ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10) Hồi ký Tống Văn Công Nghe ông Lê Đức Thọ thuyết giáo Cuối năm 1950, trường trung học Huỳnh Phan Hộ (trường tôi học) đăng cai cuộc họp học sinh của ba trường trung học kháng chiến (Huỳnh Phan Hộ, Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Tố) để nghe huấn thị của đại diện Trung ương Cục miền Nam. Dù ba trường này cách nhau hàng chục cây số đường sông, nhưng 7 giờ sáng tất cả đã có mặt đầy đủ ở hội trường trung học Huỳnh Phan Hộ. Ông Nguyễn Thượng Tư hiệu trưởng trường Huỳnh Phan Hộ thông báo, hôm nay chúng ta được vinh dự nghe bác Sáu Lê Đức Thọ, Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam nói về tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ mới. Từ lâu, bọn học trò chúng tôi truyền miệng chuyện tình của bác Sáu Lê Đức Thọ. Ông tên thật là Phan Đình Khải, lúc ở ngoài Bắc đã có vợ là cán bộ, đảng viên, sinh một con trai tên Phan Đình Dũng. Ông là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng làm trưởng đoàn cán bộ từ Việt Bắc vào tăng cường cho Trung ương Cục miền Nam. Đoàn lên đường tháng 6/1948 đến Cà Mau tháng 6/1949. Năm 1950, một lần đến thăm trường trung học Nguyễn Văn Tố, nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng bị cô nữ sinh tên Th. hớp hồn; từ đó ông thường xuyên tìm cớ đến thăm nhà trường để gặp nàng. Rủi cho ông, cô Th. đã có người yêu là một bạn học đẹp trai học giỏi tên L. Thấy bác Sáu đầy quyền lực tấp cập tiến công, L. sợ bị thua cuộc, bèn tìm gặp, nói thẳng: “Thưa bác Sáu, Th. là người yêu của cháu, mong bác thông cảm.” Bác Sáu buộc phải “thông cảm”, nhưng cô Th. bất bình hỏi L.: “Anh làm như vậy là rất hèn và đã xúc phạm tôi. Anh nói với ông Sáu là vì anh e rằng trước một người có quyền thế như ông, tôi không thể đứng vững? Như vậy là chúng ta nhầm nhau rồi!” Anh chàng đẹp trai học giỏi L. đã cạo trọc đầu để mong nàng tha thứ, nhưng kết quả chỉ thêm một nét hài cho cuộc tình tay ba dang dở. Không lâu sau, Lê Đức Thọ phó bí thư Trung ương Cục miền Nam Đảng Cộng sản lấy bà Lê Thị Chiếu con một gia đình đại địa chủ ở tỉnh Cần Thơ. Sau lời giới thiệu trịnh trọng của hiệu trưởng Nguyễn Thượng Tư, Ông Lê Đức Thọ da xanh nhợt, răng hơi hô, mặc bộ bà ba xám tro, bước lên bục tươi cười: “Hôm nay bác nói với các cháu về chiến tranh Triều Tiên và cuộc kháng chiến của chúng ta chuyển sang giai đoạn cực chuẩn bị tổng phản công.” Về cuộc chiến tranh Triều Tiên, chúng tôi đã được biết qua thông tin thời sự trên các báo kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh ĐX. có bài “Mỹ là xấu” mở đầu như sau: “Mỹ nữ là gái đẹp. Mỹ đức là nét tốt. Nhưng Mỹ quốc lại là nước xấu. Xấu không chỉ vì Mỹ gây chiến tranh, vì Mỹ xâm lược Triều Tiên…” Với bút danh C.B. ông viết bài “Nhất trên thế giới” lên án Mỹ “tội ác xâm phạm Triều Tiên”. Các văn nghệ sĩ kháng chiến cũng viết nhiều bài với nội dung đó. Tôi thuộc lòng bài thơ của Minh Giang có tựa đề “Gửi anh bạn Triều Tiên”, mở đầu tác giả đặt câu hỏi: “Anh bạn Triều Tiên ơi, Tôi chưa hề gặp mặt, Có phải quê hương anh, Có đồng lúa xanh xanh, Có núi nhiều tuyết trắng. Tuyết bay trên cả Hán Thành. Ai gây khói lửa tuyết thành lệ ơi?” Tác giả buộc người đọc phải hiểu rằng kẻ “gây khói lửa” là phía Đại Hàn Dân Quốc, Mỹ và 15 nước thành viên Liên Hiệp Quốc. Đoạn cuối bài thơ: … Hắn cướp lúa chín, Hắn bắn trâu cày, Lửa hờn cháy nám thân cây, Lều nghiên nửa mái, đường đầy khăn tang. Anh bạn Triều Tiên ơi! Máu anh và máu tôi rơi, Trên hai đất nước, một trời thù chung!” Cũng với tinh thần đó, ông Lê Đức Thọ phân tích lý lẽ về sự gắn bó giữa hai đồng minh Việt Nam Triều Tiên cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Hơn 30 năm sau, đến thời Internet, tôi mới được biết Bắc Triều Tiên là bên bất thần mở cuộc tấn công mau chóng xâm chiếm Nam Hàn, chỉ trong mấy ngày họ đến Seoul. Trước tình hình đó, Liên Hiệp Quốc quyết định cho Mỹ và 15 nước thành viên đầy lùi quân Bắc Triều Tiên trở về bên kia vĩ tuyến 38. Trung Cộng đã phải đưa hàng triệu quân do nguyên soái Bành Đức Hoài chỉ huy làm cuộc “kháng Mỹ viện Triều”. Nhận định tình hình trong nước, Lê Đức Thọ lập lại lý thuyết trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, gồm ba giai đoạn: 1 – phòng ngự, 2 – cầm cự, 3 – tổng phản công. Sau này, tôi mới biết quyển sách của Trường Chinh sao chép từ quyển “Luận trì cứu chiến” (Bàn về đánh lâu dài) của Mao. Ông Lê Đức Thọ cho rằng từ 10/1949, Trung Cộng giải phóng lục địa đã tạo ra cục diện mới, thời cơ mới cho Việt Nam chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Ông kết luận: “Đây là cơ hội để tuổi trẻ lập công với Tổ quốc. Các em phải xếp sách vở, hăng hái tòng quân, tích cực tham gia công cuộc tổng phản công. Sau ngày chiến thắng nhà trường sẽ mở rộng cửa mời các em trở lại.” Ngay chiều hôm đó, chúng tôi, học sinh ba trường trung học kháng chiến đã nộp đơn xin đóng cửa trường, tất cả ghi tên tòng quân. Posted on Tháng Ba 15, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/15/tu-theo-cong-den-chong-cong-10-nghe-ong-le-duc-tho-thuyet-giao/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (11): https://www.minds.com/newsfeed/1020171112825802752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9): https://www.minds.com/newsfeed/1020169965712932864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
