LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 37) Lại nói về bữa nhậu với ông Sáu Phan tại Ban Kinh tế trung ương ở Hà Nội năm đó. Chúng tôi lai rai cho đến xế chiều. Trước khi chia tay, Sáu Phan bảo tôi: – Muốn nhờ Phú Khải một việc! Tôi nghe lạ tai quá nên vặn lại: – Ai đời một ủy viên BCT lại phải đi nhờ một công dân hại hai ngoài Đảng bao giờ? Nhưng Sáu Phan quả quyết: – Việc này phải nhờ Phú Khải mới xong! Đại để là Sáu Phan nhờ tôi nói với Tổng Biên tập SGGP Vũ Tuất Việt xóa nợ cho nhà thơ Nguyễn Bá ở Cà Mau vì vay tiền của báo SGGP mở xưởng làm giấy rồi vỡ nợ, không trả được phải đi tù(!) Sáu Phan nhấn mạnh, ông thân với Tuất Việt, nói với nó xóa nợ cho Nguyễn Bá. Ông còn nói: – Ai lại bỏ tù một nhà thơ bao giờ. Thả Nguyễn bá ra để nó đi làm ăn mới có tiền mà trả nợ chớ… Tôi nghe Sáu Phan nói thấy rầu quá! Rõ ràng tư duy của ông là tư duy tình cảm, tư duy đức trị giữa lúc người ta thực thi Pháp trị (tất nhiên là chỉ thực thi Pháp trị với những người như Nguyễn Bá và với dân đen). Tuất Việt đâu phải là tòa án mà tha bổng cho Nguyễn Bá được. Với lại báo Sài Gòn Giải Phóng là báo quốc doanh, đâu phải báo tư nhân của riêng Tuất Việt mà Tuất Việt có thể xóa nợ để cứu Nguyễn Bá khỏi tù tội. Chính cái tư duy đức trị bảo thủ này đã làm hại Sáu Phan. Khi ở Cần Thơ, Hậu Giang, Sáu Phan là một “anh Hai Nam Bộ” thứ thiệt, cởi mở, phóng khoáng, tư duy tân tiến. Ông nổi tiếng là một người giản dị, dễ gần. Ông có thể tì giấy lên đùi để ký vào một văn bản cho một cán bộ cấp dưới ngay trên hè phố để giải quyết một công việc gấp. Ấn tượng rất mạnh của tôi lần đầu tiên gặp Sáu Phan là, ông chủ tịch một tỉnh lớn nhất đồng bằng này đạp xe đạp vào một tận một ngõ hẻm để thăm tôi tại Cần Thơ. Ngay tại buổi gặp đầu tiên ấy, ông bàn với tôi là phát động một cuộc tuyên truyền trên báo chí cho một năm lấy tên là “Năm văn hóa xã hội” của Hậu Giang. Trong năm văn hóa xã hội đó, sẽ vận động các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu lương thực dành một phần tiền trong quĩ giao tiếp được nhà nước cho phép, chỉ vài phần trăm nhưng rất lớn để xây trường học, trạm xá, làm đường cho vùng sâu, vùng xe của Hậu Giang. Trong cuộc họp báo có mời cả các nhà báo và văn nghệ sĩ ở TP. HCM xuống để tuyên bố mở đầu năm VNXH. Đêm hôm trước, ông còn bàn riêng và hỏi tôi, để thực hiện tiết kiệm, mỗi người dự tiệc chỉ một lon bia thôi có được không? Tôi bảo: – Nên 3 lon, thằng nào không uống được thì thằng khác nó gánh, thế cho vui vẻ, không nên tiết kiệm quá, nhất là có anh em từ xa đến. Ông đồng ý ngay, còn khen tôi là “sâu sắc”! Về việc đi tù của nhà thơ nổi tiếng của Miền Tây Nam Bộ một thời là Nguyễn Bá, vì vay tiền tỷ để mở xưởng kinh doanh làm giấy, nhưng báo nào năn nỉ xin mua chịu giấy, Nguyễn Bá cũng cho chịu nên vỡ nợ, phải đi tù. Chuyện ông nhà thơ mở xưởng làm giấy này ở Việt Nam chẳng khác nào chuyện ông nhà văn Banzăc ở bên Tây năm xưa, cũng mở xưởng in, kinh doanh được ít lâu là vỡ nợ, phải đi trốn nợ ở lầu 5 một căn nhà phố xép tại Paris. Sau này, chính quyền Paris có mua lại cả căn nhà có phòng Banzăc đã trốn nợ ở đó để làm bảo tang Banzăc! Còn ở nước ta thì hai ông Ủy viên BCT đều tìm cách can thiệp cho một nhà thơ nổi tiếng vì kinh doanh thua lỗ mà phải đi tù(!) Nhưng ông Sáu Kiệt thì khôn ngoan hơn ông Sáu Phan nhiều. Ông đã đến thăm tù nhân Nguyễn Bá với tư cách một công dân nhưng đang “mặc áo” thủ tướng, chỉ thăm thôi, không can thiệp gì cả. Vậy mà ít lâu sau, Nguyễn Bá được ra tù với nhiều lý do, trong đó lý do chủ yếu là “đã cải tạo” tốt!!! Kể từ khi Sáu Phan ra Bắc làm quan to, tôi được nghe nhiều thông tin rằng, ông được các vị ở Hà Nội quí mến lắm vì tính tình giản dị, cần kiệm, chan hòa với mọi người, đặc biệt ông Tổng Bí thư Đỗ Mười rất tín nhiệm. Từ khi biết tôi có quan hệ thân tình với Sáu Phan, cô Tuyết mỗi lần có dịp gặp đều thông tin cho tôi về Sáu Phan. Có lần cô nói, bác Đỗ Mười nhận xét: – Thằng Sáu Phan cho vào cối giã nó cũng không chết! Một lần khác cô lại nói, bác Đỗ Mười bào: – Kỳ này để thằng Sáu Phan làm TBT để khỏi mang tiếng là cứ cái chức TBT phải do thằng Bắc Kỳ nắm!!! Tôi còn được nghe cố vấn Nguyễn Văn Linh luôn đi vận động cho Sáu Phan lên làm Thủ Tướng. Nghe được những chuyện như thế, tôi thấy lo. Được những ông đại bảo thủ, giáo điều, u mê, lú lẫn như thế mà khen thì chắc là Sáu Phan hỏng rồi(!). Đúng là “gần mực thì đen” như các cụ ta nói! Nhưng đó là suy luận theo logic, còn biến động của tư duy lại phức tạp. Engel từng nói, mọi sự vật đều biến động liên tục và vận động trong thời gian và không gian, trong các vận động đó, vận động của tư duy là phức tạp nhất. Nếu ông Sáu Phan lên nắm các chức vụ chủ chốt trong Đảng như người ta dự đoán thì chưa biết là rủi hay may cho đất nước này, cho Đảng Cộng sản này. Tôi nói vậy vì trước Đại hội 8 tôi có ra Hà Nội. Mỗi năm tôi thường ra một lần như thường lệ. Trước khi về tôi có đến thăm Sáu Phan, tôi nói: – Ra Hà Nội lâu rồi, trước khi về đến thăm ông Sáu. Sáu Phan nói: – Tôi biết ông ra lâu rồi và toàn đến chơi các “thứ dữ”, giờ mới đến chơi tôi. Thì ra Sáu Phan đã biết tôi ra Hà Nội và đi những đâu. Tôi đành “thú nhận”: – Tôi vừa đến chơi Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Kiến Giang, Dương Thu Hương. Sáu Phan nói: – Thế là tốt. Mai mốt tôi làm việc (ý nói làm lớn hơn) phải nhờ ông làm cầu nối để tôi gặp các vị đó, đối thoại với anh chị em. Ông còn khoe: – Tôi là người bảo lãnh để anh Phan Đình Diệu tham gia Mặt trận Tổ quốc, trong khi các vị khác phản đối ầm ầm. Sáu Phan đã nghĩ đến đối thoại với những người tôi vừa kể trên từ những năm đó thì không thể xem thường ông ta được (Sáu Phan còn sống đó). Trên chính trường, sự im lặng chờ đợi đôi khi cần thiết hơn là sự bộc lộ quan điểm rõ ràng mà sớm quá. Người Phương Tây có câu ngạn ngữ: “Ai nói đúng sớm quá là sai lầm” (Ceuy qui ont raison trop tot, on tort). Khi ông Sáu Phan thất sủng, bị khai trừ ra khỏi Đảng vì lý do như thông báo của Đảng CSVN đến từng chi bộ, tôi là một trong những người đến thăm ông sớm nhất tại số nhà 14, đường Nguyễn Trãi, Cần Thơ. Ông rất cảm động và còn đưa tôi vào buồng, giới thiệu tôi với bà vợ đang bị bệnh nằm đó: – Đây là anh Khải ở báo Nhân Dân đến thăm tôi! Sáu Phan ít nghe đài, đọc báo là chủ yếu nên cũng như nhiều người, vẫn đinh ninh tôi ở báo Nhân Dân. Và chính vì sự nhầm lẫn này đang gây cho tôi nhiều chuyện rất vớ vẩn(!) Một lần chín giờ đêm rồi, tôi còn được cơ quan mang đến cho một bao thư to, đề ngoài người gửi là Văn phòng Chính phủ, người nhận là Lê Phú Khải, địa chỉ báo Nhân Dân. Thấy đúng tên mình, tôi bóc thư ra xem thì nội dung đại ý Văn phòng CP đã nhận được đơn của nhà báo Lê Phú Khải, kiện ông Trương Tấn Sang đã bắt con ông đi nghĩa vụ quân sự không đúng luật v.v. Tôi biết ngay là người ta lộn tôi với ông Trần Quốc Khải ở báo Nhân Dân nên sáng hôm sau tôi phải phóng xe tới 40 Phạm Ngọc Thạch trao trả lại thư cho báo Nhân Dân. Đến dịp 30-4-1995, sắp kỷ niệm 20 năm ngày thống nhất đất nước, tôi được cử đi phỏng vấn Chủ tịch TP HCM Trương Tấn Sang. Cuộc phỏng vấn xong, ông Sang vỗ vai tôi bảo: – Thôi chuyện cũ kiện cáo nhau, bỏ qua nhé! Tôi ngạc nhiên quá và vụt nhớ ra là vụ kiện ông Sang của ông Trần Quốc Khải ở báo Nhân Dân mấy năm trước. Vậy là VPCP cũng gửi cả công văn thông báo vụ kiện cóa đó cho Chủ tịch TP. HCM Trương Tấn Sang. Tôi phải giải thích sự nhầm lẫn này cho ông Sang hay. Cả hai chúng tôi đều cười! Công bằng mà nói, ông Sang là một người tử tế. Nếu ông nhỏ nhen mà thù ghét tôi thì thiếu gì cách để ông “trị” tôi! Chưa hết, một lần tôi xuống một huyện xa của Sóc Trăng công tác, tối đêm rồi còn có người gõ cửa phòng, yêu cầu tôi hoàn trả lại số tiền tạm ứng nhận viết một cuốn tiểu thuyết cho huyện mà đã mấy năm không thấy tiểu thuyết ra đời! Tôi lại biết ngay là nhầm tôi với ông Trần Quốc Khải. Còn nhiều chuyện rắc rối do ông Trần Quốc Khải, nổi tiếng là “hâm” trong làng báo VN này gây cho tôi. Chuyến thăm Sáu Phan vừa bị “tai nạn” chính trị đó, tôi thấy ông tỏ ra không buồn rầu, bi quan gì cả, ông chỉ than phiền: – Tôi chẳng khai báo gì cả, nó vặn cả răng tôi đây này – Ông chỉ vào hàm răng của mình – Nhà thơ Viễn Phương và nhà văn Sơn Nam bị tù và giam cùng xà lim với tôi hai vị đó đều là bạn của Phú Khải, thử hỏi hai người đó xem tôi có khai không? Viễn Phương viết thư cho anh Mười (Đỗ Mười – LPK) minh oan cho tôi, thư của hắn còn đem ra phường công chứng chữ ký nữa, trước khi gửi đi Hà Nội. Tôi suýt bật cười khi nghe Sáu Phan nói “đem ra phường công chứng chữ ký”. Ở cái thời buổi “kim tiền” này, người ta đi công chứng chữ ký của các đại ca, đại gia ai mà đi công chứng chữ ký của nhà thơ, vậy nhà thơ có giá thế sao? Về Sài Gòn rồi, tôi nhân danh chuyên viên của cơ quan, làm giấy mời nhà thơ Viễn Phương đến số 7 Nguyễn Thị Minh Khai, nơi cơ quan tôi đóng để phỏng vấn nhà thơ về tình hình thơ ca miền Nam!!! Tôi phải “mở ngoặc” nói rõ về cái chức danh “chuyên viên” của tôi. Không hề có chức danh này ở cơ quan báo chí, chỉ có phòng viên, biên tập viên mà thôi. Nhưng vì lúc đó tôi đã 55-56 tuổi, có tên trên nhiều tờ báo của cả nước, là tác giả của hàng chục đầu sách, được mời đi giảng ở nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, lớpp trung học, đại học báo chí mà ở cơ quan thì viết một cái tin ngắn củng phải trình cho cấp phó phòng, trưởng phòng duyệt theo qui chế. Kẻ ngồi duyệt được thiên hạ bình luận là trình độ “dân phòng”, nên nó chướng quá. Giám đốc cơ quan thường trú Đài Tiếng nói VN tại Tp HCM là Đào Quang Cường lúc đó liền sáng kiến ra chức danh “chuyên viên”. Ông tuyên bố với cơ quan tôi là chuyên viên, làm việc trực tiếp với giám đốc, khi nào giám đốc yêu cầu thì đến, không phải làm việc 8 tiếng ở cơ quan. Thế là tôi được ở nhà để “nghiên cứu”!!! Phỏng vấn qua loa nhà thơ Viễn Phương, và sau đó không quên gửi ông cái nhuận bút ở mức cao nhất của qui định trả nhuận bút nhà nước ban hành, tôi mới hỏi nhà thơ rất đáng kính này: – Tôi nghe nói cái thư anh minh oan cho anh Sáu Phan gửi cho ông Đỗ Mười, anh còn cẩn thận đi công chứng chữ ký Viễn Phương phải không? Viễn Phương trừng mắt qua cặp kính trắng nói gọn lỏn: – Có chứ! Có chứ!!! Sở dĩ những người như tôi, còn dám “… nán lại cái phút giây cực lực, để sống thêm ít phút nhọc nhằn trên cõi đời ôn trọc này…” (Sêchxphia) là vì còn những người “ngây thơ” như nhà thơ Viễn Phương. Chắc chắn ông Viễn Phương mà đi buôn bán, kinh doanh thì lại vỡ nợ, vô tù hoặc phải đi trốn nợ như ông Nguyễn bá và ông Banzăc mà thôi! Từ khi Sáu Phan “về vườn” ở Cần Thơ, tôi thường hay lui tới chơi với ông. Vì thế có lần ông bảo tôi: – Ở cái tỉnh Cần Thơ này, nhiều cán bộ bảo tôi chơi thân với Phú Khải, tôi bảo chúng nó “thì hai thằng ngoài Đảng chơi với nhau là đương nhiên”! (Sáu Phan lúc đó đã bị khai trừ Đảng). Vậy mà ngày Mùng Hai Tết Quý Tỵ 2013 vừa qua, tôi đến chúc Tết… ông còn than với mọi người có mặt lúc đó tại nhà ông: – Lúc tôi là Ủy viên Bộ Chính trị, tôi bảo Phú Khải để tôi giới thiệu Phú Khải vào Đảng, tôi mà giới thiệu thì chi bộ nào nó chả kết nạp, vậy mà Phú Khải không nghe. Bây giờ vẫn là người ngoài Đảng(!). Thế đó. Sáu Phan là bi hay hài xin bạn đọc suy xét hộ tôi. Chuyện về Sáu Phan còn dài dòng lắm, nếu tôi là một tiểu thuyết gia, có thể có cả một cuốn truyện bi hài về ông và cả tôi nữa. Ví như cái thư ông gửi cho tôi năm 1995, được đạo diễn Trần Cương ở Đài Truyền hình VN tự tiện bóc ra, rồi đem đọc cho mọi người nghe, rồi anh ta rêu rao rằng: – Ai đời một ủy viên BCT đương kim mà lại đi nhờ một thằng ngoài Đảng, ba lăng nhăng như thằng Phú Khải góp ý “nhiều mặt khác cho Đảng”! Cái Đảng này nó đến ngày mạt rồi. Đi rêu rao chán, rồi anh mới đem lá thư đã bóc trả cho tôi. Tôi bảo anh: – Theo luật thư từ, nếu tôi kiện, anh phải 6 tháng tù giam! Trần Cương lại nhe răng cười! Trong làng báo ở Sài Gòn ai cũng biết, Trần Cương là anh chàng suốt đời bông phèng như thế, dù anh được đào tạo căn cơ ở Liên Xô về báo chí, nói Tiếng Nga như gió. Anh hơn tôi 2 tuổi. Cái thư Sáu Phan gửi cho tôi từ Hà Nội, dấu bưu điện trên bao bì thư đề ngày 15.4.1995 – 10000A, nguyên văn như sau: “Được anh gửi cho bài nói về 20 năm Đồng bằng Sông Cửu Long, tôi xem thấy hay, chụp gửi cho các anh lãnh đạo và Tiểu ban chuẩn bị văn kiện đại hội 8. Rất cần được anh góp ý nhiều mặt khác cho Đảng. Chúc anh, gia đình, bạn bè khỏe mạnh. Thân mến.” Ký tên Sáu Phan. Cái bài nói về “20 năm Đồng bằng sông Cửu Long” như Sáu Phan nhắc đến nó trong thư, tôi đã đưa báo SGGP đăng dịp 30.4.1995 trong hai số báo ngày 18.4.1995 và 19.4.1995. Cũng như quan hệ với ông Sáu Kiệt, tôi đi lại với Sáu Phan là nhằm tìm hiểu những vấn đề của ĐBSCL mà 2 ông đều là những cuốn từ điển sống về vùng quê sông nước này. Với đại đa số nhân dân và những người ngoài Đảng như tôi thì những đấu đá quyền lực nội bộ trong Đảng, người ta ít quan tâm. Vấn đề tôi quan tâm là những người lãnh đạo của đảng cầm quyền khi ở vị trí cao nhất, họ có quan điểm thế nào? Sẽ dẫn dắt đất nước đi về đâu? Nhân dân sẽ được lợi gì trong những chính sách họ ban hành ra? Xét từ tiêu chí đó thì việc đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Hà Phan còn bỏ ngỏ. Vì ông chưa được “làm việc” như ông đã nói với tôi. Còn những người đã được đảng cầm quyền giao việc, giao nhiệm vụ thì nhân dân đã rõ(!). (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 15, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/15/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-37/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 38): https://www.minds.com/newsfeed/1019890766294786048?