ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20) Hồi ký Tống Văn Công Hai ông nhân sĩ trí thức xin vào Đảng Trạm liên lạc 23 khi tôi là trạm trưởng đóng ở Cái Nước gần Sở Y tế do bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng làm giám đốc. Hồi này ông nổi tiếng với chủ trương kết hợp Đông Tây Y để điều trị bệnh (Đông y chủ yếu là thuốc Nam), vận động xóa bỏ cầu tiêu ven sông rạch, làm hố xí có hầm chứa phân bên cạnh, đặc biệt là hướng dẫn tập dưỡng sinh. Cán bộ nhân viên Sở Y tế Nam bộ quý trọng ông giám đốc ở cách cư xử: khi đi công tác xa, ông thay phiên chèo xuồng để anh cần vụ cũng được nghỉ ngơi. Mỗi ngày ông dành hai tiếng đồng hồ chài cá. Anh cần bộ bơi xuồng, ông Hưởng quăng chài, có hôm được cả gánh cả, ăn không hết phải cho hàng xóm. Tôi thường xuyên xin cá của ông, dần dà quen thân, gọi ông theo cách gọi của cán bộ nhân viên của sở: bác Ba! Trong số người gọi ông là bác Ba có chị y sĩ Hạnh, đến năm 1954, sau khi bác Ba gái qua đời, chị Hạnh được ông “đề bạt” lên em Hạnh rồi trở thành vợ. Dù chị đã được “thay bậc đổi ngôi” tôi vẫn gọi hai người như cũ: bác Ba, chị Hạnh. Sau khi tập kết ra Bắc, ông lên bộ trưởng và ngày trở lại miền Nam ông đã nghỉ hưu, thỉnh thoảng tôi vẫn đến thăm ông. Xứ ủy và Trung ương cục miền Nam nhiều lần gợi ý ông vào Đảng Cộng sản, nhưng ông vẫn từ chối “xin được tham gia kháng chiến như một người yêu nước ở ngoài mọi đảng phái”. Cuối năm 1953, được biết ông đã xin vào Đảng, tôi tò mò đến thăm và hỏi chuyện này. Ông kể, 3/1953 Stalin qua đời. Trung ương Cục miền Nam long trọng tổ chức lễ truy điệu mời các chánh phó giám đốc các sở, ban, ngành cấp Nam bộ đến dự. Ông Lê Duẩn đọc điếu văn. Ông Lê Đức Thọ khóc nức nở. Các vị lãnh đạo của Đảng có mặt đều nói lên lòng biết ơn và thương tiếc vị lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng cảm nhận một “tình cảm đại đồng” cao đẹp mà ông chưa từng biết: những người dị chủng, chưa từng gặp mặt, vậy mà họ lại thương yêu, than khóc, đau đớn như mất người ruột thịt! Đẹp quá! Ngay sau khi rời lễ truy điệu Stalin, ông làm đơn xin vào Đảng. Tôi hiểu tâm trạng đó của ông. Bởi vì sau khi nghe tin Stalin qua đời, một anh lính ở ngoài Đảng như tôi cũng ngậm ngùi. Thời ấy các cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng sản cho rằng Liên Xô là thành trì hòa bình, dân chủ của nhân loại. Đại nguyên soái Stalin là khắc tinh của bọn đế quốc sài lang. Các lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam là những chiến sĩ tiên phong tiếp bước theo con đường của Stalin khai mở độc lập tự do cho Việt Nam. Phải đến thời Internet, tôi mới biết Stalin là tên độc tài, đồ tể. Tôi nghĩ việc phong thánh cho cộng sản Việt Nam chính là de Gaule với chủ trương tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Bảo Đại trong hồi ký Con Rồng Việt Nam cũng tỏ ra rất hận đối với ông ta. Và lớp chúng tôi tình nguyện đi kháng chiến giành độc lập, lúc nào cũng mong ước trở thành đảng viên Cộng sản chỉ vì tin rằng Đảng này yêu nước. Năm 1950 chi bộ Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ đã gợi ý tôi làm đơn xin vào Đảng, nhưng khi đọc lý lịch thì năm sinh ghi là 1935 không đủ tuổi nên gác lại (thực ra tôi sinh năm 1932). Xin kể thêm chuyện một trí thức khác của Nam bộ kháng chiến, ông luật sư Nguyễn Thành Vĩnh xin vào Đảng. Sau 30/4/1975, tôi được bầu làm Phó ban Pháp chế của Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (trưởng ban là ông Huỳnh Ngọc Chi giám đốc Sở Tư pháp). Cụ Nguyễn Thành Vĩnh là chánh án tòa án thành phố, do đó sinh hoạt trong ban Pháp chế và thường trò chuyện với tôi. Một lần tôi hỏi ông về con đường đã đưa một đại địa chủ, một luật sư giàu có như ông trở thành đảng viên Cộng sản. Ông cho rằng trước hết là lòng yêu nước khiến ông có đủ gan rời bỏ cuộc sống giàu sang yên ấm đi vô bưng tham gia kháng chiến. Đã là cán bộ kháng chiến nhưng ông vẫn ngại ngần khi tiếp xúc với đảng viên Cộng sản vì nghĩ họ là những người rất sắt máu. Lúc cơ quan ông đóng ở Đồng Tháp Mười, quân Pháp mở một trận càn lớn. Lần đầu tiên bị săn đuổi, ông hoảng sợ chạy rất sâu vào cánh đồng lau sậy ngút ngàn. Sau khi giặt rút rất lâu, ông vẫn không hay biết, anh em cơ quan lùng sục réo gọi, ông mới dám tìm lối trở về. Khi về tới đình làng, ông biết giặc Pháp bắn chết gần 10 người. Anh em dân quân mang người chết xếp trên một dãy chiếu trái trước sân đình. Một người đang bưng mặt khóc nức nở là ông Lê Duẩn, bí thư Trung ương Cục. Ông rất ngạc nhiên, hóa ra ông cộng sản gộc này cũng biết khóc, vậy là đáng yêu quá! Ngày đêm ấy, ông viết đơn xin vào Đảng và sáng hôm sau đến đưa trực tiếp cho ông Lê Duẩn. Posted on Tháng Tư 7, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/07/tu-theo-cong-den-chong-cong-20-hai-ong-nhan-si-tri-thuc-xin-vao-dang/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (21): https://www.minds.com/newsfeed/1020179143481438208?