhiều người miền Nam ở các ngành cũng bỏ cơ quan ra lập các tập đoàn sản xuất. Nhạc sĩ Phan Vân (tác giả bài Niềm Thương Mến phổ thơ Xuân Vũ) là một trong số anh em này. Sau khi đến nơi, chúng tôi chia nhau gặp Tuấn Anh, mời họ tập họp lại để tiểu đoàn trưởng gặp gỡ. Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Tây nói rất ngắn gọn: “Thưa các đồng chí, tôi được là phải đưa các đồng chí trở về. Do đó, một là các đồng chí chấp nhận lên xe, anh em mình cùng về, rồi sáng mai ngồi lại với nhau bàn chuyện. Hai là, chúng tôi buộc lòng cứ bốn người cõng một người để đưa các đồng chí về theo lệnh trên! Anh em tính sao?” Không trả lời, nhưng tất cả lẵng lặng lên xe. Về đến đơn vị, tiểu đoàn trưởng ra lệnh đưa bốn người vào một phòng, xong ông nói: “Xin lỗi các đồng chí, tôi sẽ cho khóa cửa phòng. Nếu không khóa phòng, các đồng chí lại bỏ đi thì lại mất công đi tìm! Sáng mai chúng ta sẽ ngồi lại nói chuyện với nhau.” Sáu giờ sáng hôm sau, anh Võ Thành Nghĩa thư ký đại đội 3 mở cửa căn phòng đầu tiên thì thấy ba người đang ngồi bó gối nhìn đảng viên thượng sỹ Lê Văn Thuyên treo cổ bằng dây mùng, hai chân co lên khỏi giường năm phân, để được chết! Cả tiểu đoàn nhao lên, phê phán ban chỉ huy khóa cửa nhốt anh em như súc vật, vì không chịu nhục cho nên đồng chí Thuyên phải tự treo cổ, phản ứng bằng cái chết. Đảng ủy tiểu đoàn lên tiếng bênh vực quyết định của tiểu đoàn trưởng, lên án hành động vô kỷ luật của những anh em kéo nhau lên Bộ Tổng Tư lệnh và phản ứng tiêu cực bằng cách tự tử của Lê Văn Thuyên. Ngay sau hôm chôn cất Lê Văn Thuyên (nghĩa trang ở bên phải khoảng giữa con đường Cầu Giấy sang Chợ Bưởi), chi bộ đại đội 3 họp, quyết định khai trừ Lê Văn Thuyên ra khỏi đảng vì khuyết điểm “tự tử, không xứng đáng là một đảng viên Cộng sản”! Posted on Tháng Tư 9, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/09/tu-theo-cong-den-chong-cong-21-gio-hai-ngon-tay-hen-hai-nam-gap-lai/ --- - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (22): https://www.minds.com/newsfeed/1020179678219112448?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20): https://www.minds.com/newsfeed/1020178691488124928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20) Hồi ký Tống Văn Công Hai ông nhân sĩ trí thức xin vào Đảng Trạm liên lạc 23 khi tôi là trạm trưởng đóng ở Cái Nước gần Sở Y tế do bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng làm giám đốc. Hồi này ông nổi tiếng với chủ trương kết hợp Đông Tây Y để điều trị bệnh (Đông y chủ yếu là thuốc Nam), vận động xóa bỏ cầu tiêu ven sông rạch, làm hố xí có hầm chứa phân bên cạnh, đặc biệt là hướng dẫn tập dưỡng sinh. Cán bộ nhân viên Sở Y tế Nam bộ quý trọng ông giám đốc ở cách cư xử: khi đi công tác xa, ông thay phiên chèo xuồng để anh cần vụ cũng được nghỉ ngơi. Mỗi ngày ông dành hai tiếng đồng hồ chài cá. Anh cần bộ bơi xuồng, ông Hưởng quăng chài, có hôm được cả gánh cả, ăn không hết phải cho hàng xóm. Tôi thường xuyên xin cá của ông, dần dà quen thân, gọi ông theo cách gọi của cán bộ nhân viên của sở: bác Ba! Trong số người gọi ông là bác Ba có chị y sĩ Hạnh, đến năm 1954, sau khi bác Ba gái qua đời, chị Hạnh được ông “đề bạt” lên em Hạnh rồi trở thành vợ. Dù chị đã được “thay bậc đổi ngôi” tôi vẫn gọi hai người như cũ: bác Ba, chị Hạnh. Sau khi tập kết ra Bắc, ông lên bộ trưởng và ngày trở lại miền Nam ông đã nghỉ hưu, thỉnh thoảng tôi vẫn đến thăm ông. Xứ ủy và Trung ương cục miền Nam nhiều lần gợi ý ông vào Đảng Cộng sản, nhưng ông vẫn từ chối “xin được tham gia kháng chiến như một người yêu nước ở ngoài mọi đảng phái”. Cuối năm 1953, được biết ông đã xin vào Đảng, tôi tò mò đến thăm và hỏi chuyện này. Ông kể, 3/1953 Stalin qua đời. Trung ương Cục miền Nam long trọng tổ chức lễ truy điệu mời các chánh phó giám đốc các sở, ban, ngành cấp Nam bộ đến dự. Ông Lê Duẩn đọc điếu văn. Ông Lê Đức Thọ khóc nức nở. Các vị lãnh đạo của Đảng có mặt đều nói lên lòng biết ơn và thương tiếc vị lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng cảm nhận một “tình cảm đại đồng” cao đẹp mà ông chưa từng biết: những người dị chủng, chưa từng gặp mặt, vậy mà họ lại thương yêu, than khóc, đau đớn như mất người ruột thịt! Đẹp quá! Ngay sau khi rời lễ truy điệu Stalin, ông làm đơn xin vào Đảng. Tôi hiểu tâm trạng đó của ông. Bởi vì sau khi nghe tin Stalin qua đời, một anh lính ở ngoài Đảng như tôi cũng ngậm ngùi. Thời ấy các cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng sản cho rằng Liên Xô là thành trì hòa bình, dân chủ của nhân loại. Đại