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 36): https://www.minds.com/newsfeed/1019890181229154304?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 36) Nguyễn Hà Phan – Bi hay hài!? Đầu năm 1994, sau chuyến đi Điện Biên Phủ đầu tiên để giúp anh Tuất Việt làm số báo “SGGP – 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ”, tôi về Hà Nội và đến báo Nhân Dân gặp Mai Phong, trưởng ban bạn đọc của báo. Tôi bảo với Mai Phong, vừa đi Điện Biên Phủ về, có chai rượu hổ cốt, muốn rủ ông lên chỗ ông Nguyễn Hà Phan ở Ban Kinh tế chơi, gạ ông ấy kiếm ít mồi để nhậu. Anh cho tôi mượn cái điện thoại bàn của anh để gọi cho ông ấy … Mai Phong nhìn chai rượu của tôi, tuy có dán cái “mác” Lai Châu ở vỏ nhưng giá chỉ có 14.000 đồng. Phong nói: ông có đùa không thế, đang giờ làm việc mà đòi lên gặp Bộ Chính trị để nhậu! Không cần Mai Phong đồng ý, tôi nhấc điện thoại bàn của anh lên (hồi đó chưa có di động phổ biến như bây giờ) gọi cho ông Sáu Phan. Từ đầu giây đằng kia, ông Sáu Phan kêu tôi “lên ngay!”. Thế là tôi kéo Mai Phong lên số 10 Nguyễn Cảnh Chân, khu Ba Đình. Chỗ Sáu Phan ngồi làm việc là trường Albert Sarraut cũ thời Tây. Quen biết với ông Nguyễn Hà Phan từ lúc ông còn là Chủ tịch tỉnh Hậu Giang cũ, tôi từng được Tổng biên tập Tuất Việt ủy nhiệm làm đặc phái viên của báo SGGP để phỏng vấn ông nhiều lần. Và, tôi cũng hết sức ủng hộ tỉnh Hậu Giang về mặt thông tin tuyên truyền những chủ trương rất đúng đắn của tỉnh dưới thời ông Hà Phan. Vì thế, việc ông Sáu Phan gặp tôi ở Hà Nội là việc vui đối với ổng. Khi chúng tôi lọc cọc chở nhau bằng xe đạp đến nơi thì đã thấy Sáu Phan bày ra vài thứ đồ nhậu khô. Được vài tuần rượu, Sáu Phan rút thuốc ra hút. Đặc điểm lớn nhất, dễ nhận ra ở Sáu Phan là, ông hút thuốc liên tục, hết điếu này nối điếu kia. Sáu Phan mời tôi và Mai Phong hút thuốc. Thấy ông đưa thuốc “mác” “Con ngựa trắng” mời khác thì tôi lấy làm lạ nên hỏi: Khi xưa ông là quan đầu tỉnh mà hút toàn ba số (555) inter, nay lên quan nhất phẩm triều đình lại hút thuốc này sao? Sáu Phan than phiền: – Ra đây Ban Tài chính quản trị trung ương nó cho hút thuốc gì thì được hút thuốc đó. Tiếp khách cũng thế, đâu có được như ở nhà. Thấy thế, tôi bảo với anh Y, thư ký riêng của Sáu Phan đang ngồi gần đó: Nhờ anh bảo cô Tuyết ở Ban Tài chính qua đây tôi gặp. Y nói: – Ở Ban Tài chính có đến 3 cô Tuyết, nhà báo muốn gặp cô Tuyết nào? Tôi nói: muốn gặp cô Tuyết có chồng là ông Nguyễn Thanh làm bên Hải quan. Anh Y lập tức xua tay nói: – Cô Tuyết ấy là cấp trên của tôi, tôi không dám gọi. Tôi nói: – Thì anh cứ bảo cô ấy, có anh Lê Phú Khải ở miền Nam ra, muốn gặp cô ấy. Lát sau cô Tuyết xuất hiện. Cô em tôi (Tuyết là em họ tôi, con người chú thứ ba của tôi, là Lê Phú Ninh, quyền Chánh văn phòng Bộ Công an) rất vui vẻ: – Em chào bác! Bác mới ở miền Nam ra? Sao không báo em để em đem xe ra sân bay đón bác! Tôi cười nói: – Ra chơi với ông Sáu đây thôi có gì mà phải đón với rước! Sau đó tôi nói: Sao Ban quản trị lại bắt ông Sáu hút thuốc “Con ngựa trắng” thế này? Xưa kia ở Cần Thơ ông ấy toàn tiếp tôi bằng ba số cơ mà?! Cô Tuyết phân trần: – Ban TCQT chúng em liên kết với tỉnh Khánh Hòa sản xuất kinh doanh loại thuốc này, rồi bán lại cho Văn phòng trung ương. Văn phòng phân phối cho các bác ấy tiếp khách. Bác thông cảm! Cô Tuyết chỉ nói có thế rồi chào ông Hà Phan. Trước khi về, cô còn dặn tôi khi nào ra Bắc thăm bác Sáu, nhớ gọi điện để cô cho xe ra đón. Sở dĩ tôi đề nghị anh Y kêu cô Tuyết sang là có ý muốn giới thiệu với cô quan hệ thân mật của tôi với ông Hà Phan, để cô ấy “ưu tiên” cho “ông bạn” già của tôi. Vì tôi biết các vị như Hà Phan ở địa phương còn sướng hơn cả vua chúa ngày xưa. Nay ra triều đình xa vợ con, nước lọ, cơm niêu là khổ lắm, lại không quen biết ai. Các quan chức ở Hà Nội hết giờ làm việc là về trình diện các quan bà hết, không như ở miền Nam hết giờ là đi nhậu. Cỡ như Sáu Phan, ở Hà Nội lại càng cô đơn(!). Tuyết về rồi… Sáu Phan bảo tôi: – Biết đâu cô Tuyết là em ông. Ở đây cô ấy quan trọng lắm, tay hòm chìa khóa của trung ương là ở tay cô ấy!!! Lê Thị Tuyết sinh năm 1942, cùng tuổi với tôi. Cô sinh ra trong một gia đình đông con. Ông chú tôi có tới 7 người con, cô là thứ 2. Hồi nhỏ trong gia đình Lê Phú của tôi chỉ có tôi là cháu đích tôn là được cưng chiều từ nhỏ, còn các cháu nội của ông bà tôi từ bé đã rất vất vả vì các chú tôi đi cách mạng quanh năm! Gia đình phó thác cho các bà vợ. Cô Tuyết học hành chẳng được là bao, mười mấy tuổi cô đã phải đi gánh nước gạo cho mẹ nuôi lợn ở Bãi Giữa (Bãi Phúc Xá). Cô vào làm nhà nước, được vô nơi kín cổng cao tường này có lẽ là nhờ cái lý lịch “con nhà nòi”. Nhưng cô là người thông minh, có bản lĩnh và rất nhân hậu. Ở địa vị cao (Phó Ban Tài chính quản trị trung ương Đảng), nắm vật chất của Đảng trong tay nhưng cô thẳng thắn, khiêm nhường, tận tụy với công việc, và rất công bằng trong mọi sự phân chia của cải nên được cán bộ công nhân viên của Ban Tài chính quản trị trung ương và Văn phòng trung ương Đảng quí mến. Ngày cô mất, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã gởi một bức thư dài, chia buồn với gia đình cô. Bức thư ấy tôi đã được đọc. Những lời của Đại Tướng thật chân tình, những đánh giá của Đại Tướng về cô không công thức, giáo điều như mọi nghi thức với một người đã chết mà người ta thường thấy. Những điều ông viết làm người ta phải ngạc nhiên về nhận xét của một nhân vật lớn của đất nước đối với một cán bộ nhân viên bình thường: “Chị Tuyết ra đi để lại một tấm gương sáng của một người cán bộ hết lòng làm tròn nhiệm vụ, một người phụ nữ mẫu mực về lối sống và đạo đức cách mạng. Ký tên Võ Nguyên Giáp”. Lá thư đề ngày 22/2/1999 – Hà Nội. Riêng đối với tôi, tuy chúng tôi là anh em cùng dòng tộc nhưng ở xa, ít tiếp xúc. Tuy vậy, cô Tuyết có cách cư xử mà tôi cho là chính xác, thông tuệ. Cô biết thừa tư tường “bất đồng chính kiến” của tôi với chế độ mà cô là một quan chức có hạng. Có lần tôi từ miền Nam ra Bắc, đến thăm nhà đấu tranh dân chủ nổi tiếng Nguyễn Kiến Giang nào ngờ lại gặp đúng lúc nhân viên an ninh chuyên theo dõi Nguyễn Kiến Giang đang ngồi ở nhà ông. Anh Kiến Giang liền giới thiệu: – Đây là nhà báo Lê Phú Khải, thường trú của Đài TNVN ở miền Nam ra chơi. Tay an ninh này vốn có tính đa nghi cố hữu của nghề nghiệp nên nghi ngờ tôi ra Bắc để móc nối với Kiến Giang, mời Kiến Giang vào Sài Gòn dự một cuộc hội thảo về dân chủ do một nhóm trí thức Sài Gòn sắp tổ chức. Thế là họ đã lần ra quan hệ họ hàng từ hai chữ “Lê Phú”. Họ đến gặp Lê Quân, em họ, con ông chú thứ 3 của tôi là Lê Phú An, cậu ta là công an an ninh văn hóa để xác minh về nhân thân của tôi. Sau đó, gặp cô Lê Thị Tuyết để nhờ cô khuyên giải tôi đừng quan hệ với “phần tử xấu” Nguyễn Kiến Giang – người từng là cán bộ lãnh đạo của Nhà xuất bản Sự Thật(!). Nhưng cô Tuyết là một người phụ nữ thông minh, hiểu nhẽ đời, cô không hề nói gì với tôi cả, vì biết rõ nói tôi cũng chẳng nghe. Và cũng biết rõ tôi chẳng có gì xấu cho dù là chơi với ông Kiến Giang. Vài năm sau, gặp vợ tôi ra Hà Nội chơi, cô mới kể lại câu chuyện cậu công an gặp cô nói về tôi mấy năm trước. Cô cũng chẳng có lời khuyên nào với tôi nhắn qua vợ tôi, trái lại khi vợ tôi than: – Ở địa phương, cán bộ lãnh đạo khốn nạn lắm, chỉ lo đấu đá quanh năm thì cô nói: – Chị cứ nhân lên 1000 lần sự khốn nạn của địa phương, nó sẽ là trung ương! Cô em tôi là như thế. Với những người như ông anh họ của cô là tôi, cô “chơi bài ngửa”! không nói thì ông anh cũng biết, nên cô không cần giấu. Và cô cũng biết, chẳng ai giấu gì được lịch sử! Trong một xã hội như thế, cô phải sống và cô sống tử tế, chân thực với mọi người. Với địa vị ấy, cô phải lo bố trí nhà ở, xe cộ đi về, đến cả chăn mền quần áo cho các vị quan to ở trung ương. Có lẽ vì thế mà cô biết rõ nhân cách của từng vị trong Bộ Chính trị qua những việc cụ thể, đời thường. Khi tôi còn làm phóng viên của Đài Truyền hình VN, có lần gặp tôi, cô nói: – Em thấy các phóng viên của Đài Truyền hình hay sang Văn phòng trung ương nhờ bọn em gọi điện từ Văn phòng trung ương qua đài, đề nghị với giám đốc Đài cử họ đi tháp tùng thủ tướng đi nước này, nước nọ. Em chẳng thấy bác sang bên chúng em bao giờ! Tôi nói ngay: – Tôi rất sợ phải đi tháp tùng một vị Thủ tướng vô tích sự như ông Phạm Văn Đồng!!! Cô em tôi cười rất tươi khi nghe tôi nói thế! Lúc ông Hoàng Văn Hoan (HVH) bỏ trốn, tôi cũng đang công tác ở Đài Truyền hình. Báo đài lúc đó la ầm lên là ông HVH phản bội, dấu hiệu phản bội đã thấy rõ từ lâu(!). Gặp tôi cô Tuyết nói ngay Bác Hoan chẳng phản động gì cả. Khi họp Bộ Chính trị, bác Lê Duẩn nói thì các bác Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp cứ cắm đầu xuống mà nghe, không dám ngẩng đầu lên, không ai dám nói nửa lời, chỉ có bác Hoan làm dám đập bàn cãi lại, cãi nhau tay đôi(!) Về trường hợp Hoàng Văn Hoan, tôi cũng được một lần tướng Qua kể như sau: – Ở Hội nghị Geneve, khi Phạm Văn Đồng kêu ai làm việc thì người đó run lắm, lo chuẩn bị tối ngày, chỉ có ông Hoan là ung dung tự tại hai tay đút túi quần, ra sân đá banh cho đến lúc gặp Phạm Văn Đồng! Về cái chuyện các phiên họp của Bộ Chính trị thì rất khôi hài. Cô Tuyết kể với vợ tôi: – Đến em cũng không được vào phục vụ mà chỉ có quyền chỉ huy các nhân viên vào phòng họp phục vụ bưngbê, Các nhân viên đó phải được tuyển lựa từ Cao Bằng, Lạng Sơn về, toàn dân tộc thiểu số để họ không quen biết ai ở Hà Nội, biết gì họ cũng không có ai để mà nói. Cô Tuyết hóm hỉnh nói với vợ tôi: – Nhưng chị lạ gì, con gái thì nó phải hành kinh hàng tháng. Khi hành kinh đứa nào cũng muốn thủ trưởng cho nghỉ nhiều, thế là nó phải nịnh em. Mà muốn nịnh em thì chỉ có cách nghe được cái gì trong cuộc họp BCT thì ghé tai em nói nhỏ để làm quà! Đứa nào cũng thế. Vì thế họp gì, nói gì em đều biết hết. Thời Lê Duẩn thì Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ, đến sau này thì cá mè một lứa, Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải rằng, mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi. Họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó! Cái thời ông Trần Xuân Bách đưa ra lý thuyết đa nguyên, cô Tuyết còn kể với vợ tôi: – Trong Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống. Bánh kẹo, nước ngọt bày la liệt nhưng chẳng ai dám đụng vô một miếng. Thế là bọn nhân viên của em nó tha hồ bóc ra để cuối cuộc họp chia nhau vui như tết!!! Có lần cô Tuyết kể trực tiếp cho tôi nghe, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ: – Thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách cả mền, lòi cả bông ra thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói: – Tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế. Tối qua, bông nó xổ ra, bay tứ tung làm ông ấy ho suốt đêm nên sáng nay mới bảo tôi đem đổi!!! Chẳng những lo nhà, lo xe, cô còn lo chia quà Tết cho trung ương nữa. Số là, những năm bao cấp, mỗi lần ra họp trung ương, các tỉnh phía Nam còn đem cả tấn gạo ngon, hàng tạ tôm, cá khô ra biếu trung ương ăn Tết. Thế là cô phải thức cả trưa, cả tối để lo chia quà và đem đến từng nhà các vị trung ương. Lo vật chất, cô Tuyết còn phải lo cả chuyện “tình cảm” cho các vị đó. Cô kể: – Khi bà vợ hai của Lê Duẩn báo sẽ ra Bắc, thì lập tức cô phải điều bác sĩ đến khám sức khỏe cho bà cả. Rồi theo kịch bản, bác sĩ la lối lên “sức khỏe chị Cả kém lắm rồi, phải đi Tam Đảo nghỉ ngơi!!! Khi bác sĩ đến khám, có cả hai nữ công an mặc quân phục, đeo súng bên hông rất oai để “bảo vệ” chị Cả đi Tam Đảo an dưỡng. Thấy mình oai quá, chị Cả đi liền. Thế là tối đó, đưa Tổng bí thư lên biệt thự ở Hồ Tây, chị Hai từ Sài Gòn ra, xuống sân bay là đưa thẳng tới biệt thự! Có lần cô còn tố cáo với vợ tôi: Lê Duẩn tàn độc lắm, có lần ngủ với cô y tá được cử tới để đấm bóp cho ông ta. Sau khi ngủ xong với cô y tá này, ông ta ra hiệu phải. Cô Tuyết nói nguyên văn với vợ tôi: – Em là phụ nữ, có chồng có con, lại theo đạo Phật, không bao giờ em làm điều thất đức. Lê Duẩn là như vậy. Cuộc tắm máu đồng đội của Lê Duẩn ở Tết Mậu Thân là tội ác trời không dung, đất không tha. Biết là lộ, là thua rồi vẫn cứ lùa quân đi vào chỗ chết. Nhiều chiến binh ở Nam Bộ còn sống sót trong Tết Mậu Thân kể với tôi, quân ta đi đánh thì máy bay do thám của địch bay trên đầu, địch biết hết nên đánh đợt hai đi 100 về chỉ còn 1,2. Nếu chỉ đánh để làm tan rã ý chí xâm lược của Mỹ, để Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán như bọn bồi bút vẫn hô hoán về trận Mậu Thân 68 thì chỉ cần một mũi tấn công thọc sâu vào Sứ quán Mỹ như ý kiến của Tướng Giáp là đủ. Hơn ai hết, cô Tuyết ở nơi kín cổng cao tường này nên biết rõ mọi chuyện. Có lần Nguyễn Văn Linh thấy cô tận tụy với công việc phục vụ đã định đề bạt cô làm Trưởng ban Tài chính quản trị trung ương, nhưng cô từ chối với lý do là phụ nữ, không đủ năng lực làm lớn(!). Khi ông chú ruột tôi