ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16) Hồi ký Tống Văn Công Bài hát tiểu đoàn 307 – Bị phê bình lai Tây! Từ năm 1950, Chi hội Văn nghệ Nam bộ bắt đầu xét tặng Giải thưởng Văn nghệ Cửu Long. Ban giám khảo gồm: Hà Huy Giáp, Nguyễn Kim Cương, Ca Văn Thỉnh, Lưu Quý Kỳ. Từng bộ môn bình xét xong trình lên ban giám khảo quyết định. Giải thưởng Cửu Long đợt đầu tiên 1950 – 1951 được xét tặng: Văn: giải nhất, truyện ngắn “Con đường sống” và tập luyện “Anh Tư dân quân” của Minh Lộc, khu 8 (Trung Nam Bộ). Không có giải nhì. Giải ba: tập truyện ngắn “Lòng dân” của Phạm Hữu Tùng. Giải khuyến khích: tập truyện của Phạm Anh Tài (sau 1954 là Sơn Nam). Thơ: không có giải nhứt. Giải nhì: “Bức thơ tình” của Ba Dân (bộ đội khu 9). Giải ba: “Chiến dịch mùa xuân” của Nguyễn Bính, “Tập thơ” của Việt Ánh, “Tập thơ” của Truy Phong (bộ đội khu 8), tập “Hương đồng nội” của Nguyễn Ngọc Tấn (sau này đổi bút danh là Nguyễn Thi); Giải khuyến khích: “Hò lờ thi đua” của Nguyễn Quốc Nhân, “Thơ và ca dao” của Bảo Định Giang, thơ của Phương Viễn (sau 1954 là Viễn Phương). Kịch: không có giải nhứt. Giải nhì: “Vì Dân” của Lê Minh (bộ đội khu 8), “Quyết rửa thù” của Phạm Công Minh. Giải khuyến khích: “Giờ tôi mới hiểu” của Duy Phương (Gia Định). Giải cho tác giả: nhà thơ Việt Ánh lâm bệnh hiểm nghèo vẫn sáng tác; họa sĩ Huỳnh văn Gấm có công “hướng dẫn nền hội hoa đại chúng”; Xích Liên (tức nhà sư Thiện Chiếu) tuổi già vẫn mãi mê dịch sách Liên Xô, Trung Quốc cho bộ đội đọc; họa sĩ Nguyễn Cao Thương có công đào tạo hơn 300 “cán bộ hội họa” vẽ tranh cổ động; nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bạch trưởng đoàn kịch lưu động. Giải thưởng văn xuôi tiểu thuyết “Vỡ Đất” của Hoàng văn Bổn (khu 7). Thơ: giải nhất, truyện thơ thể lục bát “Anh Ba Thắng” của Việt Ánh. (Giải thưởng văn nghệ 1954 – 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam trao giải khuyến khích cho tập thơ này). Việc bình chọn trao giải ở bộ môn âm nhạc không suôn sẻ. Tiểu ban sơ khảo gồm các nhạc sĩ (trưởng thành sau tháng Tám 1945) chia thành hai phe tranh cãi rất quyết liệt về bài “Tiểu đoàn 307” nhạc của Nguyễn Hữu Trí, lời Nguyễn Bính. Một bên cho là bản hùng ca tuyệt tác. Một bên phê phán “một bài lai Tây tiêu biểu” vì “không đạt ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng theo đường lối văn nghệ của Đảng ta”! Bài hát này ra đời là do ông Trần Văn Trà, Tư lệnh khu 8 phát động sáng tác bài hát ca ngợi Tiểu đoàn 307 mới thành lập giữa năm 1948 đã liên tục chiến thắng nhiều trận vang dội. Nguyễn Hữu Trí đại đội phó của tiểu đoàn này và là phó ban quân nhạc Khu 8, phổ nhạc bài thơ “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Bính đăng trên báo Tổ Quốc của khu 8. (Trước đó Nguyễn Hữu Trí đã có bài Phá Đường khá nổi tiếng). Lúc này Tiểu đoàn 307 đang đóng quân ở bờ sông Nhị Mỹ, Cao Lãnh. Anh em chiến sĩ hát vang bài “cây nhà lá vườn”, không ngờ chỉ vài hôm sau bài hát đã lan nhanh khắp các vùng kháng chiến Nam bộ. Ngày 1 tháng 10 năm 1950, Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến phát sóng bài này do Tổ quân nhạc Khu 8 biểu diễn dưới sự chỉ huy của Phó ban Quân nhạc Nguyễn Hữu Trí. Vậy mà bài hát bị quy là “sai lầm nghiêm trọng về quan điểm sáng tác”! Không biết có phải vì sự kiện không vui này mà Nguyễn Hữu Trí bỏ quân đội lui về ở ẩn nơi quê vợ (Vĩnh Mỹ A, Hậu Giang), không bao giờ nhắc tới chuyện mình từng đi kháng chiến và là tác giả các bài “Tiểu đoàn 307”, “Phá đường”… Viết nhật ký, ông cũng viết bằng tiếng Pháp. Mãi sau khi ông qua đời 18 năm, các đồng đội thời kháng Pháp mới tìm thấy mộ ông để thắp nén nhang! Cũng thời gian ấy Nguyễn Bính bỏ ngũ ra mở quán bán sách báo bên bờ kinh Huyện Sĩ. Các nhạc sĩ làm việc sơ khảo đã ghi biên bản đầy đủ ý kiến tranh luận về bài “Tiểu đoàn 307” của hai phe: “Bản hùng ca tuyệt tác” và “bản nhạc lai Tây tiêu biểu” trình lên ban giám khảo. Ban giám khảo không có ý kiến phân xử cụ thể, nhưng không chấp nhận trao giải cho bài “Tiểu đoàn 307” mà quyết định trao giải nhất cho bài ca “Tự Túc” của Dương Ninh Minh phổ thơ Lưu Trùng Dương. Bài “Tự Túc” gồm 5 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu thơ và 2 câu điệp khúc. Xin chỉ chép lại khổ thơ bốn câu cuối cùng: “… Núi sông đang ngóng chờ, kìa ai chớ ngồi yên; Quyết thi đua cấy cày, sản xuất cho nhiều lên; Toàn dân ta góp tình, góp công xây dựng đời; Ngày mai trên nước Nam một bầu trời sáng tươi.” Hai câu điệp khúc: “…Anh em ơi, chúng ta góp muônn bàn tay. Gắng sức làm, sướng vui rồi đây có ngày.” Posted on Tháng Ba 26, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/26/tu-theo-cong-den-chong-cong-16-bai-hat-tieu-doan-307-bi-phe-binh-lai-tay/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (17): https://www.minds.com/newsfeed/1020177288046813184?