ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13) Hồi ký Tống Văn Công Hai quan điểm xử lý cái bụng bầu Phần trên tôi vừa kể về ông Đặng Ngọc Tấn đến thay ông Nguyễn Văn Chánh làm đội trưởng Đội Thông tin Liên lạc. Năm đó ông Tấn 26 tuổi, hơn tôi năm tuổi, rất đẹp trai, tính tình hòa nhã. Ông sắp xếp lại tổ chức thông tin liên lạc theo hệ thống của quân đội để phục vụ tốt cho cả các ngành quân, dân, chính, đảng. Ông phân công tôi làm trưởng trạm thông tin liên lạc 23 (Trạm 23 vốn là bí danh của Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ, nay là tên thật của một trạm nhỏ). Tôi gọi ông Tấn là anh và trò chuyện với nhau thoải mái hơn các ông giám đốc trước đây. Một hôm, có bà cán bộ ngoài 40 tuổi từ Cần Thơ đi qua Trạm 23 để đến đổi thông tin liên lạc, xưng là vợ của đội trưởng Đặng Ngọc Tấn. Tôi vô cùng kinh ngạc, lúng túng, không dám gọi là chị! Hôm đó, cha tôi đi công tác ghé Trạm 23 thăm tôi, có tiếp chuyện với bà. Cha tôi nhận xét: “Bà này chắc lớn tuổi hơn má mày.” Tôi không thể nói trống không với bà, đành phải gọi là “thím”, mà đã gọi “thím Tư” thì phải “đề bạt” anh Tư lên chú Tư! Chuyện kỳ lạ lôi cuốn sự tò mò. Hóa ra các anh lớn trong ngành, thậm chí nhiều người ở các cơ quan lân cận đều biết rõ ngọn nguồn câu chuyện và thương kể cho nhau nghe không phải lúc “trà dư tửu hậu” khi bị giặc đuổi vô rừng sâu không có việc gì làm. Chị Tư Hạnh nguyên là Đội trưởng Tình báo của Quân khu 9. Chị đã lập gia đình trước Cách mạng Tháng Tám, có một con gái nhỏ hơn tôi ba tuổi, chồng sớm qua đời. Đặng Ngọc Tấn, sinh viên ở nội thành Cần Thơ là đội viên tình báo. Hằng tháng, Tấn bí mật vào bưng biền báo cáo tình hình cho thủ trưởng Hạnh, rồi ngủ lại hôm sau mới trở về Cần Thơ. Bưng biền “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh”. Đêm các đội viên ngủ trong nóp (một cái túi to đan bằng sợi bàng), Chỉ có thủ trưởng Hạnh ngủ trong chiếc mùng nhỏ. Biết sinh viên Tấn không quen nằm trong chiếc nóp ngột ngạt, thủ trưởng Hạnh với giọng của người chị cả: “Tối nay thằng Tấn vô mùng nằm với chị”. Cả cơ quan ai cũng thấy đó là tình cảm trong sáng của người chỉ huy, người chị đối với chú đội viên, đứa em chưa quen chịu gian khổ của chiến khu. Chuyện như vậy kéo dài và trở thành bình thường trong sinh hoạt của cơ quan tình báo Quân khu 9, cho đến một “ngày định mệnh”: Bụng của thủ trưởng Hạnh cứ to dần, to dần. Chị gọi đội viên đặng Ngọc Tấn vào công tác hẳn tại cơ quan ở chiến khu. Hai người vẫn giữ quan hệ thủ trưởng – đội viên, chị – em. Tư lệnh Quân khu 9 là thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ biết chuyện. Ông gọi chị Hạnh đến, cho ý kiến về cách xử lý. Ông tỏ ý thông cảm đối với người phụ nữ goá bụa còn trẻ, nhưng cho rằng không nên buộc chàng sinh viên nhỏ hơn gần 20 tuổi phải gánh trách nhiệm làm chồng. Ông nói, tổ chức không khiển trách, đồng chí sinh đẻ và nuôi con như một bà mẹ đơn thân. Nói thẳng ra thì chị có trách nhiệm nặng hơn. Cậu Tấn còn quá trẻ, đừng buộc cậu phải mang gánh nặng cả đời vì chuyện lầm lỡ này, tội nghiệp lắm! Chị có đồng ý với tôi không?” Đội trưởng Hạnh đành phải miễn cưỡng tỏ ra đồng ý với lời khuyên của ông thiếu tướng tư lệnh. Nhưng sau đó mấy hôm, thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ tử trận lúc chỉ huy đánh trận Tầm Vu nổi tiếng (bài ca Tầm Vu có những câu: “Hùng thay, Tầm Vu! Rạng uy danh Huỳnh tướng quân…”) Tham mưu trưởng Võ Quang Anh tạm thay tư lệnh điều hành công việc. Về chuyện cái bầu của Trưởng ban Tình báo, ông có ý kiến khác hẳn thiếu tướng Huỳnh Phan Hộ. Ông gọi Đặng Ngọc Tấn đến khuyên bảo: “Đồng chí là một đảng viên chứ đâu phải trẻ con. Chẳng lẽ đồng chí ngoảnh mặt để người phụ nữ mang thai với mình phải mang tiếng sinh con hoang? Đồng chí thấy mình không có trách nhiệm gì cả sao?” Đảng viên Đặng Ngọc Tấn tỏ ý xin cùng chịu trách nhiệm với đồng chí Hạnh về chuyện đã gây ra cái bụng bầu và xin được khẩn trương tiến hành lễ cưới. Tham mưu trưởng Võ Quang Anh trở thành người thân của gia đình đôi vợ chồng đặc biệt này, nói cho đúng là ân nhân của riêng Tư Hạnh. Những người thời ấy kể cho nhau nghe câu chuyện với nhiều tình tiết ly kỳ hấp dẫn. Ngay sau ngày cưới, Tư Hạnh bắt đầu nghĩ cách báo ân vị tham mưu trưởng luống tuổi vì tận tụy việc nước nên vẫn còn độc thân. Có người cho rằng, ông tham mưu trưởng cố giúp Trưởng ban Tình báo Hạnh là vì ông đã bị hớp hồn bởi cô Thu Hồng thiếu sinh quân 17 tuổi, em gái của Đặng Ngọc Tấn. Ông và Tư Hạnh đã âm thầm ký kết bản hợp đồng không lời, sau ngày cưới Hạnh phải gấp rút thực hiện. Cái khó là, thiếu sinh quân Thu Hồng tuy mới 17 tuổi, nhưng đã có người yêu là thiếu úy X đang công tác ở Khu 7, miền Đông Nam bộ. Ông tham mưu trưởng và bà thủ trưởng tình báo đều là những kẻ giàu cơ mưu, họ thuộc lòng câu châm ngôn mới: “Thứ nhất cự ly, thứ nhì tốc độ, thứ ba hành động, thứ tư chớp thời cơ.” Cô thiếu sinh quân 17 tuổi làm sao đấu nổi hai vị lõi đời. Sau khi có tin đồn thiếu uý X bị mất tích, cô Thu Hồng chới với gần như đổ sụp. Ông tham mưu trưởng hết lòng an ủi và không bao lâu đã bàn với chị Tư Hạnh chuyện tổ chức lễ cưới sao cho giản dị mà trọng thể! Sau khi cưới cô vợ trẻ, ông tham mưu trưởng được quân đội cất cho ngôi nhà xinh xắn bên bờ kinh xáng, trước nhà có một sàn cầu (như kiểu cầu ao ở quê). Một hôm, cô vợ trẻ đang vo gạo trên sàng cầu thì một chiếc xuồng chèo ngang và từ đó có tiếng quen thuộc gọi vọng lên: “Xin kính chào bà tham mưu trưởng!” Cô Thu Hồng ngẩn nhìn, trời ơi, chàng thiếu úy! Cô ném nồi gạo xuống kênh, rồi chạy ùa vô nhà nằm trùm mền khóc. Đến chiều tối, tham mưu trưởng về nhà, bếp lạnh, bàn ăn trống không, tiếng vợ rấm rứt trong buồng. Nghe cô vợ trẻ kể sự tình, ông tham mưu trưởng tỏ ra khẳng khái và cao thượng (hay cao tay?) có ngay cách giải quyết: “Hai người nên gặp nhau, làm rõ sự việc, do tin đồn không chính xác đã khiến cho em tuyệt vọng, chứ đâu phải em phụ tình. Nếu giờ đây anh ấy thông cảm cho em, chấp nhận tái hợp thì anh đành lòng nhường bước để hai người đến với nhau.” Dưới đây xin tóm lược đoạn kết câu chuyện theo truyền khẩu của cán bộ nhân viên vùng kháng chiến miền Tây thời đó. Vậy là nàng hẹn gặp chàng khoảng cuối chiều ở bia rừng tràm và được chàng đồng ý. Trước khi đi, nàng giắt