LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 48) Tôi đi đòi nợ Nguyễn Khải Ngày 15-3-2008 Nguyễn Khải qua đời. Các báo quốc doanh nhất loạt đưa tin đại tá nhà văn quân đội Nguyễn Khải qua đời. Điện thoại bàn nhà tôi réo liên hồi. Người ta muốn tôi viết bài về Nguyễn Khải. Sự nghiệp văn chương của ông thì cái giải thưởng Hồ Chí Minh đã nói đầy đủ. Người ta muốn có những kỷ niệm, những câu chuyện về cuộc đời, về nghiệp văn của ông để báo bán chạy hơn. Tôi từ chối. Thấy tôi từ chối đến mấy lần, bà xã nhà tôi bảo: “Thôi thì người ta nhờ, ông viết cho người ta. Ông cũng quen Nguyễn Khải mà.” Tôi biết viết gì cho báo chí quốc doanh về Nguyễn Khải, nhà văn mà tôi đã từng nghe tiếng thở dài não nề của ông qua năm tháng? Nguyễn Khải bảo tôi: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh, thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh, thứ hai là độc giả nó khinh, thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán… mình lại tự khinh mình!” “Mình lại tự khinh mình” thì đau quá!!! Vì thế, tôi không lấy gì làm lạ, không ngạc nhiên tí nào khi đọc bài bút ký chính trị Đi tìm cái tôi đã mất của ông sau ngày ông từ trần ít lâu. Một con người mang tâm trạng suốt đời như thế mà vẫn phải sống, vẫn phải viết để tồn tại thì nhất định sẽ phải để lại một cái gì trước khi ra đi, để cáo lỗi với hậu thế. Nguyễn Khải chính là nỗi đau đớn trên hành tinh này của một người cầm bút và nhất định ông phải đi tìm “cái tôi” đã mất ở thế giới bên kia. Theo tôi, bài bút ký chính trị đó là bản án nghiêm khắc nhất, sâu sắc nhất cho tội ác của chế độ toàn trị đối với giới cầm bút ở nước ta thời cộng sản. Phương Tây đi trước Phương Đông về thể chế văn minh, đã đặt tên cho giới nhà văn là “personnel littéraire” trong đó danh “personnel” (giới) không ngẫu nhiên mà trùng với tính từ “personnel” (mang tính cá nhân). Cái “pẹc” (pésonnel) mà Chế Lan Viên hay dùng để ca ngợi cái cá nhân, cái tôi của nhà văn làm nên sự khác biệt, làm nên cái riêng, phong cách của một cây bút, đã bị chế độ toàn trị biến thành bầy đàn thì còn gì là văn chương chữ nghĩa. Vậy mà cả đời phải cầm bút trong một thể chế bầy đàn như thế, Nguyễn Khải đau là phải. Không đau mới lạ. Nguyễn Khải khi còn ở đường Nguyễn Kiệm, tôi đến chơi, thấy nhà cao cửa rộng, phòng khách sang trọng, tôi khen rối rít. Ông tâm sự, thằng con trai đang làm ngành hàng không, lương mười mấy triệu một tháng, nó bỏ, ông lo lắm. Nó nói hết giờ chỉ ngồi tán gẫu phí sức lực của nó, nên nó ra kinh doanh và giàu có. Căn nhà to tát này là của nó. Ở cái nhà như cái lâu đài thế mà ông chỉ nói chuyện buồn. Buồn lắm. Ông kể: “Thằng con tôi hay đi mua sách về đọc. Mẹ nó mắng: Sách của bố mày đầy ra đấy, sao không đọc mà phải đi mua. Nó nói: Sách của bố viết không đọc được! Mẹ nó mắng: Không viết thế thì lấy cứt mà ăn à (!)” Tôi nghe đến đấy thấy… choáng quá! Tôi không ngờ Nguyễn Khải có thể nói ra điều đó với tôi và ông bạn tôi là giáo viên văn, dạy chính những bài văn của ông trong sách giáo khoa. Cái thứ văn “nếu không viết thế thì lấy cứt mà ăn…”! Chính anh bạn này đã đưa tôi đến chơi với Nguyễn Khải ở ngôi nhà sang trọng này. Dằn vặt, đau khổ đến tận cùng nên nhà văn mới thốt ra những lời như thế. Dịp kỷ niệm năm mươi năm báo Văn Nghệ của hội nhà văn, sau khi tổ chức ở Hà Nội, còn được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, tại dinh Thống Nhất. Là cộng tác viên của báo, tôi cũng được mời. Tôi gặp Nguyễn Khải và nói với ông rằng, tôi có đọc trên báo Văn Nghệ một bài mô tả một ông nhà văn nổi tiếng chuyên đi về Thái Bình, viết về Thái Bình rồi đặt câu hỏi: Vậy mà sự chuyện bạo loạn ở Thái Bình xảy ra rung chuyển dư luận trong ngoài nước, không biết trước đó ông nhà văn nổi tiếng kia đã nghe được cái gì, thấy được cái gì mà chẳng thấy ông báo trước được gì… Tôi bảo Nguyễn Khải: “Rõ ràng là người ta chỉ trích anh đấy!” Nguyễn Khải nghe tôi nói rồi chỉ cười bỏ đi. Anh bạn biên tập viên báo Văn Nghệ trong ban tổ chức buổi lễ đứng ngay cạnh tôi, khi Nguyễn Khải đi rồi, anh bảo tôi:”Bài đó chính Nguyễn Khải viết, ông ấy đến tòa soạn năn nỉ bọn tôi đăng. Ông ấy nói: Thôi thì mình chửi mình trước đi, người ta thương, sau này không chửi nữa.” Ít lâu sau Nguyễn Khải là dọn về ngôi nhà bảy tầng lầu ở đường Tôn Đản Quận 4. Nhà đó cũng của con trai ông mới xây. Đây là một trong những nhà tư nhân có cầu thang máy sớm nhất ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi nhà này là văn phòng công ty của con ông. Anh ta để bố ở trên tầng 7, có sân thượng rộng, thoáng mát. Khi tôi đến, anh chàng bảo vệ công ty mặc đồng phục như cảnh sát, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hất hàm hỏi: “Kiếm ai?” Tôi nói: “Kiếm ông Nguyễn Khải, bố của ông chủ anh.” Y hỏi: “Kiếm có việc gì?” Tôi nói: “Anh báo với ông Nguyễn Khải là, tôi là Lê Phú Khải kiếm ông Nguyễn Khải để đòi nợ!” Tay bảo vệ vội vào phòng thường trực gọi điện. Khi lên đến lầu 7 rồi, tôi bảo Nguyễn Khải: “Tôi đến để đòi nợ bài ông hứa viết cho tạp chí Nghề Báo đây!” Nguyễn Khải chưa cho tôi về ngay, giữ ở lại ăn trưa và rồi nằm xuống sàn nói chuyện như mọi lần. Đó là cách tiếp khách quen thuộc của ông. Hai người (nếu là ba người cũng thế) nằm xuống sàn, đấu đầu vào nhau thành một hàng thẳng mà nói chuyện. Theo Nguyễn Khải thì nằm như thế nói chuyện được lâu, đỡ mỏi lưng. Hôm đó Nguyễn Khải nói với tôi: “May quá ông ạ! Bữa trước ông Nguyên Ngọc đến đây, nếu bảo vệ nó đưa ông ấy lên phòng khách ở lầu 3 thì tôi xấu hổ không biết chui vào đâu!” Tôi hỏi: “Vì sao?” Nguyễn Khải trả lời: “Vì ở lầu 3 tôi có treo cái bằng giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông Nguyên Ngọc mà không được giải thưởng Hồ Chí Minh mà tôi lại được thì xấu hổ quá!” Ngẫm nghĩ một lúc ông nói: “Nguyên Ngọc quyết liệt lắm, tôi không thể có cái quyết liệt ấy. Tôi hèn lắm!” Nguyễn Khải là thế. Một nhà văn tên tuổi như ông mà nhận mình hèn thì ông không hèn chút nào. Ít nhất ông cũng là một con người chân thật, có liêm sỉ. Bút ký Đi tìm cái tôi đã mất của ông là một áng văn bất hủ. Một “hiện thực muốn có” bên cạnh một “hiện thực không muốn có” là nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa xuất hiện ở Việt Nam thời cộng sản. Người ta hay nói đến một chủ nghĩa hiện thực không bờ bến …phải chăng … Nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đến viếng ông. Khi người ta bảo không còn chỗ trong nghĩa trang thành phố để an táng ông, ông Kiệt nói: “Lấy suất của tôi cho Nguyễn Khải (!) Viết thêm: Liệu tôi có thể viết cho các báo quốc doanh những câu chuyện kể trên hay không? Vì thế, khi đọc những bài “khóc” Nguyễn Khải trên báo, tôi thấy nó nhạt nhẽo, vô duyên và dối trá. Từ một bài của nhà báo Vu Gia là tôi thấy đọc được. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Hai 16, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/12/16/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-48/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 49): https://www.minds.com/newsfeed/1019924200876576768?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 47): https://www.minds.com/newsfeed/1019923545166786560?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
1Upvote

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 47) Nguyên Ngọc Nguyên Ngọc bảo tôi: “Năm 1962 tôi trở lại chiến trường khu năm ác liệt, cán bộ địa phương vứt cho tôi một cái rìu và nói: cầm lấy cái rìu này đi chặt cây phát nương trồng tỉa mà sống đã… Viết lách gì!” Vậy mà ít lâu sau, tướng Chu Huy Mân mời ông lên gặp và đề nghị: “Cậu hãy viết một bài Bình Ngô Đại Cáo cho cuộc kháng chiến này.” Nguyên Ngọc đã về viết tùy bút Đường chúng ta đi đem đến cho tướng Mân. Ít lâu sau tướng Mân lại bảo nhà văn: “Cậu hãy viết một bài Hịch tướng sĩ cho chúng tôi đi”. Nguyên Ngọc lại về viết truyện ngắn Rừng xà nu đem đến cho tướng Mân. Cả hai tác phẩm bất hủ này đều được đưa vào sách giáo khoa văn học dạy trong chương trình phổ thông trung học. Ai dám bảo viết minh họa là dở?! Không biết các thầy cô giáo dạy văn, khi giảng những bài văn này có biết xuất xứ của nó như thế, như Nguyên Ngọc đã kể cho tôi nghe trong chuyến đi An Giang năm 2012? Trong buổi giao lưu với giáo viên và sinh viên khoa ngữ văn trường Đại học An Giang hôm đó, một thầy giáo của khoa đã độc tấu bàn trường ca Rừng xà nu của Nguyên Ngọc. Cả hội trường im phăng phắc nghe thầy giáo nọ, với giọng Nam bộ chuẩn, ca theo lối ca cổ của Nam bộ. Tôi không rành các làn điệu này nhưng nghe thấy rất hay và bất ngờ vì Rừng xà nu đã được chuyển thể đầy sáng tạo như thế. Nguyên Ngọc lên tận sân khấu ôm