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15) Hồi ký Tống Văn Công Bỏ tù nhạc tài tử! Do có nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân miền Nam, tôi được coi là một “cây bút” và được mời tham dự sinh hoạt Chi hội Văn nghệ Nam bộ, do đó có điều kiện tìm hiểu các hoạt động ở lĩnh vực này. Sau tháng Tám 1945, ca nhạc tài tử bị cấm trong toàn Nam bộ với lý do “ủy mị có tác dụng xấu, làm sa sút, lung lạc tinh thần kháng chiến”. Hồi Pháp thuộc, tôi đã được học và rất thích tân nhạc, do đó tôi không quan tâm đến ca nhạc tài tử, dù nó bị giết chết tôi cũng không tiếc nuối. Năm 1950, khi đến các vùng nông thôn ở Cà Mau, Bạc Liêu, tôi mới biết làng nào cũng có người bị tù vì lén lút chơi ca nhạc tài tử. Cuối cùng các ông thầy đờn đành phải treo nhạc cụ lên giàn bếp. Hình thức sinh hoạt văn nghệ giải trí chủ yếu của nông dân bị cấm đã làm cho nông thôn Nam bộ buồn hiu. Để lấp khoảng trống đó các nhạc sĩ tài tử đã sáng tạo hình thức “nói thơ Bạc Liêu” theo thể lục bát, nghe cũng “mùi mẫn”, nhưng né được sự quy chụp về quan điểm lập trường! Đề tài “nói thơ” bám vào nội dung phục vụ kháng chiến, như ca ngợi những cô vợ bộ đội thương nhớ chồng càng chăm lo tăng gia sản xuất. Thơ tự do, thơ mới cũng bị phê bình là “thiếu tính dân tộc”. Ở Nam bộ đi theo kháng chiến chỉ có hai văn nghệ sĩ có tên tuổi từ trước năm 1945 là nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Lê Trực (tác giả Tiếng Còi Trong Sương Đêm. Sau khi tham gia kháng chiến, ông lấy nghệ danh là Hoàng Việt). Hai người này chỉ là nghệ sĩ sáng tác chứ không có địa vị lãnh đạo. Nguyễn Bính là bậc thầy thể thơ lục bát và thơ bảy chữ, vào kháng chiến, ông làm nhiều bản trường ca theo thể thơ tự do rất hay, như “Đồng Tháp Mười” (ca ngợi truyền thống yêu nước của nhân dân vùng đất này), “Máu chảy trên đường phố” (Ca ngợi cuộc xuống đường của sinh viên học sinh Sài Gòn Chợ Lớn ngày 19 tháng 1 năm 1950), nhưng cả hai tác phẩm này không được giới lãnh đạo văn nghệ hoan nghênh. Số đông văn nghệ sĩ kháng chiến và người có cương vị lãnh đạo đều xuất thân từ cán bộ, bộ đội, vào kháng chíiến mới tập sự làm văn nghệ. Bộ môn viết nhạc có Nguyễn Ngọc Bạch (cha của tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu), Lưu Cầu, Quách Vũ, Trương Bỉnh Tòng, Trần Kiết Tường. Sau khi tập kết ra Bắc, Hoàng Hiệp mới xuất hiện với “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Ca sỹ thời này có Quốc Hương, Khánh Vân, Xuân Mai. Các nhà thơ có Việt Ánh, Nguyễn Hải Trừng, Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Phường Viễn (tức Viễn Phương), Hà Mậu Nhai. Một người làm thơ hay nhứt Nam Bộ thời đó là Hoàng Tố Nguyên không được nhắc tới, có lẽ vì ông làm thơ tự do và thiếu sự rổn rảng của tiếng gươm khua! Đội ngũ viết văn có Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Phạm Hữu Tùng, Phạm Anh Tài (sau 1954 lấy bút danh Sơn Nam). Ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng mới xuất hiện. Viết kịch có Ngọc Cung, Trần Bạch Đằng, Lưu Chi Lăng. Để đội ngũ văn nghệ sĩ tập sự này trở thành công cụ đắc lực của cách mạng, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đã mở lớp lý luận văn nghệ. Địa điểm lớp học tại lẫm lúa cũ của ông Cả Đài ở Đầm Cùng gần cuối mũi Cà Mau. Giảng viên là các ông Hà Huy Giáp ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Nguyễn Kim Cương phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục; Lưu Quý Kỳ chi hội trưởng Văn nghệ Nam bộ. Các bài giảng nhằm làm rõ tư tưởng Cụ Hồ trong lá thư gửi các họa sĩ năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là tiến sĩ trên mặt trận ấy.” “… Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.” Cụ Hồ rất giỏi trong việc chọn nội dung và cách diễn đạt dễ được chấp nhận trong kho lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Stalin đã nêu ra cho văn nghệ sĩ Liên Xô thực hiện từ năm 1934: – Tính Đảng và nguyên tắc chỉ đạo – Nhân vật tích cực là những “con người mới”, những chiến sĩ đấu tranh, sáng tạo thế giới mới xã hội chủ nghĩa – Sự kết hợp phương pháp hiện thực với phương pháp lãng mạn cách mạng, từ cảm hứng anh hùng trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm ấy, ở Việt Bắc các văn nghệ sĩ thời “tiền chiến” đang phản tỉnh xin từ bỏ những đứa “con hoang” của mình. Năm 1942 Hoài Thanh viết về thơ mới: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực”. Sau khi được trang bị quan điểm mác xít, Hoài Thanh tự phê bình: “Nhìn chung thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc. Đó là chưa nói đến phần hiển nhiên là sa đọa”. Phải mất hơn nửa thế kỷ, những văn nghệ sĩ ưu tú nhất của Đảng như Nguyễn Khải mới suy ngẫm lại: “Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh… Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập, thành giấy lộn cho con cháu bán cân”. (Tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông dặn con mình, chỉ công bố sau khi bố qua đời, năm 2006). Đó là những chuyện mãi sau này, còn ở thời điểm 1950 – 1954, tôi cũng nghe theo Cụ Hồ, và vô cùng hăng hái phấn đấu, mong được trở thành “chiến sĩ trên mặt trận ấy”! Ở lớp học này, trong buổi thảo luận bài nói của Cụ Hồ, bất chợt anh Phạm Hữu Tùng phát biểu lạc đề: “Tại sao lại cấm ca nhạc tài tử? Bao nhiêu nhạc cụ bị treo, thôn xóm buồn hiu, dân chúng bất bình?” Lớp học đàn tẻ lạnh bóng sôi lên, chia ra hai phe, tán thành cấm vào phản đối cấm nhạc tài tử, mất hai ngày vẫn bất phân thắng bại. Phe phản đối thay chiến thuật, không tranh cãi mà thức suốt đêm sáng tác lời mới cho nhạc tài tử như đóng thuế nuôi quân, đánh du kích. Soạn giả Ngọc Cung viết vở cải lương “Nợ nước tình nhà”. Sau đó tổ chức biểu diễn, mời cả lãnh đạo và giảng viên xem. Qua đêm diễn “bình cũ rượu mới”, số người