lưng cây súng lục của tham mưu trưởng. Nàng kể cho chàng nghe nỗi mong ngóng như thế nào khi gần nửa năm trời không được tin gì về chàng, rồi tin chàng mất tích khiến nàng cạn kiệt nước mắt, không ăn không ngủ. Ông tham mưu trưởng đến đúng lúc nàng như kẻ sắp chết đuối, tưởng rằng bíu lấy ông để được sống, nhưng không phải, từ đó đến nay nàng vẫn là cái xác không hồn! Hôm gặp lại chàng, nàng đau đớn tưởng sắp chết, nhưng không phải, đó chính là nỗi đau của sự hồi sinh. “Bây giờ em chỉ có thể sống cùng với anh hoặc là chết, không thể sống tiếp cuộc sống lâu nay!” Chàng tỏ ra thông cảm, nhưng khuyên nàng hãy sống với người đã yêu nàng, đưa nàng thoát khỏi cơn tuyệt vọng, chàng cũng cảm thấy biết ơn người đã làm được cái việc mà mình không làm được cho nàng. Cuộc đối thoại không giúp họ đi tới sự hòa hợp mà mỗi người một hướng mỗi lúc một xa. Cuối cùng nàng quả quyết: “Như vậy thì cả hai phải cùng chết”. Nàng rút súng chỉa vào chàng, nhưng cô thiếu sinh quân làm sao thắng nổi anh thiếu úy dạn dày trận mạc. Nghe tiếng súng vang phía bia rừng, du kích mấy xã quanh vùng ào ào kéo ra và họ nhìn thấy nàng ngất xỉu trong lòng chàng. Anh thiếu uý lịch sự nhờ các anh du kích đưa giúp nàng về nhà tham mưu trưởng. Posted on Tháng Ba 20, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/20/tu-theo-cong-den-chong-cong-13-hai-quan-diem-xu-ly-cai-bung-bau/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (14): https://www.minds.com/newsfeed/1020175832287780864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12): https://www.minds.com/newsfeed/1020171621487583232?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12) Hồi ký Tống Văn Công Ông giám đốc với cây súng sáu! Phòng bình dân học vụ vừa thành hình đã phải giải thể vì Trung ương Cục miền Nam chỉ thị rằng nó không thích hợp. Tôi nằm trong số bảy nhân viên được điều về Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ do ông Nguyễn Văn Thức làm giám đốc. Ông Thức là anh hai (miền Bắc gọi là anh cả) của bà Bảy Vân (Nguyễn Thị Vân) vợ hai của Bí thư Trung ương cục Lê Duẩn. Khi tôi làm tổng biên tập báo Lao Động, bà Bảy Vân làm phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng. Quen nhau trong các cuộc họp, tôi nói mình từng là “lính của anh Hai Thức”. Bà Bảy Vân ngạc nhiên “Ồ, hồi đó chắc anh là ‘nhóc con’ à?” Những cán bộ cùng lứa với ông giám đốc gọi ông là “Cò Thức”, vì sau tháng 8 năm 1945, ông công tác tại Quốc gia Tự vệ cục, một tổ chức công an của Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ do Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Khi tôi đến, Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ bí danh là Trạm 23 đang đóng ở cạnh bờ đập chặn con rạch thuộc xã Tân Đức, Cà Mau. Sở này có hai bộ phận chính: văn phòng và đội chèo xuồng. Đội chèo xuồng phần lớn là công nhân ở các đồn điền cao su bỏ việc theo cách mạng lúc sở này còn đóng ở miền Đông Nam bộ. Một số khác là lao động nghèo. Anh em này có người xăm mình, hay văng tục, một vài người đang học vỡ lòng để thoát nạn mù chữ. Cả cơ quan làm việc, ăn, ngủ trong một ngôi nhà lá rộng lớn. Trực tiếp điều hành cơ quan hằng ngày là ông Quỳ chánh văn phòng, kiêm bí thư chi bộ. Ông giám đốc Nguyễn Văn Thức và ông phó giám đốc Nguyễn Đức Trọng (thường gọi là bác Ba Quýt) ở hai nhà riêng gần đó, thỉnh thoảng mới tới cơ quan. Hằng ngày ông chánh văn phòng phải đến nhà giám đốc báo cáo và nhận chỉ thị. Tôi làm nhân viên của phòng tổng phát hành do anh Nguyễn Văn Dũng phụ trách. Công việc là phát hành công văn tài liệu gửi về các cơ quan đảng, chính, dân, quân ở cấp Nam bộ. Các cơ quan này đều mang những bí danh mà tôi phải nhớ và giữ bí mật. Ví dụ, Trung ương Cục miền Nam có những bí danh như: Bộ đội độc lập số 61, Ban sinh sản số 36, Ban tự túc số 5. Cơ quan công an có bí danh Cụ Mai (tức là Mai Chí Thọ phó giám đốc, bí thư đảng ủy). Đạo Cao Đài 12 phái hiệp nhứt có bí danh là Cụ Cao, là ông Cao Triều Phát, cố vấn đặc biệt của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Hồi đó, giáo chủ đạo Hòa Hảo ông Huỳnh Phú Sổ cũng là cố vấn đặc biệt của Ủy ban Kháng chiến Hành Chánh Nam bộ. Tôi được nghe kể: Trên đường trốn về thành, ông giáo chủ bị bộ đội đuổi theo bắt được. Họ giết ông và chặt ra nhiều mảnh chôn ở nhiều nơi, để không thể sống lại được. Hằng ngày, Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ nhận được công văn, tài liệu, sách báo khắp cả nước gửi tới, đặc biệt là các cơ quan Trung ương ở Việt Bắc. Đồng thời từ đây cũng gửi công văn tài liệu và thư từ đi khắp cả nước. Tôi đã được đọc “Truyện và ký sự của Trần Đăng”, Ký sự Cao Lạng” của Nguyễn Huy Tưởng, thơ Tố Hữu… từ những gói bưu điện bị bục vỡ, phải đóng gói lại. Từ Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ có thể nhìn bao quát toàn hệ thống tổ chức kháng chiến Nam Bộ và cả nước dưới sự lãnh đạo toàn trị, tuyệt đối của Đảng Cộng sản. Vào đây từ đầu tháng, đến cuối tháng, trong cuộc họp cơ quan tôi mới có dịp nhìn thấy ông giám đốc. Ông có bộ mặt vênh vênh, đôi mắt gườm gườm, bên hông xề xệ cây súng sáu. Sau đó ít lâu, có cơ quan phản ánh bác Hùng, một liên lạc viên ở bộ phận chèo xuồng, đưa thơ hỏa tốc chậm trễ. Ông giám đốc gọi bác Hùng lên hỏi, rồi chửi đ. m. và bạt tay đá đít ông này trước mặt mọi người. Bác Hùng là công nhân cao su Phú Riềng, vào sở này từ lúc ở chiến khu D, miền Đông Nam bộ. Bác Hùng cao lớn, bên vai có xăm hình con hổ, tỏ ra là trang hảo hớn một thời. Dù vậy bác không dám chống trả ông Thức, không rõ vì nể người đại diện của Cách mạng, hay chỉ vì nể khẩu súng sáu xề xệ bên hông! Cơ quan có chi bộ đảng là “tổ chức lãnh đạo tập thể”, có tổ chức công đoàn mang chức năng bảo vệ quyền lợi công dân viên, có chi đoàn thanh niên cứu quốc giữ vai trò “đội hậu bị của Đảng”. Nhưng không có người nào, tổ chức nào kể cả chi bộ dám phản ứng những hành vi bạo hành của ông giám đốc. Các anh chị lớn, từng nhóm xì xầm, bọn nhỏ chúng tôi cà rà hóng chuyện. Họ nói nhiều về các nữ nhân viên có chút nhan sắc dù đã có chồng cùng công tác tại đây cũng phải “chiều” ông giám đốc. Các ông chồng phải giả đùi, giả điếc. Giữa lúc đó, cha tôi từ Bến Tre tản cư vào tìm thăm. Ông giám đốc có mặt đá vồn vã chào hỏi và trò chuyện với cha tôi. Sau đó ông gọi tôi