LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 60) Chương 10 Cuộc biểu tình ngày 09.12.2012 Tôi rời nhà lúc 06 giờ 30 phút. Đến bến xe bus đường Cộng Hòa tuyến chợ Bến Thành lúc 07 giờ kém 15 phút. Chờ mãi không thấy nhà văn Phạm Đình Trọng đến như đã hẹn, nên đành phải đi trước. Xuống xe ở dinh Thống Nhất, tôi đi về phía Nhà Hát Lớn thành phố trong tâm trạng hồi hộp. Đây là lần thứ mấy không nhớ, đi biểu tình lần này có về không như các lần trước? Xung quanh lối vào Nhà Hát Lớn thành phố dầy đặc các lực lượng bảo vệ: công an hàng rào kẽm gai các loại, dân phòng, thanh niên tự nguyện, trật tự đô thị. Người yếu bóng vía chỉ nhìn thấy cảnh này đã phải quay lại chứ đừng nói vô đấy mà hô khẩu hiệu! Trước thềm Nhà Hát Lớn đang có hòa nhạc nhằm phá cuộc mít tinh như thông báo trên mạng. Hòa nhạc chấm dứt. Quảng trường nhỏ trước thềm nhà hát vẫn đông người. Mọi ánh mắt nhìn nhau, tìm hiểu. Không biết ai là người đi biểu tình, ai là người đến phá mít tinh, biểu tình. Không khí nghi kỵ bao trùm không gian. Tôi đi khắp lượt, nhìn thẳng vào mặt các sĩ quan công an đang chỉ huy lực lượng trấn áp, gương mặt họ căng thẳng nhưng không hung hãn, có vẻ như bối rối. Tôi bảo một sĩ quan đeo lon trung tá chừng năm mươi tuổi: Các anh làm việc cẩn thận đấy. Tưởng tôi là cấp trên của họ đi kiểm tra, anh ta vâng dạ nghiêm chỉnh! Một anh bạn trẻ chừng 30 tuổi, trắng trẻo, đẹp trai nhìn tôi trừng trừng. Tôi nhìn lại với ánh mắt giận dữ. Bỗng anh ta hỏi: Chú cũng đi biểu tình à? Tôi quát: Thế thì sao? Tiếng tôi vừa dứt thì cậu thanh niên này nhanh như chớp rút lá cờ đỏ sao vàng giấu trong ngực áo ra, hai tay căng lá cờ lên, vừa hô vừa tiến lên phía Nhà Hát: Trường Sa, Hoàng Sa, Việt Nam. Như cái ngòi nổ đã phát lệnh, tất cả cờ, biểu ngữ giấu trong người được tung ra, tiếng hô vang dậy: Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Nhìn quanh thấy các bạn tôi, nhà thơ Lưu Trọng Văn, nhà nghiên cứu Khánh Trâm dắt theo con nhỏ, nhà báo La Khương Ngãi, đã có mặt trên thềm nhà hát. Nhưng chưa thấy các vị chủ trì cuộc mít tinh đâu cả. Chúng tôi lại hô vang Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đã đảo Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam. Một vị cao niên tay chống gậy hô lớn: Bán nước là có tội với tổ tiên! Vừa lúc đó thì anh Lưu Trọng Văn hô: anh Mẫm đã đến. Hoan hô anh Mẫm. Huỳnh Tấn Mẫm, một trong năm vị khởi xướng cuộc mít tinh tại nhà hát thành phố, mở cuốn sổ tay ra và anh bắt đầu đọc. Không có micro cầm tay, anh đọc thư thái, nói rõ lý do cuộc mít tinh, giọng anh đều đều chỉ vài phút thôi, thế là cuộc mít tinh kết thúc, mọi người tràn xuống đường để biểu tình, diễu hành, Lưu Trọng Văn đi đầu hô lớn: Tổ quốc trên hết! Sau này anh Mẫm kể, anh ra khỏi nhà từ rất sớm, tắt di động và đi hình chữ chi trên hè phố để tránh bị bám đuôi, vì thế, anh là người duy nhất trong năm vị (Tương Lai, Lê Hiếu Đằng, Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu) thoát được sự ngăn chặn tại nhà của công an. Hai ngày sau cuộc biểu tình đó, hai công an đến gõ cửa nhà tôi. Người đi trước là phó công an quận Tân Bình, nơi tôi cư trú, anh tên là Tâm. Người thứ hai theo sau là một nhân viên còn rất trẻ, cả hai đều mặc thường phục. Câu đầu tiên anh Tâm hỏi: bác Trọng (Phạm Đình Trọng) bữa trước tới đây có việc gì? Thái độ của Tâm hòa nhã. Tôi để bà xã tôi trả lời. Người ta vây bác Trọng nên bác ấy vào đây. Có một ông già mà đến mấy chục người canh giữ cả buổi sáng, các chú tiêu tiền của dân đóng thuế như thế à? Sĩ quan Tâm không trả lời được các câu hỏi của một phụ nữ quanh năm ở nhà nội trợ như bà xã tôi. Cuối cùng anh Tâm quay ra khuyên giải: các bác lớn tuổi rồi, nghỉ ngơi an hưởng tuổi già. Bà xã tôi lại vặn: Thế mình ở đây sung sướng, để mặc bà con người dân bị Tàu nó bắn giết ngoài biển à? Anh Tâm lại nói: Việc đó để Đảng và nhà nước lo! Bà xã tôi lại nói: Ông Trọng Lú thì làm sao mà lo được? Anh Tâm hỏi: Trọng Lú là ai? Bà xã tôi thật thà: Thế chú không biết Trọng Lú là ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư à? Tôi thấy ở ngoài Hà Nội ai cũng gọi ông ấy là Trọng Lú. Sĩ quan Tâm quay sang tôi, bằng một giọng nghiêm túc, hỏi: Vậy theo chú Khải thì ai lãnh đạo đảng bây giờ là tốt nhất? Tôi trả lời: Nếu chỉ bầu tổng bí thư trong bộ chính trị thì bác Hồ luôn là người Thanh Hóa! Rồi tôi kể chuyện “Bác Hồ là người Thanh Hoá” cho anh Tâm nghe: Có bốn anh đi chơi với nhau. Ba anh là người Thanh Hóa, một anh là người Nghệ An. Anh quê Nghệ An nói: bác Hồ là người quê tôi. Ba anh kia không chịu. Cuối cùng phải bầu. Kết quả bác Hồ là người Thanh Hóa. Kể đến đây, tôi nhấn mạnh: rõ ràng bầu dân chủ, công khai, minh bạch mà bác Hồ vẫn là người Thanh Hóa, vì cái đa số ấy người ta gọi là “đa số tối thiểu”. Đảng của các anh có biết bao người tài giỏi và tốt. Nếu bầu tổng bí thư dân chủ trong toàn đảng thì chắc chắn sẽ có một tổng bí thư đủ sức lãnh đạo đảng thoát khỏi tình trạng bế tắc. Anh Tâm chăm chú nghe tôi nói và không có phản ứng gì. Tôi tiếp tục: Là một nhà báo, tôi đi biểu tình và quan sát rất kỹ, nếu người ta muốn dập tắt cuộc biểu tình từ phút đầu tiên thì chắc chắn làm được, vì lực lượng đàn áp nhiều hơn lực lượng biểu tình, nhưng biểu tình vẫn diễn ra, sau đó mới bị chia cắt ra từng mảnh nhỏ. Hình ảnh của cuộc biểu tình lập tức được truyền đi toàn thế giới. Vậy là, đảng và nhà nước Việt Nam cũng cần để cho Trung Quốc biết rằng, nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu mất biển đảo của mình. Sĩ quan Tâm nghe tôi một cách chăm chú, sau đó anh nói: Nếu chú biết được như thế thì tốt quá! Trước khi ra về, anh Tâm còn nói: Thế nào cháu cũng phải gặp bác Trọng để trao đổi với bác ấy! Sau khi gặp sĩ quan Tâm, tôi suy nghĩ và thấy cần phải viết một bài đưa lên mạng internet nhận định về cuộc biểu tình ở Sài Gòn ngày 09.12.2012. Bài đó có nhan đề: “Thấy gì qua cuộc biểu tình ngày 09/12/2012 tại Sài Gòn”. Trang mạng Bauxite và BBC tiếng Việt đã đăng bài này ngày 15/12/2012. Trong bài viết đó tôi nhấn mạnh vài ý chính: Thứ nhất, tuy những người chủ soái phát động biểu tình là các vị nhân sĩ trí thức Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu, Lê Hiếu Đằng, Tương Lai bị ngăn chặn đến nơi tập kết một cách hết sức vô lý, bất chấp pháp luật như các vị ấy đã lên tiếng tố cáo, phản đối sau này nhưng cuộc biểu tình vẫn nổ ra rất ròn rã trong tiếng thét vang của lớp trẻ. Những tiếng hô: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”, hay “Đả đảo Trung Quốc xâm lược biển đảo của Việt Nam” và “Bảo vệ tổ quốc Việt Nam” … vang vọng cả một góc trời, nói lên rằng lòng yêu nước thiết tha của giới trẻ với khát vọng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của tổ quốc mà cha ông đã đổ bao xương máu để gìn giữ là có thật. Điều đó nói lên rằng, những người chủ xướng cuộc biểu tình này là lương tâm của đất nước. Thứ hai, lớp trẻ Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung bao giờ cũng là những người lính tiên phong, can đảm nhất để bảo vệ tổ quốc. Cho dù bao nhiêu cám dỗ, bao nhiêu sự bày đặt để đánh lạc hướng tuổi trẻ, nhưng những tâm hồn trẻ sáng suốt và nhạy cảm nhất vẫn dũng cảm xông lên hàng đầu bất chấp hiểm nguy để “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Điều thứ ba tôi cảm nhận được ở sáng ngày 09.12.12 đó là, ngay cả những bạn trẻ được điều đến để chia cắt cuộc biểu tình thì từ đáy lòng họ cũng cảm thấy mình đang làm điều gì đó không phải, không đúng với lương tâm mình. Tôi đã tiến đến trước hàng quân áo xanh của “thanh niên tình nguyện” và nhìn thẳng vào các bạn trẻ này. Thực lòng, tôi rất cảm tình với các bạn bởi hầu hết các gương mặt đều ánh lên vẻ hiền hòa, dễ mến. Chính vì thế mà khi ông chỉ huy của họ mặc áo sơ mi cộc tay (sau này tôi mới biết là thượng tá, trưởng công an quận 1 Trần Đức Tài) ra lệnh: “Chia cắt ra!”. Nghe lệnh mà các bạn trẻ này vẫn đứng yên. Sau nhiều lần thúc giục, họ mới từ tốn tiến lên bậc thềm cao của nhà hát lớn, đứng sau đoàn biểu tình và đội quân áo xanh này vẫn không hành động gì cả. Mãi sau họ mới chia cắt đoàn bằng những lượt xô đẩy. Cuối cùng, riêng với tôi cuộc biểu tình ngày 09.12.2012 là một điều bất ngờ thú vị. Nhớ lại sau ngày đất nước thống nhất, kỳ họp đầu tiên của Quốc Hội thống nhất. Trong ánh đèn lung linh bên hồ Tây tại khách sạn sang trọng nhất ở Hà Nội lúc đó tôi đã xiết chặt tay anh Huỳnh Tấn Mẫm. Vậy là đúng 36 năm, cũng tại thềm nhà hát lớn Sài Gòn, nơi mà gần 40 năm trước anh Huỳnh Tấn Mẫm đã từ đây dẫn đầu đoàn biểu tình của sinh viên Sài Gòn chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tôi lại được gặp anh Mẫm đứng đầu trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Cuộc đời cứ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. (SG 12/2012) HẾT ----- Tháng Một 23, 2017 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2017/01/23/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-60/#more-7966 *** - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 59): https://www.minds.com/newsfeed/1019927494915575808?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam === 0 === TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
1Upvote

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 59) Những Gương Mặt Trẻ Bên cạnh những nhà đấu tranh cho dân chủ cùng thế hệ với tôi mà đa số đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, gần đất xa trời, đã xuất hiện một lớp trẻ ngày càng đông đảo. Đó là những Vi Đức Hồi, Phạm Hồng Sơn, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Bắc Truyền, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Phong Tần, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Trương Minh Đức, Bùi Thanh Hiếu (Người Buôn Gió), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mê Gấu Nấm), Huỳnh Thục Vi, Nguyễn Hoàng Vi, Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Xuân Diện, Vũ Mạnh Hùng, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Ngô Quỳnh, Phạm Thanh Nghiên, Đặng Bích Phượng, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Lê Quốc Quân, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha. Vì đấu tranh cho dân chủ, nhiều người trong số họ đã bị Nhà nước độc tài đảng trị bỏ tù. Đôi ba người trong số họ tôi đã tiếp xúc. Có người tìm đến thăm tôi tại nhà riêng của tôi ở Sài Gòn như Người Buôn Gió, Phạm Hồng Sơn. Có người tôi tự tìm đến nhà họ như Lê Thị Công Nhân. Tôi biết những người bạn trẻ mới mẻ này hoàn toàn nhờ mạng internet. Như mối lương duyên của tôi với anh bạn trẻ Người Buôn Gió Bùi Văn Hiếu. Năm 2010 tôi làm bài thơ “Anh không về đại lễ đại lễ đâu em” đăng trên Bauxitevn. Người Buôn Gió có bài thơ họa lại rất hay. Ít ngày sau gió vô Sài Gòn tìm đến tôi. Qua tiếp xúc của tôi, qua hoạt động xã hội sôi nổi, năng động, quả cảm của lớp người