ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17) Hồi ký Tống Văn Công Tôi được giải, ông xứ ủy bị “mất lập trường”! Đầu năm 1951, ông nội tôi từ Bến Tre vào thăm và cho tôi khoản tiền bán con heo một tạ. Tôi đem số tiền này mua cây đàn violon, rồi say mê học đàn, học nhạc lý. Từ năm 1952, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ có quyết định thuế nông nghiệp. Nông dân đóng thuế bằng lúa tỷ lệ theo số ruộng canh tác. Tôi sáng tác một bài hát vận động cho phong trào này: “Đóng thuế nuôi quân”. Tôi được mời tham dự buổi trao Giải Văn nghệ Cửu long. Tôi đi dự, không hề nghĩ mình được giải nhì! Văn xuôi dự giải lần này có một cây bút cực kỳ quan trọng, mọi người nói nhỏ với nhau đó là một “ông gộc”: nhà văn Ngũ Yến (tách đôi chữ Nguyễn là tên và là họ của ông Nguyễn Văn Nguyễn) với tác phẩm “Kén Rể” đã đăng trên tạp chí Lá Lúa của Chi hội Văn nghệ Nam bộ. Trong chiến khu ai cũng biết ông Nguyễn Văn Nguyễn là người đảm trách hàng loạt chức vụ quan trọng: Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Ủy viên Ban Tuyên huấn, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, Giám đốc Sở thông tin Nam bộ, Giám đốc Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến, chủ bút báo Cứu Quốc Nam Bộ (có thể kể một loại nguyên chức vụ như, nguyên bí thư tỉnh ủy Bến Tre; nguyên bí thư liên tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công; nguyên chủ bút báo Búa Liềm; nguyên ủy viên Ban Biên tập báo La Lutte…) Truyện ngắn “Kén Rể” của Ngũ Yến được đông đảo cán bộ, bộ đội chuyền tay nhau đọc. “Kén Rể” được viết theo lối kể chuyện đời xưa, về một anh nông dân nghèo, cần cù chịu khó rất thông minh cải tạo đất, chọn giống má, cân nhắc mùa vụ, chăm bón đúng cách… Nhờ đó đã mau chóng thoát nghèo, giúp đỡ người kém may mắn, được xóm làng trọng vọng và cuối cùng anh ta giàu có và được sánh duyên với một cô gái tài sắc vẹn toàn con gái một vị quan thanh liêm hồi hưu. Ai cũng đinh ninh “Kén Rể” sẽ được xướng danh vào giải nhứt văn xuôi. Chánh giám khảo Hà Huy Giáp (trưởng ban tuyên huấn Trung ương Cục) biết rõ điều ấy, nhưng ông cho rằng việc bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp còn quan trọng hơn là giữ uy tín của một cá nhân, cho dù đó là một nhà lãnh đạo có tên tuổi. Trước khi mở đầu bài nhận xét tác phẩm, ông có lời xin lỗi đối với người đồng chí đáng kính. Ông cho rằng câu chuyện “Kén Rể” được thể hiện với nghệ thuật bậc thầy, tuy nhiên tư tưởng của tác phẩm là sự thất bại của giai cấp nông dân khi chưa được sự lãnh đạo của Đảng vô sản; do đó từ thân phận tôi đòi, anh ta cố gắng ngoi lên, để cuối cùng gia nhập vào giai cấp bóc lột mà cứ tưởng rằng đó là sự thành đạt tột cùng! Không phải riêng tôi mà cả hội trường đều tỏ ra vô cùng bái phục sự “phân tích sâu sắc” của ông Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục, chánh giám khảo. Hóa ra lập trường giai cấp là một lãnh vực phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, chỉ sơ sểnh là bị trượt chân dù một người đã tự nguyện “đầu hàng giai cấp vô sản”, đã vào tù đế quốc như đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, ủy viên Thường vụ Trung ương Cục! Giải nhất về văn được trao cho: “Bên rừng Cù lao Dung” của Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam). Giải nhì về văn được trao cho: “Tây đầu đỏ” cũng của Phạm Anh Tài và “Cái lu” của Trần Kim Trắc. Về thơ không có giải nhất, giải nhì được trao cho tập truyện thơ lục bát “Chú Hai Neo” của Nguyễn Hải Trừng. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội văn nghệ Việt Nam đã trao giải khuyến khích cho tác phẩm này). Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đại diện ban giám khảo xướng tên bài nhạc “Đóng thuế nuôi quân” của Tống Văn Công đoạt giải nhì. Bạn ca nhạc trình bày bản nhạc và cũng được cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Giờ đây, nhớ lại bài hát tôi cảm thấy ngượng vì nhạc thì đơn điệu, lời thì thô thiển. …”Quạt cho sạch, rồi ta phơi lúa khô. Phơi lúa khô, Dành nuôi quân của mình. Quân ta đem màu hồng diệt thù giữ nước non. Ta căm ghét Tây càng yêu thương lính mình. Quần có ấm no vì dân xong lên diệt thù!” Sau khi công bố giải nhì mọi người hồi hộp chờ nghe giải nhất. Bài hát có tên là “Thành đô khổ lắm ai ơi”. Bao nhiêu năm đã qua tôi vẫn còn nhớ lời của bài hát nhưng không sao nhớ được tên tác giả! Trước khi viết đoạn này tôi hỏi người bạn có mặt hôm đó là anh Lê Văn Chánh (Hải Phong) hiện là Phó chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, anh cũng nhớ tên và thuộc lời bài hát, nhưng không nhớ tên tác giả. Hồi công bố giải thưởng, khi nghe trình bày bản nhạc đoạt giải nhất “Thành đô khổ lắm ai ơi”, ông chủ tịch Chi hội Văn nghệ Nam bộ Lưu Quý Kỳ gục gặc đầu, nhấp nháy mắt, giần giật môi theo từng câu hát: “… Thành đô khổ lắm, ai ơi! Vui chẳng dám cười, buồn chẳng dám than. Tây muốn bắt, Tây tràn tới bắt. Lính muốn giam, lính dắt đem giam. Người ta mà như loài thú cầm! Mắt đui, tai điếc, miệng câm, chân què!