ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12) Hồi ký Tống Văn Công Ông giám đốc với cây súng sáu! Phòng bình dân học vụ vừa thành hình đã phải giải thể vì Trung ương Cục miền Nam chỉ thị rằng nó không thích hợp. Tôi nằm trong số bảy nhân viên được điều về Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ do ông Nguyễn Văn Thức làm giám đốc. Ông Thức là anh hai (miền Bắc gọi là anh cả) của bà Bảy Vân (Nguyễn Thị Vân) vợ hai của Bí thư Trung ương cục Lê Duẩn. Khi tôi làm tổng biên tập báo Lao Động, bà Bảy Vân làm phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng. Quen nhau trong các cuộc họp, tôi nói mình từng là “lính của anh Hai Thức”. Bà Bảy Vân ngạc nhiên “Ồ, hồi đó chắc anh là ‘nhóc con’ à?” Những cán bộ cùng lứa với ông giám đốc gọi ông là “Cò Thức”, vì sau tháng 8 năm 1945, ông công tác tại Quốc gia Tự vệ cục, một tổ chức công an của Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ do Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Khi tôi đến, Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ bí danh là Trạm 23 đang đóng ở cạnh bờ đập chặn con rạch thuộc xã Tân Đức, Cà Mau. Sở này có hai bộ phận chính: văn phòng và đội chèo xuồng. Đội chèo xuồng phần lớn là công nhân ở các đồn điền cao su bỏ việc theo cách mạng lúc sở này còn đóng ở miền Đông Nam bộ. Một số khác là lao động nghèo. Anh em này có người xăm mình, hay văng tục, một vài người đang học vỡ lòng để thoát nạn mù chữ. Cả cơ quan làm việc, ăn, ngủ trong một ngôi nhà lá rộng lớn. Trực tiếp điều hành cơ quan hằng ngày là ông Quỳ chánh văn phòng, kiêm bí thư chi bộ. Ông giám đốc Nguyễn Văn Thức và ông phó giám đốc Nguyễn Đức Trọng (thường gọi là bác Ba Quýt) ở hai nhà riêng gần đó, thỉnh thoảng mới tới cơ quan. Hằng ngày ông chánh văn phòng phải đến nhà giám đốc báo cáo và nhận chỉ thị. Tôi làm nhân viên của phòng tổng phát hành do anh Nguyễn Văn Dũng phụ trách. Công việc là phát hành công văn tài liệu gửi về các cơ quan đảng, chính, dân, quân ở cấp Nam bộ. Các cơ quan này đều mang những bí danh mà tôi phải nhớ và giữ bí mật. Ví dụ, Trung ương Cục miền Nam có những bí danh như: Bộ đội độc lập số 61, Ban sinh sản số 36, Ban tự túc số 5. Cơ quan công an có bí danh Cụ Mai (tức là Mai Chí Thọ phó giám đốc, bí thư đảng ủy). Đạo Cao Đài 12 phái hiệp nhứt có bí danh là Cụ Cao, là ông Cao Triều Phát, cố vấn đặc biệt của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Hồi đó, giáo chủ đạo Hòa Hảo ông Huỳnh Phú Sổ cũng là cố vấn đặc biệt của Ủy ban Kháng chiến Hành Chánh Nam bộ. Tôi được nghe kể: Trên đường trốn về thành, ông giáo chủ bị bộ đội đuổi theo bắt được. Họ giết ông và chặt ra nhiều mảnh chôn ở nhiều nơi, để không thể sống lại được. Hằng ngày, Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ nhận được công văn, tài liệu, sách báo khắp cả nước gửi tới, đặc biệt là các cơ quan Trung ương ở Việt Bắc. Đồng thời từ đây cũng gửi công văn tài liệu và thư từ đi khắp cả nước. Tôi đã được đọc “Truyện và ký sự của Trần Đăng”, Ký sự Cao Lạng” của Nguyễn Huy Tưởng, thơ Tố Hữu… từ những gói bưu điện bị bục vỡ, phải đóng gói lại. Từ Sở Giao thông Liên lạc Nam bộ có thể nhìn bao quát toàn hệ thống tổ chức kháng chiến Nam Bộ và cả nước dưới sự lãnh đạo toàn trị, tuyệt đối của Đảng Cộng sản. Vào đây từ đầu tháng, đến cuối tháng, trong cuộc họp cơ quan tôi mới có dịp nhìn thấy ông giám đốc. Ông có bộ mặt vênh vênh, đôi mắt gườm gườm, bên hông xề xệ cây súng sáu. Sau đó ít lâu, có cơ quan phản ánh bác Hùng, một liên lạc viên ở bộ phận chèo xuồng, đưa thơ hỏa tốc chậm trễ. Ông giám đốc gọi bác Hùng lên hỏi, rồi chửi đ. m. và bạt tay đá đít ông này trước mặt mọi người. Bác Hùng là công nhân cao su Phú Riềng, vào sở này từ lúc ở chiến khu D, miền Đông Nam bộ. Bác Hùng cao lớn, bên vai có xăm hình con hổ, tỏ ra là trang hảo hớn một thời. Dù vậy bác không dám chống trả ông Thức, không rõ vì nể người đại diện của Cách mạng, hay chỉ vì nể khẩu súng sáu xề xệ bên hông! Cơ quan có chi bộ đảng là “tổ chức lãnh đạo tập thể”, có tổ chức công đoàn mang chức năng bảo vệ quyền lợi công dân viên, có chi đoàn thanh niên cứu quốc giữ vai trò “đội hậu bị của Đảng”. Nhưng không có người nào, tổ chức nào kể cả chi bộ dám phản ứng những hành vi bạo hành của ông giám đốc. Các anh chị lớn, từng nhóm xì xầm, bọn nhỏ chúng tôi cà rà hóng chuyện. Họ nói nhiều về các nữ nhân viên có chút nhan sắc dù đã có chồng cùng công tác tại đây cũng phải “chiều” ông giám đốc. Các ông chồng phải giả đùi, giả điếc. Giữa lúc đó, cha tôi từ Bến Tre tản cư vào tìm thăm. Ông giám đốc có mặt đá vồn vã chào hỏi và trò chuyện với cha tôi. Sau đó ông gọi tôi đến bảo: “Công hỏi xem anh Tư có muốn công tác ở đây hay không. Nếu anh Tư muốn ở đây thì chú sẽ nhận để hai cha con được sống chung với nhau.” Tôi ngạc nhiên vì ông mau chóng có cảm tình đối với cha con tôi và không khỏi xúc động vì sự quan tâm của ông đối với cuộc sống của cha con tôi. Đang khi chưa biết làm gì để sống nơi đất lạ, nghe tôi kể lại gợi ý của ông giám đốc, cha tôi rất mừng. Tôi buộc phải nói sự thật với cha tôi, “con rất muốn được sống bên cha, chỉ có điều lo là ông giám đốc này tính tình rất dữ dằn. Con đã chứng kiến ông ta đấm đá, chửi đ.m. các chú bác lớn tuổi. Nếu một lúc nào đó ông ta giở nắm đấm với cha thì cha con mình phải đối phó sau đây?” Cha tôi ngạc nhiên và trầm ngâm: “Vậy à? Vậy thì để cha cảm ơn ổng và nói là cha đã trót nhận công việc ở một cơ quan thuộc Cà Mau.” Sau đó cha tôi vào rừng U Minh bứt dây choại đem bán cho các cơ sở sản xuất dụng cụ bắt cá. Ở văn phòng Nha phụ trách văn thư là chị Võ Thụy Ánh, con gái lớn của giáo sư Võ Văn Nhung, chăm sóc tôi như đứa em và giới thiệu tôi với gia đình. Bác Võ Văn Nhung là chủ nhiệm tạp chí Tân Trung Hoa đã đưa sách của Mao Trạch Đông cho cha tôi dịch thử, rồi nhận cha tôi vào tổ dịch sách của tạp chí