lấy tác giả giữa tiếng vỗ tay của mọi người. Đêm về nhà khách của trường, Nguyên Ngọc còn kể cho tôi nghe xuất xứ của bài bút ký nổi tiếng Dũng sĩ núi Thành. Hồi đó (1965), Mỹ mới đổ quân vào Việt Nam. Ở Tam Kỳ Đà Nẵng (bây giờ là huyện Núi Thành), hàng trăm máy bay trực thăng dày đặc cả bầu trời. Lệnh của Tướng Mân là nắm thắt lưng địch mà đánh, đánh phủ đầu, đánh phơi xác để lại cho nó kinh hồn bạc vía, đánh để cho thế giới biết rằng Mỹ cũng đánh được và quân địa phương cũng đánh được Mỹ, vì thế chỉ điều một đại đội quân địa phương để tiêu diệt một đại đội chính quy của Mỹ. Nguyên Ngọc nói: “Chưa đánh mà đã chuẩn bị ‘hội nghị dũng sĩ diệt Mỹ’ vào cuối năm đó đủ biết tự tin thế nào. Đêm đó tôi nằm ngay dưới chân núi Thành. Quân Mỹ mới nhảy xuống, chưa kịp làm công sự, chúng lấy các bao cát xếp thành công sự. Trong đêm tối như mực, quân ta lăn xả vào đánh xáp lá cà, đánh toàn bằng dao găm.” Tôi ngắt lời nhà văn: “Nó to lớn thế sao ta đánh nổi?” Nguyên Ngọc nói: “Trong cuộc chiến giáp lá cà ăn nhau là sự nhanh nhẹn, to xác càng dễ chết.” Ngày trận đầu, Mỹ chết để lại những cái xác bị tiêu diệt bằng dao găm. Nó hoảng lắm. Tôi đã viết bài Dũng sĩ núi Thành ngay dưới chân núi Thành đêm đó, gửi ra cho Đài tiếng nói Việt Nam phát. Đêm đó chúng tôi nói chuyện tới khuya. Sở dĩ Nguyên Ngọc mỗi lần vô Sài Gòn hay gọi điện thoại cho tôi và đi đồng bằng hay rủ tôi vì, cũng như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, ông muốn tìm hiểu về đồng bằng sông Cửu long. Các nhà văn hóa như Nguyễn Khắc Viện, Nguyên Ngọc bao giờ cũng quan tâm đến văn hóa của mọi miền đất nước. Đêm đó, tôi kể cho nhà văn hóa Nguyên Ngọc rằng, ở nơi cùng trời cuối đất của tổ quốc Việt Nam là đồng bằng sông Cửu long, đừng ai nghĩ rằng văn hóa thờ cúng ông bà của người Việt bị phai lạt. Một lần tôi đi theo một chủ ghe chở hàng suốt 11 ngày trên sông nước Cửu long, được nghe ông chủ ghe tâm sự: Đi buôn đường sông thì chỉ đi buôn tủ thờ là lời nhất. Ông giải thích: nếu thầy – ông kêu một ký giả như tôi bằng thầy – đi vào một vùng đang khai hoang như Đồng Tháp Mười mà thấy ghe chở chum vại vào bán thì biết ngay là người ta đang khẩn hoang. Nhưng nếu thấy chở tủ thờ vào bán thì biết là khai hoang đã thành công. Người đi khẩn hoang khi đã sống được trên mảnh đất vừa vỡ hoang, dựng nhà để định cư lập nghiệp lâu dài thì nghĩ ngay đến lập bàn thờ ông bà. Vì thế, bán tủ thờ, người bán nói bao nhiêu thì người mua trả bấy nhiều, không trả giá bao giờ. Nếu chồng có trả giá thì người vợ mắng ngay: Mua đồ thờ ông bà mà trả giá cái gì!” Nghe tôi kể đến đấy, Nguyên Ngọc đang nằm, ngồi nhỏm dậy, chỉ tay vào tôi và nói: “Cậu phải viết lại câu chuyện đó!” Nguyên Ngọc là như thế. Cái gì là khí phách của Việt Nam, là đạo lý của Việt Nam thì phải viết cho thiên hạ biết. Ông bảo tôi: “Nhà văn sinh ra là để nhìn thấy cái mà người khác không nhìn thấy.” Có một điều tôi phát hiện ra là: đang nói chuyện tỉnh như sáo, ông có thể ngủ ngày và ngáy o… o… Trời phú cho ông sức khỏe và thần kinh thép như thế nên suốt hai cuộc kháng chiến gian khổ, ông luôn ở hàng đầu của chiến tuyến. Ở tuổi tám mươi, ông vẫn đi mọi miền của đất nước. Nay ở ngoài đảo Thổ Chu, mai ở Tây Nguyên, mốt ở Việt Bắc. Vẫn đi, vẫn viết. Ông bảo tôi: “Suốt 13 năm tôi là cán bộ rồi bí thư xã ở một vùng ác liệt nhất thời chống Mỹ. Tôi xác định là mình sẽ hy sinh nên rất bình tĩnh. Trước một trận càn của địch, chi bộ họp lại, bàn thật kỹ phương án tác chiến. Khi đã bàn xong thì ung dung ngồi đánh cờ chờ giặc đến để đánh.” Một con người như thế mà Đài Truyền hình Hà Nội dám đưa hình ảnh ông cùng các trí thức trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển Đông ở Hà Nội với lời thuyết minh kèm theo rằng đó là những người bị thế lực thù địch dụ dỗ mua chuộc! Thế mà tên giám đốc Truyền hình Hà Nội lại không bị cách chức, sa thải! Hiện thực đó của đất nước đã “đẩy” Nguyên Ngọc đi đến cùng khi nhà văn nhận ra chân tướng của kẻ đang cầm quyền. Ông kể với tôi: “Một hôm bà Nguyễn Thị Bình triệu tập một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi: Chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói: sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của đảng lấy “chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông” làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng tôi nói: Sai từ đại hội Tour. Bà Bình không đồng ý. Vậy mà sáng hôm sau bà bảo tôi: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, em nói đúng đấy!” Nguyên Ngọc phân tích cho tôi: ta và anh Tàu cùng một đẳng cấp phong kiến nên trong lịch sử có lúc thắng lúc thua nhau. Nhưng Pháp nó hơn ta một đẳng cấp. Nó là xã hội đã có văn minh cả vật chất lẫn tinh thần. Học nó để mà canh tân đất nước rồi giành độc lập cũng chưa muộn. Dùng vũ lực để giành độc lập, sau đó thì anh nông dân vô học lên cầm quyền, không nâng cấp được xã hội mà còn dìm xã hội xuống thấp hơn bao giờ hết. Kẻ nghèo đói lên nắm quyền thì vơ vét và vơ vét. Thực tế đã chứng minh điều đó. Nó hủy hoại cả văn hóa dân tộc. Đi con đường của Phan Châu Trinh là duy nhất đúng. Ông nói điều này không chỉ với tôi ở An Giang bữa đó, ông còn nói trong một cuộc gặp gỡ có mặt nhiều trí thức ở Sài Gòn như tiến sĩ Vũ Trọng Khải, nhà văn Phạm Đình Trọng, Thạc sĩ Mai Oanh, nhạc sĩ Hồng Ánh… Từ Sài Gòn, xem mạng internet thấy Nguyên Ngọc đi đầu trong cuộc biểu tình ở Hà Nội, tôi viết bài thơ tặng một nhà văn: Có những con người mang nỗi nhục áo cơm Có những con người mang hồn thiêng sông núi Đất nước nào chẳng thế phải không em? Anh lẫn đi trong đám biểu tình Nhưng tất cả vẫn nhận ra Vì anh là nhà văn cao lớn nhất Đứng ngang tầm khát vọng của nhân dân. Cho tôi hôn vầng trán rất Quảng Nam Suốt đời cãi cho lẽ phải Có những con người như thế Đất nước này không thể suy vong “Đường chúng ta đi” còn lắm gai chồng Vẫn còn Nguyên chất Ngọc Anh xuống đường “Đất nước đứng lên” “Rừng xà nu” lại nổi bão giông… TpHcm 8/2011 Sau khi trang mạng Bauxite đăng bài này, nhiều trang mạng khác đã đăng lại… kèm với ảnh Nguyên Ngọc đang giơ cao tay trong đám biểu tình. Ánh mặt trời chói sáng trên vầng trán rộng của ông. Viết thêm: Nguyên Ngọc ghét nhất Trần Đăng Khoa. Tôi hỏi ông vì sao? Ông trả lời: “Vì trong một bài viết Khoa ví tôi với… Tố Hữu (!!!) (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Hai 13, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/12/13/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-47/#more-7865 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 48): https://www.minds.com/newsfeed/1019923787620192256?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 46): https://www.minds.com/newsfeed/1019923274130862080?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 46) Chế Lan Viên Đầu năm 1976, tôi đang đạp xe trên đường Trần Hưng Đạo thì Chế Lan Viên gọi giật lại, ông chỉ tay vào bó hoa tôi đang cầm, hỏi: “Ông đem hoa đi tặng ai thế?” Tôi bảo: “Đem hoa đi tặng một người làm thơ hay hơn Chế Lan Viên!” Tôi đi được 10 thước thì ông lại gọi lại hỏi: “Ai vậy?” Tôi trả lời: “Thanh Thảo”. Ngẫm nghĩ giây lát, ông bảo tôi: “Đúng đấy!” Chế Lan Viên là một người như thế. Với những người làm thơ cùng thời, ông là một thi sĩ nổi tiếng vào bậc nhất. Vậy mà khi tôi nói kiểu trêu người như thế, ông lại khen: “Đúng đấy!” Số là thế này. Thanh Thảo tên thật là Công, anh làm ở đài tiếng nói Việt Nam rồi đi B chiến đấu, và có làm thơ. Mấy năm trước hòa bình 1975, anh được ra Bắc điều dưỡng ở trại điều dưỡng Nam Sách Hải Dương. Anh hỏi bạn bè ở giới văn nghệ Hải Dương, biết tôi dạy học ở Cẩm Giàng và là người yêu văn nghệ, “chịu chơi”, nên “trốn trại” đến chơi với tôi vài ngày. Tại đây, anh đọc cho tôi nghe nhiều bài thơ của anh, trong đó có bài Dấu chân trên trảng cỏ, nổi tiếng sau này. Thơ Thanh Thảo được xem là táo bạo vào thời ấy. Anh tuyên bố: “Thế hệ chúng tôi bùng cháy ngọn lửa của chính mình. Không dựa dẫm vào những hào quang có sẵn”. Tôi đã được đọc những vần thơ như thế trong cái xóm nhỏ nghèo nàn nơi trường tôi sơ tán tại Cẩm Giàng, trong lúc có nhà văn tên tuổi lại cho rằng mình là “hạt bụi lấp lánh ánh sáng của đảng”(!) Người ta đã đặt câu hỏi: “Hào quang có sẵn” ám chỉ cái gì? Ai đã bắt thơ phải “dựa dẫm” trong một xã hội tự do như xã hội ta, vân vân và vân vân. Thế là thành chuyện. Chính vì thế tôi mới “trêu ngươi” Chế Lan Viên. Nào ngờ… Buổi sáng hôm đó chính là lúc tôi ra ga Hàng Cỏ tiễn Thanh Thảo về ở hẳn quê nhà Qui Nhơn. Người ta thường bình luận trái ngược nhau về thơ và con người Chế Lan Viên. Nhưng sự sắc sảo “toàn trị” của ông thì ai cũng