…” Posted on Tháng Ba 27, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/27/tu-theo-cong-den-chong-cong-17-toi-duoc-giai-ong-xu-uy-bi-mat-lap-truong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (18): https://www.minds.com/newsfeed/1020177765887090688?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16) Hồi ký Tống Văn Công Bài hát tiểu đoàn 307 – Bị phê bình lai Tây! Từ năm 1950, Chi hội Văn nghệ Nam bộ bắt đầu xét tặng Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long. Ban giám khảo gồm: Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương, Ca Văn Thỉnh, Lưu Quý Kỳ. Từng bộ môn bình xét xong trình lên ban giám khảo quyết định. Giải thưởng Cửu Long đợt đầu tiên 1950 – 1951 được xét tặng: Văn: giải nhất, truyện ngắn “Con đường sống” và tập luyện “Anh Tư dân quân” của Minh Lộc, khu 8 (Trung Nam Bộ). Không có giải nhì. Giải ba: tập truyện ngắn “Lòng dân” của Phạm Hữu Tùng. Giải khuyến khích: tập truyện của Phạm Anh Tài (sau 1954 là Sơn Nam). Thơ: không có giải nhứt. Giải nhì: “Bức thơ tình” của Ba Dân (bộ đội khu 9). Giải ba: “Chiến dịch mùa xuân” của Nguyễn Bính, “Tập thơ” của Việt Ánh, “Tập thơ” của Truy Phong (bộ đội khu 8), tập “Hương đồng nội” của Nguyễn Ngọc Tấn (sau này đổi bút danh là Nguyễn Thi); Giải khuyến khích: “Hò lờ thi đua” của Nguyễn Quốc Nhân, “Thơ và ca dao” của Bảo Định Giang, thơ của Phương Viễn (sau 1954 là Viễn Phương). Kịch: không có giải nhứt. Giải nhì: “Vì Dân” của Lê Minh (bộ đội khu 8), “Quyết rửa thù” của Phạm Công Minh. Giải khuyến khích: “Giờ tôi mới hiểu” của Duy Phương (Gia Định). Giải cho tác giả: nhà thơ Việt Ánh lâm bệnh hiểm nghèo vẫn sáng tác; họa sĩ Huỳnh văn Gấm có công “hướng dẫn nền hội hoa đại chúng”; Xích Liên (tức nhà sư Thiện Chiếu) tuổi già vẫn mãi mê dịch sách Liên Xô, Trung Quốc cho bộ đội đọc; họa sĩ Nguyễn Cao Thương có công đào tạo hơn 300 “cán bộ hội họa” vẽ tranh cổ động; nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bạch trưởng đoàn kịch lưu động. Giải thưởng văn xuôi tiểu thuyết “Vỡ Đất” của Hoàng văn Bổn (khu 7). Thơ: giải nhất, truyện thơ thể lục bát “Anh Ba Thắng” của Việt Ánh. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam trao giải khuyến khích cho tập thơ này). Việc bình chọn trao giải ở bộ môn âm nhạc không suôn sẻ. Tiểu ban sơ khảo gồm các nhạc sĩ (trưởng thành sau tháng Tám 1945) chia thành hai phe tranh cãi rất quyết liệt về bài “Tiểu đoàn 307” nhạc của Nguyễn Hữu Trí, lời Nguyễn Bính. Một bên cho là bản hùng ca tuyệt tác. Một bên phê phán “một bài lai Tây tiêu biểu” vì “không đạt ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng theo đường lối văn nghệ của Đảng ta”! Bài hát này ra đời là do ông Trần Văn Trà, Tư lệnh khu 8 phát động sáng tác bài hát ca ngợi Tiểu đoàn 307 mới thành lập giữa năm 1948 đã liên tục chiến thắng nhiều trận vang dội. Nguyễn Hữu Trí đại đội phó của tiểu đoàn này và là phó ban quân nhạc Khu 8, phổ nhạc bài thơ “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Bính đăng trên báo Tổ Quốc của khu 8. (Trước đó Nguyễn Hữu Trí đã có bài Phá Đường khá nổi tiếng). Lúc này Tiểu đoàn 307 đang đóng quân ở bờ sông Nhị Mỹ, Cao Lãnh. Anh em chiến sĩ hát vang bài “cây nhà lá vườn”, không ngờ chỉ vài hôm sau bài hát đã lan nhanh khắp các vùng kháng chiến Nam bộ. Ngày 1 tháng 10 năm 1950, Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến phát sóng bài này do Tổ quân nhạc Khu 8 biểu diễn dưới sự chỉ huy của Phó ban Quân nhạc Nguyễn Hữu Trí. Vậy mà bài hát bị quy là “sai lầm nghiêm trọng về quan điểm sáng tác”! Không biết có phải vì sự kiện không vui này mà Nguyễn Hữu Trí bỏ quân đội lui về ở ẩn nơi quê vợ (Vĩnh Mỹ A, Hậu Giang), không bao giờ nhắc tới chuyện mình từng đi kháng chiến và là tác giả các bài “Tiểu đoàn 307”, “Phá đường”… Viết nhật ký, ông cũng viết bằng tiếng Pháp. Mãi sau khi ông qua đời 18 năm, các đồng đội thời kháng Pháp mới tìm thấy mộ ông để thắp nén nhang! Cũng thời gian ấy Nguyễn Bính bỏ ngũ ra mở quán bán sách báo bên bờ kinh Huyện Sĩ. Các nhạc sĩ làm việc sơ khảo đã ghi biên bản đầy