LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 41) Những người nông dân tiên tiến ở Đồng bằng Sông Cửu Long Cũng như quan hệ với các VIP Sáu Kiệt, Sáu Phan tôi cũng quan hệ thân thiết với nhiều nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long để tìm hiểu về vùng đất mà tôi yêu mến này. Do được thiên nhiên ưu đãi Đồng bằng Sông Cửu Long đã sản sinh ra một đội ngũ nông dân tuy không nhiều, nhưng các vùng quê khác của đất nước không dễ gì xuất hiện những gương mặt như thế. Họ là sản phẩm của nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa đã thành hình nhiều năm ở đồng bằng này. Ba mươi năm lăn lộn với ĐBSCL, tôi đã may mắn được gặp gỡ, làm quen và có người đã thành bạn tri kỷ. Tôi luôn giữ địa chỉ, số điện thoại của họ để thường xuyên liên lạc, hỏi han và nhờ họ chỉ bảo. Đó là những con người “cực kỳ bé nhỏ, nhỏ như một cái chấm, nhưng cực kỳ to lớn, tạo ra cả một miền trù phú của đất nước” (Băng Sơn). Đó là những nông dân Hai Chung làm lúa giống ở Chợ Gạo, Tiền Giang, là Ba Nở trồng bắp lai ở Tân Châu, An Giang, Tư Thành trồng sầu riêng hạt lép ở Cái Mơn, Bến Tre, Sáu Đức lập trang trại cả 100 hecta đất trồng lúa xuất khẩu cho Nhật Bản ở Tri Tôn; Lê Văn Lùng làm 20 mẫu lúa, nhưng để riêng 3 mẫu làm từ thiện, cùng bà con góp tiền mua xe cấp cứu 600 triệu tặng Hội Chữ Thập Đỏ xã, ở Tịnh Biên, An Giang. Đặc điểm nổi bật của những nông dân này là họ cực kỳ năng động, nhạy bén, luôn tiếp thu nhanh cái mới và sáng tạo, táo bạo trong lao động. Ngày mới hòa bình 1975, trong thiên tai lũ lụt khủng khiếp năm 1978, rồi nạn rầy nâu tàn phá đồng bằng, nông dân Hai Chung đã từ xã Lương Hòa lạc, Chợ Gạo, Tiền Giang đã phóng xe Honda 67 xuống tận Cần Thơ để gặp giáo sư Võ Tòng Xuân học cách nhân giống mới năng suất cao hơn. Hơn 3 hecta ruộng lúa của ông đã trở thành ruộng nhân giống cho cả vùng. Năm 1985, người nông dân này đã cùng đoàn các nhà khoa học Việt nam đi dự hội nghị khoa học tại Viện Lúa Quốc tế IRRI ở Philippin. Mỗi lần gặp lại Hai Chung tại trang trại theo mô hình R.V.A.C. (ruộng, vườn, ao, chăn nuôi) của ông tôi không thể không ôm chầm lấy bờ vai chắc nịch, ướt đẫm mồ hôi của ông. Đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy xưa nay hiếm” nhưng Hai Chung từ sớm tinh mơ đến chiều tối lúc nào cũng tất bật đạp xe đạp đi kiểm tra đôn đốc nhân công của mình. Hết giờ chiều, Hai Chung lại đi nhặt nhạnh dụng cụ lao động, đem những dụng cụ mới đến từng vị trí để sáng hôm sau nhân công của ông đến làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc ngay, không lãng phí thời gian đi tìm dụng cụ. Cách quản lý khoa học khiến trang trại của ông tồn tại gần 40 năm nay một cách bền vững, ngày càng phát triển đi lên. Nhưng không phải Hai Chung chỉ là ông chủ trang trại chỉ biết “đêm nằm nghĩ việc ra cho mà làm” (ca dao), mà còn là một nhà tâm lý học, một người nông dân có đạo lý của ông bà. Hãy nghe ông tâm sự: “Thuê nhân công bây giờ rất dễ vì quá dư thừa lao động, kiếm 10.000 đồng một ngày ở nông thôn bây giờ cũng khó, nhưng thuê người làm lâu dài với mình thì lại rất khó, vì phật ý là người ta có thể bỏ việc ngay lập tức. Vấn đề là phải gắn bó tình nghĩa với nhau. Nếu việc lớn trong đời người ta như cha mẹ qua đời, cưới hỏi cho con cái, giỗ tết mình cũng chia sẻ với người ta như có thể ứng trước tiền, trả lương trước v.v… và v.v… thì người ta gắn bó với trang trại của mình có khi cả đời. Lao động ở nông thôn là thế! Chú Hai còn giải thích cho tôi: – Nuôi con heo, con cá không như làm việc với cỗ máy, hết giờ là đóng máy lại. Con heo đâu có đẻ đúng giờ! Về điểm này thì Hai Chung có tầm hiểu biết ngang tầm quốc tế. Vì có một thời gian trên thế giới. Ở các nền nông nghiệp tiên tiến như Pháp, Ý, Nhật, người ta đã cho rằng các xí nghiệp nông nghiệp có vốn lớn, trang bị hiện đại, thuê hàng trăm công nhân, sản xuất trên một diện tích lớn sẽ triệt tiêu các trang trại nhỏ (gia đình). Nhưng thực tế đã chứng minh nhiều năm qua, các trang trại gia đình nhỏ 5-7 hecta ở Pháp, Ý, Nhật vẫn tồn tại và ngày một phát triển. Vì đối tượng sản xuất của trang trại nông nghiệp là cây, con, chúng cần được chăm sóc như con người với chủ nhân luôn ở bên chúng. Trang trại gia đình, lấy người trong gia đình làm lao động chính với việc thuê mướn thêm một số lao động sẽ tồn tại lâu dài. Một trang trại nhỏ ở Pháp chỉ nuôi trồng một vài loại cây, con nhưng vẫn tồn tại từ đời ông đến đời cháu chắt vì nó được những siêu thị, khách sạn nổi tiếng ở thủ đô và các thành phố lớn ký hợp đồng dài hạn mua nông sản để giữ tiếng, giữ khách sành ăn, quen dùng những món ăn mà chỉ có ở nông trại đó mới có những thực phẩm mang hương vị riêng ấy. Là người nông dân sản xuất hàng hóa, Hai Chung rất nhạy bén với thị trường. Có thời gian trang trại của ông trồng một vườn mận Ấn Độ (miền Bắc kêu là quả gioi), bán rất có giá. Bà con huyện Chợ Gạo thấy vậy đua nhau trồng mận Ấn Độ. Đến khi mận Ấn Độ ở Chợ Gạo ra trái, Hai Chung xách xe Honda chạy một vòng quanh huyện rồi về nhà ra lệnh cho nhân công của ông chặt hết vườn mận đang ra trái của mình. Thấy thế vợ ông kêu trời kêu đất. Ông chỉ cười rồi bắt đầu trồng thứ khác. Mùa mận năm đó dội chợ, mất giá thê thảm, tiền thuê hái mận còn hơn tiền bán mận. Mọi người đều phục Hai Chung là “nhìn xa trông rộng”! Hai Chung cũng không ngừng cải tiến kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học. Năm 2009, 200 heo nái, 35 heo nọc, hơn 300 heo thịt của trang trại được làm một cuộc cách mạng về chuồng trại, hoàn toàn theo hướng hiện đại: nhập thiết bị nước ngoài, khi chăn nuôi được cách ly tuyệt đối với bên ngoài để đề phòng bệnh tật. Nể tôi lắm, Hai Chung mới cho tôi vào chuồng heo chụp hình, nhưng phải mặc blu trắng, đi ủng lội qua một bể nước sát trùng! Nhưng cũng đừng tưởng Hai Chung chỉ biết làm mà còn biết chơi ra chơi. Đầu năm 2010, tôi về Mỹ Tho, gọi điện cho ông. Từ đầu dây đằng kia, tiếng ông sang sảng: – Ở đâu để tôi cho xe Jeep ra rước! Thì ra Hai Chung mới tậu một cái xe Jeep còn “xịn”, giá một trăm triệu, có nguồn gốc từ chiến trường Irăc. Xe có đủ cả bộ vỏ (lốp) sơ-cua, can xăng mới, xẻng nhà binh cài cửa xe, chỉ còn “thiếu một khẩu trung liên đặt trước đầu xe” – như lời Hai Chung – là thành một quận trưởng! Hai Chung đón tôi bằng xe Jeep tại khách sạn. Đây là lần đầu tiên tôi được ngồi một chiếc Jeep lùn nên thú vị vô cùng. Xe chạy như bay, gió lùa vào từ 4 phía, mát rượi. Hai Chung hào hứng nói: – Hồi còn chế độ cũ, tôi mê cái xe Jeep của tay quận trưởng lắm, chỉ mong được đi một lần trong đời. Bây giờ mình làm ăn khá giả, lại già rồi, phải mua xe Jeep đi cho đã. Xe tôi đi ăn cưới, chẳng xe đời mới nào dám đụng, đụng xe nhà binh thì chỉ có thiệt! Khi tôi viết những dòng chữ này, không quên gọi điện cho Hai Chung hỏi thăm sức khỏe và tình hình sản xuất kinh doanh của ông trong lúc kinh tế đất nước đang rơi theo chiều thẳng đứng. Ông nói như reo trong máy, khoe: – Năm ngoái (2012-LPK), tôi được ra Hà Nội nhận danh hiệu “trang trại vàng” tại Nhà hát lớn! Nhưng nói về trang trại hiện nay, ông cho biết rất khó khăn, thức ăn cho đầu heo thì luôn tăng giá, giá heo xuất chuồng thì luôn giảm. Khi tôi hỏi thăm về sức khỏe, Hai Chung lại cười vang và nghiến răng ken két để tôi nghe thấy trong máy! Đó là cách quen thuộc của ông mổi khi có ai hỏi thăm sức khỏe! Ông nghiến hai hàm răng vào nhau cho phát ra tiếng kêu ken két đến rợn người, để “khoe” sức mạnh của mình. Kể cũng lạ, các cụ ta xưa có câu “đầu bạc răng long” để nói về tuổi già, sức yếu. Vậy mà ở tuổi 80, Hai Chung vẫn rắn chắc như một cây kơ-nia của núi rừng Tây Nguyên, thứ cây có thớ gỗ vặn thừng, không dao, rìu nào chặt nổi. Khi cười, hai hàm răng của Hai Chung vẫn sáng lóa! Kể về những người nông dân tiên tiến ở ĐBSCL thì luôn luôn có những chuyện lý thú. Tôi có thể viết một cuốn sách vài trăm trang để nói về họ, những người mà tôi đã đến tận nhà, ăn ngủ qua đêm, cùng họ ra ruộng, rẫy để “ba cùng”. Những điều mắt thấy tai nghe ấy tôi mới chỉ viết được những bài báo ngắn về họ (báo lề phải), và ngòi bút của tôi còn “nợ” họ, “nợ” bạn đọc rất nhiều. Tư Thành với cây sầu riêng hạt lép ở Chợ Lách, Bến Tre cũng là một ví dụ. Những ai quan tâm đến ĐBSCl đều hay rằng đồng bằng có đến 250.000 hecta vườn ăn trái, chiếm hai phần ba diện tích cây ăn trái của cả nước. Hàng năm ĐBSCL cung cấp khoảng 2 triệu tấn quả, đó là nguồn lợi thứ ba của đồng bằng sau cây lúa và tôm cá ở vùng trọng điểm nông nghiệp lớn nhất nước này. Nhưng hầu hết cây trái ở đây đang trồng giống cũ, cho năng suất thấp, sản phẩm trái không có độ đồng đều nên kém khả năng chế biến và cạnh tranh trên thị trường. Tính chất lạc hậu của đồng bằng này là chỉ độc canh cây lúa. Khi gạo đã đủ ăn, có dư xuất khẩu thì phải nghĩ đến đa dạng hóa vật nuôi, cây trồng, trước tiên phải nghĩ đến cây ăn trái. Nhưng khi trở tay thì mới thấy hụt hẫng. Tìm một kỹ sư trồng lúa thì dễ nhưng khi tìm một kỹ sư về cây ăn trái thì một tỉnh không kiếm nổi một người. Vì thế Thủ tướng Võ Văn Kiệt mới phải mời một đoàn kỹ sư cây ăn trái có múi từ Cuba sang giúp ta. Sau đó ông cho lập “Trung tâm Cây ăn trái” ở xã Long Định tỉnh Tiền Giang. Nhưng Long Định chỉ đáp ứng được 15.000 cây giống mỗi năm. Nhu cầu cây giống, đặc biệt là giống mới, giống nhập ngoại là rất bức xúc. Những nông dân như Chín Hòa, Tư Thành ở Bến Tre là những con người đi tiên phong trong việc tìm kiếm giống mới từ bên ngoài cho các vườn cây ăn trái của ĐBSCL. Năm 1998, tôi lần đến nhà Tư Thành (Nguyễn Công Thành) ở ấp Phụng Châu 2, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, Bến Tre. Từ bến đò đi lên, đi khá xa mới tới nhà anh. Vậy mà chưa kịp vô nhà, anh đã dẫn tôi ra vườn sầu riêng mẹ đang mang trái của anh. Ba năm về nước (1995), nghe được bên Thái Lan có giống sầu riêng Mon-thoong hạt lép, cơm vàng rất nổi tiếng. Tư Thành đã nhờ người con rể làm việc ở ngoài đảo xa thuộc tỉnnh Kiên Giang gửi các thủy thủ tàu Thái Lan hay qua lại, nhờ mua cho giống sầu riêng quí này. Phải 5 tháng sau, mới nhận được cây giống chở qua, với 4 cây vàng cho 250 cây mẹ. Tư Thành đã ra tận đảo để nhận giống cây về. Những cây sầu riêng hạt lép này cho lứa quả đầu tiên sau 3 năm, chỗ dầy cơm nhất của nó đến gần bốn phân (4cm), đường kính một múi tới bảy phân, hạt lép. Ban đầu Tư Thành chỉ định trồng lấy trái, sau thấy thị trường có nhu cầu nên chiết cây con bán giống. Các chuyên gia Thái Lan và cán bộ Trung tâm Long Định đã đến tận vườn của Tư Thành tham quan. Lúc ấy, Tư Thành đã định hái một trái để đãi khách, nhưng vị tiến sĩ người Thái đã ngăn lại: – Phải 5 ngày nữa mới chín. Đúng 5 ngày sau, Trung tâm Long Định đã cử người xuống chứng kiến Tư Thành khui trái sầu riêng đầu tiên đó và chụp hình. 100% là sầu riêng hạt lép giống Mon-thoong! Ngay vụ đầu đó, Tư Thành đã bán được 6.000 cây giống, với giá 15.000 – 20.000 đp62ng một cây (thời điểm 1998). Sau chuyến đi đó, tôi đã viết một loạt tin bài cho Đài TNVN, cho báo chí của thành phố có kèm theo băng ghi âm tiếng nói của Tư Thành (cho đài), và hình ảnh vườn sầu riêng hạt lép đang mang trái của Tư Thành (cho báo). Vài tháng sau, tôi tổ chức cho anh chị em phóng viên ở Chi hội nhà báo của Cơ quan Thường trú Đài TNVN, mà tôi là thư ký của Chi hội, về thăm vườn sầu riêng hạt lép của Tư Thành. Lúc đi đường tôi nói, con gái vùng này đẹp nhất ĐBSCL vì đây là vùng phù sa nước ngọt quanh năm, cây trái xum xuê, “con gái đỏ chót như mận trên cành”, như người ta đã ví. Lúc đến nơi, các bạn đồng nghiệp của tôi phải thừa nhận điều đó. Những phụ nữ bình thường bất chợt bắt gặp khi vô thăm một nhà vườn đều có vẻ đẹp bất ngờ. Không cần đến son, phấn, phụ nữ ở đây thắm đỏ phù sa sông mẹ. Sau này trong cuốn “Hồ sơ Đồng bằng sông Cửu long”, xuất bản năm 2003 (NXB Thanh Niên), tôi còn công bố bức ảnh người đẹp Bến Tre Thân Thúy Hà với chú thích: Cô gái miệt vườn Bến Tre này đã vượt lên 600 người đẹp khác trong cả nước để dành vương miện Hoa khôi thời trang 1995 của Tạp chí thời trang tổ chức tại Hà Nội. Điều thú vị là, khi trả lời phỏng vấn báo chí, cô gái miệt vườn này đã hồn nhiên nói: – Khi biết tôi nhận được danh hiệu Hoa Khôi, cả nhà đều ngạc nhiên vì tôi là cô bé xấu xí nhất trong các chị em tôi! Xứ miệt vườn của Tư Thành là như thế! Khác với sông Hậu được gọi là sông trẻ, chảy thẳng một mạch, sông Tiền được gọi là sông già, chảy quanh co. Chính sự quanh co già nua đó mà phù sa đã đọng lại nơi đây, làm nên những hòn cù lao lung linh cây trái mà người ta gọi là vùng miệt vườn Chợ Lách, Bến Tre, Long Hồ – Vĩnh Long. Vì có gọi điện báo trước nên hôm đó Tư Thành đón chúng tôi tại ngay bến đò. Khi về đến nhà vợ Tư Thành khoe ngay: – Nhờ có đăng báo mà nhiều công ty đã từ Sài Gòn đã xuống tận đây đặt mua cây giống của nhả em. Thì ra đã có những công ty tư nhân ở Sài Gòn xem được bài tôi viết trên báo nên đã xuống đặt mua cây giống sầu riêng hạt lép của Tư Thành để mang lên Miền Đông đất đỏ bán. Thế là Tư Thành lại mở ra được một “xưởng” chuyên chiết cây giống, thu hút hàng chục chị em lao động để đáp ứng những hợp đồng lớn, hàng chục ngàn cây giống. Mỗi cây giống của Tư Thành, gốc đều có túi nilon bao bên ngoài, có in