nguyên soái Stalin là khắc tinh của bọn đế quốc sài lang. Các lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam là những chiến sĩ tiên phong tiếp bước theo con đường của Stalin khai mở độc lập tự do cho Việt Nam. Phải đến thời Internet, tôi mới biết Stalin là tên độc tài, đồ tể. Tôi nghĩ việc phong thánh cho cộng sản Việt Nam chính là de Gaule với chủ trương tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Bảo Đại trong hồi ký Con Rồng Việt Nam cũng tỏ ra rất hận đối với ông ta. Và lớp chúng tôi tình nguyện đi kháng chiến giành độc lập, lúc nào cũng mong ước trở thành đảng viên Cộng sản chỉ vì tin rằng Đảng này yêu nước. Năm 1950 chi bộ Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ đã gợi ý tôi làm đơn xin vào Đảng, nhưng khi đọc lý lịch thì năm sinh ghi là 1935 không đủ tuổi nên gác lại (thực ra tôi sinh năm 1932). Xin kể thêm chuyện một trí thức khác của Nam bộ kháng chiến, ông luật sư Nguyễn Thành Vĩnh xin vào Đảng. Sau 30/4/1975, tôi được bầu làm Phó ban Pháp chế của Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (trưởng ban là ông Huỳnh Ngọc Chi giám đốc Sở Tư pháp). Cụ Nguyễn Thành Vĩnh là chánh án tòa án thành phố, do đó sinh hoạt trong ban Pháp chế và thường trò chuyện với tôi. Một lần tôi hỏi ông về con đường đã đưa một đại địa chủ, một luật sư giàu có như ông trở thành đảng viên Cộng sản. Ông cho rằng trước hết là lòng yêu nước khiến ông có đủ gan rời bỏ cuộc sống giàu sang yên ấm đi vô bưng tham gia kháng chiến. Đã là cán bộ kháng chiến nhưng ông vẫn ngại ngần khi tiếp xúc với đảng viên Cộng sản vì nghĩ họ là những người rất sắt máu. Lúc cơ quan ông đóng ở Đồng Tháp Mười, quân Pháp mở một trận càn lớn. Lần đầu tiên bị săn đuổi, ông hoảng sợ chạy rất sâu vào cánh đồng lau sậy ngút ngàn. Sau khi giặt rút rất lâu, ông vẫn không hay biết, anh em cơ quan lùng sục réo gọi, ông mới dám tìm lối trở về. Khi về tới đình làng, ông biết giặc Pháp bắn chết gần 10 người. Anh em dân quân mang người chết xếp trên một dãy chiếu trái trước sân đình. Một người đang bưng mặt khóc nức nở là ông Lê Duẩn, bí thư Trung ương Cục. Ông rất ngạc nhiên, hóa ra ông cộng sản gộc này cũng biết khóc, vậy là đáng yêu quá! Ngày đêm ấy, ông viết đơn xin vào Đảng và sáng hôm sau đến đưa trực tiếp cho ông Lê Duẩn. Posted on Tháng Tư 7, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/07/tu-theo-cong-den-chong-cong-20-hai-ong-nhan-si-tri-thuc-xin-vao-dang/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21): https://www.minds.com/newsfeed/1020179143481438208?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19) Hồi ký Tống Văn Công Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng và vụ án đường Barbier Năm 1949 anh Lê Văn Chánh (hiện nay là phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam) bạn đồng hương của tôi được kết nạp vào Đảng, sau đó được học một khóa chính trị, chương trình học gồm có: Chủ nghĩa Xã hội Khoa học; Cách mạng Dân chủ mới; Lịch sử đảng. Trong giáo trình Lịch sử Đảng, có một bài về tổ chức tiền thân của đảng là Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Chủ tịch Kỳ ủy của tổ chức này (cấp lãnh đạo Nam kỳ) là Tôn Đức Thắng. Năm 1928 ông Tôn Đức Thắng chủ trì “toà án cách mạng” xử tử hội viên Lê Văn Phát (người xã Mỹ chánh, Ba Tri, Bến Tre) về tội yêu đương. Các hội viên thực hiện bản án bằng cách bóp cổ Lê Văn Phát đến chết, rồi đổ xăng đốt để không thể nhận diện. Anh Chánh và tôi vô cùng kinh ngạc, rồi tự an ủi “đó là một thời ấu trĩ đã qua”. Hàng chục năm sau, nhà thơ Hoàng Hưng trong dịp đi Pháp về kể, anh được đọc quyển hồi ký “Passion, Betrayal and Revolution in Colonial Saigon” của bà Nguyễn Trung Nguyên, một trong bốn người thực hiện bản án nói trên kể lại chuyện xưa. (Ba người kia là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh bị tòa án Pháp xử tử, bà Nguyệt là phụ nữ nên được hạ mức án xuống tù chung thân, đày ra Côn Đảo). Mãi gần đây tôi mới biết hồi ấy Tuần báo Phụ nữ Tân văn (Trụ sở ở số 42 đường Catinat, trước năm 1975 là đường Tự Do, nay là Đồng Khởi) số 14, xuất bản ngày một tháng tám năm 1929 đã có bài tường thuật như sau: “Trong đêm mùng tám rạng ngày chín tháng mười hai năm 1928 xảy ra vụ giết người quá tàn bạo và dã man tại căn nhà số 5, đường Barbier mà hung thủ là những người trong phân bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Nam kỳ. Nạn nhơn là Lê Văn Phát, bí danh là Mỹ Lang, bị đồng chí kết án tử hình vì tội phản bội theo điều lệ của đảng: Lê Văn Phát ve vãn người chị em của chúng ta là Thị