yêu cầu xóa bỏ chủ trương cấm nhạc tài tử tăng áp đảo. Cuối năm 1951, luật sư Phạm Văn Bạch, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ ký văn bản “cho phép đồng bào mình được chơi vọng cổ, hát cải lương”! Posted on Tháng Ba 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-15-bo-tu-nhac-tai-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14) Hồi ký Tống Văn Công Vào đội ngũ báo nhân dân miền Nam Trong “Hồi ký nhớ một thời làm báo Nhân Dân”, ông Trần Bạch Đằng viết: “Một trưởng trạm giao liền, anh Tống Văn Công gửi bài đến, tôi thấy đạt, đã kết nạp anh vào đội ngũ báo Nhân Dân miền Nam”. Chuyện ấy là thế này: Sau khi cơ quan Sở Giao thông Liên lạc nhập vào bộ máy quân sự, tôi được giao làm trưởng trạm giao thông liên lạc ở đầu mối giữa các cơ quan cấp Nam bộ và Đội Thông tin Liên lạc của bên quân sự. Trạm nhỏ này mang tên trạm 23, bí danh của Sở giao thông liên lạc Nam bộ trước kia. Một hôm có ông khách tới trạm để chờ liên lạc từ cơ quan ông tới đón. Tôi xem giấy giới thiệu biết ông là Trần Bạch Đằng chủ bút báo Nhân Dân miền Nam. Mừng quá, tôi pha trà mời ông và ngõ ý muốn làm cộng tác viên. Tôi hỏi ông, báo Nhân Dân miền Nam đang cần loại bài gì. Ông nói: “Chúng ta đang thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Đó là đề tài của báo Nhân Dân miền Nam”. Tống Văn Công Hôm sau, máy bay Pháp rải rất nhiều truyền đơn, xuyên tạc chủ trương kháng chiến, kêu gọi rời bỏ chiến khu về thành. Tờ truyền đơn có bốn câu thơ nói lại: “Chú phỉnh” tôi rồi “chính phủ” ơi. “Chiến khu” đong lúa “chú khiêng” rồi. “Thi đua” chi lắm “thua đi” mãi. “Kháng chiến” lâu dài “khiến chán” thôi! Tờ truyền đơn thơ lục bát ấy đã gợi ý cho tôi cũng dùng hình thức thơ lục bát viết một bài phản bác. Máy bay giặc rải truyền đơn, Xúi dân đưa vợ đưa con về thành. Khoe rằng chốn đó an ninh, Vui vầy như hội, công bình như cân. Đất dư đem cấp nông dân, Cho phân, giúp vốn làm ăn trọn đời…” Ông Trần Bạch Đằng đăng ngày bài thơ của tôi và gửi thư khuyến khích rằng báo đang rất cần những bài như thế. Từ đó, gần như mỗi kỳ Nhân Dân Miền Nam đều có một bài thơ của tôi. Hồi này cha tôi là dịch giả Tăng Ích (Tăng và Ích đều có nghĩa là Thêm, tên cúng cơm của cha tôi) của tạp chí Tân Trung Hoa, do bác Võ Văn Nhung (bút danh Ba Khê) bạn của cụ Vương Hồng Sến làm tổng biên tập. Tạp chí này đăng nhiều tác phẩm của nước Trung Cộng như: “Lý luận về thổ cải” (tức cải cách ruộng đất); “Thơ và Từ” của Mao Trạch Đông, thơ Quách Mạc Nhược, tiểu thuyết “Bản thoại Lý Hữu Tài” của Triệu Thụ Lý… cha tôi đến thăm và góp ý rằng những bài viết của tôi theo ý ông không phải là thơ mà là những bài nghị luận viết theo văn vần. Ông đọc Thế Lữ, Hàn Mặc Tử… để so sánh. Tôi đưa Hoài Thanh – Hoài Chân ra chống chế: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy” Thi nhân Việt Nam). Ông cười, rồi nói sang chuyện báo chí: “Lẽ ra những tờ báo kháng chiến phải hay hơn báo ở Sài Gòn, bởi vì trong đó ký giả đâu có được tự do, họ viết trong sự kiểm soát của Pháp. Vậy mà họ dấy lên được phong trào Báo chí Thống nhất, bài viết rất sắc bén. Báo của mình bài nào cũng giống như truyền đơn kêu gọi!” Yêu thích viết báo, tôi tìm đọc thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng ngày 2/5/1949: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung”. Vậy là tôi hiểu báo kháng chiến và báo vùng địch tạm chiếm hoàn toàn khác nhau về nhiệm vụ và mục đích. Vậy thì không thể so sánh hai cái khác nhau được. Tôi đã nói như vậy với cha tôi. Sau khi tập kết ra Bắc rồi vào báo Lao Động tôi đã tận tụy thực hiện quan điểm báo chí của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều năm sau tôi mới biết lời dạy của cụ Hồ chỉ là “mạ” lại câu nói của Lênin: “Tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể” (Lênin toàn tập, nhà xuất bản Tiến Bộ). Rất lâu sau, tôi mới có dịp đọc “Việt Nam yêu cầu ca” của Nguyễn Ái Quốc (diễn ca thể thơ lục bát “Tám yêu cầu của nhân dân Việt Nam” gửi hội nghị hòa đàm Véc Xây năm 1919), trong đó yêu cầu thứ năm là: “Năm, xin nghĩ ngợi nói bàn tự do”. Cũng khoảng thời gian đó, trong “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương” của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã định nghĩa về báo chí hoàn toàn trái ngược với nền báo chí của chế độ do ông lãnh đạo sau này: “Tôi gọi báo, là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như chúng ta thấy ở châu Âu và một số nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”. Lúc ấy, vì không biết tự do ngôn luận là “nghĩ ngợi, nói bàn tự do”, cho nên suốt cả đời tôi luôn hăm hở viết cho những “tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”! Và qua nhiều năm, Tôi đã hết sức cố gắng làm tốt nhiệm vụ của “bọn tay chân” ấy! Posted on Tháng Ba 22, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/22/tu-theo-cong-den-chong-cong-14-vao-doi-ngu-bao-nhan-dan-mien-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13): https://www.minds.com/newsfeed/1020172811946332160?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13) Hồi ký Tống Văn Công Hai quan điểm xử lý cái bụng bầu Phần trên tôi vừa kể về ông Đặng Ngọc Tấn đến thay ông Nguyễn Văn Chánh làm đội trưởng Đội Thông tin Liên lạc. Năm đó ông Tấn 26 tuổi, hơn tôi năm tuổi, rất đẹp trai, tính tình hòa nhã. Ông sắp xếp lại tổ chức thông tin liên lạc theo hệ thống của quân đội để phục vụ tốt cho cả các ngành quân, dân, chính, đảng. Ông phân công tôi làm trưởng trạm thông tin liên lạc 23 (Trạm 23 vốn là bí danh của Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ, nay là tên thật của một trạm nhỏ). Tôi gọi ông Tấn là anh và trò chuyện với nhau thoải mái hơn các ông giám đốc trước đây. Một hôm, có bà cán bộ ngoài 40 tuổi từ Cần Thơ đi qua Trạm 23 để đến đổi thông tin liên lạc, xưng là vợ của đội trưởng Đặng Ngọc Tấn. Tôi vô cùng kinh ngạc, lúng túng, không dám gọi là chị! Hôm đó, cha tôi đi công tác ghé Trạm 23 thăm tôi, có tiếp chuyện với bà. Cha tôi nhận xét: “Bà này chắc lớn tuổi hơn má mày.” Tôi không thể nói trống không với bà, đành phải gọi là “thím”, mà đã gọi “thím Tư” thì phải “đề bạt” anh Tư lên chú Tư! Chuyện kỳ lạ lôi cuốn sự tò mò. Hóa ra các anh lớn trong ngành, thậm chí nhiều người ở các cơ quan lân cận đều biết rõ ngọn nguồn câu chuyện và thương kể cho nhau nghe không phải lúc “trà dư tửu hậu” khi bị giặc đuổi vô rừng sâu không có việc gì làm. Chị Tư Hạnh nguyên là Đội trưởng Tình báo của Quân khu 9. Chị đã lập gia đình trước Cách mạng Tháng Tám, có một con gái nhỏ hơn tôi ba tuổi, chồng sớm qua đời. Đặng Ngọc Tấn, sinh viên ở nội thành Cần Thơ là đội viên tình báo. Hằng tháng, Tấn bí mật vào bưng biền báo cáo tình hình cho thủ trưởng Hạnh, rồi ngủ lại hôm sau mới trở về Cần Thơ. Bưng biền “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh”. Đêm các đội viên ngủ trong nóp (một cái túi to đan bằng sợi bàng), Chỉ có thủ trưởng Hạnh ngủ trong chiếc mùng nhỏ. Biết sinh viên Tấn không quen nằm trong chiếc nóp ngột ngạt, thủ trưởng Hạnh với giọng của người chị cả: “Tối nay thằng Tấn vô mùng nằm với chị”. Cả cơ quan ai cũng thấy đó là tình cảm trong sáng của người chỉ huy, người chị đối với chú đội viên, đứa em chưa quen chịu gian khổ của chiến khu. Chuyện như vậy kéo dài và trở thành bình thường trong sinh hoạt của cơ quan tình báo Quân khu 9, cho đến một “ngày định mệnh”: Bụng của thủ trưởng Hạnh cứ to dần, to dần. Chị gọi đội viên đặng Ngọc Tấn vào công tác hẳn tại cơ quan ở chiến khu. Hai người vẫn giữ quan hệ thủ trưởng – đội viên, chị – em. Tư lệnh Quân khu 9 là thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ biết chuyện. Ông gọi chị Hạnh đến, cho ý kiến về cách xử lý. Ông tỏ ý thông cảm đối với người phụ nữ goá bụa còn trẻ, nhưng cho rằng không nên buộc chàng sinh viên nhỏ hơn gần 20 tuổi phải gánh trách nhiệm làm chồng. Ông nói, tổ chức không khiển trách, đồng chí sinh đẻ và nuôi con như một bà mẹ đơn thân. Nói thẳng ra thì chị có trách nhiệm nặng hơn. Cậu Tấn còn quá trẻ, đừng buộc cậu phải mang gánh nặng cả đời vì chuyện lầm lỡ này, tội nghiệp lắm! Chị có đồng ý với tôi không?” Đội trưởng Hạnh đành phải miễn cưỡng tỏ ra đồng ý với lời khuyên của ông thiếu tướng tư lệnh. Nhưng sau đó mấy hôm, thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ tử trận lúc chỉ huy đánh trận Tầm Vu nổi tiếng (bài ca Tầm Vu có những câu: “Hùng thay, Tầm Vu! Rạng uy danh Huỳnh tướng quân…”) Tham mưu trưởng Võ Quang Anh tạm thay tư lệnh điều hành công việc. Về chuyện cái bầu của Trưởng ban Tình báo, ông có ý kiến khác hẳn thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ. Ông gọi Đặng Ngọc Tấn đến khuyên bảo: “Đồng chí là một đảng viên chứ đâu phải trẻ con. Chẳng lẽ đồng chí ngoảnh mặt để người phụ nữ mang thai với mình phải mang tiếng sinh con hoang? Đồng chí thấy mình không có trách nhiệm gì cả sao?” Đảng viên Đặng Ngọc Tấn tỏ ý xin cùng chịu trách nhiệm với đồng chí Hạnh về chuyện đã gây ra cái bụng bầu và xin được khẩn trương tiến hành lễ cưới. Tham mưu trưởng Võ Quang Anh trở thành người thân của gia đình đôi vợ chồng đặc biệt này, nói cho đúng là ân nhân của riêng Tư Hạnh. Những người thời ấy kể cho nhau nghe câu chuyện với nhiều tình tiết ly kỳ hấp dẫn. Ngay sau ngày cưới, Tư Hạnh bắt đầu nghĩ cách báo ân vị tham mưu trưởng luống tuổi vì tận tụy việc nước nên vẫn còn độc thân. Có người cho rằng, ông tham mưu trưởng cố giúp Trưởng ban Tình báo Hạnh là vì ông đã bị hớp hồn bởi cô Thu Hồng thiếu sinh quân 17 tuổi, em gái của Đặng Ngọc Tấn. Ông và Tư Hạnh đã âm thầm ký kết bản hợp đồng không lời, sau ngày cưới Hạnh phải gấp rút thực hiện. Cái khó là, thiếu sinh quân Thu Hồng tuy mới 17 tuổi, nhưng đã có người yêu là thiếu úy X đang công tác ở Khu 7, miền Đông Nam bộ. Ông tham mưu trưởng và bà thủ trưởng tình báo đều là những kẻ giàu cơ mưu, họ thuộc lòng câu châm ngôn mới: “Thứ nhất cự ly, thứ nhì tốc độ, thứ ba hành động, thứ tư chớp thời cơ.” Cô thiếu sinh quân 17 tuổi làm sao đấu nổi hai vị lõi đời. Sau khi có tin đồn thiếu uý X bị mất tích, cô Thu Hồng chới với gần như đổ sụp. Ông tham mưu trưởng hết lòng an ủi và không bao lâu đã bàn với chị Tư Hạnh chuyện tổ chức lễ cưới sao cho giản dị mà trọng thể! Sau khi cưới cô vợ trẻ, ông tham mưu trưởng được quân đội cất cho ngôi nhà xinh xắn bên bờ kinh xáng, trước nhà có một sàn cầu (như kiểu cầu ao ở quê). Một hôm, cô vợ trẻ đang vo gạo trên sàng cầu thì một chiếc xuồng chèo ngang và từ đó có tiếng quen thuộc gọi vọng lên: “Xin kính chào bà tham mưu trưởng!” Cô Thu Hồng ngẩn nhìn, trời ơi, chàng thiếu úy! Cô ném nồi gạo xuống