đến bảo: “Công hỏi xem anh Tư có muốn công tác ở đây hay không. Nếu anh Tư muốn ở đây thì chú sẽ nhận để hai cha con được sống chung với nhau.” Tôi ngạc nhiên vì ông mau chóng có cảm tình đối với cha con tôi và không khỏi xúc động vì sự quan tâm của ông đối với cuộc sống của cha con tôi. Đang khi chưa biết làm gì để sống nơi đất lạ, nghe tôi kể lại gợi ý của ông giám đốc, cha tôi rất mừng. Tôi buộc phải nói sự thật với cha tôi, “con rất muốn được sống bên cha, chỉ có điều lo là ông giám đốc này tính tình rất dữ dằn. Con đã chứng kiến ông ta đấm đá, chửi đ.m. các chú bác lớn tuổi. Nếu một lúc nào đó ông ta giở nắm đấm với cha thì cha con mình phải đối phó sau đây?” Cha tôi ngạc nhiên và trầm ngâm: “Vậy à? Vậy thì để cha cảm ơn ổng và nói là cha đã trót nhận công việc ở một cơ quan thuộc Cà Mau.” Sau đó cha tôi vào rừng U Minh bứt dây choại đem bán cho các cơ sở sản xuất dụng cụ bắt cá. Ở văn phòng Nha phụ trách văn thư là chị Võ Thụy Ánh, con gái lớn của giáo sư Võ Văn Nhung, chăm sóc tôi như đứa em và giới thiệu tôi với gia đình. Bác Võ Văn Nhung là chủ nhiệm tạp chí Tân Trung Hoa đã đưa sách của Mao Trạch Đông cho cha tôi dịch thử, rồi nhận cha tôi vào tổ dịch sách của tạp chí này. Mấy tháng sau, ông Quỳ chánh văn phòng kiêm bí thư chi bộ của Sở Giao thông Liên lạc được ông Mai Chí Thọ, cùng quê Bắc bộ với nhau, nhận về Sở Công an. Vài tháng sau đó, ông Quỳ làm lễ cưới chị Lê Phước Thanh nhân viên văn phòng và xin cho vợ chuyển về Sở Công an. Khoảng một tháng sau khi Thanh chuyển công tác, ông Phạm Chung, chánh văn phòng Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, bí thư liên chi ủy chỉ đạo cuộc kiểm tra, kiểm điểm ông Nguyễn Văn Thức. Nhưng không ai được nghe, được biết kiếm thảo về chuyện gì, kết luận thế nào và có hình thức kỷ luật gì đối với ông Thức. Cấp trên lẵng lặng chuyển ông về Trung ương cục và đưa thiếu tá Nguyễn Văn Chánh đội trưởng Đội Thông tin Liên lạc (trực thuộc phòng tham mưu, Bộ tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam bộ) đến ngồi vào ghế giám đốc. Vài tháng sau, ông Nguyễn Văn Chánh chuyển công tác, ông Đặng Ngọc Tấn lên thay. Các chú bác ở Sở Giao thông Liên lạc cho rằng, nếu anh Quỳ và chị Thanh không chuyển công tác, sẽ không có điều kiện để yêu cầu cấp trên kiểm tra, kiểm thảo ông Thức, như vậy thì chắc chắn ông vẫn yên vị, rất có thể ông lên cao hơn, trở thành ủy viên Trung ương Bộ chính trị của Đảng! Posted on Tháng Ba 18, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/18/tu-theo-cong-den-chong-cong-12-ong-giam-doc-voi-cay-sung-sau/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13): https://www.minds.com/newsfeed/1020172811946332160?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11) Hồi ký Tống Văn Công Cuộc tranh luận về tư pháp trên báo Sự Thật Tôi gửi đơn xin tòng quân, nhưng được phân công về phòng Bình dân Học vụ, Nha Giáo dục Nam bộ, do thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị làm giám đốc. Phòng này mới thành lập do nhà giáo Nguyễn Hậu Lạc làm trưởng phòng. Đã có một vài người tới trước tôi như Ca Lê con cả của giáo sư Cao văn Thinh, Đặng Minh Trang con giáo sư Đặng Minh Trứ… Chưa có công việc gì làm, chúng tôi thường đến hai nơi: một là, văn phòng của Nha Giáo dục để gửi thư và nhận thư, hai là tới thư viện đọc sách báo. Thư viện của Nha Giáo Dục có khá nhiều sách. Ở đây tôi được đọc hai bộ sách lớn của Chủ nghĩa Cộng sản: “Lịch sử đảng Cộng sản Liên Xô” và “Những nguyên lý chủ nghĩa Lênin của Stalin”. Cũng ở đây tôi đọc quyển “Sửa đổi lề lối làm việc” của X.Y.Z. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị giới thiệu “quyển này là một tác phẩm lớn của Hồ Chủ tịch”. Quyển sách khiến tôi tha thiết mong muốn được trở thành đảng viên Cộng sản bởi câu này: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.” Trong sách này, Cụ Hồ cảnh báo cán bộ đảng viên chớ có làm “quan cách mạng, cậy quyền, cậy thế, hủ hóa, từ túi, chia rẻ, kiêu ngạo…” Bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh phê bình tự phê bình” của Cụ Hồ tôi đọc như nuốt từng lời đã góp phần cho tôi được… “ngu lâu”. Đặc biệt tại thư viện của Nha Giáo Dục, tôi được đọc về cuộc tranh luận hồi năm 1948 trên báo Sự Thật của đảng Cộng sản Đông Dương (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) và báo Độc Lập của đảng Dân Chủ “ Về vai trò của tư pháp trong nhà nước cách mạng Việt Nam”. Một bên là Quang Đạm biên tập viên của báo Sự Thật do Trường Chinh làm tổng biên tập và bên kia là luật gia Vũ Trọng Khánh nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự hỗ trợ của luật gia Vũ Đình Hòe đương kim Bộ trưởng Tư pháp. Dù rất ham đọc, tôi không hiểu bao nhiêu. Tuy nhiên vấn đề gai góc đó bộ tôi tiếp tục tìm hiểu mãi. Còn hồi đó khi biết Cụ Hồ có quan điểm giống như Quang Đạm thì tôi ngờ rằng Vũ Trọng Khánh đã bị lý thuyết của bọn thực dân Phương Tây đầu độc! Quang Đạm viết “Tư pháp với Nhà nước” trên số báo 91 ngày 15/4/1948, sau đó bài “Tính chất chuyên môn trong tư pháp” trên số báo 93 ra ngày 15/5/1948. Ông cho rằng: trong xã hội có giai cấp không có gì nằm trên cuộc đấu tranh giai cấp. Tư pháp là một bộ phận của nhà nước được phân công vận hành để cùng với chính quyền phục vụ lợi ích giai cấp. Độc lập tư pháp, tam quyền phân lập chỉ là huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của chế độ tư bản. Ở nước ta trước đây, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng tòa án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho nhân dân ta. Ông kêu gọi tư pháp không nên “độc lập” mà nên “kết hợp” với chính quyền và phối hợp với tập quyền. Tức là tư pháp phụ trách về chuyên môn, nhưng chịu sự lãnh đạo chung. (Hồi đó chưa nói là chịu sự lãnh đạo của Đảng.) Ông cho rằng tư pháp độc lập dễ trở thành đối lập. Vũ Trọng Khánh, nhân danh một số anh em có trách nhiệm về tư pháp trả lời Quang Đạm. Ông cho rằng luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Luật không chỉ là công cụ của giai cấp thống trị mà còn là công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ có quyền lực. Ông đặt câu hỏi cho Quang Đạm: “Khi điều712 Dân Luật bắt kẻ nào làm thiệt hại đến người khác thì phải bồi thường chongười ấy, và bộ Hình Luật làm tội những kẻ đánh nhau hay giết người không vì cớ chính trị thì đó là bảo vệ ai và đàn áp giai cấp nào?” Trả lời Quang Đạm về “trạng thái độc lập tư pháp sẽ chuyển thành đối lập”, ông Vũ Trọng Khánh viết: “Khi một người nào đó ra lệnh cho tòa án phải xử thế này thế khác mà tòa án không nghe theo thì chúng tôi cho rằng đây là giũ quyền độc lập. Nếu ông Quang Đạm cho như thế là đối lập thì tôi muốn hỏi ông, khi các thẩm phần can thiệp vào hành chính hay chính trị thì các ủy ban hành chính sẽ cư xử thế nào để cho khỏi thành ra ‘đối lập’?” Ông Quang Đạm khuyên rằng: ‘Tư pháp phải kết hợp với nhà nước màđối lập với các lực lượngphá hoại chính quyền. Không một bộ phận nào được tách mình ra khỏi khối đoàn kết.’ Đáp lại những lời kỳ quặc ấy, tôi chỉ hỏi: Các thẩm phán đứng trong hàng ngũ kháng chiến từ trước tới nay thì gọi là ở trong hay ở ngoài khối đoàn kết? Khi tư pháp trừng trị kẻ bắt người trái phép, tha bổng cho những kẻ bị bắt vô chứng cứ thì đó là phá hoại chính quyền hay củng cố chính quyền?’” Ông Vũ Đình Hòe kế nhiệm ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã viết bài “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới” (báo Độc Lập 7/1948) cho rằng, nước ta từ thời cổ đại cho tới thời thuộc địa chưa bao giờ có nền tư pháp độc lập. Chính Cách mạng Tháng Tám, có Hiến Pháp 1946, nhân dân ta mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Ông nhắc rằng tam quyền phân lập, tư pháp độc lập đang là thể chế hiện tồn của nhà nước cách mạng chúng ta. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc hồi 2/1948 tức là hai tháng trước khi xảy ra cuộc tranh luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính.” Như vậy là từ năm 1948, Cụ Hồ đã dứt khoát đặt “đoàn kết, hợp tác” lên trên “độc lập, tư pháp”! Hai năm sau, trong thư gửi hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp (từ ngày 2 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm1950) đề cải cách tư pháp phục vụ tình hình mới, Cụ Hồ viết hoàn toàn giống những điều Quang Đạm đã viết trong cuộc tranh luận hồi năm 1948: “Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp không phải ý chí chung của nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để trừng trị áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân. Tư bản đặt ra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động. Luật pháp của ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Một điều nữa các chú cần nhớ là giai cấp thống trị sử dụng luật pháp kết hợp với những cái khác. Luật pháp của các giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột. Nếu nó đứng một mình thì bộ mặt áp bức của nó lộ rõ quá. Cho nên giai cấp phong kiến cho nó dựa vào cái khác. Cái ấy là cái gì? – phong kiến cho luật pháp dựa vào đạo đức của nó. Đạo đức phong kiến chủ yếu là cương thường: tôn vua, kính thầy, yêu cha…” Mặc dù luật gia Vũ Đình Hòe vẫn làm Bộ trưởng Tư pháp, nhưng cuộc học tập rất quan trọng nói trên là do ông Trần Công Tường, Thứ trưởng, bí thư Đảng đoàn Đảng Cộng sản trực tiếp lãnh đạo! Đến năm 1960 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xóa bỏ Bộ Tư pháp và các trường luật. Từ đây, công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sống trong thể chế Đảng công khai đứng trên pháp luật. Ông Vũ Đình Hòe khôn ngoan đã lùi dần để sinh tồn, đến cuối đời ông viết quyển sách có tựa đề pháp quyền dân nghĩa Hồ Chí Minh đề ra năm yếu tố: 1 – yếu tố pháp quyền dân tộc và ảnh hưởng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ; 2 – yếu tố pháp quyền quân chủ lập hiến của Vương quốc Anh qua các cuộc cách mạng dân chủ; 3 – yếu tố pháp quyền của cách mạng Pháp dưới lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái; 4 – yếu tố pháp quyền công nông của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; 5 – yếu tố pháp quyền dân tộc dân chủ của cách mạng Trung Hoa trải qua hai lần Quốc Công hợp tác. Bị tha hóa tệ hại, Vũ Đình Hòe nhìn chế độ toàn trị là chế độ pháp quyền nhân nghĩa và tìm cho nó năm yếu tố hết sức oái oăm! Ông Vũ Trọng Khánh là người dũng cảm bảo vệ những điều mình tin là đúng, ông đã bị dìm năm này sang năm khác, từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp xuống Chưởng lý Tòa Thượng thẩm, Giám đốc Tư pháp liên khu 10, Trưởng ban nghiên cứu pháp lý, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, rồi Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, cuối cùng là chuyên viên trong một phòng thuộc cấp sở, của thành phố Hải Phòng. Không chấp nhận tư pháp độc lập, quyết liệt chống nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Quang Đàm cho đến đại hội 12 của đảng Cộng sản năm 2016 là nhằm bảo vệ Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên Hiến Pháp và luật pháp. Posted on Tháng Ba 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-11-cuoc-tranh-luan-ve-tu-phap-tren-bao-su-that/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12): https://www.minds.com/newsfeed/1020171621487583232?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10) Hồi ký Tống Văn Công Nghe ông Lê Đức Thọ thuyết giáo Cuối năm 1950, trường trung học Huỳnh Phan Hộ (trường tôi học) đăng cai cuộc họp học sinh của ba trường trung học kháng chiến (Huỳnh Phan Hộ, Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Tố) để nghe huấn thị của đại diện Trung ương Cục miền Nam. Dù ba trường này cách nhau hàng chục cây số đường sông, nhưng 7 giờ sáng tất cả đã có mặt đầy đủ ở hội trường trung học Huỳnh Phan Hộ. Ông Nguyễn Thượng Tư hiệu trưởng trường Huỳnh Phan Hộ thông báo, hôm nay chúng ta được vinh dự nghe bác Sáu Lê Đức Thọ, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam nói về tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ mới. Từ lâu, bọn học trò chúng tôi truyền miệng chuyện tình của bác Sáu Lê Đức Thọ. Ông tên thật là Phan Đình Khải, lúc ở ngoài Bắc đã có vợ là cán bộ, đảng viên, sinh một con trai tên Phan Đình Dũng. Ông là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm trưởng đoàn cán bộ từ Việt Bắc vào tăng cường cho Trung ương Cục miền Nam. Đoàn lên đường tháng 6/1948 đến Cà Mau tháng 6/1949. Năm 1950, một lần đến thăm trường trung học Nguyễn Văn Tố, nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng bị cô nữ sinh tên Th. hớp hồn; từ đó ông thường xuyên