này. Mấy tháng sau, ông Quỳ chánh văn phòng kiêm bí thư chi bộ của Sở Giao thông Liên lạc được ông Mai Chí Thọ, cùng quê Bắc bộ với nhau, nhận về Sở Công an. Vài tháng sau đó, ông Quỳ làm lễ cưới chị Lê Phước Thanh nhân viên văn phòng và xin cho vợ chuyển về Sở Công an. Khoảng một tháng sau khi Thanh chuyển công tác, ông Phạm Chung, chánh văn phòng Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ, bí thư liên chi ủy chỉ đạo cuộc kiểm tra, kiểm điểm ông Nguyễn Văn Thức. Nhưng không ai được nghe, được biết kiếm thảo về chuyện gì, kết luận thế nào và có hình thức kỷ luật gì đối với ông Thức. Cấp trên lẵng lặng chuyển ông về Trung ương cục và đưa thiếu tá Nguyễn Văn Chánh đội trưởng Đội Thông tin Liên lạc (trực thuộc phòng tham mưu, Bộ tư lệnh Phân Liên khu miền Tây Nam bộ) đến ngồi vào ghế giám đốc. Vài tháng sau, ông Nguyễn Văn Chánh chuyển công tác, ông Đặng Ngọc Tấn lên thay. Các chú bác ở Sở Giao thông Liên lạc cho rằng, nếu anh Quỳ và chị Thanh không chuyển công tác, sẽ không có điều kiện để yêu cầu cấp trên kiểm tra, kiểm thảo ông Thức, như vậy thì chắc chắn ông vẫn yên vị, rất có thể ông lên cao hơn, trở thành ủy viên Trung ương Bộ chính trị của Đảng! Posted on Tháng Ba 18, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/18/tu-theo-cong-den-chong-cong-12-ong-giam-doc-voi-cay-sung-sau/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (13): https://www.minds.com/newsfeed/1020172811946332160?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11) Hồi ký Tống Văn Công Cuộc tranh luận về tư pháp trên báo Sự Thật Tôi gửi đơn xin tòng quân, nhưng được phân công về phòng Bình dân Học vụ, Nha Giáo dục Nam bộ, do thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị làm giám đốc. Phòng này mới thành lập do nhà giáo Nguyễn Hậu Lạc làm trưởng phòng. Đã có một vài người tới trước tôi như Ca Lê con cả của giáo sư Cao văn Thinh, Đặng Minh Trang con giáo sư Đặng Minh Trứ… Chưa có công việc gì làm, chúng tôi thường đến hai nơi: một là, văn phòng của Nha Giáo dục để gửi thư và nhận thư, hai là tới thư viện đọc sách báo. Thư viện của Nha Giáo Dục có khá nhiều sách. Ở đây tôi được đọc hai bộ sách lớn của Chủ nghĩa Cộng sản: “Lịch sử đảng Cộng sản Liên Xô” và “Những nguyên lý chủ nghĩa Lênin của Stalin”. Cũng ở đây tôi đọc quyển “Sửa đổi lề lối làm việc” của X.Y.Z. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị giới thiệu “quyển này là một tác phẩm lớn của Hồ Chủ tịch”. Quyển sách khiến tôi tha thiết mong muốn được trở thành đảng viên Cộng sản bởi câu này: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.” Trong sách này, Cụ Hồ cảnh báo cán bộ đảng viên chớ có làm “quan cách mạng, cậy quyền, cậy thế, hủ hóa, từ túi, chia rẻ, kiêu ngạo…” Bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh phê bình tự phê bình” của Cụ Hồ tôi đọc như nuốt từng lời đã góp phần cho tôi được… “ngu lâu”. Đặc biệt tại thư viện của Nha Giáo Dục, tôi được đọc về cuộc tranh luận hồi năm 1948 trên báo Sự Thật của đảng Cộng sản Đông Dương (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) và báo Độc Lập của đảng Dân Chủ “ Về vai trò của tư pháp trong nhà nước cách mạng Việt Nam”. Một bên là Quang Đạm biên tập viên của báo Sự Thật do Trường Chinh làm tổng biên tập và bên kia là luật gia Vũ Trọng Khánh nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự hỗ trợ của luật gia Vũ Đình Hòe đương kim Bộ trưởng Tư pháp. Dù rất ham đọc, tôi không hiểu bao nhiêu. Tuy nhiên vấn đề gai góc đó bộ tôi tiếp tục tìm hiểu mãi. Còn hồi đó khi biết Cụ Hồ có quan điểm giống như Quang Đạm thì tôi ngờ rằng Vũ Trọng Khánh đã bị lý thuyết của bọn thực dân Phương Tây đầu độc! Quang Đạm viết “Tư pháp với Nhà nước” trên số báo 91 ngày 15/4/1948, sau đó bài “Tính chất chuyên môn trong tư pháp” trên số báo 93 ra ngày 15/5/1948. Ông cho rằng: trong xã hội có giai cấp không có gì nằm trên cuộc đấu tranh giai cấp. Tư pháp là một bộ phận của nhà nước được phân công vận hành để cùng với chính quyền phục vụ lợi ích giai cấp. Độc lập tư pháp, tam quyền phân lập chỉ là huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của chế độ tư bản. Ở nước ta trước đây, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng tòa án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho nhân dân ta. Ông kêu gọi tư pháp không nên “độc lập” mà nên “kết hợp” với chính quyền và phối hợp với tập quyền. Tức là tư pháp phụ trách về chuyên môn, nhưng chịu sự lãnh đạo chung. (Hồi đó chưa nói là chịu sự lãnh đạo của Đảng.) Ông cho rằng tư pháp độc lập dễ trở thành đối lập. Vũ Trọng Khánh, nhân danh một số anh em có trách nhiệm về tư pháp trả lời Quang Đạm. Ông cho rằng luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Luật không chỉ là công cụ của giai cấp thống trị mà còn là công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ có quyền lực. Ông đặt câu hỏi cho Quang Đạm: “Khi điều712 Dân Luật bắt kẻ nào làm thiệt hại đến người khác thì phải bồi thường chongười ấy, và bộ Hình Luật làm tội những kẻ đánh nhau hay giết người không vì cớ chính trị thì đó là bảo vệ ai và đàn áp giai cấp nào?” Trả lời Quang Đạm về “trạng thái độc lập tư pháp sẽ chuyển thành đối lập”, ông Vũ Trọng Khánh viết: “Khi một người nào đó ra lệnh cho tòa án phải xử thế này thế khác mà tòa án không nghe theo thì chúng tôi cho rằng đây là giũ quyền độc lập. Nếu ông Quang Đạm cho như thế là đối lập thì tôi muốn hỏi ông, khi các thẩm phần can thiệp vào hành chính hay chính trị thì các ủy ban hành chính sẽ cư xử thế nào để cho khỏi thành ra ‘đối lập’?” Ông Quang Đạm khuyên rằng: ‘Tư pháp phải kết hợp với nhà nước màđối lập với các lực lượngphá hoại chính quyền. Không một bộ phận nào được tách mình ra khỏi khối đoàn kết.’ Đáp lại những lời kỳ quặc ấy, tôi chỉ hỏi: Các thẩm phán đứng trong hàng ngũ kháng chiến từ trước tới nay thì gọi là ở trong hay ở ngoài khối đoàn kết? Khi tư pháp trừng trị kẻ bắt người trái phép, tha bổng cho những kẻ bị bắt vô chứng cứ thì đó là phá hoại chính quyền hay củng cố chính quyền?’” Ông Vũ Đình Hòe kế nhiệm ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã viết bài “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới” (báo Độc Lập 7/1948) cho rằng, nước ta từ thời cổ đại cho tới thời thuộc địa chưa bao giờ có nền tư pháp độc lập. Chính Cách mạng Tháng Tám, có Hiến Pháp 1946, nhân dân ta mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Ông nhắc rằng tam quyền phân lập, tư pháp độc lập đang là thể chế hiện tồn của nhà nước cách mạng chúng ta. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc hồi 2/1948 tức là hai tháng trước khi xảy ra cuộc tranh luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính.” Như vậy là từ năm 1948, Cụ Hồ đã dứt khoát đặt “đoàn kết, hợp tác” lên trên “độc lập, tư pháp”! Hai năm sau, trong thư gửi hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp (từ ngày 2 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm1950) đề cải cách tư pháp phục vụ tình hình mới, Cụ Hồ viết hoàn toàn giống những điều Quang Đạm đã viết trong cuộc tranh luận hồi năm 1948: “Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp không phải ý chí chung của nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để trừng trị áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân. Tư bản đặt ra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động. Luật pháp của ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Một điều nữa các chú cần nhớ là giai cấp thống trị sử dụng luật pháp kết hợp với những cái khác. Luật pháp của các giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột. Nếu nó đứng một mình thì bộ mặt áp bức của nó lộ rõ quá. Cho nên giai cấp phong kiến cho nó dựa vào cái khác. Cái ấy là cái gì? – phong kiến cho luật pháp dựa vào đạo đức của nó. Đạo đức phong kiến chủ yếu là cương thường: tôn vua, kính thầy, yêu cha…” Mặc dù luật gia Vũ Đình Hòe vẫn làm Bộ trưởng Tư pháp, nhưng cuộc học tập rất quan trọng nói trên là do ông Trần Công Tường, Thứ trưởng, bí thư Đảng đoàn Đảng Cộng sản trực tiếp lãnh đạo! Đến năm 1960 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xóa bỏ Bộ Tư pháp và các trường luật. Từ đây, công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sống trong thể chế Đảng công khai đứng trên pháp luật. Ông Vũ Đình Hòe khôn ngoan đã lùi dần để sinh tồn, đến cuối đời ông viết quyển sách có tựa đề pháp quyền dân nghĩa Hồ Chí Minh đề ra năm yếu tố: 1 – yếu tố pháp quyền dân tộc và ảnh hưởng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ; 2 – yếu tố pháp quyền quân chủ lập hiến của Vương quốc Anh qua các cuộc cách mạng dân chủ; 3 – yếu tố pháp quyền của cách mạng Pháp dưới lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái; 4 – yếu tố pháp quyền công nông của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; 5 – yếu tố pháp quyền dân tộc dân chủ của cách mạng Trung Hoa trải qua hai lần Quốc Công hợp tác. Bị tha hóa tệ hại, Vũ Đình Hòe nhìn chế độ toàn trị là chế độ pháp quyền nhân nghĩa và tìm cho nó năm yếu tố hết sức oái oăm! Ông Vũ Trọng Khánh là người dũng cảm bảo vệ những điều mình tin là đúng, ông đã bị dìm năm này sang năm khác, từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp xuống Chưởng lý Tòa Thượng thẩm, Giám đốc Tư pháp liên khu 10, Trưởng ban nghiên cứu pháp lý, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, rồi Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, cuối cùng là chuyên viên trong một phòng thuộc cấp sở, của thành phố Hải Phòng. Không chấp nhận tư pháp độc lập, quyết liệt chống nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Quang Đàm cho đến đại hội 12 của đảng Cộng sản năm 2016 là nhằm bảo vệ Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên Hiến Pháp và luật pháp. Posted on Tháng Ba 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-11-cuoc-tranh-luan-ve-tu-phap-tren-bao-su-that/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12): https://www.minds.com/newsfeed/1020171621487583232?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10) Hồi ký Tống Văn Công Nghe ông Lê Đức Thọ thuyết giáo Cuối năm 1950, trường trung học Huỳnh Phan Hộ (trường tôi học) đăng cai cuộc họp học sinh của ba trường trung học kháng chiến (Huỳnh Phan Hộ, Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Tố) để nghe huấn thị của đại diện Trung ương Cục miền Nam. Dù ba trường này cách nhau hàng chục cây số đường sông, nhưng 7 giờ sáng tất cả đã có mặt đầy đủ ở hội trường trung học Huỳnh Phan Hộ. Ông Nguyễn Thượng Tư hiệu trưởng trường Huỳnh Phan Hộ thông báo, hôm nay chúng ta được vinh dự nghe bác Sáu Lê Đức Thọ, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam nói về tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ mới. Từ lâu, bọn học trò chúng tôi truyền miệng chuyện tình của bác Sáu Lê Đức Thọ. Ông tên thật là Phan Đình Khải, lúc ở ngoài Bắc đã có vợ là cán bộ, đảng viên, sinh một con trai tên Phan Đình Dũng. Ông là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm trưởng đoàn cán bộ từ Việt Bắc vào tăng cường cho Trung ương Cục miền Nam. Đoàn lên đường tháng 6/1948 đến Cà Mau tháng 6/1949. Năm 1950, một lần đến thăm trường trung học Nguyễn Văn Tố, nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng bị cô nữ sinh tên Th. hớp hồn; từ đó ông thường xuyên tìm cớ đến thăm nhà trường để gặp nàng. Rủi cho ông, cô Th. đã có người yêu là một bạn học đẹp trai học giỏi tên L. Thấy bác Sáu đầy quyền lực tấp cập tiến công, L. sợ bị thua cuộc, bèn tìm gặp, nói thẳng: “Thưa bác Sáu, Th. là người yêu của cháu, mong bác thông cảm.” Bác Sáu buộc phải “thông cảm”, nhưng cô Th. bất bình hỏi L.: “Anh làm như vậy là rất hèn và đã xúc phạm tôi. Anh nói với ông Sáu