Nhứt.” Và tội phản bội theo điều lệ Đảng được các đồng chí của Phát giải thích: “Phát không gạt bỏ tình riêng để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng.” Ba đồng chí trẻ tuổi hơn hết trong tổ chức của Phát (23,24, và 26 tuổi) thi hành bản án đã được tòa án cách mạng phán quyết. Tôn Đức Thắng, 40 tuổi chủ trì tòa án vì ông là Chủ tịch Kỳ bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Toà án Pháp xử Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai. Phạm Văn Đồng 10 năm cấm cố vì “đồng ý bản án tử hình” nói trên. Bốn tên ra tay giết người, bị xử tử hình là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh, cô Nguyễn Trung Nguyệt bị đày ra Côn Đảo. Sau này các giáo trình Lịch sử Đảng viết lại vụ án đường Barbier: Bác Tôn bị thực dân Pháp gán vào tội chủ mưu giết người trong vụ ám sát một người hợp tác với chính quyền thuộc địa Nam kỳ tên là Phát. Họ cho rằng, các đồng chí của ông thực hiện vụ giết người ở đường Barbier. Nhờ một đồng chí trẻ đứng ra nhận mình là chủ mưu và nhờ sự vận động của một số nhân sĩ trí thức như bà Trần Thị Cừu, đốc học Nguyễn Văn Bá, luật sư Trịnh Đình Thảo, nên đồng chí bị chính quyền thuộc địa tuyên án 20 năm chung thân khổ sai, đày ra Côn Đảo. Lịch sử Đảng cho rằng trước đó cụ Tôn bị bắt lính năm 1914 và bị đưa sang Pháp, sung vào Hải quân phục vụ cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ Nhất. Khi Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra, Pháp đưa hạm đội đi đàn áp. Cụ Tôn đã làm binh biến kéo cờ đỏ trên thiết giáp hạm ở Hắc Hải. Sau đó cụ về nước thành lập Công hội đỏ ở Xưởng Ba Son năm một 1920. Năm 1925, Cụ Tôn lãnh đạo cuộc đình công ở Xưởng Ba Son giam chân chiến hạm Pháp khiến chúng không kịp đi tham gia đàn áp cách mạng Trung Quốc. Về các sự kiện nói trên, giáo sư sử học Christoph Giebel của đại học Washington tác giả quyển sách “Tiền bối tưởng tượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của lịch sử và ký ức” (Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) đã cho rằng: “Không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cả thời Thế Chiến Thứ Nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các tổ chức cách mạng tại Sài Gòn. Ông Tôn không bị bắt lính mà được tuyển mộ. Và ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kỳ con tàu nào của Pháp liên quan đến vụ binh biến ở Hắc Hải. Bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ông Tôn cắm cờ trên con tàu ở Hắc Hải để kết nối Cách mạng Việt Nam với Cách mạng Tháng Mười Nga.” Theo Giebel, “cuộc đình công ở Ba Son không phải là đình công chính trị với mục đích chống đế quốc, và cũng không giam chân được chiến hạm Pháp trên đường sang Trung Quốc.” Posted on Tháng Tư 2, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/02/tu-theo-cong-den-chong-cong-19-ton-duc-thang-pham-van-dong-va-vu-an-duong-barbier/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20): https://www.minds.com/newsfeed/1020178691488124928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18) Hồi ký Tống Văn Công Nhà thơ Nguyễn Bính rời quân ngũ, bán sách báo Khoảng hai tháng sau khi công bố Giải thưởng Văn nghệ Cửu long, các báo kháng chiến đưa tin đã phát hành một số tác phẩm được giải, trong đó có bài “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi vội vàng chèo xuồng theo kinh Chắc Băng tới quán sách báo của Nguyễn Bính ở chợ Huyện Sử. Nhìn qua đã thấy các bản nhạc in litô kẹp trên dây treo cùng với một số tờ báo quen thuộc như Nhân Dân Miền Nam, Tiếng Súng Kháng Chiến, Cứu Quốc… Tôi gỡ bản nhạc “Đóng thuế nuôi quân” và lên tiếng xin mua. Ông chủ quán Nguyễn Bính ngừng xem báo ngẩng lên nhìn khách hàng, nhận tiền, rồi hỏi: Anh chơi nhạc à? Dạ, mới học! Ông nói: “Hai tác giả được giải này tên nghe lạ hoắc! Anh mua vì quen biết tác giả, hay chỉ vì là bài được giải?” Tôi lúng túng rồi thưa thật: “Bài này của tôi sáng tác đoạt giải nhì.” Nhà thơ ngạc nhiên, vồn vã: “Nếu không vội đi thì ngồi lại uống chén trà chơi?” Từ lâu tôi đã hâm mộ nhà thơ lãng mạn thời tiền chiến, nay trở thành nhà thơ kháng chiến lừng danh với những bài trường ca “Ông lão mài gươm”, “Đồng Tháp Mười”, “Máu chảy trên đường phố”, đặc biệt là tráng ca “Tiểu đoàn 307” được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc. Được ngồi uống trà với một thiên tài còn vinh hạnh nào hơn! Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông qua bàn trà và thổ lộ niềm cảm phục của mình đối với các tác phẩm kể trên của ông. Nguyễn Bính có vẻ vui vui, ông thay ấm trà mới, hỏi tôi có quen với Bùi Quang Triết, phóng viên Tiếng Súng Kháng Địch không. Hồi này tôi chưa quen Bùi Quang Triết, bút danh Xuân Vũ, nhưng có đọc thơ của anh như “Ngày mai em lớn cầm súng bắn Tây” và “Niềm thương mến”, cả hai bài đều được Phan Vân phổ nhạc. Tôi nói hai bài này điều hay, được phổ biến rộng, nhưng không rõ vì sao không lọt “mắt xanh” của ban chấm Giải Văn nghệ Cửu long. Hình như câu nói của tôi hơi đúng ý của Nguyễn Bính, ông nói: “Không phải không lọt được ‘mắt xanh’ mà vì ban giám khảo không ai có ‘mắt xanh’!” Hồi ấy tuy rất phục tài Nguyễn Bính, nhưng tôi vẫn tin ban giám khảo gồm những cán bộ cao cấp của Đảng nắm vững ý kiến Cụ Hồ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và “phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Nguyễn Bính cho biết, những bài trường ca của ông mà tôi yêu thích đều không được những nhà lãnh đạo chính trị, văn nghệ hoan nghênh. Họ hỏi Nguyễn Bính, vốn là một nhà thơ nổi tiếng từ thể thơ lục bát của dân tộc, tại sao nay ông lại làm thơ tự do, thể thơ lai căng? Trường ca Đồng Tháp Mười có những câu: “… Bông súng ngoài đồng, Bầm gan, tim mạch. Nước phèn chua chat, Lắng nỗi đau thương. Đốc binh Kiều, Thiên Hộ Dương… “… lửa uất hận bùng sôi cùng máu đổ, Mầm đấu tranh vút mọc với sao vàng!…” Họ hỏi, Đồng Tháp Mười toàn là nông dân sao ông không làm thơ lục bát cho họ dễ đọc? Bài “Tiểu đoàn 307”, cả thơ và nhạc đều bị quy là “lai Tây”! Mệt mỏi vì những ý kiến kiểu đó, lại nghe sắp có cuộc “chỉnh phong”, Nguyễn Bính xin rời quân ngũ ra dựng lều bán sách báo. Mặc dù ông chuyển vào ở rất sâu trong vùng kháng chiến Cà Mau, nhưng các nhà lãnh đạo của Đảng vẫn lo ông bỏ về thành. Đó là tấn bi kịch giữa ông với đảng Cộng sản, hai bên hoàn toàn không thể hiểu nhau. Ông rất yêu nước, yêu cách mạng, kính trọng Cụ Hồ. Trong trường ca “Máu chảy trên đường phố” của ông có những câu: “…Sao vàng mọc, núi sông trào ánh sáng, Khắp đô thành nhảy múa một màu son. … các anh ta vượt Trường Sơn ra Việt Bắc, Bác ngoài kia khuya sớm vọng về Nam…” Năm 1953, tại quán sách này ông làm bài thơ “Thư gửi cho cha”: “… Đố ai quét sạch lá rừng, Đố ai xui giục con đừng theo Cha. … Thưa cha giấy vắn tình dài, Viết bao nhiêu vẫn chưa hài lòng con. Còn trời còn nước còn non, Nước non còn đó, con còn theo Cha.” Ông chỉ đòi được tự do sáng tác, viết thì cảm xúc, chọn hình thức thể hiện mà mình thấy thích hợp với nội dung. Đảng Cộng sản luôn luôn dè chừng ông là “nghệ sĩ lãng mạn, lập trường bấp bênh”. Sau hiệp định Geneve, có một danh sách cần phải vận động đi tập kết, trong đó có Nguyễn Bính. Ra Bắc, Đảng giúp tiền cho Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa để chống báo Nhân Văn, nhưng Nguyễn Bính không chịu chống, nên Trăm Hoa phải chết! (Theo Tô Hoài trong hồi ký “Cát bụi trần ai”.) Bà Hồng Châu (Nguyễn Lục Hà), một đảng viên từ thời kỳ trước Cách Mạng Tháng Tám đã kể khá tỉ mỉ trong hồi ký của bà về chuyện ông Lê Duẩn khuyên bà phải lấy cho được Nguyễn Bính làm chồng: “Giọng anh Ba gần như tâm sự: Chị biết, lúc này có chủ trương chỉnh phong của Đảng, được cán bộ tăng cường cho cơ sở. Nguyễn Bính là người xứ lạ lại không có thân thuộc họ hàng ở miền Nam, trừ khi anh ấy bắt rể ở đây. Bọn ngụy quyền đang tìm mọi cách lôi kéo, kêu gọi văn nghệ sĩ về thành. Trong danh sách đó, Nguyễn Bính là tên tuổi nổi cộm nhất. Đã có một số văn nghệ sĩ không chịu nổi gian khổ đã dinh tê về thành. Mặc dù một cá nhân không làm nên lịch sử, nhưng kháng chiến cần sự góp mặt của Nguyễn Bính. Chị suy nghĩ đi… … anh Ba Duẩn nói tiếp: “Chúng tôi nhận thấy chị đủ sức giữ con người ấy lại cho công cuộc kháng chiến đến kỳ cùng.” Anh cười nửa đùa nửa thật: “Nếu đây là mệnh lệnh của Đảng thì chị có chấp hành không?” Là “khách đa tình” Nguyễn Bính dễ sa vào cuộc tình do Lê Duẩn sắp đặt vì mục đích chính trị. Nhưng cũng do bản tính nghệ sĩ, ông mau chóng cảm nhận tình trạng “đồng sàng dị mộng”. Thật trớ trêu khi ông nhận giấy ly hôn bà Hồng Châu đúng một tháng trước ngày bà sinh Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó, ông lấy cô nông dân Mai Thị Mới từ Bến Tre tản cư vào ấp Hương Mai xã Khánh Lâm. Khi ông ngồi uống trà với tôi thì Mai Thị Mới đang làm việc ngoài ruộng. Ông cho biết nguồn sống chính của vợ chồng ông là thu hoạch từ hơn một mẫu ruộng do người vợ Mai Thị Mới của ông quán xuyến. Hai năm sau, đứa con gái ra đời “Hương Mai tên xóm quê nhà; Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai”. (Thơ “Gửi vợ miền Nam”) Ngày đó, Nguyễn Bính thẳng thắng