1Upvote

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9) Hồi ký Tống Văn Công Bác Hai nói về đảng Cộng Sản và đảng Dân Chủ Năm 1948 ông Hồ Văn Ngôi, trưởng Ty Xã hội Bến Tre (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy) bổ nhiệm cha tôi làm ủy viên kiểm sát Ty Xã hội tỉnh Bến Tre. Lúc này ông Võ Văn Hưỡn (thời thuộc Pháp là đốc học) bạn cùng xóm và là bạn học của cha tôi đang làm Trưởng ty Giáo dục. Cha tôi xin cho tôi vào làm nhân viên của Ty. Phó Ty là bác Hai Trần Trung Trực, nhà giáo thời Tây (ba của Trần Trung Tín sau này là họa sĩ nổi tiếng); Trưởng phòng Tu thư là bác Ba Lê Văn Trương, nhà giáo thời Tây ở quận Sóc Sải. Hơn chục nhân viên ở tuổi 17, 18. Võ Hoàng Lê sau này là đại tá, bác sĩ, giám đốc Bệnh viện Quân đội 175. Lê Huỳnh Thọ sau này là phó trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản. Cả cơ quan chỉ có ba nữ là chị Năm Quyến, sau 1975 là Bà Sáu, phó giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Chị Bình sau này là mẹ của đạo diễn Việt Linh và Nguyễn Thị Định, được gọi là “Định nhỏ” để phân biệt với bà chủ tịch hội Nguyễn Thị Định (sau này là Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam). Công việc của số đông nhân viên chúng tôi là viết tài liệu giáo khoa bằng thứ mực pha đậm đặc, sau đó áp lên khuôn bột để in, rồi đóng thành tập, gửi cho các trường học cấp một trong các vùng giải phóng. Từ tháng tám 1945 đến năm 1951 Bến Tre có nhiều vùng giải phóng. Vùng rộng lớn nhứt gồm toàn bộ quận Thạnh Phú và quá nửa quận Mỏ Cày. Tôi và Định cùng tuổi, từng cùng học lớp nhứt, nay ngồi cùng bàn, thường nói với nhau đủ thứ chuyện, rồi nảy sinh tình yêu. Nói là yêu nhau, nhưng chúng tôi chưa dám trao cho nhau một nụ hôn! Một hôm, Định hỏi: “Anh có biết trong cơ quan này ai là đảng viên Cộng sản không?” Do đã từng công tác ở Hội Phụ nữ Cứu Quốc tỉnh, nên Định biết rành các tổ chức chính trị. Tôi đáp, không biết và hỏi lại, ở đây ai là đảng viên Cộng sản? Định thì thầm: “Chỉ có bác Năm trưởng ty là Cộng sản. Còn bác Hai phó ty, bác Ba trưởng phòng và anh Chấp phụ trách văn thư đều là đảng viên đảng Dân Chủ. Họ thường tuyên truyền với anh về đảng Dân Chủ mà anh không biết đó! Anh chớ có nghe họ mà xin vô đảng Dân Chủ đó nghe!” Tôi thắc mắc hỏi tại sao? Định nói: “Đảng Cộng Sản Đông Dương mới là Đảng lãnh đạo kháng chiến. Đảng Dân Chủ chỉ là một thứ cây kiểng, không có vai trò gì đâu.” Một hôm tôi tò mò hỏi bác Hai Trần Trung Trực phó Ty, có phải Bác Hai là đảng viên Đảng Dân Chủ không? Bác vui vẻ đáp: “Ừ, mày cũng biết à?” Tôi nói: “Cháu muốn biết Đảng Dân Chủ khác với Đảng Cộng Sản như thế nào? Bác Hai gõ mấy cái lên vầng trán rộng: “Chà, nói sao cho mày hiểu đây ha!” Bác thò tay vô túi áo lấy ra bao thuốc lá đặt lên đầu bàn, nói: “Coi như cái Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản đang ở trên đó. Còn chúng ta đang ở dưới này. Ai cũng muốn đi lên cái ‘thiên đàng’ đó cả. Điều khác nhau là đảng Cộng Sản gồm những người tả khuynh, họ quyết tiến lên thật nhanh, nên chọn con đường thẳng băng. Gặp núi cao? Vượt núi! Gặp sông sâu? Vượt sông! Đảng Dân Chủ của chúng tao cũng chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng gồm những trí thức ôn hòa, muốn đi chậm rãi an toàn nhứt. Núi cao? Ta tránh núi, mở đường đi vòng! Sông sâu? Ta kết bè, đóng ghe hoặc bắc cầu! Rồi thì cũng tới đó thôi. Hai thằng con tao, Trần Trung Hiếu, Trần Trung Tín đang ở bộ đội, tụi nó trẻ, máu nóng, nên đều vô đảng Cộng Sản.” Nguyễn Thị Định gợi ý và cùng tôi tìm hiểu các chức vụ lãnh đạo của tỉnh, hóa ra tất cả đều do đảng viên Cộng sản nắm. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh là ông Nguyễn Văn Diệp, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh là ông Phan Triêm, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Tỉnh đội trưởng dân quân tự vệ là Nguyễn Tấu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (trước đó ông là bí thư tỉnh ủy); Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền là ông Nguyễn Chí Hữu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến là ông Lê Hoài Đôn, ủy viên Thường vụ phụ trách Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy; Trưởng ty Xã hội là ông Hồ Văn Ngôi, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng ty Giáo dục là ông Võ Văn Hưỡn, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Chủ nhiệm báo Đoàn Kết của tỉnh là ông Trần Văn Anh, tỉnh ủy viên; tỉnh đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Cứu quốc là ông Trần Chính, tỉnh ủy viên; chủ tịch Hội Phụ nữ Cứu quốc là bà Nguyễn Thị Định, tỉnh ủy viên… Mấy tháng sau bọn trẻ chúng tôi xin thi vào trường trung học. Tôi và Lê Huỳnh Thọ trúng tuyển. Các trường trung học của kháng chiến đều đóng trong rừng U Minh. Từ Bến Tre đi bộ tới đó mất nửa tháng và tốn khá nhiều tiền. Tôi nói khó khăn này với cha tôi. Không thể ngờ, cha tôi giải quyết nhẹ như không: ông xin thôi chức kiểm sát viên của Ty Xã hội, một địa vị quan cách mạng, rồi mua mấy kílô thuốc nhuộm quần áo, mấy chục viên gạch xây bếp lò, một cái chảo đụng to, ra đứng giữa chợ Thạnh Phú, lắc cái trống kêu lung tung, kêu “Nhuộm đây! Nhuộm quần áo đây!” Hơn một tháng, cha tôi kiếm đủ số tiền cho tôi đi học. Nhưng ông bị coi là thiếu tinh thần cách mạng, phải rời Bến Tre đi vào Cà Mau, kiếm sống bằng việc bứt dây choại đem bán cho những người làm nghề bện đăng, bện đó bắt cá. Năm 1951, giặc Pháp chiếm hết các quận Mỏ Cày, Thạnh Phú, ty giáo dục phải giải thể. Nguyễn Thị Định chạy lên Sài Gòn, học trường sư phạm, ra trường làm cô giáo ở trường Bông Sao, quận 8 và lấy chồng là một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Posted on Tháng Ba 12, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/12/tu-theo-cong-den-chong-cong-9-bac-hai-noi-ve-dang-cong-san-va-dang-dan-chu/ Đọc thêm: - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (8): https://www.minds.com/newsfeed/1020169358402965504?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (8) Hồi ký Tống Văn Công Hồng quân Platon – Thành vào lính lê dương Tháng 5 – 1948 tôi học xong lớp nhất trường tiểu học (ở xã Giao Thạnh, quận Thạnh Phú), chờ ngày thi vào trung học hoặc nhận công tác kháng chiến. Khoảng hạ tuần tháng 6 có tin bộ đội mới về diễn tập ở cuối xã, thế là cả bọn kéo nhau đi xem. Gặp lúc bộ đội đang nghỉ trong các nhà dân. Tôi chợt nhìn thấy trên cây ổi to trước khoảng sân của ngôi nhà lớn có một chú bộ đội mắt xanh mũi lõ đang trèo hái quả ném xuống cho lũ trẻ. Chuyện lạ không thể tưởng, thích quá, tôi vội chạy vào. Bác gái chủ nhà bước ra kêu: “Đủ rồi! Chú Thành xuống uống trà đi.” Chú Tây bộ đội trả lời tiếng Việt rành rẽ, “Em không uống trà đâu. Chị cho em vài lít ‘đế’ nhậu với ổi dược không?” “Được, để chị nói với anh.” Tôi bám theo: “Anh ơi, anh là người Pháp á?” Anh Tây vui vẻ: “Hỏng phải, anh là Hồng quân Liên Xô. Em có biết Liên Xô không, là một nước trong phe Đồng Minh chống Phát Xít đó.” Tôi đáp, trong giáo trình lớp nhứt tôi có được học điều đó. Từ trên thềm, bác trai chủ nhà gọi anh Tây bộ đội và tôi vào. Trên bàn đã dọn những đĩa khô cá hố nướng thơm phức, hai đĩa ổi, mỗi quả bổ làm tư, mấy cái ly nhỏ có chân. Đóng quân ở nhà này là một khẩu đội “mochiê” (súng cối) mà anh Tây bộ đội là khẩu đội trưởng. Tôi nói, em là học trò tiểu học không được phép uống rượu, chỉ xin các chú bác cho được ngồi hóng chuyện người lớn. Bác gái đem cho tôi mấy con cá khô nướng nhấm nháp. Câu chuyện được biết về ông Tây như sau: Platon Skizhinsky học xong trung học thì Đức tấn công Liên Xô. Platon vào quân đội, trong một trận đánh không cân sức, bị phát xít Đức bắt, buộc đi đốn gỗ. Sau khi phát xít Đức đầu hàng, Platon bị Hồng Quân kết án tử hình vì tội “bị địch bắt mà không chết”! Trên đường giải về Liên Xô, anh liều nhảy tàu lửa trốn sang Pháp, con đường sống duy nhất là vào lính Lê Dương. Anh sang Việt Nam trong đoàn quân Lê Dương, sau tên Platon ghép thêm chữ Thành tiếng Việt. Năm 1946 tại Bến Tre, trên đường lái xe chở thực phẩm, Platon nhận được truyền đơn kêu gọi phản chiến. Sau đó anh liên lạc được với người đại diện Việt Minh tên là Mô, rồi mang hai khẩu súng ra vùng kháng chiến. Sau hai tuổi quân, Platon lập nhiều chiến công, nói thạo cả tiếng lóng của nông dân xứ dừa và được bộ đội cưới cho cô vợ đẹp nhất Bến Tre, sinh một con gái tên là Tanhia. Sau khi tập luyện thành thục đúng kế hoạch, tiểu đoàn 307 kéo lên Giồng Luông, xã Đại Điền long trọng làm lễ xuất quân ngày 5/7/1948. Vì nơi đó khá xa nên dù rất muốn tôi không thể đi dự. Câu chuyện của chú Hồng quân Platon Thành để lại trong tôi nỗi thương cảm lẫn băn khoăn: “Bị địch bắt mà không chết có đáng chịu tội tử hình?” Việc này làm tôi nhớ đến những bản án tử hình đối với anh Sấn, bạn Thạch ở quê tôi. Không ngờ hơn 30 năm sau, năm 1981 tôi đi thăm Liên Xô với tư cách Phó Tổng biên tập báo Lao Động và được Platon Thành làm phiên dịch cho hơn 20 ngày. Câu nói đáng nhớ của anh khi gặp tôi là: “Năm 1955 tôi rất vui khi được về nước, bởi vì cáithằng cha khốn nạn đó đã chết hơn hai năm!” (Stalin