trẻ và qua bài viết của họ cho tôi mấy suy nghĩ về lớp người trẻ hôm nay. Thứ nhất, họ thực sự là lớp người của kỷ nguyên văn minh tin học. Dòng máu Lạc Hồng trong tim họ cho họ lòng yêu nước và khí phách hiên ngang đi vào cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa đất nước, đi vào cuộc đấu tranh cho toàn vẹn giang sơn gấm vóc và internet cho họ thứ vũ khí trong cuộc đấu tranh đó. Với internet, thứ dân chủ giả hiệu, thứ bánh vẻ của chủ nghĩa xã hội không còn đánh lừa được họ nữa, tội ác của đấu tranh giai cấp không còn che đậy được nữa. Họ không còn phải mất những năm tháng quý giá của cuộc đời mới tìm ra sự thật như thế hệ trước họ. Internet cho họ có đòi hỏi không thể thiếu về dân chủ, về Quyền con người. Càng khát khao về dân chủ, về Quyền con người, họ càng thấy rõ việc làm sai trái phản dân tộc, phản đất nước của những người Cộng sản cầm quyền và họ quyết liệt đấu tranh với sai trái đó. Tôi đến nhà thăm Lê Thị Công Nhân ở Hà Nội sau ngày cô ra tù, khi cô cô mang thai đứa con đầu lòng. Nhân kể, những ngày Hà Nội có biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo của ta, luôn có vài chục công an bủa vây quanh tòa nhà tập thể cô ở. Công an rải từ trên hành lang lầu ba nhà cô xuống dưới đường ngăn cô đi biểu tình. Có viên công an còn định xông vào nhà cô. Với cái bụng mang thai sắp đến ngày sinh, cô kiên quyết đứng chắn cửa không cho viên công an vào nhà. Cô nói: cháu sẵn sàng chết lúc đó nếu viên công an dùng sức mạnh cứ xong vào nhà cháu. Nói chuyện với tôi, Nhân lại khẳng định: dù chỉ có mình cháu, cháu cũng đấu tranh đến cùng với nhà nước cộng sản lừa dối này. Chính Người Buôn Gió chở tôi đến nhà Lê Thị Công Nhân. Gió vứt chiếc xe máy ở đầu phố và kéo tôi đi thật nhanh lên cầu thang vào nhà Nhân. Gió nói: có thế mới vượt qua được đám người luôn rình rập quanh nhà Nhân, ngăn cản khách đến thăm Nhân. Tôi còn được biết chồng Nhân không thể gửi xe để lên nhà mình trên lầu ba vì công an đã làm việc với tất cả các chủ giữ xe trong phường, cấm họ nhận xe gửi của Ngô Nhân Quyền, chồng Nhân, khiến anh phải gửi xe tận phường khác rồi cuốc bộ hai, ba cây số về nhà mình! Có lẽ không có ở đâu trên trái đất này có một chính quyền cư xử với dân ti tiện như vậy. Chỉ có chế độ độc tài đảng trị của mấy người bần cố nông vô học, không biết gì đến pháp luật, khi nắm được chính quyền vẫn ngồi xổm lên pháp luật mới hành xử như vậy. Những kẻ có quyền sử dụng quyền lực nhảm nhí đó làm cho người dân coi thường quyền lực, khinh miệt người có quyền và người dân càng thấy đó là những kẻ không xứng đáng với quyền lực, một chính quyền không xứng đáng, cần phải thay thế. Không biết các nhà lãnh đạo cấp cao bên trên có biết cấp dưới đang bôi nhọ nhà nước cộng sản bằng những việc làm hèn hạ, ti tiện hay chính họ chỉ bảo bên dưới làm như vậy? Tôi lại nhớ đến một chuyện khác do chính ông Phạm Như Cương, ủy viên dự khuyết trung ương đảng, Chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam kể với tôi. Ông Cương là người kế nhiệm ông Hoàng Minh Chính làm Viện trưởng Viện Triết học khi đã về hưu, ông viết thư góp ý gửi cho trung ương đảng rằng dù ông Chính có sai lầm về nhận thức tư tưởng nhưng lại cho côn đồ ném cứt vào nhà ông Chính là việc làm vô văn hóa. Chỉ vì bức thư đó, ông Cương bị coi là phần tử chống đảng và cấp quận nơi gia đình ông Cương sinh sống được lệnh cử người theo dõi ông Cương. Người được đảng ủy quận giao nhiệm vụ theo dõi ông Cương lại là ông đảng viên Huỳnh Ngọc Ấn cùng làm việc với tôi ở đài phát thanh tiếng nói Việt Nam có nhà ở trong khu tập thể của đài, phía trước nhà ông Cương. Hôm ấy gặp tôi và ông Ẩn, ông Cương nói: Ông Lê Phú Khải ơi, ông Huỳnh Ngọc Ấn là nhà báo ở chỗ ông, lại là hàng xóm của tôi thế mà đảng ta lại cử ông vẫn theo dõi tôi thì ông thấy có hài hước không. Chưa hết. Hôm đó ông Cương còn tâm sự với tôi rằng một lần ông ra chợ ở gần nhà nghe mấy bà ở chợ chê ông Nông Đức Mạnh, tổng bí thư của đảng, tôi rất buồn! Từ câu chuyện về những ông cộng sản đó, tôi lại nhận ra đặc trưng thứ hai của lớp người trẻ đấu tranh cho dân chủ hóa đất nước hôm nay như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi Cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ lớn lên chỉ nhìn thấy những người cộng sản hàng đầu ở vị trí lãnh đạo cao chót vót chỉ là Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, những người bị nhân dân quá coi thường. Những người cộng sản thế hệ chúng tôi từng tiếp xúc có nhiều người tử tế, trong sạch, thực sự yêu nước, thực sự có lý tưởng cao cả. Tuy họ có đi nhầm đường, họ mải miết theo đuổi một học thuyết sai lầm nhưng cuộc đời họ là cuộc đời tận tụy chiến đấu, hy sinh cho một lý tưởng cao đẹp, cuộc đời họ là tấm gương sáng vì dân, vì nước để thế hệ chúng tôi cảm phục, yêu mến. Những người cộng sản đó nay hoàn toàn không còn nữa. Tuổi trẻ là tuổi đi tìm lí tưởng, say lí tưởng. Những người cộng sản hôm nay chỉ còn những người “đầu rỗng răng chắc” thì tuổi trẻ không thể chấp nhận là lẽ đương nhiên. Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay đã trở thành vật cản trên con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Không phải chỉ là sức cản. Độc đảng là môi trường dung dưỡng sự yếu kém và tham nhũng còn tạo ra sức tàn phá đất nước, tàn phá những giá trị văn hóa, đạo lý, tàn phá lòng tin. Đảng Cộng sản Việt Nam không còn có chỗ trong lòng tin của người dân Việt Nam. Mất chỗ dựa lòng dân, để duy trì sự thống trị xã hội của đảng Cộng sản, những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam phải tìm đến sự bảo trợ của nước Cộng sản đàng anh Trung Quốc cùng ý thức hệ. Những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã mang gia tài của tổ tiên người Việt Nam, mang lợi ích hôm nay và mai sau của người Việt Nam ra đánh đổi lấy sự bảo trợ đó. Cắt đất ở biên giới, cắt biển ở ngoài khơi cho Trung Quốc. Cho hàng hóa Trung Quốc tràn vào giết chết hàng hóa Việt Nam. Cho người Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ Việt Nam. Dâng những mảnh đất Việt Nam có vị trí chiến lược hiểm yếu cho Trung Quốc vào đầu tư, biến những mảnh đất đó trở thành lãnh địa của người Trung Quốc, người Việt Nam bị cấm bén mảng đến. Những việc làm đó của đảng Cộng sản Việt Nam đã bị tuổi trẻ hôm nay chỉ thẳng ra là bán nước. Và cô sinh viên xinh đẹp 20 tuổi Nguyễn Phương Uyên đã lấy máu viết lên vải trắng hàng chữ: Đi chết đi đảng CSVN. Bị đưa ra tòa án xử về tội tuyên truyền chống nhà nước, tuổi trẻ Phương Uyên đã dõng dạc tuyên bố: Tôi chỉ có tội yêu nước. Tôi chỉ chống đảng Cộng sản. Tôi không chống đất nước, không chống dân tộc Việt Nam của tôi. Câu nói của Phương Uyên ở tòa án cộng sản hôm nay chính là câu nói của người cộng sản Hoàng Văn Thụ ở pháp trường thực dân Pháp 69 năm trước. Hoàng Văn Thụ hoạt động chống Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc bị Pháp tuyên án tử hình. Hoàng Văn Thụ từ chối rửa tội trước khi bị bắn và đã dõng dạc nói với chị cha cố: nếu yêu nước mà có tội thì những người Pháp đang kháng chiến chống phát xít Đức bên nước ông, họ có tội không? Năm 1944 Hoàng Văn Thụ bị xử bắn. Năm 1945 Việt Nam độc lập. Tháng năm, năm 2013 Phương Uyên bị tòa sơ thẩm tuyên sáu năm tù giam. Tháng tám, năm 2013 ở phiên phúc thẩm bản án của Phương Uyên chỉ còn ba năm án treo. Những người trẻ tuổi như Phương Uyên là những tia sáng báo một bình minh mới đang đến với dân tộc Việt Nam. Xin chép lại bài thơ của tôi và bài hóa lại của người buôn gió, vì thế mà chúng tôi Từ biết nhau trên thế giới ảo đã quen nhau trong cuộc đời thực. Anh không về đại lễ đâu em Lê Phú Khải Anh không về đại lễ đâu em Dù Hà Nội nghìn năm hay vạn năm cũng thế Khi vua Lý lại mang mão áo vua Tàu Khi phim Việt Nam chỉ thấy sắc màu Trung Quốc “Thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” Ông bà ta là thế Nên mới còn non nước Việt hôm nay Hãy gửi cho anh một gói cốm màu xanh Để anh nuốt vào lòng cả mùa thu Hà Nội Gửi cho anh một nhành liễu Tây Hồ Để hồn anh mênh mang cùng sương khói. Tưởng nhớ người xưa đốt hương trầm là đủ Hãy để những tỉ đô la xây bệnh viện, công viên Để nghìn năm Thăng Long không thành nghìn mụn ghẻ Lở lói những công trình bị rút ruột ăn chia Để không còn những bộ phim Ngộ độc cả ca dao, băng huyết cả tâm hồn Sài Gòn 2010. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội Bài thơ họa lại của người buôn gió Gửi nhà báo Lê Phú Khải Người Buôn Gió Anh cứ về Hà Nội đi anh Nghe câu ca dao xưa còn chưa cũ “Vạn niên là vạn niên nào Thành xây xương lính, hào đào máu dân” Anh cứ về Hà Nội đi anh Chèo Vinashin diễn đến hồi gây cấn Vé bổ đầu một triệu một thằng dân Dù lớn bé trẻ và đều đổ đồng cùng hạng. Anh cứ về Hà Nội đi anh Hát câu hát của kiếp đời nô lệ “Chung một biển Đông, thắm tình hữu nghị” Mừng quốc khánh Tàu Bằng đại lễ Thănh Long. Tôi không tìm được cốm gửi cho anh Bởi tất cả đã nhuốm phẩm màu Trung Quốc Từ áo vua quan Nam, đến đồ chơi trẻ nhỏ Còn thứ gì nguyên thủy của nước ta. Xin gửi cho anh Câu quan họ vang trong ngày đại lễ Méo mó lời liền chị xứ Bắc Giang Con vua thì lại làm vua Con tổng bí gì lại bí xứ kia Đất ta chưa đến thời, dân mình chưa đến vận Con sãi ở chùa kẽo kẹt cúi quét lá đa Rồi mấy chốc sân chùa cũng thành dự án Lá đa cũng không còn, con sãi quét gì đây? Hà Nội 23.9.2010 NBG (Còn tiếp) ----- Tháng Một 16, 2017 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2017/01/16/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-59/#more-7963 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 60): https://www.minds.com/newsfeed/1019927882685296640?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 58): https://www.minds.com/newsfeed/1019927196230389760?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