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19) Hồi ký Tống Văn Công Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng và vụ án đường Barbier Năm 1949 anh Lê Văn Chánh (hiện nay là phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam) bạn đồng hương của tôi được kết nạp vào Đảng, sau đó được học một khóa chính trị, chương trình học gồm có: Chủ nghĩa Xã hội Khoa học; Cách mạng Dân chủ mới; Lịch sử đảng. Trong giáo trình Lịch sử Đảng, có một bài về tổ chức tiền thân của đảng là Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Chủ tịch Kỳ ủy của tổ chức này (cấp lãnh đạo Nam kỳ) là Tôn Đức Thắng. Năm 1928 ông Tôn Đức Thắng chủ trì “toà án cách mạng” xử tử hội viên Lê Văn Phát (người xã Mỹ chánh, Ba Tri, Bến Tre) về tội yêu đương. Các hội viên thực hiện bản án bằng cách bóp cổ Lê Văn Phát đến chết, rồi đổ xăng đốt để không thể nhận diện. Anh Chánh và tôi vô cùng kinh ngạc, rồi tự an ủi “đó là một thời ấu trĩ đã qua”. Hàng chục năm sau, nhà thơ Hoàng Hưng trong dịp đi Pháp về kể, anh được đọc quyển hồi ký “Passion, Betrayal and Revolution in Colonial Saigon” của bà Nguyễn Trung Nguyên, một trong bốn người thực hiện bản án nói trên kể lại chuyện xưa. (Ba người kia là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh bị tòa án Pháp xử tử, bà Nguyệt là phụ nữ nên được hạ mức án xuống tù chung thân, đày ra Côn Đảo). Mãi gần đây tôi mới biết hồi ấy Tuần báo Phụ nữ Tân văn (Trụ sở ở số 42 đường Catinat, trước năm 1975 là đường Tự Do, nay là Đồng Khởi) số 14, xuất bản ngày một tháng tám năm 1929 đã có bài tường thuật như sau: “Trong đêm mùng tám rạng ngày chín tháng mười hai năm 1928 xảy ra vụ giết người quá tàn bạo và dã man tại căn nhà số 5, đường Barbier mà hung thủ là những người trong phân bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Nam kỳ. Nạn nhơn là Lê Văn Phát, bí danh là Mỹ Lang, bị đồng chí kết án tử hình vì tội phản bội theo điều lệ của đảng: Lê Văn Phát ve vãn người chị em của chúng ta là Thị Nhứt.” Và tội phản bội theo điều lệ Đảng được các đồng chí của Phát giải thích: “Phát không gạt bỏ tình riêng để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng.” Ba đồng chí trẻ tuổi hơn hết trong tổ chức của Phát (23,24, và 26 tuổi) thi hành bản án đã được tòa án cách mạng phán quyết. Tôn Đức Thắng, 40 tuổi chủ trì tòa án vì ông là Chủ tịch Kỳ bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Toà án Pháp xử Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai. Phạm Văn Đồng 10 năm cấm cố vì “đồng ý bản án tử hình” nói trên. Bốn tên ra tay giết người, bị xử tử hình là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh, cô Nguyễn Trung Nguyệt bị đày ra Côn Đảo. Sau này các giáo trình Lịch sử Đảng viết lại vụ án đường Barbier: Bác Tôn bị thực dân Pháp gán vào tội chủ mưu giết người trong vụ ám sát một người hợp tác với chính quyền thuộc địa Nam kỳ tên là Phát. Họ cho rằng, các đồng chí của ông thực hiện vụ giết người ở đường Barbier. Nhờ một đồng chí trẻ đứng ra nhận mình là chủ mưu và nhờ sự vận động của một số nhân sĩ trí thức như bà Trần Thị Cừu, đốc học Nguyễn Văn Bá, luật sư Trịnh Đình Thảo, nên đồng chí bị chính quyền thuộc địa tuyên án 20 năm chung thân khổ sai, đày ra Côn Đảo. Lịch sử Đảng cho rằng trước đó cụ Tôn bị bắt lính năm 1914 và bị đưa sang Pháp, sung vào Hải quân phục vụ cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ Nhất. Khi Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra, Pháp đưa hạm đội đi đàn áp. Cụ Tôn đã làm binh biến kéo cờ đỏ trên thiết giáp hạm ở Hắc Hải. Sau đó cụ về nước thành lập Công hội đỏ ở Xưởng Ba Son năm một 1920. Năm 1925, Cụ Tôn lãnh đạo cuộc đình công ở Xưởng Ba Son giam chân chiến hạm Pháp khiến chúng không kịp đi tham gia đàn áp cách mạng Trung Quốc. Về các sự kiện nói trên, giáo sư sử học Christoph Giebel của đại học Washington tác giả quyển sách “Tiền bối tưởng tượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của lịch sử và ký ức” (Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) đã cho rằng: “Không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cả thời Thế Chiến Thứ Nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các tổ chức cách mạng tại Sài Gòn. Ông Tôn không bị bắt lính mà được tuyển mộ. Và ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kỳ con tàu nào của Pháp liên quan đến vụ binh biến ở Hắc Hải. Bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ông Tôn cắm cờ trên con tàu ở Hắc Hải để kết nối Cách mạng Việt Nam với Cách mạng Tháng Mười Nga.” Theo Giebel, “cuộc đình công ở Ba Son không phải là đình công chính trị với mục đích chống đế quốc, và cũng không giam chân được chiến hạm Pháp trên đường sang Trung Quốc.” Posted on Tháng Tư 2, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/02/tu-theo-cong-den-chong-cong-19-ton-duc-thang-pham-van-dong-va-vu-an-duong-barbier/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20): https://www.minds.com/newsfeed/1020178691488124928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18) Hồi