LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 25) Trở về Đài Tiếng nói Việt Nam Sau ba năm làm việc ở Đài Phát thanh tỉnh Tiền Giang mà chủ yếu thời gian dùng để đọc sách của các tác giả như Hồ Bửu Chánh, Phi Vân (giải thưởng văn học Cần Thơ 1943), Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê… đi dậy viết tin viết bài cho các Đài truyền thanh các huyện và viết cho các báo như Nhân Dân, Văn Nghệ… Các đề tài tôi viết lúc đó rất cần cho đài, báo miền Bắc, vì đã gần 10 năm thống nhất đất nước các đài báo miền Bắc vẫn chỉ quanh quẩn các vấn đề của các tỉnh miền Bắc; luôn bị Ban bí thư phê phán là báo đài của “Thung lũng sông Hồng”! Đất nước ta tuy bé nhưng lại dài, từ Bắc vào Nam cả ngàn cây số, từ TP HCM xuống Cần Thơ trước đây phải qua hai con phà đã mất cả ngày đường. Dân trí thấp đã đành, “báo trí” của các nhà báo nước ta cũng đáng ngại vô cùng. Sự hiểu biết của các vị đó về Đồng bằng sông Cửu Long, vùng trọng điểm nông nghiệp rộng lớn của cả nước rất mơ hồ. Có vị ở báo Nhân Dân đi từ miệt dưới lên, đến Mỹ Tho ghé tôi chơi, sau vài câu hỏi thăm sức khỏe ông nói: Tôi mới ở Đồng Tháp Mười lên, ở dưới ấy vui lắm(!) Tôi hỏi Đồng Tháp Mười nào? Vị ấy trả lời: Ở dưới Cà Mau ấy! Hể cứ nói đến vùng đất hoang Đồng Tháp Mười là người ta hình dung nó ở xa lắm. Mà đã ở xa là phải ở tận Cà Mau! Người ta không hay trung tâm Đồng Tháp Mười là Mộc Hóa chỉ cách TP HCM đường chim bay 60-70 km. Hễ nói đến một vùng cây trái tập trung ở Nam Bộ là các vị ấy nghĩ ngay đến cây dừa ở Bến Tre! Một lần, tôi viết về vùng chuyên canh cây khóm (dứa) ở tỉnh Kiên Giang có diện tích lớn nhất đồng bằng Nam Bộ. Khi viết tôi đã chú thích rất rõ là cây khóm Nam Bộ, miền Bắc gọi là cây dứa. Thế mà vị biên tập ở báo Nhân Dân đã gạch tuốt đi, chữa chữ “dứa” thành chữ “dừa”. Vậy là vùng dừa lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long không phải ở Bến Tre mà ở tận Kiên Giang! Một lần, tôi viết cái tin, một năm cồn Tân Long thuộc Mỹ Tho xuất khẩu được ba tấn vi cá. Có nghĩa là chỉ lấy cái vây con cá để xuất khẩu. Vậy là, phải đánh bắt được nhiều tấn cá quý mới lấy được ban tấn vi cá. Đến khi cái tin ấy được đăng trên trang nhất ở báo Nhân Dân, người ta đã “biên tập” lại, xóa chữ vi cá đi, chỉ là là “xuất khẩu ba tấn cá”. Có ai đời, một cái cồn giữa sông Tiền, biên chế một xã mà một năm chỉ xuất khầu có ba tấn cá mà cũng đưa lên trang nhất báo Nhân Dân! Thời đó, báo Nhân Dân quan trọng lắm, cán bộ lãnh đạo các tỉnh thành, huyện, xã đều đọc hàng ngày. Vì thế ở Mỹ Tho, các vị lãnh đạo bảo nhau, có lẽ thằng Phú Khải nó ăn tiền của bọn cồn Tân Long nên mới đăng tin xuất khẩu ba tấn cá, trong khi