nhãn hiệu và địa chỉ nơi sản xuất, cả số điện thoại đặt hàng trông y như sản phẩm lấy ra từ tủ kính siêu thị!!! Khi cuộc nhậu tưng bừng hôm đó đang diễn ra ở ngoài, Tư Thành kéo tôi vào nhà trong, đưa tôi một cái bao thư, anh nói: – Nhờ các bài viết của anh mà vợ chồng tôi có những khách hàng lớn từ Sài Gòn vợ chồng tôi chia sẻ với anh. Tôi không nhận bao thư, và nói với anh: – Bữa nhậu hôm nay là coi như đã trả công cho tôi rồi. Thay mặt anh chị em, tôi cám ơn anh, đặc biệt là chị đã vất vả. Nếu Tư Thành phải ra tận đảo xa để đi tìm giống mới thì Ba Nở ở Tân Châu, An Giang lại nhờ nghe đài mà tìm được ra giống mới. Vụ Xuân-Hè 1992, Ba Nở trồng bắp giống mới DK999. Nhờ nghe đài Tiếng nói ND TP. HCM mà biết Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đem giống này từ Thái Lan về nước. Anh tìm mua bằng được và đến vụ Đông-Xuân 1994-1995, 3 hecta bắp lai giống mới của anh đã cho lời 30 triệu đồng. Sau cuộc họp báo “đầu bờ” năm ấy do Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam tổ chức tại Tân Châu, bên ruộng bắp của Ba Nở, khi mọi người lên xe về hết, tôi đã ở lại luôn ba ngày với Ba Nở. Ở nhà Ba Nở tôi thấy nhà anh chẳng thiếu gì: tivi, cát-xet, đầu máy vi-đi-ô, phim chưởng, nhưng tôi để ý, những thứ đó đối với anh là chỉ sắm cho có mà thôi. Tất cả tâm hồn anh để vào ruộng bắp ngoài kia, nơi cánh đồng mênh mông nắng trải. Chính anh nói với tôi: “không ra ruộng bắp nhớ lắm”! Thế là anh lại chở tôi bằng chiếc xe Dream mới cứng ra ruộng! Len lỏi trong ruộng bắp, nghe Ba Nở nói về cách chăm sóc cây bắp, từ lúc cao bằng đầu gối đến lúc ra bông tôi biết anh là con người của đất, của cây, của gió đồng nắng sớm. Cái thị trấn Tân Châu ồn ào suốt ngày kia, anh “không màng”! Cũng như Ba Nở ở Tân Châu, Sáu Đức ở Tri Tôn, An Giang là ông chủ đang quản lý một cánh đồng lúa xuất khẩu trên 70 hecta đất. Anh đãi chúng tôi rượu Henessy nhưng đồ nhậu toàn là những thứ bắt được từ trên trời và dưới đất quê anh. Đó là thịt chuột đồng luộc và chim khúm núm nướng. Thịt chuột mềm và thơm, khi thái ra thớ thịt như ba chỉ, mở trắng phau, cho vào miệng mỡ như tan ra, không cần nhau. Thịt chuột đồng luộc và chim khúm núm nướng, thêm mấy trái đậu rồng mọc hoang bên bờ ruộng chấm muối ớt nhai cho đã rồi chiêu một ngụm nhỏ Henessy thì chao ôi, mọi bữa tiệc trong khách sạn 5 sao trên đời này coi như đồ bỏ! Chúng tôi đã lai rai với Sáu Đức như thế, trong trang trại của anh, nghe anh kể về câu chuyện tích tụ ruộng đất của mình và cung cách làm ăn với các nhà buôn Nhật Bản. Còn bác Lê Hùng làm 20 hecta lúa, để riêng 3 hecta làm từ thiện, sắm xe cấp cứu tặng Hội Chữ Thập Đỏ xã (Tân Lập, huyện Tịnh Biên, An Giang) thì vui vẻ nói với tôi: – Từ ngày có xe cấp cứu, cứu sống kịp thời trong đêm tối nhiều “ca” ở cái xã vùng sâu vùng xa này, Bác Lùng cười rung cả bộ râu để dài, đặc trưng của một tín đồ đạo Hòa Hảo, nói: – Xe này là xe cấp cứu cao cấp, Hàn Quốc sản xuất bán cho châu Âu, có thiết bị hiện đại, có bình ôxy, lên xe là được thở bình ôxy. Vậy muốn chết thì phải tới bệnh viện mới chết được! Những người nông dân mà tôi kể trên, và còn nhiều nữa không thể kể hết trong giới hạn của một tập hồi ký là điều mà tôi thấy tự hào vì đã viết về họ trên báo chí “lề phải” suốt nhiều năm thường trú ở ĐBSCL. Nó làm vơi đi những hối hận của mình mỗi khi đọc lại những gì mình đã viết về cải tạo nông nghiệp, cổ vũ cho phong trào hợp tác hóa ở ĐBSCL của một thời mông muội đã qua do sự ngu ngơ của mình. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 27, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/27/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-41/#more-7834 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 42): https://www.minds.com/newsfeed/1019921869374201856?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 40): https://www.minds.com/newsfeed/1019891447277789184?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
1Upvote

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 40) Paris có một đường sinture dài 35 km bao bọc lấy nội ô Paris. Đường này phải thi công tới 17 năm mới xong. Con đường vòng tròn khép kín Paris ấy là để khi nào kẹt đường trong nội ô, người lái xe có thể chạy ra đường vòng cung để thoát và lại tiếp tục vào nội ô nơi không kẹt đường. Ngoài vòng trỏn 35 km đó là ngoại ô Paris. Vẫn nhà cửa san sát nối liền với nội ô làm nên vùng Il de France tới 11 triệu dân mà ta quen gọi là vùng Paris. Nhưng ở vòng ngoài 35 cây số đó thì vùng ngoại vi Paris thuộc các đơn vị hành chính khác, thuộc tỉnh khác. Trong nội ô chỉ có hơn 2 triệu dân. Như thế quản lý mới dễ. Thủ đô của một nước lớn như nước Pháp cũng chỉ quản lý hơn 2 triệu dân trong vòng 35 km. Thủ đô Hà Nội của ta mở rộng đến tận huyện Thạch Thất, Hà Tây, chùa Tây Phương ở trên núi cũng thuộc Hà Nội, Mê Linh quê hương Hai Bà Trưng ngày nay cũng thuộc Hà Nội thì đó là một ý tưởng quái thai. Quốc hội đều cũng thông qua qui hoạch ấy vì quốc hội Việt Nam thực chất là tên đầy tớ đê tiện nhất của đảng độc tài. Con cháu chúng ta sau này sẽ nguyền rủa việc mở rộng Hà Nội một cách lưu manh như thế vì các lợi ích nhóm trong Đảng. Chắc chắn sau này Thạch Thất, Mê Linh lại trở về với Hà Tây. Tôi tin là như thế. Lúc còn sống ông Kiệt cũng kịch liệt phản đối việc này. Nhà báo Thâu và Hải, chủ nhân tạm bợ của ngôi nhà số 5, Rue de Tremple Villeneuve la Garremme đã sống buồn tẻ trong ngôi biệt thự này. Hàng ngày các anh phải nấu lấy để ăn uống, sinh hoạt. Anh Thâu vừa nấu ăn vừa chữa các bếp điện, vừa chửi: – Ở Paris, người mua nhà thì bắt chủ cũ phải vứt hết các cái bếp này đi, vậy mà bọn tài vụ của ông Hạnh lại phải trả tiền cả những cái bếp vứt đi này. Giá tính lại cao hơn giá mua bếp mới! Chúng nó ăn cũng phải vừa phải thôi chứ, phải nghĩ đến người khác chứ, ai mà đun nấu nổi bằng cái thứ bếp đã nát hỏng giữa Paris giá lạnh thế này! Thực chất như anh Thâu nói thì không cần đến cái Cơ quan thường trú với cái villa này, chỉ cần một phóng viên thường trú của Đài, ở bên Sứ quán ta như thường trú báo Nhân Dân là đủ. Anh Thân nói rất đúng. Nhưng Trần Mai Hạnh và bậu xậu của y phải vẽ ra mua nhà, sắm xe, mua cả máy móc như thu thanh, phát thanh như một cái đài phát thanh thì chúng mới lấy được tiền nhà nước và ăn chia với nhau được. Thấy nhà sang quá, tôi hỏi Thâu, sếp Hạnh sang đây ở phòng nào? Thâu bĩu môi nói: “Chưa bao giờ ở đây cả, hắn thuê khách sạn 5 sao trong nội ô Paris ở!!!” Đúng là cái anh nhà quê mắt toét, nghèo đói, khi được làm quan (ủy viên trung ương) thì tìm mọi cách để vơ vét và hưởng thụ là thế! Những điều mỹ miều bọn chúng nói trên diễn dàn chỉ là bịp bợm mà thôi. Nhưng nguy hiểm nhất là chúng luôn luôn dọa Nhà nước rằng: “phải phát triển cơ quan ngôn luận để đối phó với các thế lực thù địch trên mặt trận thông tin, để giữ vững chế độ, bảo vệ chế độ…”!!! nói đến việc “bảo vệ chế độ”, thì bao nhiêu mồ hôi, nước mắt của dân đóng thuế cũng đem ra tiêu xài không thương tiếc. Thời Trần Mai Hạnh, y đã mua nhà ở Paris, ở Băng Cốc, ở thủ đô Ai Cập để lập cơ quan thường trú của Đài, những thứ hoàn toàn là bịp bợm. Chỉ có những người trong ngành phát thanh và truyền hình thì mới biết là nó vô tác dụng, chỉ để đốt tiền của dân. Những ngày ở ngôi biệt thự số 5, Rue du Tremple Villeneuve, chúng tôi nhặt củi ở vườn sau nhà, đưa vào lò sưởi ngay trong nhà (kiểu lò sưởi ở các nhà cổ của Pháp ở Hà Nội cũng có) để đốt, vừa uống rượu, vừa ăn thịt cừu nước, nói chuyện đến 1-2 giờ sáng mới ngủ. Sáng hôm sau, Thâu và Hải ngủ đến 9-10 giờ. Những đêm như thế, Thâu thường kể cho tôi nghe đủ chuyện ở Paris. Thâu biên chế bên Bộ Công an. Cơ quan báo chí nào đi thường trú thì “mượn” anh đi làm trưởng cơ quan đại diện ở nước đặt thường trú. Anh vui tính và lúc đó đã khoảng 40 mà chưa lập gia đình vì cứ phải đi “thường trú” xa. Thâu kể, TBT Lê Khả Phiêu sang đây chả ai đón tiếp cả, xuống sân bay, cả bậu xậu phải về một khách sạn ở ngoại ô để ở. Vì Pháp là nước đa đảng, TBT của một đảng không phải là nguyên thủ quốc gia thì chẳng có lý do gì để người ta phải tiếp. Đồng bào ở Paris rất muốn coi mặt ông vua nước Nam mình mổm ngang mũi dọc ra sao mà chẳng có báo chí truyền hình nào nó đưa một giọt tin. Năn nỉ mãi để Tồng thống Jacques Chirac tiếp, nể lắm mới được diện kiến 45 phút. Nhưng nguyên thủ nước ngoài người ta tiếp khách là chuyện lớn, phải có nội dung hai bên mua bán cái gì, ký kết hợp đồng làm ăn giữa hai quốc gia ra sao mà mình thì đòi tiếp xã giao. Ở nước Pháp không có chuyện một Tổng thống lại tiếp xã giao ai bao giờ. Vì thế, cuộc đón tiếp rất khiên cưỡng và bẽ bàng. Vậy mà, với 45 phút đó, báo chí trong nước tung hô rầm rĩ là Phiêu được đón rước long trọng. Thâu rất vui và rất trung thực. Có sáng tôi dậy sớm, thấy bát đĩa ăn hôm qua còn vứt ngổn ngang, tôi thu dọn đem rửa. Thâu dậy thấy thế nói ngay: – Anh là khách của tôi, đừng làm thế! Hôm tôi về, cả hai anh Thâu và Hải đều đi tiễn. Cà hai đều khuyên tôi ở lại chơi thêm. Các anh đều muốn về nước sớm. Hải thì có vợ con ở Hà Nội, Thâu thì chưa vợ (Mới đây tôi được tin Thâu đã lập gia đình, thật vui!). Sau hội nghị Paris, sau cả 30.4.1975, chú tôi vẫn chưa được về nước dù đi thường trú nước ngoài từ sau hòa bình 1954, vì chưa cử được người qua thay. Đến cuối 79 đều 80, thì tai họa đến với ông. Một lá thư của ông Hoàng Văn Hoan gửi cho ông do biết nhau từ khi ông đi thường trú ở Bắc Kinh sau 1954. Chú Năm tôi nói: – Suy nghĩ mãi, chú đem bức thư đó trình với tổ chức, với ý nghĩ là mình trung thực, báo cáo mọi điều với Đảng, không giấu giếm điều gì. Không ngờ có người bạn thân, mật báo với ông là ông sẽ được đưa sang điều trị tại Đông Đức, nhưng đó là cái cớ. Chỉ cần tới Đông Đức là sẽ có an ninh kè ông về Hà Nội, và khi bước xuống sân bay sẽ bị còng tay ngay. Hết đường tiến thoái, ông xin tị nạn và ở lại Paris. Khi Thông tấn xã VN tổ chức công bố kỷ luật ông, tôi còn ở Hà Nội và đến dự. Tội danh của ông là “phản quốc”. Một lần ông dẫn tôi đi chơi tháp Eiffel, một tên police (cảnh sát) đến hỏi: – Ngài có phải là người Trung Quốc không? Ông nổi nóng, mắng tên police này và nói: “Tao là người Việt Nam”, “nhưng nếu mày cần dịch tiếng Trung thì tao dịch hộ”. Tên police xin lỗi, nhưng nó vẫn nhờ ông dịch hộ vì nó vừa giữ một người Hoa, nghi là nhập cư trái phép. Dịch hộ thằng police mắc dịch này xong, ông bảo với tôi: – Chú cứ nói đại rằng tên người Hoa kia có nhà ở phố X, quận Y để cứu nó. Nhưng thực ra nó nhập cư trái phép, đi bán dạo mô hình tháp Eiffel. Sau chuyến đi Paris, về Hà Nội, tôi tuyên bố với cả dòng họ, Lê Phú Hào không phản quốc, vì người ta hỏi ông có phải người Trung Quốc không, ông đã chửi và tự hào xưng là người Việt. Ông chỉ phản Đảng mà thôi. Vậy mà cái dòng họ Lê Phú của tôi, đa phần là đảng viên, lúc đó đã gạch tên Lê Phú Hào và Lê Phú Khải trong gia phả nhà họ Lê Phú. Đó có lẽ là cuốn gia phả duy nhất ở Việt Nam mà cháu đích tôn của dòng họ và chú ruột của nó bị gạch tên trong gia phả. Bây giờ, những người ở thế hệ trước đã ra đi tất cả, không ai biết là ai đã gạch tên Lê Phú Hào và Lê Phú Khải. Nhà văn Phạm Đình Trọng có nói trong một bài viết là “Đảng Cộng sản chia rẽ khối đoàn kết dân tộc”, tôi phải viết thêm là “chia rẽ đến cả các dòng họ, các gia đình…”, mà dòng họ Lê Phú của tôi là một ví dụ! Bây giờ cái học thuyết đấu tranh giai cấp đã sụp đổ tan tành, xem ra dòng họ nhà tôi lại hòa hợp! Sau khi ở lại Paris, chú tôi sống trong nỗi buồn xa xứ. bà Bích Ngọc, người vợ mới của ông đã chia sẻ với ông những ngày cuối đời. Bản thân bà cũng là một nỗi buồn mênh mông. Vốn là một cô gái nhan sắc nghiên thành, con nhà giàu có ở Nam Định, thời quân Tưởng tràn sang ta, một tên sĩ quan cao cấp Tưởng Giới Thạch vu oan cho em bà ăn cắp súng và định đem xử bắn. Hắn chỉ tha tội chết cho em bà nếu bà chịu lấy hắn! Thương em, gia đình ép bà phải lấy tên sĩ quan này. Hắn đem bà về Trung Quốc, nhưng sau đó tên sĩ quan này lại theo Hồng quân Trung Hoa, làm đến cấp tướng nên sau hòa bình 1954 bà được sứ quán ta ở Bắc Kinh cho vào làm việc ở sứ quán. Bà quen biết chú tôi từ đó. Sau này bà được ông Phạm Văn Đồng bảo lãnh cho đi Paris để nhận gia tài của một người anh rể sắp mất. Trái đất tròn, bà lại gặp Lê Phú Hào ở Paris, và trong cơn hoạn nạn, họ lại tìm đến nhau. Trong một loạt bài đăng trên báo An ninh Thế giới (1998), để phê phán các cán bộ cao cấp VN tị nạn tại Pháp như Vũ Hùng ở Bộ Văn hóa, Bùi Tín ở báo Nhân Dân, Lê Phú Hào ở Thông tấn xã VN, tác giả đã mượn câu chuyện éo le của bà Bích Ngọc để khai thác câu khách trong bài viết về Lê Phú Hào (không dám dùng tên, chỉ viết tắt là LPH), xin trích nguyên văn: “LPH là một phóng viên kỳ cựu, một cán bộ có trách nhiệm trong ngành thông tin tuyên truyền của VN, đã đào nhiệm năm 1979. LPH phụ trách bộ phận thông tin báo chí của VN tại Pháp. LPH có lẽ là một trong số những phóng viên VN đầu tiên được ra nước ngoài công tác. Đó là vào những năm 50, khi VN mở Đại sứ quán ở Trung Quốc. LPH phụ trách báo chí tuyên truyền của Đại sứ quán. Công việc cũng tỏ ra rất hợp với một thanh niên trẻ, đẹp trai và nhiệt huyết. Đại sứ quán lúc đó chỉ có gần chục người nên công việc bề bộn, vất