phải thừa nhận. Tôi gặp nhà thơ lần đầu tiên vào năm 1966 tại Yên Mỹ Hưng Yên, nơi khoa văn trường đại học Sư phạm Hà Nội đang sơ tán bom đạn Mỹ. Năm đó là năm thứ ba, năm cuối cùng trước khi chúng tôi ra trường. Khoa văn tổ chức buổi giao lưu mời nhà thơ Chế Lan Viên đến gặp gỡ sinh viên. Cuộc giao lưu có tổ chức biểu diễn văn nghệ văn nghệ của sinh viên mừng khách mời. Thấy Chế Lan Viên không mặn mà với các tiết mục văn nghệ, thầy chủ nhiệm khoa Lê Trí Viên xuống ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Lê Phú Khải lên đọc bài thơ lúc ban chiều đi!” Thế là tôi hồi hộp bước lên sân khấu. Tôi đọc bài thơ mới làm ban chiều để tặng khách mời của khoa mà thầy Viên đã coi. Thật không ngờ. Tôi vừa dứt lời thì Chế Lan Viên bật dậy, lên sân khấu ôm lấy tôi và cầm lấy bài thơ đó đút túi áo ngực của mình. Cả khoa vỗ tay, và đương nhiên là thầy chủ nhiệm rất hài lòng. Bài thơ “con cóc” của tôi là cách chơi chữ, ghép tên các tác phẩm thơ của Chế Lan Viên Thành vần điệu. Bài thơ khá dài ấy tôi còn giữ đến bây giờ. Đại để có những câu những câu kết này: Cho gửi lời thăm đến người anh thương nhớ đầy vơi… Đã cùng anh “gánh vác” Cả trời “sao chiến thắng” đến hồn tôi… “Gánh vác” là tên một tập truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Vũ Thị Thường, vợ của nhà thơ lúc đó đang đi thực tế ở vùng biển Thái Bình, còn “Sao chiến thắng” là tên một bài thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên. Tôi biết nhà thơ rất nhớ vợ, vì ông đã viết bài “Cái rét đầu mùa” mà tôi được đọc. Một bài thơ tình bốn cầu rất độc đáo và sáng tạo. Có lẽ vì tôi đã chạm vào “chỗ da non nhất của lòng người”, nói theo chính ngôn từ của Chế, nên ông cảm động. Từ đó, Chế và tôi đã trao đổi thư từ (chứ không phải email như bây giờ) cho nhau. Khi tôi thường trú ở Mỹ Tho, Chế Lan Viên đã vô ở hẳn Sài Gòn, và rất hay xuống Tiền Giang, có lẽ vì ông là đại biểu Quốc Hội của tỉnh này. Một buổi tối – ở tỉnh lẻ người ta đi ngủ rất sớm nên đường vắng – tôi và Chế đi ven lòng đường một con phố không còn ai đi lại, dưới ánh đèn lấp loáng gió sông Tiền. Tôi bảo ông: “Thơ chống Mỹ của ông thì xuất sắc rồi, nhưng sau này người ta sẽ quên đi, vì thời điểm lịch sử sẽ qua đi. Nhưng ông có những bài thơ tình còn sống mãi, trong đó có một bài mang vóc dáng thiên tài mà chính ông cũng không biết, chỉ có người đọc biết thôi”. Chế hỏi tôi: “Bài nào?” Tôi nói: “Thì tôi đã bảo chính ông cũng không biết, chỉ có người đọc biết thôi”. Chế càng sốt ruột giục tôi: “Nói đi. Tôi đọc một hơi bài “Rét đầu mùa”: Cái rét đầu mùa Anh rét xa em Đêm dài lạnh chia chăn thành hai nửa Nửa đắp cho em ở miền sóng bể Nửa đắp cho mình ở phía không em Rồi tôi bình: “anh rét xa em” và “ở phía không em” đó là những sáng tạo xuất thần, chỉ có tình yêu mới tạo nên được những lời như thế. “Rét xa em” là rét như thế nào? “Phía không em” là phía nào, không ai định nghĩa, giải thích nổi, nó trừu tượng và mông lung hư ảo quá. Cái không định nghĩa được chính là thơ. Thơ là học thuyết về bầu trời, ông Chế ạ!” Chế chăm chú nghe tôi “tán” và ông tỏ ra hài lòng. Bỗng chai rượu đậu nành Chế đang xách rơi xuống ven lòng đường và vỡ tan ra làm nhiều mảnh. Số là, chiều hôm đó, có cuộc họp báo, tỉnh tặng mỗi đại biểu một cặp rượu đậu nành do Tiền Giang sản xuất. Hai chai rượu buộc vào nhau để xách. Tôi và Chế, mỗi người xách một cặp rượu. Có lẽ cặp rượu của Chế buộc không chặc nên mới rơi ra một chai. Tôi cuối xuống nhặt hai mảnh vỡ lớn đem để vào gốc cây bên đường. Chế vẫn ngồi nhặt tiếp những mảnh bé hơn. Nhặt mãi, nhặt mãi. Tôi suốt ruột kéo ông đi, Chế không chịu, ông bảo: “Những mảnh nhỏ này sắc lắm, phải nhặc cho hết kẻo người ta dẫm phải thì khốn.” Tôi đứng dưới ánh đèn khuya nhìn một nhà thơ lớn ngồi chăm chú nhặt từng mảnh thủy tinh bé nhỏ mà thấy nhân cách lớn lao của ông. Từ đó trở đi, nếu có ai phê phán gì ông, mà đã có rất nhiều người phê phán ông, tôi không tin nữa. Cứ mỗi lần gặp Chế, tôi lại được nghe ông nói những suy nghĩ của mình về thơ. Đó là những lý lẽ sâu sắc. Mặt này không thấy các nhà phê bình văn học nói tới. Có lẽ vì thế mà thơ Chế giàu chất trí tuệ, triết lý. Ông suy nghĩ để làm thơ, nếu có cảm hứng thì cũng là cảm hứng của suy nghĩ. Ông bảo tôi: “Thơ càng “pẹc” (personell) (cá nhân) càng hay. Càng “tôi” bao nhiêu càng hay, càng chủ quản bao nhiêu càng hay, càng vô lý bao nhiêu càng hay!” Rồi ông phân tích: “Còn gì chủ quan hơn khi nhà thơ viết “chắc nàng cũng có nỗi buồn giống tôi”? Còn gì vô lý hơn chỉ vì cái giậu mồng tơi mà ngăn cách được hai con người. Nếu viết báo như cậu mà lại nói “chắc ông chủ tịch đã đã tham ô” thì chết người ta. Nếu viết báo mà vin vào cái giậu mồng tơi thì lý do không chính đáng. Vậy mà những câu thơ vừa chủ quan vừa thiếu khách quan của Nguyễn Bính lại được thiên hạ phổ nhạc để ca hát năm này qua tháng khác. Vì nó rất “pẹc”!” Có lần ông lại bảo tôi: “Nếu theo lô gích của nhà toán học thì Hồ Xuân Hương là một con mụ dở hơi khi viết: “Một đèo, một đèo, lại một đèo / Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.” Nói ngay ra là ba đèo có hơn không? Ông kể, có cô giáo dạy văn hỏi có từ nào là thơ và từ nào không thể đem vào thơ? Ông trả lời: “Mọi từ đều bình đẳng, không có từ nào thơ và từ nào không thơ. Đến từ “cứt” là xấu chứ gì? Vậy mà nó vẫn được mang vào thơ, và còn hay là khác. Ông dẫn chứng ca dao: Thân em như đó hoa hồng Vớ phải anh chồng như bãi cứt trâu Và ông dẫn ngay thơ Chế Lan Viên đã đưa “cứt” vào thơ: Không gì cứu được loài bán nước Không cứt nào cứu được bọ hung! Đi thực tế nông thôn với Chế Lan Viên, tôi thấy ông vui vẻ tiếp nhận cả tờ bướm của đảm bảo vệ thực vật huyện phát cho nông dân rồi cẩn thận cất vô túi xách. Tôi nghĩ là ông xã giao để vui lòng người cho mình. Đến khi về nhà khách tôi thấy ông lấy các tờ rơi, báo cáo của trạm y tế xã, của Hội Chữ Thập Đỏ huyện ra vuốt ngay ngắn rồi xếp cẩn thận vào túi xách trước lúc ra về. Tôi ngồi hút thuốc nhìn ông sắp xếp đồ đạc, thấy thế ông nói: “Người ta có tài năng, mình không có tài năng thì lo thu góp tài liệu vậy!” Chế Lan Viên từng là một nhà báo. Ông làm báo Cứu Quốc trong kháng chiến chống Pháp ở liên khu bốn từ 1947 đến 1954. Có lẽ không ai nói về nghề báo như khi ông nhớ lại: “Ôi… còn gì mà ta không động tới, hỡi chúng ta, những người làm báo hàng ngày, hàng ngày hay hàng đêm cũng được, đêm nào dưới ánh đèn lù mù hay le lói, ta không chỏ mắt ra mà viết bài hay hay đọc bản tin. Cho tôi tỏ lòng biết ơn cái nghề bạc bẽo mà chúng tôi rất trung thành, các nhà hàng món mà lại cao cả đó. Xưa làm thơ tôi bứt hương trên ngọn cây, giờ làm báo, tôi phải ném cả rễ cây dưới đất (Tựa cuốn Người và đất của Phan Quang, nhà xuất bản Thuận Hoá 1988). Chỉ vài dòng thế thôi, nhưng toàn là những điều cốt tử của nghề báo. Cái nghề phải “nếm cả rễ cây dưới đất”. Để làm gì? Nếu không phải để lần đến tận gốc sự kiện và vấn đề đang nảy sinh và phát triển giữa vô vàn biến động của đời sống. Bây giờ, những lúc ngồi buồn, tôi giở lại đôi ba lá thư nhà thơ viết cho tôi đã bạc nét với thời gian, mà qua bao lần di chuyển, tôi vẫn cố mang theo và cứ mỗi lần đọc lại, tôi càng thấy Chế Lan Viên là một bậc thầy của các nhà báo, xét từ góc độ trí tuệ – văn hóa, cái gốc của mọi nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật làm báo. Nhận xét về một bài ký của tôi trên báo Văn Nghệ (1985), ông viết: “Thà làm việc kể chuyện, thông tin mà có văn chương, còn hơn là làm văn chương mà đánh mất hết hiện thực. Tôi rất ghét các loại lưới đẹp mà không cho ta ăn một con cá nào. Đầy xuồng = nghĩa là lượng thông tin lớn”. Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, ông còn là một nhà báo tài năng. Thời gian làm báo liên tục của ông đến 8 năm (1947-1954). Tiếc rằng những bài báo của ông đến nay chưa có ai sưu tầm đầy đủ. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của nhà báo Phan Quang, người có nhiều năm gần gũi và làm báo Cứu Quốc với Chế Lan Viên: “Anh sưu tầm tài liệu, chuẩn bị rất kỹ trước khi bắt đầu một bài viết, một buổi thuyết trình, một chuyến đi công tác. Đó là gì nếu không phải là phong cách báo chí” (Phan Quang, Tuyển tập, tập hai, trang 37 nhà xuất bản Văn Học 1999). Viết thêm: Trước 1975, có lần tôi từ Đài Tiếng nói Việt Nam 58 Quán Sứ đi bộ sang trụ sở Hội Liên hiệp VHNT ở 51 Trần Hưng Đạo, gõ cửa phòng ông. Thấy Chế Lan Viên mặc quần áo giải phóng quân miền Nam, đầu đội mũ tai bèo đang ngồi làm việc. Trên bàn có một mảnh giấy xoay ra phía ngoài, đề “Không tiếp khách quá 10 phút”. Thấy thế tôi chỉ ngồi đúng 10 phút rồi xem đồng hồ đứng dậy. Chế nói: “Đề thế thôi, để đề phòng có kẻ ngồi dai. Cứ ngồi chơi nói chuyện tiếp đi”. Tôi đem câu chuyện Chế mặc đồ giải phóng quân trong phòng làm việc kể với bạn bè. Có người nói: “Chế làm thế để tạo thi hứng làm thơ về miền Nam, về quân giải phóng.” Tôi đọc thơ Thanh Thảo, có mấy câu: Đêm nay có người lội sình Có người ngồi ở thủ đô viết những dòng thơ thông minh Có người dắt tay nhau vào tiệc cưới… Rồi Thanh Thảo kết luận, đại ý: Đất nước là như thế, thế mới là đất nước! Vậy mà Chế lại đồng ý với tôi rằng thơ Thảo hay hơn thơ Chế! Có lẽ vì thế mà cuối đời ông đã viết Di cảo nhận trách nhiệm về mình khi đã cổ vũ cho những người đi vào cái chết trong Tết Mậu Thân (1968). (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Hai 11, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/12/11/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-46/#more- *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 47): https://www.minds.com/newsfeed/1019923545166786560?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 45): https://www.minds.com/newsfeed/1019922904291704832?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 45) Bài học thứ ba về Nguyễn Khác Viện là bài học dân chủ. Theo ông thì một trong những sai lầm lớn nhất trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa những năm qua là coi những giá trị tinh thần mà các cuộc cách mạng tư sản đã giành được như các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền… không phải là những giá trị chung của nhân loại tiến bộ. Như thế, vô hình chung chúng ta đã xem những giá trị ấy thuộc về giai cấp tư sản. Mà không hay rằng chính nhân dân đã đổ xương máu để dành được những quyền đó từ giai cấp thống trị. Chính vì quan niệm lệch như trên, khi xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, người ta đã không kế thừa mà đem đối lập nó với dân chủ tư sản. “Thậm chí ‘cứ làm ngược lại với dân chủ tư sản’ thì có ‘dân chủ xã hội chủ nghĩa’. Rốt cuộc, không những phá bỏ tính chất tư sản của dân chủ, mà còn phá bỏ ngay cả bản thân dân chủ nữa” (Nguyễn Khắc Viện – Cách mạng 1789 và chúng ta – NXB Thành phố HCM 1989, trang 155). Vì thế, theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng đề xướng từ Đại hội VI (1986), vấn đề dân chủ hóa đất nước là một nội dung quan trọng không kém gì vấn đề đổi mới kinh tế đất nước. Ông kiên quyết đưa ra ý kiến. Cải cách kinh tế sau đó phải đi liền với cải cách chính trị, nếu không sẽ thành một xã hội do bọn Mafia điều hành. Sau 26 năm sống ở Pháp và đi nhiều nước châu Âu, Nguyễn Khắc Viện quá hiểu xã hội tư bản. Ông nhiều lần nói với tôi: “Nhà nước tư sản rất mạnh vì nó tuyển chọn vào bộ máy toàn những người đỗ đạt cao, tài giỏi, vì thế nó vừa có quyền lại vừa có uy, thế mới gọi là uy quyền. Nhưng nó phải đối đầu với một xã hội công dân rộng lớn, một mặt trận gồm nhiều thành phần, nhiều tổ chức, nhiều đảng phái, giáo hội từng giờ từng phút chất vấn, đấu tranh, giằng co, vận dụng rất nhiều hình thức kinh hoạt với mục tiêu cuối cùng là ngày càng mở rộng quyền tự do dân chủ và phúc lợi xã hội cho nhân dân. Mặt trận đó xuất hiện từ 200 năm nay, từ khi cách mạng tư sản nổ ra.” Ông cũng căn dặn tôi: “Cách mạng Pháp 1789 nêu khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Trên cái nền ấy mà nước Pháp trở nên giàu có. Nếu chỉ nêu khẩu hiệu làm giàu như nước ta thì đạo lý sẽ suy thoái. Nếu thầy thuốc chỉ lo làm giàu thì bóp nặn bệnh nhân. Nhà báo như cậu mà lo làm giàu thì sẽ bẽ cong ngòi bút. Tư bản là kẻ giàu có, vì thế không có chuyện liều mạng như vô sản, phải biết thóp điều đó để mà chơi với tư sản”. Về nước Mỹ, ông nói: “Thử tưởng tượng nếu 6-7 tỷ người trên Trái Đất này đều có mức sống như người Mỹ hiện nay, mỗi người một chiếc ô tô, năm mươi đến sáu mươi bộ quần áo, hằng năm đi du lịch khắp thế giới này thì năng lượng và tài nguyên của Trái Đất này còn gì nữa?” Quá hiểu bản chất của chế độ tư bản không thay đổi nên Nguyễn Khắc Viện trở thành người sùng bái Liên Xô. Hy vọng ở Liên Xô. Năm 1963 khi bị Pháp trục xuất về nước, bước chân xuống ga Hàng Cỏ Hà Nội, ông đã nói một câu nổi tiếng: “Nếu mở mắt ra nước Việt Nam trở thành nước Pháp thì tôi đi theo chủ nghĩa tư bản, nhưng phải đi 200 năm “đầy máu và nước mắt” (Marx) thì tôi đi theo Liên Xô!” Báo chí đã vin vào câu nói đó của nhà trí thức Nguyễn Khắc Viện để tán dương ầm ĩ. Đùng một cái Liên Xô sụp đổ tan tành! Một tiếng sét ngang tai với những cán bộ cách mạng lão thành ở Việt Nam, trong đó có bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Nhưng là một trí thức cấp tiến, Nguyễn Khắc Viện dám đi tìm “niềm trung thành mới” (recherche de la nouvelle fidélité) như cách nói của Satre. Gặp ông trong buổi liên hoan mừng ông nhận giải thưởng lớn Pháp văn (1992) tại Viện Pasteur TPHCM, tôi hỏi thẳng người bạn vong niên, người thầy đáng quý của mình: “Bây giờ Liên Xô sụp đổ rồi thì cụ tính sao đây?” Bác Viện nói: “Tôi đi theo chủ nghĩa tư bản văn minh. Chơi hẳn với phương Tây, không chơi với bọn tư bản man rợ mới ngoi lên ở châu Á như Đài Loan, Hồng Kông, Nam Triều Tiên, Singapore…” Sau này tôi đọc báo thấy các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc, Đài Loan đấm đá đánh đập công nhân ta tôi càng phục bác Viện cao kiến. Là một trí thức thương nước lo đời, khi về nước năm 1963, đi thăm khu gang thép Thái Nguyên, Nguyễn Khắc Viện vừa đi vừa lấy khăn tay lau nước mắt. Ông tâm sự với tôi: “Mừng quá, thế là nước mình sẽ có sắt thép sẽ có công nghiệp”. Cũng như nhiều trí thức Việt Nam yêu nước khác vô cùng vui mừng khi thấy nước nhà có sắt thép. Một dân tộc “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) thì làm sao không vui mừng được! Chế Lan Viên sắc sảo thế mà còn véo von ca: “Những năm miền Bắc ăn ngô đẻ ra nhà máy thép”. Vậy là những cái đầu thông minh nhất của miền Bắc Việt Nam đều bị Trung Quốc lừa khi họ viện trợ cho ta mấy cái lò nấu thép cổ lỗ sĩ ở Thái Nguyên, càng nấu thép càng lỗ nặng. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Gian thì bốn vụ chiêm xuân mất trắng vì mấy cái “quả lừa” ấy của Trung Quốc! Nguyễn Khắc Viện yêu nước chân thành, yêu Đảng chân thành, vì thế trước đại hội Đảng lần thứ 7 ông đã có thư gửi Trung ương đề nghị giải tán Đảng! Hôm đó, tôi từ Tp HCM ra Hà Nội, đến chơi ông và được ông đọc cho nghe lá thư đó. Trong thư ông phân tích: khi Liên Xô đã tan rã mà ta đổi mới, mời tư bản vào Việt Nam mở nhà máy, xí nghiệp, công ty, thì tư bản là bóc lột, là phá hoại môi trường, nhất là bọn tư bản châu Á mới ngoi lên. Nếu nhà nước hợp tác với tư bản nước ngoài thì khi công nhân đình công, nhà nước sẽ huy động công an, quân đội đến đàn áp công nhân để bảo vệ tư bản, cũng là bảo vệ mình. Như thế thì bao công lao của Đảng với dân tộc trước đây sẽ đổ xuống sông xuống biển hết. Chỉ có con đường giải tán Đảng, trở thành Đảng đối lập với chính quyền để bảo vệ nhân dân, bảo vệ môi trường thì những gì tốt đẹp của Đảng Cộng Sản trước kia mới giữ lại được, người Cộng sản Việt nam mới còn có chỗ đứng trong lịch sử dân tộc. Thế là Nguyễn Khắc Viện trở thành phản động! Nguyễn Văn Linh trước đây đã giơ cả hai tay đỡ lấy bài phát biểu của Nguyễn Khắc Viện tại hội nghị các nhà văn thì nay tuyên bố: “Nước này có hai thằng Nguyễn Khắc Viện thì tan nát!” Bà Nhất, vợ ông Viện đã nói với tôi rằng: “Anh Viện đã chuẩn bị sẵn một cái bị và một cái gậy, dựng ở góc nhà để sẵn sàng đi tù! Ở quê ông người ta đồn là ông đã đi tù. Vì thế, khi về quê, anh Viện phải tổ chức một cuộc nói chuyện ở trường cấp 1 trong xã để “cải chính” cái tin đồn ấy! Người ta đã ra lệnh miệng không báo nào được đăng bài của Nguyễn Khắc Viện.” Khi ông vô TP HCM năm 1992, ở số nhà 22 Phan Đăng Lưu, một biệt thự của người em vợ làm Phó Giám Đốc Viện Pasteur TPHCM, tôi mượn một cái xe cứu thương của Bác sĩ Phụng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang lên ông chơi, chở lên biếu vợ chồng ông 1 giạ gạo, 1 cần xé trái cây. Ông hỏi tôi: “Cậu còn dám đến chơi với mình lúc này à?” Bác sĩ Phụng là người hâm mộ ông Viện, ông nói, đi xe cứu thương kéo còi ủ thì càng nhanh! Thế là chúng tôi đi xe còi ủ chỉ chở 1 giạ gạo và 1 cần xé trái cây. Ngoài tấm hình tôi chụp cho bác sĩ Phụng với bác sĩ Viện, tôi còn chụp tấm hình nhà trí thức Nguyễn Khắc Viện ngồi làm việc ở hàng hiên căn biệt thự này với cái ghế bắc mấy tấm ván chuồng heo trước mặt làm bàn làm việc. Tấm hình “độc đáo” này tôi đã cho in vào cuốn sách tái bản Nguyễn Khắc Viện như tôi đã biết vào đầu năm 2013, nhân một trăm năm ngày sinh của ông. Hồi đó, chủ nhà, chồng của người em vợ ông, chỉ dám cho ông ngồi