bảo tôi: “Nếu lãnh đạo văn nghệ theo kiểu thực dụng thì chỉ đẻ ra những tác phẩm minh họa, nó sẽ chết ngay khi vừa ra đời!” Tôi đang vui với giải thưởng âm nhạc nên không để tâm đến nhận xét của ông. Năm 1954, sau khi tập kết ra Bắc, Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây cho thành lập ban nhạc để chuẩn bị chào mừng ngày thành lập Sư đoàn 38. Các nhạc công đều đem theo tập vở chép nhạc của mình từ thời kháng chiến chống Pháp. Giở tập nhạc của anh Trần Đức Thắng (sau 30 tháng 4 năm 1975 là Phó văn phòng Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh) thấy có bài “Đóng thuế nuôi quân”, tôi kêu lên “A! Thắng có chép bài hát của mình!” Thắng ngạc nhiên hỏi “Đâu, đâu?” Và sau khi xem lại, anh bỉu môi chửi thề: “Nếu biết là bài của mày thì tao đ. chép!” Câu văng tục của Thắng khiến tôi nhớ nhận xét của Nguyễn Bính! Posted on Tháng Ba 31, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/31/tu-theo-cong-den-chong-cong-18-nha-tho-nguyen-binh-roi-quan-ngu-ban-sach-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20) Hồi ký Tống Văn Công Hai ông nhân sĩ trí thức xin vào Đảng Trạm liên lạc 23 khi tôi là trạm trưởng đóng ở Cái Nước gần Sở Y tế do bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng làm giám đốc. Hồi này ông nổi tiếng với chủ trương kết hợp Đông Tây Y để điều trị bệnh (Đông y chủ yếu là thuốc Nam), vận động xóa bỏ cầu tiêu ven sông rạch, làm hố xí có hầm chứa phân bên cạnh, đặc biệt là hướng dẫn tập dưỡng sinh. Cán bộ nhân viên Sở Y tế Nam bộ quý trọng ông giám đốc ở cách cư xử: khi đi công tác xa, ông thay phiên chèo xuồng để anh cần vụ cũng được nghỉ ngơi. Mỗi ngày ông dành hai tiếng đồng hồ chài cá. Anh cần bộ bơi xuồng, ông Hưởng quăng chài, có hôm được cả gánh cả, ăn không hết phải cho hàng xóm. Tôi thường xuyên xin cá của ông, dần dà quen thân, gọi ông theo cách gọi của cán bộ nhân viên của sở: bác Ba! Trong số người gọi ông là bác Ba có chị y sĩ Hạnh, đến năm 1954, sau khi bác Ba gái qua đời, chị Hạnh được ông “đề bạt” lên em Hạnh rồi trở thành vợ. Dù chị đã được “thay bậc đổi ngôi” tôi vẫn gọi hai người như cũ: bác Ba, chị Hạnh. Sau khi tập kết ra Bắc, ông lên bộ trưởng và ngày trở lại miền Nam ông đã nghỉ hưu, thỉnh thoảng tôi vẫn đến thăm ông. Xứ ủy và Trung ương cục miền Nam nhiều lần gợi ý ông vào Đảng Cộng sản, nhưng ông vẫn từ chối “xin được tham gia kháng chiến như một người yêu nước ở ngoài mọi đảng phái”. Cuối năm 1953, được biết ông đã xin vào Đảng, tôi tò mò đến thăm và hỏi chuyện này. Ông kể, 3/1953 Stalin qua đời. Trung ương Cục miền Nam long trọng tổ chức lễ truy điệu mời các chánh phó giám đốc các sở, ban, ngành cấp Nam bộ đến dự. Ông Lê Duẩn đọc điếu văn. Ông Lê Đức Thọ khóc nức nở. Các vị lãnh đạo của Đảng có mặt đều nói lên lòng biết ơn và thương tiếc vị lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng cảm nhận một “tình cảm đại đồng” cao đẹp mà ông chưa từng biết: những người dị chủng, chưa từng gặp mặt, vậy mà họ lại thương yêu, than khóc, đau đớn như mất người ruột thịt! Đẹp quá! Ngay sau khi rời lễ truy điệu Stalin, ông làm đơn xin vào Đảng. Tôi hiểu tâm trạng đó của ông. Bởi vì sau khi nghe tin Stalin qua đời, một anh lính ở ngoài Đảng như tôi cũng ngậm ngùi. Thời ấy các cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng sản cho rằng Liên Xô là thành trì hòa bình, dân chủ của nhân loại. Đại nguyên soái Stalin là khắc tinh của bọn đế quốc sài lang. Các lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam là những chiến sĩ tiên phong tiếp bước theo con đường của Stalin khai mở độc lập tự do cho Việt Nam. Phải đến thời Internet, tôi mới biết Stalin là tên độc tài, đồ tể. Tôi nghĩ việc phong thánh cho cộng sản Việt Nam chính là de Gaule với chủ trương tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Bảo Đại trong hồi ký Con Rồng Việt Nam cũng tỏ ra rất hận đối với ông ta. Và lớp chúng tôi tình nguyện đi kháng chiến giành độc lập, lúc nào cũng mong ước trở thành đảng viên Cộng sản chỉ vì tin rằng Đảng này yêu nước. Năm 1950 chi bộ Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ đã gợi ý tôi làm đơn xin vào Đảng, nhưng khi đọc lý lịch thì năm sinh ghi là 1935 không đủ tuổi nên gác lại (thực ra tôi sinh năm 1932). Xin kể thêm chuyện một trí thức khác của Nam bộ kháng chiến, ông luật sư Nguyễn Thành Vĩnh xin vào Đảng. Sau 30/4/1975, tôi được bầu làm Phó ban Pháp chế của Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (trưởng ban là ông Huỳnh Ngọc Chi giám đốc Sở Tư pháp). Cụ Nguyễn Thành Vĩnh là chánh