vả. Một thời gian sau trong Đại sứ quán xuất hiện một phụ nữ VN trẻ đẹp giúp việc. Chị có cái trên rất đẹp: Nam Hồng (bông hoa hồng nước VN), được bạn giới thiệu vào làm việc giúp ĐSQ. Chị kể, chị có một cuộc đời đắng cay, quê ở Nam Định, gia đình thuộc loại giàu có. Năm 1945, khi quân Tàu Tưởng tràn vào để giải giáp quân Nhật, chị mới 15 tuổi. Tên thiếu tá chỉ huy quân Tàu Tưởng gần nhà chị, thấy chị có nhan sắc liền tìm cách ép gia đình phải gả chị cho hắn làm vợ bé. Hắn vu cho em trai chị (13 tuổi) ăn cắp súng của quân Tàu tưởng và dọa sẽ đưa ra xử bắn. Để cứu em và gia đình, chị buộc phải nhận lời. Năm 1946, khi quân tưởng rút về nước, tên sĩ quan đưa chị về Trung Quốc. Do không chịu được sống chung, chị đã mang 2 đứa con gái đi theo phục vụ (nấu ăn, văn nghệ) cho quân giải phóng quân Trung Quốc. Khi Trung Quốc và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao, chị được giới thiệu vào làm việc ở Đại sứ quán VN tại Bắc Kinh. Tuy đã có hai con nhưng chị còn rất trẻ (ngoài 20 tuổi) và đẹp nên được nhiều cán bộ trong đại sứ quán ta có cảm tình. Với kinh nghiệm từng trải, chị đã dễ dàng chinh phục được LPH và hai người đã có những năm tháng hạnh phúc trên đất khách quê người. Họ dự tính sẽ đi đến hôn nhân. Đầu năm 1960, LPH hết nhiệm kỳ công tác, trở về nước, còn Nam Hồng tiếp tục ở lại làm việc trong ĐSQ. Họ vẫn tiếp tục thư từ cho nhau. Nhưng gia đình LPH, một gia đình danh giá, đã phản đối quyết liệt mối tình này và thu xếp để LPH lấy một cô gái khác…” (An ninh Thế giới, số 83 ngày 17/7/1998, trang 1 và 28). Tác giả N.D.C. viết như thế. Có những chi tiết bịa đặt hoàn toàn như “thu xếp để LPH lấy một cô gái khác”. Trong khi Lê Phú Hào đã có vợ từ trong kháng chiến chống Pháp. Bà vợ tên là Hồng và con gái tên là Thủy, lúc đó bà là cán bộ của Thông tấn xã VN tại Hà Nội! Báo chí cộng sản độc quyền nên tha hồ nói láo, không ai dám bắt bẻ, vì thế họ rất sợ tự do báo chí, sợ sẽ có kẻ vả vào mồm họ! Những ngày lưu vong buồn chán, chú tôi mượn âm nhạc để gửi gắm tâm tư. Nhà ông tôi thấy toàn nhạc cụ. Đàn Organe, violon, guitar, mandolin, nhị, sáo, đàn bầu, trống. Ông chơi điêu luyện các nhạc cụ này. Ở nhà ông tôi thấy luôn có người đến nhờ lên dây đàn đủ loại. Ông kể, hồi thím ốm, nằm bệnh viện, chú đến thăm nuôi và đem cây đàn mandolin theo, đến giờ nghỉ trưa, đem ra chơi. Bọn tây đầm thấy chơi hay quá, chúng ôm nhau nhảy, có đứa còn bảo: – Tao mong vợ mày bệnh quanh năm! Duy có một nhạc cụ, tôi phải “mách” để các nhà nghiên cứu âm nhạc VN chú ý, đó là cây nhị. Chuyện là thế này, một hôm ông chú tôi thấy cô đầm hàng xóm sang chơi, đem theo một hộp bánh. Ở Pháp không ai tự dưng sang chơi nhà hàng xóm bao giờ. Nhà nào biết nhà nấy. Biết là có chuyện nên ông chú tôi nhận quà và chờ đợi. Sau một hồi nói chuyện không đâu vào đâu, cô đầm hàng xóm mới nói thật. Cô ta chỉ vào cây nhị treo trên tường và khẩn khoản xin ông chú tôi đừng bao giờ kéo cây đàn ấy! Cô kể rằng, mỗi khi nghe tiếng ở cây đàn ấy phát ra âm thanh thì đứa con gái 5 tuổi của cô đều khóc. Nó khóc thút thít rất tội nghiệp. Vậy là “cái thú đau thương” (Phạm Duy) của một tâm hồn Việt Nam lưu lạc, mượn cây nhị để giải bày, của chú tôi cũng không còn nữa. Nước Pháp, một đất nước văn minh, có cuộc sống hạnh phúc, với khẩu hiệu: “Joie de vivre” không có không gian nào cho cây đàn nhị VN rầu rĩ nữa. Chú tôi đã sống những ngày cuối đời ở Paris hoa lệ trong cảnh nghèo mà không được buồn cùng cây nhị Việt Nam. Sở dĩ tôi nói chú tôi nghèo vì ngoài tiền trợ cấp cho người già, ông không còn khoản nào nữa trừ ít phụ cấp của bảo tàng Louvre do ông có vài năm làm giảng viên cho Trường Louvre. Bảo tàng Louvre có một trường đào tạo nhân viên riêng. Giảng viên của trường này là những trí thức tên tuổi của Paris. Chỉ có hai người châu Á được nhận làm giảng viên ở đây, trong đó có 1 người Nhật Bản và chú tôi, nhờ ông biết đến 5 ngoại ngữ thành thạo. Với góc nhìn của người Pháp thì Lê Phú hào là một công dân Pháp (quốc tịch Pháp) biết tới 5 ngoại ngữ: Việt, Hoa, Anh, Tây Ban Nha, Nga. Chính diễn văn của Fidel Castro năm 1959 được phổ biến ở Việt Nam là do Lê Phú Hào dịch từ tiếng Tây Ban Nha. Nhà báo VN đầu tiên đi thường trú nước ngoài và biết 5 ngoại ngữ thành thục đó đả yên nghỉ trong nghĩa trang Pere Lachaise năm 2008 (nơi yên nghỉ của Chopin). Thấy tôi quan tâm đến vấn đề dân chủ hóa đất nước, trước lúc chia tay ông bảo tôi: “Cháu cứ yên tâm về nước, dân nào thì chính phủ đó, Internet sẽ dân chủ hóa đất nước”. Nghĩ đến tình hình đất nước hiện nay, tôi thấy lời ông thật chí lý. Sau chuyến đi năm ấy (2001), về tới Sài Gòn, tôi đến cơ quan, gặp giám đốc Đào Quang Cường và trả lại ông 100 đô la. Tôi nói, lúc đi ông tặng tôi 100 đô la, tôi nhận, nay đi về không tiêu đến đồng tiền của ông nên tôi trả lại, cám ơn ông. Giám đốc Cường nói: – Có 100 đô la mà cũng trả lại. Tôi nói: – Ở bên ấy 100 đô cũng quí. Tôi đổi 200 đô la ra đồng franc, rủ ông chú tôi đi uống cà phê, lúc trả tiền tính ra đến 30.000 đồng VN một ly! Chú tôi kêu “nó chém” quá (giá năm 2001). Trong khi đó thì đồng bào bên ấy lấy làm kinh ngạc người ở VN qua Paris “tiêu tiền như đốt pháo”! Tôi kết thúc câu chuyện với giám đốc Cường bằng việc kể về con trai ông Trần Đức Lương qua Paris đốt tiền. Một hôm, bà thím tôi đi đâu về hốt hoảng nói: – Trần Đức Lương ở VN làm gì hả cháu? Tôi nói, làm chức như ông Jacques Chirac ở Pháp hiện nay. Bà thím tôi lắc đầu: Hèn chi thằng con nó sang đây tiêu tiền đến triệu phú ở Paris cũng phải kinh hồn khiếp vía! (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 24, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/24/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-40/#more-7820 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 41): https://www.minds.com/newsfeed/1019920532781977600?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 39): https://www.minds.com/newsfeed/1019891114827108352?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
22 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 39) Người kéo Nhị ở Quận 19 thành Paris Chiếc may bay hành khách cỡ lớn số hiệu AF255 sau 12 giờ bay liên tục từ Singapore nặng nề hạ cách xuống sân bay Charles De Gaulle. Đồng hồ chỉ 6 giờ 20 phút sáng (9.2.2001). Mưa nặng hạt. Nước chảy ròng ròng bên ngoài mặt kính ô cửa sổ máy bay. Hành khách được thông báo ngoài trời lúc này là 5 độ C. Lấy được hành lý rồi, tôi ngồi ngay lên hành lý của mình để nghỉ sau chuyến bay dài mệt nhọc. Ngồi nghỉ ngay giữa dòng người tay xách, nách mang, đi lại tất bật trước mặt mình, bỗng dung tôi nghĩ đến cái ông tướng được lấy tên đặt cho đến 2 cái sân bay vào loại lớn nhất thế giới (Charles De Gaulle I và II). Với người Pháp, tướng De Gaulle và sau này là Tổng thống De Gaulle (1958-1969) là bậc anh hùng cái thế. Các sử gia Pháp không ngần ngại gọi ông là “con người chói lọi nhất nước Pháp”. Ông có tính kiêu ngạo bẩm sinh. Cái “đức tính” đó được nhân lên cùng với thời gian của một con người ý thức được khả năng, vai trò cũng như cống hiến của mình đối với đất nước (Phan Quang). Người Pháp luôn nhớ những câu nói kiêu hùng của ông: “Tôi được sự ủy nhiệm của nước Pháp”, “Tôi cán đáng nước Pháp”, “Tôi là nước Pháp”, “nước Pháp là tôi”! Nhưng lịch sử thật trớ trêu. Một con người có thể là anh hùng cái thế với dân tộc này, lại có thể là kẻ thù của một dân tộc khác. Đối với tôi chẳng hạn, kẻ đang ngồi suy tưởng lúc này thì De Gaulle chỉ là một tên thực dân ngoan cố không hơn không kém. Vì sao vậy? Đơn giản là vì tôi là một người Việt Nam. Trong Thế chiến II, Pháp thua Đức ngay từ đầu. Mùa hè năm 1940, quân Đức kéo vào, Paris bỏ ngỏ. Tổng thống Albert Lebrun trao quyền cho Thống chế Pétain, ông này đầu hàng Đức. De Gaulle bay sang Anh kêu gọi kháng chiến qua đài BBC. Ấy vậy mà khi Thế chiến II còn chưa kết thúc, chính De Gaulle đã chỉ thị phải chuẩn bị những con tàu đem quân viễn chinh sang tái chiếm Việt Nam kịp thời! Chính vì thế mà Tết Giáp Thân 1944 cụ Hồ đã công bố bức thư ngỏ: Trả lời cho bọn De Gaulle! Mãi suy nghĩ, tôi không hay những người ra đón đang đứng trước mặt tôi. Bầu trời xám xịt, mưa tầmn tã và rét đến buốt xương. Trên đường vào Paris, xe hơi phủ kín mặt lộ. Vậy là tôi đang đi giữa Paris, cái thành phố mà từ tuổi nhỏ đã được nghe ông nội tôi kể về nó, khi cụ cùng phái đoàn của Vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm thuộc địa Marseille năm 1922. Sở dĩ tôi có được chuyến đi này là do sự can thiệp của Cố vấn ban Chấp hành Trung ương Võ Văn Kiệt, một việc có tính ngẫu nhiên. Mà xét ra thì cuộc đời con người ta đa phần là do sự ngẫu nhiên tạo nên. Hôm đó, tôi đang ngồi nhà nghiên cứu” theo chức năng “chuyên viên”(!), bỗng nhận được điện thoại (bàn) của giám đốc Cường, mời lên cơ quan có “việc gấp”! Tôi định không đi vì ông này hay kêu tôi lên cơ quan để nhậu buổi trưa cho vui, với những cú điện “lên gấp” có việc! Nhưng linh tính báo cho tôi hôm ấy phải đi. Lên đến nơi, ổng đưa cho tôi một số điện thoại di động ghi trên một mẩu giấy nhỏ, bảo tôi liên hệ với số điện thoại đó để hẹn gặp Cố vấn Võ Văn Kiệt, vì ông Sáu Dân (tức ông Kiệt) vừa gọi điện ra Hà Nội, bảo với Trần Mai Hạnh (Tổng giám đốc Đài), muốn gặp Lê Phú Khải. Sau đó tôi được biết số điện thoại di động đó là của Vũ Đức Đam, trợ lý của ông Sáu Kiệt lúc đó. Tôi bảo với “sếp” Cường: – Chẳng cần liên hệ, hẹn hò gì, đầu giờ chiều nay, trên đường về nhà tôi sẽ ghé ông Sáu. Đúng 2 giờ chiều hôm đó, tôi có mặt ở 16 Tú Xương. Thấy tôi ông Kiệt nói: – Nghe Phú Khải nhiều rồi, hôm nay muốn Phú Khải nghe tôi có được không? (nghe trên Đài – LPK). Tôi vui vẻ nói: – “Sếp” đã nói thế thì còn cách nào hơn! Sau đó tôi lấy giấy bút ra và cuộc làm việc kéo dài một tiếng đồng hồ bắt đầu. Đại để là, sau một đêm ông Sáu Kiệt ngủ lại trang trại nông dân Võ Quang Huy ở Đức Hòa, Long An, ven vùng Đồng Tháp Mười, anh Huy đã đại diện cho 6 hộ nông dân nhận đất để khai hoang 200 hecta với thời hạn 20 năm. Các hộ đã đào kênh, đắp đê bao chống lũ, lên liếp rửa phèn và trồng được 113 hecta mía. Sáng sớm hôm sau trên đường về TPHCM, ông nghe radio trên xe hơi thấy có bài viết của tôi trên buổi Thời sự sáng của Đài TNVN (16.9.1998). Bài đó có nhan đề “Kinh tế Trang trại ở ĐBSCL”, trong bài có nói đến trang trại của nông dân Quang Huy đang trồng 113 hecta mía, vì thế ông muốn gặp tác giả của bài viết để trao đổi (Bài viết này cuối năm 1998 tôi đã được giải Báo chí toàn quốc). Số là, năm 1998, đang có một cuộc tranh cãi sôi nổi về kinh tế trang trại ở Việt nam, nhất là vấn đề hạn điền. Trong lúc cố vấn Lê Đức Anh phê phán nặng nề tỉnh Long Anh cho tư nhân thuê hàng ngàn hecta trong vùng hoang hóa thuộc huyện Thủ Thứa vùng Đồng Tháp Mười thì cố vấn Võ Văn Kiệt lại vào tận nơi thăm trang trại Tân Thanh của bà Bé Hai, tức Nguyễn Thị Thiền ở 164 lê Văn Lương, phường Tân Hưng, Quận 7, TPHCM. Bà đang thuê 2000 hecta đất của Long An để khai phá. Cố vấn Võ Văn Kiệt tán thành bài viết về trang trại ở ĐBSCL vừa mới phát hôm đó trên Đài TNVN. Và, trong buổi làm việc này, ý kiến của ông là, xưa kia ruộng đất là lá bùa hộ mệnh của cách mạng đối với nông dân, nay tình thế đã thay đổi, có ruộng mà không đủ vốn, đủ trình độ canh tác thì lỗ vốn, đói nghèo vẫn hoàn đói nghèo. Nay đã là kinh tế thị trường thì tích tụ ruộng đất là điều tất yếu, nông dân có thể thuê chủ trang trại mà vẫn có ăn là được. Ông còn nói giỡn: – tôi có hai thằng cháu ở quê, lần nào về quê cũng đi tìm thằng bóc lột hộ nó mà chẳng ai bóc lột cho vẫn thất nghiệp dài dài. Kêu tôi đến để ông “thuyết giáo” tư tưởng đó của mình và động viên tôi vào tìm hiểu nông trại Tân Thanh. Ông còn nói vui: – Phú Khải nên đi, bà Bé hai đang cô đơn trong đó (sau này tôi mới biết chị Bé Hai lúc đó chưa có gia đình). Làm việc xong, uống trà, trước khi tôi về, ông Sáu còn hỏi tôi: – Phú Khải có nguyện vọng gì không? Tôi đắn đo rồi nói: – Tôi có ông chú ruột là nhà báo Lê Phú Hào ở Paris, chuyện về ông ấy ông Sáu cũng biết cá Nay chú tôi đã 80 tuổi, gần đất xa trời, chú tôi chỉ muốn gặp tôi, thằng cháu đích tôn của dòng họ, và tôi cũng muốn gặp chú tôi trước lúc ông ấy đi xa, vì hiện ông đang đau yếu lắm. Nghe tôi nói, ông Sáu Kiệt bảo: – Lúc tôi là Thủ tướng, sao Phú Khải không nói, tôi cho đi cùng. Tôi nói, lúc ông Sáu làm Thủ tướng thì không có thời gian rảnh rỗi ngồi đàm đạo thế này mà tôi được trình bày nguyện vọng. Nghe xong ông Sáu Kiệt nói: – Thôi, để tôi nói với Trần Mai Hạnh, xếp Phú Khải trong đoàn đi công tác. Vài ngày sau, “sếp” Cường nói với tôi, ông Hạnh điện vô, nói đã nhận được điện của ông Sáu Dân, Hạnh hứa thế nào cũng để ông đi Pháp một chuyến thăm ông chú. Đợi đến 2 năm, có biết bao nhiêu đoàn đi Pháp của Đài nhưng Hạnh chỉ xếp tay chân của y đi tháp tùng để hầu hạ không hề có tên tôi. Đợi khi Hạnh vô Sài Gòn, tôi đến tận khách sạn ông ta ở và nói: – Anh có trăm công ngàn việc, làm sao nhớ được lời ông Sáu Dân, vậy tôi có đơn đây, anh ký cho tôi đi Pháp tự túc để thăm ông chú tôi, ông ấy yếu lắm rồi! Hạnh nói: – Vấn đề nhân văn!!! Đưa đơn đây cho tôi. Vậy mà đơn của tôi lại được chuyển cho Phó Tổng Giám đốc Đài là bà Kim Cúc ký chuyển qua