kênh, rồi chạy ùa vô nhà nằm trùm mền khóc. Đến chiều tối, tham mưu trưởng về nhà, bếp lạnh, bàn ăn trống không, tiếng vợ rấm rứt trong buồng. Nghe cô vợ trẻ kể sự tình, ông tham mưu trưởng tỏ ra khẳng khái và cao thượng (hay cao tay?) có ngay cách giải quyết: “Hai người nên gặp nhau, làm rõ sự việc, do tin đồn không chính xác đã khiến cho em tuyệt vọng, chứ đâu phải em phụ tình. Nếu giờ đây anh ấy thông cảm cho em, chấp nhận tái hợp thì anh đành lòng nhường bước để hai người đến với nhau.” Dưới đây xin tóm lược đoạn kết câu chuyện theo truyền khẩu của cán bộ nhân viên vùng kháng chiến miền Tây thời đó. Vậy là nàng hẹn gặp chàng khoảng cuối chiều ở bia rừng tràm và được chàng đồng ý. Trước khi đi, nàng giắt lưng cây súng lục của tham mưu trưởng. Nàng kể cho chàng nghe nỗi mong ngóng như thế nào khi gần nửa năm trời không được tin gì về chàng, rồi tin chàng mất tích khiến nàng cạn kiệt nước mắt, không ăn không ngủ. Ông tham mưu trưởng đến đúng lúc nàng như kẻ sắp chết đuối, tưởng rằng bíu lấy ông để được sống, nhưng không phải, từ đó đến nay nàng vẫn là cái xác không hồn! Hôm gặp lại chàng, nàng đau đớn tưởng sắp chết, nhưng không phải, đó chính là nỗi đau của sự hồi sinh. “Bây giờ em chỉ có thể sống cùng với anh hoặc là chết, không thể sống tiếp cuộc sống lâu nay!” Chàng tỏ ra thông cảm, nhưng khuyên nàng hãy sống với người đã yêu nàng, đưa nàng thoát khỏi cơn tuyệt vọng, chàng cũng cảm thấy biết ơn người đã làm được cái việc mà mình không làm được cho nàng. Cuộc đối thoại không giúp họ đi tới sự hòa hợp mà mỗi người một hướng mỗi lúc một xa. Cuối cùng nàng quả quyết: “Như vậy thì cả hai phải cùng chết”. Nàng rút súng chỉa vào chàng, nhưng cô thiếu sinh quân làm sao thắng nổi anh thiếu úy dạn dày trận mạc. Nghe tiếng súng vang phía bia rừng, du kích mấy xã quanh vùng ào ào kéo ra và họ nhìn thấy nàng ngất xỉu trong lòng chàng. Anh thiếu uý lịch sự nhờ các anh du kích đưa giúp nàng về nhà tham mưu trưởng. Posted on Tháng Ba 20, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/20/tu-theo-cong-den-chong-cong-13-hai-quan-diem-xu-ly-cai-bung-bau/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12): https://www.minds.com/newsfeed/1020171621487583232?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (15) Hồi ký Tống Văn Công Bỏ tù nhạc tài tử! Do có nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân miền Nam, tôi được coi là một “cây bút” và được mời tham dự sinh hoạt Chi hội Văn nghệ Nam bộ, do đó có điều kiện tìm hiểu các hoạt động ở lĩnh vực này. Sau tháng Tám 1945, ca nhạc tài tử bị cấm trong toàn Nam bộ với lý do “ủy mị có tác dụng xấu, làm sa sút, lung lạc tinh thần kháng chiến”. Hồi Pháp thuộc, tôi đã được học và rất thích tân nhạc, do đó tôi không quan tâm đến ca nhạc tài tử, dù nó bị giết chết tôi cũng không tiếc nuối. Năm 1950, khi đến các vùng nông thôn ở Cà Mau, Bạc Liêu, tôi mới biết làng nào cũng có người bị tù vì lén lút chơi ca nhạc tài tử. Cuối cùng các ông thầy đờn đành phải treo nhạc cụ lên giàn bếp. Hình thức sinh hoạt văn nghệ giải trí chủ yếu của nông dân bị cấm đã làm cho nông thôn Nam bộ buồn hiu. Để lấp khoảng trống đó các nhạc sĩ tài tử đã sáng tạo hình thức “nói thơ Bạc Liêu” theo thể lục bát, nghe cũng “mùi mẫn”, nhưng né được sự quy chụp về quan điểm lập trường! Đề tài “nói thơ” bám vào nội dung phục vụ kháng chiến, như ca ngợi những cô vợ bộ đội thương nhớ chồng càng chăm lo tăng gia sản xuất. Thơ tự do, thơ mới cũng bị phê bình là “thiếu tính dân tộc”. Ở Nam bộ đi theo kháng chiến chỉ có hai văn nghệ sĩ có tên tuổi từ trước năm 1945 là nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Lê Trực (tác giả Tiếng Còi Trong Sương Đêm. Sau khi tham gia kháng chiến, ông lấy nghệ danh là Hoàng Việt). Hai người này chỉ là nghệ sĩ sáng tác chứ không có địa vị lãnh đạo. Nguyễn Bính là bậc thầy thể thơ lục bát và thơ bảy chữ, vào kháng chiến, ông làm nhiều bản trường ca theo thể thơ tự do rất hay, như “Đồng Tháp Mười” (ca ngợi truyền thống yêu nước của nhân dân vùng đất này), “Máu chảy trên đường phố” (Ca ngợi cuộc xuống đường của sinh viên học sinh Sài Gòn Chợ Lớn ngày 19 tháng 1 năm 1950), nhưng cả hai tác phẩm này không được giới lãnh đạo văn nghệ hoan nghênh. Số đông văn nghệ sĩ kháng chiến và người có cương vị lãnh đạo đều xuất thân từ cán bộ, bộ đội, vào kháng chíiến mới tập sự làm văn nghệ. Bộ môn viết nhạc có Nguyễn Ngọc Bạch (cha của tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Thị Hậu), Lưu Cầu, Quách Vũ, Trương Bỉnh Tòng, Trần Kiết Tường. Sau khi tập kết ra Bắc, Hoàng Hiệp mới xuất hiện với “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Ca sỹ thời này có Quốc Hương, Khánh Vân, Xuân Mai. Các nhà thơ có Việt Ánh, Nguyễn Hải Trừng, Hoàng Phố, Hoàng Tấn, Phường Viễn (tức Viễn Phương), Hà Mậu Nhai. Một người làm thơ hay nhứt Nam Bộ thời đó là Hoàng Tố Nguyên không được nhắc tới, có lẽ vì ông làm thơ tự do và thiếu sự rổn rảng của tiếng gươm khua! Đội ngũ viết văn có Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Phạm Hữu Tùng, Phạm Anh Tài (sau 1954 lấy bút danh Sơn Nam). Ra Bắc, Nguyễn Quang Sáng mới xuất hiện. Viết kịch có Ngọc Cung, Trần Bạch Đằng, Lưu Chi Lăng. Để đội ngũ văn nghệ sĩ tập sự này trở thành công cụ đắc lực của cách