chết năm 1953). Tôi nhắc chuyện anh leo cây ổi của bác chủ nhà ở Giao Thạnh nơi tiểu đoàn 307 đóng quân. Platon Thành nói: “Các đồng đội ngày xưa sang đây đều mang ổi cho mình. Nhiều người Việt Nam quý quả xoài, măng cụt, vải, nhãn nhưng theo mình ổi là thứ quả ngon nhất Việt Nam. Buổi trưa giã đĩa muối ớt, mang một xị đế vào vườn ổi lai rai là hết ý!” Posted on Tháng Ba 11, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/11/tu-theo-cong-den-chong-cong-8-hong-quan-platon-thanh-vao-linh-le-duong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9): https://www.minds.com/newsfeed/1020169965712932864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (7): https://www.minds.com/newsfeed/1020168872738238464?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (7) Hồi ký Tống Văn Công Quốc hội và hiến pháp 1946 Tháng 12 – 1945 Pháp tái chiếm 20 tỉnh thành Nam bộ. Bến Tre là tỉnh cuối cùng chưa bị chiếm. Tỉnh ủy Bến Tre xin Trung Ương Đảng cho tỉnh tổ chức bầu đại biểu Quốc Hội sớm từ ngày 25/12, thay vì ngày 6/1/1946 như quy định chung. Hồi đó ngày 6 tháng 1 còn được cho là ngày thành lập Đảng. Mãi đến sau năm 1960, người ta mới biết ngày 6 tháng 1 là ngày âm lịch, theo dương lịch là ngày 3 tháng 2 – 1930. Tỉnh Bến Tre được bầu 5 đại biểu Quốc hội. Mặt trận Việt Minh do đảng Cộng sản lãnh đạo, giới thiệu sáu người ra ứng cử là: Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Cái, Đỗ Phát Quang, Nguyễn Tẩu, Trần Quế Tử, Ca Văn Thỉnh. Trong đó, hai người sau là trí thức cảm tình đảng. Hầu hết cử tri đều gạch tên người đứng ở cuối danh sách, do đó ông Ca Văn Thỉnh bị thất cử. Có thể nói, “đảng cử dân bầu” đã có từ cuộc bầu cử Quốc Hội đầu tiên. Điều này không phải chỉ ở tỉnh Bến Tre, mà khắp cả nước. Xin nêu vài ví dụ, ở Hải Phòng, ông Vũ Trọng Khánh, nguyên Thị trưởng Hải Phòng của chính phủ Trần Trọng Kim, đương kim Bộ trưởng Bộ Tư pháp của chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh, do từ chối sự giới thiệu của Mặt trận Việt Minh thành phố Hải Phòng mà bị thất cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lo lắng đã yêu cầu ông Vũ Trọng Khánh chấp nhận sự giới thiệu của Mặt trận Việt Minh tỉnh Hà Đông (chưa bầu cử), nhưng ông vẫn kiên quyết từ chối. Do không có chân trong Quốc Hội, ông phải rời ghế Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong khi đó, cố vấn Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Đại) chấp nhận sự giới thiệu của Mặt trận Việt Minh tỉnh Thanh Hóa, đắc cử với 92% số phiếu bầu. Lâu nay, Quốc Hội được bầu năm 1946 được coi là Quốc Hội đa nguyên, đa đảng là chủ nhân của bản Hiến Pháp 1946 dân chủ, tam quyền phân lập. Thực ra không phải như vậy. Ngày 20 tháng 9 năm 1945 chủ tịch chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL thành lập Ban soạn thảo Hiến Pháp gồm 7 thành viên: Trưởng ban là Hồ Chí Minh, các ủy viên gồm Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (tức tổng bí thư Trường Chinh). Với ban soạn thảo này thì rất khó để có thể soạn ra được bản Hiến Pháp 1946. Do thực hiện thỏa thuận giữa Việt Minh với Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách), Quốc Hội phải nhận vào 70 đại biểu của hai đảng này không qua bầu cử (Việt Quốc năm mươi đại biểu, Việc Cách 20 đại biểu). Sau khi có thêm 70 đại biểu không qua bầu cử, ngày 2/3/1946, Quốc Hội bầu ra ban soạn thảo hiến pháp gồm 11 thành viên: Tôn Quang Phiệt, Trần Duy Hưng, Nguyễn Thị Thục Viên, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tuấn Thọ (Việt Cách), Phạm Gia Đỗ (Việt Quốc). Ngày 9/11/1946, Quốc Hội thông qua hiến pháp với 240 trên 242 phiếu thuận. Hai người bỏ phiếu chống là Nguyễn Sơn Hà với lý do Hiến Pháp không có điều khoản cho tự do kinh doanh; Phạm Gia Đỗ phản đối chế độ chỉ có một viện. Nhưng sau đó mấy tháng, 70 đại biểu của Việt Cách, Việt Quốc chỉ còn lại 7 người và Hiến Pháp 1946 chỉ còn nằm trên giấy. Ngày 4/12/1953 Quốc Hội, gồm những người được bầu năm 1946, thông qua luật Cải Cách Ruộng Đất, tước đoạt ruộng đất của người bị quy là địa chủ, trái với điều 12 của Hiến Pháp 1946: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo hộ”. Thật ra như ở trên đã nói, bản Hiến Pháp này đâu phải là của họ! Nhà báo Huy Đức có nhận xét rất đúng “mặc dù Hồ Chí Minh đặt vấn đề xây dựng hiến pháp rất sớm, Hiến Pháp 1959 mới thực sự là hiến pháp của ông”. Từ 8/1945 tôi ở trong đội Thiếu nhi Cứu quốc xã An Bình Tây. Thời gian này có vài chuyện mà mỗi khi nhớ lại cảm thấy ray rứt: Giữa năm 1946, vào buổi sáng, tôi đang đi xuống chợ thì gặp bốn anh du kích tay cầm mã tấu giải ang Sấn (học trên tôi ba lớp) hai tay bị trói ké, đi về hướng Giồng Gạch, sông Hàm Luôn. Không cần hỏi, ai cũng biết đó là hướng đưa người đi “mò tôm”. (Tiếng lóng của thời đó chỉ việc đâm chết rồi ném xác xuống