ngoài hiên vì sợ liên lụy chứa chấp phản động! Ông em cọc chèo của bác Viện là giám đốc một cơ quan lớn ở thành phố Hồ Chí Minh lúc đó! Đầu năm 1991, tôi đi Liên Xô, cũng là lúc bác Viện đang là phản động, Tôi được nghe tổng giám đốc Phan Quang của đài tiếng nói Việt Nam, phổ biến trong cuộc họp giao ban của đài: “Chúng ta phải có cách cư xử đúng mực với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, không thể đánh đồng bác Viện với những người khác!” Thời điểm đó, có hai nhân vật nổi cộm chống đảng là Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Viện. Có lẽ vì uy tín quá lớn của Nguyễn Khắc Viện trên trường quốc tế và trong nước nên chính quyền đã không bắt tù ông. Hơn nữa, thời đó chưa có internet nên lá thư của ông gửi cho trung ương yêu cầu giải tán đảng cũng chỉ ít người biết và sau đó cũng chìm dần với thời gian. Đến khi Nguyễn Khắc Viện yếu nặng, khó lòng qua khỏi (1997), ông Đỗ Mười, đương kim tổng bí thư đã đến thăm ông tại nhà riêng. Ông Đỗ Mười về rồi thì từ lúc ấy bác sĩ Nguyễn Khắc Viện không chịu ăn gì nữa! Bà Nhất gọi điện từ Hà Nội vào cho tôi nhờ tôi khuyên ông ăn cháo. Tôi hỏi lại: “Vì sao phải khuyên ông ấy?” Bà bảo: “Ông Viện nói là, ông Đỗ Mười đã đến thăm tôi rồi mà tôi không chết nó cũng… kỳ!” Sau này bà Nhất còn kể cho tôi, do vợ con khóc lóc năn nỉ, Bác Viện mới chịu ăn cháo, nhưng lại dặn đừng cho nước mắm vào cháo vì nó có đạm lâu chết lắm(!). Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện ra đi ngày 10 tháng 5 năm 1997, đúng như lá thư cuối cùng ông viết cho tôi đầu năm 1997. Lá thư có bốn chữ hán: “nhật nhật tân, hựu nhật tân” (ngày ngày mới, lại ngày mới), cuối thư có mấy chữ: “Tôi ăn tết vui nhưng sức khỏe tồi tệ, không biết rồi còn có dịp gặp nhau nữa không…” Suốt hơn 30 năm làm bạn vong niên với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từ lúc ông về nước, tôi phát hiện ra rằng con người này luôn bàn chuyện ngày mai. Càng về cuối đời, ông càng hay bàn chuyện tương lai, dự báo 10 năm, 20 năm nữa đất nước sẽ đi về đâu, khuôn mặt Việt Nam sẽ ra sao, con cháu sẽ sống như thế nào. Nếu có ai hỏi tôi: Ấn tượng mạnh nhất của anh về Nguyễn Khắc Viện? Tôi sẽ trả lời không đắn đo: Suốt đời con người này dốc toàn sức lực để dự báo những gì sẽ đến với dân tộc. Ông không run sợ khi nói lên sự thật, nói đúng sự thật. Người phương Tây có câu ngạn ngữ: ai nói đúng sớm quá là nói sai! (Ceux qui ont raison trop tôt, ont tort). Cuối đời Nguyễn Khắc Viện đã phải trả giá cho những cái sai đó! Năm khi ông 82 tuổi, ông tâm sự với tôi: “Đời tôi là một đời ngây thơ. Thơ là đi kháng chiến cứu nước, tôi giữ nó lại, ngây là đi theo chủ nghĩa xã hội, tôi vứt nó đi. Nhưng nếu phải sống lại, tôi vẫn đi con đường đó!” Nói cho thật công bằng thì trí thức yêu nước ở Việt Nam thế kỷ 20 khó có con đường nào khác. Đó là con đường đi theo đảng Cộng sản để đánh Pháp đuổi Mỹ… để cuối cùng bắt tay với anh bạn 16 chữ vàng Trung Quốc! Nhưng bắt tay xong, kiểm tra lại bàn tay thì không còn đủ năm ngón nữa! Đó cũng là sự “hàm hồ của lịch sử” như nhà văn nữ Dương Thu Hương viết sau ngày 30 tháng 4 năm 1975! (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Hai 9, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/12/09/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-45/#more-7854 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 46): https://www.minds.com/newsfeed/1019923274130862080?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 44): https://www.minds.com/newsfeed/1019922458552643584?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
13 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 47) Nguyên Ngọc Nguyên Ngọc bảo tôi: “Năm 1962 tôi trở lại chiến trường khu năm ác liệt, cán bộ địa phương vứt cho tôi một cái rìu và nói: cầm lấy cái rìu này đi chặt cây phát nương trồng tỉa mà sống đã… Viết lách gì!” Vậy mà ít lâu sau, tướng Chu Huy Mân mời ông lên gặp và đề nghị: “Cậu hãy viết một bài Bình Ngô Đại Cáo cho cuộc kháng chiến này.” Nguyên Ngọc đã về viết tùy bút Đường chúng ta đi đem đến cho tướng Mân. Ít lâu sau tướng Mân lại bảo nhà văn: “Cậu hãy viết một bài Hịch tướng sĩ cho chúng tôi đi”. Nguyên Ngọc lại về viết truyện ngắn Rừng xà nu đem đến cho tướng Mân. Cả hai tác phẩm bất hủ này đều được đưa vào sách giáo khoa văn học dạy trong chương trình phổ thông trung học. Ai dám bảo viết minh họa là dở?! Không biết các thầy cô giáo dạy văn, khi giảng những bài văn này có biết xuất xứ của nó như thế, như Nguyên Ngọc đã kể cho tôi nghe trong chuyến đi An Giang năm 2012? Trong buổi giao lưu với giáo viên và sinh viên khoa ngữ văn trường Đại học An Giang hôm đó, một thầy giáo của khoa đã độc tấu bàn trường ca Rừng xà nu của Nguyên Ngọc. Cả hội trường im phăng phắc nghe thầy giáo nọ, với giọng Nam bộ chuẩn, ca theo lối ca cổ của Nam bộ. Tôi không rành các làn điệu này nhưng nghe thấy rất hay và bất ngờ vì Rừng xà nu đã được chuyển thể đầy sáng tạo như thế. Nguyên Ngọc lên tận sân khấu ôm lấy tác giả giữa tiếng vỗ tay của mọi người. Đêm về nhà khách của trường, Nguyên Ngọc còn kể cho tôi nghe xuất xứ của bài bút ký nổi tiếng Dũng sĩ núi Thành. Hồi đó (1965), Mỹ mới đổ quân vào Việt Nam. Ở Tam Kỳ Đà Nẵng (bây giờ là huyện Núi Thành), hàng trăm máy bay trực thăng dày đặc cả bầu trời. Lệnh của Tướng Mân là nắm thắt lưng địch mà đánh, đánh phủ đầu, đánh phơi xác để lại cho nó kinh hồn bạc vía, đánh để cho thế giới biết rằng Mỹ cũng đánh được và quân địa phương cũng đánh được Mỹ, vì thế chỉ điều một đại đội quân địa phương để tiêu diệt một đại đội chính quy của Mỹ. Nguyên Ngọc nói: “Chưa đánh mà đã chuẩn bị ‘hội nghị dũng sĩ diệt Mỹ’ vào cuối năm đó đủ biết tự tin thế nào. Đêm đó tôi nằm ngay dưới chân núi Thành. Quân Mỹ mới nhảy xuống, chưa kịp làm công sự, chúng lấy các bao cát xếp thành công sự. Trong đêm tối như mực, quân ta lăn xả vào đánh xáp lá cà, đánh toàn bằng dao găm.” Tôi ngắt lời nhà văn: “Nó to lớn thế sao ta đánh nổi?” Nguyên Ngọc nói: “Trong cuộc chiến giáp lá cà ăn nhau là sự nhanh nhẹn, to xác càng dễ chết.” Ngày trận đầu, Mỹ chết để lại những cái xác bị tiêu diệt bằng dao găm. Nó hoảng lắm. Tôi đã viết bài Dũng sĩ núi Thành ngay dưới chân núi Thành đêm đó, gửi ra cho Đài tiếng nói Việt Nam phát. Đêm đó chúng tôi nói chuyện tới khuya. Sở dĩ Nguyên Ngọc mỗi lần vô Sài Gòn hay gọi điện thoại cho tôi và đi đồng bằng hay rủ tôi vì, cũng như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, ông muốn tìm hiểu về đồng bằng sông Cửu long. Các nhà văn hóa như Nguyễn Khắc Viện, Nguyên Ngọc bao giờ cũng quan tâm đến văn hóa của mọi miền đất nước. Đêm đó, tôi kể cho nhà văn hóa Nguyên Ngọc rằng, ở nơi cùng trời cuối đất của tổ quốc Việt Nam là đồng bằng sông Cửu long, đừng ai nghĩ rằng văn hóa thờ cúng ông bà của người Việt bị phai lạt. Một lần tôi đi theo một chủ ghe chở hàng suốt 11 ngày trên sông nước Cửu long, được nghe ông chủ ghe tâm sự: Đi buôn đường sông thì chỉ đi buôn tủ thờ là lời nhất. Ông giải thích: nếu thầy – ông kêu một ký giả như tôi bằng thầy – đi vào một vùng đang khai hoang như Đồng Tháp Mười mà thấy ghe chở chum vại vào bán thì biết ngay là người ta đang khẩn hoang. Nhưng nếu thấy chở tủ thờ vào bán thì biết là khai hoang đã thành công. Người đi khẩn hoang khi đã sống được trên mảnh đất vừa vỡ hoang, dựng nhà để định cư lập nghiệp lâu dài thì nghĩ ngay đến lập bàn thờ ông bà. Vì thế, bán tủ thờ, người bán nói bao nhiêu thì người mua trả bấy nhiều, không trả giá bao giờ. Nếu chồng có trả giá thì người vợ mắng ngay: Mua đồ thờ ông bà mà trả giá cái gì!” Nghe tôi kể đến đấy, Nguyên Ngọc đang nằm, ngồi nhỏm dậy, chỉ tay vào tôi và nói: “Cậu phải viết lại câu chuyện đó!” Nguyên Ngọc là như thế. Cái gì là khí phách của Việt Nam, là đạo lý của Việt Nam thì phải viết cho thiên hạ biết. Ông bảo tôi: “Nhà văn sinh ra là để nhìn thấy cái mà người khác không nhìn thấy.” Có một điều tôi phát hiện ra là: đang nói chuyện tỉnh như sáo, ông có thể ngủ ngày và ngáy o… o… Trời phú cho ông sức khỏe và thần kinh thép như thế nên suốt hai cuộc kháng chiến gian khổ, ông luôn ở hàng đầu của chiến tuyến. Ở tuổi tám mươi, ông vẫn đi mọi miền của đất nước. Nay ở ngoài đảo Thổ Chu, mai ở Tây Nguyên, mốt ở Việt Bắc. Vẫn đi, vẫn viết. Ông bảo tôi: “Suốt 13 năm tôi là cán bộ rồi bí thư xã ở một vùng ác liệt nhất thời chống Mỹ. Tôi xác định là mình sẽ hy sinh nên rất bình tĩnh. Trước một trận càn của địch, chi bộ họp lại, bàn thật kỹ phương án tác chiến. Khi đã bàn xong thì ung dung ngồi đánh cờ chờ giặc đến để đánh.” Một con người như thế mà Đài Truyền hình Hà Nội dám đưa hình