đủ ý kiến tranh luận về bài “Tiểu đoàn 307” của hai phe: “Bản hùng ca tuyệt tác” và “bản nhạc lai Tây tiêu biểu” trình lên ban giám khảo. Ban giám khảo không có ý kiến phân xử cụ thể, nhưng không chấp nhận trao giải cho bài “Tiểu đoàn 307” mà quyết định trao giải nhất cho bài ca “Tự Túc” của Dương Ninh Minh phổ thơ Lưu Trùng Dương. Bài “Tự Túc” gồm 5 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu thơ và 2 câu điệp khúc. Xin chỉ chép lại khổ thơ bốn câu cuối cùng: “… Núi sông đang ngóng chờ, kìa ai chớ ngồi yên; Quyết thi đua cấy cày, sản xuất cho nhiều lên; Toàn dân ta góp tình, góp công xây dựng đời; Ngày mai trên nước Nam một bầu trời sáng tươi.” Hai câu điệp khúc: “…Anh em ơi, chúng ta góp muônn bàn tay. Gắng sức làm, sướng vui rồi đây có ngày.” Posted on Tháng Ba 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-16-bai-hat-tieu-doan-307-bi-phe-binh-lai-tay/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15) Hồi ký Tống Văn Công Bỏ tù nhạc tài tử! Do có nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân miền Nam, tôi được coi là một “cây bút” và được mời tham dự sinh hoạt Chi hội Văn nghệ Nam bộ, do đó có điều kiện tìm hiểu các hoạt động ở lĩnh vực này. Sau tháng Tám 1945, ca nhạc tài tử bị cấm trong toàn Nam bộ với lý do “ủy mị có tác dụng xấu, làm sa sút, lung lạc tinh thần kháng chiến”. Hồi Pháp thuộc, tôi đã được học và rất thích tân nhạc, do đó tôi không quan tâm đến ca nhạc tài tử, dù nó bị giết chết tôi cũng không tiếc nuối. Năm 1950, khi đến các vùng nông thôn ở Cà Mau, Bạc Liêu, tôi mới biết làng nào cũng có người bị tù vì lén lút chơi ca nhạc tài tử. Cuối cùng các ông thầy đờn đành phải treo nhạc cụ lên giàn bếp. Hình thức sinh hoạt văn nghệ giải trí chủ yếu của nông dân bị cấm đã làm cho nông thôn Nam bộ buồn hiu. Để lấp khoảng trống đó các nhạc sĩ tài tử đã sáng tạo hình thức “nói thơ Bạc Liêu” theo thể lục bát, nghe cũng “mùi mẫn”, nhưng né được sự quy chụp về quan điểm lập trường! Đề tài “nói thơ” bám vào nội dung phục vụ kháng chiến, như ca ngợi những cô vợ bộ đội thương nhớ chồng càng chăm lo tăng gia sản xuất. Thơ tự do, thơ mới cũng bị phê bình là “thiếu tính dân tộc”. Ở Nam bộ đi theo kháng chiến chỉ có hai văn nghệ sĩ có tên tuổi từ trước năm 1945 là nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Lê Trực (tác giả Tiếng Còi Trong Sương Đêm. Sau khi tham gia kháng chiến, ông lấy nghệ danh là Hoàng Việt). Hai người này chỉ là nghệ sĩ sáng tác chứ không có địa vị lãnh đạo. Nguyễn Bính là bậc thầy thể thơ lục bát và thơ bảy chữ, vào kháng chiến, ông làm nhiều bản trường ca theo thể thơ tự do rất hay, như “Đồng Tháp Mười” (ca ngợi truyền thống yêu nước của nhân dân vùng đất này), “Máu chảy trên đường phố” (Ca ngợi cuộc xuống đường của sinh viên học sinh Sài Gòn Chợ Lớn ngày 19 tháng 1 năm 1950), nhưng cả hai tác phẩm này không được giới lãnh đạo văn nghệ hoan nghênh. Số đông văn nghệ sĩ kháng chiến và người có cương vị lãnh đạo đều xuất thân từ cán bộ, bộ đội, vào kháng chíiến mới tập sự làm văn nghệ. Bộ môn viết nhạc có Nguyễn Ngọc Bạch (cha của tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu), Lưu Cầu, Quách Vũ, Trương Bỉnh Tòng, Trần Kiết Tường. Sau khi tập kết ra Bắc, Hoàng Hiệp mới xuất hiện với “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Ca sỹ thời này có Quốc Hương, Khánh Vân, Xuân Mai. Các nhà thơ có Việt Ánh, Nguyễn Hải Trừng, Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Phường Viễn (tức Viễn Phương), Hà Mậu Nhai. Một người làm thơ hay nhứt Nam Bộ thời đó là Hoàng Tố Nguyên không được nhắc tới, có lẽ vì ông làm thơ tự do và thiếu sự rổn rảng của tiếng gươm khua! Đội ngũ viết văn có Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Phạm Hữu Tùng, Phạm Anh Tài (sau 1954 lấy bút danh Sơn Nam). Ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng mới xuất hiện. Viết kịch có Ngọc Cung, Trần Bạch Đằng, Lưu Chi Lăng. Để đội ngũ văn nghệ sĩ tập sự này trở thành công cụ đắc lực của cách mạng, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đã mở lớp lý luận văn nghệ. Địa điểm lớp học tại lẫm lúa cũ của ông Cả Đài ở Đầm Cùng gần cuối mũi Cà Mau. Giảng viên là các ông Hà Huy Giáp ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Nguyễn Kim Cương phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục; Lưu Quý Kỳ chi hội trưởng Văn nghệ Nam bộ. Các bài giảng nhằm làm rõ tư tưởng Cụ Hồ trong lá thư gửi các họa sĩ năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là tiến sĩ trên mặt trận