sông.) Nghe nói, anh Sấn bị nghi làm gián điệp, chỉ vì hôm lính Pháp đi ruồng bố, anh đã “trăm” tiếng Tây với thằng quan ba! Cùng thời gian này (sau khi Pháp chiếm Ba Tri vài tháng) ở khắp quận đều có những vụ “trừng trị bọn gián điệp”: sếp Cang ở Tân Xuân; Hương quản Thành ở An Đức; Thạch (bạn học cùng lớp với tôi, con trai Cai Tổng Đệ)… Họ bị giết, không có cáo trạng, không có tòa án xét xử! Số đông người dân vẫn cho rằng, trước họa ngoại xâm, chuyện “mạnh tay” như vậy là cần thiết (!). Năm 1947, Ba Tri có nhiều trận phục kích đánh cả đoàn xe của Pháp. Giữa tháng 6, đại đội 885 phục kích ở Giồng Quéo, tiêu diệt năm mươi lính Pháp và Lê Dương, thu nhiều vũ khí, đặc biệt có nhiều đồ hộp và thuốc lá thơm. Một chiến sĩ của đại đội 885 nhắn tin cho má anh đến thăm, ban chỉ huy cho bà mấy bao thuốc lá Bastos. Trên đường về, bà vừa đi vừa phì phèo điếu thuốc, khi đến làng An Bình Tây thì có mấy người ăn mặc giống như lính quận, tay lăm lăm súng ngắn lưỡi lê, bắt bà đưa vào chùa Long Khánh, quát hỏi: “Thuốc thơm này ở đâu ra? Ai cho? Khai mau!” Mang nỗi lo của một bà má bộ đội, lại nghe cách ăn nói hỗn hào, bà nghĩ đã gặp bọn theo Tây. Bà bảo: “Tôi lượm được ngoài lộ đá.” Lập tức bà bị những cú đấm như trời giáng. Lúc ấy chúng tôi họp đội Thiếu nhi cứu quốc ở nhà người bạn, nghe người nhà bên cạnh bảo vừa bắt được gián điệp, du kích đang tra hỏi ở chùa Long Khánh. Chúng tôi ngừng họp kéo ra chùa và chứng kiến cảnh một bà già ốm yếu gan góc chịu những đòn tra tấn với mắt nhìn khinh bỉ, đôi môi mím chặt. Giữa lúc căng thẳng đó, có tiếng mõ báo động và người từ dưới Chợ Mới ùn ùn chạy lên hô “Tây ruồng”. Cuộc tra tấn dừng lại. Người trưởng nhóm giao nhiệm vụ cho anh tự vệ trẻ tuổi: “Nếu Tây tới gấp quá, thì mày cứ việc khử bả đi.” Nghe tới đó, bà già khóc rống “Trời ơi, cứ tưởng mấy chú là Việt gian, cho nên tui quyết không khai. Sự thật là tui đi thăm con tui là Trần Văn Tuấn ở đại đội 885 vừa đánh trận Giồng Quéo. Thuốc thơm là của chỉ huy bộ đội cho tui!” Posted on Tháng Ba 9, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/09/tu-theo-cong-den-chong-cong-7-quoc-hoi-va-hien-phap-1946/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (8): https://www.minds.com/newsfeed/1020169358402965504?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (6): https://www.minds.com/newsfeed/1020168283910275072?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·

More from HoangVanLam

ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9) Hồi ký Tống Văn Công Bác Hai nói về đảng Cộng Sản và đảng Dân Chủ Năm 1948 ông Hồ Văn Ngôi, trưởng Ty Xã hội Bến Tre (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy) bổ nhiệm cha tôi làm ủy viên kiểm sát Ty Xã hội tỉnh Bến Tre. Lúc này ông Võ Văn Hưỡn (thời thuộc Pháp là đốc học) bạn cùng xóm và là bạn học của cha tôi đang làm Trưởng ty Giáo dục. Cha tôi xin cho tôi vào làm nhân viên của Ty. Phó Ty là bác Hai Trần Trung Trực, nhà giáo thời Tây (ba của Trần Trung Tín sau này là họa sĩ nổi tiếng); Trưởng phòng Tu thư là bác Ba Lê Văn Trương, nhà giáo thời Tây ở quận Sóc Sải. Hơn chục nhân viên ở tuổi 17, 18. Võ Hoàng Lê sau này là đại tá, bác sĩ, giám đốc Bệnh viện Quân đội 175. Lê Huỳnh Thọ sau này là phó trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản. Cả cơ quan chỉ có ba nữ là chị Năm Quyến, sau 1975 là Bà Sáu, phó giám đốc Sở Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Chị Bình sau này là mẹ của đạo diễn Việt Linh và Nguyễn Thị Định, được gọi là “Định nhỏ” để phân biệt với bà chủ tịch hội Nguyễn Thị Định (sau này là Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam). Công việc của số đông nhân viên chúng tôi là viết tài liệu giáo khoa bằng thứ mực pha đậm đặc, sau đó áp lên khuôn bột để in, rồi đóng thành tập, gửi cho các trường học cấp một trong các vùng giải phóng. Từ tháng tám 1945 đến năm 1951 Bến Tre có nhiều vùng giải phóng. Vùng rộng lớn nhứt gồm toàn bộ quận Thạnh Phú và quá nửa quận Mỏ Cày. Tôi và Định cùng tuổi, từng cùng học lớp nhứt, nay ngồi cùng bàn, thường nói với nhau đủ thứ chuyện, rồi nảy sinh tình yêu. Nói là yêu nhau, nhưng chúng tôi chưa dám trao cho nhau một nụ hôn! Một hôm, Định hỏi: “Anh có biết trong cơ quan này ai là đảng viên Cộng sản không?” Do đã từng công tác ở Hội Phụ nữ Cứu Quốc tỉnh, nên Định biết rành các tổ chức chính trị. Tôi đáp, không biết và hỏi lại, ở đây ai là đảng viên Cộng sản? Định thì thầm: “Chỉ có bác Năm trưởng ty là Cộng sản. Còn bác Hai phó ty, bác Ba trưởng phòng và anh Chấp phụ trách văn thư đều là đảng viên đảng Dân Chủ. Họ thường tuyên truyền với anh về đảng Dân Chủ mà anh không biết đó! Anh chớ có nghe họ mà xin vô đảng Dân Chủ đó nghe!” Tôi thắc mắc hỏi tại sao? Định nói: “Đảng Cộng Sản Đông Dương mới là Đảng lãnh đạo kháng chiến. Đảng