là Lê Phú Hào, đại diện Thông tán xã Việt Nam tại Paris, từng phục vụ Lê Đức Thọ – phiên dịch tiếng Anh – tại hòa đàm Paris, đầu năm 1980 ly khai, cư trú chính trị tại Pháp, thì lập tức ông Trần Xuân Bách, Chánh văn phòng trung ương Đảng, đưa vấn đề lý lịch của cô Tuyết ra xét, định vu cho cô là khai man lý lịch vì Lê Phú Hào cũng là chú ruột của Lê Thị Tuyết. Nhưng nằm trong cái “tổ con tò vò” nên cô “rất thuộc bài” và “cao tay ấn”. Ngay ngày đầu tiên được tin chú mình trở thành “kẻ phản Đảng”, cô đã khai bổ sung lý lịch và nộp ngay cho tổ chức Đảng nên ông Trần Xuân Bách chẳng làm gì được cô! Cán bộ ở Ban Tài chính quản trị bình luận về sự việc này là vì cô Tuyết đã có lần dám phê phán cô thịnh – là vợ trẻ mới cưới của ông Bách, do cô này cậy thế chồng là ông lớn, lộng hành, vô kỷ luật(!). KGB của Liên Xô lúc đó đã gọi Thịnh là Giang Thanh của Việt Nam. Ông Bách trước kia cũng mù mờ như mọi ông trung ương, Bộ Chính trị khác, nhưng từ sau khi ông được trung ương giao cho nghiên cứu tình hình thế giới đang biến động, ông lập một đơn vị chuyên nghiên cứu, dịch sách báo tài liệu nước ngoài cho ông đọc. Đọc rồi ông thấy hoảng quá, tư tưởng ông có chuyển biến nên mới đề xuất đa nguyên, chỉ đa nguyên trong đời sống xã hội, trong tư duy thôi, chưa nói gì đến đa Đảng. Vậy mà ông đã bị khai trừ ra khỏi trung ương(!). Cô Tuyết cũng có lần kể cho tôi nghe những chuyện thật cảm động, như chuyện ông Hoàng Quốc Việt khi về hưu rồi, theo tiêu chuẩn vẫn được đi nghỉ mát Vũng Tàu (Cơ sở của Ban Tài chính Quản trị trung ương có ở tất cả mọi nơi trên đất nước). Nhưng tuổi già, đi một mình thì buồn lắm, nên ông Hoàng Quốc Việt đã đến xin với cô cho thêm một suất nữa cho ông bạn già của ông là cán bộ thường, không có tiêu chuẩn đi nghỉ Vũng Tàu từ Hà Nội cùng đi. Kể đến đây cô dừng lại rồi chép miệng nói: – Một vị khai quốc công thần như bác Hoàng Quốc Việt mà phải đến tận nơi, xin một cán bộ vô danh tiểu tốt so với công trạng của các bác như em thì buồn quá! Em giải quyết liền. Và từ đó, mỗi lần có bác cán bộ cách mạng lão thành nào đủ tiêu chuẩn đi nghỉ hàng năm, em đều hỏi bác có cần rủ một người bạn già nào nữa cùng đi cho vui không, để cháu giải quyết(!). Nhiều bác mừng lắm, vui như trẻ em. Cô Tuyết cũng nói với tôi về khó khăn trong việc thu hồi nhà công vụ và đồ đạc của Nhà nước khi các cán bộ cao cấp đã thôi làm việc. Cô ca ngợi, chỉ có bác Huỳnh Tấn Phát là ngay sau lúc nghỉ hưu đã gọi cô đến để trả lại ngôi biệt thự số 9, đường Nguyễn Đình Chiểu (nay là trụ sở Hội nhà văn). Bác Phát còn dẫn cô đi từng phòng, kiểm tra từng thứ đồ đạc của Nhà nước còn đầy đủ, nguyên vẹn như lúc nhận nhà sau đó mới trao chìa khóa ngôi biệt thự này cho ban TCQT trung ương. Nhớ lại chuyện cô Tuyết kể về bác Huỳnh Tấn Phát, tôi lại liên hệ đến lời ông Kiệt nói về lòng yêu nước của trí thức Nam Bộ “họ hy sinh cả một sự nghiệp, một điền trang lớn, vinh hoa phú quí” để đi kháng chiến vì yêu nước. Những người như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Lương Đình Của, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khắc Viện đi theo cách mạng không vì tài sản, vì xe hơi nhà lầu mà vì lý tưởng yêu nước cao cả. Còn kẻ khố rách áo ôm đi theo cách mạng thì sau khi cách mạng thành công, họ say sưa cấu xé nhau để tranh giành của cải, tiền bạc, say sưa tham nhũng rồi chính họ lại chết vì cuộc tranh giành đó. Xã hội Việt Nam hôm nay là dẫn chứng hùng hồn điều đó. Cách mạng Pháp 1789 nổ ra khi giai cấp tư sản đang lên, chính nhà vua Louis 16 đã phải vay tiền của các chủ nhà bang để trang trải nợ nần cho triều đình. Giai cấp tư sản chỉ dựa vào sức mạnh bạo lực của đông đảo nông dân đói khổ để lật đổ bọn phong kiến và tăng lữ, sau đó nắm lấy chính quyền, nâng cấp xã hội Pháp từ phong kiến lạc hậu lên xã hội công nghiệp tiên tiến. Bi kịch của cách mạng vô sản là kẻ khố rách áo ôm, dốt nát lại lên nắm quyền. Để che đậy cho sự dốt nát đó, Việt Nam hiện nay có biết bao ông tiến sĩ, giáo sư đã được học tắt, học “đón đầu”, mua bằng giả. Sự dốt nát của đám “trí thức” cận thần này đang làm trò cười cho cả thế giới đã internet hóa mà trường hợp của đại tá giáo sư tiến sĩ Trần Đăng Thanh là một điển hình chẳng kém gì các nhân vật điển hình trong văn học như Chí Phèo, Thị Nở!!! (Còn tiếp) ----- Posted on Tháng Mười Một 12, 2016 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/12/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-36/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 37): https://www.minds.com/newsfeed/1019890601192230912?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 35): https://www.minds.com/newsfeed/1019889486904070144?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
19 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 35) Võ Viết Thanh Một buổi sáng đẹp trời 2008, Võ Viết Thanh (VVT) đem xe đến rước tôi đi Bến Tre với anh. Thanh sinh năm 1943, kém tôi một tuổi, anh khiêm tốn gọi tôi là anh và xưng em. Tôi không hình dung nổi, một con người từng vào sinh ra tử, 17 tuổi đã ngồi tù, dày dạn trên chính trường, bất khuất và gang thép như Võ Viết Thanh lại có dáng vẻ nho nhả, ăn nói từ tốn khiêm nhường như thế. Hôm đó anh nói với tôi, anh vừa xin được một người bạn ngoại quốc trong lúc đánh gôn một số tiền để làm “xóa đói giảm nghèo” cho quê Bến tre của mình. Anh còn than: “Em dại quá, người bạn này hỏi cần bao nhiêu. Em nói 90.000 đô, anh ta gật liền. Bây giờ thấy tiếc, biết thế nói 200.000 có hơn không!” Tôi bảo VVT: – Ông tham quá, thế là tốt rồi. Trên xe hôm đó còn có một anh chàng Singapore gốc Hoa, nói tiếng Việt bập bẹ vì đã ở Việt Nam lâu năm. Anh chàng này chừng ngoài 50 tuổi, luôn mồm than “nước Singapore chúng tôi hẹp! Việt Nam lớn quá!”. Quả thật sau này tôi có đi Singapore và thấy cái nước này không rộng bằng huyện Giồng Trôm quê Võ Viết Thanh. … Sau khi làm việc với huyện, với xã, Thanh đưa tôi về nhà anh ở xã Lương Phú. Cảnh sắc quê anh rất thanh bình, êm ả. Mỗi nhà ở trong một vườn dừa rộng mênh mông, mát rượi. Có những cây dừa già nằm ngả xuống đất, muốn đi qua phải bước qua thân dừa mà chủ nhà cũng không muốn chặt. Có lẽ vì nhiều dừa quá. Ở miền Bắc ít đất, vườn nhà thường hẹp, vì thế mỗi lần vô một miệt vườn như ở Bến Tre, tôi cứ thơ thẩn ngắm vườn. Điểm nhất của chuyến đi này mà tôi không bao giờ quên là trước khi vô nhà ăn cơm, Võ Viết Thanh đưa tôi ra viếng một ông bà già anh. Mộ chí được xây cất ngay trong vườn. Võ Viết Thanh thành kính thắp nhang cúi lạy cha mẹ. Tôi đọc rất kỹ trên bia, hai cụ Võ Văn Nhuận và Phạm Thị Giang đều chết cùng ngày, cùng giờ, 20 giờ ngày 26/8/1962. Thanh nhìn tôi, nói trong uất ức: Một toán lính của chế độ Ngô Đình Diệm, đứng đầu là tên Tổng Giám đồn Long Phú đã giết cha mẹ tôi trên đất này, phía bờ sông kia, ai cũng biết, cả xã, cả huyện này đều biết. Vậy mà “bọn họ” lại bảo là cha mẹ tôi bị cách mạng giết. Tôi không quên nhờ anh bạn Singapore đi cùng chụp cho tôi và Võ Viết Thanh một tấm hình hai người ngồi bên một chí của các cụ thân sinh ra VVT. Bức hình tôi đội mũ nồi, Võ Viết Thanh để đầu trần, vầng trán rộng mênh mông tôi còn giữ làm kỷ niệm. “Bọn họ” mà VVT nói ở đây chính là Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê trước Đại hội Đảng lần thứ 7, lập án giả định hại Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong vụ án “Bà Sáu Sứ” tai tiếng cả nước, được giao cho Võ Viết Thanh với tư cách là Thứ trưởng Bộ Công an lúc đó đi điều tra và kết luận theo “hướng của trên”, nhưng Võ Viết Thanh đã không làm theo ý họ. Thanh đã điều tra đúng người, đúng tội, tôn trọng luật pháp nên sau đó họ không làm gì được Võ Viết Thanh, bèn nghĩ ra cái “võ” điều tra lại lý lịch của Thanh theo đơn tố cáo và gạt Thanh ra khỏi chính trường. VVT còn nói cho tôi rõ, theo nguyên tắc thì anh đã là Ủy viên Trung ương nên khóa Đại hội 7 đương nhiên anh được dự. Thanh còn cho biết, khi được phát phiếu bầu ủy viên trung ương khóa mới (7), cái phiếu ghi tên anh chỉ để trắng, không kèm theo chức vụ ủy viên trung ương khóa 6, như mọi ủy viên trung ương khác tái cử. Anh thắc mắc thì Ban tổ chức nói là: – Lỗi in ấn!!! Thanh nói: Tôi định cầm cái lá phiếu ghi tên mình xông thẳng lên diễn đàn và giơ lá phiếu ấy lên để tố cáo sự gian lận này trước toàn thể đại hội, nhưng nghĩ lại nếu làm thế là tôi đã phá cả đại hội, nên tôi thôi!!! Cô Võ Thị Cẩm Hồng, em ruột của Võ Viết Thanh, khi còn ở Sở Công an Tiền Giang, đã nói với tôi ngay từ năm 1991, lúc đó tôi cũng còn đang thường trú tại Mỹ Tho rằng: Khi là Thứ trưởng Bộ Công an, lúc lấy phiếu tín nhiệm, anh Bảy Thanh được phiếu cao nhất, vậy mà trước Đại hội 7, em thấy anh Tư Bốn (tức trung tướng Nguyễn Việt Thành sau này), Giám đốc Sở gọi em lên bảo khai lại lý lịch thì em biết ngay anh Bảy Thanh của em ở Bộ Công an ngoài Hà Nội đang gặp nạn rồi. Em còn lạ gì cái trò bày đặt đơn tố cáo để bắt khai lại lý lịch, kiểm tra tư cách đại biểu trước Đại Hội, để trì hoãn, để loại trừ nhau trước một Đại hội Đảng. Sau một ngày về Bến Tre, lúc đó cầu Rạch Miễu qua sông Tiền sang Bến Tre còn chưa được bắc nên lúc về đến Sài Gòn đã tối lại kẹt đường, ngồi trên xe buồn quá Võ Viết Thanh còn đọc cho tôi nghe mấy câu thơ của Verlaine. Tôi hỏi: ông cũng đọc được tiếng Pháp à? Thanh kể: Anh có xem phim “Ván bài lật ngửa chưa?” Trong phim có đoạn tỉnh trưởng Bến Tre lúc đó là Phạm Ngọc Thảo có gọi một thanh niên 17 tuổi đang ở tù ra hỏi cung, ông tỉnh trưởng chỉ hỏi vài câu lấy lệ rồi sau đó thả người thanh niên này ra. Người đó chính là em. Lúc đó em vừa học xong trung học ở Bến Tre. Hai năm sau cái ngày anh đưa tôi về Bến Tre, Võ Viết Thanh sai cô em Võ Thị Cẩm Hồng lúc này đã lên Sài Gòn làm ở báo Công an TP. HCM đến đưa cho tôi một cuốn sách dầy, khổ lớn, bìa cứng do Nhà xuất bản QĐND, xuất bản 2010 có tên là “Bến Tre đồng khởi anh hùng”. Cùng với cuốn sách đó là một cái đĩa ghi và một lá thư ngắn. Nguyên văn lá thư đó như sau: “Kinh gửi anh Lê Phú Khải, xem lại cho vui những chuyện đã qua của một gia đình và con người. Kính thăm anh và gia đình. 19.4.2010. Thân ái (ký tên Thanh)” Bức thư tôi còn giữ làm kỷ niệm. Tôi đọc sách, xem đĩa ghi hình, tìm hiểu về gia đình Võ Viết Thanh mà bàng hoàng. Có lẽ trên thế gian này chưa có gia đình nào hy sinh mất mát cho một cuộc cách mạng như gia đình Võ Viết Thanh, sau đó lại chịu những oan khuất, cay nghiệt như gia đình anh. Cả hai vợ chồng ông Võ Văn Nhuận và và Phạm Thị Giang đều là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ những năm 30 của thế kỷ trước, đấu tranh trong Công hội Đỏ ở Ba Son chống Pháp cùng lứa với Tôn Đức Thắng, Dương Quang Đông. Suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông bà đều là cán bộ nòng cốt. Ông làm quân giới tận U Minh. Năm 1958, ông bà bị bắt, bị đánh đập tra tấn dã man mà không hề khai báo gì. Sau 3 năm tù ông bà lại được tổ chức đưa về Bến Tre hoạt động bí mật. Đến năm 1962, cả hai vợ chồng người cán bộ kháng chiến này đều bị giết hại thảm khốc cùng một lúc. Cô Hồng đã kể với tôi, lúc chúng xông vào nhà bắt bố mẹ đi thì cô còn bé quá, ngồi ở thềm nhà chúng không để ý nên thoát chết. Chị cô bụng đang mang thai cũng bị bắt đi nhưng vùng chạy thoát. Võ Viết Thanh mới 18 tuổi đầu đã mang nặng thù nhà, nợ nước, cha mẹ bị giết, chị em gái và em trai cũng hy sinh. Sau 1975, Võ Viết Thanh về quê tìm bắt được Tổng Gốm, kẻ đã giết cha mẹ anh. Nó quì lạy và anh đã tha cho nó. Anh xông pha lửa đạn, chỉ huy một xưởng quân giới chế tạo ra nhiều vũ khí để diệt tàu Mỹ trên dòng sông quê hương. Trận đánh cầu Cá Lọc của anh được ghi chép trong lịch sử của Bến Tre. Anh từng được phong anh hùng lực lượng vũ trang. Vậy mà chính các “đồng chí” cao cấp của anh lại lập mưu vu khống cha mẹ anh, những người đã yên nghỉ nơi suối vàng, là kẻ phản bội. Còn gì đau xót hơn cho một người Việt Nam là cha mẹ mình đã mất mà còn bị vu oan, vu oan một cách bỉ ổi. Cái thiêng liêng nhất đối với VVT là linh hồn của cha mẹ mình lại bị đồng chí của mình đem ra bôi nhọ để lấy cớ cho những âm mưu đấu đá quyền lực bẩn thĩu nhất. Nếu Võ Viết Thanh cúi đầu nghe theo bọn họ thì anh sẽ lên quan to hơn, lên làm Bộ trường Bộ Công an, vào Bộ Chính trị. Nhưng anh đã chấp nhận bị vùi dập để đứng thẳng làm một con người chân chính, lương thiện và tử tế. Gia đình VVT đủ để Shakespeare viết một bi kịch về một cuộc cách mạng ở xứ châu Á xa xôi và hoang dại (sauvage) trong thế kỷ 20! Vậy mà trong thư anh viết cho tôi chỉ nói: “xem lại cho vui, những chuyện đã qua của một gia đình”. Tôi biết tâm hồn anh đã rã rời với một cuộc cách mạng đang bị phản bội. Anh thấy bẽ bàng cho nó và cho cả những gì mà anh đã cống hiến cho nó với tất cả sự trong trắng của tâm hồn mình. Anh đang nhìn xã hội quay cuồng xung quanh bằng con mắt của kẻ chỉ thấy đời như một giấc mộng phù du của “những chuyện đã qua”. Gần đây, tôi có gặp anh trong đám cưới con trai của cô em Võ Thị Cẩm Hồng của anh. Vẫn dáng vẻ nho nhã, vẫn giọng nói ấm áp, khiêm nhường, và trên vầng trán mênh mông của anh, tôi như thấy những đám mây buồn đang lãng đãng trôi. (Còn tiếp) ----- Posted on Tháng Mười Một 10, 2016 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/10/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-35/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 36): https://www.minds.com/newsfeed/1019890181229154304?