ký Tống Văn Công Nhà thơ Nguyễn Bính rời quân ngũ, bán sách báo Khoảng hai tháng sau khi công bố Giải thưởng Văn nghệ Cửu long, các báo kháng chiến đưa tin đã phát hành một số tác phẩm được giải, trong đó có bài “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi vội vàng chèo xuồng theo kinh Chắc Băng tới quán sách báo của Nguyễn Bính ở chợ Huyện Sử. Nhìn qua đã thấy các bản nhạc in litô kẹp trên dây treo cùng với một số tờ báo quen thuộc như Nhân Dân Miền Nam, Tiếng Súng Kháng Chiến, Cứu Quốc… Tôi gỡ bản nhạc “Đóng thuế nuôi quân” và lên tiếng xin mua. Ông chủ quán Nguyễn Bính ngừng xem báo ngẩng lên nhìn khách hàng, nhận tiền, rồi hỏi: Anh chơi nhạc à? Dạ, mới học! Ông nói: “Hai tác giả được giải này tên nghe lạ hoắc! Anh mua vì quen biết tác giả, hay chỉ vì là bài được giải?” Tôi lúng túng rồi thưa thật: “Bài này của tôi sáng tác đoạt giải nhì.” Nhà thơ ngạc nhiên, vồn vã: “Nếu không vội đi thì ngồi lại uống chén trà chơi?” Từ lâu tôi đã hâm mộ nhà thơ lãng mạn thời tiền chiến, nay trở thành nhà thơ kháng chiến lừng danh với những bài trường ca “Ông lão mài gươm”, “Đồng Tháp Mười”, “Máu chảy trên đường phố”, đặc biệt là tráng ca “Tiểu đoàn 307” được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc. Được ngồi uống trà với một thiên tài còn vinh hạnh nào hơn! Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông qua bàn trà và thổ lộ niềm cảm phục của mình đối với các tác phẩm kể trên của ông. Nguyễn Bính có vẻ vui vui, ông thay ấm trà mới, hỏi tôi có quen với Bùi Quang Triết, phóng viên Tiếng Súng Kháng Địch không. Hồi này tôi chưa quen Bùi Quang Triết, bút danh Xuân Vũ, nhưng có đọc thơ của anh như “Ngày mai em lớn cầm súng bắn Tây” và “Niềm thương mến”, cả hai bài đều được Phan Vân phổ nhạc. Tôi nói hai bài này điều hay, được phổ biến rộng, nhưng không rõ vì sao không lọt “mắt xanh” của ban chấm Giải Văn nghệ Cửu long. Hình như câu nói của tôi hơi đúng ý của Nguyễn Bính, ông nói: “Không phải không lọt được ‘mắt xanh’ mà vì ban giám khảo không ai có ‘mắt xanh’!” Hồi ấy tuy rất phục tài Nguyễn Bính, nhưng tôi vẫn tin ban giám khảo gồm những cán bộ cao cấp của Đảng nắm vững ý kiến Cụ Hồ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và “phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Nguyễn Bính cho biết, những bài trường ca của ông mà tôi yêu thích đều không được những nhà lãnh đạo chính trị, văn nghệ hoan nghênh. Họ hỏi Nguyễn Bính, vốn là một nhà thơ nổi tiếng từ thể thơ lục bát của dân tộc, tại sao nay ông lại làm thơ tự do, thể thơ lai căng? Trường ca Đồng Tháp Mười có những câu: “… Bông súng ngoài đồng, Bầm gan, tim mạch. Nước phèn chua chat, Lắng nỗi đau thương. Đốc binh Kiều, Thiên Hộ Dương… “… lửa uất hận bùng sôi cùng máu đổ, Mầm đấu tranh vút mọc với sao vàng!…” Họ hỏi, Đồng Tháp Mười toàn là nông dân sao ông không làm thơ lục bát cho họ dễ đọc? Bài “Tiểu đoàn 307”, cả thơ và nhạc đều bị quy là “lai Tây”! Mệt mỏi vì những ý kiến kiểu đó, lại nghe sắp có cuộc “chỉnh phong”, Nguyễn Bính xin rời quân ngũ ra dựng lều bán sách báo. Mặc dù ông chuyển vào ở rất sâu trong vùng kháng chiến Cà Mau, nhưng các nhà lãnh đạo của Đảng vẫn lo ông bỏ về thành. Đó là tấn bi kịch giữa ông với đảng Cộng sản, hai bên hoàn toàn không thể hiểu nhau. Ông rất yêu nước, yêu cách mạng, kính trọng Cụ Hồ. Trong trường ca “Máu chảy trên đường phố” của ông có những câu: “…Sao vàng mọc, núi sông trào ánh sáng, Khắp đô thành nhảy múa một màu son. … các anh ta vượt Trường Sơn ra Việt Bắc, Bác ngoài kia khuya sớm vọng về Nam…” Năm 1953, tại quán sách này ông làm bài thơ “Thư gửi cho cha”: “… Đố ai quét sạch lá rừng, Đố ai xui giục con đừng theo Cha. … Thưa cha giấy vắn tình dài, Viết bao nhiêu vẫn chưa hài lòng con. Còn trời còn nước còn non, Nước non còn đó, con còn theo Cha.” Ông chỉ đòi được tự do sáng tác, viết thì cảm xúc, chọn hình thức thể hiện mà mình thấy thích hợp với nội dung. Đảng Cộng sản luôn luôn dè chừng ông là “nghệ sĩ lãng mạn, lập trường bấp bênh”. Sau hiệp định Geneve, có một danh sách cần phải vận động đi tập kết, trong đó có Nguyễn Bính. Ra Bắc, Đảng giúp tiền cho Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa để chống báo Nhân Văn, nhưng Nguyễn Bính không chịu chống, nên Trăm Hoa phải chết! (Theo Tô Hoài trong hồi ký “Cát bụi trần ai”.) Bà Hồng Châu (Nguyễn Lục Hà), một đảng viên từ thời kỳ trước Cách Mạng Tháng Tám đã kể khá tỉ mỉ trong hồi ký của bà về chuyện ông Lê Duẩn khuyên bà phải lấy cho được Nguyễn Bính làm chồng: “Giọng anh Ba gần như tâm sự: Chị biết, lúc này có chủ trương chỉnh phong của Đảng, được cán bộ tăng cường cho cơ sở. Nguyễn Bính là người xứ lạ lại không có thân thuộc họ hàng ở miền Nam, trừ khi anh ấy bắt rể ở đây. Bọn ngụy quyền đang tìm mọi cách lôi kéo, kêu gọi văn nghệ sĩ về thành. Trong danh sách đó, Nguyễn Bính là tên tuổi nổi cộm nhất. Đã có một số văn nghệ sĩ không chịu