45 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 58) Nghĩ suy từ Ấn Độ. Thư ngỏ gửi thủ tướng. Ăn mày dĩ vãng. Thông báo từ bỏ đảng. Nỗi ngán ngẩm thường ngày. Nỗi đau dân chủ. Kiêu binh thời đảng trị. Không thể đi ngược ý chí nhân dân. Dấu ấn. Không còn mùa thu. Ngước nhìn Quốc hội. Thưa chuyện với công cụ bảo lực chuyên chính vô sản. Đi xa nhìn về. Ông thủ tướng khinh trí tuệ, trọng bạo lực. Bi kịch Việt Nam. Thông điệp tháng tám… Đó là tên những bài chính luận của nhà văn Phạm Đình Trọng tôi nhớ chưa được đầy đủ. Mỗi bài viết đó là một cáo trạng đanh thép không thể chối cãi về sai lầm và tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam, về dã tâm thí bỏ lợi ích dân tộc Việt Nam, mang lợi ích dân tộc Việt Nam đổi lấy sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Việt Nam vào vòng nô lệ tổng cộng đổi lấy sự bảo kê của Trung Cộng để duy trì sự độc quyền cai trị đất nước của một đảng tham nhũng và mất lòng dân. Từ những bài viết đó, người đọc còn cay đắng nhận ra rằng: giành độc lập bằng bạo lực cách mạng vô sản do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thì Việt Nam chỉ có một nền độc lập không trọn vẹn lại phải trả bằng giá máu quá đắt, phải trả bằng vết thương chia rẽ, ly tán dân tộc và ly tán dân tộc Việt Nam còn mãi mãi rỉ máu khi còn sự thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà văn Phạm Đình Trọng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc vào ngày 11/5/2014 Tôi vẫn tự hỏi: Vì sao ai cũng thấy rõ chủ nghĩa xã hội đã làm cho đất nước ta điêu linh, nhân dân ta khốn khổ, tăm tối, cùng đường mà đến tận hôm nay tờ báo Văn Nghệ của hội Nhà văn Việt Nam vẫn trương cái slogan chữ đậm phía trên tên tờ báo: Vì chủ nghĩa xã hội? Vì sao bao nhiêu nhà văn tên tuổi một thời nay cứ im hơi lặng tiếng, ngậm miệng ăn tiền trước thảm cảnh nguy khốn của đất nước, trước nỗi thống khổ của nhân dân. Có đôi người mon men viết về hiện thực đau buồn của đất nước thì phải rào đón, che chắn, nói bóng nói gió xa xôi, nhạt nhẽo, hời hợt? Vì sao những nhà văn của một đất nước đang nguy khốn, của một nhân dân đang đau khổ lại có thể vô tâm và xôi thịt đến mức xúm lại tranh giành, chụp giật nhau giải thưởng nọ, giải thưởng kia để kiếm cái danh: nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh, nhà văn được giải thưởng nhà nước, để kiếm cái lợi mỗi giải thưởng vài trăm triệu đồng từ tiền thuế mồ hôi nước mắt của mấy bà già nghèo dầu dãi nắng mưa buôn bán mớ rau, mớ tép ở mon sông cuối chợ? Hỏi như vậy để tôi nhận ra trong hội nhà văn văn nô, hội nhà văn xôi thịt, hội nhà văn chỉ là thứ cây kiểng, là lớp phấn son làm đẹp cho bộ mặt chế độ độc tài thì những nhà văn thực sự nhà văn Như Phạm Đình Trọng quá ít ỏi! Không là thứ văn nô, Phạm Đình Trọng mới có thể viết về Ông thủ tướng khinh trí tuệ, trọng bạo lực, một ông thủ tướng giả dối, thấp hèn, khi nhậm chức thì hùng hồn tuyên bố: “Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu không chống được tham nhũng thì tôi xin từ chức ngay”. Nhưng khi thực thi thì: “Cả ông thủ tướng chính phủ hùng hồn tuyên bố chống tham nhũng cũng đi đầu đôn đáo, hăm hở, mê mải tham nhũng, nêu tấm gương lớn cho cả hệ thống quyền lực tham nhũng, tạo ra cả cơn lốc xoáy tham nhũng, tạo ra một thời bạo liệt tham nhũng. Tham nhũng tiền bạc. Tham nhũng đất đai. Tham nhũng cả quyền lực. Trong các loại tham nhũng đó thì tham nhũng quyền lực là nguy hại lớn nhất, di họa lâu dài nhất. Lịch sử gần 70 năm cầm quyền của đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có thời nào mà những người lãnh đạo cấp cao của đảng lại ngang nhiên giành những chiếc ghế quyền lực lớn về chính trị, quyền lực lớn về kinh tế cho con cháu, người thân của họ như thời ông Nguyễn Tấn Dũng là lãnh đạo hàng đầu của đảng Cộng sản, là người đứng đầu chính phủ.” Không là thứ văn nô, nhà văn mới có thể chỉ ra những người Cộng sản nắm quyền lực hôm nay hiện nguyên hình là những vua chúa phong kiến hủ bại thời mạt vận: “Thời nhà Lê suy tàn, đầu thế kỷ XVI, vua Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ, trụy lạc vô độ, đặt ra nhiều sắc thuế bóc lột dân, nhiều hình phạt độc ác đánh giết dân, giết cả 15 thân vương trong triều. Trước tội ác quá lớn, Lê Tương Dực liền sai kiến trúc sư tài hoa Vũ Như Tô xây điện trăm nóc, xây Cửu Trùng Đài nguy nga cầu xin thần linh che chở. Ngày nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây nhà thờ họ hoành tráng ở Rạch Giá, Kiên Giang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng xây nhà thờ họ Nguyễn Sinh trập trùng đền đài lộng lẫy xa hoa trên cả vùng đồi núi mênh mông ở Nam Đàn, Nghệ An. Đó là những Cửu Trùng Đài của triều Cộng Sản Việt nam đầu thế kỷ XXI.” (Ông thủ tướng khinh trí tuệ trọng bạo lực). Hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền ngân sách rót cho những “quả đấm thép” doanh nghiệp nhà nước do ông Thủ tướng và phe nhóm lợi ích của ông điều hành, phút chốc tan như mây khói. Vinashin sụp đổ, Vinalines phá sản. Bô xít Tây Nguyên thua lỗ. Nhiều trăm ngàn tỉ đồng tiền ngân sách nhà nước cứ lần lượt đội nón ra đi không để lại tăm tích. Ngân sách nhà nước trống rỗng. Dòng máu nuôi nền kinh tế đất nước cạn kiệt. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân phá sản kéo theo hàng triệu người thất nghiệp. Đất nước tan hoang vì những bàn tay lông lá của những nhóm lợi ích dưới sự thao túng của ông Thủ Tướng. Lòng dân ai oán, phẫn nộ. Sự tồn tại của đảng Cộng sàn, của Nhà nước Cộng sản bị đe dọa. Trước nguy khốn cận kề đó, từ cuối năm 2012 đến suốt cả nửa đầu năm 2013, cơ quan trung ương của đảng Cộng sản họp tới họp lui, hết hội nghị cán bộ toàn quốc, đến hội nghị trung ương này, hội nghị trung ương khác. Những hội nghị dồn dập tốn kém hàng ngàn tỉ tiền thuế của dân mà không vạch ra được một khuôn mặt tham nhũng, không kỉ luật được một quan chức hư hỏng. Chỉ tạo cơ hội cho bộ máy tham nhũng càng cố kết bền vững thêm. Nhưng với bài Ông thủ tướng khinh trí tuệ trọng bạo lực được rất nhiều trang mạng tiếng Việt ở trong nước, ngoài nước đăng tải từ tháng mười, năm 2012, được đông đảo người Việt cả trong và ngoài nước đồng tình, chia sẻ, nhà văn Phạm Đình Trọng đã làm được cái việc cần làm mà cả cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng Cộng sản Việt Nam không làm được là chỉ ra một trung tâm quyền lực tham nhũng và từ cuối năm 2012 nhà văn đã hạ bệ trong lòng dân một ông ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ tham nhũng. Trong tình cảnh đất nước hiện nay, chưa lúc nào nhân dân cần những tiếng nói dũng cảm, chân thực của người cầm bút như lúc này. Thời bùng nổ của những trận đánh, của bom đạn, của những đội biệt động cảm tử đã qua. Trong thời bùng nổ thông tin này, trên xa lộ thông tin, ngoài những thông tin sự việc còn cần những thông tin mang năng lượng của tâm hồn tạo ra sự bùng nổ trong nhận thức, trong tình cảm người dân. Những bài viết của Phạm Đình Trọng đều mang một năng lượng tâm hồn như vậy. Có thể nói, chưa có nhà văn Việt Nam nào gây được ảnh hưởng tinh thần to lớn như Phạm Đình Trọng từ những bài viết chân thực của anh. Như thời bùng nổ của bom đạn, con đường ra trận đánh giặc giữ nước đã ghi tên anh. Thời bùng nổ thông tin, xa lộ thông tin cũng đã ghi tên anh. Có gần gũi Phạm Đình Trọng mới thấu hiểu năng lượng tình cảm anh có được từ đâu. Đúng như cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu năm xưa viết: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương. Đi với Phạm Đình Trọng, tôi thấy anh đắm đuối với từng ngọn cỏ, lá cây của thiên nhiên đất nước. Anh đứng hồi lâu ngắm đường cong của mái chùa Tây Phương ở Thạch Thất, Hà Tây, nay là Hà Nội. Thấy tấm bảng thông báo để choán ngay trước cửa chùa anh chuyển tấm bảng sang bên cạnh để cửa chùa phong quang. Anh tìm gặp người trong ban quản lý chùa nói về những panô, mái bạt, mái lều nilong xanh đỏ suốt hai bên đường bậc thang lên chùa và xô bồ chen lấn trong sân chùa che khuất mất dáng vẻ uyển chuyển, thâm trầm của đường nét kiến trúc Phật giáo độc đáo Việt Nam, phá mất vẻ đẹp hài hòa với thiên nhiên của ngôi chùa và tính lịch sử của ngồi chùa đã đi vào tâm linh con người và văn hóa Việt Nam. Đầu năm nay tôi và Phạm Đình Trọng có chuyến đi ngắm nhìn non xanh nước biếc kỳ thú miền Tây Bắc. Ngồi trong ôtô anh đăm đăm nhìn dãy núi trọc lóc chạy dài bên đường, thảm rừng xanh ngàn đời đã bị cạo trọc, triền núi phơi màu đất đỏ loét như rớm máu. Nhìn vẻ mặt rầu rầu của anh, tôi biết anh đau xót lắm. Đến khách sạn Mường Thanh ở thành phố Điện Biên, nhìn thấy hai bức tượng mạ vàng chóe, hai ông tướng tàu cưỡi ngựa đứng hai bên cửa khách sạn đón khách, lại thấy những đèn lồng đỏ giăng giăng, nhà văn Phạm Đình Trọng liền tìm gặp bà phó giám đốc khách sạn than phiền rằng kinh doanh khách sạn là kinh doanh du lịch và người đi du lịch là người đi thưởng thức văn hóa ở những vùng đất xa lạ. Vì thế kinh doanh du lịch chính là kinh doanh văn hóa, là mang nét đặc sắc về văn hóa của một vùng đất ra khoe để thu tiền thiên hạ. Thung lũng Mường Thanh là cái rốn, là trung tâm của một vùng văn hóa dân tộc rất đặc sắc, văn hóa dân tộc Thái Mèo. Thế mà đến Mường Thanh, tôi chỉ thấy tràn ngập văn hóa Trung Nguyên phương Bắc. Sao ở hai bên cửa khách sạn mang tên Mường Thanh này, chỗ hai tên tướng Tàu nghênh ngang cưỡi ngựa lại không phải là hai cô gái Thái thướt tha múa xòe, hoặc hai chàng trai mèo nhún nhảy với chiếc kèn bè nhỉ? Nghe nhà văn hỏi, bà giám đốc phó khách sạn còn trẻ cứ sửng sốt, ngỡ ngàng. Nhà văn Phạm Đình Trọng rủ tôi đi xe máy xuyên Việt để thấy được đầy đủ vẻ đẹp vừa kiêu sa lộng lẫy vừa đơn sơ, bình dị của đất nước. Theo anh, đi ô tô đông người không thể dừng lại chỗ mình muốn thì chỉ là cưỡi ngựa xem hoa của kẻ vô tâm, hời hợt, chưa đong đầy được nỗi khao khát với đất nước. Một người nặng lòng với đất nước như vậy, tất phải đau xót, phẫn nộ với những kẻ đang bòn rút tài nguyên, tàn phá đất nước. Anh là nhà văn đầu tiên và duy nhất từ rất sớm gửi thư cho thủ tướng chính phủ phản ứng gay gắt dự án khai thác bô xít Tây Nguyên, đã không mang lại hiệu quả kinh tế, lại tàn phá thiên nhiên, tàn phá nền văn hóa rừng độc đáo Tây Nguyên. Tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với Phạm Đình Trọng. Đáng buồn là trong những kỉ niệm đó lại có cả những bộ mặt hình sự của công an đi vào kỷ niệm của chúng tôi. Cuối năm 2010, chúng tôi hẹn nhau cùng ra Hà Nội, cùng đến thăm những người thân của chúng tôi ở Hà Nội, cùng ngồi thả cần câu xuống ao cá của ông bạn tôi ở Cẩm Giàng, Hải Dương, cùng đến viếng mảnh đất mang hồn Tự lực văn đoàn, nơi ba anh em tài hoa, ba nhà văn rường cột của Tự lực văn đoàn, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam ra đời, nơi những thành viên Tự lực văn đoàn đi về, hội tụ sinh hoạt văn chương. Đến thăm nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Thanh Giang ở phố Trung Văn, Hà Nội, khi ra về, chúng tôi vừa ra khỏi ngõ liền bị mấy công an chặn lại dẫn giải vào đồn công an. Họ thu giữ giấy chứng minh nhân dân của chúng tôi, lục soát túi, truy hỏi chúng tôi đủ điều về mối quan hệ của chúng tôi với tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang. Không có chứng cứ tội phạm, không có lệnh bắt giữ của cơ quan có thẩm quyền, công an vẫn ngang nhiên chặn đường, bắt giữ một nhà văn, một nhà báo, tra hỏi suốt 30 tiếng đồng hồ. Sự việc công an tùy chuyện bắt giữ chúng tôi được tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang đưa ngay lên xa lộ thông tin toàn cầu, tố cáo với thế giới. Đến sự việc ngày 9.12.2012, công an thành phố Sài Gòn, công an quận Tân Bình chỉ huy đội quân dân phòng đông đảo của hai phường bao vây, phong tỏa nhà văn Phạm Đình Trọng trong nhà tôi suốt buổi sáng, gây náo loạn, căng thẳng cả một góc phố vốn khuất nẻo, tĩnh lặng thì bộ mặt hình sự công an càng sỗ sàng nhảy vào đời sống dân sự riêng tư của chúng tôi. Lo lắng cho tôi, người hàng xóm bên cạnh nhà tôi liền gọi điện ngay cho con trai tôi đang ở xa, hốt hoảng báo tin: Công an đang vây kín quanh nhà ba mày. Bộ ba mày là trùm phản động ha? Mày về ngay mà đi thăm nuôi ba mày! Đó là những kỷ niệm buồn của chúng tôi về những năm tháng đất nước không còn chiến tranh mà cuộc sống không bình yên, mà bóng công an đè nặng xuống cuộc sống, phủ bóng đen vào cả kỷ niệm của chúng tôi, mà công an bao vây, bắt bớ, giam giữ, truy xét cả tư tưởng, tình cảm chúng tôi! Và nhà văn Phạm Đình Trọng là tiếng nói của khí phách nhân dân ở thời Nhà nước độc tài Đảng trị đã tước đoạt mọi quyền con người của người dân, ở thời công an bao vây, bắt bớ, giam giữa, truy xét cả tư tưởng, tình cảm con người. Nhà văn của một thời lịch sử đau buồn. (Còn tiếp) ----- Tháng Một 11, 2017 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2017/01/11/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-58/#more-7956 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 59): https://www.minds.com/newsfeed/1019927494915575808?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 57): https://www.minds.com/newsfeed/1019926839765204992?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