là vì anh e rằng trước một người có quyền thế như ông, tôi không thể đứng vững? Như vậy là chúng ta nhầm nhau rồi!” Anh chàng đẹp trai học giỏi L. đã cạo trọc đầu để mong nàng tha thứ, nhưng kết quả chỉ thêm một nét hài cho cuộc tình tay ba dang dở. Không lâu sau, Lê Đức Thọ phó bí thư Trung ương Cục miền Nam Đảng Cộng sản lấy bà Lê Thị Chiếu con một gia đình đại địa chủ ở tỉnh Cần Thơ. Sau lời giới thiệu trịnh trọng của hiệu trưởng Nguyễn Thượng Tư, Ông Lê Đức Thọ da xanh nhợt, răng hơi hô, mặc bộ bà ba xám tro, bước lên bục tươi cười: “Hôm nay bác nói với các cháu về chiến tranh Triều Tiên và cuộc kháng chiến của chúng ta chuyển sang giai đoạn cực chuẩn bị tổng phản công.” Về cuộc chiến tranh Triều Tiên, chúng tôi đã được biết qua thông tin thời sự trên các báo kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh ĐX. có bài “Mỹ là xấu” mở đầu như sau: “Mỹ nữ là gái đẹp. Mỹ đức là nét tốt. Nhưng Mỹ quốc lại là nước xấu. Xấu không chỉ vì Mỹ gây chiến tranh, vì Mỹ xâm lược Triều Tiên…” Với bút danh C.B. ông viết bài “Nhất trên thế giới” lên án Mỹ “tội ác xâm phạm Triều Tiên”. Các văn nghệ sĩ kháng chiến cũng viết nhiều bài với nội dung đó. Tôi thuộc lòng bài thơ của Minh Giang có tựa đề “Gửi anh bạn Triều Tiên”, mở đầu tác giả đặt câu hỏi: “Anh bạn Triều Tiên ơi, Tôi chưa hề gặp mặt, Có phải quê hương anh, Có đồng lúa xanh xanh, Có núi nhiều tuyết trắng. Tuyết bay trên cả Hán Thành. Ai gây khói lửa tuyết thành lệ ơi?” Tác giả buộc người đọc phải hiểu rằng kẻ “gây khói lửa” là phía Đại Hàn Dân Quốc, Mỹ và 15 nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Đoạn cuối bài thơ: … Hắn cướp lúa chín, Hắn bắn trâu cày, Lửa hờn cháy nám thân cây, Lều nghiên nửa mái, đường đầy khăn tang. Anh bạn Triều Tiên ơi! Máu anh và máu tôi rơi, Trên hai đất nước, một trời thù chung!” Cũng với tinh thần đó, ông Lê Đức Thọ phân tích lý lẽ về sự gắn bó giữa hai đồng minh Việt Nam Triều Tiên cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Hơn 30 năm sau, đến thời Internet, tôi mới được biết Bắc Triều Tiên là bên bất thần mở cuộc tấn công mau chóng xâm chiếm Nam Hàn, chỉ trong mấy ngày họ đến Seoul. Trước tình hình đó, Liên Hiệp Quốc quyết định cho Mỹ và 15 nước thành viên đầy lùi quân Bắc Triều Tiên trở về bên kia vĩ tuyến 38. Trung Cộng đã phải đưa hàng triệu quân do nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy làm cuộc “kháng Mỹ viện Triều”. Nhận định tình hình trong nước, Lê Đức Thọ lập lại lý thuyết trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, gồm ba giai đoạn: 1 – phòng ngự, 2 – cầm cự, 3 – tổng phản công. Sau này, tôi mới biết quyển sách của Trường Chinh sao chép từ quyển “Luận trì cứu chiến” (Bàn về đánh lâu dài) của Mao. Ông Lê Đức Thọ cho rằng từ 10/1949, Trung Cộng giải phóng lục địa đã tạo ra cục diện mới, thời cơ mới cho Việt Nam chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Ông kết luận: “Đây là cơ hội để tuổi trẻ lập công với Tổ quốc. Các em phải xếp sách vở, hăng hái tòng quân, tích cực tham gia công cuộc tổng phản công. Sau ngày chiến thắng nhà trường sẽ mở rộng cửa mời các em trở lại.” Ngay chiều hôm đó, chúng tôi, học sinh ba trường trung học kháng chiến đã nộp đơn xin đóng cửa trường, tất cả ghi tên tòng quân. Posted on Tháng Ba 15, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/15/tu-theo-cong-den-chong-cong-10-nghe-ong-le-duc-tho-thuyet-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9): https://www.minds.com/newsfeed/1020169965712932864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9) Hồi ký Tống Văn Công Bác Hai nói về đảng Cộng Sản và đảng Dân Chủ Năm 1948 ông Hồ Văn Ngôi, trưởng Ty Xã hội Bến Tre (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy) bổ nhiệm cha tôi làm ủy viên kiểm sát Ty Xã hội tỉnh Bến Tre. Lúc này ông Võ Văn Hưỡn (thời thuộc Pháp là đốc học) bạn cùng xóm và là bạn học của cha tôi đang làm Trưởng ty Giáo dục. Cha tôi xin cho tôi vào làm nhân viên của Ty. Phó Ty là bác Hai Trần Trung Trực, nhà giáo thời Tây (ba của Trần Trung Tín sau này là họa sĩ nổi tiếng); Trưởng phòng Tu thư là bác Ba Lê Văn Trương, nhà giáo thời Tây ở quận Sóc Sải. Hơn chục nhân viên ở tuổi 17, 18. Võ Hoàng Lê sau này là đại tá, bác sĩ, giám đốc Bệnh viện Quân đội 175. Lê Huỳnh Thọ sau này là phó trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản. Cả cơ quan chỉ có ba nữ là chị Năm Quyến, sau 1975 là Bà Sáu, phó giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Chị Bình sau này là mẹ của đạo diễn Việt Linh và Nguyễn Thị Định, được gọi là “Định nhỏ” để phân biệt với bà chủ tịch hội Nguyễn Thị Định (sau này là Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam). Công việc của số đông nhân viên chúng tôi là viết tài liệu giáo khoa bằng thứ mực pha đậm đặc, sau đó áp lên khuôn bột để in, rồi đóng thành tập, gửi cho các trường học cấp một trong các vùng giải phóng. Từ tháng tám 1945 đến năm 1951 Bến Tre có nhiều vùng giải phóng. Vùng rộng lớn nhứt gồm toàn bộ quận Thạnh Phú và quá nửa quận Mỏ Cày. Tôi và Định cùng tuổi, từng cùng học lớp nhứt, nay ngồi cùng bàn, thường nói với nhau đủ thứ chuyện, rồi nảy sinh tình yêu. Nói là yêu nhau, nhưng chúng tôi chưa dám trao cho nhau một nụ hôn! Một hôm, Định hỏi: “Anh có biết trong cơ quan này ai là đảng viên Cộng sản không?” Do đã từng công tác ở Hội Phụ nữ Cứu Quốc tỉnh, nên Định biết rành các tổ chức chính trị. Tôi đáp, không biết và hỏi lại, ở đây ai là đảng viên Cộng sản? Định thì thầm: “Chỉ có bác Năm trưởng ty là Cộng sản. Còn bác Hai phó ty, bác Ba trưởng phòng và anh Chấp phụ trách văn thư đều là đảng viên đảng Dân Chủ. Họ thường tuyên truyền với anh về đảng Dân Chủ mà anh không biết đó! Anh chớ có nghe họ mà xin vô đảng Dân Chủ đó nghe!” Tôi thắc mắc hỏi tại sao? Định nói: “Đảng Cộng Sản Đông Dương mới là Đảng lãnh đạo kháng chiến. Đảng Dân Chủ chỉ là một thứ cây kiểng, không có vai trò gì đâu.” Một hôm tôi tò mò hỏi bác Hai Trần Trung Trực phó Ty, có phải Bác Hai là đảng viên Đảng Dân Chủ không? Bác vui vẻ đáp: “Ừ, mày cũng biết à?” Tôi nói: “Cháu muốn biết Đảng Dân Chủ khác với Đảng Cộng Sản như thế nào? Bác Hai gõ mấy cái lên vầng trán rộng: “Chà, nói sao cho mày hiểu đây ha!” Bác thò tay vô túi áo lấy ra bao thuốc lá đặt lên đầu bàn, nói: “Coi như cái Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản đang ở trên đó. Còn chúng ta đang ở dưới này. Ai cũng muốn đi lên cái ‘thiên đàng’ đó cả. Điều khác nhau là đảng Cộng Sản gồm những người tả khuynh, họ quyết tiến lên thật nhanh, nên chọn con đường thẳng băng. Gặp núi cao? Vượt núi! Gặp sông sâu? Vượt sông! Đảng Dân Chủ của chúng tao cũng chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng gồm những trí thức ôn hòa, muốn đi chậm rãi an toàn nhứt. Núi cao? Ta tránh núi, mở đường đi vòng! Sông sâu? Ta kết bè, đóng ghe hoặc bắc cầu! Rồi thì cũng tới đó thôi. Hai thằng con tao, Trần Trung Hiếu, Trần Trung Tín đang ở bộ đội, tụi nó trẻ, máu nóng, nên đều vô đảng Cộng Sản.” Nguyễn Thị Định gợi ý và cùng tôi tìm hiểu các chức vụ lãnh đạo của tỉnh, hóa ra tất cả đều do đảng viên Cộng sản nắm. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh là ông Nguyễn Văn Diệp, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh là ông Phan Triêm, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Tỉnh đội trưởng dân quân tự vệ là Nguyễn Tấu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (trước đó ông là bí thư tỉnh ủy); Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền là ông Nguyễn Chí Hữu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến là ông Lê Hoài Đôn, ủy viên Thường vụ phụ trách Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy; Trưởng ty Xã hội là ông Hồ Văn Ngôi, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng ty Giáo dục là ông Võ Văn Hưỡn, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Chủ nhiệm báo Đoàn Kết của tỉnh là ông Trần Văn Anh, tỉnh ủy viên; tỉnh đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Cứu quốc là ông Trần Chính, tỉnh ủy viên; chủ tịch Hội Phụ nữ Cứu quốc là bà Nguyễn Thị Định, tỉnh ủy viên… Mấy tháng sau bọn trẻ chúng tôi xin thi vào trường trung học. Tôi và Lê Huỳnh Thọ trúng tuyển. Các trường trung học của kháng chiến đều đóng trong rừng U Minh. Từ Bến Tre đi bộ tới đó mất nửa tháng và tốn khá nhiều tiền. Tôi nói khó khăn này với cha tôi. Không thể ngờ, cha tôi giải quyết nhẹ như không: ông xin thôi chức kiểm sát viên của Ty Xã hội, một địa vị quan cách mạng, rồi mua mấy kílô thuốc nhuộm quần áo, mấy chục viên gạch xây bếp lò, một cái chảo đụng to, ra đứng giữa chợ Thạnh Phú, lắc cái trống kêu lung tung, kêu “Nhuộm đây! Nhuộm quần áo đây!” Hơn một tháng, cha tôi kiếm đủ số tiền cho tôi đi học. Nhưng ông bị coi là thiếu tinh thần cách mạng, phải rời Bến Tre đi vào Cà Mau, kiếm sống bằng việc bứt dây choại đem bán cho những người làm nghề bện đăng, bện đó bắt cá. Năm 1951, giặc Pháp chiếm hết các quận Mỏ Cày, Thạnh Phú, ty giáo dục phải giải thể. Nguyễn Thị Định chạy lên Sài Gòn, học trường sư phạm, ra trường làm cô giáo ở trường Bông Sao, quận 8 và lấy chồng là một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Posted on Tháng Ba 12, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/12/tu-theo-cong-den-chong-cong-9-bac-hai-noi-ve-dang-cong-san-va-dang-dan-chu/ Đọc thêm: - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (8): https://www.minds.com/newsfeed/1020169358402965504?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11) Hồi ký Tống Văn Công Cuộc tranh luận về tư pháp trên báo Sự Thật Tôi gửi đơn xin tòng quân, nhưng được phân công về phòng Bình dân Học vụ, Nha Giáo dục Nam bộ, do thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị làm giám đốc. Phòng này mới thành lập do nhà giáo Nguyễn Hậu Lạc làm trưởng phòng. Đã có một vài người tới trước tôi như Ca Lê con cả của giáo sư Cao văn Thinh, Đặng Minh Trang con giáo sư Đặng Minh Trứ… Chưa có công việc gì làm, chúng tôi thường đến hai nơi: một là, văn phòng của Nha Giáo dục để gửi thư và nhận thư, hai là tới thư viện đọc sách báo. Thư viện của Nha Giáo Dục có khá nhiều sách. Ở đây tôi được đọc hai bộ sách lớn của Chủ nghĩa Cộng sản: “Lịch sử đảng Cộng sản Liên Xô” và “Những nguyên lý chủ nghĩa Lênin của Stalin”. Cũng ở đây tôi đọc quyển “Sửa đổi lề lối làm việc” của X.Y.Z. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị giới thiệu “quyển này là một tác phẩm lớn của Hồ Chủ tịch”. Quyển sách khiến tôi tha thiết mong muốn được trở thành đảng viên Cộng sản bởi câu này: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.” Trong sách này, Cụ Hồ cảnh báo cán bộ đảng viên chớ có làm “quan cách mạng, cậy quyền, cậy thế, hủ hóa, từ túi, chia rẻ, kiêu ngạo…” Bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh phê bình tự phê bình” của Cụ Hồ tôi đọc như nuốt từng lời đã góp phần cho tôi được… “ngu lâu”. Đặc biệt tại thư viện của Nha Giáo Dục, tôi được đọc về cuộc tranh luận hồi năm 1948 trên báo Sự Thật của đảng Cộng sản Đông Dương (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) và báo Độc Lập của đảng Dân Chủ “ Về vai trò của tư pháp trong nhà nước cách mạng Việt Nam”. Một bên là Quang Đạm biên tập viên của báo Sự Thật do Trường Chinh làm tổng biên tập và bên kia là luật gia Vũ Trọng Khánh nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự hỗ trợ của luật gia Vũ Đình Hòe đương kim Bộ trưởng Tư pháp. Dù rất ham đọc, tôi không hiểu bao nhiêu. Tuy nhiên vấn đề gai góc đó bộ tôi tiếp tục tìm hiểu mãi. Còn hồi đó khi biết Cụ Hồ có quan điểm giống như Quang Đạm thì tôi ngờ rằng Vũ Trọng Khánh đã bị lý thuyết của bọn thực dân Phương Tây đầu độc! Quang Đạm viết “Tư pháp với Nhà nước” trên số báo 91 ngày 