nổi gian khổ đã dinh tê về thành. Mặc dù một cá nhân không làm nên lịch sử, nhưng kháng chiến cần sự góp mặt của Nguyễn Bính. Chị suy nghĩ đi… … anh Ba Duẩn nói tiếp: “Chúng tôi nhận thấy chị đủ sức giữ con người ấy lại cho công cuộc kháng chiến đến kỳ cùng.” Anh cười nửa đùa nửa thật: “Nếu đây là mệnh lệnh của Đảng thì chị có chấp hành không?” Là “khách đa tình” Nguyễn Bính dễ sa vào cuộc tình do Lê Duẩn sắp đặt vì mục đích chính trị. Nhưng cũng do bản tính nghệ sĩ, ông mau chóng cảm nhận tình trạng “đồng sàng dị mộng”. Thật trớ trêu khi ông nhận giấy ly hôn bà Hồng Châu đúng một tháng trước ngày bà sinh Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó, ông lấy cô nông dân Mai Thị Mới từ Bến Tre tản cư vào ấp Hương Mai xã Khánh Lâm. Khi ông ngồi uống trà với tôi thì Mai Thị Mới đang làm việc ngoài ruộng. Ông cho biết nguồn sống chính của vợ chồng ông là thu hoạch từ hơn một mẫu ruộng do người vợ Mai Thị Mới của ông quán xuyến. Hai năm sau, đứa con gái ra đời “Hương Mai tên xóm quê nhà; Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai”. (Thơ “Gửi vợ miền Nam”) Ngày đó, Nguyễn Bính thẳng thắng bảo tôi: “Nếu lãnh đạo văn nghệ theo kiểu thực dụng thì chỉ đẻ ra những tác phẩm minh họa, nó sẽ chết ngay khi vừa ra đời!” Tôi đang vui với giải thưởng âm nhạc nên không để tâm đến nhận xét của ông. Năm 1954, sau khi tập kết ra Bắc, Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây cho thành lập ban nhạc để chuẩn bị chào mừng ngày thành lập Sư đoàn 38. Các nhạc công đều đem theo tập vở chép nhạc của mình từ thời kháng chiến chống Pháp. Giở tập nhạc của anh Trần Đức Thắng (sau 30 tháng 4 năm 1975 là Phó văn phòng Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh) thấy có bài “Đóng thuế nuôi quân”, tôi kêu lên “A! Thắng có chép bài hát của mình!” Thắng ngạc nhiên hỏi “Đâu, đâu?” Và sau khi xem lại, anh bỉu môi chửi thề: “Nếu biết là bài của mày thì tao đ. chép!” Câu văng tục của Thắng khiến tôi nhớ nhận xét của Nguyễn Bính! Posted on Tháng Ba 31, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/31/tu-theo-cong-den-chong-cong-18-nha-tho-nguyen-binh-roi-quan-ngu-ban-sach-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17) Hồi ký Tống Văn Công Tôi được giải, ông xứ ủy bị “mất lập trường”! Đầu năm 1951, ông nội tôi từ Bến Tre vào thăm và cho tôi khoản tiền bán con heo một tạ. Tôi đem số tiền này mua cây đàn violon, rồi say mê học đàn, học nhạc lý. Từ năm 1952, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ có quyết định thuế nông nghiệp. Nông dân đóng thuế bằng lúa tỷ lệ theo số ruộng canh tác. Tôi sáng tác một bài hát vận động cho phong trào này: “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi được mời tham dự buổi trao Giải Văn nghệ Cửu long. Tôi đi dự, không hề nghĩ mình được giải nhì! Văn xuôi dự giải lần này có một cây bút cực kỳ quan trọng, mọi người nói nhỏ với nhau đó là một “ông gộc”: nhà văn Ngũ Yến (tách đôi chữ Nguyễn là tên và là họ của ông Nguyễn Văn Nguyễn) với tác phẩm “Kén Rể” đã đăng trên tạp chí Lá Lúa của Chi hội Văn nghệ Nam bộ. Trong chiến khu ai cũng biết ông Nguyễn Văn Nguyễn là người đảm trách hàng loạt chức vụ quan trọng: Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên Ban Tuyên huấn, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, Giám đốc Sở thông tin Nam bộ, Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến, chủ bút báo Cứu Quốc Nam Bộ (có thể kể một loại nguyên chức vụ như, nguyên bí thư tỉnh ủy Bến Tre; nguyên bí thư liên tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công; nguyên chủ bút báo Búa Liềm; nguyên ủy viên Ban Biên tập báo La Lutte…) Truyện ngắn “Kén Rể” của Ngũ Yến được đông đảo cán bộ, bộ đội chuyền tay nhau đọc. “Kén Rể” được viết theo lối kể chuyện đời xưa, về một anh nông dân nghèo, cần cù chịu khó rất thông minh cải tạo đất, chọn giống má, cân nhắc mùa vụ, chăm bón đúng cách… Nhờ đó đã mau chóng thoát nghèo, giúp đỡ người kém may mắn, được xóm làng trọng vọng và cuối cùng anh ta giàu có và được sánh duyên với một cô gái tài sắc vẹn toàn con gái một vị quan thanh liêm hồi hưu. Ai cũng đinh ninh “Kén Rể” sẽ được xướng danh vào giải nhứt văn xuôi. Chánh giám khảo Hà Huy Giáp (trưởng ban tuyên huấn Trung ương Cục) biết rõ điều ấy, nhưng ông cho rằng việc bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp còn quan trọng hơn là giữ uy tín của một cá nhân, cho dù đó là một nhà lãnh đạo có tên tuổi. Trước khi mở đầu bài nhận xét tác phẩm, ông có lời xin lỗi đối với người đồng chí đáng kính. Ông cho rằng câu chuyện “Kén Rể” được thể hiện với nghệ thuật bậc thầy, tuy nhiên tư tưởng của tác phẩm là sự thất bại của giai cấp nông dân khi chưa được sự lãnh đạo của Đảng vô sản; do đó từ thân phận tôi đòi, anh ta cố gắng ngoi lên, để cuối cùng gia nhập vào giai cấp bóc lột mà cứ tưởng rằng đó là sự thành đạt tột cùng! Không phải riêng tôi mà cả hội trường đều tỏ ra vô cùng bái phục sự “phân tích sâu sắc” của ông Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục, chánh giám khảo. Hóa ra lập trường giai cấp là một lãnh vực phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, chỉ sơ sểnh là bị trượt chân dù một người đã tự nguyện “đầu hàng giai cấp vô sản”, đã vào tù đế quốc như đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, ủy viên Thường vụ Trung ương Cục! Giải nhất về văn được trao cho: “Bên rừng Cù lao Dung” của Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam). Giải nhì về văn được trao cho: “Tây đầu đỏ” cũng của Phạm Anh Tài và “Cái lu” của Trần Kim Trắc. Về thơ không có giải nhất, giải nhì được trao cho tập truyện thơ lục bát “Chú Hai Neo” của Nguyễn Hải Trừng. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội văn nghệ Việt Nam đã trao giải khuyến khích cho tác phẩm này). Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đại diện ban giám khảo xướng tên bài nhạc “Đóng thuế nuôi quân” của Tống Văn Công đoạt giải nhì. Bạn ca nhạc trình bày bản nhạc và cũng được cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Giờ đây, nhớ lại bài hát tôi cảm thấy ngượng vì nhạc thì đơn điệu, lời thì thô thiển. …”Quạt cho sạch, rồi ta phơi lúa khô. Phơi lúa khô, Dành nuôi quân của mình. Quân ta đem màu hồng diệt thù giữ nước non. Ta căm ghét Tây càng yêu thương lính mình. Quần có ấm no vì dân xong lên diệt thù!” Sau khi công bố giải nhì mọi người hồi hộp chờ nghe giải nhất. Bài hát có tên là “Thành đô khổ lắm ai ơi”. Bao nhiêu năm đã qua tôi vẫn còn nhớ lời của bài hát nhưng không sao nhớ được tên tác giả! Trước khi viết đoạn này tôi hỏi người bạn có mặt hôm đó là anh Lê Văn Chánh (Hải Phong) hiện là Phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, anh cũng nhớ tên và thuộc lời bài hát, nhưng không nhớ tên tác giả. Hồi công bố giải thưởng, khi nghe trình bày bản nhạc đoạt giải nhất “Thành đô khổ lắm ai ơi”, ông chủ tịch Chi hội Văn nghệ Nam bộ Lưu Quý Kỳ gục gặc đầu, nhấp nháy mắt, giần giật môi theo từng câu hát: “… Thành đô khổ lắm, ai ơi! Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than. Tây muốn bắt, Tây tràn tới bắt. Lính muốn giam, lính dắt đem giam. Người ta mà như loài thú cầm! Mắt đui, tai điếc, miệng câm, chân què!…” Posted on Tháng Ba 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-17-toi-duoc-giai-ong-xu-uy-bi-mat-lap-truong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19) Hồi ký Tống Văn Công Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng và vụ án đường Barbier Năm 1949 anh Lê Văn Chánh (hiện nay là phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam) bạn đồng hương của tôi được kết nạp vào Đảng, sau đó được học một khóa chính trị, chương trình học gồm có: Chủ nghĩa Xã hội Khoa học; Cách mạng Dân chủ mới; Lịch sử đảng. Trong giáo trình Lịch sử Đảng, có một bài về tổ chức tiền thân của đảng là Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Chủ tịch Kỳ ủy của tổ chức này (cấp lãnh đạo Nam kỳ) là Tôn Đức Thắng. Năm 1928 ông Tôn Đức Thắng chủ trì “toà án cách mạng” xử tử hội viên Lê Văn Phát (người xã Mỹ chánh, Ba Tri, Bến Tre) về tội yêu đương. Các hội viên thực hiện bản án bằng cách bóp cổ Lê Văn Phát đến chết, rồi đổ xăng đốt để không thể nhận diện. Anh Chánh và tôi vô cùng kinh ngạc, rồi tự an ủi “đó là một thời ấu trĩ đã qua”. Hàng chục năm sau, nhà thơ Hoàng Hưng trong dịp đi Pháp về kể, anh được đọc quyển hồi ký “Passion, Betrayal and Revolution in Colonial Saigon” của bà Nguyễn Trung Nguyên, một trong bốn người thực hiện bản án nói trên kể lại chuyện xưa. (Ba người kia là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh bị tòa án Pháp xử tử, bà Nguyệt là phụ nữ nên được hạ mức án xuống tù chung thân, đày ra Côn Đảo). Mãi gần đây tôi mới biết hồi ấy Tuần báo Phụ nữ Tân văn (Trụ sở ở số 42 đường Catinat, trước năm 1975 là đường Tự Do, nay là Đồng Khởi) số 14, xuất bản ngày một tháng tám năm 1929 đã có bài tường thuật như sau: “Trong đêm mùng tám rạng ngày chín tháng mười hai năm 1928 xảy ra vụ giết người quá tàn bạo và dã man tại căn nhà số 5, đường Barbier mà hung thủ là những người trong phân bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Nam kỳ. Nạn nhơn là Lê Văn Phát, bí danh là Mỹ Lang, bị đồng chí kết án tử hình vì tội phản bội theo điều lệ của đảng: Lê Văn Phát ve vãn người chị em của chúng ta là Thị Nhứt.” Và tội phản bội theo điều lệ Đảng được các đồng chí của Phát giải thích: “Phát không gạt bỏ tình riêng để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng.” Ba đồng chí trẻ tuổi hơn hết trong tổ chức của Phát (23,24, và 26 tuổi) thi hành bản án đã được tòa án cách mạng phán quyết. Tôn Đức Thắng, 40 tuổi chủ trì tòa án vì ông là Chủ tịch Kỳ bộ Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội. Toà án Pháp xử Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai. Phạm Văn Đồng 10 năm cấm cố vì “đồng ý bản án tử hình” nói trên. Bốn tên ra tay giết người, bị xử tử hình là