31 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 57) Tôi đã đọc sách văn chương, truyện ngắn, bút ký, tùy bút của nhà văn Phạm Đình Trọng và tôi đã có bài viết về tập sách chân dung văn học và kí sự của nhà văn, tập Bức Chân Dung Để Lại, đăng trên báo Văn Nghệ của hội Nhà Văn Việt Nam. Tôi đã đọc tất cả những thiên chính luận của nhà văn Phạm Đình Trọng viết về cái nhìn và tấm lòng nhà văn với hiện tình đất nước. Nhiều bài tôi là người đọc đầu tiên khi bài viết mới là bản thảo vừa hoàn thành, chưa đăng ở đâu cả. Trong truyện, văn của anh nhẹ nhàng trữ tình bao nhiêu thì trong chính luận, văn của anh lại mạnh mẽ, quyết liệt, hào sảng bấy nhiêu. Phạm Đình Trọng là người ít nói, anh thuộc dạng cả nghĩ mà ngại nói, đôi khi vụng nói nữa. Nhưng thật ngạc nhiên trong văn chính luận anh như một người hùng biện, mạch văn cuồn cuộn, sôi sục lạ thường, ý tứ trùng trùng lớp lớp, khúc chiết, mạch lạc, có sức thu hút và thuyết phục. Bất chấp thực tế chủ nghĩa Mác Lê Nin sai lầm, tội lỗi đã hoàn toàn thất bại, sụp đổ trên thế giới, đã bị loài người loại ra khỏi đời sống chính trị thế giới; bất chấp thực tế chủ nghĩa Mác Lê Nin đã mang lại nghèo đói, trì trệ kéo dài cho đất nước Việt Nam, mang lại quá nhiều đau khổ, quá nhiều máu và nước mắt cho nhân dân Việt Nam, những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn cố duy trì chủ nghĩa Mác Lê Nin để cố duy trì sự độc quyền cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trước sự ngoan cố tội lỗi đó, trước sự lì lợm nhẫn tâm đó của những người lãnh đạo Cộng sản, nhà văn Phạm Đình Trọng không thể làm ngơ. Với lý lẽ thấu đáo, với câu văn bình dị mà giàu cảm xúc, không viện dẫn kinh sách, rất ít từ ngữ chính trị khô khan, trong các bài chính luận của mình, nhà văn Phạm Đình Trọng đã tập trung chỉ ra sự huyễn hoặc, sai lầm, phản con người, phản tiến hóa của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Nhà văn lược lại lịch sử phát triển của xã hội loài người đi từ hoang dã đến văn minh, đi từ bầy đàn đến cá nhân: “Cuộc đời mỗi người đều có ba giai đoạn: Tuổi ấu thơ ngơ ngác, tuổi còn bị sai khiến, áp đặt, có nhà triết học coi đó là tuổi lạc đà, phải chia động từ “mày phải”, tuổi của bầy đàn, chưa có cá nhân, cá nhân còn lẫn trong bầy đàn, đánh mất trong bầy đàn. Đến tuổi trưởng thành, con người nhận thức được thế giới và nhận thức được bản thân, cá nhân được hình thành tách ra khỏi bầy đàn, cá nhân có tư duy, có chính kiến riêng cần được nhìn nhận, cần được khẳng định sự có mặt trong cuộc đời, đó là tuổi sư tử, tuổi chia động từ “Tôi là”. Đến giai đoạn xế chiều, con người lại trở về thời ấu thơ, lại trở về bầy đàn, tìm đến đám bạn cùng giới tính. Xã hội loài người cũng phải qua thời ấu thơ là thời bầy đàn bộ lạc nguyên thủy, thời phong kiến trung cổ, chỉ có lãnh chúa, chủ đất mới có cá nhân, còn lại chỉ là đám đông lao xao, chỉ là công cụ sản xuất trong tay chủ đất và công cụ bạo lực trong tay vua chúa. Bước vào thời văn minh công nghiệp, xã hội loài người mới bước vào thời trưởng thành. Khoa học kỹ thuật cho con người sức mạnh khẳng định mình, cho trí tuệ làm chủ bản thân và làm chủ thế giới. Con người có mặt trong xã hội là những cá nhân với tư tưởng, chính kiến riêng phải được thể hiện và phải được xã hội nhìn nhận, tôn trọng. Chỉ đến xã hội công nghiệp của chủ nghĩa tư bản mới có cá nhân, mới có Cái Tôi trưởng thành” (Bi Kịch Việt Nam). Để rồi nhà văn đau xót nhận ra loài người vừa đi đến văn minh công nghiệp, những cá nhân vừa được tách ra từ bầy đàn thì Chủ nghĩa Mác Lê Nin lại xóa bỏ cá nhân, đưa xã hội loài người trở về bầy đàn: “Học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lê Nin vươn hai cánh tay bạo liệt ra: Cánh tay kinh tế, công hữu hóa tư liệu sản xuất, xóa bỏ quyền làm chủ tư liệu sản xuất của người dân, lạnh lùng bóp nghẹt cuộc sống. Cánh tay chính trị, chuyên chính vô sản, thô bạo nắm cổ người dân, định đoạt số phận người dân theo ý muốn của quyền lực vô sản chứ không theo pháp luật. Công hữu hóa tư liệu sản xuất đã xóa bỏ cá nhân trong toàn bộ đời sống xã hội… Chủ nghĩa Mác Lê Nin chỉ nhìn nhận sự có mặt của đảng Cộng Sản, chỉ có cá nhân của những người lãnh đạo đảng Cộng sản! Người dân dù là nhà văn hóa, nhà khoa học, là trí thức, nghệ sĩ kiệt xuất cũng chỉ là quần chúng, là bầy lạc đà, là công cụ trong tay đảng Cộng sản như thời phong kiến trung cổ chỉ có cá nhân lãnh chúa, chủ đất, còn lại chỉ là bầy đàn, là công cụ sản xuất và công cụ bạo lực!” (Bi Kịch Việt Nam) Nhà văn khẳng định dù chậm phát triển, xã hội Việt Nam cũng đã đi đến Cái Tôi cá nhân trưởng thành: “Trên đường đi đến đô thị của văn minh công nghiệp, những năm ba mươi thế kỷ hai mươi, xã hội Việt Nam chợt đến phố huyện đã để lại dấu ấn trong văn chương là Tự Lực Văn Đoàn với những câu chuyện tình phố huyện, là Thơ Mới ghi lại nỗi thảng thốt sung sướng phát hiện ra Cái Tôi cá nhân trong cuộc đời và sự khắc khoải, bền bỉ đòi hỏi sự nhìn nhận của xã hội đối với Cái Tôi thiêng liêng đó. Cái Tôi cá nhân thức dậy, năng lực sáng tạo của những cá nhân được giải phóng đã tạo ra lịch sử Việt Nam thời trước Cộng sản những tên tuổi lớn. Về văn hóa có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Phan Khôi, Bùi Kỉ, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh tường, Vũ Trọng Phụng, Phạm Cao Củng, Nam Cao, Phạm Huy Thông, Nguyễn Tuân, Thế Lữ. Về kinh tế có Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Nguyễn Thị Năm. Về chính trị có Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến.” (Bi Kịch Việt Nam) Những cá nhân đó đang thực hiện nhiệm vụ lịch sử, đang kể lại dấu ấn Cái Tôi trong lịch sử: “Những người Việt Nam kiệt xuất đó với tầm văn hóa và lòng tự hào dân tộc đang lặng lẽ chuẩn bị nền tảng tư tưởng, nền tảng văn hóa và cả nền tảng kinh tế, xã hội cho một xã hội mới và đang bền bỉ thức tỉnh nhân dân, tổ chức lực lượng chính trị cho cuộc đấu tranh với thực dân xâm lược Pháp giành độc lập dân tộc. Con đường đấu tranh bất bạo động bằng tư tưởng, văn hóa, kinh tế, chính trị theo con đường của Phan Châu Trinh vạch ra, theo con đường của Mahatma Gandhi, theo triết lí Phương Đông dựa vào lòng người “lấy chí nhân thắng bạo tàn”, không đẩy người dân tay không ra đối đầu với súng đạn thực dân, tiết kiệm xương máu cho dân là con đường lâu dài nhưng là con đường đồng hành với tiến trình phát triển của lịch sử loài người và nền độc lập giành được bằng con đường đó là nền độc lập thực sự và bền vững, nền độc lập không bị phụ thuộc vào những thế lực chính trị bên ngoài. Mahatma Gandi dẫn dắt nhân dân Ấn Độ đấu tranh bất bạo động với đế quốc Anh đã giành được độc lập. Theo logic lịch sử, tiến trình đi đến độc lập như Ấn Độ cũng đang lặng lẽ, bền bỉ và vững chắc diễn ra ở Việt Nam”. Nhưng những người Cộng sản mang chủ nghĩa Mác Lê Nin về Việt Nam đã “đưa nhân dân Việt Nam vào những cuộc cách mạng bạo lực, vào cuộc chiến tranh ý thức hệ đẫm máu, chia trận tuyến đấu tranh giai cấp, thanh toán địch – ta vào trong từng con người, trong từng gia đình, trong từng cơ quan, đơn vị, phân chia trận tuyến giai cấp, thanh toán địch – ta trong lòng dân tộc Việt Nam, đẩy nhân dân vào cuộc sát phạt, tiêu diệt, xung đột, giằng xé, đấu đá, bất ổn, ly tán của dân tộc suốt từ giữa thế kỷ hai mươi đến tận hôm nay vẫn chưa chấm dứt. Sát phạt, xung đột, giằng xé, đấu đá, bất ổn, ly tán để xóa bỏ Cái Tôi cá nhân vừa thức tỉnh trong trí thức, trong giới chủ, trong thanh niên, học sinh thành phố, để chỉ còn Cái Tôi quyền uy của hơn chục yếu nhân nắm vận mệnh đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định số phận cả dân tộc Việt Nam” (Bi Kịch Việt Nam) Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác Lê Nin để hướng tới mục tiêu Xã hội Chủ nghĩa bạo lực chuyên chính vô sản. Xã hội mà đảng Cộng sản hướng tới, với nhà văn Phạm Đình Trọng chỉ là: “Chủ nghĩa Xã hội cho những người lãnh đạo Cộng sản quyền hành vô hạn, lại tước đoạt của dân mọi quyền con người, mọi quyền công dân. Nhân dân Việt Nam là nạn nhân thê thảm nhất của Chủ nghĩa Xã hội. Người dân chỉ là công cụ để Nhà nước vô sản sử dụng làm cách mạng giành chính quyền cho Đảng và tiến hành chiến tranh vì mục tiêu giai cấp của Đảng. Người dân công cụ chỉ được sử dụng làm quần chúng cách mạng trong đấu tranh giai cấp, trong đấu tố, hãm hại những người lương thiện thức tỉnh. Người dân chỉ là công cụ nên không có quyền tư hữu, không có quyền có tài sản riêng, kể cả tài sản vật chất như đất đai, đến tài sản văn hóa tinh thần như tư tưởng. Người dân không được có tư tưởng chính kiến riêng. Mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo!” (Không Thể Đi Ngược Ý Chí Nhân Dân). Mục tiêu Xã hội chủ nghĩa là hư vô nhưng vì cái mục tiêu hư vô đó đảng Cộng sản sử dụng bạo lực sắt máu với dân là sự thật hiển nhiên. “Đảng Cộng sản Việt Nam đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến, đã đem lại cho dân tộc Việt nam gần một thế kỷ cách mạng, chiến tranh đẫm máu, ly tán dân tộc, tan hoang đất nước.” (Bi Kịch Việt Nam) Trong đoàn nhà văn Việt Nam đi thăm Ấn Độ trở về, nhà văn viết: “Giành được độc lập bằng đấu tranh chính trị và đấu tranh nghị trường nên Ấn Độ có nền nếp dân chủ đại nghị từ ngày đó. Nhà nước dân chủ Ấn Độ chỉ có thể tồn tại được bằng sự chấp thuận của người dân. Còn chúng ta suốt hơn nửa thế kỷ giành và giữ chính quyền bằng bạo lực, chúng ta đã coi chính quyền tồn tại bằng bạo lực như một lẽ đương nhiên, như điều bình thường. Một xã hội dân sự yên hàn nhưng nhà nước Cộng sản vẫn chuyên chính với dân. Coi những ý kiến của dân khác biệt với chính quyền đều là thế lực thù địch. Dùng bạo lực trả lời những ý kiến khác biệt của dân thì không thể là bình thường. Xài bạo lực quá lâu đã trở thành nghiện. Bạo lực đã trở thành ma túy của nhà nước Cộng sản Việt Nam! Nhà nước quá nghiền, quá ỷ vào bạo lực, làm sao đất nước có dân chủ!” (Nghĩ suy từ Ấn Độ). Thẳng thắn, trung thực bộc lộ nỗi đau buồn về hiện trạng đất nước, nhà văn đã liên tiếp nhận được giấy mời làm việc với cán bộ phụ trách an ninh chính trị của công an quận, công an thành phố, rồi cả bộ công an. Sau lần gặp viên phó quận trưởng phụ trách an ninh công an quận Tân Bình, nhà văn viết bài Thưa chuyện với công cụ bạo lực chuyên chính vô sản và chuyển tay bài viết đến ông phó quận trưởng công an: “Lực lượng công an đã bị giáo dục, nhồi sọ sai trái, méo mó, đảo lộn mọi giá trị, thiêng liêng hóa cái tầm thường và tầm thường hóa cái thiêng liêng. Đảng phái chính trị chỉ là một tổ chức có một tiêu chí tập hợp và một mục tiêu hướng tới. Có tập hợp theo tiêu chí này thì cũng có tập hợp theo tiêu chí khác. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là tập hợp của một tiêu chí xa lạ: giai cấp vô sản và hướng tới một mục tiêu ảo: chủ nghĩa xã hội. Trong khi lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng để dân tộc Việt Nam bé nhỏ tồn tại được bên cạnh đế quốc Đại Hán khổng lồ luôn thèm khát thôn tính Việt Nam thì tiêu chí tập hợp làm nên sức mạnh Việt Nam để tồn tại phải là dân chủ và mục tiêu hướng tới phải là dân tộc. Dù là đảng cầm quyền, dù đảng có vài triệu đảng viên, dù đảng có lịch sử vài chục năm thì đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một hiện tượng bình thường của đời sống xã hội, là một sản phẩm tầm thường và tội lỗi của lịch sử Việt Nam, là một tổ chức tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất thời không phải là mãi mãi, càng không phải là một giá trị bền vững, thiêng liêng, tuyệt đối! Chỉ có dân tộc Việt Nam là bền vững! Chỉ có nhân dân Việt Nam là vĩnh hằng, bất biến! Chỉ có tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng! Đất đai sông núi Việt Nam, những trang sử oai hùng Việt Nam, hồn thiêng của tổ tiên Việt Nam, nền văn hiến Việt Nam và nhân dân Việt Nam chính là tổ quốc Việt Nam thiêng liêng. Nhưng lực lượng công an được giáo dục coi cái tầm thường là thiêng liêng, coi đảng cộng sản là giá trị thiêng liêng, cao cả! Vì thế công an mới trương khẩu hiệu mê muội “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình!” Coi những giá trị thiêng liêng là tầm thường, cắt nhượng đất đai thiêng liêng cho bành trướng, coi nhân dân máu thịt như kẻ thù! (Thưa chuyện với công cụ bạo lực chuyên chính vô sản) Những thiên chính luận có giọng rất riêng của nhà văn Phạm Đình Trọng xuất hiện trên các trang mạng internet từ đầu năm 2008 nhưng tôi chỉ thực sự quan tâm đến cái giọng riêng đó từ bài Ăn mày dĩ vãng – thực chất cuộc học tập đạo đức Hồ Chí Minh, khoảng cuối năm 2009. Một sáng chủ nhật tổ trưởng đảng đến thúc giục nhà văn nộp bản thu hoạch về học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Nhà văn từ chối viết bản thu hoạch đó. Sau đó nhà văn nộp cho tổ trưởng đảng bài viết 7 trang A4 Ăn mày dĩ vãng với sự thẳng thắn hiếm có: “Chuyện tham nhũng của bộ máy nhà nước ta không sao kể xiết. Bộ máy nhà nước tham nhũng đó lại cao giọng rao giảng đạo đức Hồ Chí Minh thì đó là sự giả dối vô liêm sỉ, một sự giả dối tự nhiên như không, không còn biết ngượng, thì đó là một màn kịch vụng về, trơ trẽn! Và cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành cuộc vận động làm điều giả dối! Đó là sự suy đồi thảm hại của đạo đức xã hội! Bộ máy nhà nước tham nhũng, chính quyền suy yếu ngày càng phụ thuộc vào Đại Hán làm cho nhân dân oán giận, lòng người ly tán. Trong tình thế đó, đưa Hồ Chí Minh ra, đưa những năm tháng đánh giặc hào hùng ra, đưa sự hy sinh to lớn của đồng bào chiến sĩ ra để ru ngủ nhân dân quên đi những nhức nhối hiện tại, để chính quyền tham nhũng núp bóng, ăn theo vinh quang của quá khứ mà tồn tại. Đó là những kẻ ăn mày dĩ vãng!” (Còn tiếp) ----- Tháng Một 8, 2017 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2017/01/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-57/#more-7947 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 58): https://www.minds.com/newsfeed/1019927196230389760?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 56): https://www.minds.com/newsfeed/1019926464001789952?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
27 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 59) Những Gương Mặt Trẻ Bên cạnh những nhà đấu tranh cho dân chủ cùng thế hệ với tôi mà đa số đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, gần đất xa trời, đã xuất hiện một lớp trẻ ngày càng đông đảo. Đó là những Vi Đức Hồi, Phạm Hồng Sơn, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Bắc Truyền, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Phong Tần, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Trương Minh Đức, Bùi Thanh Hiếu (Người Buôn Gió), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mê Gấu Nấm), Huỳnh Thục Vi, Nguyễn Hoàng Vi, Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Xuân Diện, Vũ Mạnh Hùng, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Ngô Quỳnh, Phạm Thanh Nghiên, Đặng Bích Phượng, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Lê Quốc Quân, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha. Vì đấu tranh cho dân chủ, nhiều người trong số họ đã bị Nhà nước độc tài đảng trị bỏ tù. Đôi ba người trong số họ tôi đã tiếp xúc. Có người tìm đến thăm tôi tại nhà riêng của tôi ở Sài Gòn như Người Buôn Gió, Phạm Hồng Sơn. Có người tôi tự tìm đến nhà họ như Lê Thị Công Nhân. Tôi biết những người bạn trẻ mới mẻ này hoàn toàn nhờ mạng internet. Như mối lương duyên của tôi với anh bạn trẻ Người Buôn Gió Bùi Văn Hiếu. Năm 2010 tôi làm bài thơ “Anh không về đại lễ đại lễ đâu em” đăng trên Bauxitevn. Người Buôn Gió có bài thơ họa lại rất hay. Ít ngày sau gió vô Sài Gòn tìm đến tôi. Qua tiếp xúc của tôi, qua hoạt động xã hội sôi nổi, năng động, quả cảm của lớp người trẻ và qua bài viết của họ cho tôi mấy suy nghĩ về lớp người trẻ hôm nay. Thứ nhất, họ thực sự là lớp người của kỷ nguyên văn minh tin học. Dòng máu Lạc Hồng trong tim họ cho họ lòng yêu nước và khí phách hiên ngang đi vào cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa đất nước, đi vào cuộc đấu tranh cho toàn vẹn giang sơn gấm vóc và internet cho họ thứ vũ khí trong cuộc đấu tranh đó. Với internet, thứ dân chủ giả hiệu, thứ bánh vẻ của chủ nghĩa xã hội không còn đánh lừa được họ nữa, tội ác của đấu tranh giai cấp không còn che đậy được nữa. Họ không còn phải mất những năm tháng quý giá của cuộc đời mới tìm ra sự thật như thế hệ trước họ. Internet cho họ có đòi hỏi không thể thiếu về dân chủ, về Quyền con người. Càng khát khao về dân chủ, về Quyền con người, họ càng thấy rõ việc làm sai trái phản dân tộc, phản đất nước của những người Cộng sản cầm quyền và họ quyết liệt đấu tranh với sai trái đó. Tôi đến nhà thăm Lê Thị Công Nhân ở Hà Nội sau ngày cô ra tù, khi cô cô mang thai đứa con đầu lòng. Nhân kể, những ngày Hà Nội có biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo của ta, luôn có vài chục công an bủa vây quanh tòa nhà tập thể cô ở. Công an rải từ trên hành lang lầu ba nhà cô xuống dưới đường ngăn cô đi biểu tình. Có viên công an còn định xông vào nhà cô. Với cái bụng mang thai sắp đến ngày sinh, cô kiên quyết đứng chắn cửa không cho viên công an vào nhà. Cô nói: cháu sẵn sàng chết lúc đó nếu viên công an dùng sức mạnh cứ xong vào nhà cháu. Nói chuyện với tôi, Nhân lại khẳng định: dù chỉ có mình cháu, cháu cũng đấu tranh đến cùng với nhà nước cộng sản lừa dối này. Chính Người Buôn Gió chở tôi đến nhà Lê Thị Công Nhân. Gió vứt chiếc xe máy ở đầu phố và kéo tôi đi thật nhanh lên cầu thang vào nhà Nhân. Gió nói: có thế mới vượt qua được đám người luôn rình rập quanh nhà Nhân, ngăn cản khách đến thăm Nhân. Tôi còn được biết chồng Nhân không thể gửi xe để lên nhà mình trên lầu ba vì công an đã làm việc với tất cả các chủ giữ xe trong phường, cấm họ nhận xe gửi của Ngô Nhân Quyền, chồng Nhân, khiến anh phải gửi xe tận phường khác rồi cuốc bộ hai, ba cây số về nhà mình! Có lẽ không có ở đâu trên trái đất này có một chính quyền cư xử với dân ti tiện như vậy. Chỉ có chế độ độc tài đảng trị của mấy người bần cố nông vô học, không biết gì đến pháp luật, khi nắm được chính quyền vẫn ngồi xổm lên pháp luật mới hành xử như vậy. Những kẻ có quyền sử dụng quyền lực nhảm nhí đó làm cho người dân coi thường quyền lực, khinh miệt người có quyền và người dân càng thấy đó là những kẻ không xứng đáng với quyền lực, một chính quyền không xứng đáng, cần phải thay thế. Không biết các nhà lãnh đạo cấp cao bên trên có biết cấp dưới đang bôi nhọ nhà nước cộng sản bằng những việc làm hèn hạ, ti tiện hay chính họ chỉ bảo bên dưới làm như vậy? Tôi lại nhớ đến một chuyện khác do chính ông Phạm Như Cương, ủy viên dự khuyết trung ương đảng, Chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam kể với tôi. Ông Cương là người kế nhiệm ông Hoàng Minh Chính làm Viện trưởng Viện Triết học khi đã về hưu, ông viết thư góp ý gửi cho trung ương đảng rằng dù ông Chính có sai lầm về nhận thức tư tưởng nhưng lại cho côn đồ ném cứt vào nhà ông Chính là việc làm vô văn hóa. Chỉ vì bức thư đó, ông Cương bị coi là phần tử chống đảng và cấp quận nơi gia đình ông Cương sinh sống được lệnh cử người theo dõi ông Cương. Người được đảng ủy quận giao nhiệm vụ theo dõi ông Cương lại là ông đảng viên Huỳnh Ngọc Ấn cùng làm việc với tôi ở đài phát thanh tiếng nói Việt Nam có nhà ở trong khu tập thể của đài, phía trước nhà ông Cương. Hôm ấy gặp tôi và ông Ẩn, ông Cương nói: Ông Lê Phú Khải ơi, ông Huỳnh Ngọc Ấn là nhà báo ở chỗ ông, lại là hàng xóm của tôi thế mà đảng ta lại cử ông vẫn theo dõi tôi thì ông thấy có hài hước không. Chưa hết. Hôm đó ông Cương còn tâm sự với tôi rằng một lần ông ra chợ ở gần nhà nghe mấy bà ở chợ chê ông Nông Đức Mạnh, tổng bí thư của đảng, tôi rất buồn! Từ câu chuyện về những ông cộng sản đó, tôi lại nhận ra đặc trưng thứ hai của lớp người trẻ đấu tranh cho dân chủ hóa đất nước hôm nay như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi Cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ lớn lên chỉ nhìn thấy những người cộng sản hàng đầu ở vị trí lãnh đạo cao chót vót chỉ là Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, những người bị nhân dân quá coi thường. Những người cộng sản thế hệ chúng tôi từng tiếp xúc có nhiều người tử tế, trong sạch, thực sự yêu nước, thực sự có lý tưởng cao cả. Tuy họ có đi nhầm đường, họ mải miết theo đuổi một học thuyết sai lầm nhưng cuộc đời họ là cuộc đời tận tụy chiến đấu, hy sinh cho một lý tưởng cao đẹp, cuộc đời họ là tấm gương sáng vì dân, vì nước để thế hệ chúng tôi cảm phục, yêu mến. Những người cộng sản đó nay hoàn toàn không còn nữa. Tuổi trẻ là tuổi đi tìm lí tưởng, say lí tưởng. Những người cộng sản hôm nay chỉ còn những người “đầu rỗng răng chắc” thì tuổi trẻ không thể chấp nhận là lẽ đương nhiên. Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay đã trở thành vật cản trên con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Không phải chỉ là sức cản. Độc đảng là môi trường dung dưỡng sự yếu kém và tham nhũng còn tạo ra sức tàn phá đất nước, tàn phá những giá trị văn hóa, đạo lý, tàn phá lòng tin. Đảng Cộng sản Việt Nam không còn có chỗ trong lòng tin của người dân Việt Nam. Mất chỗ dựa lòng dân, để duy trì sự thống trị xã hội của đảng Cộng sản, những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam phải tìm đến sự bảo trợ của nước Cộng sản đàng anh Trung Quốc cùng ý thức hệ. Những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã mang gia tài của tổ tiên người Việt Nam, mang lợi ích hôm nay và mai sau của người Việt Nam ra đánh đổi lấy sự bảo trợ đó. Cắt đất ở biên giới, cắt biển ở ngoài khơi cho Trung Quốc. Cho hàng hóa Trung Quốc tràn vào giết chết hàng hóa Việt Nam. Cho người Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ Việt Nam. Dâng những mảnh đất Việt Nam có vị trí chiến lược hiểm yếu cho Trung Quốc vào đầu tư, biến những mảnh đất đó trở thành lãnh địa của người Trung Quốc, người Việt Nam bị cấm bén mảng đến. Những việc làm đó của đảng Cộng sản Việt Nam đã bị tuổi trẻ hôm nay chỉ thẳng ra là bán nước. Và cô sinh viên xinh đẹp 20 tuổi Nguyễn Phương Uyên đã lấy máu viết lên vải trắng hàng chữ: Đi chết đi đảng CSVN. Bị đưa ra tòa án xử về tội tuyên truyền chống nhà nước, tuổi trẻ Phương Uyên đã dõng dạc tuyên bố: Tôi chỉ có tội yêu nước. Tôi chỉ chống đảng Cộng sản. Tôi không chống đất nước, không chống dân tộc Việt Nam của tôi. Câu nói của Phương Uyên ở tòa án cộng sản hôm nay chính là câu nói của người cộng sản Hoàng Văn Thụ ở pháp trường thực dân Pháp 69 năm trước. Hoàng Văn Thụ hoạt động chống Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc bị Pháp tuyên án tử hình. Hoàng Văn Thụ từ chối rửa tội trước khi bị bắn và đã dõng dạc nói với chị cha cố: nếu yêu nước mà có tội thì những người Pháp đang kháng chiến chống phát xít Đức bên nước ông, họ có tội không? Năm 1944 Hoàng Văn Thụ bị xử bắn. Năm 1945 Việt Nam độc lập. Tháng năm, năm 2013 Phương Uyên bị tòa sơ thẩm tuyên sáu năm tù giam. Tháng tám, năm 2013 ở phiên phúc thẩm bản án của Phương Uyên chỉ còn ba năm án treo. Những người trẻ tuổi như Phương Uyên là những tia sáng báo một bình minh mới đang đến với dân tộc Việt Nam. Xin chép lại bài thơ của tôi và bài hóa lại của người buôn gió, vì thế mà chúng tôi Từ biết nhau trên thế giới ảo đã quen nhau trong cuộc đời thực. Anh không về đại lễ đâu em Lê Phú Khải Anh không về đại lễ đâu em Dù Hà Nội nghìn năm hay vạn năm cũng thế Khi vua Lý lại mang mão áo vua Tàu Khi phim Việt Nam chỉ thấy sắc màu Trung Quốc “Thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” Ông bà ta là thế Nên mới còn non nước Việt hôm nay Hãy gửi cho anh một gói cốm màu xanh Để anh nuốt vào lòng cả mùa thu Hà Nội Gửi cho anh một nhành liễu Tây Hồ Để hồn anh mênh mang cùng sương khói. Tưởng nhớ người xưa đốt hương trầm là đủ Hãy để những tỉ đô la xây bệnh viện, công viên Để nghìn năm Thăng Long không thành nghìn mụn ghẻ Lở lói những công trình bị rút ruột ăn chia Để không còn những bộ phim Ngộ độc cả ca dao, băng huyết cả tâm hồn Sài Gòn 2010. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội Bài thơ họa lại của người buôn gió Gửi nhà báo Lê Phú Khải Người Buôn Gió Anh cứ về Hà Nội đi anh Nghe câu ca dao xưa còn chưa cũ “Vạn niên là vạn niên nào Thành xây xương lính, hào đào máu dân” Anh cứ về Hà Nội đi anh Chèo Vinashin diễn đến hồi gây cấn Vé bổ đầu một triệu một thằng dân Dù lớn bé trẻ và đều đổ đồng cùng hạng. Anh cứ về Hà Nội đi anh Hát câu hát của kiếp đời nô lệ “Chung một biển Đông, thắm tình hữu nghị” Mừng quốc khánh Tàu Bằng đại lễ Thănh Long. Tôi không tìm được cốm gửi cho anh Bởi tất cả đã nhuốm phẩm màu Trung Quốc Từ áo vua quan Nam, đến đồ chơi trẻ nhỏ Còn thứ gì nguyên thủy của nước ta. Xin gửi cho anh Câu quan họ vang trong ngày đại lễ Méo mó lời liền chị xứ Bắc Giang Con vua thì lại làm vua Con tổng bí gì lại bí xứ kia Đất ta chưa đến thời, dân mình chưa đến vận Con sãi ở chùa kẽo kẹt cúi quét lá đa Rồi mấy chốc sân chùa cũng thành dự án Lá đa cũng không còn, con sãi quét gì đây? Hà Nội 23.9.2010 NBG (Còn tiếp) ----- Tháng Một 16, 2017 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2017/01/16/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-59/#more-7963 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 60): https://www.minds.com/newsfeed/1019927882685296640?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 58): https://www.minds.com/newsfeed/1019927196230389760?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
45 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 58) Nghĩ suy từ Ấn Độ. Thư ngỏ gửi thủ tướng. Ăn mày dĩ vãng. Thông báo từ bỏ đảng. Nỗi ngán ngẩm thường ngày. Nỗi đau dân chủ. Kiêu binh thời đảng trị. Không thể đi ngược ý chí nhân dân. Dấu ấn. Không còn mùa thu. Ngước nhìn Quốc hội. Thưa chuyện với công cụ bảo lực chuyên chính vô sản. Đi xa nhìn về. Ông thủ tướng khinh trí tuệ, trọng bạo lực. Bi kịch Việt Nam. Thông điệp tháng tám… Đó là tên những bài chính luận của nhà văn Phạm Đình Trọng tôi nhớ chưa được đầy đủ. Mỗi bài viết đó là một cáo trạng đanh thép không thể chối cãi về sai lầm và tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam, về dã tâm thí bỏ lợi ích dân tộc Việt Nam, mang lợi ích dân tộc Việt Nam đổi lấy sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Việt Nam vào vòng nô lệ tổng cộng đổi lấy sự bảo kê của Trung Cộng để duy trì sự độc quyền cai trị đất nước của một đảng tham nhũng và mất lòng dân. Từ những bài viết đó, người đọc còn cay đắng nhận ra rằng: giành độc lập bằng bạo lực cách mạng vô sản do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thì Việt Nam chỉ có một nền độc lập không trọn vẹn lại phải trả bằng giá máu quá đắt, phải trả bằng vết thương chia rẽ, ly tán dân tộc và ly tán dân tộc Việt Nam còn mãi mãi rỉ máu khi còn sự thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà văn Phạm Đình Trọng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc vào ngày 11/5/2014 Tôi vẫn tự hỏi: Vì sao ai cũng thấy rõ chủ nghĩa xã hội đã làm cho đất nước ta điêu linh, nhân dân ta khốn khổ, tăm tối, cùng đường mà đến tận hôm nay tờ báo Văn Nghệ của hội Nhà văn Việt Nam vẫn trương cái slogan chữ đậm phía trên tên tờ báo: Vì chủ nghĩa xã hội? Vì sao bao nhiêu nhà văn tên tuổi một thời nay cứ im hơi lặng tiếng, ngậm miệng ăn tiền trước thảm cảnh nguy khốn của đất nước, trước nỗi thống khổ của nhân dân. Có đôi người mon men viết về hiện thực đau buồn của đất nước thì phải rào đón, che chắn, nói bóng nói gió xa xôi, nhạt nhẽo, hời hợt? Vì sao những nhà văn của một đất nước đang nguy khốn, của một nhân dân đang đau khổ lại có thể vô tâm và xôi thịt đến mức xúm lại tranh giành, chụp giật nhau giải thưởng nọ, giải thưởng kia để kiếm cái danh: nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh, nhà văn được giải thưởng nhà nước, để kiếm cái lợi mỗi giải thưởng vài trăm triệu đồng từ tiền thuế mồ hôi nước mắt của mấy bà già nghèo dầu dãi nắng mưa buôn bán mớ rau, mớ tép ở mon sông cuối chợ? Hỏi như vậy để tôi nhận ra trong hội nhà văn văn nô, hội nhà văn xôi thịt, hội nhà văn chỉ là thứ cây kiểng, là lớp phấn son làm đẹp cho bộ mặt chế độ độc tài thì những nhà văn thực sự nhà văn Như Phạm Đình Trọng quá ít ỏi! Không là thứ văn nô, Phạm Đình Trọng mới có thể viết về Ông thủ tướng khinh trí tuệ, trọng bạo lực, một ông thủ tướng giả dối, thấp hèn, khi nhậm chức thì hùng hồn tuyên bố: “Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu không chống được tham nhũng thì tôi xin từ chức ngay”. Nhưng khi thực thi thì: “Cả ông thủ tướng chính phủ hùng hồn tuyên bố chống tham nhũng cũng đi đầu đôn đáo, hăm hở, mê mải tham nhũng, nêu tấm gương lớn cho cả hệ thống quyền lực tham nhũng, tạo ra cả cơn lốc xoáy tham nhũng, tạo ra một thời bạo liệt tham nhũng. Tham nhũng tiền bạc. Tham nhũng đất đai. Tham nhũng cả quyền lực. Trong các loại tham nhũng đó thì tham nhũng quyền lực là nguy hại lớn nhất, di họa lâu dài nhất. Lịch sử gần 70 năm cầm quyền của đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có thời nào mà những người lãnh đạo cấp cao của đảng lại ngang nhiên giành những chiếc ghế quyền lực lớn về chính trị, quyền lực lớn về kinh tế cho con cháu, người thân của họ như thời ông Nguyễn Tấn Dũng là lãnh đạo hàng đầu của đảng Cộng sản, là người đứng đầu chính phủ.” Không là thứ văn nô, nhà văn mới có thể chỉ ra những người Cộng sản nắm quyền lực hôm nay hiện nguyên hình là những vua chúa phong kiến hủ bại thời mạt vận: “Thời nhà Lê suy tàn, đầu thế kỷ XVI, vua Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ, trụy lạc vô độ, đặt ra nhiều sắc thuế bóc lột dân, nhiều hình phạt độc ác đánh giết dân, giết cả 15 thân vương trong triều. Trước tội ác quá lớn, Lê Tương Dực liền sai kiến trúc sư tài hoa Vũ Như Tô xây điện trăm nóc, xây Cửu Trùng Đài nguy nga cầu xin thần linh che chở. Ngày nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây nhà thờ họ hoành tráng ở Rạch Giá, Kiên Giang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng xây nhà thờ họ Nguyễn Sinh trập trùng đền đài lộng lẫy xa hoa trên cả vùng đồi núi mênh mông ở Nam Đàn, Nghệ An. Đó là những Cửu Trùng Đài của triều Cộng Sản Việt nam đầu thế kỷ XXI.” (Ông thủ tướng khinh trí tuệ trọng bạo lực). Hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền ngân sách rót cho những “quả đấm thép” doanh nghiệp nhà nước do ông Thủ tướng và phe nhóm lợi ích của ông điều hành, phút chốc tan như mây khói. Vinashin sụp đổ, Vinalines phá sản. Bô xít Tây Nguyên thua lỗ. Nhiều trăm ngàn tỉ đồng tiền ngân sách nhà nước cứ lần lượt đội nón ra đi không để lại tăm tích. Ngân sách nhà nước trống rỗng. Dòng máu nuôi nền kinh tế đất nước cạn kiệt. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân phá sản kéo theo hàng triệu người thất nghiệp. Đất nước tan hoang vì những bàn tay lông lá của những nhóm lợi ích dưới sự thao túng của ông Thủ Tướng. Lòng dân ai oán, phẫn nộ. Sự tồn tại của đảng Cộng sàn, của Nhà nước Cộng sản bị đe dọa. Trước nguy khốn cận kề đó, từ cuối năm 2012 đến suốt cả nửa đầu năm 2013, cơ quan trung ương của đảng Cộng sản họp tới họp lui, hết hội nghị cán bộ toàn quốc, đến hội nghị trung ương này, hội nghị trung ương khác. Những hội nghị dồn dập tốn kém hàng ngàn tỉ tiền thuế của dân mà không vạch ra được một khuôn mặt tham nhũng, không kỉ luật được một quan chức hư hỏng. Chỉ tạo cơ hội cho bộ máy tham nhũng càng cố kết bền vững thêm. Nhưng với bài Ông thủ tướng khinh trí tuệ trọng bạo lực được rất nhiều trang mạng tiếng Việt ở trong nước, ngoài nước đăng tải từ tháng mười, năm 2012, được đông đảo người Việt cả trong và ngoài nước đồng tình, chia sẻ, nhà văn Phạm Đình Trọng đã làm được cái việc cần làm mà cả cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng Cộng sản Việt Nam không làm được là chỉ ra một trung tâm quyền lực tham nhũng và từ cuối năm 2012 nhà văn đã hạ bệ trong lòng dân một ông ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ tham nhũng. Trong tình cảnh đất nước hiện nay, chưa lúc nào nhân dân cần những tiếng nói dũng cảm, chân thực của người cầm bút như lúc này. Thời bùng nổ của những trận đánh, của bom đạn, của những đội biệt động cảm tử đã qua. Trong thời bùng nổ thông tin này, trên xa lộ thông tin, ngoài những thông tin sự việc còn cần những thông tin mang năng lượng của tâm hồn tạo ra sự bùng nổ trong nhận thức, trong tình cảm người dân. Những bài viết của Phạm Đình Trọng đều mang một năng lượng tâm hồn như vậy. Có thể nói, chưa có nhà văn Việt Nam nào gây được ảnh hưởng tinh thần to lớn như Phạm Đình Trọng từ những bài viết chân thực của anh. Như thời bùng nổ của bom đạn, con đường ra trận đánh giặc giữ nước đã ghi tên anh. Thời bùng nổ thông tin, xa lộ thông tin cũng đã ghi tên anh. Có gần gũi Phạm Đình Trọng mới thấu hiểu năng lượng tình cảm anh có được từ đâu. Đúng như cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu năm xưa viết: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương. Đi với Phạm Đình Trọng, tôi thấy anh đắm đuối với từng ngọn cỏ, lá cây của thiên nhiên đất nước. Anh đứng hồi lâu ngắm đường cong của mái chùa Tây Phương ở Thạch Thất, Hà Tây, nay là Hà Nội. Thấy tấm bảng thông báo để choán ngay trước cửa chùa anh chuyển tấm bảng sang bên cạnh để cửa chùa phong quang. Anh tìm gặp người trong ban quản lý chùa nói về những panô, mái bạt, mái lều nilong xanh đỏ suốt hai bên đường bậc thang lên chùa và xô bồ chen lấn trong sân chùa che khuất mất dáng vẻ uyển chuyển, thâm trầm của đường nét kiến trúc Phật giáo độc đáo Việt Nam, phá mất vẻ đẹp hài hòa với thiên nhiên của ngôi chùa và tính lịch sử của ngồi chùa đã đi vào tâm linh con người và văn hóa Việt Nam. Đầu năm nay tôi và Phạm Đình Trọng có chuyến đi ngắm nhìn non xanh nước biếc kỳ thú miền Tây Bắc. Ngồi trong ôtô anh đăm đăm nhìn dãy núi trọc lóc chạy dài bên đường, thảm rừng xanh ngàn đời đã bị cạo trọc, triền núi phơi màu đất đỏ loét như rớm máu. Nhìn vẻ mặt rầu rầu của anh, tôi biết anh đau xót lắm. Đến khách sạn Mường Thanh ở thành phố Điện Biên, nhìn thấy hai bức tượng mạ vàng chóe, hai ông tướng tàu cưỡi ngựa đứng hai bên cửa khách sạn đón khách, lại thấy những đèn lồng đỏ giăng giăng, nhà văn Phạm Đình Trọng liền tìm gặp bà phó giám đốc khách sạn than phiền rằng kinh doanh khách sạn là kinh doanh du lịch và người đi du lịch là người đi thưởng thức văn hóa ở những vùng đất xa lạ. Vì thế kinh doanh du lịch chính là kinh doanh văn hóa, là mang nét đặc sắc về văn hóa của một vùng đất ra khoe để thu tiền thiên hạ. Thung lũng Mường Thanh là cái rốn, là trung tâm của một vùng văn hóa dân tộc rất đặc sắc, văn hóa dân tộc Thái Mèo. Thế mà đến Mường Thanh, tôi chỉ thấy tràn ngập văn hóa Trung Nguyên phương Bắc. Sao ở hai bên cửa khách sạn mang tên Mường Thanh này, chỗ hai tên tướng Tàu nghênh ngang cưỡi ngựa lại không phải là hai cô gái Thái thướt tha múa xòe, hoặc hai chàng trai mèo nhún nhảy với chiếc kèn bè nhỉ? Nghe nhà văn hỏi, bà giám đốc phó khách sạn còn trẻ cứ sửng sốt, ngỡ ngàng. Nhà văn Phạm Đình Trọng rủ tôi đi xe máy xuyên Việt để thấy được đầy đủ vẻ đẹp vừa kiêu sa lộng lẫy vừa đơn sơ, bình dị của đất nước. Theo anh, đi ô tô đông người không thể dừng lại chỗ mình muốn thì chỉ là cưỡi ngựa xem hoa của kẻ vô tâm, hời hợt, chưa đong đầy được nỗi khao khát với đất nước. Một người nặng lòng với đất nước như vậy, tất phải đau xót, phẫn nộ với những kẻ đang bòn rút tài nguyên, tàn phá đất nước. Anh là nhà văn đầu tiên và duy nhất từ rất sớm gửi thư cho thủ tướng chính phủ phản ứng gay gắt dự án khai thác bô xít Tây Nguyên, đã không mang lại hiệu quả kinh tế, lại tàn phá thiên nhiên, tàn phá nền văn hóa rừng độc đáo Tây Nguyên. Tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với Phạm Đình Trọng. Đáng buồn là trong những kỉ niệm đó lại có cả những bộ mặt hình sự của công an đi vào kỷ niệm của chúng tôi. Cuối năm 2010, chúng tôi hẹn nhau cùng ra Hà Nội, cùng đến thăm những người thân của chúng tôi ở Hà Nội, cùng ngồi thả cần câu xuống ao cá của ông bạn tôi ở Cẩm Giàng, Hải Dương, cùng đến viếng mảnh đất mang hồn Tự lực văn đoàn, nơi ba anh em tài hoa, ba nhà văn rường cột của Tự lực văn đoàn, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam ra đời, nơi những thành viên Tự lực văn đoàn đi về, hội tụ sinh hoạt văn chương. Đến thăm nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Thanh Giang ở phố Trung Văn, Hà Nội, khi ra về, chúng tôi vừa ra khỏi ngõ liền bị mấy công an chặn lại dẫn giải vào đồn công an. Họ thu giữ giấy chứng minh nhân dân của chúng tôi, lục soát túi, truy hỏi chúng tôi đủ điều về mối quan hệ của chúng tôi với tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang. Không có chứng cứ tội phạm, không có lệnh bắt giữ của cơ quan có thẩm quyền, công an vẫn ngang nhiên chặn đường, bắt giữ một nhà văn, một nhà báo, tra hỏi suốt 30 tiếng đồng hồ. Sự việc công an tùy chuyện bắt giữ chúng tôi được tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang đưa ngay lên xa lộ thông tin toàn cầu, tố cáo với thế giới. Đến sự việc ngày 9.12.2012, công an thành phố Sài Gòn, công an quận Tân Bình chỉ huy đội quân dân phòng đông đảo của hai phường bao vây, phong tỏa nhà văn Phạm Đình Trọng trong nhà tôi suốt buổi sáng, gây náo loạn, căng thẳng cả một góc phố vốn khuất nẻo, tĩnh lặng thì bộ mặt hình sự công an càng sỗ sàng nhảy vào đời sống dân sự riêng tư của chúng tôi. Lo lắng cho tôi, người hàng xóm bên cạnh nhà tôi liền gọi điện ngay cho con trai tôi đang ở xa, hốt hoảng báo tin: Công an đang vây kín quanh nhà ba mày. Bộ ba mày là trùm phản động ha? Mày về ngay mà đi thăm nuôi ba mày! Đó là những kỷ niệm buồn của chúng tôi về những năm tháng đất nước không còn chiến tranh mà cuộc sống không bình yên, mà bóng công an đè nặng xuống cuộc sống, phủ bóng đen vào cả kỷ niệm của chúng tôi, mà công an bao vây, bắt bớ, giam giữ, truy xét cả tư tưởng, tình cảm chúng tôi! Và nhà văn Phạm Đình Trọng là tiếng nói của khí phách nhân dân ở thời Nhà nước độc tài Đảng trị đã tước đoạt mọi quyền con người của người dân, ở thời công an bao vây, bắt bớ, giam giữa, truy xét cả tư tưởng, tình cảm con người. Nhà văn của một thời lịch sử đau buồn. (Còn tiếp) ----- Tháng Một 11, 2017 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2017/01/11/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-58/#more-7956 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 59): https://www.minds.com/newsfeed/1019927494915575808?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 57): https://www.minds.com/newsfeed/1019926839765204992?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
31 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 57) Tôi đã đọc sách văn chương, truyện ngắn, bút ký, tùy bút của nhà văn Phạm Đình Trọng và tôi đã có bài viết về tập sách chân dung văn học và kí sự của nhà văn, tập Bức Chân Dung Để Lại, đăng trên báo Văn Nghệ của hội Nhà Văn Việt Nam. Tôi đã đọc tất cả những thiên chính luận của nhà văn Phạm Đình Trọng viết về cái nhìn và tấm lòng nhà văn với hiện tình đất nước. Nhiều bài tôi là người đọc đầu tiên khi bài viết mới là bản thảo vừa hoàn thành, chưa đăng ở đâu cả. Trong truyện, văn của anh nhẹ nhàng trữ tình bao nhiêu thì trong chính luận, văn của anh lại mạnh mẽ, quyết liệt, hào sảng bấy nhiêu. Phạm Đình Trọng là người ít nói, anh thuộc dạng cả nghĩ mà ngại nói, đôi khi vụng nói nữa. Nhưng thật ngạc nhiên trong văn chính luận anh như một người hùng biện, mạch văn cuồn cuộn, sôi sục lạ thường, ý tứ trùng trùng lớp lớp, khúc chiết, mạch lạc, có sức thu hút và thuyết phục. Bất chấp thực tế chủ nghĩa Mác Lê Nin sai lầm, tội lỗi đã hoàn toàn thất bại, sụp đổ trên thế giới, đã bị loài người loại ra khỏi đời sống chính trị thế giới; bất chấp thực tế chủ nghĩa Mác Lê Nin đã mang lại nghèo đói, trì trệ kéo dài cho đất nước Việt Nam, mang lại quá nhiều đau khổ, quá nhiều máu và nước mắt cho nhân dân Việt Nam, những người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn cố duy trì chủ nghĩa Mác Lê Nin để cố duy trì sự độc quyền cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trước sự ngoan cố tội lỗi đó, trước sự lì lợm nhẫn tâm đó của những người lãnh đạo Cộng sản, nhà văn Phạm Đình Trọng không thể làm ngơ. Với lý lẽ thấu đáo, với câu văn bình dị mà giàu cảm xúc, không viện dẫn kinh sách, rất ít từ ngữ chính trị khô khan, trong các bài chính luận của mình, nhà văn Phạm Đình Trọng đã tập trung chỉ ra sự huyễn hoặc, sai lầm, phản con người, phản tiến hóa của chủ nghĩa Mác Lê Nin. Nhà văn lược lại lịch sử phát triển của xã hội loài người đi từ hoang dã đến văn minh, đi từ bầy đàn đến cá nhân: “Cuộc đời mỗi người đều có ba giai đoạn: Tuổi ấu thơ ngơ ngác, tuổi còn bị sai khiến, áp đặt, có nhà triết học coi đó là tuổi lạc đà, phải chia động từ “mày phải”, tuổi của bầy đàn, chưa có cá nhân, cá nhân còn lẫn trong bầy đàn, đánh mất trong bầy đàn. Đến tuổi trưởng thành, con người nhận thức được thế giới và nhận thức được bản thân, cá nhân được hình thành tách ra khỏi bầy đàn, cá nhân có tư duy, có chính kiến riêng cần được nhìn nhận, cần được khẳng định sự có mặt trong cuộc đời, đó là tuổi sư tử, tuổi chia động từ “Tôi là”. Đến giai đoạn xế chiều, con người lại trở về thời ấu thơ, lại trở về bầy đàn, tìm đến đám bạn cùng giới tính. Xã hội loài người cũng phải qua thời ấu thơ là thời bầy đàn bộ lạc nguyên thủy, thời phong kiến trung cổ, chỉ có lãnh chúa, chủ đất mới có cá nhân, còn lại chỉ là đám đông lao xao, chỉ là công cụ sản xuất trong tay chủ đất và công cụ bạo lực trong tay vua chúa. Bước vào thời văn minh công nghiệp, xã hội loài người mới bước vào thời trưởng thành. Khoa học kỹ thuật cho con người sức mạnh khẳng định mình, cho trí tuệ làm chủ bản thân và làm chủ thế giới. Con người có mặt trong xã hội là những cá nhân với tư tưởng, chính kiến riêng phải được thể hiện và phải được xã hội nhìn nhận, tôn trọng. Chỉ đến xã hội công nghiệp của chủ nghĩa tư bản mới có cá nhân, mới có Cái Tôi