ấy.” “… Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.” Cụ Hồ rất giỏi trong việc chọn nội dung và cách diễn đạt dễ được chấp nhận trong kho lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Stalin đã nêu ra cho văn nghệ sĩ Liên Xô thực hiện từ năm 1934: – Tính Đảng và nguyên tắc chỉ đạo – Nhân vật tích cực là những “con người mới”, những chiến sĩ đấu tranh, sáng tạo thế giới mới xã hội chủ nghĩa – Sự kết hợp phương pháp hiện thực với phương pháp lãng mạn cách mạng, từ cảm hứng anh hùng trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm ấy, ở Việt Bắc các văn nghệ sĩ thời “tiền chiến” đang phản tỉnh xin từ bỏ những đứa “con hoang” của mình. Năm 1942 Hoài Thanh viết về thơ mới: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực”. Sau khi được trang bị quan điểm mác xít, Hoài Thanh tự phê bình: “Nhìn chung thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc. Đó là chưa nói đến phần hiển nhiên là sa đọa”. Phải mất hơn nửa thế kỷ, những văn nghệ sĩ ưu tú nhất của Đảng như Nguyễn Khải mới suy ngẫm lại: “Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh… Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập, thành giấy lộn cho con cháu bán cân”. (Tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông dặn con mình, chỉ công bố sau khi bố qua đời, năm 2006). Đó là những chuyện mãi sau này, còn ở thời điểm 1950 – 1954, tôi cũng nghe theo Cụ Hồ, và vô cùng hăng hái phấn đấu, mong được trở thành “chiến sĩ trên mặt trận ấy”! Ở lớp học này, trong buổi thảo luận bài nói của Cụ Hồ, bất chợt anh Phạm Hữu Tùng phát biểu lạc đề: “Tại sao lại cấm ca nhạc tài tử? Bao nhiêu nhạc cụ bị treo, thôn xóm buồn hiu, dân chúng bất bình?” Lớp học đàn tẻ lạnh bóng sôi lên, chia ra hai phe, tán thành cấm vào phản đối cấm nhạc tài tử, mất hai ngày vẫn bất phân thắng bại. Phe phản đối thay chiến thuật, không tranh cãi mà thức suốt đêm sáng tác lời mới cho nhạc tài tử như đóng thuế nuôi quân, đánh du kích. Soạn giả Ngọc Cung viết vở cải lương “Nợ nước tình nhà”. Sau đó tổ chức biểu diễn, mời cả lãnh đạo và giảng viên xem. Qua đêm diễn “bình cũ rượu mới”, số người yêu cầu xóa bỏ chủ trương cấm nhạc tài tử tăng áp đảo. Cuối năm 1951, luật sư Phạm Văn Bạch, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ ký văn bản “cho phép đồng bào mình được chơi vọng cổ, hát cải lương”! Posted on Tháng Ba 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-15-bo-tu-nhac-tai-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14) Hồi ký Tống Văn Công Vào đội ngũ báo nhân dân miền Nam Trong “Hồi ký nhớ một thời làm báo Nhân Dân”, ông Trần Bạch Đằng viết: “Một trưởng trạm giao liền, anh Tống Văn Công gửi bài đến, tôi thấy đạt, đã kết nạp anh vào đội ngũ báo Nhân Dân miền Nam”. Chuyện ấy là thế này: Sau khi cơ quan Sở Giao thông Liên lạc nhập vào bộ máy quân sự, tôi được giao làm trưởng trạm giao thông liên lạc ở đầu mối giữa các cơ quan cấp Nam bộ và Đội Thông tin Liên lạc của bên quân sự. Trạm nhỏ này mang tên trạm 23, bí danh của Sở giao thông liên lạc Nam bộ trước kia. Một hôm có ông khách tới trạm để chờ liên lạc từ cơ quan ông tới đón. Tôi xem giấy giới thiệu biết ông là Trần Bạch Đằng chủ bút báo Nhân Dân miền Nam. Mừng quá, tôi pha trà mời ông và ngõ ý muốn làm cộng tác viên. Tôi hỏi ông, báo Nhân Dân miền Nam đang cần loại bài gì. Ông nói: “Chúng ta đang thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Đó là đề tài của báo Nhân Dân miền Nam”. Tống Văn Công Hôm sau, máy bay Pháp rải rất nhiều truyền đơn, xuyên tạc chủ trương kháng chiến, kêu gọi rời bỏ chiến khu về thành. Tờ truyền đơn có bốn câu thơ nói lại: “Chú phỉnh” tôi rồi “chính phủ” ơi. “Chiến khu” đong lúa “chú khiêng” rồi. “Thi đua” chi lắm “thua đi” mãi. “Kháng chiến” lâu dài “khiến chán” thôi! Tờ truyền đơn thơ lục bát ấy đã gợi ý cho tôi cũng dùng hình thức thơ lục bát viết một bài phản bác. Máy bay giặc rải truyền đơn, Xúi dân đưa vợ đưa con về thành. Khoe rằng chốn đó an ninh, Vui vầy như hội, công bình như cân. Đất dư đem cấp nông dân, Cho phân, giúp vốn làm ăn trọn đời…” Ông Trần Bạch Đằng đăng ngày bài thơ của tôi và gửi thư khuyến khích rằng báo đang rất cần những bài như thế. Từ đó, gần như mỗi kỳ Nhân Dân Miền Nam đều có một bài thơ của tôi. Hồi này cha tôi là dịch giả Tăng Ích (Tăng và Ích đều có nghĩa là Thêm, tên cúng cơm của cha tôi) của tạp chí Tân Trung Hoa, do bác Võ Văn Nhung (bút danh Ba Khê) bạn của cụ Vương Hồng Sến làm tổng biên tập. Tạp chí này đăng nhiều tác phẩm của nước Trung Cộng như: “Lý luận về thổ cải” (tức cải