Trần Trương, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Thinh, cô Nguyễn Trung Nguyệt bị đày ra Côn Đảo. Sau này các giáo trình Lịch sử Đảng viết lại vụ án đường Barbier: Bác Tôn bị thực dân Pháp gán vào tội chủ mưu giết người trong vụ ám sát một người hợp tác với chính quyền thuộc địa Nam kỳ tên là Phát. Họ cho rằng, các đồng chí của ông thực hiện vụ giết người ở đường Barbier. Nhờ một đồng chí trẻ đứng ra nhận mình là chủ mưu và nhờ sự vận động của một số nhân sĩ trí thức như bà Trần Thị Cừu, đốc học Nguyễn Văn Bá, luật sư Trịnh Đình Thảo, nên đồng chí bị chính quyền thuộc địa tuyên án 20 năm chung thân khổ sai, đày ra Côn Đảo. Lịch sử Đảng cho rằng trước đó cụ Tôn bị bắt lính năm 1914 và bị đưa sang Pháp, sung vào Hải quân phục vụ cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ Nhất. Khi Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra, Pháp đưa hạm đội đi đàn áp. Cụ Tôn đã làm binh biến kéo cờ đỏ trên thiết giáp hạm ở Hắc Hải. Sau đó cụ về nước thành lập Công hội đỏ ở Xưởng Ba Son năm một 1920. Năm 1925, Cụ Tôn lãnh đạo cuộc đình công ở Xưởng Ba Son giam chân chiến hạm Pháp khiến chúng không kịp đi tham gia đàn áp cách mạng Trung Quốc. Về các sự kiện nói trên, giáo sư sử học Christoph Giebel của đại học Washington tác giả quyển sách “Tiền bối tưởng tượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của lịch sử và ký ức” (Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory) đã cho rằng: “Không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cả thời Thế Chiến Thứ Nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các tổ chức cách mạng tại Sài Gòn. Ông Tôn không bị bắt lính mà được tuyển mộ. Và ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kỳ con tàu nào của Pháp liên quan đến vụ binh biến ở Hắc Hải. Bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ông Tôn cắm cờ trên con tàu ở Hắc Hải để kết nối Cách mạng Việt Nam với Cách mạng Tháng Mười Nga.” Theo Giebel, “cuộc đình công ở Ba Son không phải là đình công chính trị với mục đích chống đế quốc, và cũng không giam chân được chiến hạm Pháp trên đường sang Trung Quốc.” Posted on Tháng Tư 2, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/04/02/tu-theo-cong-den-chong-cong-19-ton-duc-thang-pham-van-dong-va-vu-an-duong-barbier/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (20): https://www.minds.com/newsfeed/1020178691488124928?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18) Hồi ký Tống Văn Công Nhà thơ Nguyễn Bính rời quân ngũ, bán sách báo Khoảng hai tháng sau khi công bố Giải thưởng Văn nghệ Cửu long, các báo kháng chiến đưa tin đã phát hành một số tác phẩm được giải, trong đó có bài “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi vội vàng chèo xuồng theo kinh Chắc Băng tới quán sách báo của Nguyễn Bính ở chợ Huyện Sử. Nhìn qua đã thấy các bản nhạc in litô kẹp trên dây treo cùng với một số tờ báo quen thuộc như Nhân Dân Miền Nam, Tiếng Súng Kháng Chiến, Cứu Quốc… Tôi gỡ bản nhạc “Đóng thuế nuôi quân” và lên tiếng xin mua. Ông chủ quán Nguyễn Bính ngừng xem báo ngẩng lên nhìn khách hàng, nhận tiền, rồi hỏi: Anh chơi nhạc à? Dạ, mới học! Ông nói: “Hai tác giả được giải này tên nghe lạ hoắc! Anh mua vì quen biết tác giả, hay chỉ vì là bài được giải?” Tôi lúng túng rồi thưa thật: “Bài này của tôi sáng tác đoạt giải nhì.” Nhà thơ ngạc nhiên, vồn vã: “Nếu không vội đi thì ngồi lại uống chén trà chơi?” Từ lâu tôi đã hâm mộ nhà thơ lãng mạn thời tiền chiến, nay trở thành nhà thơ kháng chiến lừng danh với những bài trường ca “Ông lão mài gươm”, “Đồng Tháp Mười”, “Máu chảy trên đường phố”, đặc biệt là tráng ca “Tiểu đoàn 307” được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc. Được ngồi uống trà với một thiên tài còn vinh hạnh nào hơn! Tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông qua bàn trà và thổ lộ niềm cảm phục của mình đối với các tác phẩm kể trên của ông. Nguyễn Bính có vẻ vui vui, ông thay ấm trà mới, hỏi tôi có quen với Bùi Quang Triết, phóng viên Tiếng Súng Kháng Địch không. Hồi này tôi chưa quen Bùi Quang Triết, bút danh Xuân Vũ, nhưng có đọc thơ của anh như “Ngày mai em lớn cầm súng bắn Tây” và “Niềm thương mến”, cả hai bài đều được Phan Vân phổ nhạc. Tôi nói hai bài này điều hay, được phổ biến rộng, nhưng không rõ vì sao không lọt “mắt xanh” của ban chấm Giải Văn nghệ Cửu long. Hình như câu nói của tôi hơi đúng ý của Nguyễn Bính, ông nói: “Không phải không lọt được ‘mắt xanh’ mà vì ban giám khảo không ai có ‘mắt xanh’!” Hồi ấy tuy rất phục tài Nguyễn Bính, nhưng tôi vẫn tin ban giám khảo gồm những cán bộ cao cấp của Đảng nắm vững ý kiến Cụ Hồ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và “phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh”. Nguyễn Bính cho biết, những bài trường ca của ông mà tôi yêu thích đều không được những nhà lãnh đạo chính trị, văn nghệ hoan nghênh. Họ hỏi Nguyễn Bính, vốn là một nhà thơ nổi tiếng từ thể thơ lục bát của dân tộc, tại sao nay ông lại làm thơ tự do, thể thơ lai căng? Trường ca Đồng Tháp Mười có những câu: “… Bông súng ngoài đồng, Bầm gan, tim mạch. Nước phèn chua chat, Lắng nỗi đau thương. Đốc binh Kiều, Thiên Hộ Dương… “… lửa uất hận bùng sôi cùng máu đổ, Mầm đấu tranh vút mọc với sao vàng!