tìm cớ đến thăm nhà trường để gặp nàng. Rủi cho ông, cô Th. đã có người yêu là một bạn học đẹp trai học giỏi tên L. Thấy bác Sáu đầy quyền lực tấp cập tiến công, L. sợ bị thua cuộc, bèn tìm gặp, nói thẳng: “Thưa bác Sáu, Th. là người yêu của cháu, mong bác thông cảm.” Bác Sáu buộc phải “thông cảm”, nhưng cô Th. bất bình hỏi L.: “Anh làm như vậy là rất hèn và đã xúc phạm tôi. Anh nói với ông Sáu là vì anh e rằng trước một người có quyền thế như ông, tôi không thể đứng vững? Như vậy là chúng ta nhầm nhau rồi!” Anh chàng đẹp trai học giỏi L. đã cạo trọc đầu để mong nàng tha thứ, nhưng kết quả chỉ thêm một nét hài cho cuộc tình tay ba dang dở. Không lâu sau, Lê Đức Thọ phó bí thư Trung ương Cục miền Nam Đảng Cộng sản lấy bà Lê Thị Chiếu con một gia đình đại địa chủ ở tỉnh Cần Thơ. Sau lời giới thiệu trịnh trọng của hiệu trưởng Nguyễn Thượng Tư, Ông Lê Đức Thọ da xanh nhợt, răng hơi hô, mặc bộ bà ba xám tro, bước lên bục tươi cười: “Hôm nay bác nói với các cháu về chiến tranh Triều Tiên và cuộc kháng chiến của chúng ta chuyển sang giai đoạn cực chuẩn bị tổng phản công.” Về cuộc chiến tranh Triều Tiên, chúng tôi đã được biết qua thông tin thời sự trên các báo kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh ĐX. có bài “Mỹ là xấu” mở đầu như sau: “Mỹ nữ là gái đẹp. Mỹ đức là nét tốt. Nhưng Mỹ quốc lại là nước xấu. Xấu không chỉ vì Mỹ gây chiến tranh, vì Mỹ xâm lược Triều Tiên…” Với bút danh C.B. ông viết bài “Nhất trên thế giới” lên án Mỹ “tội ác xâm phạm Triều Tiên”. Các văn nghệ sĩ kháng chiến cũng viết nhiều bài với nội dung đó. Tôi thuộc lòng bài thơ của Minh Giang có tựa đề “Gửi anh bạn Triều Tiên”, mở đầu tác giả đặt câu hỏi: “Anh bạn Triều Tiên ơi, Tôi chưa hề gặp mặt, Có phải quê hương anh, Có đồng lúa xanh xanh, Có núi nhiều tuyết trắng. Tuyết bay trên cả Hán Thành. Ai gây khói lửa tuyết thành lệ ơi?” Tác giả buộc người đọc phải hiểu rằng kẻ “gây khói lửa” là phía Đại Hàn Dân Quốc, Mỹ và 15 nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Đoạn cuối bài thơ: … Hắn cướp lúa chín, Hắn bắn trâu cày, Lửa hờn cháy nám thân cây, Lều nghiên nửa mái, đường đầy khăn tang. Anh bạn Triều Tiên ơi! Máu anh và máu tôi rơi, Trên hai đất nước, một trời thù chung!” Cũng với tinh thần đó, ông Lê Đức Thọ phân tích lý lẽ về sự gắn bó giữa hai đồng minh Việt Nam Triều Tiên cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Hơn 30 năm sau, đến thời Internet, tôi mới được biết Bắc Triều Tiên là bên bất thần mở cuộc tấn công mau chóng xâm chiếm Nam Hàn, chỉ trong mấy ngày họ đến Seoul. Trước tình hình đó, Liên Hiệp Quốc quyết định cho Mỹ và 15 nước thành viên đầy lùi quân Bắc Triều Tiên trở về bên kia vĩ tuyến 38. Trung Cộng đã phải đưa hàng triệu quân do nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy làm cuộc “kháng Mỹ viện Triều”. Nhận định tình hình trong nước, Lê Đức Thọ lập lại lý thuyết trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, gồm ba giai đoạn: 1 – phòng ngự, 2 – cầm cự, 3 – tổng phản công. Sau này, tôi mới biết quyển sách của Trường Chinh sao chép từ quyển “Luận trì cứu chiến” (Bàn về đánh lâu dài) của Mao. Ông Lê Đức Thọ cho rằng từ 10/1949, Trung Cộng giải phóng lục địa đã tạo ra cục diện mới, thời cơ mới cho Việt Nam chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Ông kết luận: “Đây là cơ hội để tuổi trẻ lập công với Tổ quốc. Các em phải xếp sách vở, hăng hái tòng quân, tích cực tham gia công cuộc tổng phản công. Sau ngày chiến thắng nhà trường sẽ mở rộng cửa mời các em trở lại.” Ngay chiều hôm đó, chúng tôi, học sinh ba trường trung học kháng chiến đã nộp đơn xin đóng cửa trường, tất cả ghi tên tòng quân. Posted on Tháng Ba 15, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/15/tu-theo-cong-den-chong-cong-10-nghe-ong-le-duc-tho-thuyet-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9): https://www.minds.com/newsfeed/1020169965712932864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12) Hồi ký Tống Văn Công Ông giám đốc với cây súng sáu! Phòng bình dân học vụ vừa thành hình đã phải giải thể vì Trung ương Cục miền Nam chỉ thị rằng nó không thích hợp. Tôi nằm trong số bảy nhân viên được điều về Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ do ông Nguyễn Văn Thức làm giám đốc. Ông Thức là anh hai (miền Bắc gọi là anh cả) của bà Bảy Vân (Nguyễn Thị Vân) vợ hai của Bí thư Trung ương cục Lê Duẩn. Khi tôi làm tổng biên tập báo Lao Động, bà Bảy Vân làm phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng. Quen nhau trong các cuộc họp, tôi nói mình từng là “lính của anh Hai Thức”. Bà Bảy Vân ngạc nhiên “Ồ, hồi đó chắc anh là ‘nhóc con’ à?” Những cán bộ cùng lứa với ông giám đốc gọi ông là “Cò Thức”, vì sau tháng 8 năm 1945, ông công tác tại Quốc gia Tự vệ cục, một tổ chức công an của Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ do Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Khi tôi đến, Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ bí danh là Trạm 23 đang đóng ở cạnh bờ đập chặn con rạch thuộc xã Tân Đức, Cà Mau. Sở này có hai bộ phận chính: văn phòng và đội chèo xuồng. Đội chèo xuồng phần lớn là công nhân ở các đồn điền cao su bỏ việc theo cách mạng lúc sở này còn đóng ở miền Đông Nam bộ. Một số khác là lao động nghèo. Anh em này có người xăm mình, hay văng tục, một vài người đang học vỡ lòng để thoát nạn mù chữ. Cả cơ quan làm việc, ăn, ngủ trong một ngôi nhà lá rộng lớn. Trực tiếp điều hành cơ quan hằng ngày là ông Quỳ chánh văn phòng, kiêm bí thư chi bộ. Ông giám đốc Nguyễn Văn Thức và ông phó giám đốc Nguyễn Đức Trọng (thường gọi là bác Ba Quýt) ở hai nhà riêng gần đó, thỉnh thoảng mới tới cơ quan. Hằng ngày ông chánh văn phòng phải đến nhà giám đốc báo cáo và nhận chỉ thị. Tôi làm nhân viên của phòng tổng phát hành do anh Nguyễn Văn Dũng phụ trách. Công việc là phát hành công văn tài liệu gửi về các cơ quan đảng, chính, dân, quân ở cấp Nam bộ. Các cơ quan này đều mang những bí danh mà tôi phải nhớ và giữ bí mật. Ví dụ, Trung ương Cục miền Nam có những bí danh như: Bộ đội độc lập số 61, Ban sinh sản số 36, Ban tự túc số 5. Cơ quan công an có bí danh Cụ Mai (tức là Mai Chí Thọ phó giám đốc, bí thư đảng ủy). Đạo Cao Đài 12 phái hiệp nhứt có bí danh là Cụ Cao, là ông Cao Triều Phát, cố