A 18 Bộ Công an duyệt. Mãi đến đầu năm 2001 tôi mới đi Paris được! Đón tôi tại sân bay Charles De Gaulle có 2 phóng viên của Đài TNVN thường trú tại Paris, một là anh Thâu, thực chất là người của bên công an đưa sang làm trưởng và anh Hải ở Ban Đối ngoại của Đài sang làm thường trú. Cả hai anh đều thạo tiếng Pháp. Ra sân bay còn có ông chú tôi nữa. Lúc đi, cơ quan bào tôi tới Paris thì về cơ quan thường trú, đi đâu xe đưa đi, anh em sẽ đưa tôi đến gặp ông chú tôi. Tôi cứ gật đại. Nhưng khi có cả 3 người đến đón, tôi tuyên bố ngay: – Về nhà ông chú tôi ở, không về cơ quan. Cực chẳng đã, anh Thâu phải đưa tôi về nhà ông chú tôi ở 5 Passa de Thionville, quận 19. Các anh Thâu và Hải đều rất hòa nhã, lịch sự. Khi về đến căn hộ chung cư ở đường thionville, bà thím tôi, người vợ ngoài giá thú của chú tôi ở Paris ôm lấy tôi, nói trong nghẹn ngào: – Chú hào anh mong anh sang lắm, ông ấy đi xin giấy bảo lãnh cho anh tới lui cả tháng nay. Có thể nói, cuộc đời Lê Phú Hào, chú ruột của tôi, là một điển hình bi kịch của lớp thanh niên trí thức, xuất thân trong gia đình tầng lớp trung lưu của đất Hà Thành, đi theo cách mạng và nếm trải tất cả những cay đắng của một cuộc cách mạng được nhân danh của giai cấp vô sản! Ông nội tôi sinh được 5 người con trai, bố tôi là trưởng, Lê Phú Hào là út. Trong 5 người con trai và 1 bà chị cả, chỉ có Lê Phú Hào là đỗ được bằng tú tài toàn phần trước Cách mạng Tháng Tám và làm thư ký ở Phủ Toàn quyền Đông Dương nơi ông bố từng làm. Là một thanh niên Hà Nội, hào hoa phong nhã, chơi được nhiều môn thể thao, kể cả đấu võ, chơi được nhiều nhạc cụ đến trình độ làm chef d’orchestre cho các bar nhảy đầm vào các tối để lấy tiền ăn học thời kinh tế khủng hoảng. Ông lọt vào mắt xanh một cô đầm lai, bố Pháp, mẹ Việt ở cùng phố, có tên là Clément. Đó cũng là tên của ông sau này nhập quốc tịch Pháp Clément Phu. Họ yêu nhau đến mức sắp thành hôn thì cách mạng bùng nổ. Theo tiếng gọi của núi sông Lê Phú Hào lao vào cuộc kháng chiến chống Pháp tái chiếm Việt Nam “người ra đi đầu không ngoảnh lại” (Nguyễn Đình Thi) với cô người yêu mang dòng máu kẻ thù xâm lược! Ông theo người anh của mình là tướng Lê Hữu Qua, làm trong ngành an ninh của chính phủ kháng chiến. Có lần ông kể, lúc mới ra đi chú còn xách theo cả cây đàn violon đựng trong cái vỏ gỗ sơn đen kềnh càng. Du kích chặn đường, tưởng cái hộp đựng đàn là hộp đựng súng nên bắt giữ, chú nói là hộp đàn, họ trừng mắt bắt mở hộp gỗ ra cho xem. Mở hộp rồi, thấy cây đàn violon họ vẫn tưởng là thứ vũ khí gì đó vì chưa nhìn thấy thứ này bao giờ. Có người còn quát: – Có chối nữa không! Nhanh trí, chú lấy cây đàn ra kéo bài Quốc ca “Đoàn quân VN đi… chung lòng cứu quốc…”, thế họ mới tin, cho đi. Có anh còn mắng, đi kháng chiến mà còn đàn với sáo! Như có linh tính cho cuộc đời mình, có lần ông ở Bắc Kinh về phép, lúc đó tôi cũng vừa tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, ông đưa tôi đi bơi thuyền trên Hồ Tây và tâm sự: – Tên chú có ba chữ Lê Phú Hào thì người ta đã “đào tận gốc, chốc tận rễ” mất hai chữ rồi còn gì nữa (tức chữ “Phú” và chữ “Hào” trong khẩu hiệu “Trí phú đại hào, đào tận gốc, chốc tận rễ”). Quả sau này không sai! Năm 1950, ở Chí Chủ – Phú Thọ, nơi gia đình tôi tản cư kháng chiến chống Pháp, một hôm ông về nhà thăm ông bà nội tôi, rồi hỏi vay mẹ tôi một chỉ vàng, ông nói là để bán đi kiếm tiền theo một khóa học dài. Sau này mẹ tôi kể lại: – Khi đưa cho chú Năm (tức Hào) cái nhẫn 1 chỉ vàng, tao nói, tôi biếu chú để chú theo học cho thành tài, sau này chú giúp đỡ cho thằng Khải, đứa con trai duy nhất của tôi. Sở dĩ mẹ tôi nói thế vì biết bố tôi là người ăn chơi, có đồng nào ăn hết đồng đó, không thể là chỗ dựa cho tương lai của tôi. Lúc đó, mẹ tôi là chủ một hãng thuốc lá bán rất chạy và có tiền. Lúc lên đường, mẹ tôi còn làm cho ông (Hào) 1 ký ruốc (miền Nam gọi là chà bông) để ăn đường. mẹ tôi kể, ruốc làm rất mặn nhưng chú ấy còn bốc một nắm muối to bỏ vào cảo ruốc tao đang xào, rõ thật khổ! Quả thật sau này chú Năm rất thương tôi, mỗi lần ở Trung Quốc về nghỉ phép, ông đều đem cho tôi một bị quần áo cũ. Có những bộ quần áo đại cán may theo kiểu Tôn Trung Sơn, túi dưới may lộ ra bên ngoài, người ta gọi là “túi bị”. Khi tôi mặc đi dạy học, học trò kêu là thầy mặc áo trái!!! Về cái lớp mà chú tôi theo học, đầu đuôi thế này, đến năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã qua giai đoạn phòng ngự – cầm cự. Cụ Hồ và Trung ương Đảng muốn “dứt điểm” quân Pháp bằng thế phản công. Nhưng muốn phản công phải có súng lớn. Liên Xô, thông qua Trung Quốc giúp ta súng lớn như pháo, cao xạ pháo, nhưng muốn bắn được pháo theo đường vòng cung (pa-ra-bôn) thì phải sang Trung Quốc học. Muốn sang Trung Quốc học bắn pháo thì phải biết tiếng Trung. Một vị giáo sư Trung Quốc được cử sang VN dậy các sĩ quan ta học tiếng Trung nhưng ông ta lại chỉ biết tiếng Anh. Vậy là phải cần những cán bộ VN biết tiếng Anh để học tiếng Trung qua tiếng Anh. Chính phủ kháng chiến đã phải tìm kiếm vất vả, và người biết tiếng Anh thành thạo có thể học tiếng Trung bằng cách ấy chính là Lê Phú hào. Trước khi đi học ông đã về Chí Chủ nhờ mẹ tôi giúp ít tiền để đi học lớp dài hạn này là vậy. Sau một thời gian học, Lê Phú Hào trở thành hiệu trưởng trường Hoa Văn ở Việt Bắc, chuyên dạy các sĩ quan tiếng Trung để sang Trung Quốc học bắn pháo và nhận pháo về. Ông kể: – Trong kháng chiến chống Pháp, hai phần ba thời gian là dành để đi bộ. Chú đã nhiều lần gặp ông Hồ nhưng trong những hoàn cảnh thật bất ngờ và chỉ gặp, không nói được câu gì. Một lần chú đang đeo ba lô nặng, đi trên một bờ ruộng nhỏ để băng qua một cánh đồng. Đang đi, ngẩng mặt lên thấy một người đang cưỡi ngựa, đi ngược chiều với mình. Chú nghĩ trong bụng, mình thì đeo ba lô đi bộ, tay kia thì cưỡi ngựa, biết ai sẽ nhường ai đi đây? Đi được một lúc, ngước lên thấy người đi ngựa đã rẽ sang một bờ ruộng bên để nhường đường. Chú lại nghĩ, tay này cũng biết điều đấy. Đến khi giáp mặt, chú nhìn thì hóa ra ông Hồ. Ông ta lên tiếng: – Chú đeo ba lô có nặng không? Bất ngờ quá, chú chỉ kịp gật đầu rồi đi tiếp, không nói được câu gì. Một lần khác, khi đang dạy học trong lớp Hoa văn, đi xuống cuối lớp, bỗng thấy ông Hồ ngồi dự ở cuối lớp từ bao giờ không hay. Đến hết giờ, ông ấy nói: – Chú dạy tốt đấy rồi ra về. Lại có lần, chú đang tập thể dục ở sân trường, khi quay lại, thấy ông Hồ đứng đằng sau. ông ấy nói: – Chú dậy sớm đấy, rồi đi mất. Chú biết ông ấy nóng lòng có pháo để ohản công quân Pháp. Sau hòa bình 1954, Lê Phú Hào là nhà báo VN đi thường trú nước ngoài đầu tiên tại Bắc Kinh. Ông cũng là người đầu tiên giới thiệu phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” trên báo Nhân Dân, cổ vũ cho phong trào này ở Bắc Kinh lúc đó mà không hay đây là cái bẫy của Mao Trạch Đông để lừa các trí thức có tư tưởng tự do ở Trung Quốc. Sau nhiều lần Thông tấn xã VN điều đình để ông được thường trú tại Hồng Kông như không thành, từ Bắc Kinh ông đi Alger thường trú. Khi hòa đàm Paris nhóm họp, phiên dịch tiếng Anh của Lê Đức Thọ không nghe nổi tiếng Anh do Kit-sinh-giơ nói tiếng Anh giọng Mỹ, phải điều ông từ Alger qua Paris để vừa làm náo, vừa phiên dịch cho các phiên họp kín, họp hở giữa Thọ và Kit! Suốt một tháng ở Paris, tôi ít đi lại, chỉ ngồi ở nhà đàm đạo việc nhà và thế sự với ông chú. Thấy thế bà thím tôi bảo, ai sang đây cũng đi tham quan tối ngày các danh lam thắng cảnh ở Paris, sao cháu cứ ngồi nhà? Tôi bảo bà, họ chỉ nhìn thấy tháp Eiffel bên ngoài thôi, còn thì cháu có thể làm hướng dẫn viên cho chính người Pháp đến thăm cái tháp này. Bà tỏ ra không tin, tôi nói cho bà hay cái tháp này xây từ năm nào, vì sao lại xây nó và có bao nhiêu vụ tự tử nhảy từ trên tháp xuống, có bao nhiêu vụ thoát chết khi tự tử nhảy tháp, bốn chân đế của tháp được đặt trên bốn cái phao khổng lồ trên bốn cái hồ nước ngầm ở dưới nên khi có gió to, tháp chỉ chao đảo, nghiên ngả mà không bao giờ gãy, đổ. Nhưng đến Paris mà chỉ thăm Nhà thờ Đức Bà, Bảo tàng Louvre, tháp Eiffel thì chẳng hiểu gì nước Pháp và Paris cả. Bà ngạc nhiên hỏi tôi, vậy thăm cái gì? Tôi trả lời: – Phải đi cầu Concorde, vì nó là cây cầu được xây bằng đá ngục Bastille, khi nhân dân Paris phá ngục Bastille trong Cách mạng Pháp 1789, đã không quên lấy đá của ngục tù này để xây dựng cây cầu mang tên hòa giải (Concorde), để nhớ về sự nhục nhã của một thời, để muôn đời nhân dân Pháp dạp lên bóng tối Bastille. Chỉ có nước Pháp với khát vọng là “hiện thân của tự do” mới có những cây cầu như Concorde(!). Ông chú tôi rất vui vì tôi đã nói được những điều như thế về Paris, về nước Pháp. Suốt một tháng trời ở Paris, đàm đạo với ông, tôi thấy chú tôi tỏ ra rất thất vọng về các nhà lãnh đạo Việt Nam. Ông kể, một lần ông về nước báo cáo với ông Trường Chinh về tình hình thế giới. Khi ông cho biết Hung-ga-ri đã tiến hành mở cửa kinh tế, và một mặt hàng mà công nhân Pháp đình công không chịu làm vì công giá rẻ, tư bản Pháp chuyển cho Hung và được nước này hồ hởi nhận ngay. Như vậy là giai cấp vô sản trên thế giới đã buông nhau ra rồi!!!, không còn liên hiệp đấu tranh nữa. Ta phải biết để mà tính kế. Nghe đến đây, ông Trường Chinh đập bàn phán: – Cho anh đi để anh phát biểu như thế à? Theo chú tôi thì vì không thích nghe những thông tin trái với ý nghĩ của mình nên các nhà lãnh đạo VN luôn đứng ngoài nhân loại trong mọi suy nghĩ và việc làm. Ông kể về Lê Đức Thọ: Khi mới sang, một buổi chiều, đang ngồi làm việc thì Nguyễn Thành Lê, ở báo Nhân Dân, đến gặp ông nói: – Anh Thọ bảo tối nay họp. Chú trả lời: – Tôi không họp! Thành Lê trợn mắt hỏi: – Anh nói chơi đấy chứ. Chú lại bảo: – Tôi nói thật mà. Lê hỏi: – Vì sao? Chú giải thích: – Tối nay chung kết Cúp Châu Âu, cả Paris không ai họp cả, họp người ta cười cho. Sáng hôm sau, ông Thọ gặp chú nói: – Mình xin lỗi, mới sang, không thuộc Paris, có gì cậu phải mách nước cho. Tiếng Anh cho người Mỹ ở hòa đàm Paris là cả một vấn đề. Người Mỹ nói tiếng Anh giọng Mỹ với ngôn ngữ hiện đại nên các phiên dịch tiếng Anh của ta được đào tạo ở nhà không dùng được. Ông kể, khi ta đem một bộ phim truyện VN là phim “Nổi gió” sang để chiếu chiêu đãi khách trong những ngày hội nghị bị đình trệ. Tối hôm trước, ông ngồi đọc bản thuyết minh tiếng Anh của phim thấy buồn cười quá. Nó là thứ tiếng Anh cổ lổ, ngô nghê, nếu đem thuyết minh thì chắc chắn người ta sẽ cười và không hiểu. Thế là cả tối và suốt cả ngày hôm sau ông phải ngồi viết lại bản thuyết minh để kịp chiếu vào tối hôm đó. Vì cái chuyện tiếng Anh mà Lê Đức Thọ nhiều khi làm ông khốn khổ. Có lần ông ốm, lại bị cúm, theo nguyên tắc bệnh viện bắt phải cách ly. Lê Đức Thọ đến thăm, bệnh viện không cho gặp. Lừa lúc vắng, thọ nhét vào khe cửa một mảnh giấy, trong giấy ra lệnh “trốn ngay”, ký tên Thọ. Thế là Lê Phú Hào phải tìm mọi cách trốn ngay khỏi bệnh viện, trốn trong lúc đang lên cơn sốt. Ông bảo với tôi, chú phải “vượt ngục” trong lúc đang bệnh, khổ quá! Cái uy của Lê Đức Thọ ghê gớm lắm, hơn cả thời vua chúa ngày xưa. Chú tôi kể: Tên sĩ quan phụ trách bảo vệ đoàn đàm phán của ta tại Paris là X, hắn sợ Thọ như cọp. Tư cách của tay này cũng kém lắm, sang đây chỉ kiếm cớ “đi thăm đồng bào” để được ăn nhậu và nhận quà, chú phải nhân danh đảng ủy viên của Hội nghị, cấm hắn không được đi nữa. Chú nói với y: – Các anh sang đây như thế thì chúng tôi ở đây sau này không làm việc được nữa. Có lần Hội nghị Phụ nữ Quốc tế họp, tuyên bố ủng hộ Việt Nam tại hòa đàm Paris, họp xong, 12 giờ đêm chú phải lao về cơ quan để đưa tin về Hà Nội. Vừa bước vào phòng, tên X đã xua tay, nói nhỏ vào tai chú: – Anh Thọ đang ngủ. Chú tức điên, quát: – Nhưng anh Hào đang làm việc, thế hắn mới tôi. Thọ ở căn biệt thự cổ, căn nhà này gác gỗ, lên xuống cầu thang êu cọt kẹt, mỗi lần lên xuống hắn phải bò bằng 2 tay và 2 chân cho cầu thang đỡ kêu, trông thảm cảnh lắm! Về ông nhà báo Hồng Hà của báo Nhân Dân thì chú tôi kể câu chuyện nực cười. Có lần đoàn Việt Nam Cộng Hòa họp báo. Về nguyên tắc thì nhà báo của ta cũng có quyền dự. Lê Phú Hào và Hồng Hà cùng đi. Khi tới một hành lang dài hút sâu để tiến vào phòng họp ở cuối hành lang, tự dưng thấy Hồng Hà tụt lại, hỏi ra thì hóa ra ông ta sợ vào sâu sẽ bị đánh! Chú tôi nói: – Đây là Paris chứ có phải Sài Gòn đâu mà ông sợ, vậy mà ông ta vẫn quay đầu về. Nói tới đây, chú tôi buồn rầu nhận xét: – Một tay tư cách như thế mà sau này lại vào tới trung ương thì thật buồn quá! Chú tôi còn kể về “thành tích” viết báo của Hồng Hà. Ông Thọ ở biệt thự nên xung quanh có vườn, hàng ngày bà lao công dọn dẹp vườn là một bà lao công yêu nước. Yêu quí đoàn Việt Nam, bà ta hái những chùm hoa trong vườn ném vào bên trong nhà qua cửa sổ. Thế là lập tức Hồng Hà sáng tác ra chuyện Việt kiều yêu quí Lê Đức Thọ ném hoa vào phòng ngủ của ông(!). Bài báo đăng trong nước rồi, thế là xảy ra một cuộc cãi lộn giữa tên sĩ quan trưởng đoàn bảo vệ với nhà báo Hồng Hà. Tay X nói, anh viết như thế thì người ta chửi tôi là bố trí phòng anh Thọ ở có thể người đi ngoài phố ném cả lựu đạn vào à? Thế là cãi nhau to. Chú tôi than, chú lại phải nhân danh đảng ủy viên của Hội nghị can thiệp, nói: – Các anh sang đây, ...