15/4/1948, sau đó bài “Tính chất chuyên môn trong tư pháp” trên số báo 93 ra ngày 15/5/1948. Ông cho rằng: trong xã hội có giai cấp không có gì nằm trên cuộc đấu tranh giai cấp. Tư pháp là một bộ phận của nhà nước được phân công vận hành để cùng với chính quyền phục vụ lợi ích giai cấp. Độc lập tư pháp, tam quyền phân lập chỉ là huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của chế độ tư bản. Ở nước ta trước đây, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng tòa án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho nhân dân ta. Ông kêu gọi tư pháp không nên “độc lập” mà nên “kết hợp” với chính quyền và phối hợp với tập quyền. Tức là tư pháp phụ trách về chuyên môn, nhưng chịu sự lãnh đạo chung. (Hồi đó chưa nói là chịu sự lãnh đạo của Đảng.) Ông cho rằng tư pháp độc lập dễ trở thành đối lập. Vũ Trọng Khánh, nhân danh một số anh em có trách nhiệm về tư pháp trả lời Quang Đạm. Ông cho rằng luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Luật không chỉ là công cụ của giai cấp thống trị mà còn là công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ có quyền lực. Ông đặt câu hỏi cho Quang Đạm: “Khi điều712 Dân Luật bắt kẻ nào làm thiệt hại đến người khác thì phải bồi thường chongười ấy, và bộ Hình Luật làm tội những kẻ đánh nhau hay giết người không vì cớ chính trị thì đó là bảo vệ ai và đàn áp giai cấp nào?” Trả lời Quang Đạm về “trạng thái độc lập tư pháp sẽ chuyển thành đối lập”, ông Vũ Trọng Khánh viết: “Khi một người nào đó ra lệnh cho tòa án phải xử thế này thế khác mà tòa án không nghe theo thì chúng tôi cho rằng đây là giũ quyền độc lập. Nếu ông Quang Đạm cho như thế là đối lập thì tôi muốn hỏi ông, khi các thẩm phần can thiệp vào hành chính hay chính trị thì các ủy ban hành chính sẽ cư xử thế nào để cho khỏi thành ra ‘đối lập’?” Ông Quang Đạm khuyên rằng: ‘Tư pháp phải kết hợp với nhà nước màđối lập với các lực lượngphá hoại chính quyền. Không một bộ phận nào được tách mình ra khỏi khối đoàn kết.’ Đáp lại những lời kỳ quặc ấy, tôi chỉ hỏi: Các thẩm phán đứng trong hàng ngũ kháng chiến từ trước tới nay thì gọi là ở trong hay ở ngoài khối đoàn kết? Khi tư pháp trừng trị kẻ bắt người trái phép, tha bổng cho những kẻ bị bắt vô chứng cứ thì đó là phá hoại chính quyền hay củng cố chính quyền?’” Ông Vũ Đình Hòe kế nhiệm ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã viết bài “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới” (báo Độc Lập 7/1948) cho rằng, nước ta từ thời cổ đại cho tới thời thuộc địa chưa bao giờ có nền tư pháp độc lập. Chính Cách mạng Tháng Tám, có Hiến Pháp 1946, nhân dân ta mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Ông nhắc rằng tam quyền phân lập, tư pháp độc lập đang là thể chế hiện tồn của nhà nước cách mạng chúng ta. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc hồi 2/1948 tức là hai tháng trước khi xảy ra cuộc tranh luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính.” Như vậy là từ năm 1948, Cụ Hồ đã dứt khoát đặt “đoàn kết, hợp tác” lên trên “độc lập, tư pháp”! Hai năm sau, trong thư gửi hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp (từ ngày 2 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm1950) đề cải cách tư pháp phục vụ tình hình mới, Cụ Hồ viết hoàn toàn giống những điều Quang Đạm đã viết trong cuộc tranh luận hồi năm 1948: “Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp không phải ý chí chung của nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để trừng trị áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân. Tư bản đặt ra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động. Luật pháp của ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Một điều nữa các chú cần nhớ là giai cấp thống trị sử dụng luật pháp kết hợp với những cái khác. Luật pháp của các giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột. Nếu nó đứng một mình thì bộ mặt áp bức của nó lộ rõ quá. Cho nên giai cấp phong kiến cho nó dựa vào cái khác. Cái ấy là cái gì? – phong kiến cho luật pháp dựa vào đạo đức của nó. Đạo đức phong kiến chủ yếu là cương thường: tôn vua, kính thầy, yêu cha…” Mặc dù luật gia Vũ Đình Hòe vẫn làm Bộ trưởng Tư pháp, nhưng cuộc học tập rất quan trọng nói trên là do ông Trần Công Tường, Thứ trưởng, bí thư Đảng đoàn Đảng Cộng sản trực tiếp lãnh đạo! Đến năm 1960 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xóa bỏ Bộ Tư pháp và các trường luật. Từ đây, công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sống trong thể chế Đảng công khai đứng trên pháp luật. Ông Vũ Đình Hòe khôn ngoan đã lùi dần để sinh tồn, đến cuối đời ông viết quyển sách có tựa đề pháp quyền dân nghĩa Hồ Chí Minh đề ra năm yếu tố: 1 – yếu tố pháp quyền dân tộc và ảnh hưởng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ; 2 – yếu tố pháp quyền quân chủ lập hiến của Vương quốc Anh qua các cuộc cách mạng dân chủ; 3 – yếu tố pháp quyền của cách mạng Pháp dưới lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái; 4 – yếu tố pháp quyền công nông của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; 5 – yếu tố pháp quyền dân tộc dân chủ của cách mạng Trung Hoa trải qua hai lần Quốc Công hợp tác. Bị tha hóa tệ hại, Vũ Đình Hòe nhìn chế độ toàn trị là chế độ pháp quyền nhân nghĩa và tìm cho nó năm yếu tố hết sức oái oăm! Ông Vũ Trọng Khánh là người dũng cảm bảo vệ những điều mình tin là đúng, ông đã bị dìm năm này sang năm khác, từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp xuống Chưởng lý Tòa Thượng thẩm, Giám đốc Tư pháp liên khu 10, Trưởng ban nghiên cứu pháp lý, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, rồi Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, cuối cùng là chuyên viên trong một phòng thuộc cấp sở, của thành phố Hải Phòng. Không chấp nhận tư pháp độc lập, quyết liệt chống nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Quang Đàm cho đến đại hội 12 của đảng Cộng sản năm 2016 là nhằm bảo vệ Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên Hiến Pháp và luật pháp. Posted on Tháng Ba 16, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/16/tu-theo-cong-den-chong-cong-11-cuoc-tranh-luan-ve-tu-phap-tren-bao-su-that/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (12): https://www.minds.com/newsfeed/1020171621487583232?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10) Hồi ký Tống Văn Công Nghe ông Lê Đức Thọ thuyết giáo Cuối năm 1950, trường trung học Huỳnh Phan Hộ (trường tôi học) đăng cai cuộc họp học sinh của ba trường trung học kháng chiến (Huỳnh Phan Hộ, Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Tố) để nghe huấn thị của đại diện Trung ương Cục miền Nam. Dù ba trường này cách nhau hàng chục cây số đường sông, nhưng 7 giờ sáng tất cả đã có mặt đầy đủ ở hội trường trung học Huỳnh Phan Hộ. Ông Nguyễn Thượng Tư hiệu trưởng trường Huỳnh Phan Hộ thông báo, hôm nay chúng ta được vinh dự nghe bác Sáu Lê Đức Thọ, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam nói về tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ mới. Từ lâu, bọn học trò chúng tôi truyền miệng chuyện tình của bác Sáu Lê Đức Thọ. Ông tên thật là Phan Đình Khải, lúc ở ngoài Bắc đã có vợ là cán bộ, đảng viên, sinh một con trai tên Phan Đình Dũng. Ông là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm trưởng đoàn cán bộ từ Việt Bắc vào tăng cường cho Trung ương Cục miền Nam. Đoàn lên đường tháng 6/1948 đến Cà Mau tháng 6/1949. Năm 1950, một lần đến thăm trường trung học Nguyễn Văn Tố, nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng bị cô nữ sinh tên Th. hớp hồn; từ đó ông thường xuyên tìm cớ đến thăm nhà trường để gặp nàng. Rủi cho ông, cô Th. đã có người yêu là một bạn học đẹp trai học giỏi tên L. Thấy bác Sáu đầy quyền lực tấp cập tiến công, L. sợ bị thua cuộc, bèn tìm gặp, nói thẳng: “Thưa bác Sáu, Th. là người yêu của cháu, mong bác thông cảm.” Bác Sáu buộc phải “thông cảm”, nhưng cô Th. bất bình hỏi L.: “Anh làm như vậy là rất hèn và đã xúc phạm tôi. Anh nói với ông Sáu là vì anh e rằng trước một người có quyền thế như ông, tôi không thể đứng vững? Như vậy là chúng ta nhầm nhau rồi!” Anh chàng đẹp trai học giỏi L. đã cạo trọc đầu để mong nàng tha thứ, nhưng kết quả chỉ thêm một nét hài cho cuộc tình tay ba dang dở. Không lâu sau, Lê Đức Thọ phó bí thư Trung ương Cục miền Nam Đảng Cộng sản lấy bà Lê Thị Chiếu con một gia đình đại địa chủ ở tỉnh Cần Thơ. Sau lời giới thiệu trịnh trọng của hiệu trưởng Nguyễn Thượng Tư, Ông Lê Đức Thọ da xanh nhợt, răng hơi hô, mặc bộ bà ba xám tro, bước lên bục tươi cười: “Hôm nay bác nói với các cháu về chiến tranh Triều Tiên và cuộc kháng chiến của chúng ta chuyển sang giai đoạn cực chuẩn bị tổng phản công.” Về cuộc chiến tranh Triều Tiên, chúng tôi đã được biết qua thông tin thời sự trên các báo kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh ĐX. có bài “Mỹ là xấu” mở đầu như sau: “Mỹ nữ là gái đẹp. Mỹ đức là nét tốt. Nhưng Mỹ quốc lại là nước xấu. Xấu không chỉ vì Mỹ gây chiến tranh, vì Mỹ xâm lược Triều Tiên…” Với bút danh C.B. ông viết bài “Nhất trên thế giới” lên án Mỹ “tội ác xâm phạm Triều Tiên”. Các văn nghệ sĩ kháng chiến cũng viết nhiều bài với nội dung đó. Tôi thuộc lòng bài thơ của Minh Giang có tựa đề “Gửi anh bạn Triều Tiên”, mở đầu tác giả đặt câu hỏi: “Anh bạn Triều Tiên ơi, Tôi chưa hề gặp mặt, Có phải quê hương anh, Có đồng lúa xanh xanh, Có núi nhiều tuyết trắng. Tuyết bay trên cả Hán Thành. Ai gây khói lửa tuyết thành lệ ơi?” Tác giả buộc người đọc phải hiểu rằng kẻ “gây khói lửa” là phía Đại Hàn Dân Quốc, Mỹ và 15 nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Đoạn cuối bài thơ: … Hắn cướp lúa chín, Hắn bắn trâu cày, Lửa hờn cháy nám thân cây, Lều nghiên nửa mái, đường đầy khăn tang. Anh bạn Triều Tiên ơi! Máu anh và máu tôi rơi, Trên hai đất nước, một trời thù chung!” Cũng với tinh thần đó, ông Lê Đức Thọ phân tích lý lẽ về sự gắn bó giữa hai đồng minh Việt Nam Triều Tiên cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Hơn 30 năm sau, đến thời Internet, tôi mới được biết Bắc Triều Tiên là bên bất thần mở cuộc tấn công mau chóng xâm chiếm Nam Hàn, chỉ trong mấy ngày họ đến Seoul. Trước tình hình đó, Liên Hiệp Quốc quyết định cho Mỹ và 15 nước thành viên đầy lùi quân Bắc Triều Tiên trở về bên kia vĩ tuyến 38. Trung Cộng đã phải đưa hàng triệu quân do nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy làm cuộc “kháng Mỹ viện Triều”. Nhận định tình hình trong nước, Lê Đức Thọ lập lại lý thuyết trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, gồm ba giai đoạn: 1 – phòng ngự, 2 – cầm cự, 3 – tổng phản công. Sau này, tôi mới biết quyển sách của Trường Chinh sao chép từ quyển “Luận trì cứu chiến” (Bàn về đánh lâu dài) của Mao. Ông Lê Đức Thọ cho rằng từ 10/1949, Trung Cộng giải phóng lục địa đã tạo ra cục diện mới, thời cơ mới cho Việt Nam chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Ông kết luận: “Đây là cơ hội để tuổi trẻ lập công với Tổ quốc. Các em phải xếp sách vở, hăng hái tòng quân, tích cực tham gia công cuộc tổng phản công. Sau ngày chiến thắng nhà trường sẽ mở rộng cửa mời các em trở lại.” Ngay chiều hôm đó, chúng tôi, học sinh ba trường trung học kháng chiến đã nộp đơn xin đóng cửa trường, tất cả ghi tên tòng quân. Posted on Tháng Ba 15, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/15/tu-theo-cong-den-chong-cong-10-nghe-ong-le-duc-tho-thuyet-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9): https://www.minds.com/newsfeed/1020169965712932864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