Dân Chủ chỉ là một thứ cây kiểng, không có vai trò gì đâu.” Một hôm tôi tò mò hỏi bác Hai Trần Trung Trực phó Ty, có phải Bác Hai là đảng viên Đảng Dân Chủ không? Bác vui vẻ đáp: “Ừ, mày cũng biết à?” Tôi nói: “Cháu muốn biết Đảng Dân Chủ khác với Đảng Cộng Sản như thế nào? Bác Hai gõ mấy cái lên vầng trán rộng: “Chà, nói sao cho mày hiểu đây ha!” Bác thò tay vô túi áo lấy ra bao thuốc lá đặt lên đầu bàn, nói: “Coi như cái Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản đang ở trên đó. Còn chúng ta đang ở dưới này. Ai cũng muốn đi lên cái ‘thiên đàng’ đó cả. Điều khác nhau là đảng Cộng Sản gồm những người tả khuynh, họ quyết tiến lên thật nhanh, nên chọn con đường thẳng băng. Gặp núi cao? Vượt núi! Gặp sông sâu? Vượt sông! Đảng Dân Chủ của chúng tao cũng chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng gồm những trí thức ôn hòa, muốn đi chậm rãi an toàn nhứt. Núi cao? Ta tránh núi, mở đường đi vòng! Sông sâu? Ta kết bè, đóng ghe hoặc bắc cầu! Rồi thì cũng tới đó thôi. Hai thằng con tao, Trần Trung Hiếu, Trần Trung Tín đang ở bộ đội, tụi nó trẻ, máu nóng, nên đều vô đảng Cộng Sản.” Nguyễn Thị Định gợi ý và cùng tôi tìm hiểu các chức vụ lãnh đạo của tỉnh, hóa ra tất cả đều do đảng viên Cộng sản nắm. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh là ông Nguyễn Văn Diệp, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh là ông Phan Triêm, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Tỉnh đội trưởng dân quân tự vệ là Nguyễn Tấu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (trước đó ông là bí thư tỉnh ủy); Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền là ông Nguyễn Chí Hữu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến là ông Lê Hoài Đôn, ủy viên Thường vụ phụ trách Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy; Trưởng ty Xã hội là ông Hồ Văn Ngôi, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng ty Giáo dục là ông Võ Văn Hưỡn, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Chủ nhiệm báo Đoàn Kết của tỉnh là ông Trần Văn Anh, tỉnh ủy viên; tỉnh đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Cứu quốc là ông Trần Chính, tỉnh ủy viên; chủ tịch Hội Phụ nữ Cứu quốc là bà Nguyễn Thị Định, tỉnh ủy viên… Mấy tháng sau bọn trẻ chúng tôi xin thi vào trường trung học. Tôi và Lê Huỳnh Thọ trúng tuyển. Các trường trung học của kháng chiến đều đóng trong rừng U Minh. Từ Bến Tre đi bộ tới đó mất nửa tháng và tốn khá nhiều tiền. Tôi nói khó khăn này với cha tôi. Không thể ngờ, cha tôi giải quyết nhẹ như không: ông xin thôi chức kiểm sát viên của Ty Xã hội, một địa vị quan cách mạng, rồi mua mấy kílô thuốc nhuộm quần áo, mấy chục viên gạch xây bếp lò, một cái chảo đụng to, ra đứng giữa chợ Thạnh Phú, lắc cái trống kêu lung tung, kêu “Nhuộm đây! Nhuộm quần áo đây!” Hơn một tháng, cha tôi kiếm đủ số tiền cho tôi đi học. Nhưng ông bị coi là thiếu tinh thần cách mạng, phải rời Bến Tre đi vào Cà Mau, kiếm sống bằng việc bứt dây choại đem bán cho những người làm nghề bện đăng, bện đó bắt cá. Năm 1951, giặc Pháp chiếm hết các quận Mỏ Cày, Thạnh Phú, ty giáo dục phải giải thể. Nguyễn Thị Định chạy lên Sài Gòn, học trường sư phạm, ra trường làm cô giáo ở trường Bông Sao, quận 8 và lấy chồng là một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Posted on Tháng Ba 12, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/12/tu-theo-cong-den-chong-cong-9-bac-hai-noi-ve-dang-cong-san-va-dang-dan-chu/ Đọc thêm: - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (10): https://www.minds.com/newsfeed/1020170533086666752?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (8): https://www.minds.com/newsfeed/1020169358402965504?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
17 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (8) Hồi ký Tống Văn Công Hồng quân Platon – Thành vào lính lê dương Tháng 5 – 1948 tôi học xong lớp nhất trường tiểu học (ở xã Giao Thạnh, quận Thạnh Phú), chờ ngày thi vào trung học hoặc nhận công tác kháng chiến. Khoảng hạ tuần tháng 6 có tin bộ đội mới về diễn tập ở cuối xã, thế là cả bọn kéo nhau đi xem. Gặp lúc bộ đội đang nghỉ trong các nhà dân. Tôi chợt nhìn thấy trên cây ổi to trước khoảng sân của ngôi nhà lớn có một chú bộ đội mắt xanh mũi lõ đang trèo hái quả ném xuống cho lũ trẻ. Chuyện lạ không thể tưởng, thích quá, tôi vội chạy vào. Bác gái chủ nhà bước ra kêu: “Đủ rồi! Chú Thành xuống uống trà đi.” Chú Tây bộ đội trả lời tiếng Việt rành rẽ, “Em không uống trà đâu. Chị cho em vài lít ‘đế’ nhậu với ổi dược không?” “Được, để chị nói với anh.” Tôi bám theo: “Anh ơi, anh là người Pháp á?” Anh Tây vui vẻ: “Hỏng phải, anh là Hồng quân Liên Xô. Em có biết Liên Xô không, là một nước trong phe Đồng Minh chống Phát Xít đó.” Tôi đáp, trong giáo trình lớp nhứt