ảnh ông cùng các trí thức trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển Đông ở Hà Nội với lời thuyết minh kèm theo rằng đó là những người bị thế lực thù địch dụ dỗ mua chuộc! Thế mà tên giám đốc Truyền hình Hà Nội lại không bị cách chức, sa thải! Hiện thực đó của đất nước đã “đẩy” Nguyên Ngọc đi đến cùng khi nhà văn nhận ra chân tướng của kẻ đang cầm quyền. Ông kể với tôi: “Một hôm bà Nguyễn Thị Bình triệu tập một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi: Chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói: sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của đảng lấy “chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông” làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng tôi nói: Sai từ đại hội Tour. Bà Bình không đồng ý. Vậy mà sáng hôm sau bà bảo tôi: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, em nói đúng đấy!” Nguyên Ngọc phân tích cho tôi: ta và anh Tàu cùng một đẳng cấp phong kiến nên trong lịch sử có lúc thắng lúc thua nhau. Nhưng Pháp nó hơn ta một đẳng cấp. Nó là xã hội đã có văn minh cả vật chất lẫn tinh thần. Học nó để mà canh tân đất nước rồi giành độc lập cũng chưa muộn. Dùng vũ lực để giành độc lập, sau đó thì anh nông dân vô học lên cầm quyền, không nâng cấp được xã hội mà còn dìm xã hội xuống thấp hơn bao giờ hết. Kẻ nghèo đói lên nắm quyền thì vơ vét và vơ vét. Thực tế đã chứng minh điều đó. Nó hủy hoại cả văn hóa dân tộc. Đi con đường của Phan Châu Trinh là duy nhất đúng. Ông nói điều này không chỉ với tôi ở An Giang bữa đó, ông còn nói trong một cuộc gặp gỡ có mặt nhiều trí thức ở Sài Gòn như tiến sĩ Vũ Trọng Khải, nhà văn Phạm Đình Trọng, Thạc sĩ Mai Oanh, nhạc sĩ Hồng Ánh… Từ Sài Gòn, xem mạng internet thấy Nguyên Ngọc đi đầu trong cuộc biểu tình ở Hà Nội, tôi viết bài thơ tặng một nhà văn: Có những con người mang nỗi nhục áo cơm Có những con người mang hồn thiêng sông núi Đất nước nào chẳng thế phải không em? Anh lẫn đi trong đám biểu tình Nhưng tất cả vẫn nhận ra Vì anh là nhà văn cao lớn nhất Đứng ngang tầm khát vọng của nhân dân. Cho tôi hôn vầng trán rất Quảng Nam Suốt đời cãi cho lẽ phải Có những con người như thế Đất nước này không thể suy vong “Đường chúng ta đi” còn lắm gai chồng Vẫn còn Nguyên chất Ngọc Anh xuống đường “Đất nước đứng lên” “Rừng xà nu” lại nổi bão giông… TpHcm 8/2011 Sau khi trang mạng Bauxite đăng bài này, nhiều trang mạng khác đã đăng lại… kèm với ảnh Nguyên Ngọc đang giơ cao tay trong đám biểu tình. Ánh mặt trời chói sáng trên vầng trán rộng của ông. Viết thêm: Nguyên Ngọc ghét nhất Trần Đăng Khoa. Tôi hỏi ông vì sao? Ông trả lời: “Vì trong một bài viết Khoa ví tôi với… Tố Hữu (!!!) (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Hai 13, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/12/13/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-47/#more-7865 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 48): https://www.minds.com/newsfeed/1019923787620192256?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 46): https://www.minds.com/newsfeed/1019923274130862080?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 46) Chế Lan Viên Đầu năm 1976, tôi đang đạp xe trên đường Trần Hưng Đạo thì Chế Lan Viên gọi giật lại, ông chỉ tay vào bó hoa tôi đang cầm, hỏi: “Ông đem hoa đi tặng ai thế?” Tôi bảo: “Đem hoa đi tặng một người làm thơ hay hơn Chế Lan Viên!” Tôi đi được 10 thước thì ông lại gọi lại hỏi: “Ai vậy?” Tôi trả lời: “Thanh Thảo”. Ngẫm nghĩ giây lát, ông bảo tôi: “Đúng đấy!” Chế Lan Viên là một người như thế. Với những người làm thơ cùng thời, ông là một thi sĩ nổi tiếng vào bậc nhất. Vậy mà khi tôi nói kiểu trêu người như thế, ông lại khen: “Đúng đấy!” Số là thế này. Thanh Thảo tên thật là Công, anh làm ở đài tiếng nói Việt Nam rồi đi B chiến đấu, và có làm thơ. Mấy năm trước hòa bình 1975, anh được ra Bắc điều dưỡng ở trại điều dưỡng Nam Sách Hải Dương. Anh hỏi bạn bè ở giới văn nghệ Hải Dương, biết tôi dạy học ở Cẩm Giàng và là người yêu văn nghệ, “chịu chơi”, nên “trốn trại” đến chơi với tôi vài ngày. Tại đây, anh đọc cho tôi nghe nhiều bài thơ của anh, trong đó có bài Dấu chân trên trảng cỏ, nổi tiếng sau này. Thơ Thanh Thảo được xem là táo bạo vào thời ấy. Anh tuyên bố: “Thế hệ chúng tôi bùng cháy ngọn lửa của chính mình. Không dựa dẫm vào những hào quang có sẵn”. Tôi đã được đọc những vần thơ như thế trong cái xóm nhỏ nghèo nàn nơi trường tôi sơ tán tại Cẩm Giàng, trong lúc có nhà văn tên tuổi lại cho rằng mình là “hạt bụi lấp lánh ánh sáng của đảng”(!) Người ta đã đặt câu hỏi: “Hào quang có sẵn” ám chỉ cái gì? Ai đã bắt thơ phải “dựa dẫm” trong một xã hội tự do như xã hội ta, vân vân và vân vân. Thế là thành chuyện. Chính vì thế tôi mới “trêu ngươi” Chế Lan Viên. Nào ngờ… Buổi sáng hôm đó chính là lúc tôi ra ga Hàng Cỏ tiễn Thanh Thảo về ở hẳn quê nhà Qui Nhơn. Người ta thường bình luận trái ngược nhau về thơ và con người Chế Lan Viên. Nhưng sự sắc sảo “toàn trị” của ông thì ai cũng phải thừa nhận. Tôi gặp nhà thơ lần đầu tiên vào năm 1966 tại Yên Mỹ Hưng Yên, nơi khoa văn trường đại học Sư phạm Hà Nội đang sơ tán bom đạn Mỹ. Năm đó là năm thứ ba, năm cuối cùng trước khi chúng tôi ra trường. Khoa văn tổ chức buổi giao lưu mời nhà thơ Chế Lan Viên đến gặp gỡ sinh viên. Cuộc giao lưu có tổ chức biểu diễn văn nghệ văn nghệ của sinh viên mừng khách mời. Thấy Chế Lan Viên không mặn mà với các tiết mục văn nghệ, thầy chủ nhiệm khoa Lê Trí Viên xuống ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Lê Phú Khải lên đọc bài thơ lúc ban chiều đi!” Thế là tôi hồi hộp bước lên sân khấu. Tôi đọc bài thơ mới làm ban chiều để tặng khách mời của khoa mà thầy Viên đã coi. Thật không ngờ. Tôi vừa dứt lời thì Chế Lan Viên bật dậy, lên sân khấu ôm lấy tôi và cầm lấy bài thơ đó đút túi áo ngực của mình. Cả khoa vỗ tay, và đương nhiên là thầy chủ nhiệm rất hài lòng. Bài thơ “con cóc” của tôi là cách chơi chữ, ghép tên các tác phẩm thơ của Chế Lan Viên Thành vần điệu. Bài thơ khá dài ấy tôi còn giữ đến bây giờ. Đại để có những câu những câu kết này: Cho gửi lời thăm đến người anh thương nhớ đầy vơi… Đã cùng anh “gánh vác” Cả trời “sao chiến thắng” đến hồn tôi… “Gánh vác” là tên một tập truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Vũ Thị Thường, vợ của nhà thơ lúc đó đang đi thực tế ở vùng biển Thái Bình, còn “Sao chiến thắng” là tên một bài thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên. Tôi biết nhà thơ rất nhớ vợ, vì ông đã viết bài “Cái rét đầu mùa” mà tôi được đọc. Một bài thơ tình bốn cầu rất độc đáo và sáng tạo. Có lẽ vì tôi đã chạm vào “chỗ da non nhất của lòng người”, nói theo chính ngôn từ của Chế, nên ông cảm động. Từ đó, Chế và tôi đã trao đổi thư từ (chứ không phải email như bây giờ) cho nhau. Khi tôi thường trú ở Mỹ Tho, Chế Lan Viên đã vô ở hẳn Sài Gòn, và rất hay xuống Tiền Giang, có lẽ vì ông là đại biểu Quốc Hội của tỉnh này. Một buổi tối – ở tỉnh lẻ người ta đi ngủ rất sớm nên đường vắng – tôi và Chế đi ven lòng đường một con phố không còn ai đi lại, dưới ánh đèn lấp loáng gió sông Tiền. Tôi bảo ông: “Thơ chống Mỹ của ông thì xuất sắc rồi, nhưng sau này người ta sẽ quên đi, vì thời điểm lịch sử sẽ qua đi. Nhưng ông có những bài thơ tình còn sống mãi, trong đó có một bài mang vóc dáng thiên tài mà chính ông cũng không biết, chỉ có người đọc biết thôi”. Chế hỏi tôi: “Bài nào?” Tôi nói: “Thì tôi đã bảo chính ông cũng không biết, chỉ có người đọc biết thôi”. Chế càng sốt ruột giục tôi: “Nói đi. Tôi đọc một hơi bài “Rét đầu mùa”: Cái rét đầu mùa Anh rét xa em Đêm dài lạnh chia chăn thành hai nửa Nửa đắp cho em ở miền sóng bể Nửa đắp cho mình ở phía không em Rồi tôi bình: “anh rét xa em” và “ở phía không em” đó là những sáng tạo xuất thần, chỉ có tình yêu mới tạo nên được những lời như thế. “Rét xa em” là rét như thế nào? “Phía không em” là phía nào, không ai định nghĩa, giải thích nổi, nó trừu tượng và mông lung hư ảo quá. Cái không định nghĩa được chính là thơ. Thơ là học thuyết về bầu trời, ông Chế ạ!” Chế chăm chú nghe tôi “tán” và ông tỏ ra hài lòng. Bỗng chai rượu đậu nành Chế đang xách rơi xuống ven lòng đường và vỡ tan ra làm nhiều mảnh. Số là, chiều hôm đó, có cuộc họp báo, tỉnh tặng mỗi đại biểu một cặp rượu đậu nành do Tiền Giang sản xuất. Hai chai rượu buộc vào nhau để xách. Tôi và Chế, mỗi người xách một cặp rượu. Có lẽ cặp rượu của Chế buộc không chặc nên mới rơi ra một chai. Tôi cuối xuống nhặt hai mảnh vỡ lớn đem để vào gốc cây bên đường. Chế vẫn ngồi nhặt tiếp những mảnh bé hơn. Nhặt mãi, nhặt mãi. Tôi suốt ruột kéo ông đi, Chế không