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 34): https://www.minds.com/newsfeed/1019889318479765504?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 34) Và chính tác giả Võ Văn Kiệt là một nhà báo xuất sắc, là người cầm bút đứng giữa dòng chảy của cuộc sống để viết nên những tác phẩm báo chí có sức lay động lòng người như bạn đọc cả nước đã thấy. Ông viết bài phản đối việc gạt người nghèo ra bên lề xã hội trong việc cướp đất ruộng của dân làm cái gọi là “khu công nghiệp”; ông viết phản đối việc mở rộng Hà Nội v.v. và v.v. Báo SGGP cho biết, ông còn viết nhiều bài với bút danh Trọng Dân, bênh vực kẻ thấp cổ bé họng, bị ức hiếp trong cái gọi là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Theo tôi thì chưa bao giờ ông là cán bộ lão thành cả, lúc nào con người này cũng trẻ trung tràn đầy nhựa sống. Lúc ở tuổi 80 ông luôn nói: – Chưa lúc nào tôi thấy thiếu thời gian như lúc này! Võ Văn Kiệt là một con người như sinh ra để đứng ở đầu sóng ngọn gió. Ông là con người “thà đi trong giọng bão còn hơn đi bách bộ trong sân”. Tôi rất vui là bài phỏng vấn Võ Văn Kiệt cho tạp chí “Nghề báo” của Hội nhà báo TP. HCM đã được Tổng biên tập Hồng Phương đăng nguyên văn, không “kiểm duyệt” một chữ nào /Tạp chí NB 4/2003). Ấn tượng tốt đẹp thứ hai của tôi về Võ Văn Kiệt là ông nhận thức được vai trò của trí thức trong cuộc kháng chiến cứu nước cũng như trong xây dựng hòa bình. Xuất thân là nông dân sau đó trở thành nhà lãnh đạo cao cấp của một đảng mệnh danh là của giai cấp vô sản, công nông nhưng ông thực lòng tin yêu trí thức, thấy được vai trò, tác dụng của trí thức với xã hội. Khi trở thành người lãnh đạo cấp cao, ông đã hành động. Hội trí thức yêu nước TP. HCM được thành lập sau 30-4-1975. Phát biểu trong dịp lễ kỷ niệm 2 năm thành lập Hội Trí thức yêu nước, ông nói: “Trong thế giới này nay nguồn lực hàng đầu là trí thức. Nói như thế không có nghĩa là đề cao những con người trí thức cụ thể, mà là để nói đến một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển”. Thật là chính xác và sắc sảo. Khi là Thủ tướng Chính phủ, ông đã thành lập Ban Cố vấn cho Chính phủ gồm toàn các trí thức tên tuổi. Thời Phan Văn Khải vẫn giữ Ban Cố vấn đó. Nhưng khi anh y tá Nguyễn tấn Dũng lên làm thủ tướng thì giải tán liền! Năm 1999, tôi in cuốn sách nhỏ “Nguyễn Khắc Viện như tôi đã biết” (NXB Thanh niên 1999) đem tặng ông. Mấy ngày sau ông gọi điện cho tôi, đại ý: – Nên viết thêm những cuốn sách về trí thức Nam Bộ, vì không có trí thức tham gia thì Cách Mạng Tháng Tám không thể thành công ở Nam Bộ. Tôi chưa thấy nhà lý luận Việt Nam nào dám nhận định như thế. Ít lâu sau tôi được biết ông đem ý kiến này phát biểu ở Hội Nhà văn TP. HCM, và đề nghị các nhà văn viết về các trí thức Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám. Một lần gặp ông ở một hội nghị, tôi phải đến “thanh minh” với ông rằng, tôi rất mến mộ các vị thí thức NAM Bộ nhưng vì hiểu biết và vốn sống của tôi về Nam Bộ còn ít quá nên không dám viết. Khi họa sĩ Diệp Minh Châu qua đời, nghĩ đến lời khuyên của ông Kiệt, tôi viết cuốn sách nhỏ “Diệp Minh Châu – Con người bẩm sinh là một nghệ sĩ” (NXB Thanh niên – 2002). Trong cuốn sách nhỏ đó, tôi có trích lời ông Kiệt ghi trong sổ tang nói về những ngày “vượt suối băng ngàn” của ông cùng với Diệp Minh Châu ra Bắc 1952. Biết ông Kiệt hay đọc sách, tôi mua và đọc được cuốn sách nào thấy hay thì đem đến tặng ông. Một lần, tôi được ông trần Đức, nguyên phó ban Nông nghiệp trung ương tặng cho cuốn “Trang trại ở Pháp”. Trần Đức được Hội Nông dân Pháp mời sang nghiên cứu. Ông đã ở Pháp ba tháng liền, “ba cùng” với các chủ trang trại Pháp nên cuốn sách rất có giá trị thực tiễn để tìm hiểu về trang trại. Tôi đọc rất say mê nhưng trót gạch chân, đánh dấu vào sách. Chợt nghĩ đến ông Kiệt nhưng tôi băn khoăn là sách đã bị gạch, bị đánh dấu không còn mới nữa. Nhưng lúc đó lại đang có tranh luận về kinh tế trang trại (1997-1998). Ban Kinh tế trung ương còn mở cả một hội nghị lớn ở Sông Bé để bàn về kinh tế trang trại. Tôi được anh Nguyễn Tấn Trịnh, Phó Ban Kinh tế trung ương lúc đó đến tận nhà rủ đi dự hội nghị. trong hội nghị này người ta tranh cãi nhau rất quyết liệt, nhất là chính sách “hạn điền” cho trang trại. Tôi nhớ, giáo sư Đào Công Tiến phát biểu “gay” nhất. Chủ trì hội nghị là ông Phan Diễn cũng không dám rung chuông. Tôi nghĩ, phải để ông Sáu Kiệt đọc cuốn “Trang trại ở Pháp”, nên tôi đem đến tặng ông. Lúc đưa sách, tôi nói: – Xin lỗi ông Sáu, tôi tặng ông cuốn sách không còn mới, đã trót gạch chân, đánh dấu vào sách nhưng thấy ông Sáu nên đọc cuốn sách này, nhất là trong bối cảnh này nên mạnh dạn đem tặng ông Sáu… Tôi chưa nói hết lời thì ông Sáu đã cười cầm lấy sách rồi bảo tôi: – Dân Hà Nội có khác. Ông chỉ nói đến thế thôi còn tôi muốn hiểu thế nào cũng được, chẳng hạn dân Hà Nội khách sáo cẩn thận quá thờ lợ quá v.v. và v.v. Nhiều lần đối thoại với ông Sáu Kiệt, tôi biết ông là người rất thông minh, luôn đoán ra ý nghĩ của người đang đối thoại với mình. Điển hình là hôm nhà thơ Tố Hữu mất, tôi đi lang bang đến Hội Nhà văn TP. HCM, gặp nhà thơ Viễn Phương, một chức sắc của Hội, tôi hỏi: Anh Viễn Phương đánh giá Tố Hữu thế nào? Viễn Phương nói ngay: – Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi lặng lẽ chạy xe đến nhà ông Kiệt. Sau lời chào hỏi, tôi thưa: Nhà thơ Tố Hữu vừa mất, ông Sáu đánh giá Tố Hữu thế nào? Ông Kiệt nhìn tôi nghiêm nghị, trả lời chậm rãi, rõ ràng: – “Tố Hữu là nhà thơ lớn của Đảng”. Trả lời xong ông lại nhìn tôi nheo mắt cười. Tôi “đọc” được trong ánh mắt nheo cười của nhà chính trị rằng… Phú Khải cậu đừng lừa tôi, cậu cứ đem cái nhận định của tôi về Tố Hữu đi rao giảng khắp nơi, khắp chốn thế đó! Võ Văn Kiệt nhận định thế đó!!! Đừng tưởng!!! Lại nói về cuốn “Trang trại ở Pháp”. ông Kiệt cầm cuốn đó, không quên cảm ơn tôi. Ông tâm sự: – Có nhiều người bảo tôi là nông dân mà ra vẻ trí thức, lúc nào cũng đọc sách. Tôi nghĩ, nếu đọc sách mà bớt ngu đi thì tôi ra vẻ trí thức suốt đời! Tôi rất mừng là sau này, quan điểm của ông Kiệt về “hạn điền” trong vấn đề trang trại ở nước ta rất sáng suốt, rất cấp tiến, trái hẳn với quan điểm của ông cố vấn Lê Đức Anh lúc đó. Cụ thể là trong vấn đề cho thuê đất trong vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long Anh để lập trang trại. Tôi sẽ nói về vụ này ở một phần sau. Anh Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang, một người gần gũi với ông Kiệt nhiều năm, có lần bảo tôi rằng, anh rất mến ông Kiệt bản tính ưa nói thẳng. Theo anh Nhị, ông Sáu đã có lần tâm sự với anh, và cũng là lần đầu tiên anh được nghe một đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng nói về các vị nhân sĩ trí thức đi theo kháng chiến như thế. Tôi hỏi, ông Kiệt nói thế nào. Ảnh nhắc lại lời ông Kiệt: “Chúng ta đi theo cách mạng, nếu có mất thì chỉ mất cái quần đùi, còn họ thì hy sinh cả một sự nghiệp, điền sản lớn, vinh hoa phú quí. Đo đó, không thể đánh giá lòng yêu nước của họ ngang như ta được”. Bảy Nhị tỏ ra bất ngờ về câu nói đó của ông Kiệt. Tôi đã đem câu nói đó vào trong bài viết về Sáu Kiệt nhân ngày mừng thọ ông 85 tuổi (2007). Khi bài bào đăng rồi, còn có độc giả gọi điện cho tôi hỏi, “Có phải anh bịa ra câu nói đó không? Có thực Bảy Nhị đã nói với anh thế không?” Thật buồn! Tiếp xúc với ông Kiệt, tôi còn được ông chỉ bảo cho nhiều điều bổ ích về các vấn đề của Đồng bằng sông Cửu Long, điều mà tôi rất cần với tư cách, nhiệm vụ là phóng viên thường trú của Đài Phát thanh quốc gia tại khu vực trọng điểm này. Chính phù sa mịn màng, nắng mưa hào phóng của quê hương Vĩnh Long Nam Bộ đã sinh ra Võ Văn Kiệt. Và, tắm mình trong lao động cần cù vất vả thời thơ ấu, dấn thân trong đấu tranh cách mạng để giải phóng quê hương, từng tế bào, từng huyết mạch trong con người Võ Văn Kiệt thấm đượm sức sống của đất đai quê mẹ. Hơn ai hết, ông hiểu về mảnh đất quê hương mình. Đầu xuân 2004, tôi đến chúc Tết ông. Lúc đó lại vào dịp cúm gà đang hoành hành, ông lại vừa về quê ăn Tết lên, nên bảo tôi: – Con cá đã lên ngôi. Gà vịt vừa qua chết nhiều thì càng thấy vị trí của con cá ở đồng bằng. Như tôi đã nói với Phú Khải năm ngoái, từ trước đến nay ta chỉ mới truy bắt con cá mà chưa nuôi thả đúng mức. ĐBSCL tiềm năng thủy sản còn lớn lắm. Cả ba khu vực mặn, ngọt, lợ đều có những loài thủy sản rất có giá trị như con tôm ở vùng mặn, cá kèo vùng lợ, vùng ven có con cá đối, vùng ngọt có con tôm càng xanh và các loại cá đồng ĐBSCL có các loại cá quí như trạch – lấu, cá hô nặng hàng trăm ký trên sông Tiền, sông Hậu, cá cóc nặng hai ba ký. Kể ra nhiều loại cá quí như vậy rồi ông Sáu kết luận: – Cho đến bây giờ không có bất cứ loại cá gì là không nuôi được. Cá kèo đã dưỡng được, cá thác lác ở Cần Thơ đã nuôi được. Trước đây cá ba-sa giống phải đi mua từng con một, nay đã cho đẻ nhân tạo được rồi. Cá ba-sa, cá tra, cá linh, tôm càng xanh là những thủy sản mà vùng ĐBSCL của ta có ưu thế hơn hẳn các nước vùng sông Mê Kông. Phải biết biến thế mạnh đó để khai thác, nuôi trồng tốt hơn. Phải tiến tới lập các khu bảo tồn thủy sản, ngân hàng gen, quỹ gen cho thủy sản ĐBSCL. Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt lại hiểu biết rành rẽ về tương lai con cá ở ĐBSCL như thế. Đành rằng xuất thân là nông dân, nhưng ông đã “xa rời” ruộng đất từ nhiều năm và còn trăm công nghìn việc của một nhà chính trị trong một xã hội nặng nề đấu đá quyền lực làm sao ông có thể sát thực tế nông thôn đương đại đến thế. Ông nói một thôi về con cá. Tôi phải đề nghị ông nói chậm lại để ghi chép. Thế là cuộc gặp chúc Tết đầu năm trở thành một cuộc làm việc về con cá! Nhưng tôi vẫn còn nghi ngờ về những “con cá” mà ông Kiệt nói nên đánh máy sạch sẽ rồi đưa cho đương kim Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng, quê ở Đồng Tháp xem lại(!). Anh Thắng nói: Chính xác 100%. Ông Kiệt có tư duy từ cuộc sống như thế, không bị một giáo điều, một “học thuyết đứng đường” (thơ Trần Mạnh Hảo) nào chi phối tư duy của ông. Chính vì vậy mà ông là nhà lãnh đạo cộng sản đi xa nhất về tư duy chính trị. Marx nói: “Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy”. Vậy cứ như lời Marx thì khi nói về con em những gia đình công chức, quân đội cũ, ông Kiệt khẳng định: “Không ai chọn cửa để sinh ra”, và chính ông đã có sáng kiến tuyệt vời là giao cho Thành Đoàn thực hiện tổ chức lực lượng Thanh niên Xung phong của TP HCM, đón nhận bất kể các thanh niên xuất thân từ mọi thành phần. Và, trải qua lao động trên đồng khô, cỏ cháy, rừng sâu, núi cao, một lớp người không còn bị mặc cảm về “vết đen lý lịch” đã trưởng thành. Có thể kể: Trần Ngọc Châu, Nguyễn Đông Thức, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Trường Kiên, Tiếng Thu v.v. Khi nói về lòng yêu nước, ông nói: “Có trăm con đường yêu nước khác nhau, Tổ Quốc Việt Nam không phải của riêng một đảng, một phe phái tôn giáo nào”. Khi nói về ngày 30-4-1975, ông phát biểu: “Ngày 30-4-1975 có một triệu người Việt Nam vui, lại có một triệu người VN buồn. Vậy nên gọi đó là ngày thống nhất đất nước”. Những ngôn từ như thế theo ông Marx là “cái vỏ vật chất” của tư duy. Tư duy của Võ Văn Kiệt đã không xuất phát từ “học thuyết đứng đường” hay những “thiên đường vỡ chợ” nào (Trần Mạnh Hảo) mà xuất phát từ lợi ích, từ sự sống còn, từ hạnh phúc của dân tộc nên mới mang “cái vỏ vật chất” như ta thấy. Cái đó không có ở những nhà lãnh đạo đi theo một nhân quan giai cấp, một giáo điều xơ cứng, nhập ngoại “đứng đường”! Đi theo dân tộc đương nhiên phải hướng tới dân chủ. Và ông đã là người tiệm cận với dân chủ khi tuyên bố “chính kiến khác nhau là chuyện bình thường” và “một quốc hội có người tự ứng cử, và dân bầu lên một cách tự do sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ”. Không có gì thuyết phục hơn là nghe nhà đấu tranh dân chủ, nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Thanh Giang nói về Võ Văn Kiệt: “Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người lãnh đạo Đảng CSVN đương đại mà tôi ngưỡng mộ nhất”. Khi anh Thanh Giang vô Sài Gòn, đến nhà tôi, nhờ tôi dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng tôi từ chối vì muốn giữ “an toàn” cho cả hai vị. Sau đó, ông nhờ con gái ông Nguyễn Hội dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng bảo vệ nói “đi vắng!”