tôi có được học điều đó. Từ trên thềm, bác trai chủ nhà gọi anh Tây bộ đội và tôi vào. Trên bàn đã dọn những đĩa khô cá hố nướng thơm phức, hai đĩa ổi, mỗi quả bổ làm tư, mấy cái ly nhỏ có chân. Đóng quân ở nhà này là một khẩu đội “mochiê” (súng cối) mà anh Tây bộ đội là khẩu đội trưởng. Tôi nói, em là học trò tiểu học không được phép uống rượu, chỉ xin các chú bác cho được ngồi hóng chuyện người lớn. Bác gái đem cho tôi mấy con cá khô nướng nhấm nháp. Câu chuyện được biết về ông Tây như sau: Platon Skizhinsky học xong trung học thì Đức tấn công Liên Xô. Platon vào quân đội, trong một trận đánh không cân sức, bị phát xít Đức bắt, buộc đi đốn gỗ. Sau khi phát xít Đức đầu hàng, Platon bị Hồng Quân kết án tử hình vì tội “bị địch bắt mà không chết”! Trên đường giải về Liên Xô, anh liều nhảy tàu lửa trốn sang Pháp, con đường sống duy nhất là vào lính Lê Dương. Anh sang Việt Nam trong đoàn quân Lê Dương, sau tên Platon ghép thêm chữ Thành tiếng Việt. Năm 1946 tại Bến Tre, trên đường lái xe chở thực phẩm, Platon nhận được truyền đơn kêu gọi phản chiến. Sau đó anh liên lạc được với người đại diện Việt Minh tên là Mô, rồi mang hai khẩu súng ra vùng kháng chiến. Sau hai tuổi quân, Platon lập nhiều chiến công, nói thạo cả tiếng lóng của nông dân xứ dừa và được bộ đội cưới cho cô vợ đẹp nhất Bến Tre, sinh một con gái tên là Tanhia. Sau khi tập luyện thành thục đúng kế hoạch, tiểu đoàn 307 kéo lên Giồng Luông, xã Đại Điền long trọng làm lễ xuất quân ngày 5/7/1948. Vì nơi đó khá xa nên dù rất muốn tôi không thể đi dự. Câu chuyện của chú Hồng quân Platon Thành để lại trong tôi nỗi thương cảm lẫn băn khoăn: “Bị địch bắt mà không chết có đáng chịu tội tử hình?” Việc này làm tôi nhớ đến những bản án tử hình đối với anh Sấn, bạn Thạch ở quê tôi. Không ngờ hơn 30 năm sau, năm 1981 tôi đi thăm Liên Xô với tư cách Phó Tổng biên tập báo Lao Động và được Platon Thành làm phiên dịch cho hơn 20 ngày. Câu nói đáng nhớ của anh khi gặp tôi là: “Năm 1955 tôi rất vui khi được về nước, bởi vì cáithằng cha khốn nạn đó đã chết hơn hai năm!” (Stalin chết năm 1953). Tôi nhắc chuyện anh leo cây ổi của bác chủ nhà ở Giao Thạnh nơi tiểu đoàn 307 đóng quân. Platon Thành nói: “Các đồng đội ngày xưa sang đây đều mang ổi cho mình. Nhiều người Việt Nam quý quả xoài, măng cụt, vải, nhãn nhưng theo mình ổi là thứ quả ngon nhất Việt Nam. Buổi trưa giã đĩa muối ớt, mang một xị đế vào vườn ổi lai rai là hết ý!” Posted on Tháng Ba 11, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/11/tu-theo-cong-den-chong-cong-8-hong-quan-platon-thanh-vao-linh-le-duong/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (9): https://www.minds.com/newsfeed/1020169965712932864?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (7): https://www.minds.com/newsfeed/1020168872738238464?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Tống Văn Công (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
16 views ·
ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (7) Hồi ký Tống Văn Công Quốc hội và hiến pháp 1946 Tháng 12 – 1945 Pháp tái chiếm 20 tỉnh thành Nam bộ. Bến Tre là tỉnh cuối cùng chưa bị chiếm. Tỉnh ủy Bến Tre xin Trung Ương Đảng cho tỉnh tổ chức bầu đại biểu Quốc Hội sớm từ ngày 25/12, thay vì ngày 6/1/1946 như quy định chung. Hồi đó ngày 6 tháng 1 còn được cho là ngày thành lập Đảng. Mãi đến sau năm 1960, người ta mới biết ngày 6 tháng 1 là ngày âm lịch, theo dương lịch là ngày 3 tháng 2 – 1930. Tỉnh Bến Tre được bầu 5 đại biểu Quốc hội. Mặt trận Việt Minh do đảng Cộng sản lãnh đạo, giới thiệu sáu người ra ứng cử là: Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Cái, Đỗ Phát Quang, Nguyễn Tẩu, Trần Quế Tử, Ca Văn Thỉnh. Trong đó, hai người sau là trí thức cảm tình đảng. Hầu hết cử tri đều gạch tên người đứng ở cuối danh sách, do đó ông Ca Văn Thỉnh bị thất cử. Có thể nói, “đảng cử dân bầu” đã có từ cuộc bầu cử Quốc Hội đầu tiên. Điều này không phải chỉ ở tỉnh Bến Tre, mà khắp cả nước. Xin nêu vài ví dụ, ở Hải Phòng, ông Vũ Trọng Khánh, nguyên Thị trưởng Hải Phòng của chính phủ Trần Trọng Kim, đương kim Bộ trưởng Bộ Tư pháp của chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh, do từ chối sự giới thiệu của Mặt trận Việt Minh thành phố Hải Phòng mà bị thất cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lo lắng đã yêu cầu ông Vũ Trọng Khánh chấp nhận sự giới thiệu của Mặt trận Việt Minh tỉnh Hà Đông (chưa bầu cử), nhưng ông vẫn kiên quyết từ chối. Do không có chân trong Quốc Hội, ông phải rời ghế Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong khi đó, cố vấn Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Đại) chấp nhận sự giới thiệu của Mặt trận Việt Minh tỉnh Thanh Hóa, đắc cử với 92% số phiếu bầu. Lâu nay, Quốc Hội được bầu năm 1946 được coi là Quốc Hội đa