chịu, ông bảo: “Những mảnh nhỏ này sắc lắm, phải nhặc cho hết kẻo người ta dẫm phải thì khốn.” Tôi đứng dưới ánh đèn khuya nhìn một nhà thơ lớn ngồi chăm chú nhặt từng mảnh thủy tinh bé nhỏ mà thấy nhân cách lớn lao của ông. Từ đó trở đi, nếu có ai phê phán gì ông, mà đã có rất nhiều người phê phán ông, tôi không tin nữa. Cứ mỗi lần gặp Chế, tôi lại được nghe ông nói những suy nghĩ của mình về thơ. Đó là những lý lẽ sâu sắc. Mặt này không thấy các nhà phê bình văn học nói tới. Có lẽ vì thế mà thơ Chế giàu chất trí tuệ, triết lý. Ông suy nghĩ để làm thơ, nếu có cảm hứng thì cũng là cảm hứng của suy nghĩ. Ông bảo tôi: “Thơ càng “pẹc” (personell) (cá nhân) càng hay. Càng “tôi” bao nhiêu càng hay, càng chủ quản bao nhiêu càng hay, càng vô lý bao nhiêu càng hay!” Rồi ông phân tích: “Còn gì chủ quan hơn khi nhà thơ viết “chắc nàng cũng có nỗi buồn giống tôi”? Còn gì vô lý hơn chỉ vì cái giậu mồng tơi mà ngăn cách được hai con người. Nếu viết báo như cậu mà lại nói “chắc ông chủ tịch đã đã tham ô” thì chết người ta. Nếu viết báo mà vin vào cái giậu mồng tơi thì lý do không chính đáng. Vậy mà những câu thơ vừa chủ quan vừa thiếu khách quan của Nguyễn Bính lại được thiên hạ phổ nhạc để ca hát năm này qua tháng khác. Vì nó rất “pẹc”!” Có lần ông lại bảo tôi: “Nếu theo lô gích của nhà toán học thì Hồ Xuân Hương là một con mụ dở hơi khi viết: “Một đèo, một đèo, lại một đèo / Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.” Nói ngay ra là ba đèo có hơn không? Ông kể, có cô giáo dạy văn hỏi có từ nào là thơ và từ nào không thể đem vào thơ? Ông trả lời: “Mọi từ đều bình đẳng, không có từ nào thơ và từ nào không thơ. Đến từ “cứt” là xấu chứ gì? Vậy mà nó vẫn được mang vào thơ, và còn hay là khác. Ông dẫn chứng ca dao: Thân em như đó hoa hồng Vớ phải anh chồng như bãi cứt trâu Và ông dẫn ngay thơ Chế Lan Viên đã đưa “cứt” vào thơ: Không gì cứu được loài bán nước Không cứt nào cứu được bọ hung! Đi thực tế nông thôn với Chế Lan Viên, tôi thấy ông vui vẻ tiếp nhận cả tờ bướm của đảm bảo vệ thực vật huyện phát cho nông dân rồi cẩn thận cất vô túi xách. Tôi nghĩ là ông xã giao để vui lòng người cho mình. Đến khi về nhà khách tôi thấy ông lấy các tờ rơi, báo cáo của trạm y tế xã, của Hội Chữ Thập Đỏ huyện ra vuốt ngay ngắn rồi xếp cẩn thận vào túi xách trước lúc ra về. Tôi ngồi hút thuốc nhìn ông sắp xếp đồ đạc, thấy thế ông nói: “Người ta có tài năng, mình không có tài năng thì lo thu góp tài liệu vậy!” Chế Lan Viên từng là một nhà báo. Ông làm báo Cứu Quốc trong kháng chiến chống Pháp ở liên khu bốn từ 1947 đến 1954. Có lẽ không ai nói về nghề báo như khi ông nhớ lại: “Ôi… còn gì mà ta không động tới, hỡi chúng ta, những người làm báo hàng ngày, hàng ngày hay hàng đêm cũng được, đêm nào dưới ánh đèn lù mù hay le lói, ta không chỏ mắt ra mà viết bài hay hay đọc bản tin. Cho tôi tỏ lòng biết ơn cái nghề bạc bẽo mà chúng tôi rất trung thành, các nhà hàng món mà lại cao cả đó. Xưa làm thơ tôi bứt hương trên ngọn cây, giờ làm báo, tôi phải ném cả rễ cây dưới đất (Tựa cuốn Người và đất của Phan Quang, nhà xuất bản Thuận Hoá 1988). Chỉ vài dòng thế thôi, nhưng toàn là những điều cốt tử của nghề báo. Cái nghề phải “nếm cả rễ cây dưới đất”. Để làm gì? Nếu không phải để lần đến tận gốc sự kiện và vấn đề đang nảy sinh và phát triển giữa vô vàn biến động của đời sống. Bây giờ, những lúc ngồi buồn, tôi giở lại đôi ba lá thư nhà thơ viết cho tôi đã bạc nét với thời gian, mà qua bao lần di chuyển, tôi vẫn cố mang theo và cứ mỗi lần đọc lại, tôi càng thấy Chế Lan Viên là một bậc thầy của các nhà báo, xét từ góc độ trí tuệ – văn hóa, cái gốc của mọi nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật làm báo. Nhận xét về một bài ký của tôi trên báo Văn Nghệ (1985), ông viết: “Thà làm việc kể chuyện, thông tin mà có văn chương, còn hơn là làm văn chương mà đánh mất hết hiện thực. Tôi rất ghét các loại lưới đẹp mà không cho ta ăn một con cá nào. Đầy xuồng = nghĩa là lượng thông tin lớn”. Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, ông còn là một nhà báo tài năng. Thời gian làm báo liên tục của ông đến 8 năm (1947-1954). Tiếc rằng những bài báo của ông đến nay chưa có ai sưu tầm đầy đủ. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của nhà báo Phan Quang, người có nhiều năm gần gũi và làm báo Cứu Quốc với Chế Lan Viên: “Anh sưu tầm tài liệu, chuẩn bị rất kỹ trước khi bắt đầu một bài viết, một buổi thuyết trình, một chuyến đi công tác. Đó là gì nếu không phải là phong cách báo chí” (Phan Quang, Tuyển tập, tập hai, trang 37 nhà xuất bản Văn Học 1999). Viết thêm: Trước 1975, có lần tôi từ Đài Tiếng nói Việt Nam 58 Quán Sứ đi bộ sang trụ sở Hội Liên hiệp VHNT ở 51 Trần Hưng Đạo, gõ cửa phòng ông. Thấy Chế Lan Viên mặc quần áo giải phóng quân miền Nam, đầu đội mũ tai bèo đang ngồi làm việc. Trên bàn có một mảnh giấy xoay ra phía ngoài, đề “Không tiếp khách quá 10 phút”. Thấy thế tôi chỉ ngồi đúng 10 phút rồi xem đồng hồ đứng dậy. Chế nói: “Đề thế thôi, để đề phòng có kẻ ngồi dai. Cứ ngồi chơi nói chuyện tiếp đi”. Tôi đem câu chuyện Chế mặc đồ giải phóng quân trong phòng làm việc kể với bạn bè. Có người nói: “Chế làm thế để tạo thi hứng làm thơ về miền Nam, về quân giải phóng.” Tôi đọc thơ Thanh Thảo, có mấy câu: Đêm nay có người lội sình Có người ngồi ở thủ đô viết những dòng thơ thông minh Có người dắt tay nhau vào tiệc cưới… Rồi Thanh Thảo kết luận, đại ý: Đất nước là như thế, thế mới là đất nước! Vậy mà Chế lại đồng ý với tôi rằng thơ Thảo hay hơn thơ Chế! Có lẽ vì thế mà cuối đời ông đã viết Di cảo nhận trách nhiệm về mình khi đã cổ vũ cho những người đi vào cái chết trong Tết Mậu Thân (1968). (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Hai 11, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/12/11/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-46/#more- *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 47): https://www.minds.com/newsfeed/1019923545166786560?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 45): https://www.minds.com/newsfeed/1019922904291704832?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 45) Bài học thứ ba về Nguyễn Khác Viện là bài học dân chủ. Theo ông thì một trong những sai lầm lớn nhất trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa những năm qua là coi những giá trị tinh thần mà các cuộc cách mạng tư sản đã giành được như các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền… không phải là những giá trị chung của nhân loại tiến bộ. Như thế, vô hình chung chúng ta đã xem những giá trị ấy thuộc về giai cấp tư sản. Mà không hay rằng chính nhân dân đã đổ xương máu để dành được những quyền đó từ giai cấp thống trị. Chính vì quan niệm lệch như trên, khi xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, người ta đã không kế thừa mà đem đối lập nó với dân chủ tư sản. “Thậm chí ‘cứ làm ngược lại với dân chủ tư sản’ thì có ‘dân chủ xã hội chủ nghĩa’. Rốt cuộc, không những phá bỏ tính chất tư sản của dân chủ, mà còn phá bỏ ngay cả bản thân dân chủ nữa” (Nguyễn Khắc Viện – Cách mạng 1789 và chúng ta – NXB Thành phố HCM 1989, trang 155). Vì thế, theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng đề xướng từ Đại hội VI (1986), vấn đề dân chủ hóa đất nước là một nội dung quan trọng không kém gì vấn đề đổi mới kinh tế đất nước. Ông kiên quyết đưa ra ý kiến. Cải cách kinh tế sau đó phải đi liền với cải cách chính trị, nếu không sẽ thành một xã hội do bọn Mafia điều hành. Sau 26 năm sống ở Pháp và đi nhiều nước châu Âu, Nguyễn Khắc Viện quá hiểu xã hội tư bản. Ông nhiều lần nói với tôi: “Nhà nước tư sản rất mạnh vì nó tuyển chọn vào bộ máy toàn những người đỗ đạt cao, tài giỏi, vì thế nó vừa có quyền lại vừa có uy, thế mới gọi là uy quyền. Nhưng nó phải đối đầu với một xã hội công dân rộng lớn, một mặt trận gồm nhiều thành phần, nhiều tổ chức, nhiều đảng phái, giáo hội từng giờ từng phút chất vấn, đấu tranh, giằng co, vận dụng rất nhiều hình thức kinh hoạt với mục tiêu cuối cùng là ngày càng mở rộng quyền tự do dân chủ và phúc lợi xã hội cho nhân dân. Mặt trận đó xuất hiện từ 200 năm nay, từ khi cách mạng tư sản nổ ra.” Ông cũng căn dặn tôi: “Cách mạng Pháp 1789 nêu khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Trên cái nền ấy mà nước Pháp trở nên giàu có. Nếu chỉ nêu khẩu hiệu làm giàu như nước ta thì đạo lý sẽ suy thoái. Nếu thầy thuốc chỉ lo làm giàu thì bóp nặn bệnh nhân. Nhà báo như cậu mà lo làm giàu thì sẽ bẽ cong ngòi bút. Tư bản là kẻ giàu có, vì thế không có chuyện liều mạng như vô sản, phải biết thóp điều đó để mà chơi với tư