41 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 38) Quảng Châu – Thẩm Quyến – Hồng Kông – Ma Cao… và cuộc thử nghiệm về tiền nhuận bút một chuyến đi… Ngày 1-7-1997, Hồng Kông sẽ được trao trả về cho Trung Quốc. Đây là một đề tài hấp dẫn mà báo chí ở TP. HCM rất đói tin tức, bài vở, hình ảnh thời sự về Hồng Kông (nơi được coi là nhiều đầu mối tin tức nhất thế giới). Đã hơn 10 năm từ ngày “đổi mới” (1986), trên thực tế Việt Nam chỉ đổi mới một phần về kinh tế như cho các thành phần kinh tế tư nhân được hoạt động, kinh tế quốc doanh vẫn nắm cái chủ chốt còn các mặt khác của đời sống xã hội vẫn như cũ. Với báo chí thì là số không. Không hề có báo tư nhân. Báo quốc doanh thì các nhà báo chỉ là một anh viên chức ăn lương tháng để viết tin, bài. Một sự kiện như Hồng Kông được giao về cho Trung Quốc thì các báo chí chỉ chờ dịch tin, bài của báo chí nước ngoài (biên tập lại). Hầu như không có báo, đài nào cử phóng viên tận nơi quan sát để viết tin bài. Chế độ trả nhuận bút của các báo, đài chỉ có tính chất tượng trưng, và trả theo số lượng chữ của bài báo, không trả theo chất lượng tin, bài. Nếu có ông to, bà lớn nào viết bài cho đài báo thì các Tổng Biên tập nịnh khéo quan trên, sẽ trả một số tiền lớn hơn nhiều so với các bài khác. Vì thế, có ông cứ tưởng nhuận bút như thế thì các nhà báo sống khỏe(!). Có lần Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi Nguyễn Giới Việt viết một bài cho một tờ tạp chí trong ngành của ông, lúc lãnh nhuận bút ông thấy những một triệu đồng (vào đầu những năm 90), lớn quá, ông không nhận. Sau này ông tâm sự với tôi: – Mình nghĩ là họ hối lộ một cách tế nhị nên từ chối! Những ông thứ trưởng như Nguyễn Giới tôi biết là có thật và chỉ có vào thời điểm ấy. Bây giờ, chạy một chân thứ trưởng phải cả chục tỷ đồng thì có trả nhuận bút bằng một cái xe Toyota đời mới họ vẫn chê ít(!). Lê Phú Khải Xét một cách toàn diện, kể cả chế độ trả nhuận bút, Việt Nam vẫn chưa có báo chí đúng nghĩa của nó. Năm 1994, tôi bỏ tiền túi ra đi Điện Biên Phủ, lúc về viết hàng chục cái tin, bài, phóng sự ảnh cho nhiều số báo của SGGp ra hàng ngày và Tuần san SGGP thứ 7 cùng nhiều báo khác nữa ở ĐBSCL, nhưng nhuận bút lãnh về cũng vẫn chưa đủ chi phí cho chuyến đi ĐBP. Tiền vé máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội, rồi từ Hà Nội lên Điện Biên, tiền ăn ở khách sạn, mua phim ảnh, rồi quay về lại Sài Gòn. Vậy mà đầu năm 1997, tôi lại quyết định bỏ tiền túi để đi Hồng Kông với tham vọng viết được những tin, bài, ảnh nóng hổi cho báo chí thành phố sôi động này nhưng lại đói tin tức dịp Hồng Kông được trả về Trung Quốc. Tôi đi theo tour của Công ty Du lịch V.Y.C. (Travel Company TPHCM). Lịch trình của tour này là từ Sài Gòn đi Quảng Châu, Thẩm quyến, Hồng Kông, Ma Cao rồi lại trở về quảng Châu, Sài Gòn. Tất cả là 8 ngày. Nhưng ngày ở Trung Quốc tôi dưỡng sức, nằm nhà nghỉ, dành toàn bộ sức lực để làm việc trong 2 ngày ở Hồng Kông. Tôi tách đoàn, đi chụp hình ở các chợ, đường phố, tìm gặp Việt Kiều để hỏi chuyện, phỏng vấn các nhân viên ở khách sạn qua phiên dịch là anh hướng dẫn viên của VYC. Chuyến đi này thấy tôi là nhà báo nên đoàn bầu làm trưởng đoàn, được ngủ cùng phòng với hướng dẫn viên nên cũng thuận tiện khai thác tư liệu. Tôi gom tất cả các báo hàng ngày bằng tiếng Hoa và tiếng Anh ở khách sạn được phát không để về nhà nhờ bạn bè dịch, khai thác tư liệu. Kể từ đầu năm 1997, nhất là gần đến ngày 1.7. năm đó, tin bài phóng sự, phóng sự ảnh của tôi về Trung Quốc và Hồng Kông liên tục xuất hiện trên các báo, vậy mà, tiền nhuận bút thu về cũng không đủ chi phí cho chuyến đi hơn một ngàn đôla mỹ. Có thể nói tôi là nhà báo đầu tiên ở Việt Nam đã làm một cuộc thử nghiệm điều tra về chế độ nhuận bút hiện hành ở Việt Nam lúc đó với bài toán “tự đầu tư – tự trang trải”. Và, tôi đi đến kết luận: Nhà báo VN không thể sống bằng nhuận bút như nhà báo ở các nước tự do khác. Nhà báo ở VN vẫn là công chức ăn lương tháng, đi đâu thì ăn nhờ ở đậu nhà khách các địa phương, viết theo lời cán bộ địa phương nói. Rời cái bầu vú bao cấp ấy ra là chết liền. Sau này, kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển mạnh thì cái quái thai này sinh ra các tờ báo sống chủ yếu bằng quảng cáo, đi chạy quảng cáo để ăn phần trăm. Một số nhà báo giàu tấng lên, tậu được xe hơi, nhà lầu vì chủ yếu là đi dọa dẫm các doanh nghiệp, tống tiền các đại gia vì họ sợ bị vu khống, bị bới móc các bí mật trốn thuế của họ. Nếu họ bị vu oan thì không được đính chính. Nếu buộc phải đính chính thì chỉ được vài dòng lí nhí ở trang tư, còn khi vu cáo họ thì đem lên trang nhất. Tôi sẽ còn nói nhiều về thực trạng này ở phần sau. Hiện tôi còn giữ đến 3kg biên lai nhuận bút (dù chỉ là một phần nhỏ lưu giữ được) của gần 30 năm làm báo “lề phải”. Ví dụ: Phiếu trả nhuận bút của Báo Lao Động, bài và ảnh 15.000 đồng, đề ngày 15/5/1990. Báo Tuổi Trẻ: 20.000 đồng, đề ngày 4/8/1990; Báo Nhân dân đăng bài và ảnh về huyện Cao Lãnh: 150.000 đồng , đề ngày 5/1/1999; Báo SGGP: 700.000 đồng, ngày 28/11/2004 nhưng phải trừ thuế thu nhập cá nhân 10%, còn 630.000 đồng. Nếu bạn sinh viên khoa báo chí nào cần viết luận văn về đề tài nhuận bút báo chí ở Việt Nam qua các thời kỳ, tôi xin tặng 3kg hóa đơn chi trả nhuận bút này làm tài liệu nghiên cứu. Nhưng tất cả các nhuận bút đó cũng không “cứu” được tôi nếu không được lãnh lương tháng ở Cơ quan Đài TNVN. Đó mới là thực chất bi hài của cái gọi là nhà báo ở Việt Nam: Nhà báo ăn lương của Đảng. Của đáng tội bù lại chuyến đi viết về một sự kiện mà nhuận bút không bù được chi phí cho chuyến đi đó, tôi được “lời” là được “cưỡi ngựa xem hoa”, được tận mắt xem hai bông hoa của tư bản “giãy chết” là Hồng Kông thuộc Anh và Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha. Từ lục địa Trung Hoa, qua Hồng Kông và từ Ma Cao về lại Quảng Đông (Trung Quốc) đều phải làm thủ tục xuất nhập cảnh vì Hồng Kông là của Anh, Ma Cao là của Bồ Đào Nha như đã nói ở trên. Chỉ riêng làm thủ tục xuất nhập cảnh ở các cửa khẩu thôi cũng thấy được sự thối nát, trì trệ của bộ máy nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nó không khác gì ở Việt Nam. Các nhân viên an ninh và hải quan Trung Quốc như những con quái vật. Họ vừa làm việc vừa nói chuyện bả lả với nhau, nhìn khách du lịch như muốn ăn thịt người ta. Khi từ sân bay Bạch Vân xuống, đóng dấu vào hộ chiếu của tôi thì vì vừa nói chuyện riêng vừa làm việc nên họ đóng nhầm dấu… Qua trạm thứ hai thì cậu hướng dẫn viên của VYC phải đưa tôi đến hải quan để đóng dấu lại và họ phải đóng dấu áp lại vào giữa hai dấu đã đóng đó. Nhưng đã có dấu áp lại rồi tôi vẫn luôn bị hoạnh họe khi qua các cửa khẩu. Chưa hết, khi từ Ma Cao về lại Quảng Đông, qua cửa khầu của thành phố Chu Hải, hướng dẫn viên VYC cầm một xấp 12 cái hộ chiếu để đóng dấu nhập cảnh, nhưng vừa làm việc vừa nói chuyện riêng với người ngồi bên cạnh, cô nhân viên an ninh bỏ sót hộ chiếu của tôi không đóng dấu. Thế là đến ngày về tôi bị gạt lại không cho ra sân bay vì thiếu một cái dấu nhập cảnh từ Ma Cao vào lại Quảng Đông. Cô nhân viên du lịch TP Quảng Châu, công ty liên kết với du lịch VYC trình bày đến rã bọt mép với công an cửa khầu là chúng tôi đi một đoàn du lịch, có danh sách đoàn đi do tôi là trưởng đoàn, yêu cầu họ chỉ gọi một cú điện thoại về cửa khẩu Chu Hải để xác minh là đoàn đã vào lại lục địa ngày giờ ấy. Nhưng bọn công an cửa khầu chỉ đứng cười. Cuối cùng là tôi và cả anh nhân viên của VYC và cô nhân viên du lịch của Quảng Châu phải thuê xe đi hàng trăm cây số về lại Chu Hải để xin một cái dấu. Đến nơi, bật vi tính lên, họ thấy tôi có tên trong sanh sách nhập lại Chu Hải nhưng quên chưa đóng dấu vào hộ chiếu. Họ đóng dấu lại và thản nhiên không một lời xin lỗi. Chúng tôi phải tá túc lại Quảng Châu ba ngày nữa để chờ máy bay về. Khi về, qua cửa khẩu, lại bị họ hoạnh họe vì sao hộ chiếu nhiều dấu đóng thế? Ngày về sao lại không đúng với giấy phép của chuyến đi du lịch? V.v... và v.v… Nhìn những gương mặt của công an cửa khẩu, nhân viên hải quan Trung Quốc, tôi thấm thía đến từng lỗ chân lông sự “ưu việt” của chính quyền công-nông, của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trái lại, từ lúc đặt chân lên Hồng Kông thì mọi sự khác hẳn, các nhân viên khách sạn nơi chúng tôi ở đưa hành lý cho khách đến từng phòng, lễ độ và vui vẻ hết sức. Phỏng vấn ai họ cũng vui vẻ trà lời. Cuốn sổ tay của tôi ghi kín hai ngày ở Hồng Kông. Hồng Kông là trung tâm giao dịch tài chính lớn của thế giới thì ai cũng biết, nhưng đây còn là một thị trường thông tin, tin tức lớn nhất thế giới. Ở đây, mỗi buổi sáng ngủ dậy anh có thể biết ngay những gì mới xảy ra trong đêm hôm qua cho đến lúc anh tỉnh dậy. Những cuốn sách lớn mới ra lò, kể cả những cuốn tiểu thuyết ăn khách nhất thế giới cũng được người ta tóm tắt ngay nội dung để chào bán cho anh. Nếu có tiền ở Hồng Kông người ta có thể mua được tất cả mọi tin tức trên thế giới. Có cả những “hãng” sản xuất thứ hàng hóa thông tin này để bán cho anh đặt mua hàng tháng hay hàng ngày. Vì thế các hãng thông tấn lớn trên thế giới đều đặt phóng viên thường trú tại đây. Mật độ nhà báo thế giới ở đây thuộc vào loại cao nhất. Chính người chú ruột của tôi là nhà báo Lê Phú Hào đã chờ đợi nhiều thời gian để Thông tấn xã Việt Nam xin đặt ông thường trú ở tại đây nhưng không được. Cuối cùng, vào những năm 60, ông phải từ Bắc Kinh qua Anger (Angiêri) để thường trú và sau đó qua Paris làm phiên dịch tiếng Anh cho Lê Đức Thọ tại hòa đàm Paris. Nếu ai hỏi tôi ấn tượng nào mạnh nhất khi ở Hồng Kông thì tôi nói ngay là dịch vụ ăn uống. Buổi sáng, cả Hồng Kông ăn sáng rào rào. Có nhà hàng nổi ở Hồng Kông có thể tiếp 3.000 thực khách một lúc. Vào một cửa hàng ăn sáng ở Hồng Kông thấy nó rộng như sân vận động và được chăng đèn, kết hoa đỏ đến nhức mắt. Các nhân viên chạy bàn 100% là thanh niên. Phụ nữ không đủ sức làm công việc nặng nhọc này. Tôi vừa thấy một tốp khách chừng hơn 10 người ăn sáng xong đứng dậy thì lập tức 4 nhân viên chạy bàn lao tới cầm 4 góc khăn trải bàn nhấc bổng lên rồi túm 4 đầu khăn lại, bát đĩa kêu loảng xoảng bên trong. Họ vứt cái đống bát đũa ấy lên một cái xe đẩy và lập tức trải ngay khăn trải bàn mới, bát đũa mới được bày ra, xe đẩy thức ăn lăn tới. Thế là bắt đầu cho một tốp ăn khác. Nhanh như điện. Tính chuyên nghiệp của các dịch vụ ở Hồng Kông thật cao. Ở Ma Cao thì mỗi khách sạn đều để lầu 1 làm sòng bạc (casino). Chiều thứ 7, dân Hồng Kông lũ lượt đi phà qua một eo biển rộng 70 km để sang Ma Cao đánh bạc. Tiếng là đi phà nhưng cái phà này còn sang hơn cả máy bay. Nhưng vì nó chạy tốc độ quá nhanh và biển lại sóng lớn nên nhiều hành khách nôn mửa vì say sóng. Có điều lạ, các sòng bạc ở Ma Cao đa số là phụ nữ chơi bạc. Các bà, các cô sát phạt nhau trong những căn phòng rất rộng và im lặng trật tự. Tôi đã đổi 100 đô la Mỹ để thử vận hội nhưng chỉ biết quay lô-tô, và thua sạch. Các hình thức chơi bạc rất đa dạng. Tôi ghi chép đủ các loại hình này để viết được một phóng sự “đánh bạc ở Ma Cao” sau này. Có điều là, tuyệt đối người ta không cho chụp hình trong các sòng bạc. Các cô gái Đông Âu, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bun-ga-ri dạt sang Ma Cao làm nghề mại dâm và mùa xếch-xi thời điểm đó rất nhộn nhịp. Trò đời, cái rủi bao giờ cũng đi liền với cái may. Nhờ phải ở lại Lãnh sự quán ta tại Quảng Châu, tôi lại làm quen được với ông Tổng lãnh sự. Ông là người Thái Bình, từng họ ở Trung Quốc, có máu mê văn nghệ. Trên bàn của ông có hàng xấp báo Văn nghệ của Hội Nhà văn. Khi biết tôi là nhà báo, lại biết được tên ông vủi vẻ bắt tay tác giả của nhiều bài bút ký về ĐBSCL ký tên tôi. Ba ngày ở lại Quảng Chau thật không uổng. Tôi thu thập được nhiều thông tin về thành phố này và Hồng Kông qua ông Tổng lãnh sự. Tôi còn lê la gặp được nhiều Việt kiều trên 50 tuổi. Ngày nào tôi cũng thấy họ đến rửa tách chén, lau nhà cho tòa Lãnh sự. Hỏi ra mới biết đó là hai anh em ruột lưu lạc sang Quảng Châu đã mấy chục năm. Cả anh và em đều lấy chồng lấy vợ người bản xứ, nhưng vì nhớ quê hương nên ngày nào cũng đến Lãnh sự quán VN lau sàn, dọn dẹp như làm việc nhà. Tôi lân la hỏi, được biết con cái họ đã lớn, không nói sõi tiếng Việt, nhưng chúng đã từng về Quảng Ninh tìm họ hàng, dẫu chưa gặp. Có đứa còn vào tận Sài Gòn để tìm. Thế mới biết, cái tình quê hương xứ sở của người Việt ta thật sâu nặng. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 18, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/18/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-38/#more-7806 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 39): https://www.minds.com/newsfeed/1019891114827108352?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 37): https://www.minds.com/newsfeed/1019890601192230912?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
27 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 40) Paris có một đường sinture dài 35 km bao bọc lấy nội ô Paris. Đường này phải thi công tới 17 năm mới xong. Con đường vòng tròn khép kín Paris ấy là để khi nào kẹt đường trong nội ô, người lái xe có thể chạy ra đường vòng cung để thoát và lại tiếp tục vào nội ô nơi không kẹt đường. Ngoài vòng trỏn 35 km đó là ngoại ô Paris. Vẫn nhà cửa san sát nối liền với nội ô làm nên vùng Il de France tới 11 triệu dân mà ta quen gọi là vùng Paris. Nhưng ở vòng ngoài 35 cây số đó thì vùng ngoại vi Paris thuộc các đơn vị hành chính khác, thuộc tỉnh khác. Trong nội ô chỉ có hơn 2 triệu dân. Như thế quản lý mới dễ. Thủ đô của một nước lớn như nước Pháp cũng chỉ quản lý hơn 2 triệu dân trong vòng 35 km. Thủ đô Hà Nội của ta mở rộng đến tận huyện Thạch Thất, Hà Tây, chùa Tây Phương ở trên núi cũng thuộc Hà Nội, Mê Linh quê hương Hai Bà Trưng ngày nay cũng thuộc Hà Nội thì đó là một ý tưởng quái thai. Quốc hội đều cũng thông qua qui hoạch ấy vì quốc hội Việt Nam thực chất là tên đầy tớ đê tiện nhất của đảng độc tài. Con cháu chúng ta sau này sẽ nguyền rủa việc mở rộng Hà Nội một cách lưu manh như thế vì các lợi ích nhóm trong Đảng. Chắc chắn sau này Thạch Thất, Mê Linh lại trở về với Hà Tây. Tôi tin là như thế. Lúc còn sống ông Kiệt cũng kịch liệt phản đối việc này. Nhà báo Thâu và Hải, chủ nhân tạm bợ của ngôi nhà số 5, Rue de Tremple Villeneuve la Garremme đã sống buồn tẻ trong ngôi biệt thự này. Hàng ngày các anh phải nấu lấy để ăn uống, sinh hoạt. Anh Thâu vừa nấu ăn vừa chữa các bếp điện, vừa chửi: – Ở Paris, người mua nhà thì bắt chủ cũ phải vứt hết các cái bếp này đi, vậy mà bọn tài vụ của ông Hạnh lại phải trả tiền cả những cái bếp vứt đi này. Giá tính lại cao hơn giá mua bếp mới! Chúng nó ăn cũng phải vừa phải thôi chứ, phải nghĩ đến người khác chứ, ai mà đun nấu nổi bằng cái thứ bếp đã nát hỏng giữa Paris giá lạnh thế này! Thực chất như anh Thâu nói thì không cần đến cái Cơ quan thường trú với cái villa này, chỉ cần một phóng viên thường trú của Đài, ở bên Sứ quán ta như thường trú báo Nhân Dân là đủ. Anh Thân nói rất đúng. Nhưng Trần Mai Hạnh và bậu xậu của y phải vẽ ra mua nhà, sắm xe, mua cả máy móc như thu thanh, phát thanh như một cái đài phát thanh thì chúng mới lấy được tiền nhà nước và ăn chia với nhau được. Thấy nhà sang quá, tôi hỏi Thâu, sếp Hạnh sang đây ở phòng nào? Thâu bĩu môi nói: “Chưa bao giờ ở đây cả, hắn thuê khách sạn 5 sao trong nội ô Paris ở!!!” Đúng là cái anh nhà quê mắt toét, nghèo đói, khi được làm quan (ủy viên trung ương) thì tìm mọi cách để vơ vét và hưởng thụ là thế! Những điều mỹ miều bọn chúng nói trên diễn dàn chỉ là bịp bợm mà thôi. Nhưng nguy hiểm nhất là chúng luôn luôn dọa Nhà nước rằng: “phải phát triển cơ quan ngôn luận để đối phó với các thế lực thù địch trên mặt trận thông tin, để giữ vững chế độ, bảo vệ chế độ…”!!! nói đến việc “bảo vệ chế độ”, thì bao nhiêu mồ hôi, nước mắt của dân đóng thuế cũng đem ra tiêu xài không thương tiếc. Thời Trần Mai Hạnh, y đã mua nhà ở Paris, ở Băng Cốc, ở thủ đô Ai Cập để lập cơ quan thường trú của Đài, những thứ hoàn toàn là bịp bợm. Chỉ có những người trong ngành phát thanh và truyền hình thì mới biết là nó vô tác dụng, chỉ để đốt tiền của dân. Những ngày ở