nguyên, đa đảng là chủ nhân của bản Hiến Pháp 1946 dân chủ, tam quyền phân lập. Thực ra không phải như vậy. Ngày 20 tháng 9 năm 1945 chủ tịch chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL thành lập Ban soạn thảo Hiến Pháp gồm 7 thành viên: Trưởng ban là Hồ Chí Minh, các ủy viên gồm Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (tức tổng bí thư Trường Chinh). Với ban soạn thảo này thì rất khó để có thể soạn ra được bản Hiến Pháp 1946. Do thực hiện thỏa thuận giữa Việt Minh với Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách), Quốc Hội phải nhận vào 70 đại biểu của hai đảng này không qua bầu cử (Việt Quốc năm mươi đại biểu, Việc Cách 20 đại biểu). Sau khi có thêm 70 đại biểu không qua bầu cử, ngày 2/3/1946, Quốc Hội bầu ra ban soạn thảo hiến pháp gồm 11 thành viên: Tôn Quang Phiệt, Trần Duy Hưng, Nguyễn Thị Thục Viên, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tuấn Thọ (Việt Cách), Phạm Gia Đỗ (Việt Quốc). Ngày 9/11/1946, Quốc Hội thông qua hiến pháp với 240 trên 242 phiếu thuận. Hai người bỏ phiếu chống là Nguyễn Sơn Hà với lý do Hiến Pháp không có điều khoản cho tự do kinh doanh; Phạm Gia Đỗ phản đối chế độ chỉ có một viện. Nhưng sau đó mấy tháng, 70 đại biểu của Việt Cách, Việt Quốc chỉ còn lại 7 người và Hiến Pháp 1946 chỉ còn nằm trên giấy. Ngày 4/12/1953 Quốc Hội, gồm những người được bầu năm 1946, thông qua luật Cải Cách Ruộng Đất, tước đoạt ruộng đất của người bị quy là địa chủ, trái với điều 12 của Hiến Pháp 1946: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo hộ”. Thật ra như ở trên đã nói, bản Hiến Pháp này đâu phải là của họ! Nhà báo Huy Đức có nhận xét rất đúng “mặc dù Hồ Chí Minh đặt vấn đề xây dựng hiến pháp rất sớm, Hiến Pháp 1959 mới thực sự là hiến pháp của ông”. Từ 8/1945 tôi ở trong đội Thiếu nhi Cứu quốc xã An Bình Tây. Thời gian này có vài chuyện mà mỗi khi nhớ lại cảm thấy ray rứt: Giữa năm 1946, vào buổi sáng, tôi đang đi xuống chợ thì gặp bốn anh du kích tay cầm mã tấu giải ang Sấn (học trên tôi ba lớp) hai tay bị trói ké, đi về hướng Giồng Gạch, sông Hàm Luôn. Không cần hỏi, ai cũng biết đó là hướng đưa người đi “mò tôm”. (Tiếng lóng của thời đó chỉ việc đâm chết rồi ném xác xuống sông.) Nghe nói, anh Sấn bị nghi làm gián điệp, chỉ vì hôm lính Pháp đi ruồng bố, anh đã “trăm” tiếng Tây với thằng quan ba! Cùng thời gian này (sau khi Pháp chiếm Ba Tri vài tháng) ở khắp quận đều có những vụ “trừng trị bọn gián điệp”: sếp Cang ở Tân Xuân; Hương quản Thành ở An Đức; Thạch (bạn học cùng lớp với tôi, con trai Cai Tổng Đệ)… Họ bị giết, không có cáo trạng, không có tòa án xét xử! Số đông người dân vẫn cho rằng, trước họa ngoại xâm, chuyện “mạnh tay” như vậy là cần thiết (!). Năm 1947, Ba Tri có nhiều trận phục kích đánh cả đoàn xe của Pháp. Giữa tháng 6, đại đội 885 phục kích ở Giồng Quéo, tiêu diệt năm mươi lính Pháp và Lê Dương, thu nhiều vũ khí, đặc biệt có nhiều đồ hộp và thuốc lá thơm. Một chiến sĩ của đại đội 885 nhắn tin cho má anh đến thăm, ban chỉ huy cho bà mấy bao thuốc lá Bastos. Trên đường về, bà vừa đi vừa phì phèo điếu thuốc, khi đến làng An Bình Tây thì có mấy người ăn mặc giống như lính quận, tay lăm lăm súng ngắn lưỡi lê, bắt bà đưa vào chùa Long Khánh, quát hỏi: “Thuốc thơm này ở đâu ra? Ai cho? Khai mau!” Mang nỗi lo của một bà má bộ đội, lại nghe cách ăn nói hỗn hào, bà nghĩ đã gặp bọn theo Tây. Bà bảo: “Tôi lượm được ngoài lộ đá.” Lập tức bà bị những cú đấm như trời giáng. Lúc ấy chúng tôi họp đội Thiếu nhi cứu quốc ở nhà người bạn, nghe người nhà bên cạnh bảo vừa bắt được gián điệp, du kích đang tra hỏi ở chùa Long Khánh. Chúng tôi ngừng họp kéo ra chùa và chứng kiến cảnh một bà già ốm yếu gan góc chịu những đòn tra tấn với mắt nhìn khinh bỉ, đôi môi mím chặt. Giữa lúc căng thẳng đó, có tiếng mõ báo động và người từ dưới Chợ Mới ùn ùn chạy lên hô “Tây ruồng”. Cuộc tra tấn dừng lại. Người trưởng nhóm giao nhiệm vụ cho anh tự vệ trẻ tuổi: “Nếu Tây tới gấp quá, thì mày cứ việc khử bả đi.” Nghe tới đó, bà già khóc rống “Trời ơi, cứ tưởng mấy chú là Việt gian, cho nên tui quyết không khai. Sự thật là tui đi thăm con tui là Trần Văn Tuấn ở đại đội 885 vừa đánh trận Giồng Quéo. Thuốc thơm là của chỉ huy bộ đội cho tui!” Posted on Tháng Ba 9, 2018 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2018/03/09/tu-theo-cong-den-chong-cong-7-quoc-hoi-va-hien-phap-1946/ ***** - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (8): https://www.minds.com/newsfeed/1020169358402965504?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (6): https://www.minds.com/newsfeed/1020168283910275072?referrer=HoangVanLam - ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH - Từ theo cộng đến chống cộng (1): https://www.minds.com/newsfeed/1020165338043068416?referrer=HoangVanLam
15 views ·