sản”. Về nước Mỹ, ông nói: “Thử tưởng tượng nếu 6-7 tỷ người trên Trái Đất này đều có mức sống như người Mỹ hiện nay, mỗi người một chiếc ô tô, năm mươi đến sáu mươi bộ quần áo, hằng năm đi du lịch khắp thế giới này thì năng lượng và tài nguyên của Trái Đất này còn gì nữa?” Quá hiểu bản chất của chế độ tư bản không thay đổi nên Nguyễn Khắc Viện trở thành người sùng bái Liên Xô. Hy vọng ở Liên Xô. Năm 1963 khi bị Pháp trục xuất về nước, bước chân xuống ga Hàng Cỏ Hà Nội, ông đã nói một câu nổi tiếng: “Nếu mở mắt ra nước Việt Nam trở thành nước Pháp thì tôi đi theo chủ nghĩa tư bản, nhưng phải đi 200 năm “đầy máu và nước mắt” (Marx) thì tôi đi theo Liên Xô!” Báo chí đã vin vào câu nói đó của nhà trí thức Nguyễn Khắc Viện để tán dương ầm ĩ. Đùng một cái Liên Xô sụp đổ tan tành! Một tiếng sét ngang tai với những cán bộ cách mạng lão thành ở Việt Nam, trong đó có bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Nhưng là một trí thức cấp tiến, Nguyễn Khắc Viện dám đi tìm “niềm trung thành mới” (recherche de la nouvelle fidélité) như cách nói của Satre. Gặp ông trong buổi liên hoan mừng ông nhận giải thưởng lớn Pháp văn (1992) tại Viện Pasteur TPHCM, tôi hỏi thẳng người bạn vong niên, người thầy đáng quý của mình: “Bây giờ Liên Xô sụp đổ rồi thì cụ tính sao đây?” Bác Viện nói: “Tôi đi theo chủ nghĩa tư bản văn minh. Chơi hẳn với phương Tây, không chơi với bọn tư bản man rợ mới ngoi lên ở châu Á như Đài Loan, Hồng Kông, Nam Triều Tiên, Singapore…” Sau này tôi đọc báo thấy các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc, Đài Loan đấm đá đánh đập công nhân ta tôi càng phục bác Viện cao kiến. Là một trí thức thương nước lo đời, khi về nước năm 1963, đi thăm khu gang thép Thái Nguyên, Nguyễn Khắc Viện vừa đi vừa lấy khăn tay lau nước mắt. Ông tâm sự với tôi: “Mừng quá, thế là nước mình sẽ có sắt thép sẽ có công nghiệp”. Cũng như nhiều trí thức Việt Nam yêu nước khác vô cùng vui mừng khi thấy nước nhà có sắt thép. Một dân tộc “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) thì làm sao không vui mừng được! Chế Lan Viên sắc sảo thế mà còn véo von ca: “Những năm miền Bắc ăn ngô đẻ ra nhà máy thép”. Vậy là những cái đầu thông minh nhất của miền Bắc Việt Nam đều bị Trung Quốc lừa khi họ viện trợ cho ta mấy cái lò nấu thép cổ lỗ sĩ ở Thái Nguyên, càng nấu thép càng lỗ nặng. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Gian thì bốn vụ chiêm xuân mất trắng vì mấy cái “quả lừa” ấy của Trung Quốc! Nguyễn Khắc Viện yêu nước chân thành, yêu Đảng chân thành, vì thế trước đại hội Đảng lần thứ 7 ông đã có thư gửi Trung ương đề nghị giải tán Đảng! Hôm đó, tôi từ Tp HCM ra Hà Nội, đến chơi ông và được ông đọc cho nghe lá thư đó. Trong thư ông phân tích: khi Liên Xô đã tan rã mà ta đổi mới, mời tư bản vào Việt Nam mở nhà máy, xí nghiệp, công ty, thì tư bản là bóc lột, là phá hoại môi trường, nhất là bọn tư bản châu Á mới ngoi lên. Nếu nhà nước hợp tác với tư bản nước ngoài thì khi công nhân đình công, nhà nước sẽ huy động công an, quân đội đến đàn áp công nhân để bảo vệ tư bản, cũng là bảo vệ mình. Như thế thì bao công lao của Đảng với dân tộc trước đây sẽ đổ xuống sông xuống biển hết. Chỉ có con đường giải tán Đảng, trở thành Đảng đối lập với chính quyền để bảo vệ nhân dân, bảo vệ môi trường thì những gì tốt đẹp của Đảng Cộng Sản trước kia mới giữ lại được, người Cộng sản Việt nam mới còn có chỗ đứng trong lịch sử dân tộc. Thế là Nguyễn Khắc Viện trở thành phản động! Nguyễn Văn Linh trước đây đã giơ cả hai tay đỡ lấy bài phát biểu của Nguyễn Khắc Viện tại hội nghị các nhà văn thì nay tuyên bố: “Nước này có hai thằng Nguyễn Khắc Viện thì tan nát!” Bà Nhất, vợ ông Viện đã nói với tôi rằng: “Anh Viện đã chuẩn bị sẵn một cái bị và một cái gậy, dựng ở góc nhà để sẵn sàng đi tù! Ở quê ông người ta đồn là ông đã đi tù. Vì thế, khi về quê, anh Viện phải tổ chức một cuộc nói chuyện ở trường cấp 1 trong xã để “cải chính” cái tin đồn ấy! Người ta đã ra lệnh miệng không báo nào được đăng bài của Nguyễn Khắc Viện.” Khi ông vô TP HCM năm 1992, ở số nhà 22 Phan Đăng Lưu, một biệt thự của người em vợ làm Phó Giám Đốc Viện Pasteur TPHCM, tôi mượn một cái xe cứu thương của Bác sĩ Phụng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang lên ông chơi, chở lên biếu vợ chồng ông 1 giạ gạo, 1 cần xé trái cây. Ông hỏi tôi: “Cậu còn dám đến chơi với mình lúc này à?” Bác sĩ Phụng là người hâm mộ ông Viện, ông nói, đi xe cứu thương kéo còi ủ thì càng nhanh! Thế là chúng tôi đi xe còi ủ chỉ chở 1 giạ gạo và 1 cần xé trái cây. Ngoài tấm hình tôi chụp cho bác sĩ Phụng với bác sĩ Viện, tôi còn chụp tấm hình nhà trí thức Nguyễn Khắc Viện ngồi làm việc ở hàng hiên căn biệt thự này với cái ghế bắc mấy tấm ván chuồng heo trước mặt làm bàn làm việc. Tấm hình “độc đáo” này tôi đã cho in vào cuốn sách tái bản Nguyễn Khắc Viện như tôi đã biết vào đầu năm 2013, nhân một trăm năm ngày sinh của ông. Hồi đó, chủ nhà, chồng của người em vợ ông, chỉ dám cho ông ngồi ngoài hiên vì sợ liên lụy chứa chấp phản động! Ông em cọc chèo của bác Viện là giám đốc một cơ quan lớn ở thành phố Hồ Chí Minh lúc đó! Đầu năm 1991, tôi đi Liên Xô, cũng là lúc bác Viện đang là phản động, Tôi được nghe tổng giám đốc Phan Quang của đài tiếng nói Việt Nam, phổ biến trong cuộc họp giao ban của đài: “Chúng ta phải có cách cư xử đúng mực với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, không thể đánh đồng bác Viện với những người khác!” Thời điểm đó, có hai nhân vật nổi cộm chống đảng là Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Viện. Có lẽ vì uy tín quá lớn của Nguyễn Khắc Viện trên trường quốc tế và trong nước nên chính quyền đã không bắt tù ông. Hơn nữa, thời đó chưa có internet nên lá thư của ông gửi cho trung ương yêu cầu giải tán đảng cũng chỉ ít người biết và sau đó cũng chìm dần với thời gian. Đến khi Nguyễn Khắc Viện yếu nặng, khó lòng qua khỏi (1997), ông Đỗ Mười, đương kim tổng bí thư đã đến thăm ông tại nhà riêng. Ông Đỗ Mười về rồi thì từ lúc ấy bác sĩ Nguyễn Khắc Viện không chịu ăn gì nữa! Bà Nhất gọi điện từ Hà Nội vào cho tôi nhờ tôi khuyên ông ăn cháo. Tôi hỏi lại: “Vì sao phải khuyên ông ấy?” Bà bảo: “Ông Viện nói là, ông Đỗ Mười đã đến thăm tôi rồi mà tôi không chết nó cũng… kỳ!” Sau này bà Nhất còn kể cho tôi, do vợ con khóc lóc năn nỉ, Bác Viện mới chịu ăn cháo, nhưng lại dặn đừng cho nước mắm vào cháo vì nó có đạm lâu chết lắm(!). Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện ra đi ngày 10 tháng 5 năm 1997, đúng như lá thư cuối cùng ông viết cho tôi đầu năm 1997. Lá thư có bốn chữ hán: “nhật nhật tân, hựu nhật tân” (ngày ngày mới, lại ngày mới), cuối thư có mấy chữ: “Tôi ăn tết vui nhưng sức khỏe tồi tệ, không biết rồi còn có dịp gặp nhau nữa không…” Suốt hơn 30 năm làm bạn vong niên với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từ lúc ông về nước, tôi phát hiện ra rằng con người này luôn bàn chuyện ngày mai. Càng về cuối đời, ông càng hay bàn chuyện tương lai, dự báo 10 năm, 20 năm nữa đất nước sẽ đi về đâu, khuôn mặt Việt Nam sẽ ra sao, con cháu sẽ sống như thế nào. Nếu có ai hỏi tôi: Ấn tượng mạnh nhất của anh về Nguyễn Khắc Viện? Tôi sẽ trả lời không đắn đo: Suốt đời con người này dốc toàn sức lực để dự báo những gì sẽ đến với dân tộc. Ông không run sợ khi nói lên sự thật, nói đúng sự thật. Người phương Tây có câu ngạn ngữ: ai nói đúng sớm quá là nói sai! (Ceux qui ont raison trop tôt, ont tort). Cuối đời Nguyễn Khắc Viện đã phải trả giá cho những cái sai đó! Năm khi ông 82 tuổi, ông tâm sự với tôi: “Đời tôi là một đời ngây thơ. Thơ là đi kháng chiến cứu nước, tôi giữ nó lại, ngây là đi theo chủ nghĩa xã hội, tôi vứt nó đi. Nhưng nếu phải sống lại, tôi vẫn đi con đường đó!” Nói cho thật công bằng thì trí thức yêu nước ở Việt Nam thế kỷ 20 khó có con đường nào khác. Đó là con đường đi theo đảng Cộng sản để đánh Pháp đuổi Mỹ… để cuối cùng bắt tay với anh bạn 16 chữ vàng Trung Quốc! Nhưng bắt tay xong, kiểm tra lại bàn tay thì không còn đủ năm ngón nữa! Đó cũng là sự “hàm hồ của lịch sử” như nhà văn nữ Dương Thu Hương viết sau ngày 30 tháng 4 năm 1975! (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Hai 9, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/12/09/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-45/#more-7854 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 46): https://www.minds.com/newsfeed/1019923274130862080?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 44): https://www.minds.com/newsfeed/1019922458552643584?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
13 views ·