. Trong suốt nhiều năm làm việc, tiếp xúc, đối thoại với ông Kiệt, tôi hết sức tránh những gì liên quan đến chính trị. Tôi sợ những đối đáp có màu sắc chính trị sẽ làm khó cho tôi, có khi làm tôi xa mất nguồn kiến thức về ĐBSCL mà ông Kiệt là một kho báu. Chẳng hạn, có lần bất thần ông bảo tôi: “Với ĐBSCL thì không có lũ cũng là thiên tai”! Chỉ một câu nói ngắn gọn của ông thế thôi cũng đủ là một đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề lũ lụt ở ĐBSCL. Vậy mà ông Đỗ Mười có lần lại tuyên bố… sẽ huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để đắp đê cho ĐBSCL. Thứ trưởng Bộ Thủy lợi lúc đó là ông Chín Giới lo cuống cuồng, phải xua cả một đàn chuyên gia hàng đầu về thủy lợi để tiếp đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đi “kinh lý” Nam Bộ. Các chuyên gia của ông Chín Giới đã phải thuyết phục đồng chí TBT Đỗ Mười không nên “huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để đắp đê cho ĐBSCL”! Ông Chín Giới kể với tôi, lúc họp ông run lắm, động viên các chuyên gia nói thẳng, nói thật với đồng chí TBT. Nếu có gì làm TBT phật ý thì ông sẽ chịu trách nhiệm. Rồi ông kết luận với tôi: – May quá đồng chí TBT đã không huy động toàn Đảng, toàn dân”. Nhân nói về TBT Đỗ Mười, tôi có câu chuyện “như đùa” thế này. Nhân được ông Sáu Phan giới thiệu từ Hà Nội, tôi lên T78 (nhà khách trung ương) ở Tp HCM để gặp TBT Đỗ Mười và tặng ông cuốn sách “Viết từ Đồng bằng sông Cửu Long” của tôi do NXB Thanh Niên xuất bản. Nói chuyện xong, lúc tôi ra về, ông Đỗ Mười cầm cánh tay tôi lắc lắc và bảo: Sao cậu gầy thế? Tôi trả lời: – Có phải đảng viên đâu mà béo được! Ông Đỗ Mười bảo: – Thế là tốt! Mấy ngày sau tôi đem câu chuyện này “khoe” với anh Trần Thế Tuyến, lúc đó là Trưởng cơ quan Báo QĐND tại TP HCM, tờ báo mà tôi đã cộng tác từ ngày còn ở Hà Nội. Anh Tuyến cười bảo tôi: – Ông ngu bỏ mẹ, người ta làm chính trị nên chỉ nói nửa lời. Tốt là tốt cho Đảng. Nếu một người như ông mà vào Đảng thì chỉ có phá Đảng mà thôi! Có thế mà ông cũng không hiểu, còn đi khoe!!! Chúng tôi đã cười nghiêng ngả!!! Trở lại câu chuyện với ông Sáu Kiệt, tôi luôn tránh né nói cái gì liên quan đến chính trị. Nhưng cuộc sống lại không đơn giản đến thế. Chính trị, triết học, lịch sử, khoa học, văn hóa được con người tách ra để nghiên cứu riêng vì nó phức tạp quá. Nhưng trong đời sống xã hội thì tất cả các yếu tố ấy đều hòa quyện, đan xen vào nhau. Một mâm cơm mà ta ăn, nhìn vào đó thấy cả chính trị, khoa học, văn hóa. Ăn gạo gì thì đó là kết quả của khoa học lai tạo, ăn như thế nào là văn hóa, có ngồi cùng mâm với người bất đồng chính kiến với mình không thì đó là chính trị. Bởi vậy, có những lần vô tình, tôi lại bàn luận về đề tài chính trị với ông Sáu. Hôm đó cũng là một ngày đầu xuân, tôi đến chúc Tết ông như thường lệ. Khi tới, các vị đến trước đang bàn về “dân chủ ở cơ sở”. Khách về rồi, tôi nói những điều vô thưởng vô phạt với ông Sáu, chẳng hạn như: ông Nguyễn Khác Viện có ý kiến là nước ta không có truyền thống dân chủ nên bây giờ phải tập dân chủ ở mọi nơi, mọi cấp. Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt nói một thôi: Xưa kia tôi đi làm cách mạng vì thấy ngoài đời mất dân chủ quá, kẻ giàu ức hiếp người nghèo, cường hào ác bá đè nén dân đen. Khi vào Đảng, tôi thấy trong Đảng thật thương yêu nhau, đồng chí với nhau thật dân chủ, có gì cũng bàn bạc trao đổi dân chủ, không ai đè nén, áp đặt ai. Nay Đảng là nơi mất dân chủ nhất. Cái mất dân chủ của Đảng nó ô-tô-ma-tic ra ngoài dân. Dân học Đảng để mất dân chủ với nhau. Tôi nhớ nhất cái từ “ô-tô-ma-tic” của ông Sáu Kiệt! Võ Văn Kiệt bộc trực như thế. Có lẽ vì cái bộc trực “Anh Hai Nam Bộ” này mà ông gặp nạn. Cái chết của ông thật khó hiểu. Đang khỏe mạnh, còn mua vé trước để đi Hà Lan với Tiến sĩ Tô Văn Trường để nghiên cứu về chống nước biển dâng tràn tới DBSCL. Vậy mà, chỉ đi Hà Nội về là lăn ra chết. Bác sĩ Quế – Phó Ban Bảo vệ Sức khỏe trung ương, bạn với tôi nói: – Chụp phổi thấy trắng xóa (tức là đen) là điều rất hiếm. Bệnh phổi không thể chết nhanh như thế được!!! Tôi là một trong những người được biết tin ông Sáu Kiệt mất sớm nhất. Tôi điện cho vợ anh Tô Văn trường, ít phút sau thì từ bên Đức, nơi anh Trường hẹn đợi ông Sáu qua để cùng đi Hà Lan. Anh Trường vừa nói chuyện với tôi vừa khóc trong điện thoại. Anh cứ khóc nấc lên, rất tội. Lúc đó tôi cũng cứ thấy cay xè hai con mắt! Nhìn lại thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, đất nước chuyển mình rõ rệt. Năm 1990, tổng thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ đạt ước khoảng 200 đôla Mỹ. Đến năm 1997, chỉ số này là 300 đôla Mỹ. Lạm phát được kiềm chế đến một chữ số trong hai năm 1996-1997. Xuất khẩu lương thực tăng liên tục. Năm 1997, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 trên thế giới. Đầu tư nước ngoài sau 10 năm kêu gọi (1987-1997) đã lên đến gần 30 tỷ đô la Mỹ. Trên trường quốc tế, từ thế bị bao vây, Việt Nam trở thành một quốc gia chuyển mình mạnh mẽ qua kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Có thể nói, thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, Việt nam có gương mặt sáng sủa nhất từ sau chiến tranh, được thế giới tin tưởng và hy vọng nhiều về một Việt Nam trên đường đổi mới. Đó là một dấu son của lịch sử. Nhưng thật là thiếu khách quan, công bằng nếu không nói đến những sai lầm của Võ Văn Kiệt trong một công trình lớn là đường dây tải điện Bắc-Nam 500 kilôvôn. Chỉ có những người trong cuộc, ở ngành tài chính và điện lực mới hiểu rõ điều này. Nhưng trong một thể chế toàn trị thì những con số “bí mật” luôn được che đậy, giữ kín. Đường dây 500 kilôvôn là một công trình lấy tư duy chính trị để làm kinh tế. Đến nay công trình này vẫn không quyết toán được, Khi làm một công trình lớn lao như thế nhưng Quốc Hội không được bàn bạc và thông qua. Việc bảo quản và duy tu cho đường dây này là một gánh nặng lâu dài cho nền điện lực mà các chi phí của nó luôn được dấu kín. Nếu chỉ để hòa mạng lưới điện quốc gia thì không cần đến đường dân này, còn để tải điện thì ở đầu bắc đường dây đỏ rực mà ở đầu phía nam điện vẫn chập chờn. Tiêu hao trên đường đi là vô cùng lớn, vì thế, khi có ý định làm đường dây này, tôi đã được đọc rất nhiều phản biện của các chuyên gia ở Việt Nam đưa cho tôi, với hy vọng là một nhà báo tôi có thể lên tiếng! Nhưng làm gì có chuyện đó ở Việt Nam với các nhà báo. Đấy là chưa kể đến tham nhũng trong việc mua bán vật tư để thi công đường dây này. Vì thế, khi đường dây làm đến địa phận miền Nam, Đài TNVN (Cơ quan thường trú tại TP HCM) cử tôi đi viết tin bài về công trình đường dây này, tôi không đi và còn phát biểu rất gay gắt trong cuộc họp phân công ai đi viết bài. Giám đốc Cơ quan thường trú lúc đó là ông Hồng Mão phải gào lên: – Không đi thì thôi, anh Khải đừng phát ngôn như thế mà đi tù cả cơ quan! Cuối cùng, nhà báo Đặng Xuân Mai của cơ quan tôi, cháu gọi ông Trường Chinh là ông (ông bác) phải đi thế tôi. Đi về, ông Mai đã kêu trời về sự vất vả của công nhân, phải gùi từng can nước ngọt lên đỉnh núi để đổ bê tông! Đương nhiên làm thì có đúng có sai, với tôi, Võ Văn Kiệt luôn là hình ảnh của một con người suốt đời tận tâm, tận lực với đất nước, với dân tộc cho dù ở ông ý thức hệ hay chiến tuyến nào. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 7, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/07/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-34/#more-7757 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 35): https://www.minds.com/newsfeed/1019889486904070144?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 33): https://www.minds.com/newsfeed/1019888866130624512?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 36) Nguyễn Hà Phan – Bi hay hài!? Đầu năm 1994, sau chuyến đi Điện Biên Phủ đầu tiên để giúp anh Tuất Việt làm số báo “SGGP – 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ”, tôi về Hà Nội và đến báo Nhân Dân gặp Mai Phong, trưởng ban bạn đọc của báo. Tôi bảo với Mai Phong, vừa đi Điện Biên Phủ về, có chai rượu hổ cốt, muốn rủ ông lên chỗ ông Nguyễn Hà Phan ở Ban Kinh tế chơi, gạ ông ấy kiếm ít mồi để nhậu. Anh cho tôi mượn cái điện thoại bàn của anh để gọi cho ông ấy … Mai Phong nhìn chai rượu của tôi, tuy có dán cái “mác” Lai Châu ở vỏ nhưng giá chỉ có 14.000 đồng. Phong nói: ông có đùa không thế, đang giờ làm việc mà đòi lên gặp Bộ Chính trị để nhậu! Không cần Mai Phong đồng ý, tôi nhấc điện thoại bàn của anh lên (hồi đó chưa có di động phổ biến như bây giờ) gọi cho ông Sáu Phan. Từ đầu giây đằng kia, ông Sáu Phan kêu tôi “lên ngay!”. Thế là tôi kéo Mai Phong lên số 10 Nguyễn Cảnh Chân, khu Ba Đình. Chỗ Sáu Phan ngồi làm việc là trường Albert Sarraut cũ thời Tây. Quen biết với ông Nguyễn Hà Phan từ lúc ông còn là Chủ tịch tỉnh Hậu Giang cũ, tôi từng được Tổng biên tập Tuất Việt ủy nhiệm làm đặc phái viên của báo SGGP để phỏng vấn ông nhiều lần. Và, tôi cũng hết sức ủng hộ tỉnh Hậu Giang về mặt thông tin tuyên truyền những chủ trương rất đúng đắn của tỉnh dưới thời ông Hà Phan. Vì thế, việc ông Sáu Phan gặp tôi ở Hà Nội là việc vui đối với ổng. Khi chúng tôi lọc cọc chở nhau bằng xe đạp đến nơi thì đã thấy Sáu Phan bày ra vài thứ đồ nhậu khô. Được vài tuần rượu, Sáu Phan rút thuốc ra hút. Đặc điểm lớn nhất, dễ nhận ra ở Sáu Phan là, ông hút thuốc liên tục, hết điếu này nối điếu kia. Sáu Phan mời tôi và Mai Phong hút thuốc. Thấy ông đưa thuốc “mác” “Con ngựa trắng” mời khác thì tôi lấy làm lạ nên hỏi: Khi xưa ông là quan đầu tỉnh mà hút toàn ba số (555) inter, nay lên quan nhất phẩm triều đình lại hút thuốc này sao? Sáu Phan than phiền: – Ra đây Ban Tài chính quản trị trung ương nó cho hút thuốc gì thì được hút thuốc đó. Tiếp khách cũng thế, đâu có được như ở nhà. Thấy thế, tôi bảo với anh Y, thư ký riêng của Sáu Phan đang ngồi gần đó: Nhờ anh bảo cô Tuyết ở Ban Tài chính qua đây tôi gặp. Y nói: – Ở Ban Tài chính có đến 3 cô Tuyết, nhà báo muốn gặp cô Tuyết nào? Tôi nói: muốn gặp cô Tuyết có chồng là ông Nguyễn Thanh làm bên Hải quan. Anh Y lập tức xua tay nói: – Cô Tuyết ấy là cấp trên của tôi, tôi không dám gọi. Tôi nói: – Thì anh cứ bảo cô ấy, có anh Lê Phú Khải ở miền Nam ra, muốn gặp cô ấy. Lát sau cô Tuyết xuất hiện. Cô em tôi (Tuyết là em họ tôi, con người chú thứ ba của tôi, là Lê Phú Ninh, quyền Chánh văn phòng Bộ Công an) rất vui vẻ: – Em chào bác! Bác mới ở miền Nam ra? Sao không báo em để em đem xe ra sân bay đón bác! Tôi cười nói: – Ra chơi với ông Sáu đây thôi có gì mà phải đón với rước! Sau đó tôi nói: Sao Ban quản trị lại bắt ông Sáu hút thuốc “Con ngựa trắng” thế này? Xưa kia ở Cần Thơ ông ấy toàn tiếp tôi bằng ba số cơ mà?! Cô Tuyết phân trần: – Ban TCQT chúng em liên kết với tỉnh Khánh Hòa sản xuất kinh doanh loại thuốc này, rồi bán lại cho Văn phòng trung ương. Văn phòng phân phối cho các bác ấy tiếp khách. Bác thông cảm! Cô Tuyết chỉ nói có thế rồi chào ông Hà Phan. Trước khi về, cô còn dặn tôi khi nào ra Bắc thăm bác Sáu, nhớ gọi điện để cô cho xe ra đón. Sở dĩ tôi đề nghị anh Y kêu cô Tuyết sang là có ý muốn giới thiệu với cô quan hệ thân mật của tôi với ông Hà Phan, để cô ấy “ưu tiên” cho “ông bạn” già của tôi. Vì tôi biết các vị như Hà Phan ở địa phương còn sướng hơn cả vua chúa ngày xưa. Nay ra triều đình xa vợ con, nước lọ, cơm niêu là khổ lắm, lại không quen biết ai. Các quan chức ở Hà Nội hết giờ làm việc là về trình diện các quan bà hết, không như ở miền Nam hết giờ là đi nhậu. Cỡ như Sáu Phan, ở Hà Nội lại càng cô đơn(!). Tuyết về rồi… Sáu Phan bảo tôi: – Biết đâu cô Tuyết là em ông. Ở đây cô ấy quan trọng lắm, tay hòm chìa khóa của trung ương là ở tay cô ấy!!! Lê Thị Tuyết sinh năm 1942, cùng tuổi với tôi. Cô sinh ra trong một gia đình đông con. Ông chú tôi có tới 7 người con, cô là thứ 2. Hồi nhỏ trong gia đình Lê Phú của tôi chỉ có tôi là cháu đích tôn là được cưng chiều từ nhỏ, còn các cháu nội của ông bà tôi từ bé đã rất vất vả vì các chú tôi đi cách mạng quanh năm! Gia đình phó thác cho các bà vợ. Cô Tuyết học hành chẳng được là bao, mười mấy tuổi cô đã phải đi gánh nước gạo cho mẹ nuôi lợn ở Bãi Giữa (Bãi Phúc Xá). Cô vào làm nhà nước, được vô nơi kín cổng cao tường này có lẽ là nhờ cái lý lịch “con nhà nòi”. Nhưng cô là người thông minh, có bản lĩnh và rất nhân hậu. Ở địa vị cao (Phó Ban Tài chính quản trị trung ương Đảng), nắm vật chất của Đảng trong tay nhưng cô thẳng thắn, khiêm nhường, tận tụy với công việc, và rất công bằng trong mọi sự phân chia của cải nên được cán bộ công nhân viên của Ban Tài chính quản trị trung ương và Văn phòng trung ương Đảng quí mến. Ngày cô mất, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã gởi một bức thư dài, chia buồn với gia đình cô. Bức thư ấy tôi đã được đọc. Những lời của Đại Tướng thật chân tình, những đánh giá của Đại Tướng về cô không công thức, giáo điều như mọi nghi thức với một người đã chết mà người ta thường thấy. Những điều ông viết làm người ta phải ngạc nhiên về nhận xét của một nhân vật lớn của đất nước đối với một cán bộ nhân viên bình thường: “Chị Tuyết ra đi để lại một tấm gương sáng của một người cán bộ hết lòng làm tròn nhiệm vụ, một người phụ nữ mẫu mực về lối sống và đạo đức cách mạng. Ký tên Võ Nguyên Giáp”. Lá thư đề ngày 22/2/1999 – Hà Nội. Riêng đối với tôi, tuy chúng tôi là anh em cùng dòng tộc nhưng ở xa, ít tiếp xúc. Tuy vậy, cô Tuyết có cách cư xử mà tôi cho là chính xác, thông tuệ. Cô biết thừa tư tường “bất đồng chính kiến” của tôi với chế độ mà cô là một quan chức có hạng. Có lần tôi từ miền Nam ra Bắc, đến thăm nhà đấu tranh dân chủ nổi tiếng Nguyễn Kiến Giang nào ngờ lại gặp đúng lúc nhân viên an ninh chuyên theo dõi Nguyễn Kiến Giang đang ngồi ở nhà ông. Anh Kiến Giang liền giới thiệu: – Đây là nhà báo Lê Phú Khải, thường trú của Đài TNVN ở miền Nam ra chơi. Tay an ninh này vốn có tính đa nghi cố hữu của nghề nghiệp nên nghi ngờ tôi ra Bắc để móc nối với Kiến Giang, mời Kiến Giang vào Sài Gòn dự một cuộc hội thảo về dân chủ do một nhóm trí thức Sài Gòn sắp tổ chức. Thế là họ đã lần ra quan hệ họ hàng từ hai chữ “Lê Phú”. Họ đến gặp