ngôi biệt thự số 5, Rue du Tremple Villeneuve, chúng tôi nhặt củi ở vườn sau nhà, đưa vào lò sưởi ngay trong nhà (kiểu lò sưởi ở các nhà cổ của Pháp ở Hà Nội cũng có) để đốt, vừa uống rượu, vừa ăn thịt cừu nước, nói chuyện đến 1-2 giờ sáng mới ngủ. Sáng hôm sau, Thâu và Hải ngủ đến 9-10 giờ. Những đêm như thế, Thâu thường kể cho tôi nghe đủ chuyện ở Paris. Thâu biên chế bên Bộ Công an. Cơ quan báo chí nào đi thường trú thì “mượn” anh đi làm trưởng cơ quan đại diện ở nước đặt thường trú. Anh vui tính và lúc đó đã khoảng 40 mà chưa lập gia đình vì cứ phải đi “thường trú” xa. Thâu kể, TBT Lê Khả Phiêu sang đây chả ai đón tiếp cả, xuống sân bay, cả bậu xậu phải về một khách sạn ở ngoại ô để ở. Vì Pháp là nước đa đảng, TBT của một đảng không phải là nguyên thủ quốc gia thì chẳng có lý do gì để người ta phải tiếp. Đồng bào ở Paris rất muốn coi mặt ông vua nước Nam mình mổm ngang mũi dọc ra sao mà chẳng có báo chí truyền hình nào nó đưa một giọt tin. Năn nỉ mãi để Tồng thống Jacques Chirac tiếp, nể lắm mới được diện kiến 45 phút. Nhưng nguyên thủ nước ngoài người ta tiếp khách là chuyện lớn, phải có nội dung hai bên mua bán cái gì, ký kết hợp đồng làm ăn giữa hai quốc gia ra sao mà mình thì đòi tiếp xã giao. Ở nước Pháp không có chuyện một Tổng thống lại tiếp xã giao ai bao giờ. Vì thế, cuộc đón tiếp rất khiên cưỡng và bẽ bàng. Vậy mà, với 45 phút đó, báo chí trong nước tung hô rầm rĩ là Phiêu được đón rước long trọng. Thâu rất vui và rất trung thực. Có sáng tôi dậy sớm, thấy bát đĩa ăn hôm qua còn vứt ngổn ngang, tôi thu dọn đem rửa. Thâu dậy thấy thế nói ngay: – Anh là khách của tôi, đừng làm thế! Hôm tôi về, cả hai anh Thâu và Hải đều đi tiễn. Cà hai đều khuyên tôi ở lại chơi thêm. Các anh đều muốn về nước sớm. Hải thì có vợ con ở Hà Nội, Thâu thì chưa vợ (Mới đây tôi được tin Thâu đã lập gia đình, thật vui!). Sau hội nghị Paris, sau cả 30.4.1975, chú tôi vẫn chưa được về nước dù đi thường trú nước ngoài từ sau hòa bình 1954, vì chưa cử được người qua thay. Đến cuối 79 đều 80, thì tai họa đến với ông. Một lá thư của ông Hoàng Văn Hoan gửi cho ông do biết nhau từ khi ông đi thường trú ở Bắc Kinh sau 1954. Chú Năm tôi nói: – Suy nghĩ mãi, chú đem bức thư đó trình với tổ chức, với ý nghĩ là mình trung thực, báo cáo mọi điều với Đảng, không giấu giếm điều gì. Không ngờ có người bạn thân, mật báo với ông là ông sẽ được đưa sang điều trị tại Đông Đức, nhưng đó là cái cớ. Chỉ cần tới Đông Đức là sẽ có an ninh kè ông về Hà Nội, và khi bước xuống sân bay sẽ bị còng tay ngay. Hết đường tiến thoái, ông xin tị nạn và ở lại Paris. Khi Thông tấn xã VN tổ chức công bố kỷ luật ông, tôi còn ở Hà Nội và đến dự. Tội danh của ông là “phản quốc”. Một lần ông dẫn tôi đi chơi tháp Eiffel, một tên police (cảnh sát) đến hỏi: – Ngài có phải là người Trung Quốc không? Ông nổi nóng, mắng tên police này và nói: “Tao là người Việt Nam”, “nhưng nếu mày cần dịch tiếng Trung thì tao dịch hộ”. Tên police xin lỗi, nhưng nó vẫn nhờ ông dịch hộ vì nó vừa giữ một người Hoa, nghi là nhập cư trái phép. Dịch hộ thằng police mắc dịch này xong, ông bảo với tôi: – Chú cứ nói đại rằng tên người Hoa kia có nhà ở phố X, quận Y để cứu nó. Nhưng thực ra nó nhập cư trái phép, đi bán dạo mô hình tháp Eiffel. Sau chuyến đi Paris, về Hà Nội, tôi tuyên bố với cả dòng họ, Lê Phú Hào không phản quốc, vì người ta hỏi ông có phải người Trung Quốc không, ông đã chửi và tự hào xưng là người Việt. Ông chỉ phản Đảng mà thôi. Vậy mà cái dòng họ Lê Phú của tôi, đa phần là đảng viên, lúc đó đã gạch tên Lê Phú Hào và Lê Phú Khải trong gia phả nhà họ Lê Phú. Đó có lẽ là cuốn gia phả duy nhất ở Việt Nam mà cháu đích tôn của dòng họ và chú ruột của nó bị gạch tên trong gia phả. Bây giờ, những người ở thế hệ trước đã ra đi tất cả, không ai biết là ai đã gạch tên Lê Phú Hào và Lê Phú Khải. Nhà văn Phạm Đình Trọng có nói trong một bài viết là “Đảng Cộng sản chia rẽ khối đoàn kết dân tộc”, tôi phải viết thêm là “chia rẽ đến cả các dòng họ, các gia đình…”, mà dòng họ Lê Phú của tôi là một ví dụ! Bây giờ cái học thuyết đấu tranh giai cấp đã sụp đổ tan tành, xem ra dòng họ nhà tôi lại hòa hợp! Sau khi ở lại Paris, chú tôi sống trong nỗi buồn xa xứ. bà Bích Ngọc, người vợ mới của ông đã chia sẻ với ông những ngày cuối đời. Bản thân bà cũng là một nỗi buồn mênh mông. Vốn là một cô gái nhan sắc nghiên thành, con nhà giàu có ở Nam Định, thời quân Tưởng tràn sang ta, một tên sĩ quan cao cấp Tưởng Giới Thạch vu oan cho em bà ăn cắp súng và định đem xử bắn. Hắn chỉ tha tội chết cho em bà nếu bà chịu lấy hắn! Thương em, gia đình ép bà phải lấy tên sĩ quan này. Hắn đem bà về Trung Quốc, nhưng sau đó tên sĩ quan này lại theo Hồng quân Trung Hoa, làm đến cấp tướng nên sau hòa bình 1954 bà được sứ quán ta ở Bắc Kinh cho vào làm việc ở sứ quán. Bà quen biết chú tôi từ đó. Sau này bà được ông Phạm Văn Đồng bảo lãnh cho đi Paris để nhận gia tài của một người anh rể sắp mất. Trái đất tròn, bà lại gặp Lê Phú Hào ở Paris, và trong cơn hoạn nạn, họ lại tìm đến nhau. Trong một loạt bài đăng trên báo An ninh Thế giới (1998), để phê phán các cán bộ cao cấp VN tị nạn tại Pháp như Vũ Hùng ở Bộ Văn hóa, Bùi Tín ở báo Nhân Dân, Lê Phú Hào ở Thông tấn xã VN, tác giả đã mượn câu chuyện éo le của bà Bích Ngọc để khai thác câu khách trong bài viết về Lê Phú Hào (không dám dùng tên, chỉ viết tắt là LPH), xin trích nguyên văn: “LPH là một phóng viên kỳ cựu, một cán bộ có trách nhiệm trong ngành thông tin tuyên truyền của VN, đã đào nhiệm năm 1979. LPH phụ trách bộ phận thông tin báo chí của VN tại Pháp. LPH có lẽ là một trong số những phóng viên VN đầu tiên được ra nước ngoài công tác. Đó là vào những năm 50, khi VN mở Đại sứ quán ở Trung Quốc. LPH phụ trách báo chí tuyên truyền của Đại sứ quán. Công việc cũng tỏ ra rất hợp với một thanh niên trẻ, đẹp trai và nhiệt huyết. Đại sứ quán lúc đó chỉ có gần chục người nên công việc bề bộn, vất vả. Một thời gian sau trong Đại sứ quán xuất hiện một phụ nữ VN trẻ đẹp giúp việc. Chị có cái trên rất đẹp: Nam Hồng (bông hoa hồng nước VN), được bạn giới thiệu vào làm việc giúp ĐSQ. Chị kể, chị có một cuộc đời đắng cay, quê ở Nam Định, gia đình thuộc loại giàu có. Năm 1945, khi quân Tàu Tưởng tràn vào để giải giáp quân Nhật, chị mới 15 tuổi. Tên thiếu tá chỉ huy quân Tàu Tưởng gần nhà chị, thấy chị có nhan sắc liền tìm cách ép gia đình phải gả chị cho hắn làm vợ bé. Hắn vu cho em trai chị (13 tuổi) ăn cắp súng của quân Tàu tưởng và dọa sẽ đưa ra xử bắn. Để cứu em và gia đình, chị buộc phải nhận lời. Năm 1946, khi quân tưởng rút về nước, tên sĩ quan đưa chị về Trung Quốc. Do không chịu được sống chung, chị đã mang 2 đứa con gái đi theo phục vụ (nấu ăn, văn nghệ) cho quân giải phóng quân Trung Quốc. Khi Trung Quốc và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao, chị được giới thiệu vào làm việc ở Đại sứ quán VN tại Bắc Kinh. Tuy đã có hai con nhưng chị còn rất trẻ (ngoài 20 tuổi) và đẹp nên được nhiều cán bộ trong đại sứ quán ta có cảm tình. Với kinh nghiệm từng trải, chị đã dễ dàng chinh phục được LPH và hai người đã có những năm tháng hạnh phúc trên đất khách quê người. Họ dự tính sẽ đi đến hôn nhân. Đầu năm 1960, LPH hết nhiệm kỳ công tác, trở về nước, còn Nam Hồng tiếp tục ở lại làm việc trong ĐSQ. Họ vẫn tiếp tục thư từ cho nhau. Nhưng gia đình LPH, một gia đình danh giá, đã phản đối quyết liệt mối tình này và thu xếp để LPH lấy một cô gái khác…” (An ninh Thế giới, số 83 ngày 17/7/1998, trang 1 và 28). Tác giả N.D.C. viết như thế. Có những chi tiết bịa đặt hoàn toàn như “thu xếp để LPH lấy một cô gái khác”. Trong khi Lê Phú Hào đã có vợ từ trong kháng chiến chống Pháp. Bà vợ tên là Hồng và con gái tên là Thủy, lúc đó bà là cán bộ của Thông tấn xã VN tại Hà Nội! Báo chí cộng sản độc quyền nên tha hồ nói láo, không ai dám bắt bẻ, vì thế họ rất sợ tự do báo chí, sợ sẽ có kẻ vả vào mồm họ! Những ngày lưu vong buồn chán, chú tôi mượn âm nhạc để gửi gắm tâm tư. Nhà ông tôi thấy toàn nhạc cụ. Đàn Organe, violon, guitar, mandolin, nhị, sáo, đàn bầu, trống. Ông chơi điêu luyện các nhạc cụ này. Ở nhà ông tôi thấy luôn có người đến nhờ lên dây đàn đủ loại. Ông kể, hồi thím ốm, nằm bệnh viện, chú đến thăm nuôi và đem cây đàn mandolin theo, đến giờ nghỉ trưa, đem ra chơi. Bọn tây đầm thấy chơi hay quá, chúng ôm nhau nhảy, có đứa còn bảo: – Tao mong vợ mày bệnh quanh năm! Duy có một nhạc cụ, tôi phải “mách” để các nhà nghiên cứu âm nhạc VN chú ý, đó là cây nhị. Chuyện là thế này, một hôm ông chú tôi thấy cô đầm hàng xóm sang chơi, đem theo một hộp bánh. Ở Pháp không ai tự dưng sang chơi nhà hàng xóm bao giờ. Nhà nào biết nhà nấy. Biết là có chuyện nên ông chú tôi nhận quà và chờ đợi. Sau một hồi nói chuyện không đâu vào đâu, cô đầm hàng xóm mới nói thật. Cô ta chỉ vào cây nhị treo trên tường và khẩn khoản xin ông chú tôi đừng bao giờ kéo cây đàn ấy! Cô kể rằng, mỗi khi nghe tiếng ở cây đàn ấy phát ra âm thanh thì đứa con gái 5 tuổi của cô đều khóc. Nó khóc thút thít rất tội nghiệp. Vậy là “cái thú đau thương” (Phạm Duy) của một tâm hồn Việt Nam lưu lạc, mượn cây nhị để giải bày, của chú tôi cũng không còn nữa. Nước Pháp, một đất nước văn minh, có cuộc sống hạnh phúc, với khẩu hiệu: “Joie de vivre” không có không gian nào cho cây đàn nhị VN rầu rĩ nữa. Chú tôi đã sống những ngày cuối đời ở Paris hoa lệ trong cảnh nghèo mà không được buồn cùng cây nhị Việt Nam. Sở dĩ tôi nói chú tôi nghèo vì ngoài tiền trợ cấp cho người già, ông không còn khoản nào nữa trừ ít phụ cấp của bảo tàng Louvre do ông có vài năm làm giảng viên cho Trường Louvre. Bảo tàng Louvre có một trường đào tạo nhân viên riêng. Giảng viên của trường này là những trí thức tên tuổi của Paris. Chỉ có hai người châu Á được nhận làm giảng viên ở đây, trong đó có 1 người Nhật Bản và chú tôi, nhờ ông biết đến 5 ngoại ngữ thành thạo. Với góc nhìn của người Pháp thì Lê Phú hào là một công dân Pháp (quốc tịch Pháp) biết tới 5 ngoại ngữ: Việt, Hoa, Anh, Tây Ban Nha, Nga. Chính diễn văn của Fidel Castro năm 1959 được phổ biến ở Việt Nam là do Lê Phú Hào dịch từ tiếng Tây Ban Nha. Nhà báo VN đầu tiên đi thường trú nước ngoài và biết 5 ngoại ngữ thành thục đó đả yên nghỉ trong nghĩa trang Pere Lachaise năm 2008 (nơi yên nghỉ của Chopin). Thấy tôi quan tâm đến vấn đề dân chủ hóa đất nước, trước lúc chia tay ông bảo tôi: “Cháu cứ yên tâm về nước, dân nào thì chính phủ đó, Internet sẽ dân chủ hóa đất nước”. Nghĩ đến tình hình đất nước hiện nay, tôi thấy lời ông thật chí lý. Sau chuyến đi năm ấy (2001), về tới Sài Gòn, tôi đến cơ quan, gặp giám đốc Đào Quang Cường và trả lại ông 100 đô la. Tôi nói, lúc đi ông tặng tôi 100 đô la, tôi nhận, nay đi về không tiêu đến đồng tiền của ông nên tôi trả lại, cám ơn ông. Giám đốc Cường nói: – Có 100 đô la mà cũng trả lại. Tôi nói: – Ở bên ấy 100 đô cũng quí. Tôi đổi 200 đô la ra đồng franc, rủ ông chú tôi đi uống cà phê, lúc trả tiền tính ra đến 30.000 đồng VN một ly! Chú tôi kêu “nó chém” quá (giá năm 2001). Trong khi đó thì đồng bào bên ấy lấy làm kinh ngạc người ở VN qua Paris “tiêu tiền như đốt pháo”! Tôi kết thúc câu chuyện với giám đốc Cường bằng việc kể về con trai ông Trần Đức Lương qua Paris đốt tiền. Một hôm, bà thím tôi đi đâu về hốt hoảng nói: – Trần Đức Lương ở VN làm gì hả cháu? Tôi nói, làm chức như ông Jacques Chirac ở Pháp hiện nay. Bà thím tôi lắc đầu: Hèn chi thằng con nó sang đây tiêu tiền đến triệu phú ở Paris cũng phải kinh hồn khiếp vía! (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 24, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/24/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-40/#more-7820 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 41): https://www.minds.com/newsfeed/1019920532781977600?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 39): https://www.minds.com/newsfeed/1019891114827108352?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
22 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 39) Người kéo Nhị ở Quận 19 thành Paris Chiếc may bay hành khách cỡ lớn số hiệu AF255 sau 12 giờ bay liên tục từ Singapore nặng nề hạ cách xuống sân bay Charles De Gaulle. Đồng hồ chỉ 6 giờ 20 phút sáng (9.2.2001). Mưa nặng hạt. Nước chảy ròng ròng bên ngoài mặt kính ô cửa sổ máy bay. Hành khách được thông báo ngoài trời lúc này là 5 độ C. Lấy được hành lý rồi, tôi ngồi ngay lên hành lý của mình để nghỉ sau chuyến bay dài mệt nhọc. Ngồi nghỉ ngay giữa dòng người tay xách, nách mang, đi lại tất bật trước mặt mình, bỗng dung tôi nghĩ đến cái ông tướng được lấy tên đặt cho đến 2 cái sân bay vào loại lớn nhất thế giới (Charles De Gaulle I và II). Với người Pháp, tướng De Gaulle và sau này là Tổng thống De Gaulle (1958-1969) là bậc anh hùng cái thế. Các sử gia Pháp không ngần ngại gọi ông là “con người chói lọi nhất nước Pháp”. Ông có tính kiêu ngạo bẩm sinh. Cái “đức tính” đó được nhân lên cùng với thời gian của một con người ý thức được khả năng, vai trò cũng như cống hiến của mình đối với đất nước (Phan Quang). Người Pháp luôn nhớ những câu nói kiêu hùng của ông: “Tôi được sự ủy nhiệm của nước Pháp”, “Tôi cán đáng nước Pháp”, “Tôi là nước Pháp”, “nước Pháp là tôi”! Nhưng lịch sử thật trớ trêu. Một con người có thể là anh hùng cái thế với dân tộc này, lại có thể là kẻ thù của một dân tộc khác. Đối với tôi chẳng hạn, kẻ đang ngồi suy tưởng lúc này thì De Gaulle chỉ là một tên thực dân ngoan cố không hơn không kém. Vì sao vậy? Đơn giản là vì tôi là một người Việt Nam. Trong Thế chiến II, Pháp thua Đức ngay từ đầu. Mùa hè năm 1940, quân Đức kéo vào, Paris bỏ ngỏ. Tổng thống Albert Lebrun trao quyền cho Thống chế Pétain, ông này đầu hàng Đức. De Gaulle bay sang Anh kêu gọi kháng chiến qua đài BBC. Ấy vậy mà khi Thế chiến II còn chưa kết thúc, chính De Gaulle đã chỉ thị phải chuẩn bị những con tàu đem quân viễn chinh sang tái chiếm Việt Nam kịp thời! Chính vì thế mà Tết Giáp Thân 1944 cụ Hồ đã công bố bức thư ngỏ: Trả lời cho bọn De Gaulle! Mãi suy nghĩ, tôi không hay những người ra đón đang đứng trước mặt tôi. Bầu trời xám xịt, mưa tầmn tã và rét đến buốt xương. Trên đường vào Paris, xe hơi phủ kín mặt lộ. Vậy là tôi đang đi giữa Paris, cái thành phố mà từ tuổi nhỏ đã được nghe ông nội tôi kể về nó, khi cụ cùng phái đoàn của Vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm thuộc địa Marseille năm 1922. Sở dĩ tôi có được chuyến đi này là do sự can thiệp của Cố vấn ban Chấp hành Trung ương Võ Văn Kiệt, một việc có tính ngẫu nhiên. Mà xét ra thì cuộc đời con người ta đa phần là do sự ngẫu nhiên tạo nên. Hôm đó, tôi đang ngồi nhà nghiên cứu” theo chức năng “chuyên viên”(!), bỗng nhận được điện thoại (bàn) của giám đốc Cường, mời lên cơ quan có “việc gấp”! Tôi định không đi vì ông này hay kêu tôi lên cơ quan để nhậu buổi trưa cho vui, với những cú điện “lên gấp” có việc! Nhưng linh tính báo cho tôi hôm ấy phải đi. Lên đến nơi, ổng đưa cho tôi một số điện thoại di động ghi trên một mẩu giấy nhỏ, bảo tôi liên hệ với số điện thoại đó để hẹn gặp Cố vấn Võ Văn Kiệt, vì ông Sáu Dân (tức ông Kiệt) vừa gọi điện ra Hà Nội, bảo với Trần Mai Hạnh (Tổng giám đốc Đài), muốn gặp Lê Phú Khải. Sau đó tôi được biết số điện thoại di động đó là của Vũ Đức Đam, trợ lý của ông Sáu Kiệt lúc đó. Tôi bảo với “sếp” Cường: – Chẳng cần liên hệ, hẹn hò gì, đầu giờ chiều nay, trên đường về nhà tôi sẽ ghé ông Sáu. Đúng 2 giờ chiều hôm đó, tôi có mặt ở 16 Tú Xương. Thấy tôi ông Kiệt nói: – Nghe Phú Khải nhiều rồi, hôm nay muốn Phú Khải nghe tôi có được không? (nghe trên Đài – LPK). Tôi vui vẻ nói: – “Sếp” đã nói thế thì còn cách nào hơn! Sau đó tôi lấy giấy bút ra và cuộc làm việc kéo dài một tiếng đồng hồ bắt đầu. Đại để là, sau một đêm ông Sáu Kiệt ngủ lại trang trại nông dân Võ Quang Huy ở Đức Hòa, Long An, ven vùng Đồng Tháp Mười, anh Huy đã đại diện cho 6 hộ nông dân nhận đất để khai hoang 200 hecta với thời hạn 20 năm. Các hộ đã đào kênh, đắp đê bao chống lũ, lên liếp rửa phèn và trồng được 113 hecta mía. Sáng sớm hôm sau trên đường về TPHCM, ông nghe radio trên xe hơi thấy có bài viết của tôi trên buổi Thời sự sáng của Đài TNVN (16.9.1998). Bài đó có nhan đề “Kinh tế Trang trại ở ĐBSCL”, trong bài có nói đến trang trại của nông dân Quang Huy đang trồng 113 hecta mía, vì thế ông muốn gặp tác giả của bài viết để trao đổi (Bài viết này cuối năm 1998 tôi đã được giải Báo chí toàn quốc). Số là, năm 1998, đang có một cuộc tranh cãi sôi nổi về kinh tế trang trại ở Việt nam, nhất là vấn đề hạn điền. Trong lúc cố vấn Lê Đức Anh phê phán nặng nề tỉnh Long Anh cho tư nhân thuê hàng ngàn hecta trong vùng hoang hóa thuộc huyện Thủ Thứa vùng Đồng Tháp Mười thì cố vấn Võ Văn Kiệt lại vào tận nơi thăm trang trại Tân Thanh của bà Bé Hai, tức Nguyễn Thị Thiền ở 164 lê Văn Lương, phường Tân Hưng, Quận 7, TPHCM. Bà đang thuê 2000 hecta đất của Long An để khai phá. Cố vấn Võ Văn Kiệt tán thành bài viết về trang trại ở ĐBSCL vừa mới phát hôm đó trên Đài TNVN. Và, trong buổi làm việc này, ý kiến của ông là, xưa kia ruộng đất là lá bùa hộ mệnh của cách mạng đối với nông dân, nay tình thế đã thay đổi, có ruộng mà không đủ vốn, đủ trình độ canh tác thì lỗ vốn, đói nghèo vẫn hoàn đói nghèo. Nay đã là kinh tế thị trường thì tích tụ ruộng đất là điều tất yếu, nông dân có thể thuê chủ trang trại mà vẫn có ăn là được. Ông còn nói giỡn: – tôi có hai thằng cháu ở quê, lần nào về quê cũng đi tìm thằng bóc lột hộ nó mà chẳng ai bóc lột cho vẫn thất nghiệp dài dài. Kêu tôi đến để ông “thuyết giáo” tư tưởng đó của mình và động viên tôi vào tìm hiểu nông trại Tân Thanh. Ông còn nói vui: – Phú Khải nên đi, bà Bé hai đang cô đơn trong đó (sau này tôi mới biết chị Bé Hai lúc đó chưa có gia đình). Làm việc xong, uống trà, trước khi tôi về, ông Sáu còn hỏi tôi: – Phú Khải có nguyện vọng gì không? Tôi đắn đo rồi nói: – Tôi có ông chú ruột là nhà báo Lê Phú Hào ở Paris, chuyện về ông ấy ông Sáu cũng biết cá Nay chú tôi đã 80 tuổi, gần đất xa trời, chú tôi chỉ muốn gặp tôi, thằng cháu đích tôn của dòng họ, và tôi cũng muốn gặp chú tôi trước lúc ông ấy đi xa, vì hiện ông đang đau yếu lắm. Nghe tôi nói, ông Sáu Kiệt bảo: – Lúc tôi là Thủ tướng, sao Phú Khải không nói, tôi cho đi cùng. Tôi nói, lúc ông Sáu làm Thủ tướng thì không có thời gian rảnh rỗi ngồi đàm đạo thế này mà tôi được trình bày nguyện vọng. Nghe xong ông Sáu Kiệt nói: – Thôi, để tôi nói với Trần Mai Hạnh, xếp Phú Khải trong đoàn đi công tác. Vài ngày sau, “sếp” Cường nói với tôi, ông Hạnh điện vô, nói đã nhận được điện của ông Sáu Dân, Hạnh hứa thế nào cũng để ông đi Pháp một chuyến thăm ông chú. Đợi đến 2 năm, có biết bao nhiêu đoàn đi Pháp của Đài nhưng Hạnh chỉ xếp tay chân của y đi tháp tùng để hầu hạ không hề có tên tôi. Đợi khi Hạnh vô Sài Gòn, tôi đến tận khách sạn ông ta ở và nói: – Anh có trăm công ngàn việc, làm sao nhớ được lời ông Sáu Dân, vậy tôi có đơn đây, anh ký cho tôi đi Pháp tự túc để thăm ông chú tôi, ông ấy yếu lắm rồi! Hạnh nói: – Vấn đề nhân văn!!! Đưa đơn đây cho tôi. Vậy mà đơn của tôi lại được chuyển cho Phó Tổng Giám đốc Đài là bà Kim Cúc ký chuyển qua A 18 Bộ Công an duyệt. Mãi đến đầu năm 2001 tôi mới đi Paris được! Đón tôi tại sân bay Charles De Gaulle có 2 phóng viên của Đài TNVN thường trú tại Paris, một là anh Thâu, thực chất là người của bên công an đưa sang làm trưởng và anh Hải ở Ban Đối ngoại của Đài sang làm thường trú. Cả hai anh đều thạo tiếng Pháp. Ra sân bay còn có ông chú tôi nữa. Lúc đi, cơ quan bào tôi tới Paris thì về cơ quan thường trú, đi đâu xe đưa đi, anh em sẽ đưa tôi đến gặp ông chú tôi. Tôi cứ gật đại. Nhưng khi có cả 3 người đến đón, tôi tuyên bố ngay: – Về nhà ông chú tôi ở, không về cơ quan. Cực chẳng đã, anh Thâu phải đưa tôi về nhà ông chú tôi ở 5 Passa de Thionville, quận 19. Các anh Thâu và Hải đều rất hòa nhã, lịch sự. Khi về đến căn hộ chung cư ở đường thionville, bà thím tôi, người vợ ngoài giá thú của chú tôi ở Paris ôm lấy tôi, nói trong nghẹn ngào: – Chú hào anh mong anh sang lắm, ông ấy đi xin giấy bảo lãnh cho anh tới lui cả tháng nay. Có thể nói, cuộc đời Lê Phú Hào, chú ruột của tôi, là một điển hình bi kịch của lớp thanh niên trí thức, xuất thân trong gia đình tầng lớp trung lưu của đất Hà Thành, đi theo cách mạng và nếm trải tất cả những cay đắng của một cuộc cách mạng được nhân danh của giai cấp vô sản! Ông nội tôi sinh được 5 người con trai, bố tôi là trưởng, Lê Phú Hào là út. Trong 5 người con trai và 1 bà chị cả, chỉ có Lê Phú Hào là đỗ được bằng tú tài toàn phần trước Cách mạng Tháng Tám và làm thư ký ở Phủ Toàn quyền Đông Dương nơi ông bố từng làm. Là một thanh niên Hà Nội, hào hoa phong nhã, chơi được nhiều môn thể thao, kể cả đấu võ, chơi được nhiều nhạc cụ đến trình độ làm chef d’orchestre cho các bar nhảy đầm vào các tối để lấy tiền ăn học thời kinh tế khủng hoảng. Ông lọt vào mắt xanh một cô đầm lai, bố Pháp, mẹ Việt ở cùng phố, có tên là Clément. Đó cũng là tên của ông sau này nhập quốc tịch Pháp Clément Phu. Họ yêu nhau đến mức sắp thành hôn thì cách mạng bùng nổ. Theo tiếng gọi của núi sông Lê Phú Hào lao vào cuộc kháng chiến chống Pháp tái chiếm Việt Nam “người ra đi đầu không ngoảnh lại” (Nguyễn Đình Thi) với cô người yêu mang dòng máu kẻ thù xâm lược! Ông theo người anh của mình là tướng Lê Hữu Qua, làm trong ngành an ninh của chính phủ kháng chiến. Có lần ông kể, lúc mới ra đi chú còn xách theo cả cây đàn violon đựng trong cái vỏ gỗ sơn đen kềnh càng. Du kích chặn đường, tưởng cái hộp đựng đàn là hộp đựng súng nên bắt giữ, chú nói là hộp đàn, họ trừng mắt bắt mở hộp gỗ ra cho xem. Mở hộp rồi, thấy cây đàn violon họ vẫn tưởng là thứ vũ khí gì đó vì chưa nhìn thấy thứ này bao giờ. Có người còn quát: – Có chối nữa không! Nhanh trí, chú lấy cây đàn ra kéo bài Quốc ca “Đoàn quân VN đi… chung lòng cứu quốc…”, thế họ mới tin, cho đi. Có anh còn mắng, đi kháng chiến mà còn đàn với sáo! Như có linh tính cho cuộc đời mình, có lần ông ở Bắc Kinh về phép, lúc đó tôi cũng vừa tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, ông đưa tôi đi bơi thuyền trên Hồ Tây và tâm sự: – Tên chú có ba chữ Lê Phú Hào thì người ta đã “đào tận gốc, chốc tận rễ” mất hai chữ rồi còn gì nữa (tức chữ “Phú” và chữ “Hào” trong khẩu hiệu “Trí phú đại hào, đào tận gốc, chốc tận rễ”). Quả sau này không sai! Năm 1950, ở Chí Chủ – Phú Thọ, nơi gia đình tôi tản cư kháng chiến chống Pháp, một hôm ông về nhà thăm ông bà nội tôi, rồi hỏi vay mẹ tôi một chỉ vàng, ông nói là để bán đi kiếm tiền theo một khóa học dài. Sau này mẹ tôi kể lại: – Khi đưa cho chú Năm (tức Hào) cái nhẫn 1 chỉ vàng, tao nói, tôi biếu chú để chú theo học cho thành tài, sau này chú giúp đỡ cho thằng Khải, đứa con trai duy nhất của tôi. Sở dĩ mẹ tôi nói thế vì biết bố tôi là người ăn chơi, có đồng nào ăn hết đồng đó, không thể là chỗ dựa cho tương lai của tôi. Lúc đó, mẹ tôi là chủ một hãng thuốc lá bán rất chạy và có tiền. Lúc lên đường, mẹ tôi còn làm cho ông (Hào) 1 ký ruốc (miền Nam gọi là chà bông) để ăn đường. mẹ tôi kể, ruốc làm rất mặn nhưng chú ấy còn bốc một nắm muối to bỏ vào cảo ruốc tao đang xào, rõ thật khổ! Quả thật sau này chú Năm rất thương tôi, mỗi lần ở Trung Quốc về nghỉ phép, ông đều đem cho tôi một bị quần áo cũ. Có những bộ quần áo đại cán may theo kiểu Tôn Trung Sơn, túi dưới may lộ ra bên ngoài, người ta gọi là “túi bị”. Khi tôi mặc đi dạy học, học trò kêu là thầy mặc áo trái!!! Về cái lớp mà chú tôi theo học, đầu đuôi thế này, đến năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã qua giai đoạn phòng ngự – cầm cự. Cụ Hồ và Trung ương Đảng muốn “dứt điểm” quân Pháp bằng thế phản công. Nhưng muốn phản công phải có súng lớn. Liên Xô, thông qua Trung Quốc giúp ta súng lớn như pháo, cao xạ pháo, nhưng muốn bắn được pháo theo đường vòng cung (pa-ra-bôn) thì phải sang Trung Quốc học. Muốn sang Trung Quốc học bắn pháo thì phải biết tiếng Trung. Một vị giáo sư Trung Quốc được cử sang VN dậy các sĩ quan ta học tiếng Trung nhưng ông ta lại chỉ biết tiếng Anh. Vậy là phải cần những cán bộ VN biết tiếng Anh để học tiếng Trung qua tiếng Anh. Chính phủ kháng chiến đã phải tìm kiếm vất vả, và người biết tiếng Anh thành thạo có thể học tiếng Trung bằng cách ấy chính là Lê Phú hào. Trước khi đi học ông đã về Chí Chủ nhờ mẹ tôi giúp ít tiền để đi học lớp dài hạn này là vậy. Sau một thời gian học, Lê Phú Hào trở thành hiệu trưởng trường Hoa Văn ở Việt Bắc, chuyên dạy các sĩ quan tiếng Trung để sang Trung Quốc học bắn pháo và nhận pháo về. Ông kể: – Trong kháng chiến chống Pháp, hai phần ba thời gian là dành để đi bộ. Chú đã nhiều lần gặp ông Hồ nhưng trong những hoàn cảnh thật bất ngờ và chỉ gặp, không nói được câu gì. Một lần chú đang đeo ba lô nặng, đi trên một bờ ruộng nhỏ để băng qua một cánh đồng. Đang đi, ngẩng mặt lên thấy một người đang cưỡi ngựa, đi ngược chiều với mình. Chú nghĩ trong bụng, mình thì đeo ba lô đi bộ, tay kia thì cưỡi ngựa, biết ai sẽ nhường ai đi đây? Đi được một lúc, ngước lên thấy người đi ngựa đã rẽ sang một bờ ruộng bên để nhường đường. Chú lại nghĩ, tay này cũng biết điều đấy. Đến khi giáp mặt, chú nhìn thì hóa ra ông Hồ. Ông ta lên tiếng: – Chú đeo ba lô có nặng không? Bất ngờ quá, chú chỉ kịp gật đầu rồi đi tiếp, không nói được câu gì. Một lần khác, khi đang dạy học trong lớp Hoa văn, đi xuống cuối lớp, bỗng thấy ông Hồ ngồi dự ở cuối lớp từ bao giờ không hay. Đến hết giờ, ông ấy nói: – Chú dạy tốt đấy rồi ra về. Lại có lần, chú đang tập thể dục ở sân trường, khi quay lại, thấy ông Hồ đứng đằng sau. ông ấy nói: – Chú dậy sớm đấy, rồi đi mất. Chú biết ông ấy nóng lòng có pháo để ohản công quân Pháp. Sau hòa bình 1954, Lê Phú Hào là nhà báo VN đi thường trú nước ngoài đầu tiên tại Bắc Kinh. Ông cũng là người đầu tiên giới thiệu phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” trên báo Nhân Dân, cổ vũ cho phong trào này ở Bắc Kinh lúc đó mà không hay đây là cái bẫy của Mao Trạch Đông để lừa các trí thức có tư tưởng tự do ở Trung Quốc. Sau nhiều lần Thông tấn xã VN điều đình để ông được thường trú tại Hồng Kông như không thành, từ Bắc Kinh ông đi Alger thường trú. Khi hòa đàm Paris nhóm họp, phiên dịch tiếng Anh của Lê Đức Thọ không nghe nổi tiếng Anh do Kit-sinh-giơ nói tiếng Anh giọng Mỹ, phải điều ông từ Alger qua Paris để vừa làm náo, vừa phiên dịch cho các phiên họp kín, họp hở giữa Thọ và Kit! Suốt một tháng ở Paris, tôi ít đi lại, chỉ ngồi ở nhà đàm đạo việc nhà và thế sự với ông chú. Thấy thế bà thím tôi bảo, ai sang đây cũng đi tham quan tối ngày các danh lam thắng cảnh ở Paris, sao cháu cứ ngồi nhà? Tôi bảo bà, họ chỉ nhìn thấy tháp Eiffel bên ngoài thôi, còn thì cháu có thể làm hướng dẫn viên cho chính người Pháp đến thăm cái tháp này. Bà tỏ ra không tin, tôi nói cho bà hay cái tháp này xây từ năm nào, vì sao lại xây nó và có bao nhiêu vụ tự tử nhảy từ trên tháp xuống, có bao nhiêu vụ thoát chết khi tự tử nhảy tháp, bốn chân đế của tháp được đặt trên bốn cái phao khổng lồ trên bốn cái hồ nước ngầm ở dưới nên khi có gió to, tháp chỉ chao đảo, nghiên ngả mà không bao giờ gãy, đổ. Nhưng đến Paris mà chỉ thăm Nhà thờ Đức Bà, Bảo tàng Louvre, tháp Eiffel thì chẳng hiểu gì nước Pháp và Paris cả. Bà ngạc nhiên hỏi tôi, vậy thăm cái gì? Tôi trả lời: – Phải đi cầu Concorde, vì nó là cây cầu được xây bằng đá ngục Bastille, khi nhân dân Paris phá ngục Bastille trong Cách mạng Pháp 1789, đã không quên lấy đá của ngục tù này để xây dựng cây cầu mang tên hòa giải (Concorde), để nhớ về sự nhục nhã của một thời, để muôn đời nhân dân Pháp dạp lên bóng tối Bastille. Chỉ có nước Pháp với khát vọng là “hiện thân của tự do” mới có những cây cầu như Concorde(!). Ông chú tôi rất vui vì tôi đã nói được những điều như thế về Paris, về nước Pháp. Suốt một tháng trời ở Paris, đàm đạo với ông, tôi thấy chú tôi tỏ ra rất thất vọng về các nhà lãnh đạo Việt Nam. Ông kể, một lần ông về nước báo cáo với ông Trường Chinh về tình hình thế giới. Khi ông cho biết Hung-ga-ri đã tiến hành mở cửa kinh tế, và một mặt hàng mà công nhân Pháp đình công không chịu làm vì công giá rẻ, tư bản Pháp chuyển cho Hung và được nước này hồ hởi nhận ngay. Như vậy là giai cấp vô sản trên thế giới đã buông nhau ra rồi!!!, không còn liên hiệp đấu tranh nữa. Ta phải biết để mà tính kế. Nghe đến đây, ông Trường Chinh đập bàn phán: – Cho anh đi để anh phát biểu như thế à? Theo chú tôi thì vì không thích nghe những thông tin trái với ý nghĩ của mình nên các nhà lãnh đạo VN luôn đứng ngoài nhân loại trong mọi suy nghĩ và việc làm. Ông kể về Lê Đức Thọ: Khi mới sang, một buổi chiều, đang ngồi làm việc thì Nguyễn Thành Lê, ở báo Nhân Dân, đến gặp ông nói: – Anh Thọ bảo tối nay họp. Chú trả lời: – Tôi không họp! Thành Lê trợn mắt hỏi: – Anh nói chơi đấy chứ. Chú lại bảo: – Tôi nói thật mà. Lê hỏi: – Vì sao? Chú giải thích: – Tối nay chung kết Cúp Châu Âu, cả Paris không ai họp cả, họp người ta cười cho. Sáng hôm sau, ông Thọ gặp chú nói: – Mình xin lỗi, mới sang, không thuộc Paris, có gì cậu phải mách nước cho. Tiếng Anh cho người Mỹ ở hòa đàm Paris là cả một vấn đề. Người Mỹ nói tiếng Anh giọng Mỹ với ngôn ngữ hiện đại nên các phiên dịch tiếng Anh của ta được đào tạo ở nhà không dùng được. Ông kể, khi ta đem một bộ phim truyện VN là phim “Nổi gió” sang để chiếu chiêu đãi khách trong những ngày hội nghị bị đình trệ. Tối hôm trước, ông ngồi đọc bản thuyết minh tiếng Anh của phim thấy buồn cười quá. Nó là thứ tiếng Anh cổ lổ, ngô nghê, nếu đem thuyết minh thì chắc chắn người ta sẽ cười và không hiểu. Thế là cả tối và suốt cả ngày hôm sau ông phải ngồi viết lại bản thuyết minh để kịp chiếu vào tối hôm đó. Vì cái chuyện tiếng Anh mà Lê Đức Thọ nhiều khi làm ông khốn khổ. Có lần ông ốm, lại bị cúm, theo nguyên tắc bệnh viện bắt phải cách ly. Lê Đức Thọ đến thăm, bệnh viện không cho gặp. Lừa lúc vắng, thọ nhét vào khe cửa một mảnh giấy, trong giấy ra lệnh “trốn ngay”, ký tên Thọ. Thế là Lê Phú Hào phải tìm mọi cách trốn ngay khỏi bệnh viện, trốn trong lúc đang lên cơn sốt. Ông bảo với tôi, chú phải “vượt ngục” trong lúc đang bệnh, khổ quá! Cái uy của Lê Đức Thọ ghê gớm lắm, hơn cả thời vua chúa ngày xưa. Chú tôi kể: Tên sĩ quan phụ trách bảo vệ đoàn đàm phán của ta tại Paris là X, hắn sợ Thọ như cọp. Tư cách của tay này cũng kém lắm, sang đây chỉ kiếm cớ “đi thăm đồng bào” để được ăn nhậu và nhận quà, chú phải nhân danh đảng ủy viên của Hội nghị, cấm hắn không được đi nữa. Chú nói với y: – Các anh sang đây như thế thì chúng tôi ở đây sau này không làm việc được nữa. Có lần Hội nghị Phụ nữ Quốc tế họp, tuyên bố ủng hộ Việt Nam tại hòa đàm Paris, họp xong, 12 giờ đêm chú phải lao về cơ quan để đưa tin về Hà Nội. Vừa bước vào phòng, tên X đã xua tay, nói nhỏ vào tai chú: – Anh Thọ đang ngủ. Chú tức điên, quát: – Nhưng anh Hào đang làm việc, thế hắn mới tôi. Thọ ở căn biệt thự cổ, căn nhà này gác gỗ, lên xuống cầu thang êu cọt kẹt, mỗi lần lên xuống hắn phải bò bằng 2 tay và 2 chân cho cầu thang đỡ kêu, trông thảm cảnh lắm! Về ông nhà báo Hồng Hà của báo Nhân Dân thì chú tôi kể câu chuyện nực cười. Có lần đoàn Việt Nam Cộng Hòa họp báo. Về nguyên tắc thì nhà báo của ta cũng có quyền dự. Lê Phú Hào và Hồng Hà cùng đi. Khi tới một hành lang dài hút sâu để tiến vào phòng họp ở cuối hành lang, tự dưng thấy Hồng Hà tụt lại, hỏi ra thì hóa ra ông ta sợ vào sâu sẽ bị đánh! Chú tôi nói: – Đây là Paris chứ có phải Sài Gòn đâu mà ông sợ, vậy mà ông ta vẫn quay đầu về. Nói tới đây, chú tôi buồn rầu nhận xét: – Một tay tư cách như thế mà sau này lại vào tới trung ương thì thật buồn quá! Chú tôi còn kể về “thành tích” viết báo của Hồng Hà. Ông Thọ ở biệt thự nên xung quanh có vườn, hàng ngày bà lao công dọn dẹp vườn là một bà lao công yêu nước. Yêu quí đoàn Việt Nam, bà ta hái những chùm hoa trong vườn ném vào bên trong nhà qua cửa sổ. Thế là lập tức Hồng Hà sáng tác ra chuyện Việt kiều yêu quí Lê Đức Thọ ném hoa vào phòng ngủ của ông(!). Bài báo đăng trong nước rồi, thế là xảy ra một cuộc cãi lộn giữa tên sĩ quan trưởng đoàn bảo vệ với nhà báo Hồng Hà. Tay X nói, anh viết như thế thì người ta chửi tôi là bố trí phòng anh Thọ ở có thể người đi ngoài phố ném cả lựu đạn vào à? Thế là cãi nhau to. Chú tôi than, chú lại phải nhân danh đảng ủy viên của Hội nghị can thiệp, nói: – Các anh sang đây, ...