cách ruộng đất); “Thơ và Từ” của Mao Trạch Đông, thơ Quách Mạc Nhược, tiểu thuyết “Bản thoại Lý Hữu Tài” của Triệu Thụ Lý… cha tôi đến thăm và góp ý rằng những bài viết của tôi theo ý ông không phải là thơ mà là những bài nghị luận viết theo văn vần. Ông đọc Thế Lữ, Hàn Mặc Tử… để so sánh. Tôi đưa Hoài Thanh – Hoài Chân ra chống chế: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy” Thi nhân Việt Nam). Ông cười, rồi nói sang chuyện báo chí: “Lẽ ra những tờ báo kháng chiến phải hay hơn báo ở Sài Gòn, bởi vì trong đó ký giả đâu có được tự do, họ viết trong sự kiểm soát của Pháp. Vậy mà họ dấy lên được phong trào Báo chí Thống nhất, bài viết rất sắc bén. Báo của mình bài nào cũng giống như truyền đơn kêu gọi!” Yêu thích viết báo, tôi tìm đọc thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng ngày 2/5/1949: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung”. Vậy là tôi hiểu báo kháng chiến và báo vùng địch tạm chiếm hoàn toàn khác nhau về nhiệm vụ và mục đích. Vậy thì không thể so sánh hai cái khác nhau được. Tôi đã nói như vậy với cha tôi. Sau khi tập kết ra Bắc rồi vào báo Lao Động tôi đã tận tụy thực hiện quan điểm báo chí của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều năm sau tôi mới biết lời dạy của cụ Hồ chỉ là “mạ” lại câu nói của Lênin: “Tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể” (Lênin toàn tập, nhà xuất bản Tiến Bộ). Rất lâu sau, tôi mới có dịp đọc “Việt Nam yêu cầu ca” của Nguyễn Ái Quốc (diễn ca thể thơ lục bát “Tám yêu cầu của nhân dân Việt Nam” gửi hội nghị hòa đàm Véc Xây năm 1919), trong đó yêu cầu thứ năm là: “Năm, xin nghĩ ngợi nói bàn tự do”. Cũng khoảng thời gian đó, trong “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương” của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã định nghĩa về báo chí hoàn toàn trái ngược với nền báo chí của chế độ do ông lãnh đạo sau này: “Tôi gọi báo, là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như chúng ta thấy ở châu Âu và một số nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”. Lúc ấy, vì không biết tự do ngôn luận là “nghĩ ngợi, nói bàn tự do”, cho nên suốt cả đời tôi luôn hăm hở viết cho những “tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”! Và qua nhiều năm, Tôi đã hết sức cố gắng làm tốt nhiệm vụ của “bọn tay chân” ấy! Posted on Tháng Ba 22, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/22/tu-theo-cong-den-chong-cong-14-vao-doi-ngu-bao-nhan-dan-mien-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13): https://www.minds.com/newsfeed/1020172811946332160?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16) Hồi ký Tống Văn Công Bài hát tiểu đoàn 307 – Bị phê bình lai Tây! Từ năm 1950, Chi hội Văn nghệ Nam bộ bắt đầu xét tặng Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long. Ban giám khảo gồm: Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương, Ca Văn Thỉnh, Lưu Quý Kỳ. Từng bộ môn bình xét xong trình lên ban giám khảo quyết định. Giải thưởng Cửu Long đợt đầu tiên 1950 – 1951 được xét tặng: Văn: giải nhất, truyện ngắn “Con đường sống” và tập luyện “Anh Tư dân quân” của Minh Lộc, khu 8 (Trung Nam Bộ). Không có giải nhì. Giải ba: tập truyện ngắn “Lòng dân” của Phạm Hữu Tùng. Giải khuyến khích: tập truyện của Phạm Anh Tài (sau 1954 là Sơn Nam). Thơ: không có giải nhứt. Giải nhì: “Bức thơ tình” của Ba Dân (bộ đội khu 9). Giải ba: “Chiến dịch mùa xuân” của Nguyễn Bính, “Tập thơ” của Việt Ánh, “Tập thơ” của Truy Phong (bộ đội khu 8), tập “Hương đồng nội” của Nguyễn Ngọc Tấn (sau này đổi bút danh là Nguyễn Thi); Giải khuyến khích: “Hò lờ thi đua” của Nguyễn Quốc Nhân, “Thơ và ca dao” của Bảo Định Giang, thơ của Phương Viễn (sau 1954 là Viễn Phương). Kịch: không có giải nhứt. Giải nhì: “Vì Dân” của Lê Minh (bộ đội khu 8), “Quyết rửa thù” của Phạm Công Minh. Giải khuyến khích: “Giờ tôi mới hiểu” của Duy Phương (Gia Định). Giải cho tác giả: nhà thơ Việt Ánh lâm bệnh hiểm nghèo vẫn sáng tác; họa sĩ Huỳnh văn Gấm có công “hướng dẫn nền hội hoa đại chúng”; Xích Liên (tức nhà sư Thiện Chiếu) tuổi già vẫn mãi mê dịch sách Liên Xô, Trung Quốc cho bộ đội đọc; họa sĩ Nguyễn Cao Thương có công đào tạo hơn 300 “cán bộ hội họa” vẽ tranh cổ động; nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bạch trưởng đoàn kịch lưu động. Giải thưởng văn xuôi tiểu thuyết “Vỡ Đất” của Hoàng văn Bổn (khu 7). Thơ: giải nhất, truyện thơ thể lục bát “Anh Ba Thắng” của Việt Ánh. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam trao giải khuyến khích cho tập thơ này). Việc bình chọn trao giải ở bộ môn âm nhạc không suôn sẻ. Tiểu ban sơ khảo gồm các nhạc sĩ (trưởng thành sau tháng Tám 1945) chia thành hai phe tranh cãi rất quyết liệt về bài “Tiểu đoàn 307” nhạc của Nguyễn Hữu Trí, lời Nguyễn Bính. Một bên cho là bản hùng ca tuyệt tác. Một bên phê phán “một bài lai Tây tiêu biểu” vì “không đạt ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng theo đường lối văn nghệ của Đảng ta”! Bài hát này ra đời là do ông Trần Văn Trà, Tư lệnh khu 8 phát động sáng tác bài hát ca ngợi Tiểu đoàn 307 mới thành lập giữa năm 1948 đã liên tục chiến thắng nhiều trận vang dội. Nguyễn Hữu Trí đại đội phó của tiểu đoàn này và là phó ban quân nhạc Khu 8, phổ nhạc bài thơ “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Bính đăng trên báo Tổ Quốc của khu 8. (Trước đó Nguyễn Hữu Trí đã có bài Phá Đường khá nổi tiếng). Lúc này Tiểu đoàn 307 đang đóng quân ở bờ sông Nhị Mỹ, Cao Lãnh. Anh em chiến sĩ hát vang bài “cây nhà lá vườn”, không ngờ chỉ vài hôm sau bài hát đã lan nhanh khắp các vùng kháng chiến Nam bộ. Ngày 1 tháng 10 năm 1950, Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến phát sóng bài này do Tổ quân nhạc Khu 8 biểu diễn dưới sự chỉ huy của Phó ban Quân nhạc Nguyễn Hữu Trí. Vậy mà bài hát bị quy là “sai lầm nghiêm trọng về quan điểm sáng tác”! Không biết có phải vì sự kiện không vui này mà Nguyễn Hữu Trí bỏ quân đội lui về ở ẩn nơi quê vợ (Vĩnh Mỹ A, Hậu Giang), không bao giờ nhắc tới chuyện mình từng đi kháng chiến và là tác giả các bài “Tiểu đoàn 307”, “Phá đường”… Viết nhật ký, ông cũng viết bằng tiếng Pháp. Mãi sau khi ông qua đời 18 năm, các đồng đội thời kháng Pháp mới tìm thấy mộ ông để thắp nén nhang! Cũng thời gian ấy Nguyễn Bính bỏ ngũ ra mở quán bán sách báo bên bờ kinh Huyện Sĩ. Các nhạc sĩ làm việc sơ khảo đã ghi biên bản đầy đủ ý kiến tranh luận về bài “Tiểu đoàn 307” của hai phe: “Bản hùng ca tuyệt tác” và “bản nhạc lai Tây tiêu biểu” trình lên ban giám khảo. Ban giám khảo không có ý kiến phân xử cụ thể, nhưng không chấp nhận trao giải cho bài “Tiểu đoàn 307” mà quyết định trao giải nhất cho bài ca “Tự Túc” của Dương Ninh Minh phổ thơ Lưu Trùng Dương. Bài “Tự Túc” gồm 5 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu thơ và 2 câu điệp khúc. Xin chỉ chép lại khổ thơ bốn câu cuối cùng: “… Núi sông đang ngóng chờ, kìa ai chớ ngồi yên; Quyết thi đua cấy cày, sản xuất cho nhiều lên; Toàn dân ta góp tình, góp công xây dựng đời; Ngày mai trên nước Nam một bầu trời sáng tươi.” Hai câu điệp khúc: “…Anh em ơi, chúng ta góp muônn bàn tay. Gắng sức làm, sướng vui rồi đây có ngày.” Posted on Tháng Ba 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-16-bai-hat-tieu-doan-307-bi-phe-binh-lai-tay/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
12 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15) Hồi ký Tống Văn Công Bỏ tù nhạc tài tử! Do có nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân miền Nam, tôi được coi là một “cây bút” và được mời tham dự sinh hoạt Chi hội Văn nghệ Nam bộ, do đó có điều kiện tìm hiểu các hoạt động ở lĩnh vực này. Sau tháng Tám 1945, ca nhạc tài tử bị cấm trong toàn Nam bộ với lý do “ủy mị có tác dụng xấu, làm sa sút, lung lạc tinh thần kháng chiến”. Hồi Pháp thuộc, tôi đã được học và rất thích tân nhạc, do đó tôi không quan tâm đến ca nhạc tài tử, dù nó bị giết chết tôi cũng không tiếc nuối. Năm 1950, khi đến các vùng nông thôn ở Cà Mau, Bạc Liêu, tôi mới biết làng nào cũng có người bị tù vì lén lút chơi ca nhạc tài tử. Cuối cùng các ông thầy đờn đành phải treo nhạc cụ lên giàn bếp. Hình thức sinh hoạt văn nghệ giải trí chủ yếu của nông dân bị cấm đã làm cho nông thôn Nam bộ buồn hiu. Để lấp khoảng trống đó các nhạc sĩ tài tử đã sáng tạo hình thức “nói thơ Bạc Liêu” theo thể lục bát, nghe cũng “mùi mẫn”, nhưng né được sự quy chụp về quan điểm lập trường! Đề tài “nói thơ” bám vào nội dung phục vụ kháng chiến, như ca ngợi những cô vợ bộ đội thương nhớ chồng càng chăm lo tăng gia sản xuất. Thơ tự do, thơ mới cũng bị phê bình là “thiếu tính dân tộc”. Ở Nam bộ đi theo kháng chiến chỉ có hai văn nghệ sĩ có tên tuổi từ trước năm 1945 là nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Lê Trực (tác giả Tiếng Còi Trong Sương Đêm. Sau khi tham gia kháng chiến, ông lấy nghệ danh là Hoàng Việt). Hai người này chỉ là nghệ sĩ sáng tác chứ không có địa vị lãnh đạo. Nguyễn Bính là bậc thầy thể thơ lục bát và thơ bảy chữ, vào kháng chiến, ông làm nhiều bản trường ca theo thể thơ tự do rất hay, như “Đồng Tháp Mười” (ca ngợi truyền thống yêu nước của nhân dân vùng đất này), “Máu chảy trên đường phố” (Ca ngợi cuộc xuống đường của sinh viên học sinh Sài Gòn Chợ Lớn ngày 19 tháng 1 năm 1950), nhưng cả hai tác phẩm này không được giới lãnh đạo văn nghệ hoan nghênh. Số đông văn nghệ sĩ kháng chiến và người có cương vị lãnh đạo đều xuất thân từ cán bộ, bộ đội, vào kháng chíiến mới tập sự làm văn nghệ. Bộ môn viết nhạc có Nguyễn Ngọc Bạch (cha của tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu), Lưu Cầu, Quách Vũ, Trương Bỉnh Tòng, Trần Kiết Tường. Sau khi tập kết ra Bắc, Hoàng Hiệp mới xuất hiện với “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Ca sỹ thời này có Quốc Hương, Khánh Vân, Xuân Mai. Các nhà thơ có Việt Ánh, Nguyễn Hải Trừng, Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Phường Viễn (tức Viễn Phương), Hà Mậu Nhai. Một người làm thơ hay nhứt Nam Bộ thời đó là Hoàng Tố Nguyên không được nhắc tới, có lẽ vì ông làm thơ tự do và thiếu sự rổn rảng của tiếng gươm khua! Đội ngũ viết văn có Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Phạm Hữu Tùng, Phạm Anh Tài (sau 1954 lấy bút danh Sơn Nam). Ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng mới xuất hiện. Viết kịch có Ngọc Cung, Trần Bạch Đằng, Lưu Chi Lăng. Để đội ngũ văn nghệ sĩ tập sự này trở thành công cụ đắc lực của cách mạng, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đã mở lớp lý luận văn nghệ. Địa điểm lớp học tại lẫm lúa cũ của ông Cả Đài ở Đầm Cùng gần cuối mũi Cà Mau. Giảng viên là các ông Hà Huy Giáp ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Nguyễn Kim Cương phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục; Lưu Quý Kỳ chi hội trưởng Văn nghệ Nam bộ. Các bài giảng nhằm làm rõ tư tưởng Cụ Hồ trong lá thư gửi các họa sĩ năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là tiến sĩ trên mặt trận ấy.” “… Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.” Cụ Hồ rất giỏi trong việc chọn nội dung và cách diễn đạt dễ được chấp nhận trong kho lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Stalin đã nêu ra cho văn nghệ sĩ Liên Xô thực hiện từ năm 1934: – Tính Đảng và nguyên tắc chỉ đạo – Nhân vật tích cực là những “con người mới”, những chiến sĩ đấu tranh, sáng tạo thế giới mới xã hội chủ nghĩa – Sự kết hợp phương pháp hiện thực với phương pháp lãng mạn cách mạng, từ cảm hứng anh hùng trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm ấy, ở Việt Bắc các văn nghệ sĩ thời “tiền chiến” đang phản tỉnh xin từ bỏ những đứa “con hoang” của mình. Năm 1942 Hoài Thanh viết về thơ mới: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực”. Sau khi được trang bị quan điểm mác xít, Hoài Thanh tự phê bình: “Nhìn chung thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc. Đó là chưa nói đến phần hiển nhiên là sa đọa”. Phải mất hơn nửa thế kỷ, những văn nghệ sĩ ưu tú nhất của Đảng như Nguyễn Khải mới suy ngẫm lại: “Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh… Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập, thành giấy lộn cho con cháu bán cân”. (Tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông dặn con mình, chỉ công bố sau khi bố qua đời, năm 2006). Đó là những chuyện mãi sau này, còn ở thời điểm 1950 – 1954, tôi cũng nghe theo Cụ Hồ, và vô cùng hăng hái phấn đấu, mong được trở thành “chiến sĩ trên mặt trận ấy”! Ở lớp học này, trong buổi thảo luận bài nói của Cụ Hồ, bất chợt anh Phạm Hữu Tùng phát biểu lạc đề: “Tại sao lại cấm ca nhạc tài tử? Bao nhiêu nhạc cụ bị treo, thôn xóm buồn hiu, dân chúng bất bình?” Lớp học đàn tẻ lạnh bóng sôi lên, chia ra hai phe, tán thành cấm vào phản đối cấm nhạc tài tử, mất hai ngày vẫn bất phân thắng bại. Phe phản đối thay chiến thuật, không tranh cãi mà thức suốt đêm sáng tác lời mới cho nhạc tài tử như đóng thuế nuôi quân, đánh du kích. Soạn giả Ngọc Cung viết vở cải lương “Nợ nước tình nhà”. Sau đó tổ chức biểu diễn, mời cả lãnh đạo và giảng viên xem. Qua đêm diễn “bình cũ rượu mới”, số người yêu cầu xóa bỏ chủ trương cấm nhạc tài tử tăng áp đảo. Cuối năm 1951, luật sư Phạm Văn Bạch, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ ký văn bản “cho phép đồng bào mình được chơi vọng cổ, hát cải lương”! Posted on Tháng Ba 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-15-bo-tu-nhac-tai-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14) Hồi ký Tống Văn Công Vào đội ngũ báo nhân dân miền Nam Trong “Hồi ký nhớ một thời làm báo Nhân Dân”, ông Trần Bạch Đằng viết: “Một trưởng trạm giao