trưởng thành” (Bi Kịch Việt Nam). Để rồi nhà văn đau xót nhận ra loài người vừa đi đến văn minh công nghiệp, những cá nhân vừa được tách ra từ bầy đàn thì Chủ nghĩa Mác Lê Nin lại xóa bỏ cá nhân, đưa xã hội loài người trở về bầy đàn: “Học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lê Nin vươn hai cánh tay bạo liệt ra: Cánh tay kinh tế, công hữu hóa tư liệu sản xuất, xóa bỏ quyền làm chủ tư liệu sản xuất của người dân, lạnh lùng bóp nghẹt cuộc sống. Cánh tay chính trị, chuyên chính vô sản, thô bạo nắm cổ người dân, định đoạt số phận người dân theo ý muốn của quyền lực vô sản chứ không theo pháp luật. Công hữu hóa tư liệu sản xuất đã xóa bỏ cá nhân trong toàn bộ đời sống xã hội… Chủ nghĩa Mác Lê Nin chỉ nhìn nhận sự có mặt của đảng Cộng Sản, chỉ có cá nhân của những người lãnh đạo đảng Cộng sản! Người dân dù là nhà văn hóa, nhà khoa học, là trí thức, nghệ sĩ kiệt xuất cũng chỉ là quần chúng, là bầy lạc đà, là công cụ trong tay đảng Cộng sản như thời phong kiến trung cổ chỉ có cá nhân lãnh chúa, chủ đất, còn lại chỉ là bầy đàn, là công cụ sản xuất và công cụ bạo lực!” (Bi Kịch Việt Nam) Nhà văn khẳng định dù chậm phát triển, xã hội Việt Nam cũng đã đi đến Cái Tôi cá nhân trưởng thành: “Trên đường đi đến đô thị của văn minh công nghiệp, những năm ba mươi thế kỷ hai mươi, xã hội Việt Nam chợt đến phố huyện đã để lại dấu ấn trong văn chương là Tự Lực Văn Đoàn với những câu chuyện tình phố huyện, là Thơ Mới ghi lại nỗi thảng thốt sung sướng phát hiện ra Cái Tôi cá nhân trong cuộc đời và sự khắc khoải, bền bỉ đòi hỏi sự nhìn nhận của xã hội đối với Cái Tôi thiêng liêng đó. Cái Tôi cá nhân thức dậy, năng lực sáng tạo của những cá nhân được giải phóng đã tạo ra lịch sử Việt Nam thời trước Cộng sản những tên tuổi lớn. Về văn hóa có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Phan Khôi, Bùi Kỉ, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh tường, Vũ Trọng Phụng, Phạm Cao Củng, Nam Cao, Phạm Huy Thông, Nguyễn Tuân, Thế Lữ. Về kinh tế có Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Nguyễn Thị Năm. Về chính trị có Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến.” (Bi Kịch Việt Nam) Những cá nhân đó đang thực hiện nhiệm vụ lịch sử, đang kể lại dấu ấn Cái Tôi trong lịch sử: “Những người Việt Nam kiệt xuất đó với tầm văn hóa và lòng tự hào dân tộc đang lặng lẽ chuẩn bị nền tảng tư tưởng, nền tảng văn hóa và cả nền tảng kinh tế, xã hội cho một xã hội mới và đang bền bỉ thức tỉnh nhân dân, tổ chức lực lượng chính trị cho cuộc đấu tranh với thực dân xâm lược Pháp giành độc lập dân tộc. Con đường đấu tranh bất bạo động bằng tư tưởng, văn hóa, kinh tế, chính trị theo con đường của Phan Châu Trinh vạch ra, theo con đường của Mahatma Gandhi, theo triết lí Phương Đông dựa vào lòng người “lấy chí nhân thắng bạo tàn”, không đẩy người dân tay không ra đối đầu với súng đạn thực dân, tiết kiệm xương máu cho dân là con đường lâu dài nhưng là con đường đồng hành với tiến trình phát triển của lịch sử loài người và nền độc lập giành được bằng con đường đó là nền độc lập thực sự và bền vững, nền độc lập không bị phụ thuộc vào những thế lực chính trị bên ngoài. Mahatma Gandi dẫn dắt nhân dân Ấn Độ đấu tranh bất bạo động với đế quốc Anh đã giành được độc lập. Theo logic lịch sử, tiến trình đi đến độc lập như Ấn Độ cũng đang lặng lẽ, bền bỉ và vững chắc diễn ra ở Việt Nam”. Nhưng những người Cộng sản mang chủ nghĩa Mác Lê Nin về Việt Nam đã “đưa nhân dân Việt Nam vào những cuộc cách mạng bạo lực, vào cuộc chiến tranh ý thức hệ đẫm máu, chia trận tuyến đấu tranh giai cấp, thanh toán địch – ta vào trong từng con người, trong từng gia đình, trong từng cơ quan, đơn vị, phân chia trận tuyến giai cấp, thanh toán địch – ta trong lòng dân tộc Việt Nam, đẩy nhân dân vào cuộc sát phạt, tiêu diệt, xung đột, giằng xé, đấu đá, bất ổn, ly tán của dân tộc suốt từ giữa thế kỷ hai mươi đến tận hôm nay vẫn chưa chấm dứt. Sát phạt, xung đột, giằng xé, đấu đá, bất ổn, ly tán để xóa bỏ Cái Tôi cá nhân vừa thức tỉnh trong trí thức, trong giới chủ, trong thanh niên, học sinh thành phố, để chỉ còn Cái Tôi quyền uy của hơn chục yếu nhân nắm vận mệnh đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định số phận cả dân tộc Việt Nam” (Bi Kịch Việt Nam) Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác Lê Nin để hướng tới mục tiêu Xã hội Chủ nghĩa bạo lực chuyên chính vô sản. Xã hội mà đảng Cộng sản hướng tới, với nhà văn Phạm Đình Trọng chỉ là: “Chủ nghĩa Xã hội cho những người lãnh đạo Cộng sản quyền hành vô hạn, lại tước đoạt của dân mọi quyền con người, mọi quyền công dân. Nhân dân Việt Nam là nạn nhân thê thảm nhất của Chủ nghĩa Xã hội. Người dân chỉ là công cụ để Nhà nước vô sản sử dụng làm cách mạng giành chính quyền cho Đảng và tiến hành chiến tranh vì mục tiêu giai cấp của Đảng. Người dân công cụ chỉ được sử dụng làm quần chúng cách mạng trong đấu tranh giai cấp, trong đấu tố, hãm hại những người lương thiện thức tỉnh. Người dân chỉ là công cụ nên không có quyền tư hữu, không có quyền có tài sản riêng, kể cả tài sản vật chất như đất đai, đến tài sản văn hóa tinh thần như tư tưởng. Người dân không được có tư tưởng chính kiến riêng. Mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo!” (Không Thể Đi Ngược Ý Chí Nhân Dân). Mục tiêu Xã hội chủ nghĩa là hư vô nhưng vì cái mục tiêu hư vô đó đảng Cộng sản sử dụng bạo lực sắt máu với dân là sự thật hiển nhiên. “Đảng Cộng sản Việt Nam đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến, đã đem lại cho dân tộc Việt nam gần một thế kỷ cách mạng, chiến tranh đẫm máu, ly tán dân tộc, tan hoang đất nước.” (Bi Kịch Việt Nam) Trong đoàn nhà văn Việt Nam đi thăm Ấn Độ trở về, nhà văn viết: “Giành được độc lập bằng đấu tranh chính trị và đấu tranh nghị trường nên Ấn Độ có nền nếp dân chủ đại nghị từ ngày đó. Nhà nước dân chủ Ấn Độ chỉ có thể tồn tại được bằng sự chấp thuận của người dân. Còn chúng ta suốt hơn nửa thế kỷ giành và giữ chính quyền bằng bạo lực, chúng ta đã coi chính quyền tồn tại bằng bạo lực như một lẽ đương nhiên, như điều bình thường. Một xã hội dân sự yên hàn nhưng nhà nước Cộng sản vẫn chuyên chính với dân. Coi những ý kiến của dân khác biệt với chính quyền đều là thế lực thù địch. Dùng bạo lực trả lời những ý kiến khác biệt của dân thì không thể là bình thường. Xài bạo lực quá lâu đã trở thành nghiện. Bạo lực đã trở thành ma túy của nhà nước Cộng sản Việt Nam! Nhà nước quá nghiền, quá ỷ vào bạo lực, làm sao đất nước có dân chủ!” (Nghĩ suy từ Ấn Độ). Thẳng thắn, trung thực bộc lộ nỗi đau buồn về hiện trạng đất nước, nhà văn đã liên tiếp nhận được giấy mời làm việc với cán bộ phụ trách an ninh chính trị của công an quận, công an thành phố, rồi cả bộ công an. Sau lần gặp viên phó quận trưởng phụ trách an ninh công an quận Tân Bình, nhà văn viết bài Thưa chuyện với công cụ bạo lực chuyên chính vô sản và chuyển tay bài viết đến ông phó quận trưởng công an: “Lực lượng công an đã bị giáo dục, nhồi sọ sai trái, méo mó, đảo lộn mọi giá trị, thiêng liêng hóa cái tầm thường và tầm thường hóa cái thiêng liêng. Đảng phái chính trị chỉ là một tổ chức có một tiêu chí tập hợp và một mục tiêu hướng tới. Có tập hợp theo tiêu chí này thì cũng có tập hợp theo tiêu chí khác. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là tập hợp của một tiêu chí xa lạ: giai cấp vô sản và hướng tới một mục tiêu ảo: chủ nghĩa xã hội. Trong khi lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng để dân tộc Việt Nam bé nhỏ tồn tại được bên cạnh đế quốc Đại Hán khổng lồ luôn thèm khát thôn tính Việt Nam thì tiêu chí tập hợp làm nên sức mạnh Việt Nam để tồn tại phải là dân chủ và mục tiêu hướng tới phải là dân tộc. Dù là đảng cầm quyền, dù đảng có vài triệu đảng viên, dù đảng có lịch sử vài chục năm thì đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một hiện tượng bình thường của đời sống xã hội, là một sản phẩm tầm thường và tội lỗi của lịch sử Việt Nam, là một tổ chức tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất thời không phải là mãi mãi, càng không phải là một giá trị bền vững, thiêng liêng, tuyệt đối! Chỉ có dân tộc Việt Nam là bền vững! Chỉ có nhân dân Việt Nam là vĩnh hằng, bất biến! Chỉ có tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng! Đất đai sông núi Việt Nam, những trang sử oai hùng Việt Nam, hồn thiêng của tổ tiên Việt Nam, nền văn hiến Việt Nam và nhân dân Việt Nam chính là tổ quốc Việt Nam thiêng liêng. Nhưng lực lượng công an được giáo dục coi cái tầm thường là thiêng liêng, coi đảng cộng sản là giá trị thiêng liêng, cao cả! Vì thế công an mới trương khẩu hiệu mê muội “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình!” Coi những giá trị thiêng liêng là tầm thường, cắt nhượng đất đai thiêng liêng cho bành trướng, coi nhân dân máu thịt như kẻ thù! (Thưa chuyện với công cụ bạo lực chuyên chính vô sản) Những thiên chính luận có giọng rất riêng của nhà văn Phạm Đình Trọng xuất hiện trên các trang mạng internet từ đầu năm 2008 nhưng tôi chỉ thực sự quan tâm đến cái giọng riêng đó từ bài Ăn mày dĩ vãng – thực chất cuộc học tập đạo đức Hồ Chí Minh, khoảng cuối năm 2009. Một sáng chủ nhật tổ trưởng đảng đến thúc giục nhà văn nộp bản thu hoạch về học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Nhà văn từ chối viết bản thu hoạch đó. Sau đó nhà văn nộp cho tổ trưởng đảng bài viết 7 trang A4 Ăn mày dĩ vãng với sự thẳng thắn hiếm có: “Chuyện tham nhũng của bộ máy nhà nước ta không sao kể xiết. Bộ máy nhà nước tham nhũng đó lại cao giọng rao giảng đạo đức Hồ Chí Minh thì đó là sự giả dối vô liêm sỉ, một sự giả dối tự nhiên như không, không còn biết ngượng, thì đó là một màn kịch vụng về, trơ trẽn! Và cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành cuộc vận động làm điều giả dối! Đó là sự suy đồi thảm hại của đạo đức xã hội! Bộ máy nhà nước tham nhũng, chính quyền suy yếu ngày càng phụ thuộc vào Đại Hán làm cho nhân dân oán giận, lòng người ly tán. Trong tình thế đó, đưa Hồ Chí Minh ra, đưa những năm tháng đánh giặc hào hùng ra, đưa sự hy sinh to lớn của đồng bào chiến sĩ ra để ru ngủ nhân dân quên đi những nhức nhối hiện tại, để chính quyền tham nhũng núp bóng, ăn theo vinh quang của quá khứ mà tồn tại. Đó là những kẻ ăn mày dĩ vãng!” (Còn tiếp) ----- Tháng Một 8, 2017 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2017/01/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-57/#more-7947 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 58): https://www.minds.com/newsfeed/1019927196230389760?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 56): https://www.minds.com/newsfeed/1019926464001789952?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
27 views ·
close
Minds LIVESTREAM Tonight at 7pm ET with Tulsi Gabbard, Tim Pool, Cornel West and more!