vấn đặc biệt của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Hồi đó, giáo chủ đạo Hòa Hảo ông Huỳnh Phú Sổ cũng là cố vấn đặc biệt của Ủy ban Kháng chiến Hành Chánh Nam bộ. Tôi được nghe kể: Trên đường trốn về thành, ông giáo chủ bị bộ đội đuổi theo bắt được. Họ giết ông và chặt ra nhiều mảnh chôn ở nhiều nơi, để không thể sống lại được. Hằng ngày, Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ nhận được công văn, tài liệu, sách báo khắp cả nước gửi tới, đặc biệt là các cơ quan Trung ương ở Việt Bắc. Đồng thời từ đây cũng gửi công văn tài liệu và thư từ đi khắp cả nước. Tôi đã được đọc “Truyện và ký sự của Trần Đăng”, Ký sự Cao Lạng” của Nguyễn Huy Tưởng, thơ Tố Hữu… từ những gói bưu điện bị bục vỡ, phải đóng gói lại. Từ Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ có thể nhìn bao quát toàn hệ thống tổ chức kháng chiến Nam Bộ và cả nước dưới sự lãnh đạo toàn trị, tuyệt đối của Đảng Cộng sản. Vào đây từ đầu tháng, đến cuối tháng, trong cuộc họp cơ quan tôi mới có dịp nhìn thấy ông giám đốc. Ông có bộ mặt vênh vênh, đôi mắt gườm gườm, bên hông xề xệ cây súng sáu. Sau đó ít lâu, có cơ quan phản ánh bác Hùng, một liên lạc viên ở bộ phận chèo xuồng, đưa thơ hỏa tốc chậm trễ. Ông giám đốc gọi bác Hùng lên hỏi, rồi chửi đ. m. và bạt tay đá đít ông này trước mặt mọi người. Bác Hùng là công nhân cao su Phú Riềng, vào sở này từ lúc ở chiến khu D, miền Đông Nam bộ. Bác Hùng cao lớn, bên vai có xăm hình con hổ, tỏ ra là trang hảo hớn một thời. Dù vậy bác không dám chống trả ông Thức, không rõ vì nể người đại diện của Cách mạng, hay chỉ vì nể khẩu súng sáu xề xệ bên hông! Cơ quan có chi bộ đảng là “tổ chức lãnh đạo tập thể”, có tổ chức công đoàn mang chức năng bảo vệ quyền lợi công dân viên, có chi đoàn thanh niên cứu quốc giữ vai trò “đội hậu bị của Đảng”. Nhưng không có người nào, tổ chức nào kể cả chi bộ dám phản ứng những hành vi bạo hành của ông giám đốc. Các anh chị lớn, từng nhóm xì xầm, bọn nhỏ chúng tôi cà rà hóng chuyện. Họ nói nhiều về các nữ nhân viên có chút nhan sắc dù đã có chồng cùng công tác tại đây cũng phải “chiều” ông giám đốc. Các ông chồng phải giả đùi, giả điếc. Giữa lúc đó, cha tôi từ Bến Tre tản cư vào tìm thăm. Ông giám đốc có mặt đá vồn vã chào hỏi và trò chuyện với cha tôi. Sau đó ông gọi tôi đến bảo: “Công hỏi xem anh Tư có muốn công tác ở đây hay không. Nếu anh Tư muốn ở đây thì chú sẽ nhận để hai cha con được sống chung với nhau.” Tôi ngạc nhiên vì ông mau chóng có cảm tình đối với cha con tôi và không khỏi xúc động vì sự quan tâm của ông đối với cuộc sống của cha con tôi. Đang khi chưa biết làm gì để sống nơi đất lạ, nghe tôi kể lại gợi ý của ông giám đốc, cha tôi rất mừng. Tôi buộc phải nói sự thật với cha tôi, “con rất muốn được sống bên cha, chỉ có điều lo là ông giám đốc này tính tình rất dữ dằn. Con đã chứng kiến ông ta đấm đá, chửi đ.m. các chú bác lớn tuổi. Nếu một lúc nào đó ông ta giở nắm đấm với cha thì cha con mình phải đối phó sau đây?” Cha tôi ngạc nhiên và trầm ngâm: “Vậy à? Vậy thì để cha cảm ơn ổng và nói là cha đã trót nhận công việc ở một cơ quan thuộc Cà Mau.” Sau đó cha tôi vào rừng U Minh bứt dây choại đem bán cho các cơ sở sản xuất dụng cụ bắt cá. Ở văn phòng Nha phụ trách văn thư là chị Võ Thụy Ánh, con gái lớn của giáo sư Võ Văn Nhung, chăm sóc tôi như đứa em và giới thiệu tôi với gia đình. Bác Võ Văn Nhung là chủ nhiệm tạp chí Tân Trung Hoa đã đưa sách của Mao Trạch Đông cho cha tôi dịch thử, rồi nhận cha tôi vào tổ dịch sách của tạp chí này. Mấy tháng sau, ông Quỳ chánh văn phòng kiêm bí thư chi bộ của Sở Giao thông Liên lạc được ông Mai Chí Thọ, cùng quê Bắc bộ với nhau, nhận về Sở Công an. Vài tháng sau đó, ông Quỳ làm lễ cưới chị Lê Phước Thanh nhân viên văn phòng và xin cho vợ chuyển về Sở Công an. Khoảng một tháng sau khi Thanh chuyển công tác, ông Phạm Chung, chánh văn phòng Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, bí thư liên chi ủy chỉ đạo cuộc kiểm tra, kiểm điểm ông Nguyễn Văn Thức. Nhưng không ai được nghe, được biết kiếm thảo về chuyện gì, kết luận thế nào và có hình thức kỷ luật gì đối với ông Thức. Cấp trên lẵng lặng chuyển ông về Trung ương cục và đưa thiếu tá Nguyễn Văn Chánh đội trưởng Đội Thông tin Liên lạc (trực thuộc phòng tham mưu, Bộ tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam bộ) đến ngồi vào ghế giám đốc. Vài tháng sau, ông Nguyễn Văn Chánh chuyển công tác, ông Đặng Ngọc Tấn lên thay. Các chú bác ở Sở Giao thông Liên lạc cho rằng, nếu anh Quỳ và chị Thanh không chuyển công tác, sẽ không có điều kiện để yêu cầu cấp trên kiểm tra, kiểm thảo ông Thức, như vậy thì chắc chắn ông vẫn yên vị, rất có thể ông lên cao hơn, trở thành ủy viên Trung ương Bộ chính trị của Đảng! Posted on Tháng Ba 18, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/18/tu-theo-cong-den-chong-cong-12-ong-giam-doc-voi-cay-sung-sau/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13): https://www.minds.com/newsfeed/1020172811946332160?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11) Hồi ký Tống Văn Công Cuộc tranh luận về tư pháp trên báo Sự Thật Tôi gửi đơn xin tòng quân, nhưng được phân công về phòng Bình dân Học vụ, Nha Giáo dục Nam bộ, do thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị làm giám đốc. Phòng này mới thành lập do nhà giáo Nguyễn Hậu Lạc làm trưởng phòng. Đã có một vài người tới trước tôi như Ca Lê con cả của giáo sư Cao văn Thinh, Đặng Minh Trang con giáo sư Đặng Minh Trứ… Chưa có công việc gì làm, chúng tôi thường đến hai nơi: một là, văn phòng của Nha Giáo dục để gửi thư và nhận thư, hai là tới thư viện đọc sách báo. Thư viện của Nha Giáo Dục có khá nhiều sách. Ở đây tôi được đọc hai bộ sách lớn của Chủ nghĩa Cộng sản: “Lịch sử đảng Cộng sản Liên Xô” và “Những nguyên lý chủ nghĩa Lênin của Stalin”. Cũng ở đây tôi đọc quyển “Sửa đổi lề lối làm việc” của X.Y.Z. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị giới thiệu “quyển này là một tác phẩm lớn của Hồ Chủ tịch”. Quyển sách khiến tôi tha thiết mong muốn được trở thành đảng viên Cộng sản bởi câu này: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.” Trong sách này, Cụ Hồ cảnh báo cán bộ đảng viên chớ có làm “quan cách mạng, cậy quyền, cậy thế, hủ hóa, từ túi, chia rẻ, kiêu ngạo…” Bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh phê bình tự phê bình” của Cụ Hồ tôi đọc như nuốt từng lời đã góp phần cho tôi được… “ngu lâu”. Đặc biệt tại thư viện của Nha Giáo Dục, tôi được đọc về cuộc tranh luận hồi năm 1948 trên báo Sự Thật của đảng Cộng sản Đông Dương (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) và báo Độc Lập của đảng Dân Chủ “ Về vai trò của tư pháp trong nhà nước cách mạng Việt Nam”. Một bên là Quang Đạm biên tập viên của báo Sự Thật do Trường Chinh làm tổng biên tập và bên kia là luật gia Vũ Trọng Khánh nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự hỗ trợ của luật gia Vũ Đình Hòe đương kim Bộ trưởng Tư pháp. Dù rất ham đọc, tôi không hiểu bao nhiêu. Tuy nhiên vấn đề gai góc đó bộ tôi tiếp tục tìm hiểu mãi. Còn hồi đó khi biết Cụ Hồ có quan điểm giống như Quang Đạm thì tôi ngờ rằng Vũ Trọng Khánh đã bị lý thuyết của bọn thực dân Phương Tây đầu độc! Quang Đạm viết “Tư pháp với Nhà nước” trên số báo 91 ngày 15/4/1948, sau đó bài “Tính chất chuyên môn trong tư pháp” trên số báo 93 ra ngày 15/5/1948. Ông cho rằng: trong xã hội có giai cấp không có gì nằm trên cuộc đấu tranh giai cấp. Tư pháp là một bộ phận của nhà nước được phân công vận hành để cùng với chính quyền phục vụ lợi ích giai cấp. Độc lập tư pháp, tam quyền phân lập chỉ là huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của chế độ tư bản. Ở nước ta trước đây, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng tòa án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho nhân dân ta. Ông kêu gọi tư pháp không nên “độc lập” mà nên “kết hợp” với chính quyền và phối hợp với tập quyền. Tức là tư pháp phụ trách về chuyên môn, nhưng chịu sự lãnh đạo chung. (Hồi đó chưa nói là chịu sự lãnh đạo của Đảng.) Ông cho rằng tư pháp độc lập dễ trở thành đối lập. Vũ Trọng Khánh, nhân danh một số anh em có trách nhiệm về tư pháp trả lời Quang Đạm. Ông cho rằng luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Luật không chỉ là công cụ của giai cấp thống trị mà còn là công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ có quyền lực. Ông đặt câu hỏi cho Quang Đạm: “Khi điều712 Dân Luật bắt kẻ nào làm thiệt hại đến người khác thì phải bồi thường chongười ấy, và bộ Hình Luật làm tội những kẻ đánh nhau hay giết người không vì cớ chính trị thì đó là bảo vệ ai và đàn áp giai cấp nào?” Trả lời Quang Đạm về “trạng thái độc lập tư pháp sẽ chuyển thành đối lập”, ông Vũ Trọng Khánh viết: “Khi một người nào đó ra lệnh cho tòa án phải xử thế này thế khác mà tòa án không nghe theo thì chúng tôi cho rằng đây là giũ quyền độc lập. Nếu ông Quang Đạm cho như thế là đối lập thì tôi muốn hỏi ông, khi các thẩm phần can thiệp vào hành chính hay chính trị thì các ủy ban hành chính sẽ cư xử thế nào để cho khỏi thành ra ‘đối lập’?” Ông Quang Đạm khuyên rằng: ‘Tư pháp phải kết hợp với nhà nước màđối lập với các lực lượngphá hoại chính quyền. Không một bộ phận nào được tách mình ra khỏi khối đoàn kết.’ Đáp lại những lời kỳ quặc ấy, tôi chỉ hỏi: Các thẩm phán đứng trong hàng ngũ kháng chiến từ trước tới nay thì gọi là ở trong hay ở ngoài khối đoàn kết? Khi tư pháp trừng trị kẻ bắt người trái phép, tha bổng cho những kẻ bị bắt vô chứng cứ thì đó là phá hoại chính quyền hay củng cố chính quyền?’” Ông Vũ Đình Hòe kế nhiệm ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã viết bài “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới” (báo Độc Lập 7/1948) cho rằng, nước ta từ thời cổ đại cho tới thời thuộc địa chưa bao giờ có nền tư pháp độc lập. Chính Cách mạng Tháng Tám, có Hiến Pháp 1946, nhân dân ta mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Ông nhắc rằng tam quyền phân lập, tư pháp độc lập đang là thể chế hiện tồn của nhà nước cách mạng chúng ta. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc hồi 2/1948 tức là hai tháng trước khi xảy ra cuộc tranh luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính.” Như vậy là từ năm 1948, Cụ Hồ đã dứt khoát đặt “đoàn kết, hợp tác” lên trên “độc lập, tư pháp”! Hai năm sau, trong thư gửi hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp (từ ngày 2 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm1950) đề cải cách tư pháp phục vụ tình hình mới, Cụ Hồ viết hoàn toàn giống những điều Quang Đạm đã viết trong cuộc tranh luận hồi năm 1948: “Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp không phải ý chí chung của nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để trừng trị áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân. Tư bản đặt ra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động. Luật pháp của ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Một điều nữa các chú cần nhớ là giai cấp thống trị sử dụng luật pháp kết hợp với những cái khác. Luật pháp của các giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột. Nếu nó đứng một mình thì bộ mặt áp bức của nó lộ rõ quá. Cho nên giai cấp phong kiến cho nó dựa vào cái khác. Cái ấy là cái gì? – phong kiến cho luật pháp dựa vào đạo đức của nó. Đạo đức phong kiến chủ yếu là cương thường: tôn vua, kính thầy, yêu cha…” Mặc dù luật gia Vũ Đình Hòe vẫn làm Bộ trưởng Tư pháp, nhưng cuộc học tập rất quan trọng nói trên là do ông Trần Công Tường, Thứ trưởng, bí thư Đảng đoàn Đảng Cộng sản trực tiếp lãnh đạo! Đến năm 1960 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xóa bỏ Bộ Tư pháp và các trường luật. Từ đây, công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sống trong thể chế Đảng công khai đứng trên pháp luật. Ông Vũ Đình Hòe khôn ngoan đã lùi dần để sinh tồn, đến cuối đời ông viết quyển sách có tựa đề pháp quyền dân nghĩa Hồ Chí Minh đề ra năm yếu tố: 1 – yếu tố pháp quyền dân tộc và ảnh hưởng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ; 2 – yếu tố pháp quyền quân chủ lập hiến của Vương quốc Anh qua các cuộc cách mạng dân chủ; 3 – yếu tố pháp quyền của cách mạng Pháp dưới lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái; 4 – yếu tố pháp quyền công nông của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; 5 – yếu tố pháp quyền dân tộc dân chủ của cách mạng Trung Hoa trải qua hai lần Quốc Công hợp tác. Bị tha hóa tệ hại, Vũ Đình Hòe nhìn chế độ toàn trị là chế độ pháp quyền nhân nghĩa