…” Họ hỏi, Đồng Tháp Mười toàn là nông dân sao ông không làm thơ lục bát cho họ dễ đọc? Bài “Tiểu đoàn 307”, cả thơ và nhạc đều bị quy là “lai Tây”! Mệt mỏi vì những ý kiến kiểu đó, lại nghe sắp có cuộc “chỉnh phong”, Nguyễn Bính xin rời quân ngũ ra dựng lều bán sách báo. Mặc dù ông chuyển vào ở rất sâu trong vùng kháng chiến Cà Mau, nhưng các nhà lãnh đạo của Đảng vẫn lo ông bỏ về thành. Đó là tấn bi kịch giữa ông với đảng Cộng sản, hai bên hoàn toàn không thể hiểu nhau. Ông rất yêu nước, yêu cách mạng, kính trọng Cụ Hồ. Trong trường ca “Máu chảy trên đường phố” của ông có những câu: “…Sao vàng mọc, núi sông trào ánh sáng, Khắp đô thành nhảy múa một màu son. … các anh ta vượt Trường Sơn ra Việt Bắc, Bác ngoài kia khuya sớm vọng về Nam…” Năm 1953, tại quán sách này ông làm bài thơ “Thư gửi cho cha”: “… Đố ai quét sạch lá rừng, Đố ai xui giục con đừng theo Cha. … Thưa cha giấy vắn tình dài, Viết bao nhiêu vẫn chưa hài lòng con. Còn trời còn nước còn non, Nước non còn đó, con còn theo Cha.” Ông chỉ đòi được tự do sáng tác, viết thì cảm xúc, chọn hình thức thể hiện mà mình thấy thích hợp với nội dung. Đảng Cộng sản luôn luôn dè chừng ông là “nghệ sĩ lãng mạn, lập trường bấp bênh”. Sau hiệp định Geneve, có một danh sách cần phải vận động đi tập kết, trong đó có Nguyễn Bính. Ra Bắc, Đảng giúp tiền cho Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa để chống báo Nhân Văn, nhưng Nguyễn Bính không chịu chống, nên Trăm Hoa phải chết! (Theo Tô Hoài trong hồi ký “Cát bụi trần ai”.) Bà Hồng Châu (Nguyễn Lục Hà), một đảng viên từ thời kỳ trước Cách Mạng Tháng Tám đã kể khá tỉ mỉ trong hồi ký của bà về chuyện ông Lê Duẩn khuyên bà phải lấy cho được Nguyễn Bính làm chồng: “Giọng anh Ba gần như tâm sự: Chị biết, lúc này có chủ trương chỉnh phong của Đảng, được cán bộ tăng cường cho cơ sở. Nguyễn Bính là người xứ lạ lại không có thân thuộc họ hàng ở miền Nam, trừ khi anh ấy bắt rể ở đây. Bọn ngụy quyền đang tìm mọi cách lôi kéo, kêu gọi văn nghệ sĩ về thành. Trong danh sách đó, Nguyễn Bính là tên tuổi nổi cộm nhất. Đã có một số văn nghệ sĩ không chịu nổi gian khổ đã dinh tê về thành. Mặc dù một cá nhân không làm nên lịch sử, nhưng kháng chiến cần sự góp mặt của Nguyễn Bính. Chị suy nghĩ đi… … anh Ba Duẩn nói tiếp: “Chúng tôi nhận thấy chị đủ sức giữ con người ấy lại cho công cuộc kháng chiến đến kỳ cùng.” Anh cười nửa đùa nửa thật: “Nếu đây là mệnh lệnh của Đảng thì chị có chấp hành không?” Là “khách đa tình” Nguyễn Bính dễ sa vào cuộc tình do Lê Duẩn sắp đặt vì mục đích chính trị. Nhưng cũng do bản tính nghệ sĩ, ông mau chóng cảm nhận tình trạng “đồng sàng dị mộng”. Thật trớ trêu khi ông nhận giấy ly hôn bà Hồng Châu đúng một tháng trước ngày bà sinh Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó, ông lấy cô nông dân Mai Thị Mới từ Bến Tre tản cư vào ấp Hương Mai xã Khánh Lâm. Khi ông ngồi uống trà với tôi thì Mai Thị Mới đang làm việc ngoài ruộng. Ông cho biết nguồn sống chính của vợ chồng ông là thu hoạch từ hơn một mẫu ruộng do người vợ Mai Thị Mới của ông quán xuyến. Hai năm sau, đứa con gái ra đời “Hương Mai tên xóm quê nhà; Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai”. (Thơ “Gửi vợ miền Nam”) Ngày đó, Nguyễn Bính thẳng thắng bảo tôi: “Nếu lãnh đạo văn nghệ theo kiểu thực dụng thì chỉ đẻ ra những tác phẩm minh họa, nó sẽ chết ngay khi vừa ra đời!” Tôi đang vui với giải thưởng âm nhạc nên không để tâm đến nhận xét của ông. Năm 1954, sau khi tập kết ra Bắc, Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây cho thành lập ban nhạc để chuẩn bị chào mừng ngày thành lập Sư đoàn 38. Các nhạc công đều đem theo tập vở chép nhạc của mình từ thời kháng chiến chống Pháp. Giở tập nhạc của anh Trần Đức Thắng (sau 30 tháng 4 năm 1975 là Phó văn phòng Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh) thấy có bài “Đóng thuế nuôi quân”, tôi kêu lên “A! Thắng có chép bài hát của mình!” Thắng ngạc nhiên hỏi “Đâu, đâu?” Và sau khi xem lại, anh bỉu môi chửi thề: “Nếu biết là bài của mày thì tao đ. chép!” Câu văng tục của Thắng khiến tôi nhớ nhận xét của Nguyễn Bính! Posted on Tháng Ba 31, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/31/tu-theo-cong-den-chong-cong-18-nha-tho-nguyen-binh-roi-quan-ngu-ban-sach-bao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (19): https://www.minds.com/newsfeed/1020178224360423424?