liền, anh Tống Văn Công gửi bài đến, tôi thấy đạt, đã kết nạp anh vào đội ngũ báo Nhân Dân miền Nam”. Chuyện ấy là thế này: Sau khi cơ quan Sở Giao thông Liên lạc nhập vào bộ máy quân sự, tôi được giao làm trưởng trạm giao thông liên lạc ở đầu mối giữa các cơ quan cấp Nam bộ và Đội Thông tin Liên lạc của bên quân sự. Trạm nhỏ này mang tên trạm 23, bí danh của Sở giao thông liên lạc Nam bộ trước kia. Một hôm có ông khách tới trạm để chờ liên lạc từ cơ quan ông tới đón. Tôi xem giấy giới thiệu biết ông là Trần Bạch Đằng chủ bút báo Nhân Dân miền Nam. Mừng quá, tôi pha trà mời ông và ngõ ý muốn làm cộng tác viên. Tôi hỏi ông, báo Nhân Dân miền Nam đang cần loại bài gì. Ông nói: “Chúng ta đang thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Đó là đề tài của báo Nhân Dân miền Nam”. Tống Văn Công Hôm sau, máy bay Pháp rải rất nhiều truyền đơn, xuyên tạc chủ trương kháng chiến, kêu gọi rời bỏ chiến khu về thành. Tờ truyền đơn có bốn câu thơ nói lại: “Chú phỉnh” tôi rồi “chính phủ” ơi. “Chiến khu” đong lúa “chú khiêng” rồi. “Thi đua” chi lắm “thua đi” mãi. “Kháng chiến” lâu dài “khiến chán” thôi! Tờ truyền đơn thơ lục bát ấy đã gợi ý cho tôi cũng dùng hình thức thơ lục bát viết một bài phản bác. Máy bay giặc rải truyền đơn, Xúi dân đưa vợ đưa con về thành. Khoe rằng chốn đó an ninh, Vui vầy như hội, công bình như cân. Đất dư đem cấp nông dân, Cho phân, giúp vốn làm ăn trọn đời…” Ông Trần Bạch Đằng đăng ngày bài thơ của tôi và gửi thư khuyến khích rằng báo đang rất cần những bài như thế. Từ đó, gần như mỗi kỳ Nhân Dân Miền Nam đều có một bài thơ của tôi. Hồi này cha tôi là dịch giả Tăng Ích (Tăng và Ích đều có nghĩa là Thêm, tên cúng cơm của cha tôi) của tạp chí Tân Trung Hoa, do bác Võ Văn Nhung (bút danh Ba Khê) bạn của cụ Vương Hồng Sến làm tổng biên tập. Tạp chí này đăng nhiều tác phẩm của nước Trung Cộng như: “Lý luận về thổ cải” (tức cải cách ruộng đất); “Thơ và Từ” của Mao Trạch Đông, thơ Quách Mạc Nhược, tiểu thuyết “Bản thoại Lý Hữu Tài” của Triệu Thụ Lý… cha tôi đến thăm và góp ý rằng những bài viết của tôi theo ý ông không phải là thơ mà là những bài nghị luận viết theo văn vần. Ông đọc Thế Lữ, Hàn Mặc Tử… để so sánh. Tôi đưa Hoài Thanh – Hoài Chân ra chống chế: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy” Thi nhân Việt Nam). Ông cười, rồi nói sang chuyện báo chí: “Lẽ ra những tờ báo kháng chiến phải hay hơn báo ở Sài Gòn, bởi vì trong đó ký giả đâu có được tự do, họ viết trong sự kiểm soát của Pháp. Vậy mà họ dấy lên được phong trào Báo chí Thống nhất, bài viết rất sắc bén. Báo của mình bài nào cũng giống như truyền đơn kêu gọi!” Yêu thích viết báo, tôi tìm đọc thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng ngày 2/5/1949: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung”. Vậy là tôi hiểu báo kháng chiến và báo vùng địch tạm chiếm hoàn toàn khác nhau về nhiệm vụ và mục đích. Vậy thì không thể so sánh hai cái khác nhau được. Tôi đã nói như vậy với cha tôi. Sau khi tập kết ra Bắc rồi vào báo Lao Động tôi đã tận tụy thực hiện quan điểm báo chí của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều năm sau tôi mới biết lời dạy của cụ Hồ chỉ là “mạ” lại câu nói của Lênin: “Tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể” (Lênin toàn tập, nhà xuất bản Tiến Bộ). Rất lâu sau, tôi mới có dịp đọc “Việt Nam yêu cầu ca” của Nguyễn Ái Quốc (diễn ca thể thơ lục bát “Tám yêu cầu của nhân dân Việt Nam” gửi hội nghị hòa đàm Véc Xây năm 1919), trong đó yêu cầu thứ năm là: “Năm, xin nghĩ ngợi nói bàn tự do”. Cũng khoảng thời gian đó, trong “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương” của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã định nghĩa về báo chí hoàn toàn trái ngược với nền báo chí của chế độ do ông lãnh đạo sau này: “Tôi gọi báo, là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như chúng ta thấy ở châu Âu và một số nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”. Lúc ấy, vì không biết tự do ngôn luận là “nghĩ ngợi, nói bàn tự do”, cho nên suốt cả đời tôi luôn hăm hở viết cho những “tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”! Và qua nhiều năm, Tôi đã hết sức cố gắng làm tốt nhiệm vụ của “bọn tay chân” ấy! Posted on Tháng Ba 22, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/22/tu-theo-cong-den-chong-cong-14-vao-doi-ngu-bao-nhan-dan-mien-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13): https://www.minds.com/newsfeed/1020172811946332160?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·