và tìm cho nó năm yếu tố hết sức oái oăm! Ông Vũ Trọng Khánh là người dũng cảm bảo vệ những điều mình tin là đúng, ông đã bị dìm năm này sang năm khác, từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp xuống Chưởng lý Tòa Thượng thẩm, Giám đốc Tư pháp liên khu 10, Trưởng ban nghiên cứu pháp lý, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, rồi Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, cuối cùng là chuyên viên trong một phòng thuộc cấp sở, của thành phố Hải Phòng. Không chấp nhận tư pháp độc lập, quyết liệt chống nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Quang Đàm cho đến đại hội 12 của đảng Cộng sản năm 2016 là nhằm bảo vệ Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên Hiến Pháp và luật pháp. Posted on Tháng Ba 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-11-cuoc-tranh-luan-ve-tu-phap-tren-bao-su-that/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12): https://www.minds.com/newsfeed/1020171621487583232?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10) Hồi ký Tống Văn Công Nghe ông Lê Đức Thọ thuyết giáo Cuối năm 1950, trường trung học Huỳnh Phan Hộ (trường tôi học) đăng cai cuộc họp học sinh của ba trường trung học kháng chiến (Huỳnh Phan Hộ, Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Tố) để nghe huấn thị của đại diện Trung ương Cục miền Nam. Dù ba trường này cách nhau hàng chục cây số đường sông, nhưng 7 giờ sáng tất cả đã có mặt đầy đủ ở hội trường trung học Huỳnh Phan Hộ. Ông Nguyễn Thượng Tư hiệu trưởng trường Huỳnh Phan Hộ thông báo, hôm nay chúng ta được vinh dự nghe bác Sáu Lê Đức Thọ, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam nói về tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ mới. Từ lâu, bọn học trò chúng tôi truyền miệng chuyện tình của bác Sáu Lê Đức Thọ. Ông tên thật là Phan Đình Khải, lúc ở ngoài Bắc đã có vợ là cán bộ, đảng viên, sinh một con trai tên Phan Đình Dũng. Ông là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm trưởng đoàn cán bộ từ Việt Bắc vào tăng cường cho Trung ương Cục miền Nam. Đoàn lên đường tháng 6/1948 đến Cà Mau tháng 6/1949. Năm 1950, một lần đến thăm trường trung học Nguyễn Văn Tố, nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng bị cô nữ sinh tên Th. hớp hồn; từ đó ông thường xuyên tìm cớ đến thăm nhà trường để gặp nàng. Rủi cho ông, cô Th. đã có người yêu là một bạn học đẹp trai học giỏi tên L. Thấy bác Sáu đầy quyền lực tấp cập tiến công, L. sợ bị thua cuộc, bèn tìm gặp, nói thẳng: “Thưa bác Sáu, Th. là người yêu của cháu, mong bác thông cảm.” Bác Sáu buộc phải “thông cảm”, nhưng cô Th. bất bình hỏi L.: “Anh làm như vậy là rất hèn và đã xúc phạm tôi. Anh nói với ông Sáu là vì anh e rằng trước một người có quyền thế như ông, tôi không thể đứng vững? Như vậy là chúng ta nhầm nhau rồi!” Anh chàng đẹp trai học giỏi L. đã cạo trọc đầu để mong nàng tha thứ, nhưng kết quả chỉ thêm một nét hài cho cuộc tình tay ba dang dở. Không lâu sau, Lê Đức Thọ phó bí thư Trung ương Cục miền Nam Đảng Cộng sản lấy bà Lê Thị Chiếu con một gia đình đại địa chủ ở tỉnh Cần Thơ. Sau lời giới thiệu trịnh trọng của hiệu trưởng Nguyễn Thượng Tư, Ông Lê Đức Thọ da xanh nhợt, răng hơi hô, mặc bộ bà ba xám tro, bước lên bục tươi cười: “Hôm nay bác nói với các cháu về chiến tranh Triều Tiên và cuộc kháng chiến của chúng ta chuyển sang giai đoạn cực chuẩn bị tổng phản công.” Về cuộc chiến tranh Triều Tiên, chúng tôi đã được biết qua thông tin thời sự trên các báo kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh ĐX. có bài “Mỹ là xấu” mở đầu như sau: “Mỹ nữ là gái đẹp. Mỹ đức là nét tốt. Nhưng Mỹ quốc lại là nước xấu. Xấu không chỉ vì Mỹ gây chiến tranh, vì Mỹ xâm lược Triều Tiên…” Với bút danh C.B. ông viết bài “Nhất trên thế giới” lên án Mỹ “tội ác xâm phạm Triều Tiên”. Các văn nghệ sĩ kháng chiến cũng viết nhiều bài với nội dung đó. Tôi thuộc lòng bài thơ của Minh Giang có tựa đề “Gửi anh bạn Triều Tiên”, mở đầu tác giả đặt câu hỏi: “Anh bạn Triều Tiên ơi, Tôi chưa hề gặp mặt, Có phải quê hương anh, Có đồng lúa xanh xanh, Có núi nhiều tuyết trắng. Tuyết bay trên cả Hán Thành. Ai gây khói lửa tuyết thành lệ ơi?” Tác giả buộc người đọc phải hiểu rằng kẻ “gây khói lửa” là phía Đại Hàn Dân Quốc, Mỹ và 15 nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Đoạn cuối bài thơ: … Hắn cướp lúa chín, Hắn bắn trâu cày, Lửa hờn cháy nám thân cây, Lều nghiên nửa mái, đường đầy khăn tang. Anh bạn Triều Tiên ơi! Máu anh và máu tôi rơi, Trên hai đất nước, một trời thù chung!” Cũng với tinh thần đó, ông Lê Đức Thọ phân tích lý lẽ về sự gắn bó giữa hai đồng minh Việt Nam Triều Tiên cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Hơn 30 năm sau, đến thời Internet, tôi mới được biết Bắc Triều Tiên là bên bất thần mở cuộc tấn công mau chóng xâm chiếm Nam Hàn, chỉ trong mấy ngày họ đến Seoul. Trước tình hình đó, Liên Hiệp Quốc quyết định cho Mỹ và 15 nước thành viên đầy lùi quân Bắc Triều Tiên trở về bên kia vĩ tuyến 38. Trung Cộng đã phải đưa hàng triệu quân do nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy làm cuộc “kháng Mỹ viện Triều”. Nhận định tình hình trong nước, Lê Đức Thọ lập lại lý thuyết trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, gồm ba giai đoạn: 1 – phòng ngự, 2 – cầm cự, 3 – tổng phản công. Sau này, tôi mới biết quyển sách của Trường Chinh sao chép từ quyển “Luận trì cứu chiến” (Bàn về đánh lâu dài) của Mao. Ông Lê Đức Thọ cho rằng từ 10/1949, Trung Cộng giải phóng lục địa đã tạo ra cục diện mới, thời cơ mới cho Việt Nam chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Ông kết luận: “Đây là cơ hội để tuổi trẻ lập công với Tổ quốc. Các em phải xếp sách vở, hăng hái tòng quân, tích cực tham gia công cuộc tổng phản công. Sau ngày chiến thắng nhà trường sẽ mở rộng cửa mời các em trở lại.” Ngay chiều hôm đó, chúng tôi, học sinh ba trường trung học kháng chiến đã nộp đơn xin đóng cửa trường, tất cả ghi tên tòng quân. Posted on Tháng Ba 15, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/15/tu-theo-cong-den-chong-cong-10-nghe-ong-le-duc-tho-thuyet-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9): https://www.minds.com/newsfeed/1020169965712932864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·