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17) Hồi ký Tống Văn Công Tôi được giải, ông xứ ủy bị “mất lập trường”! Đầu năm 1951, ông nội tôi từ Bến Tre vào thăm và cho tôi khoản tiền bán con heo một tạ. Tôi đem số tiền này mua cây đàn violon, rồi say mê học đàn, học nhạc lý. Từ năm 1952, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ có quyết định thuế nông nghiệp. Nông dân đóng thuế bằng lúa tỷ lệ theo số ruộng canh tác. Tôi sáng tác một bài hát vận động cho phong trào này: “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi được mời tham dự buổi trao Giải Văn nghệ Cửu long. Tôi đi dự, không hề nghĩ mình được giải nhì! Văn xuôi dự giải lần này có một cây bút cực kỳ quan trọng, mọi người nói nhỏ với nhau đó là một “ông gộc”: nhà văn Ngũ Yến (tách đôi chữ Nguyễn là tên và là họ của ông Nguyễn Văn Nguyễn) với tác phẩm “Kén Rể” đã đăng trên tạp chí Lá Lúa của Chi hội Văn nghệ Nam bộ. Trong chiến khu ai cũng biết ông Nguyễn Văn Nguyễn là người đảm trách hàng loạt chức vụ quan trọng: Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên Ban Tuyên huấn, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, Giám đốc Sở thông tin Nam bộ, Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến, chủ bút báo Cứu Quốc Nam Bộ (có thể kể một loại nguyên chức vụ như, nguyên bí thư tỉnh ủy Bến Tre; nguyên bí thư liên tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công; nguyên chủ bút báo Búa Liềm; nguyên ủy viên Ban Biên tập báo La Lutte…) Truyện ngắn “Kén Rể” của Ngũ Yến được đông đảo cán bộ, bộ đội chuyền tay nhau đọc. “Kén Rể” được viết theo lối kể chuyện đời xưa, về một anh nông dân nghèo, cần cù chịu khó rất thông minh cải tạo đất, chọn giống má, cân nhắc mùa vụ, chăm bón đúng cách… Nhờ đó đã mau chóng thoát nghèo, giúp đỡ người kém may mắn, được xóm làng trọng vọng và cuối cùng anh ta giàu có và được sánh duyên với một cô gái tài sắc vẹn toàn con gái một vị quan thanh liêm hồi hưu. Ai cũng đinh ninh “Kén Rể” sẽ được xướng danh vào giải nhứt văn xuôi. Chánh giám khảo Hà Huy Giáp (trưởng ban tuyên huấn Trung ương Cục) biết rõ điều ấy, nhưng ông cho rằng việc bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp còn quan trọng hơn là giữ uy tín của một cá nhân, cho dù đó là một nhà lãnh đạo có tên tuổi. Trước khi mở đầu bài nhận xét tác phẩm, ông có lời xin lỗi đối với người đồng chí đáng kính. Ông cho rằng câu chuyện “Kén Rể” được thể hiện với nghệ thuật bậc thầy, tuy nhiên tư tưởng của tác phẩm là sự thất bại của giai cấp nông dân khi chưa được sự lãnh đạo của Đảng vô sản; do đó từ thân phận tôi đòi, anh ta cố gắng ngoi lên, để cuối cùng gia nhập vào giai cấp bóc lột mà cứ tưởng rằng đó là sự thành đạt tột cùng! Không phải riêng tôi mà cả hội trường đều tỏ ra vô cùng bái phục sự “phân tích sâu sắc” của ông Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục, chánh giám khảo. Hóa ra lập trường giai cấp là một lãnh vực phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, chỉ sơ sểnh là bị trượt chân dù một người đã tự nguyện “đầu hàng giai cấp vô sản”, đã vào tù đế quốc như đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, ủy viên Thường vụ Trung ương Cục! Giải nhất về văn được trao cho: “Bên rừng Cù lao Dung” của Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam). Giải nhì về văn được trao cho: “Tây đầu đỏ” cũng của Phạm Anh Tài và “Cái lu” của Trần Kim Trắc. Về thơ không có giải nhất, giải nhì được trao cho tập truyện thơ lục bát “Chú Hai Neo” của Nguyễn Hải Trừng. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội văn nghệ Việt Nam đã trao giải khuyến khích cho tác phẩm này). Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đại diện ban giám khảo xướng tên bài nhạc “Đóng thuế nuôi quân” của Tống Văn Công đoạt giải nhì. Bạn ca nhạc trình bày bản nhạc và cũng được cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Giờ đây, nhớ lại bài hát tôi cảm thấy ngượng vì nhạc thì đơn điệu, lời thì thô thiển. …”Quạt cho sạch, rồi ta phơi lúa khô. Phơi lúa khô, Dành nuôi quân của mình. Quân ta đem màu hồng diệt thù giữ nước non. Ta căm ghét Tây càng yêu thương lính mình. Quần có ấm no vì dân xong lên diệt thù!” Sau khi công bố giải nhì mọi người hồi hộp chờ nghe giải nhất. Bài hát có tên là “Thành đô khổ lắm ai ơi”. Bao nhiêu năm đã qua tôi vẫn còn nhớ lời của bài hát nhưng không sao nhớ được tên tác giả! Trước khi viết đoạn này tôi hỏi người bạn có mặt hôm đó là anh Lê Văn Chánh (Hải Phong) hiện là Phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, anh cũng nhớ tên và thuộc lời bài hát, nhưng không nhớ tên tác giả. Hồi công bố giải thưởng, khi nghe trình bày bản nhạc đoạt giải nhất “Thành đô khổ lắm ai ơi”, ông chủ tịch Chi hội Văn nghệ Nam bộ Lưu Quý Kỳ gục gặc đầu, nhấp nháy mắt, giần giật môi theo từng câu hát: “… Thành đô khổ lắm, ai ơi! Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than. Tây muốn bắt, Tây tràn tới bắt. Lính muốn giam, lính dắt đem giam. Người ta mà như loài thú cầm! Mắt đui, tai điếc, miệng câm, chân què!…” Posted on Tháng Ba 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-17-toi-duoc-giai-ong-xu-uy-bi-mat-lap-truong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·