18 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9) Hồi ký Tống Văn Công Bác Hai nói về đảng Cộng Sản và đảng Dân Chủ Năm 1948 ông Hồ Văn Ngôi, trưởng Ty Xã hội Bến Tre (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy) bổ nhiệm cha tôi làm ủy viên kiểm sát Ty Xã hội tỉnh Bến Tre. Lúc này ông Võ Văn Hưỡn (thời thuộc Pháp là đốc học) bạn cùng xóm và là bạn học của cha tôi đang làm Trưởng ty Giáo dục. Cha tôi xin cho tôi vào làm nhân viên của Ty. Phó Ty là bác Hai Trần Trung Trực, nhà giáo thời Tây (ba của Trần Trung Tín sau này là họa sĩ nổi tiếng); Trưởng phòng Tu thư là bác Ba Lê Văn Trương, nhà giáo thời Tây ở quận Sóc Sải. Hơn chục nhân viên ở tuổi 17, 18. Võ Hoàng Lê sau này là đại tá, bác sĩ, giám đốc Bệnh viện Quân đội 175. Lê Huỳnh Thọ sau này là phó trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản. Cả cơ quan chỉ có ba nữ là chị Năm Quyến, sau 1975 là Bà Sáu, phó giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Chị Bình sau này là mẹ của đạo diễn Việt Linh và Nguyễn Thị Định, được gọi là “Định nhỏ” để phân biệt với bà chủ tịch hội Nguyễn Thị Định (sau này là Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam). Công việc của số đông nhân viên chúng tôi là viết tài liệu giáo khoa bằng thứ mực pha đậm đặc, sau đó áp lên khuôn bột để in, rồi đóng thành tập, gửi cho các trường học cấp một trong các vùng giải phóng. Từ tháng tám 1945 đến năm 1951 Bến Tre có nhiều vùng giải phóng. Vùng rộng lớn nhứt gồm toàn bộ quận Thạnh Phú và quá nửa quận Mỏ Cày. Tôi và Định cùng tuổi, từng cùng học lớp nhứt, nay ngồi cùng bàn, thường nói với nhau đủ thứ chuyện, rồi nảy sinh tình yêu. Nói là yêu nhau, nhưng chúng tôi chưa dám trao cho nhau một nụ hôn! Một hôm, Định hỏi: “Anh có biết trong cơ quan này ai là đảng viên Cộng sản không?” Do đã từng công tác ở Hội Phụ nữ Cứu Quốc tỉnh, nên Định biết rành các tổ chức chính trị. Tôi đáp, không biết và hỏi lại, ở đây ai là đảng viên Cộng sản? Định thì thầm: “Chỉ có bác Năm trưởng ty là Cộng sản. Còn bác Hai phó ty, bác Ba trưởng phòng và anh Chấp phụ trách văn thư đều là đảng viên đảng Dân Chủ. Họ thường tuyên truyền với anh về đảng Dân Chủ mà anh không biết đó! Anh chớ có nghe họ mà xin vô đảng Dân Chủ đó nghe!” Tôi thắc mắc hỏi tại sao? Định nói: “Đảng Cộng Sản Đông Dương mới là Đảng lãnh đạo kháng chiến. Đảng Dân Chủ chỉ là một thứ cây kiểng, không có vai trò gì đâu.” Một hôm tôi tò mò hỏi bác Hai Trần Trung Trực phó Ty, có phải Bác Hai là đảng viên Đảng Dân Chủ không? Bác vui vẻ đáp: “Ừ, mày cũng biết à?” Tôi nói: “Cháu muốn biết Đảng Dân Chủ khác với Đảng Cộng Sản như thế nào? Bác Hai gõ mấy cái lên vầng trán rộng: “Chà, nói sao cho mày hiểu đây ha!” Bác thò tay vô túi áo lấy ra bao thuốc lá đặt lên đầu bàn, nói: “Coi như cái Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản đang ở trên đó. Còn chúng ta đang ở dưới này. Ai cũng muốn đi lên cái ‘thiên đàng’ đó cả. Điều khác nhau là đảng Cộng Sản gồm những người tả khuynh, họ quyết tiến lên thật nhanh, nên chọn con đường thẳng băng. Gặp núi cao? Vượt núi! Gặp sông sâu? Vượt sông! Đảng Dân Chủ của chúng tao cũng chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng gồm những trí thức ôn hòa, muốn đi chậm rãi an toàn nhứt. Núi cao? Ta tránh núi, mở đường đi vòng! Sông sâu? Ta kết bè, đóng ghe hoặc bắc cầu! Rồi thì cũng tới đó thôi. Hai thằng con tao, Trần Trung Hiếu, Trần Trung Tín đang ở bộ đội, tụi nó trẻ, máu nóng, nên đều vô đảng Cộng Sản.” Nguyễn Thị Định gợi ý và cùng tôi tìm hiểu các chức vụ lãnh đạo của tỉnh, hóa ra tất cả đều do đảng viên Cộng sản nắm. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh là ông Nguyễn Văn Diệp, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh là ông Phan Triêm, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Tỉnh đội trưởng dân quân tự vệ là Nguyễn Tấu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (trước đó ông là bí thư tỉnh ủy); Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền là ông Nguyễn Chí Hữu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến là ông Lê Hoài Đôn, ủy viên Thường vụ phụ trách Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy; Trưởng ty Xã hội là ông Hồ Văn Ngôi, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng ty Giáo dục là ông Võ Văn Hưỡn, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Chủ nhiệm báo Đoàn Kết của tỉnh là ông Trần Văn Anh, tỉnh ủy viên; tỉnh đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Cứu quốc là ông Trần Chính, tỉnh ủy viên; chủ tịch Hội Phụ nữ Cứu quốc là bà Nguyễn Thị Định, tỉnh ủy viên… Mấy tháng sau bọn trẻ chúng tôi xin thi vào trường trung học. Tôi và Lê Huỳnh Thọ trúng tuyển. Các trường trung học của kháng chiến đều đóng trong rừng U Minh. Từ Bến Tre đi bộ tới đó mất nửa tháng và tốn khá nhiều tiền. Tôi nói khó khăn này với cha tôi. Không thể ngờ, cha tôi giải quyết nhẹ như không: ông xin thôi chức kiểm sát viên của Ty Xã hội, một địa vị quan cách mạng, rồi mua mấy kílô thuốc nhuộm quần áo, mấy chục viên gạch xây bếp lò, một cái chảo đụng to, ra đứng giữa chợ Thạnh Phú, lắc cái trống kêu lung tung, kêu “Nhuộm đây! Nhuộm quần áo đây!” Hơn một tháng, cha tôi kiếm đủ số tiền cho tôi đi học. Nhưng ông bị coi là thiếu tinh thần cách mạng, phải rời Bến Tre đi vào Cà Mau, kiếm sống bằng việc bứt dây choại đem bán cho những người làm nghề bện đăng, bện đó bắt cá. Năm 1951, giặc Pháp chiếm hết các quận Mỏ Cày, Thạnh Phú, ty giáo dục phải giải thể. Nguyễn Thị Định chạy lên Sài Gòn, học trường sư phạm, ra trường làm cô giáo ở trường Bông Sao, quận 8 và lấy chồng là một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Posted on Tháng Ba 12, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/12/tu-theo-cong-den-chong-cong-9-bac-hai-noi-ve-dang-cong-san-va-dang-dan-chu/ Đọc thêm: - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (8): https://www.minds.com/newsfeed/1020169358402965504?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·