án tòa án thành phố, do đó sinh hoạt trong ban Pháp chế và thường trò chuyện với tôi. Một lần tôi hỏi ông về con đường đã đưa một đại địa chủ, một luật sư giàu có như ông trở thành đảng viên Cộng sản. Ông cho rằng trước hết là lòng yêu nước khiến ông có đủ gan rời bỏ cuộc sống giàu sang yên ấm đi vô bưng tham gia kháng chiến. Đã là cán bộ kháng chiến nhưng ông vẫn ngại ngần khi tiếp xúc với đảng viên Cộng sản vì nghĩ họ là những người rất sắt máu. Lúc cơ quan ông đóng ở Đồng Tháp Mười, quân Pháp mở một trận càn lớn. Lần đầu tiên bị săn đuổi, ông hoảng sợ chạy rất sâu vào cánh đồng lau sậy ngút ngàn. Sau khi giặt rút rất lâu, ông vẫn không hay biết, anh em cơ quan lùng sục réo gọi, ông mới dám tìm lối trở về. Khi về tới đình làng, ông biết giặc Pháp bắn chết gần 10 người. Anh em dân quân mang người chết xếp trên một dãy chiếu trái trước sân đình. Một người đang bưng mặt khóc nức nở là ông Lê Duẩn, bí thư Trung ương Cục. Ông rất ngạc nhiên, hóa ra ông cộng sản gộc này cũng biết khóc, vậy là đáng yêu quá! Ngày đêm ấy, ông viết đơn xin vào Đảng và sáng hôm sau đến đưa trực tiếp cho ông Lê Duẩn. Posted on Tháng Tư 7, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/07/tu-theo-cong-den-chong-cong-20-hai-ong-nhan-si-tri-thuc-xin-vao-dang/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21): https://www.minds.com/newsfeed/1020179143481438208?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19) Hồi ký Tống Văn Công Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng và vụ án đường Barbier Năm 1949 anh Lê Văn Chánh (hiện nay là phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam) bạn đồng hương của tôi được kết nạp vào Đảng, sau đó được học một khóa chính trị, chương trình học gồm có: Chủ nghĩa Xã hội Khoa học; Cách mạng Dân chủ mới; Lịch sử đảng. Trong giáo trình Lịch sử Đảng, có một bài về tổ chức tiền thân của đảng là Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Chủ tịch Kỳ ủy của tổ chức này (cấp lãnh đạo Nam kỳ) là Tôn Đức Thắng. Năm 1928 ông Tôn Đức Thắng chủ trì “toà án cách mạng” xử tử hội viên Lê Văn Phát (người xã Mỹ chánh, Ba Tri, Bến Tre) về tội yêu đương. Các hội viên thực hiện bản án bằng cách bóp cổ Lê Văn Phát đến chết, rồi đổ xăng đốt để không thể nhận diện. Anh Chánh và tôi vô cùng kinh ngạc, rồi tự an ủi “đó là một thời ấu trĩ đã qua”. Hàng chục năm sau, nhà thơ Hoàng Hưng trong dịp đi Pháp về kể, anh được đọc quyển hồi ký “Passion, Betrayal and Revolution in Colonial Saigon” của bà Nguyễn Trung Nguyên, một trong bốn người thực hiện bản án nói trên kể lại chuyện xưa. (Ba người kia là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh bị tòa án Pháp xử tử, bà Nguyệt là phụ nữ nên được hạ mức án xuống tù chung thân, đày ra Côn Đảo). Mãi gần đây tôi mới biết hồi ấy Tuần báo Phụ nữ Tân văn (Trụ sở ở số 42 đường Catinat, trước năm 1975 là đường Tự Do, nay là Đồng Khởi) số 14, xuất bản ngày một tháng tám năm 1929 đã có bài tường thuật như sau: “Trong đêm mùng tám rạng ngày chín tháng mười hai năm 1928 xảy ra vụ giết người quá tàn bạo và dã man tại căn nhà số 5, đường Barbier mà hung thủ là những người trong phân bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Nam kỳ. Nạn nhơn là Lê Văn Phát, bí danh là Mỹ Lang, bị đồng chí kết án tử hình vì tội phản bội theo điều lệ của đảng: Lê Văn Phát ve vãn người chị em của chúng ta là Thị Nhứt.” Và tội phản bội theo điều lệ Đảng được các đồng chí của Phát giải thích: “Phát không gạt bỏ tình riêng để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng.” Ba đồng chí trẻ tuổi hơn hết trong tổ chức của Phát (23,24, và 26 tuổi) thi hành bản án đã được tòa án cách mạng phán quyết. Tôn Đức Thắng, 40 tuổi chủ trì tòa án vì ông là Chủ tịch Kỳ bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Toà án Pháp xử Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai. Phạm Văn Đồng 10 năm cấm cố vì “đồng ý bản án tử hình” nói trên. Bốn tên ra tay giết người, bị xử tử hình là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh, cô Nguyễn Trung Nguyệt bị đày ra Côn Đảo. Sau này các giáo trình Lịch sử Đảng viết lại vụ án đường Barbier: Bác Tôn bị thực dân Pháp gán vào tội chủ mưu giết người trong vụ ám sát một người hợp tác với chính quyền thuộc địa Nam kỳ tên là Phát. Họ cho rằng, các đồng chí của ông thực hiện vụ giết người ở đường Barbier. Nhờ một đồng chí trẻ đứng ra nhận mình là chủ mưu và nhờ sự vận động của một số nhân sĩ trí thức như bà Trần Thị Cừu, đốc học Nguyễn Văn Bá, luật sư Trịnh Đình Thảo, nên đồng chí