41 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 38) Quảng Châu – Thẩm Quyến – Hồng Kông – Ma Cao… và cuộc thử nghiệm về tiền nhuận bút một chuyến đi… Ngày 1-7-1997, Hồng Kông sẽ được trao trả về cho Trung Quốc. Đây là một đề tài hấp dẫn mà báo chí ở TP. HCM rất đói tin tức, bài vở, hình ảnh thời sự về Hồng Kông (nơi được coi là nhiều đầu mối tin tức nhất thế giới). Đã hơn 10 năm từ ngày “đổi mới” (1986), trên thực tế Việt Nam chỉ đổi mới một phần về kinh tế như cho các thành phần kinh tế tư nhân được hoạt động, kinh tế quốc doanh vẫn nắm cái chủ chốt còn các mặt khác của đời sống xã hội vẫn như cũ. Với báo chí thì là số không. Không hề có báo tư nhân. Báo quốc doanh thì các nhà báo chỉ là một anh viên chức ăn lương tháng để viết tin, bài. Một sự kiện như Hồng Kông được giao về cho Trung Quốc thì các báo chí chỉ chờ dịch tin, bài của báo chí nước ngoài (biên tập lại). Hầu như không có báo, đài nào cử phóng viên tận nơi quan sát để viết tin bài. Chế độ trả nhuận bút của các báo, đài chỉ có tính chất tượng trưng, và trả theo số lượng chữ của bài báo, không trả theo chất lượng tin, bài. Nếu có ông to, bà lớn nào viết bài cho đài báo thì các Tổng Biên tập nịnh khéo quan trên, sẽ trả một số tiền lớn hơn nhiều so với các bài khác. Vì thế, có ông cứ tưởng nhuận bút như thế thì các nhà báo sống khỏe(!). Có lần Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi Nguyễn Giới Việt viết một bài cho một tờ tạp chí trong ngành của ông, lúc lãnh nhuận bút ông thấy những một triệu đồng (vào đầu những năm 90), lớn quá, ông không nhận. Sau này ông tâm sự với tôi: – Mình nghĩ là họ hối lộ một cách tế nhị nên từ chối! Những ông thứ trưởng như Nguyễn Giới tôi biết là có thật và chỉ có vào thời điểm ấy. Bây giờ, chạy một chân thứ trưởng phải cả chục tỷ đồng thì có trả nhuận bút bằng một cái xe Toyota đời mới họ vẫn chê ít(!). Lê Phú Khải Xét một cách toàn diện, kể cả chế độ trả nhuận bút, Việt Nam vẫn chưa có báo chí đúng nghĩa của nó. Năm 1994, tôi bỏ tiền túi ra đi Điện Biên Phủ, lúc về viết hàng chục cái tin, bài, phóng sự ảnh cho nhiều số báo của SGGp ra hàng ngày và Tuần san SGGP thứ 7 cùng nhiều báo khác nữa ở ĐBSCL, nhưng nhuận bút lãnh về cũng vẫn chưa đủ chi phí cho chuyến đi ĐBP. Tiền vé máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội, rồi từ Hà Nội lên Điện Biên, tiền ăn ở khách sạn, mua phim ảnh, rồi quay về lại Sài Gòn. Vậy mà đầu năm 1997, tôi lại quyết định bỏ tiền túi để đi Hồng Kông với tham vọng viết được những tin, bài, ảnh nóng hổi cho báo chí thành phố sôi động này nhưng lại đói tin tức dịp Hồng Kông được trả về Trung Quốc. Tôi đi theo tour của Công ty Du lịch V.Y.C. (Travel Company TPHCM). Lịch trình của tour này là từ Sài Gòn đi Quảng Châu, Thẩm quyến, Hồng Kông, Ma Cao rồi lại trở về quảng Châu, Sài Gòn. Tất cả là 8 ngày. Nhưng ngày ở Trung Quốc tôi dưỡng sức, nằm nhà nghỉ, dành toàn bộ sức lực để làm việc trong 2 ngày ở Hồng Kông. Tôi tách đoàn, đi chụp hình ở các chợ, đường phố, tìm gặp Việt Kiều để hỏi chuyện, phỏng vấn các nhân viên ở khách sạn qua phiên dịch là anh hướng dẫn viên của VYC. Chuyến đi này thấy tôi là nhà báo nên đoàn bầu làm trưởng đoàn, được ngủ cùng phòng với hướng dẫn viên nên cũng thuận tiện khai thác tư liệu. Tôi gom tất cả các báo hàng ngày bằng tiếng Hoa và tiếng Anh ở khách sạn được phát không để về nhà nhờ bạn bè dịch, khai thác tư liệu. Kể từ đầu năm 1997, nhất là gần đến ngày 1.7. năm đó, tin bài phóng sự, phóng sự ảnh của tôi về Trung Quốc và Hồng Kông liên tục xuất hiện trên các báo, vậy mà, tiền nhuận bút thu về cũng không đủ chi phí cho chuyến đi hơn một ngàn đôla mỹ. Có thể nói tôi là nhà báo đầu tiên ở Việt Nam đã làm một cuộc thử nghiệm điều tra về chế độ nhuận bút hiện hành ở Việt Nam lúc đó với bài toán “tự đầu tư – tự trang trải”. Và, tôi đi đến kết luận: Nhà báo VN không thể sống bằng nhuận bút như nhà báo ở các nước tự do khác. Nhà báo ở VN vẫn là công chức ăn lương tháng, đi đâu thì ăn nhờ ở đậu nhà khách các địa phương, viết theo lời cán bộ địa phương nói. Rời cái bầu vú bao cấp ấy ra là chết liền. Sau này, kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển mạnh thì cái quái thai này sinh ra các tờ báo sống chủ yếu bằng quảng cáo, đi chạy quảng cáo để ăn phần trăm. Một số nhà báo giàu tấng lên, tậu được xe hơi, nhà lầu vì chủ yếu là đi dọa dẫm các doanh nghiệp, tống tiền các đại gia vì họ sợ bị vu khống, bị bới móc các bí mật trốn thuế của họ. Nếu họ bị vu oan thì không được đính chính. Nếu buộc phải đính chính thì chỉ được vài dòng lí nhí ở trang tư, còn khi vu cáo họ thì đem lên trang nhất. Tôi sẽ còn nói nhiều về thực trạng này ở phần sau. Hiện tôi còn giữ đến 3kg biên lai nhuận bút (dù chỉ là một phần nhỏ lưu giữ được) của gần 30 năm làm báo “lề phải”. Ví dụ: Phiếu trả nhuận bút của Báo Lao Động, bài và ảnh 15.000 đồng, đề ngày 15/5/1990. Báo Tuổi Trẻ: 20.000 đồng, đề ngày 4/8/1990; Báo Nhân dân đăng bài và ảnh về huyện Cao Lãnh: 150.000 đồng , đề ngày 5/1/1999; Báo SGGP: 700.000 đồng, ngày 28/11/2004 nhưng phải trừ thuế thu nhập cá nhân 10%, còn 630.000 đồng. Nếu bạn sinh viên khoa báo chí nào cần viết luận văn về đề tài nhuận bút báo chí ở Việt Nam qua các thời kỳ, tôi xin tặng 3kg hóa đơn chi trả nhuận bút này làm tài liệu nghiên cứu. Nhưng tất cả các nhuận bút đó cũng không “cứu” được tôi nếu không được lãnh lương tháng ở Cơ quan Đài TNVN. Đó mới là thực chất bi hài của cái gọi là nhà báo ở Việt Nam: Nhà báo ăn lương của Đảng. Của đáng tội bù lại chuyến đi viết về một sự kiện mà nhuận bút không bù được chi phí cho chuyến đi đó, tôi được “lời” là được “cưỡi ngựa xem hoa”, được tận mắt xem hai bông hoa của tư bản “giãy chết” là Hồng Kông thuộc Anh và Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha. Từ lục địa Trung Hoa, qua Hồng Kông và từ Ma Cao về lại Quảng Đông (Trung Quốc) đều phải làm thủ tục xuất nhập cảnh vì Hồng Kông là của Anh, Ma Cao là của Bồ Đào Nha như đã nói ở trên. Chỉ riêng làm thủ tục xuất nhập cảnh ở các cửa khẩu thôi cũng thấy được sự thối nát, trì trệ của bộ máy nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nó không khác gì ở Việt Nam. Các nhân viên an ninh và hải quan Trung Quốc như những con quái vật. Họ vừa làm việc vừa nói chuyện bả lả với nhau, nhìn khách du lịch như muốn ăn thịt người ta. Khi từ sân bay Bạch Vân xuống, đóng dấu vào hộ chiếu của tôi thì vì vừa nói chuyện riêng vừa làm việc nên họ đóng nhầm dấu… Qua trạm thứ hai thì cậu hướng dẫn viên của VYC phải đưa tôi đến hải quan để đóng dấu lại và họ phải đóng dấu áp lại vào giữa hai dấu đã đóng đó. Nhưng đã có dấu áp lại rồi tôi vẫn luôn bị hoạnh họe khi qua các cửa khẩu. Chưa hết, khi từ Ma Cao về lại Quảng Đông, qua cửa khầu của thành phố Chu Hải, hướng dẫn viên VYC cầm một xấp 12 cái hộ chiếu để đóng dấu nhập cảnh, nhưng vừa làm việc vừa nói chuyện riêng với người ngồi bên cạnh, cô nhân viên an ninh bỏ sót hộ chiếu của tôi không đóng dấu. Thế là đến ngày về tôi bị gạt lại không cho ra sân bay vì thiếu một cái dấu nhập cảnh từ Ma Cao vào lại Quảng Đông. Cô nhân viên du lịch TP Quảng Châu, công ty liên kết với du lịch VYC trình bày đến rã bọt mép với công an cửa khầu là chúng tôi đi một đoàn du lịch, có danh sách đoàn đi do tôi là trưởng đoàn, yêu cầu họ chỉ gọi một cú điện thoại về cửa khẩu Chu Hải để xác minh là đoàn đã vào lại lục địa ngày giờ ấy. Nhưng bọn công an cửa khầu chỉ đứng cười. Cuối cùng là tôi và cả anh nhân viên của VYC và cô nhân viên du lịch của Quảng Châu phải thuê xe đi hàng trăm cây số về lại Chu Hải để xin một cái dấu. Đến nơi, bật vi tính lên, họ thấy tôi có tên trong sanh sách nhập lại Chu Hải nhưng quên chưa đóng dấu vào hộ chiếu. Họ đóng dấu lại và thản nhiên không một lời xin lỗi. Chúng tôi phải tá túc lại Quảng Châu ba ngày nữa để chờ máy bay về. Khi về, qua cửa khẩu, lại bị họ hoạnh họe vì sao hộ chiếu nhiều dấu đóng thế? Ngày về sao lại không đúng với giấy phép của chuyến đi du lịch? V.v... và v.v… Nhìn những gương mặt của công an cửa khẩu, nhân viên hải quan Trung Quốc, tôi thấm thía đến từng lỗ chân lông sự “ưu việt” của chính quyền công-nông, của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trái lại, từ lúc đặt chân lên Hồng Kông thì mọi sự khác hẳn, các nhân viên khách sạn nơi chúng tôi ở đưa hành lý cho khách đến từng phòng, lễ độ và vui vẻ hết sức. Phỏng vấn ai họ cũng vui vẻ trà lời. Cuốn sổ tay của tôi ghi kín hai ngày ở Hồng Kông. Hồng Kông là trung tâm giao dịch tài chính lớn của thế giới thì ai cũng biết, nhưng đây còn là một thị trường thông tin, tin tức lớn nhất thế giới. Ở đây, mỗi buổi sáng ngủ dậy anh có thể biết ngay những gì mới xảy ra trong đêm hôm qua cho đến lúc anh tỉnh dậy. Những cuốn sách lớn mới ra lò, kể cả những cuốn tiểu thuyết ăn khách nhất thế giới cũng được người ta tóm tắt ngay nội dung để chào bán cho anh. Nếu có tiền ở Hồng Kông người ta có thể mua được tất cả mọi tin tức trên thế giới. Có cả những “hãng” sản xuất thứ hàng hóa thông tin này để bán cho anh đặt mua hàng tháng hay hàng ngày. Vì thế các hãng thông tấn lớn trên thế giới đều đặt phóng viên thường trú tại đây. Mật độ nhà báo thế giới ở đây thuộc vào loại cao nhất. Chính người chú ruột của tôi là nhà báo Lê Phú Hào đã chờ đợi nhiều thời gian để Thông tấn xã Việt Nam xin đặt ông thường trú ở tại đây nhưng không được. Cuối cùng, vào những năm 60, ông phải từ Bắc Kinh qua Anger (Angiêri) để thường trú và sau đó qua Paris làm phiên dịch tiếng Anh cho Lê Đức Thọ tại hòa đàm Paris. Nếu ai hỏi tôi ấn tượng nào mạnh nhất khi ở Hồng Kông thì tôi nói ngay là dịch vụ ăn uống. Buổi sáng, cả Hồng Kông ăn sáng rào rào. Có nhà hàng nổi ở Hồng Kông có thể tiếp 3.000 thực khách một lúc. Vào một cửa hàng ăn sáng ở Hồng Kông thấy nó rộng như sân vận động và được chăng đèn, kết hoa đỏ đến nhức mắt. Các nhân viên chạy bàn 100% là thanh niên. Phụ nữ không đủ sức làm công việc nặng nhọc này. Tôi vừa thấy một tốp khách chừng hơn 10 người ăn sáng xong đứng dậy thì lập tức 4 nhân viên chạy bàn lao tới cầm 4 góc khăn trải bàn nhấc bổng lên rồi túm 4 đầu khăn lại, bát đĩa kêu loảng xoảng bên trong. Họ vứt cái đống bát đũa ấy lên một cái xe đẩy và lập tức trải ngay khăn trải bàn mới, bát đũa mới được bày ra, xe đẩy thức ăn lăn tới. Thế là bắt đầu cho một tốp ăn khác. Nhanh như điện. Tính chuyên nghiệp của các dịch vụ ở Hồng Kông thật cao. Ở Ma Cao thì mỗi khách sạn đều để lầu 1 làm sòng bạc (casino). Chiều thứ 7, dân Hồng Kông lũ lượt đi phà qua một eo biển rộng 70 km để sang Ma Cao đánh bạc. Tiếng là đi phà nhưng cái phà này còn sang hơn cả máy bay. Nhưng vì nó chạy tốc độ quá nhanh và biển lại sóng lớn nên nhiều hành khách nôn mửa vì say sóng. Có điều lạ, các sòng bạc ở Ma Cao đa số là phụ nữ chơi bạc. Các bà, các cô sát phạt nhau trong những căn phòng rất rộng và im lặng trật tự. Tôi đã đổi 100 đô la Mỹ để thử vận hội nhưng chỉ biết quay lô-tô, và thua sạch. Các hình thức chơi bạc rất đa dạng. Tôi ghi chép đủ các loại hình này để viết được một phóng sự “đánh bạc ở Ma Cao” sau này. Có điều là, tuyệt đối người ta không cho chụp hình trong các sòng bạc. Các cô gái Đông Âu, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bun-ga-ri dạt sang Ma Cao làm nghề mại dâm và mùa xếch-xi thời điểm đó rất nhộn nhịp. Trò đời, cái rủi bao giờ cũng đi liền với cái may. Nhờ phải ở lại Lãnh sự quán ta tại Quảng Châu, tôi lại làm quen được với ông Tổng lãnh sự. Ông là người Thái Bình, từng họ ở Trung Quốc, có máu mê văn nghệ. Trên bàn của ông có hàng xấp báo Văn nghệ của Hội Nhà văn. Khi biết tôi là nhà báo, lại biết được tên ông vủi vẻ bắt tay tác giả của nhiều bài bút ký về ĐBSCL ký tên tôi. Ba ngày ở lại Quảng Chau thật không uổng. Tôi thu thập được nhiều thông tin về thành phố này và Hồng Kông qua ông Tổng lãnh sự. Tôi còn lê la gặp được nhiều Việt kiều trên 50 tuổi. Ngày nào tôi cũng thấy họ đến rửa tách chén, lau nhà cho tòa Lãnh sự. Hỏi ra mới biết đó là hai anh em ruột lưu lạc sang Quảng Châu đã mấy chục năm. Cả anh và em đều lấy chồng lấy vợ người bản xứ, nhưng vì nhớ quê hương nên ngày nào cũng đến Lãnh sự quán VN lau sàn, dọn dẹp như làm việc nhà. Tôi lân la hỏi, được biết con cái họ đã lớn, không nói sõi tiếng Việt, nhưng chúng đã từng về Quảng Ninh tìm họ hàng, dẫu chưa gặp. Có đứa còn vào tận Sài Gòn để tìm. Thế mới biết, cái tình quê hương xứ sở của người Việt ta thật sâu nặng. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 18, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/18/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-38/#more-7806 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 39): https://www.minds.com/newsfeed/1019891114827108352?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 37): https://www.minds.com/newsfeed/1019890601192230912?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
27 views ·