mạng, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đã mở lớp lý luận văn nghệ. Địa điểm lớp học tại lẫm lúa cũ của ông Cả Đài ở Đầm Cùng gần cuối mũi Cà Mau. Giảng viên là các ông Hà Huy Giáp ủy viên Trung ương Đảng, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Nguyễn Kim Cương phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Cục; Lưu Quý Kỳ chi hội trưởng Văn nghệ Nam bộ. Các bài giảng nhằm làm rõ tư tưởng Cụ Hồ trong lá thư gửi các họa sĩ năm 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là tiến sĩ trên mặt trận ấy.” “… Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.” Cụ Hồ rất giỏi trong việc chọn nội dung và cách diễn đạt dễ được chấp nhận trong kho lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Stalin đã nêu ra cho văn nghệ sĩ Liên Xô thực hiện từ năm 1934: – Tính Đảng và nguyên tắc chỉ đạo – Nhân vật tích cực là những “con người mới”, những chiến sĩ đấu tranh, sáng tạo thế giới mới xã hội chủ nghĩa – Sự kết hợp phương pháp hiện thực với phương pháp lãng mạn cách mạng, từ cảm hứng anh hùng trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm ấy, ở Việt Bắc các văn nghệ sĩ thời “tiền chiến” đang phản tỉnh xin từ bỏ những đứa “con hoang” của mình. Năm 1942 Hoài Thanh viết về thơ mới: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực”. Sau khi được trang bị quan điểm mác xít, Hoài Thanh tự phê bình: “Nhìn chung thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc. Đó là chưa nói đến phần hiển nhiên là sa đọa”. Phải mất hơn nửa thế kỷ, những văn nghệ sĩ ưu tú nhất của Đảng như Nguyễn Khải mới suy ngẫm lại: “Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh… Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập, thành giấy lộn cho con cháu bán cân”. (Tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông dặn con mình, chỉ công bố sau khi bố qua đời, năm 2006). Đó là những chuyện mãi sau này, còn ở thời điểm 1950 – 1954, tôi cũng nghe theo Cụ Hồ, và vô cùng hăng hái phấn đấu, mong được trở thành “chiến sĩ trên mặt trận ấy”! Ở lớp học này, trong buổi thảo luận bài nói của Cụ Hồ, bất chợt anh Phạm Hữu Tùng phát biểu lạc đề: “Tại sao lại cấm ca nhạc tài tử? Bao nhiêu nhạc cụ bị treo, thôn xóm buồn hiu, dân chúng bất bình?” Lớp học đàn tẻ lạnh bóng sôi lên, chia ra hai phe, tán thành cấm vào phản đối cấm nhạc tài tử, mất hai ngày vẫn bất phân thắng bại. Phe phản đối thay chiến thuật, không tranh cãi mà thức suốt đêm sáng tác lời mới cho nhạc tài tử như đóng thuế nuôi quân, đánh du kích. Soạn giả Ngọc Cung viết vở cải lương “Nợ nước tình nhà”. Sau đó tổ chức biểu diễn, mời cả lãnh đạo và giảng viên xem. Qua đêm diễn “bình cũ rượu mới”, số người yêu cầu xóa bỏ chủ trương cấm nhạc tài tử tăng áp đảo. Cuối năm 1951, luật sư Phạm Văn Bạch, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ ký văn bản “cho phép đồng bào mình được chơi vọng cổ, hát cải lương”! Posted on Tháng Ba 24, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/24/tu-theo-cong-den-chong-cong-15-bo-tu-nhac-tai-tu/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (16): https://www.minds.com/newsfeed/1020176857616781312?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
11 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14) Hồi ký Tống Văn Công Vào đội ngũ báo nhân dân miền Nam Trong “Hồi ký nhớ một thời làm báo Nhân Dân”, ông Trần Bạch Đằng viết: “Một trưởng trạm giao liền, anh Tống Văn Công gửi bài đến, tôi thấy đạt, đã kết nạp anh vào đội ngũ báo Nhân Dân miền Nam”. Chuyện ấy là thế này: Sau khi cơ quan Sở Giao thông Liên lạc nhập vào bộ máy quân sự, tôi được giao làm trưởng trạm giao thông liên lạc ở đầu mối giữa các cơ quan cấp Nam bộ và Đội Thông tin Liên lạc của bên quân sự. Trạm nhỏ này mang tên trạm 23, bí danh của Sở giao thông liên lạc Nam bộ trước kia. Một hôm có ông khách tới trạm để chờ liên lạc từ cơ quan ông tới đón. Tôi xem giấy giới thiệu biết ông là Trần Bạch Đằng chủ bút báo Nhân Dân miền Nam. Mừng quá, tôi pha trà mời ông và ngõ ý muốn làm cộng tác viên. Tôi hỏi ông, báo Nhân Dân miền Nam đang cần loại bài gì. Ông nói: “Chúng ta đang thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Đó là đề tài của báo Nhân Dân miền Nam”. Tống Văn Công Hôm sau, máy bay Pháp rải rất nhiều truyền đơn, xuyên tạc chủ trương kháng chiến, kêu gọi rời bỏ chiến khu về thành. Tờ truyền đơn có bốn câu thơ nói lại: “Chú phỉnh” tôi rồi “chính phủ” ơi. “Chiến khu” đong lúa “chú khiêng” rồi. “Thi đua” chi lắm “thua đi” mãi. “Kháng chiến” lâu dài “khiến chán” thôi! Tờ truyền đơn thơ lục bát ấy đã gợi ý cho tôi cũng dùng hình thức thơ lục bát viết một bài phản bác. Máy bay giặc rải truyền đơn, Xúi dân đưa vợ đưa con về thành. Khoe rằng chốn đó an ninh, Vui vầy như hội, công bình như cân. Đất dư đem cấp nông dân, Cho phân, giúp vốn làm ăn trọn đời…” Ông Trần Bạch Đằng đăng ngày bài thơ của tôi và gửi thư khuyến khích rằng báo đang rất cần những bài như thế. Từ đó, gần như mỗi kỳ Nhân Dân Miền Nam đều có một bài thơ của tôi. Hồi này cha tôi là dịch giả Tăng Ích (Tăng và Ích đều có nghĩa là Thêm, tên cúng cơm của cha tôi) của tạp chí Tân Trung Hoa, do bác Võ Văn Nhung (bút danh Ba Khê) bạn của cụ Vương Hồng Sến làm tổng biên tập. Tạp chí này đăng nhiều tác phẩm của nước Trung Cộng như: “Lý luận về thổ cải” (tức cải cách ruộng đất); “Thơ và Từ” của Mao Trạch Đông, thơ Quách Mạc Nhược, tiểu thuyết “Bản thoại Lý Hữu Tài” của Triệu Thụ Lý… cha tôi đến thăm và góp ý rằng những bài viết của tôi theo ý ông không phải là thơ mà là những bài nghị luận viết theo văn vần. Ông đọc Thế Lữ, Hàn Mặc Tử… để so sánh. Tôi đưa Hoài Thanh – Hoài Chân ra chống chế: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy” Thi nhân Việt Nam). Ông cười, rồi nói sang chuyện báo chí: “Lẽ ra những tờ báo kháng chiến phải hay hơn báo ở Sài Gòn, bởi vì trong đó ký giả đâu có được tự do, họ viết trong sự kiểm soát của Pháp. Vậy mà họ dấy lên được phong trào Báo chí Thống nhất, bài viết rất sắc bén. Báo của mình bài nào cũng giống như truyền đơn kêu gọi!” Yêu thích viết báo, tôi tìm đọc thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng ngày 2/5/1949: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung”. Vậy là tôi hiểu báo kháng chiến và báo vùng địch tạm chiếm hoàn toàn khác nhau về nhiệm vụ và mục đích. Vậy thì không thể so sánh hai cái khác nhau được. Tôi đã nói như vậy với cha tôi. Sau khi tập kết ra Bắc rồi vào báo Lao Động tôi đã tận tụy thực hiện quan điểm báo chí của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiều năm sau tôi mới biết lời dạy của cụ Hồ chỉ là “mạ” lại câu nói của Lênin: “Tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể” (Lênin toàn tập, nhà xuất bản Tiến Bộ). Rất lâu sau, tôi mới có dịp đọc “Việt Nam yêu cầu ca” của Nguyễn Ái Quốc (diễn ca thể thơ lục bát “Tám yêu cầu của nhân dân Việt Nam” gửi hội nghị hòa đàm Véc Xây năm 1919), trong đó yêu cầu thứ năm là: “Năm, xin nghĩ ngợi nói bàn tự do”. Cũng khoảng thời gian đó, trong “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương” của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã định nghĩa về báo chí hoàn toàn trái ngược với nền báo chí của chế độ do ông lãnh đạo sau này: “Tôi gọi báo, là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như chúng ta thấy ở châu Âu và một số nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”. Lúc ấy, vì không biết tự do ngôn luận là “nghĩ ngợi, nói bàn tự do”, cho nên suốt cả đời tôi luôn hăm hở viết cho những “tờ báo do chính quyền thành lập rồi giao cho bọn tay chân điều khiển”! Và qua nhiều năm, Tôi đã hết sức cố gắng làm tốt nhiệm vụ của “bọn tay chân” ấy! Posted on Tháng Ba 22, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/22/tu-theo-cong-den-chong-cong-14-vao-doi-ngu-bao-nhan-dan-mien-nam/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (15): https://www.minds.com/newsfeed/1020176399045136384?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13): https://www.minds.com/newsfeed/1020172811946332160?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13) Hồi ký Tống Văn Công Hai quan điểm xử lý cái bụng bầu Phần trên tôi vừa kể về ông Đặng Ngọc Tấn đến thay ông Nguyễn Văn Chánh làm đội trưởng Đội Thông tin Liên lạc. Năm đó ông Tấn 26 tuổi, hơn tôi năm tuổi, rất đẹp trai, tính tình hòa nhã. Ông sắp xếp lại tổ chức thông tin liên lạc theo hệ thống của quân đội để phục vụ tốt cho cả các ngành quân, dân, chính, đảng. Ông phân công tôi làm trưởng trạm thông tin liên lạc 23 (Trạm 23 vốn là bí danh của Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ, nay là tên thật của một trạm nhỏ). Tôi gọi ông Tấn là anh và trò chuyện với nhau thoải mái hơn các ông giám đốc trước đây. Một hôm, có bà cán bộ ngoài 40 tuổi từ Cần Thơ đi qua Trạm 23 để đến đổi thông tin liên lạc, xưng là vợ của đội trưởng Đặng Ngọc Tấn. Tôi vô cùng kinh ngạc, lúng túng, không dám gọi là chị! Hôm đó, cha tôi đi công tác ghé Trạm 23 thăm tôi, có tiếp chuyện với bà. Cha tôi nhận xét: “Bà này chắc lớn tuổi hơn má mày.” Tôi không thể nói trống không với bà, đành phải gọi là “thím”, mà đã gọi “thím Tư” thì phải “đề bạt” anh Tư lên chú Tư! Chuyện kỳ lạ lôi cuốn sự tò mò. Hóa ra các anh lớn trong ngành, thậm chí nhiều người ở các cơ quan lân cận đều biết rõ ngọn nguồn câu chuyện và thương kể cho nhau nghe không phải lúc “trà dư tửu hậu” khi bị giặc đuổi vô rừng sâu không có việc gì làm. Chị Tư Hạnh nguyên là Đội trưởng Tình báo của Quân khu 9. Chị đã lập gia đình trước Cách mạng Tháng Tám, có một con gái nhỏ hơn tôi ba tuổi, chồng sớm qua đời. Đặng Ngọc Tấn, sinh viên ở nội thành Cần Thơ là đội viên tình báo. Hằng tháng, Tấn bí mật vào bưng biền báo cáo tình hình cho thủ trưởng Hạnh, rồi ngủ lại hôm sau mới trở về Cần Thơ. Bưng biền “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh”. Đêm các đội viên ngủ trong nóp (một cái túi to đan bằng sợi bàng), Chỉ có thủ trưởng Hạnh ngủ trong chiếc mùng nhỏ. Biết sinh viên Tấn không quen nằm trong chiếc nóp ngột ngạt, thủ trưởng Hạnh với giọng của người chị cả: “Tối nay thằng Tấn vô mùng nằm với chị”. Cả cơ quan ai cũng thấy đó là tình cảm trong sáng của người chỉ huy, người chị đối với chú đội viên, đứa em chưa quen chịu gian khổ của chiến khu. Chuyện như vậy kéo dài và trở thành bình thường trong sinh hoạt của cơ quan tình báo Quân khu 9, cho đến một “ngày định mệnh”: Bụng của thủ trưởng Hạnh cứ to dần, to dần. Chị gọi đội viên đặng Ngọc Tấn vào công tác hẳn tại cơ quan ở chiến khu. Hai người vẫn giữ quan hệ thủ trưởng – đội viên, chị – em. Tư lệnh Quân khu 9 là thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ biết chuyện. Ông gọi chị Hạnh đến, cho ý kiến về cách xử lý. Ông tỏ ý thông cảm đối với người phụ nữ goá bụa còn trẻ, nhưng cho rằng không nên buộc chàng sinh viên nhỏ hơn gần 20 tuổi phải gánh trách nhiệm làm chồng. Ông nói, tổ chức không khiển trách, đồng chí sinh đẻ và nuôi con như một bà mẹ đơn thân. Nói thẳng ra thì chị có trách nhiệm nặng hơn. Cậu Tấn còn quá trẻ, đừng buộc cậu phải mang gánh nặng cả đời vì chuyện lầm lỡ này, tội nghiệp lắm! Chị có đồng ý với tôi không?” Đội trưởng Hạnh đành phải miễn cưỡng tỏ ra đồng ý với lời khuyên của ông thiếu tướng tư lệnh. Nhưng sau đó mấy hôm, thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ tử trận lúc chỉ huy đánh trận Tầm Vu nổi tiếng (bài ca Tầm Vu có những câu: “Hùng thay, Tầm Vu! Rạng uy danh Huỳnh tướng quân…”) Tham mưu trưởng Võ Quang Anh tạm thay tư lệnh điều hành công việc. Về chuyện cái bầu của Trưởng ban Tình báo, ông có ý kiến khác hẳn thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ. Ông gọi Đặng Ngọc Tấn đến khuyên bảo: “Đồng chí là một đảng viên chứ đâu phải trẻ con. Chẳng lẽ đồng chí ngoảnh mặt để người phụ nữ mang thai với mình phải mang tiếng sinh con hoang? Đồng chí thấy mình không có trách nhiệm gì cả sao?” Đảng viên Đặng Ngọc Tấn tỏ ý xin cùng chịu trách nhiệm với đồng chí Hạnh về chuyện đã gây ra cái bụng bầu và xin được khẩn trương tiến hành lễ cưới. Tham mưu trưởng Võ Quang Anh trở thành người thân của gia đình đôi vợ chồng đặc biệt này, nói cho đúng là ân nhân của riêng Tư Hạnh. Những người thời ấy kể cho nhau nghe câu chuyện với nhiều tình tiết ly kỳ hấp dẫn. Ngay sau ngày cưới, Tư Hạnh bắt đầu nghĩ cách báo ân vị tham mưu trưởng luống tuổi vì tận tụy việc nước nên vẫn còn độc thân. Có người cho rằng, ông tham mưu trưởng cố giúp Trưởng ban Tình báo Hạnh là vì ông đã bị hớp hồn bởi cô Thu Hồng thiếu sinh quân 17 tuổi, em gái của Đặng Ngọc Tấn. Ông và Tư Hạnh đã âm thầm ký kết bản hợp đồng không lời, sau ngày cưới Hạnh phải gấp rút thực hiện. Cái khó là, thiếu sinh quân Thu Hồng tuy mới 17 tuổi, nhưng đã có người yêu là thiếu úy X đang công tác ở Khu 7, miền Đông Nam bộ. Ông tham mưu trưởng và bà thủ trưởng tình báo đều là những kẻ giàu cơ mưu, họ thuộc lòng câu châm ngôn mới: “Thứ nhất cự ly, thứ nhì tốc độ, thứ ba hành động, thứ tư chớp thời cơ.” Cô thiếu sinh quân 17 tuổi làm sao đấu nổi hai vị lõi đời. Sau khi có tin đồn thiếu uý X bị mất tích, cô Thu Hồng chới với gần như đổ sụp. Ông tham mưu trưởng hết lòng an ủi và không bao lâu đã bàn với chị Tư Hạnh chuyện tổ chức lễ cưới sao cho giản dị mà trọng thể! Sau khi cưới cô vợ trẻ, ông tham mưu trưởng được quân đội cất cho ngôi nhà xinh xắn bên bờ kinh xáng, trước nhà có một sàn cầu (như kiểu cầu ao ở quê). Một hôm, cô vợ trẻ đang vo gạo trên sàng cầu thì một chiếc xuồng chèo ngang và từ đó có tiếng quen thuộc gọi vọng lên: “Xin kính chào bà tham mưu trưởng!” Cô Thu Hồng ngẩn nhìn, trời ơi, chàng thiếu úy! Cô ném nồi gạo xuống kênh, rồi chạy ùa vô nhà nằm trùm mền khóc. Đến chiều tối, tham mưu trưởng về nhà, bếp lạnh, bàn ăn trống không, tiếng vợ rấm rứt trong buồng. Nghe cô vợ trẻ kể sự tình, ông tham mưu trưởng tỏ ra khẳng khái và cao thượng (hay cao tay?) có ngay cách giải quyết: “Hai người nên gặp nhau, làm rõ sự việc, do tin đồn không chính xác đã khiến cho em tuyệt vọng, chứ đâu phải em phụ tình. Nếu giờ đây anh ấy thông cảm cho em, chấp nhận tái hợp thì anh đành lòng nhường bước để hai người đến với nhau.” Dưới đây xin tóm lược đoạn kết câu chuyện theo truyền khẩu của cán bộ nhân viên vùng kháng chiến miền Tây thời đó. Vậy là nàng hẹn gặp chàng khoảng cuối chiều ở bia rừng tràm và được chàng đồng ý. Trước khi đi, nàng giắt lưng cây súng lục của tham mưu trưởng. Nàng kể cho chàng nghe nỗi mong ngóng như thế nào khi gần nửa năm trời không được tin gì về chàng, rồi tin chàng mất tích khiến nàng cạn kiệt nước mắt, không ăn không ngủ. Ông tham mưu trưởng đến đúng lúc nàng như kẻ sắp chết đuối, tưởng rằng bíu lấy ông để được sống, nhưng không phải, từ đó đến nay nàng vẫn là cái xác không hồn! Hôm gặp lại chàng, nàng đau đớn tưởng sắp chết, nhưng không phải, đó chính là nỗi đau của sự hồi sinh. “Bây giờ em chỉ có thể sống cùng với anh hoặc là chết, không thể sống tiếp cuộc sống lâu nay!” Chàng tỏ ra thông cảm, nhưng khuyên nàng hãy sống với người đã yêu nàng, đưa nàng thoát khỏi cơn tuyệt vọng, chàng cũng cảm thấy biết ơn người đã làm được cái việc mà mình không làm được cho nàng. Cuộc đối thoại không giúp họ đi tới sự hòa hợp mà mỗi người một hướng mỗi lúc một xa. Cuối cùng nàng quả quyết: “Như vậy thì cả hai phải cùng chết”. Nàng rút súng chỉa vào chàng, nhưng cô thiếu sinh quân làm sao thắng nổi anh thiếu úy dạn dày trận mạc. Nghe tiếng súng vang phía bia rừng, du kích mấy xã quanh vùng ào ào kéo ra và họ nhìn thấy nàng ngất xỉu trong lòng chàng. Anh thiếu uý lịch sự nhờ các anh du kích đưa giúp nàng về nhà tham mưu trưởng. Posted on Tháng Ba 20, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/20/tu-theo-cong-den-chong-cong-13-hai-quan-diem-xu-ly-cai-bung-bau/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12): https://www.minds.com/newsfeed/1020171621487583232?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·