bị chính quyền thuộc địa tuyên án 20 năm chung thân khổ sai, đày ra Côn Đảo. Lịch sử Đảng cho rằng trước đó cụ Tôn bị bắt lính năm 1914 và bị đưa sang Pháp, sung vào Hải quân phục vụ cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ Nhất. Khi Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra, Pháp đưa hạm đội đi đàn áp. Cụ Tôn đã làm binh biến kéo cờ đỏ trên thiết giáp hạm ở Hắc Hải. Sau đó cụ về nước thành lập Công hội đỏ ở Xưởng Ba Son năm một 1920. Năm 1925, Cụ Tôn lãnh đạo cuộc đình công ở Xưởng Ba Son giam chân chiến hạm Pháp khiến chúng không kịp đi tham gia đàn áp cách mạng Trung Quốc. Về các sự kiện nói trên, giáo sư sử học Christoph Giebel của đại học Washington tác giả quyển sách “Tiền bối tưởng tượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của lịch sử và ký ức” (Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) đã cho rằng: “Không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cả thời Thế Chiến Thứ Nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các tổ chức cách mạng tại Sài Gòn. Ông Tôn không bị bắt lính mà được tuyển mộ. Và ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kỳ con tàu nào của Pháp liên quan đến vụ binh biến ở Hắc Hải. Bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ông Tôn cắm cờ trên con tàu ở Hắc Hải để kết nối Cách mạng Việt Nam với Cách mạng Tháng Mười Nga.” Theo Giebel, “cuộc đình công ở Ba Son không phải là đình công chính trị với mục đích chống đế quốc, và cũng không giam chân được chiến hạm Pháp trên đường sang Trung Quốc.” Posted on Tháng Tư 2, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/02/tu-theo-cong-den-chong-cong-19-ton-duc-thang-pham-van-dong-va-vu-an-duong-barbier/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20): https://www.minds.com/newsfeed/1020178691488124928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18) Hồi ký Tống Văn Công Nhà thơ Nguyễn Bính rời quân ngũ, bán sách báo Khoảng hai tháng sau khi công bố Giải thưởng Văn nghệ Cửu long, các báo kháng chiến đưa tin đã phát hành một số tác phẩm được giải, trong đó có bài “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi vội vàng chèo xuồng theo kinh Chắc Băng tới quán sách báo của Nguyễn Bính ở chợ Huyện Sử. Nhìn qua đã thấy các bản nhạc in litô kẹp trên dây treo cùng với một số tờ báo quen thuộc như Nhân Dân Miền Nam, Tiếng Súng Kháng Chiến, Cứu Quốc… Tôi gỡ bản nhạc “Đóng thuế nuôi quân” và lên tiếng xin mua. Ông chủ quán Nguyễn Bính ngừng xem báo ngẩng lên nhìn khách hàng, nhận tiền, rồi hỏi: Anh chơi nhạc à? Dạ, mới học! Ông nói: “Hai tác giả được giải này tên nghe lạ hoắc! Anh mua vì quen biết tác giả, hay chỉ vì là bài được giải?” Tôi lúng túng rồi thưa thật: “Bài này của tôi sáng tác đoạt giải nhì.” Nhà thơ ngạc nhiên, vồn vã: “Nếu không vội đi thì ngồi lại uống chén trà chơi?” Từ lâu tôi đã hâm mộ nhà thơ lãng mạn thời tiền chiến, nay trở thành nhà thơ kháng chiến lừng danh với những bài trường ca “Ông lão mài gươm”, “Đồng Tháp Mười”, “Máu chảy trên đường phố”, đặc biệt là tráng ca “Tiểu đoàn 307” được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc. Được ngồi uống trà với một thiên tài còn vinh hạnh nào hơn! Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông qua bàn trà và thổ lộ niềm cảm phục của mình đối với các tác phẩm kể trên của ông. Nguyễn Bính có vẻ vui vui, ông thay ấm trà mới, hỏi tôi có quen với Bùi Quang Triết, phóng viên Tiếng Súng Kháng Địch không. Hồi này tôi chưa quen Bùi Quang Triết, bút danh Xuân Vũ, nhưng có đọc thơ của anh như “Ngày mai em lớn cầm súng bắn Tây” và “Niềm thương mến”, cả hai bài đều được Phan Vân phổ nhạc. Tôi nói hai bài này điều hay, được phổ biến rộng, nhưng không rõ vì sao không lọt “mắt xanh” của ban chấm Giải Văn nghệ Cửu long. Hình như câu nói của tôi hơi đúng ý của Nguyễn Bính, ông nói: “Không phải không lọt được ‘mắt xanh’ mà vì ban giám khảo không ai có ‘mắt xanh’!” Hồi ấy tuy rất phục tài Nguyễn Bính, nhưng tôi vẫn tin ban giám khảo gồm những cán bộ cao cấp của Đảng nắm vững ý kiến Cụ Hồ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và “phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Nguyễn Bính cho biết, những bài trường ca của ông mà tôi yêu thích đều không được những nhà lãnh đạo chính trị, văn nghệ hoan nghênh. Họ hỏi Nguyễn Bính, vốn là một nhà thơ nổi tiếng từ thể thơ lục bát của dân tộc, tại sao nay ông lại làm thơ tự do, thể thơ lai căng? Trường ca Đồng Tháp Mười có những câu: “… Bông súng ngoài đồng, Bầm gan, tim mạch. Nước phèn chua chat, Lắng nỗi đau thương. Đốc binh Kiều, Thiên Hộ Dương… “… lửa uất hận bùng sôi cùng máu đổ, Mầm đấu tranh vút mọc với sao vàng!