Lê Quân, em họ, con ông chú thứ 3 của tôi là Lê Phú An, cậu ta là công an an ninh văn hóa để xác minh về nhân thân của tôi. Sau đó, gặp cô Lê Thị Tuyết để nhờ cô khuyên giải tôi đừng quan hệ với “phần tử xấu” Nguyễn Kiến Giang – người từng là cán bộ lãnh đạo của Nhà xuất bản Sự Thật(!). Nhưng cô Tuyết là một người phụ nữ thông minh, hiểu nhẽ đời, cô không hề nói gì với tôi cả, vì biết rõ nói tôi cũng chẳng nghe. Và cũng biết rõ tôi chẳng có gì xấu cho dù là chơi với ông Kiến Giang. Vài năm sau, gặp vợ tôi ra Hà Nội chơi, cô mới kể lại câu chuyện cậu công an gặp cô nói về tôi mấy năm trước. Cô cũng chẳng có lời khuyên nào với tôi nhắn qua vợ tôi, trái lại khi vợ tôi than: – Ở địa phương, cán bộ lãnh đạo khốn nạn lắm, chỉ lo đấu đá quanh năm thì cô nói: – Chị cứ nhân lên 1000 lần sự khốn nạn của địa phương, nó sẽ là trung ương! Cô em tôi là như thế. Với những người như ông anh họ của cô là tôi, cô “chơi bài ngửa”! không nói thì ông anh cũng biết, nên cô không cần giấu. Và cô cũng biết, chẳng ai giấu gì được lịch sử! Trong một xã hội như thế, cô phải sống và cô sống tử tế, chân thực với mọi người. Với địa vị ấy, cô phải lo bố trí nhà ở, xe cộ đi về, đến cả chăn mền quần áo cho các vị quan to ở trung ương. Có lẽ vì thế mà cô biết rõ nhân cách của từng vị trong Bộ Chính trị qua những việc cụ thể, đời thường. Khi tôi còn làm phóng viên của Đài Truyền hình VN, có lần gặp tôi, cô nói: – Em thấy các phóng viên của Đài Truyền hình hay sang Văn phòng trung ương nhờ bọn em gọi điện từ Văn phòng trung ương qua đài, đề nghị với giám đốc Đài cử họ đi tháp tùng thủ tướng đi nước này, nước nọ. Em chẳng thấy bác sang bên chúng em bao giờ! Tôi nói ngay: – Tôi rất sợ phải đi tháp tùng một vị Thủ tướng vô tích sự như ông Phạm Văn Đồng!!! Cô em tôi cười rất tươi khi nghe tôi nói thế! Lúc ông Hoàng Văn Hoan (HVH) bỏ trốn, tôi cũng đang công tác ở Đài Truyền hình. Báo đài lúc đó la ầm lên là ông HVH phản bội, dấu hiệu phản bội đã thấy rõ từ lâu(!). Gặp tôi cô Tuyết nói ngay Bác Hoan chẳng phản động gì cả. Khi họp Bộ Chính trị, bác Lê Duẩn nói thì các bác Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp cứ cắm đầu xuống mà nghe, không dám ngẩng đầu lên, không ai dám nói nửa lời, chỉ có bác Hoan làm dám đập bàn cãi lại, cãi nhau tay đôi(!) Về trường hợp Hoàng Văn Hoan, tôi cũng được một lần tướng Qua kể như sau: – Ở Hội nghị Geneve, khi Phạm Văn Đồng kêu ai làm việc thì người đó run lắm, lo chuẩn bị tối ngày, chỉ có ông Hoan là ung dung tự tại hai tay đút túi quần, ra sân đá banh cho đến lúc gặp Phạm Văn Đồng! Về cái chuyện các phiên họp của Bộ Chính trị thì rất khôi hài. Cô Tuyết kể với vợ tôi: – Đến em cũng không được vào phục vụ mà chỉ có quyền chỉ huy các nhân viên vào phòng họp phục vụ bưngbê, Các nhân viên đó phải được tuyển lựa từ Cao Bằng, Lạng Sơn về, toàn dân tộc thiểu số để họ không quen biết ai ở Hà Nội, biết gì họ cũng không có ai để mà nói. Cô Tuyết hóm hỉnh nói với vợ tôi: – Nhưng chị lạ gì, con gái thì nó phải hành kinh hàng tháng. Khi hành kinh đứa nào cũng muốn thủ trưởng cho nghỉ nhiều, thế là nó phải nịnh em. Mà muốn nịnh em thì chỉ có cách nghe được cái gì trong cuộc họp BCT thì ghé tai em nói nhỏ để làm quà! Đứa nào cũng thế. Vì thế họp gì, nói gì em đều biết hết. Thời Lê Duẩn thì Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ, đến sau này thì cá mè một lứa, Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải rằng, mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi. Họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó! Cái thời ông Trần Xuân Bách đưa ra lý thuyết đa nguyên, cô Tuyết còn kể với vợ tôi: – Trong Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống. Bánh kẹo, nước ngọt bày la liệt nhưng chẳng ai dám đụng vô một miếng. Thế là bọn nhân viên của em nó tha hồ bóc ra để cuối cuộc họp chia nhau vui như tết!!! Có lần cô Tuyết kể trực tiếp cho tôi nghe, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ: – Thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách cả mền, lòi cả bông ra thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói: – Tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế. Tối qua, bông nó xổ ra, bay tứ tung làm ông ấy ho suốt đêm nên sáng nay mới bảo tôi đem đổi!!! Chẳng những lo nhà, lo xe, cô còn lo chia quà Tết cho trung ương nữa. Số là, những năm bao cấp, mỗi lần ra họp trung ương, các tỉnh phía Nam còn đem cả tấn gạo ngon, hàng tạ tôm, cá khô ra biếu trung ương ăn Tết. Thế là cô phải thức cả trưa, cả tối để lo chia quà và đem đến từng nhà các vị trung ương. Lo vật chất, cô Tuyết còn phải lo cả chuyện “tình cảm” cho các vị đó. Cô kể: – Khi bà vợ hai của Lê Duẩn báo sẽ ra Bắc, thì lập tức cô phải điều bác sĩ đến khám sức khỏe cho bà cả. Rồi theo kịch bản, bác sĩ la lối lên “sức khỏe chị Cả kém lắm rồi, phải đi Tam Đảo nghỉ ngơi!!! Khi bác sĩ đến khám, có cả hai nữ công an mặc quân phục, đeo súng bên hông rất oai để “bảo vệ” chị Cả đi Tam Đảo an dưỡng. Thấy mình oai quá, chị Cả đi liền. Thế là tối đó, đưa Tổng bí thư lên biệt thự ở Hồ Tây, chị Hai từ Sài Gòn ra, xuống sân bay là đưa thẳng tới biệt thự! Có lần cô còn tố cáo với vợ tôi: Lê Duẩn tàn độc lắm, có lần ngủ với cô y tá được cử tới để đấm bóp cho ông ta. Sau khi ngủ xong với cô y tá này, ông ta ra hiệu phải. Cô Tuyết nói nguyên văn với vợ tôi: – Em là phụ nữ, có chồng có con, lại theo đạo Phật, không bao giờ em làm điều thất đức. Lê Duẩn là như vậy. Cuộc tắm máu đồng đội của Lê Duẩn ở Tết Mậu Thân là tội ác trời không dung, đất không tha. Biết là lộ, là thua rồi vẫn cứ lùa quân đi vào chỗ chết. Nhiều chiến binh ở Nam Bộ còn sống sót trong Tết Mậu Thân kể với tôi, quân ta đi đánh thì máy bay do thám của địch bay trên đầu, địch biết hết nên đánh đợt hai đi 100 về chỉ còn 1,2. Nếu chỉ đánh để làm tan rã ý chí xâm lược của Mỹ, để Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán như bọn bồi bút vẫn hô hoán về trận Mậu Thân 68 thì chỉ cần một mũi tấn công thọc sâu vào Sứ quán Mỹ như ý kiến của Tướng Giáp là đủ. Hơn ai hết, cô Tuyết ở nơi kín cổng cao tường này nên biết rõ mọi chuyện. Có lần Nguyễn Văn Linh thấy cô tận tụy với công việc phục vụ đã định đề bạt cô làm Trưởng ban Tài chính quản trị trung ương, nhưng cô từ chối với lý do là phụ nữ, không đủ năng lực làm lớn(!). Khi ông chú ruột tôi là Lê Phú Hào, đại diện Thông tán xã Việt Nam tại Paris, từng phục vụ Lê Đức Thọ – phiên dịch tiếng Anh – tại hòa đàm Paris, đầu năm 1980 ly khai, cư trú chính trị tại Pháp, thì lập tức ông Trần Xuân Bách, Chánh văn phòng trung ương Đảng, đưa vấn đề lý lịch của cô Tuyết ra xét, định vu cho cô là khai man lý lịch vì Lê Phú Hào cũng là chú ruột của Lê Thị Tuyết. Nhưng nằm trong cái “tổ con tò vò” nên cô “rất thuộc bài” và “cao tay ấn”. Ngay ngày đầu tiên được tin chú mình trở thành “kẻ phản Đảng”, cô đã khai bổ sung lý lịch và nộp ngay cho tổ chức Đảng nên ông Trần Xuân Bách chẳng làm gì được cô! Cán bộ ở Ban Tài chính quản trị bình luận về sự việc này là vì cô Tuyết đã có lần dám phê phán cô thịnh – là vợ trẻ mới cưới của ông Bách, do cô này cậy thế chồng là ông lớn, lộng hành, vô kỷ luật(!). KGB của Liên Xô lúc đó đã gọi Thịnh là Giang Thanh của Việt Nam. Ông Bách trước kia cũng mù mờ như mọi ông trung ương, Bộ Chính trị khác, nhưng từ sau khi ông được trung ương giao cho nghiên cứu tình hình thế giới đang biến động, ông lập một đơn vị chuyên nghiên cứu, dịch sách báo tài liệu nước ngoài cho ông đọc. Đọc rồi ông thấy hoảng quá, tư tưởng ông có chuyển biến nên mới đề xuất đa nguyên, chỉ đa nguyên trong đời sống xã hội, trong tư duy thôi, chưa nói gì đến đa Đảng. Vậy mà ông đã bị khai trừ ra khỏi trung ương(!). Cô Tuyết cũng có lần kể cho tôi nghe những chuyện thật cảm động, như chuyện ông Hoàng Quốc Việt khi về hưu rồi, theo tiêu chuẩn vẫn được đi nghỉ mát Vũng Tàu (Cơ sở của Ban Tài chính Quản trị trung ương có ở tất cả mọi nơi trên đất nước). Nhưng tuổi già, đi một mình thì buồn lắm, nên ông Hoàng Quốc Việt đã đến xin với cô cho thêm một suất nữa cho ông bạn già của ông là cán bộ thường, không có tiêu chuẩn đi nghỉ Vũng Tàu từ Hà Nội cùng đi. Kể đến đây cô dừng lại rồi chép miệng nói: – Một vị khai quốc công thần như bác Hoàng Quốc Việt mà phải đến tận nơi, xin một cán bộ vô danh tiểu tốt so với công trạng của các bác như em thì buồn quá! Em giải quyết liền. Và từ đó, mỗi lần có bác cán bộ cách mạng lão thành nào đủ tiêu chuẩn đi nghỉ hàng năm, em đều hỏi bác có cần rủ một người bạn già nào nữa cùng đi cho vui không, để cháu giải quyết(!). Nhiều bác mừng lắm, vui như trẻ em. Cô Tuyết cũng nói với tôi về khó khăn trong việc thu hồi nhà công vụ và đồ đạc của Nhà nước khi các cán bộ cao cấp đã thôi làm việc. Cô ca ngợi, chỉ có bác Huỳnh Tấn Phát là ngay sau lúc nghỉ hưu đã gọi cô đến để trả lại ngôi biệt thự số 9, đường Nguyễn Đình Chiểu (nay là trụ sở Hội nhà văn). Bác Phát còn dẫn cô đi từng phòng, kiểm tra từng thứ đồ đạc của Nhà nước còn đầy đủ, nguyên vẹn như lúc nhận nhà sau đó mới trao chìa khóa ngôi biệt thự này cho ban TCQT trung ương. Nhớ lại chuyện cô Tuyết kể về bác Huỳnh Tấn Phát, tôi lại liên hệ đến lời ông Kiệt nói về lòng yêu nước của trí thức Nam Bộ “họ hy sinh cả một sự nghiệp, một điền trang lớn, vinh hoa phú quí” để đi kháng chiến vì yêu nước. Những người như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Lương Đình Của, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khắc Viện đi theo cách mạng không vì tài sản, vì xe hơi nhà lầu mà vì lý tưởng yêu nước cao cả. Còn kẻ khố rách áo ôm đi theo cách mạng thì sau khi cách mạng thành công, họ say sưa cấu xé nhau để tranh giành của cải, tiền bạc, say sưa tham nhũng rồi chính họ lại chết vì cuộc tranh giành đó. Xã hội Việt Nam hôm nay là dẫn chứng hùng hồn điều đó. Cách mạng Pháp 1789 nổ ra khi giai cấp tư sản đang lên, chính nhà vua Louis 16 đã phải vay tiền của các chủ nhà bang để trang trải nợ nần cho triều đình. Giai cấp tư sản chỉ dựa vào sức mạnh bạo lực của đông đảo nông dân đói khổ để lật đổ bọn phong kiến và tăng lữ, sau đó nắm lấy chính quyền, nâng cấp xã hội Pháp từ phong kiến lạc hậu lên xã hội công nghiệp tiên tiến. Bi kịch của cách mạng vô sản là kẻ khố rách áo ôm, dốt nát lại lên nắm quyền. Để che đậy cho sự dốt nát đó, Việt Nam hiện nay có biết bao ông tiến sĩ, giáo sư đã được học tắt, học “đón đầu”, mua bằng giả. Sự dốt nát của đám “trí thức” cận thần này đang làm trò cười cho cả thế giới đã internet hóa mà trường hợp của đại tá giáo sư tiến sĩ Trần Đăng Thanh là một điển hình chẳng kém gì các nhân vật điển hình trong văn học như Chí Phèo, Thị Nở!!! (Còn tiếp) ----- Posted on Tháng Mười Một 12, 2016 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/12/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-36/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 37): https://www.minds.com/newsfeed/1019890601192230912?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 35): https://www.minds.com/newsfeed/1019889486904070144?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
19 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 35) Võ Viết Thanh Một buổi sáng đẹp trời 2008, Võ Viết Thanh (VVT) đem xe đến rước tôi đi Bến Tre với anh. Thanh sinh năm 1943, kém tôi một tuổi, anh khiêm tốn gọi tôi là anh và xưng em. Tôi không hình dung nổi, một con người từng vào sinh ra tử, 17 tuổi đã ngồi tù, dày dạn trên chính trường, bất khuất và gang thép như Võ Viết Thanh lại có dáng vẻ nho nhả, ăn nói từ tốn khiêm nhường như thế. Hôm đó anh nói với tôi, anh vừa xin được một người bạn ngoại quốc trong lúc đánh gôn một số tiền để làm “xóa đói giảm nghèo” cho quê Bến tre của mình. Anh còn than: “Em dại quá, người bạn này hỏi cần bao nhiêu. Em nói 90.000 đô, anh ta gật liền. Bây giờ thấy tiếc, biết thế nói 200.000 có hơn không!” Tôi bảo VVT: – Ông tham quá, thế là tốt rồi. Trên xe hôm đó còn có một anh chàng Singapore gốc Hoa, nói tiếng Việt bập bẹ vì đã ở Việt Nam lâu năm. Anh chàng này chừng ngoài 50 tuổi, luôn mồm than “nước Singapore chúng tôi hẹp! Việt Nam lớn quá!”