…” Họ hỏi, Đồng Tháp Mười toàn là nông dân sao ông không làm thơ lục bát cho họ dễ đọc? Bài “Tiểu đoàn 307”, cả thơ và nhạc đều bị quy là “lai Tây”! Mệt mỏi vì những ý kiến kiểu đó, lại nghe sắp có cuộc “chỉnh phong”, Nguyễn Bính xin rời quân ngũ ra dựng lều bán sách báo. Mặc dù ông chuyển vào ở rất sâu trong vùng kháng chiến Cà Mau, nhưng các nhà lãnh đạo của Đảng vẫn lo ông bỏ về thành. Đó là tấn bi kịch giữa ông với đảng Cộng sản, hai bên hoàn toàn không thể hiểu nhau. Ông rất yêu nước, yêu cách mạng, kính trọng Cụ Hồ. Trong trường ca “Máu chảy trên đường phố” của ông có những câu: “…Sao vàng mọc, núi sông trào ánh sáng, Khắp đô thành nhảy múa một màu son. … các anh ta vượt Trường Sơn ra Việt Bắc, Bác ngoài kia khuya sớm vọng về Nam…” Năm 1953, tại quán sách này ông làm bài thơ “Thư gửi cho cha”: “… Đố ai quét sạch lá rừng, Đố ai xui giục con đừng theo Cha. … Thưa cha giấy vắn tình dài, Viết bao nhiêu vẫn chưa hài lòng con. Còn trời còn nước còn non, Nước non còn đó, con còn theo Cha.” Ông chỉ đòi được tự do sáng tác, viết thì cảm xúc, chọn hình thức thể hiện mà mình thấy thích hợp với nội dung. Đảng Cộng sản luôn luôn dè chừng ông là “nghệ sĩ lãng mạn, lập trường bấp bênh”. Sau hiệp định Geneve, có một danh sách cần phải vận động đi tập kết, trong đó có Nguyễn Bính. Ra Bắc, Đảng giúp tiền cho Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa để chống báo Nhân Văn, nhưng Nguyễn Bính không chịu chống, nên Trăm Hoa phải chết! (Theo Tô Hoài trong hồi ký “Cát bụi trần ai”.) Bà Hồng Châu (Nguyễn Lục Hà), một đảng viên từ thời kỳ trước Cách Mạng Tháng Tám đã kể khá tỉ mỉ trong hồi ký của bà về chuyện ông Lê Duẩn khuyên bà phải lấy cho được Nguyễn Bính làm chồng: “Giọng anh Ba gần như tâm sự: Chị biết, lúc này có chủ trương chỉnh phong của Đảng, được cán bộ tăng cường cho cơ sở. Nguyễn Bính là người xứ lạ lại không có thân thuộc họ hàng ở miền Nam, trừ khi anh ấy bắt rể ở đây. Bọn ngụy quyền đang tìm mọi cách lôi kéo, kêu gọi văn nghệ sĩ về thành. Trong danh sách đó, Nguyễn Bính là tên tuổi nổi cộm nhất. Đã có một số văn nghệ sĩ không chịu nổi gian khổ đã dinh tê về thành. Mặc dù một cá nhân không làm nên lịch sử, nhưng kháng chiến cần sự góp mặt của Nguyễn Bính. Chị suy nghĩ đi… … anh Ba Duẩn nói tiếp: “Chúng tôi nhận thấy chị đủ sức giữ con người ấy lại cho công cuộc kháng chiến đến kỳ cùng.” Anh cười nửa đùa nửa thật: “Nếu đây là mệnh lệnh của Đảng thì chị có chấp hành không?” Là “khách đa tình” Nguyễn Bính dễ sa vào cuộc tình do Lê Duẩn sắp đặt vì mục đích chính trị. Nhưng cũng do bản tính nghệ sĩ, ông mau chóng cảm nhận tình trạng “đồng sàng dị mộng”. Thật trớ trêu khi ông nhận giấy ly hôn bà Hồng Châu đúng một tháng trước ngày bà sinh Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó, ông lấy cô nông dân Mai Thị Mới từ Bến Tre tản cư vào ấp Hương Mai xã Khánh Lâm. Khi ông ngồi uống trà với tôi thì Mai Thị Mới đang làm việc ngoài ruộng. Ông cho biết nguồn sống chính của vợ chồng ông là thu hoạch từ hơn một mẫu ruộng do người vợ Mai Thị Mới của ông quán xuyến. Hai năm sau, đứa con gái ra đời “Hương Mai tên xóm quê nhà; Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai”. (Thơ “Gửi vợ miền Nam”) Ngày đó, Nguyễn Bính thẳng thắng bảo tôi: “Nếu lãnh đạo văn nghệ theo kiểu thực dụng thì chỉ đẻ ra những tác phẩm minh họa, nó sẽ chết ngay khi vừa ra đời!” Tôi đang vui với giải thưởng âm nhạc nên không để tâm đến nhận xét của ông. Năm 1954, sau khi tập kết ra Bắc, Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây cho thành lập ban nhạc để chuẩn bị chào mừng ngày thành lập Sư đoàn 38. Các nhạc công đều đem theo tập vở chép nhạc của mình từ thời kháng chiến chống Pháp. Giở tập nhạc của anh Trần Đức Thắng (sau 30 tháng 4 năm 1975 là Phó văn phòng Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh) thấy có bài “Đóng thuế nuôi quân”, tôi kêu lên “A! Thắng có chép bài hát của mình!” Thắng ngạc nhiên hỏi “Đâu, đâu?” Và sau khi xem lại, anh bỉu môi chửi thề: “Nếu biết là bài của mày thì tao đ. chép!” Câu văng tục của Thắng khiến tôi nhớ nhận xét của Nguyễn Bính! Posted on Tháng Ba 31, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/31/tu-theo-cong-den-chong-cong-18-nha-tho-nguyen-binh-roi-quan-ngu-ban-sach-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
close
Minds LIVESTREAM Tonight at 7pm ET with Tulsi Gabbard, Tim Pool, Cornel West and more!