. Quả thật sau này tôi có đi Singapore và thấy cái nước này không rộng bằng huyện Giồng Trôm quê Võ Viết Thanh. … Sau khi làm việc với huyện, với xã, Thanh đưa tôi về nhà anh ở xã Lương Phú. Cảnh sắc quê anh rất thanh bình, êm ả. Mỗi nhà ở trong một vườn dừa rộng mênh mông, mát rượi. Có những cây dừa già nằm ngả xuống đất, muốn đi qua phải bước qua thân dừa mà chủ nhà cũng không muốn chặt. Có lẽ vì nhiều dừa quá. Ở miền Bắc ít đất, vườn nhà thường hẹp, vì thế mỗi lần vô một miệt vườn như ở Bến Tre, tôi cứ thơ thẩn ngắm vườn. Điểm nhất của chuyến đi này mà tôi không bao giờ quên là trước khi vô nhà ăn cơm, Võ Viết Thanh đưa tôi ra viếng một ông bà già anh. Mộ chí được xây cất ngay trong vườn. Võ Viết Thanh thành kính thắp nhang cúi lạy cha mẹ. Tôi đọc rất kỹ trên bia, hai cụ Võ Văn Nhuận và Phạm Thị Giang đều chết cùng ngày, cùng giờ, 20 giờ ngày 26/8/1962. Thanh nhìn tôi, nói trong uất ức: Một toán lính của chế độ Ngô Đình Diệm, đứng đầu là tên Tổng Giám đồn Long Phú đã giết cha mẹ tôi trên đất này, phía bờ sông kia, ai cũng biết, cả xã, cả huyện này đều biết. Vậy mà “bọn họ” lại bảo là cha mẹ tôi bị cách mạng giết. Tôi không quên nhờ anh bạn Singapore đi cùng chụp cho tôi và Võ Viết Thanh một tấm hình hai người ngồi bên một chí của các cụ thân sinh ra VVT. Bức hình tôi đội mũ nồi, Võ Viết Thanh để đầu trần, vầng trán rộng mênh mông tôi còn giữ làm kỷ niệm. “Bọn họ” mà VVT nói ở đây chính là Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê trước Đại hội Đảng lần thứ 7, lập án giả định hại Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong vụ án “Bà Sáu Sứ” tai tiếng cả nước, được giao cho Võ Viết Thanh với tư cách là Thứ trưởng Bộ Công an lúc đó đi điều tra và kết luận theo “hướng của trên”, nhưng Võ Viết Thanh đã không làm theo ý họ. Thanh đã điều tra đúng người, đúng tội, tôn trọng luật pháp nên sau đó họ không làm gì được Võ Viết Thanh, bèn nghĩ ra cái “võ” điều tra lại lý lịch của Thanh theo đơn tố cáo và gạt Thanh ra khỏi chính trường. VVT còn nói cho tôi rõ, theo nguyên tắc thì anh đã là Ủy viên Trung ương nên khóa Đại hội 7 đương nhiên anh được dự. Thanh còn cho biết, khi được phát phiếu bầu ủy viên trung ương khóa mới (7), cái phiếu ghi tên anh chỉ để trắng, không kèm theo chức vụ ủy viên trung ương khóa 6, như mọi ủy viên trung ương khác tái cử. Anh thắc mắc thì Ban tổ chức nói là: – Lỗi in ấn!!! Thanh nói: Tôi định cầm cái lá phiếu ghi tên mình xông thẳng lên diễn đàn và giơ lá phiếu ấy lên để tố cáo sự gian lận này trước toàn thể đại hội, nhưng nghĩ lại nếu làm thế là tôi đã phá cả đại hội, nên tôi thôi!!! Cô Võ Thị Cẩm Hồng, em ruột của Võ Viết Thanh, khi còn ở Sở Công an Tiền Giang, đã nói với tôi ngay từ năm 1991, lúc đó tôi cũng còn đang thường trú tại Mỹ Tho rằng: Khi là Thứ trưởng Bộ Công an, lúc lấy phiếu tín nhiệm, anh Bảy Thanh được phiếu cao nhất, vậy mà trước Đại hội 7, em thấy anh Tư Bốn (tức trung tướng Nguyễn Việt Thành sau này), Giám đốc Sở gọi em lên bảo khai lại lý lịch thì em biết ngay anh Bảy Thanh của em ở Bộ Công an ngoài Hà Nội đang gặp nạn rồi. Em còn lạ gì cái trò bày đặt đơn tố cáo để bắt khai lại lý lịch, kiểm tra tư cách đại biểu trước Đại Hội, để trì hoãn, để loại trừ nhau trước một Đại hội Đảng. Sau một ngày về Bến Tre, lúc đó cầu Rạch Miễu qua sông Tiền sang Bến Tre còn chưa được bắc nên lúc về đến Sài Gòn đã tối lại kẹt đường, ngồi trên xe buồn quá Võ Viết Thanh còn đọc cho tôi nghe mấy câu thơ của Verlaine. Tôi hỏi: ông cũng đọc được tiếng Pháp à? Thanh kể: Anh có xem phim “Ván bài lật ngửa chưa?” Trong phim có đoạn tỉnh trưởng Bến Tre lúc đó là Phạm Ngọc Thảo có gọi một thanh niên 17 tuổi đang ở tù ra hỏi cung, ông tỉnh trưởng chỉ hỏi vài câu lấy lệ rồi sau đó thả người thanh niên này ra. Người đó chính là em. Lúc đó em vừa học xong trung học ở Bến Tre. Hai năm sau cái ngày anh đưa tôi về Bến Tre, Võ Viết Thanh sai cô em Võ Thị Cẩm Hồng lúc này đã lên Sài Gòn làm ở báo Công an TP. HCM đến đưa cho tôi một cuốn sách dầy, khổ lớn, bìa cứng do Nhà xuất bản QĐND, xuất bản 2010 có tên là “Bến Tre đồng khởi anh hùng”. Cùng với cuốn sách đó là một cái đĩa ghi và một lá thư ngắn. Nguyên văn lá thư đó như sau: “Kinh gửi anh Lê Phú Khải, xem lại cho vui những chuyện đã qua của một gia đình và con người. Kính thăm anh và gia đình. 19.4.2010. Thân ái (ký tên Thanh)” Bức thư tôi còn giữ làm kỷ niệm. Tôi đọc sách, xem đĩa ghi hình, tìm hiểu về gia đình Võ Viết Thanh mà bàng hoàng. Có lẽ trên thế gian này chưa có gia đình nào hy sinh mất mát cho một cuộc cách mạng như gia đình Võ Viết Thanh, sau đó lại chịu những oan khuất, cay nghiệt như gia đình anh. Cả hai vợ chồng ông Võ Văn Nhuận và và Phạm Thị Giang đều là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ những năm 30 của thế kỷ trước, đấu tranh trong Công hội Đỏ ở Ba Son chống Pháp cùng lứa với Tôn Đức Thắng, Dương Quang Đông. Suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông bà đều là cán bộ nòng cốt. Ông làm quân giới tận U Minh. Năm 1958, ông bà bị bắt, bị đánh đập tra tấn dã man mà không hề khai báo gì. Sau 3 năm tù ông bà lại được tổ chức đưa về Bến Tre hoạt động bí mật. Đến năm 1962, cả hai vợ chồng người cán bộ kháng chiến này đều bị giết hại thảm khốc cùng một lúc. Cô Hồng đã kể với tôi, lúc chúng xông vào nhà bắt bố mẹ đi thì cô còn bé quá, ngồi ở thềm nhà chúng không để ý nên thoát chết. Chị cô bụng đang mang thai cũng bị bắt đi nhưng vùng chạy thoát. Võ Viết Thanh mới 18 tuổi đầu đã mang nặng thù nhà, nợ nước, cha mẹ bị giết, chị em gái và em trai cũng hy sinh. Sau 1975, Võ Viết Thanh về quê tìm bắt được Tổng Gốm, kẻ đã giết cha mẹ anh. Nó quì lạy và anh đã tha cho nó. Anh xông pha lửa đạn, chỉ huy một xưởng quân giới chế tạo ra nhiều vũ khí để diệt tàu Mỹ trên dòng sông quê hương. Trận đánh cầu Cá Lọc của anh được ghi chép trong lịch sử của Bến Tre. Anh từng được phong anh hùng lực lượng vũ trang. Vậy mà chính các “đồng chí” cao cấp của anh lại lập mưu vu khống cha mẹ anh, những người đã yên nghỉ nơi suối vàng, là kẻ phản bội. Còn gì đau xót hơn cho một người Việt Nam là cha mẹ mình đã mất mà còn bị vu oan, vu oan một cách bỉ ổi. Cái thiêng liêng nhất đối với VVT là linh hồn của cha mẹ mình lại bị đồng chí của mình đem ra bôi nhọ để lấy cớ cho những âm mưu đấu đá quyền lực bẩn thĩu nhất. Nếu Võ Viết Thanh cúi đầu nghe theo bọn họ thì anh sẽ lên quan to hơn, lên làm Bộ trường Bộ Công an, vào Bộ Chính trị. Nhưng anh đã chấp nhận bị vùi dập để đứng thẳng làm một con người chân chính, lương thiện và tử tế. Gia đình VVT đủ để Shakespeare viết một bi kịch về một cuộc cách mạng ở xứ châu Á xa xôi và hoang dại (sauvage) trong thế kỷ 20! Vậy mà trong thư anh viết cho tôi chỉ nói: “xem lại cho vui, những chuyện đã qua của một gia đình”. Tôi biết tâm hồn anh đã rã rời với một cuộc cách mạng đang bị phản bội. Anh thấy bẽ bàng cho nó và cho cả những gì mà anh đã cống hiến cho nó với tất cả sự trong trắng của tâm hồn mình. Anh đang nhìn xã hội quay cuồng xung quanh bằng con mắt của kẻ chỉ thấy đời như một giấc mộng phù du của “những chuyện đã qua”. Gần đây, tôi có gặp anh trong đám cưới con trai của cô em Võ Thị Cẩm Hồng của anh. Vẫn dáng vẻ nho nhã, vẫn giọng nói ấm áp, khiêm nhường, và trên vầng trán mênh mông của anh, tôi như thấy những đám mây buồn đang lãng đãng trôi. (Còn tiếp) ----- Posted on Tháng Mười Một 10, 2016 by Phan Ba Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/10/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-35/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 36): https://www.minds.com/newsfeed/1019890181229154304?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 34): https://www.minds.com/newsfeed/1019889318479765504?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 34) Và chính tác giả Võ Văn Kiệt là một nhà báo xuất sắc, là người cầm bút đứng giữa dòng chảy của cuộc sống để viết nên những tác phẩm báo chí có sức lay động lòng người như bạn đọc cả nước đã thấy. Ông viết bài phản đối việc gạt người nghèo ra bên lề xã hội trong việc cướp đất ruộng của dân làm cái gọi là “khu công nghiệp”; ông viết phản đối việc mở rộng Hà Nội v.v. và v.v. Báo SGGP cho biết, ông còn viết nhiều bài với bút danh Trọng Dân, bênh vực kẻ thấp cổ bé họng, bị ức hiếp trong cái gọi là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Theo tôi thì chưa bao giờ ông là cán bộ lão thành cả, lúc nào con người này cũng trẻ trung tràn đầy nhựa sống. Lúc ở tuổi 80 ông luôn nói: – Chưa lúc nào tôi thấy thiếu thời gian như lúc này! Võ Văn Kiệt là một con người như sinh ra để đứng ở đầu sóng ngọn gió. Ông là con người “thà đi trong giọng bão còn hơn đi bách bộ trong sân”. Tôi rất vui là bài phỏng vấn Võ Văn Kiệt cho tạp chí “Nghề báo” của Hội nhà báo TP. HCM đã được Tổng biên tập Hồng Phương đăng nguyên văn, không “kiểm duyệt” một chữ nào /Tạp chí NB 4/2003). Ấn tượng tốt đẹp thứ hai của tôi về Võ Văn Kiệt là ông nhận thức được vai trò của trí thức trong cuộc kháng chiến cứu nước cũng như trong xây dựng hòa bình. Xuất thân là nông dân sau đó trở thành nhà lãnh đạo cao cấp của một đảng mệnh danh là của giai cấp vô sản, công nông nhưng ông thực lòng tin yêu trí thức, thấy được vai trò, tác dụng của trí thức với xã hội. Khi trở thành người lãnh đạo cấp cao, ông đã hành động. Hội trí thức yêu nước TP. HCM được thành lập sau 30-4-1975. Phát biểu trong dịp lễ kỷ niệm 2 năm thành lập Hội Trí thức yêu nước, ông nói: “Trong thế giới này nay nguồn lực hàng đầu là trí thức. Nói như thế không có nghĩa là đề cao những con người trí thức cụ thể, mà là để nói đến một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển”. Thật là chính xác và sắc sảo. Khi là Thủ tướng Chính phủ, ông đã thành lập Ban Cố vấn cho Chính phủ gồm toàn các trí thức tên tuổi. Thời Phan Văn Khải vẫn giữ Ban Cố vấn đó. Nhưng khi anh y tá Nguyễn tấn Dũng lên làm thủ tướng thì giải tán liền! Năm 1999, tôi in cuốn sách nhỏ “Nguyễn Khắc Viện như tôi đã biết” (NXB Thanh niên 1999) đem tặng ông. Mấy ngày sau ông gọi điện cho tôi, đại ý: – Nên viết thêm những cuốn sách về trí thức Nam Bộ, vì không có trí thức tham gia thì Cách Mạng Tháng Tám không thể thành công ở Nam Bộ. Tôi chưa thấy nhà lý luận Việt Nam nào dám nhận định như thế. Ít lâu sau tôi được biết ông đem ý kiến này phát biểu ở Hội Nhà văn TP. HCM, và đề nghị các nhà văn viết về các trí thức Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám. Một lần gặp ông ở một hội nghị, tôi phải đến “thanh minh” với ông rằng, tôi rất mến mộ các vị thí thức NAM Bộ nhưng vì hiểu biết và vốn sống của tôi về Nam Bộ còn ít quá nên không dám viết. Khi họa sĩ Diệp Minh Châu qua đời, nghĩ đến lời khuyên của ông Kiệt, tôi viết cuốn sách nhỏ “Diệp Minh Châu – Con người bẩm sinh là một nghệ sĩ” (NXB Thanh niên – 2002). Trong cuốn sách nhỏ đó, tôi có trích lời ông Kiệt ghi trong sổ tang nói về những ngày “vượt suối băng ngàn” của ông cùng với Diệp Minh Châu ra Bắc 1952. Biết ông Kiệt hay đọc sách, tôi mua và đọc được cuốn sách nào thấy hay thì đem đến tặng ông. Một lần, tôi được ông trần Đức, nguyên phó ban Nông nghiệp trung ương tặng cho cuốn “Trang trại ở Pháp”. Trần Đức được Hội Nông dân Pháp mời sang nghiên cứu. Ông đã ở Pháp ba tháng liền, “ba cùng” với các chủ trang trại Pháp nên cuốn sách rất có giá trị thực tiễn để tìm hiểu về trang trại. Tôi đọc rất say mê nhưng trót gạch chân, đánh dấu vào sách. Chợt nghĩ đến ông Kiệt nhưng tôi băn khoăn là sách đã bị gạch, bị đánh dấu không còn mới nữa. Nhưng lúc đó lại đang có tranh luận về kinh tế trang trại (1997-1998). Ban Kinh tế trung ương còn mở cả một hội nghị lớn ở Sông Bé để bàn về kinh tế trang trại. Tôi được anh Nguyễn Tấn Trịnh, Phó Ban Kinh tế trung ương lúc đó đến tận nhà rủ đi dự hội nghị. trong hội nghị này người ta tranh cãi nhau rất quyết liệt, nhất là chính sách “hạn điền” cho trang trại. Tôi nhớ, giáo sư Đào Công Tiến phát biểu “gay” nhất. Chủ trì hội nghị là ông Phan Diễn cũng không dám rung chuông. Tôi nghĩ, phải để ông Sáu Kiệt đọc cuốn “Trang trại ở Pháp”, nên tôi đem đến tặng ông. Lúc đưa sách, tôi nói: – Xin lỗi ông Sáu, tôi tặng ông cuốn sách không còn mới, đã trót gạch chân, đánh dấu vào sách nhưng thấy ông Sáu nên đọc cuốn sách này, nhất là trong bối cảnh này nên mạnh dạn đem tặng ông Sáu… Tôi chưa nói hết lời thì ông Sáu đã cười cầm lấy sách rồi bảo tôi: – Dân Hà Nội có khác. Ông chỉ nói đến thế thôi còn tôi muốn hiểu thế nào cũng được, chẳng hạn dân Hà Nội khách sáo cẩn thận quá thờ lợ quá v.v. và v.v. Nhiều lần đối thoại với ông Sáu Kiệt, tôi biết ông là người rất thông minh, luôn đoán ra ý nghĩ của người đang đối thoại với mình. Điển hình là hôm nhà thơ Tố Hữu mất, tôi đi lang bang đến Hội Nhà văn TP. HCM, gặp nhà thơ Viễn Phương, một chức sắc của Hội, tôi hỏi: Anh Viễn Phương đánh giá Tố Hữu thế nào? Viễn Phương nói ngay: – Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi lặng lẽ chạy xe đến nhà ông Kiệt. Sau lời chào hỏi, tôi thưa: Nhà thơ Tố Hữu vừa mất, ông Sáu đánh giá Tố Hữu thế nào? Ông Kiệt nhìn tôi nghiêm nghị, trả lời chậm rãi, rõ ràng: – “Tố Hữu là nhà thơ lớn của Đảng”. Trả lời xong ông lại nhìn tôi nheo mắt cười. Tôi “đọc” được trong ánh mắt nheo cười của nhà chính trị rằng… Phú Khải cậu đừng lừa tôi, cậu cứ đem cái nhận định của tôi về Tố Hữu đi rao giảng khắp nơi, khắp chốn thế đó! Võ Văn Kiệt nhận định thế đó!!! Đừng tưởng!!! Lại nói về cuốn “Trang trại ở Pháp”. ông Kiệt cầm cuốn đó, không quên cảm ơn tôi. Ông tâm sự: – Có nhiều người bảo tôi là nông dân mà ra vẻ trí thức, lúc nào cũng đọc sách. Tôi nghĩ, nếu đọc sách mà bớt ngu đi thì tôi ra vẻ trí thức suốt đời! Tôi rất mừng là sau này, quan điểm của ông Kiệt về “hạn điền” trong vấn đề trang trại ở nước ta rất sáng suốt, rất cấp tiến, trái hẳn với quan điểm của ông cố vấn Lê Đức Anh lúc đó. Cụ thể là trong vấn đề cho thuê đất trong vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long Anh để lập trang trại. Tôi sẽ nói về vụ này ở một phần sau. Anh Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang, một người gần gũi với ông Kiệt nhiều năm, có lần bảo tôi rằng, anh rất mến ông Kiệt bản tính ưa nói thẳng. Theo anh Nhị, ông Sáu đã có lần tâm sự với anh, và cũng là lần đầu tiên anh được nghe một đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng nói về các vị nhân sĩ trí thức đi theo kháng chiến như thế. Tôi hỏi, ông Kiệt nói thế nào. Ảnh nhắc lại lời ông Kiệt: “Chúng ta đi theo cách mạng, nếu có mất thì chỉ mất cái quần đùi, còn họ thì hy sinh cả một sự nghiệp, điền sản lớn, vinh hoa phú quí. Đo đó, không thể đánh giá lòng yêu nước của họ ngang như ta được”. Bảy Nhị tỏ ra bất ngờ về câu nói đó của ông Kiệt. Tôi đã đem câu nói đó vào trong bài viết về Sáu Kiệt nhân ngày mừng thọ ông 85 tuổi (2007). Khi bài bào đăng rồi, còn có độc giả gọi điện cho tôi hỏi, “Có phải anh bịa ra câu nói đó không? Có thực Bảy Nhị đã nói với anh thế không?” Thật buồn! Tiếp xúc với ông Kiệt, tôi còn được ông chỉ bảo cho nhiều điều bổ ích về các vấn đề của Đồng bằng sông Cửu Long, điều mà tôi rất cần với tư cách, nhiệm vụ là phóng viên thường trú của Đài Phát thanh quốc gia tại khu vực trọng điểm này. Chính phù sa mịn màng, nắng mưa hào phóng của quê hương Vĩnh Long Nam Bộ đã sinh ra Võ Văn Kiệt. Và, tắm mình trong lao động cần cù vất vả thời thơ ấu, dấn thân trong đấu tranh cách mạng để giải phóng quê hương, từng tế bào, từng huyết mạch trong con người Võ Văn Kiệt thấm đượm sức sống của đất đai quê mẹ. Hơn ai hết, ông hiểu về mảnh đất quê hương mình. Đầu xuân 2004, tôi đến chúc Tết ông. Lúc đó lại vào dịp cúm gà đang hoành hành, ông lại vừa về quê ăn Tết lên, nên bảo tôi: – Con cá đã lên ngôi. Gà vịt vừa qua chết nhiều thì càng thấy vị trí của con cá ở đồng bằng. Như tôi đã nói với Phú Khải năm ngoái, từ trước đến nay ta chỉ mới truy bắt con cá mà chưa nuôi thả đúng mức. ĐBSCL tiềm năng thủy sản còn lớn lắm. Cả ba khu vực mặn, ngọt, lợ đều có những loài thủy sản rất có giá trị như con tôm ở vùng mặn, cá kèo vùng lợ, vùng ven có con cá đối, vùng ngọt có con tôm càng xanh và các loại cá đồng ĐBSCL có các loại cá quí như trạch – lấu, cá hô nặng hàng trăm ký trên sông Tiền, sông Hậu, cá cóc nặng hai ba ký. Kể ra nhiều loại cá quí như vậy rồi ông Sáu kết luận: – Cho đến bây giờ không có bất cứ loại cá gì là không nuôi được. Cá kèo đã dưỡng được, cá thác lác ở Cần Thơ đã nuôi được. Trước đây cá ba-sa giống phải đi mua từng con một, nay đã cho đẻ nhân tạo được rồi. Cá ba-sa, cá tra, cá linh, tôm càng xanh là những thủy sản mà vùng ĐBSCL của ta có ưu thế hơn hẳn các nước vùng sông Mê Kông. Phải biết biến thế mạnh đó để khai thác, nuôi trồng tốt hơn. Phải tiến tới lập các khu bảo tồn thủy sản, ngân hàng gen, quỹ gen cho thủy sản ĐBSCL. Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt lại hiểu biết rành rẽ về tương lai con cá ở ĐBSCL như thế. Đành rằng xuất thân là nông dân, nhưng ông đã “xa rời” ruộng đất từ nhiều năm và còn trăm công nghìn việc của một nhà chính trị trong một xã hội nặng nề đấu đá quyền lực làm sao ông có thể sát thực tế nông thôn đương đại đến thế. Ông nói một thôi về con cá. Tôi phải đề nghị ông nói chậm lại để ghi chép. Thế là cuộc gặp chúc Tết đầu năm trở thành một cuộc làm việc về con cá! Nhưng tôi vẫn còn nghi ngờ về những “con cá” mà ông Kiệt nói nên đánh máy sạch sẽ rồi đưa cho đương kim Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng, quê ở Đồng Tháp xem lại(!). Anh Thắng nói: Chính xác 100%. Ông Kiệt có tư duy từ cuộc sống như thế, không bị một giáo điều, một “học thuyết đứng đường” (thơ Trần Mạnh Hảo) nào chi phối tư duy của ông. Chính vì vậy mà ông là nhà lãnh đạo cộng sản đi xa nhất về tư duy chính trị. Marx nói: “Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy”. Vậy cứ như lời Marx thì khi nói về con em những gia đình công chức, quân đội cũ, ông Kiệt khẳng định: “Không ai chọn cửa để sinh ra”, và chính ông đã có sáng kiến tuyệt vời là giao cho Thành Đoàn thực hiện tổ chức lực lượng Thanh niên Xung phong của TP HCM, đón nhận bất kể các thanh niên xuất thân từ mọi thành phần. Và, trải qua lao động trên đồng khô, cỏ cháy, rừng sâu, núi cao, một lớp người không còn bị mặc cảm về “vết đen lý lịch” đã trưởng thành. Có thể kể: Trần Ngọc Châu, Nguyễn Đông Thức, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Trường Kiên, Tiếng Thu v.v. Khi nói về lòng yêu nước, ông nói: “Có trăm con đường yêu nước khác nhau, Tổ Quốc Việt Nam không phải của riêng một đảng, một phe phái tôn giáo nào”. Khi nói về ngày 30-4-1975, ông phát biểu: “Ngày 30-4-1975 có một triệu người Việt Nam vui, lại có một triệu người VN buồn. Vậy nên gọi đó là ngày thống nhất đất nước”. Những ngôn từ như thế theo ông Marx là “cái vỏ vật chất” của tư duy. Tư duy của Võ Văn Kiệt đã không xuất phát từ “học thuyết đứng đường” hay những “thiên đường vỡ chợ” nào (Trần Mạnh Hảo) mà xuất phát từ lợi ích, từ sự sống còn, từ hạnh phúc của dân tộc nên mới mang “cái vỏ vật chất” như ta thấy. Cái đó không có ở những nhà lãnh đạo đi theo một nhân quan giai cấp, một giáo điều xơ cứng, nhập ngoại “đứng đường”! Đi theo dân tộc đương nhiên phải hướng tới dân chủ. Và ông đã là người tiệm cận với dân chủ khi tuyên bố “chính kiến khác nhau là chuyện bình thường” và “một quốc hội có người tự ứng cử, và dân bầu lên một cách tự do sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ”. Không có gì thuyết phục hơn là nghe nhà đấu tranh dân chủ, nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Thanh Giang nói về Võ Văn Kiệt: “Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người lãnh đạo Đảng CSVN đương đại mà tôi ngưỡng mộ nhất”. Khi anh Thanh Giang vô Sài Gòn, đến nhà tôi, nhờ tôi dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng tôi từ chối vì muốn giữ “an toàn” cho cả hai vị. Sau đó, ông nhờ con gái ông Nguyễn Hội dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng bảo vệ nói “đi vắng!”. Trong suốt nhiều năm làm việc, tiếp xúc, đối thoại với ông Kiệt, tôi hết sức tránh những gì liên quan đến chính trị. Tôi sợ những đối đáp có màu sắc chính trị sẽ làm khó cho tôi, có khi làm tôi xa mất nguồn kiến thức về ĐBSCL mà ông Kiệt là một kho báu. Chẳng hạn, có lần bất thần ông bảo tôi: “Với ĐBSCL thì không có lũ cũng là thiên tai”! Chỉ một câu nói ngắn gọn của ông thế thôi cũng đủ là một đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề lũ lụt ở ĐBSCL. Vậy mà ông Đỗ Mười có lần lại tuyên bố… sẽ huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để đắp đê cho ĐBSCL. Thứ trưởng Bộ Thủy lợi lúc đó là ông Chín Giới lo cuống cuồng, phải xua cả một đàn chuyên gia hàng đầu về thủy lợi để tiếp đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đi “kinh lý” Nam Bộ. Các chuyên gia của ông Chín Giới đã phải thuyết phục đồng chí TBT Đỗ Mười không nên “huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để đắp đê cho ĐBSCL”! Ông Chín Giới kể với tôi, lúc họp ông run lắm, động viên các chuyên gia nói thẳng, nói thật với đồng chí TBT. Nếu có gì làm TBT phật ý thì ông sẽ chịu trách nhiệm. Rồi ông kết luận với tôi: – May quá đồng chí TBT đã không huy động toàn Đảng, toàn dân”. Nhân nói về TBT Đỗ Mười, tôi có câu chuyện “như đùa” thế này. Nhân được ông Sáu Phan giới thiệu từ Hà Nội, tôi lên T78 (nhà khách trung ương) ở Tp HCM để gặp TBT Đỗ Mười và tặng ông cuốn sách “Viết từ Đồng bằng sông Cửu Long” của tôi do NXB Thanh Niên xuất bản. Nói chuyện xong, lúc tôi ra về, ông Đỗ Mười cầm cánh tay tôi lắc lắc và bảo: Sao cậu gầy thế? Tôi trả lời: – Có phải đảng viên đâu mà béo được! Ông Đỗ Mười bảo: – Thế là tốt! Mấy ngày sau tôi đem câu chuyện này “khoe” với anh Trần Thế Tuyến, lúc đó là Trưởng cơ quan Báo QĐND tại TP HCM, tờ báo mà tôi đã cộng tác từ ngày còn ở Hà Nội. Anh Tuyến cười bảo tôi: – Ông ngu bỏ mẹ, người ta làm chính trị nên chỉ nói nửa lời. Tốt là tốt cho Đảng. Nếu một người như ông mà vào Đảng thì chỉ có phá Đảng mà thôi! Có thế mà ông cũng không hiểu, còn đi khoe!!! Chúng tôi đã cười nghiêng ngả!!! Trở lại câu chuyện với ông Sáu Kiệt, tôi luôn tránh né nói cái gì liên quan đến chính trị. Nhưng cuộc sống lại không đơn giản đến thế. Chính trị, triết học, lịch sử, khoa học, văn hóa được con người tách ra để nghiên cứu riêng vì nó phức tạp quá. Nhưng trong đời sống xã hội thì tất cả các yếu tố ấy đều hòa quyện, đan xen vào nhau. Một mâm cơm mà ta ăn, nhìn vào đó thấy cả chính trị, khoa học, văn hóa. Ăn gạo gì thì đó là kết quả của khoa học lai tạo, ăn như thế nào là văn hóa, có ngồi cùng mâm với người bất đồng chính kiến với mình không thì đó là chính trị. Bởi vậy, có những lần vô tình, tôi lại bàn luận về đề tài chính trị với ông Sáu. Hôm đó cũng là một ngày đầu xuân, tôi đến chúc Tết ông như thường lệ. Khi tới, các vị đến trước đang bàn về “dân chủ ở cơ sở”. Khách về rồi, tôi nói những điều vô thưởng vô phạt với ông Sáu, chẳng hạn như: ông Nguyễn Khác Viện có ý kiến là nước ta không có truyền thống dân chủ nên bây giờ phải tập dân chủ ở mọi nơi, mọi cấp. Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt nói một thôi: Xưa kia tôi đi làm cách mạng vì thấy ngoài đời mất dân chủ quá, kẻ giàu ức hiếp người nghèo, cường hào ác bá đè nén dân đen. Khi vào Đảng, tôi thấy trong Đảng thật thương yêu nhau, đồng chí với nhau thật dân chủ, có gì cũng bàn bạc trao đổi dân chủ, không ai đè nén, áp đặt ai. Nay Đảng là nơi mất dân chủ nhất. Cái mất dân chủ của Đảng nó ô-tô-ma-tic ra ngoài dân. Dân học Đảng để mất dân chủ với nhau. Tôi nhớ nhất cái từ “ô-tô-ma-tic” của ông Sáu Kiệt! Võ Văn Kiệt bộc trực như thế. Có lẽ vì cái bộc trực “Anh Hai Nam Bộ” này mà ông gặp nạn. Cái chết của ông thật khó hiểu. Đang khỏe mạnh, còn mua vé trước để đi Hà Lan với Tiến sĩ Tô Văn Trường để nghiên cứu về chống nước biển dâng tràn tới DBSCL. Vậy mà, chỉ đi Hà Nội về là lăn ra chết. Bác sĩ Quế – Phó Ban Bảo vệ Sức khỏe trung ương, bạn với tôi nói: – Chụp phổi thấy trắng xóa (tức là đen) là điều rất hiếm. Bệnh phổi không thể chết nhanh như thế được!!! Tôi là một trong những người được biết tin ông Sáu Kiệt mất sớm nhất. Tôi điện cho vợ anh Tô Văn trường, ít phút sau thì từ bên Đức, nơi anh Trường hẹn đợi ông Sáu qua để cùng đi Hà Lan. Anh Trường vừa nói chuyện với tôi vừa khóc trong điện thoại. Anh cứ khóc nấc lên, rất tội. Lúc đó tôi cũng cứ thấy cay xè hai con mắt! Nhìn lại thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, đất nước chuyển mình rõ rệt. Năm 1990, tổng thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ đạt ước khoảng 200 đôla Mỹ. Đến năm 1997, chỉ số này là 300 đôla Mỹ. Lạm phát được kiềm chế đến một chữ số trong hai năm 1996-1997. Xuất khẩu lương thực tăng liên tục. Năm 1997, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 trên thế giới. Đầu tư nước ngoài sau 10 năm kêu gọi (1987-1997) đã lên đến gần 30 tỷ đô la Mỹ. Trên trường quốc tế, từ thế bị bao vây, Việt Nam trở thành một quốc gia chuyển mình mạnh mẽ qua kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Có thể nói, thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, Việt nam có gương mặt sáng sủa nhất từ sau chiến tranh, được thế giới tin tưởng và hy vọng nhiều về một Việt Nam trên đường đổi mới. Đó là một dấu son của lịch sử. Nhưng thật là thiếu khách quan, công bằng nếu không nói đến những sai lầm của Võ Văn Kiệt trong một công trình lớn là đường dây tải điện Bắc-Nam 500 kilôvôn. Chỉ có những người trong cuộc, ở ngành tài chính và điện lực mới hiểu rõ điều này. Nhưng trong một thể chế toàn trị thì những con số “bí mật” luôn được che đậy, giữ kín. Đường dây 500 kilôvôn là một công trình lấy tư duy chính trị để làm kinh tế. Đến nay công trình này vẫn không quyết toán được, Khi làm một công trình lớn lao như thế nhưng Quốc Hội không được bàn bạc và thông qua. Việc bảo quản và duy tu cho đường dây này là một gánh nặng lâu dài cho nền điện lực mà các chi phí của nó luôn được dấu kín. Nếu chỉ để hòa mạng lưới điện quốc gia thì không cần đến đường dân này, còn để tải điện thì ở đầu bắc đường dây đỏ rực mà ở đầu phía nam điện vẫn chập chờn. Tiêu hao trên đường đi là vô cùng lớn, vì thế, khi có ý định làm đường dây này, tôi đã được đọc rất nhiều phản biện của các chuyên gia ở Việt Nam đưa cho tôi, với hy vọng là một nhà báo tôi có thể lên tiếng! Nhưng làm gì có chuyện đó ở Việt Nam với các nhà báo. Đấy là chưa kể đến tham nhũng trong việc mua bán vật tư để thi công đường dây này. Vì thế, khi đường dây làm đến địa phận miền Nam, Đài TNVN (Cơ quan thường trú tại TP HCM) cử tôi đi viết tin bài về công trình đường dây này, tôi không đi và còn phát biểu rất gay gắt trong cuộc họp phân công ai đi viết bài. Giám đốc Cơ quan thường trú lúc đó là ông Hồng Mão phải gào lên: – Không đi thì thôi, anh Khải đừng phát ngôn như thế mà đi tù cả cơ quan! Cuối cùng, nhà báo Đặng Xuân Mai của cơ quan tôi, cháu gọi ông Trường Chinh là ông (ông bác) phải đi thế tôi. Đi về, ông Mai đã kêu trời về sự vất vả của công nhân, phải gùi từng can nước ngọt lên đỉnh núi để đổ bê tông! Đương nhiên làm thì có đúng có sai, với tôi, Võ Văn Kiệt luôn là hình ảnh của một con người suốt đời tận tâm, tận lực với đất nước, với dân tộc cho dù ở ông ý thức hệ hay chiến tuyến nào. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười Một 7, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/11/07/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-34/#more-7757 *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 35): https://www.minds.com/newsfeed/1019889486904070144?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 33): https://www.minds.com/newsfeed/1019888866130624512?referrer=HoangVanLam   - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·