đó có đơn vị hàng năm xuất khẩu hàng ngàn tấn cá mà nó không đưa tin! Ra đến Hà Nội thì có người lại chửi (rủa) tôi: Mày cậy quen biết Hữu Thọ, Minh Tân ở báo Nhân Dân nên muốn viết gì thì viết à?! Thật là “oan thị Kính”! Nhưng chưa oan uổng bằng vụ “Cầu Một Hóa bắc qua sông Vàm Cỏ Tây”. Đó là nguyên văn đầu đề bài ghi nhanh tôi gửi ra báo Nhân Dân năm 1985, vào một dịp kỷ niệm một ngày lễ lớn trong năm (2.9). Vậy mà 8h sáng, trưởng Ban tuyên huấn tỉnh ủy Sáu Cao cầm tờ báo trong tay đến nhà tôi ở 316 Trần Hưng Đạo, Tp Mỹ Tho rủa: Cầu mới bắc qua Sông Tiền từ bao giờ thế Phú Khải? Tôi giở tờ báo ra xem, suýt ngất xỉu vì cái tít bài báo là: “Cầu mới bắc qua sông Tiền”! Đến 3h chiều ngày hôm đó thì tôi nhận được tin ông Hai Văn, phó chủ tịch tỉnh Long An nhắn: Phú Khải đừng qua Long An nữa, ông Tư Thân dọa gặp cậu sẽ bắn đó! Thì ra ông Tư Thân vốn là thiếu tướng quân đội, người dẫn đầu mũi tấn công thứ 5 từ miền Tây lên Sài Gòn vào ngày 30.4.1975. Tính nóng như lửa, khi đọc được bài báo đó, ông đã nói thế. Chả là trước đó vài ngày, ông có cho xe đón tôi từ Mỹ Tho qua Long An để dự lễ khánh thành cây cầu bê tông tiền áp dài 229,35 mét lớn nhất từ trước đến nay kể từ 1975, bắc qua sông Vàm Cỏ Tây ở địa phận Mộc Hóa nhằm phát triển kinh tế xã hội vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn thuộc Long An. Báo viết như thế nên ông nổi nóng dọa bắn là phải! Tôi phải “bí mật” sang Long An gặp phó chủ tịch Hai Văn, đưa các bản lưu bài ghi nhanh cho Hai Văn xem, để “chạy tội”! Giữ lại bản lưu bài viết đó là kinh nghiệm xương máu của tôi, nhờ đó mà tôi “thoát nạn” nhiều lần sau này. Tôi không có máy chữ, viết bài trên giấy pơ-luya rồi đặt tờ giấy than bên dưới (như cô kế toán viết hóa đơn). Bao giờ cũng vậy, tôi gửi bản chính đi, giữ bản phụ lại. Hai Văn xem xong vui vẻ hứa “sẽ báo cáo lại Tư Thân”! Xin mở ngoặc nói ít chuyện về cái vùng Mộc Hóa lắm chuyện vui và ông chủ tịch tỉnh Tư Thân nóng tính như lửa. Ở Mộc Hóa có ông chủ tịch quê ở Cà Mau là Năm Tâm. Ông có một bản báo cáo hàng năm của huyện bằng 100 chữ mà chữ nào cũng bắt đầu bằng vần “L”! Năm nào cũng bản báo cáo đó, chỉ đổi con số mà thôi. Có lần anh Hữu Thọ về Mộc Hóa thăm anh hùng lao động nông nghiệp Võ Thị Hồng, tôi dẫn anh đến nghe ông Năm Tâm đọc bản báo cáo đó để “cười bò ra”! Vậy mà trong một lần chủ tịch tỉnh Tư Thân dẫn các ban, ngành đi kiểm tra vùng Đồng Tháp Mười cả tuần lễ, chủ tịch huyện Năm Tâm dám đem bài báo 100 chữ L ấy ra đọc. Tư Thân nổi giận… Năm Tâm sau đó phải “trốn” không dám ló mặt. Chủ tịch Tư Thân cấm cả đoàn không ai được nhắc đến vần L của Năm Tâm làm mất tư thế đoàn kiểm tra! Đi trong vùng Đồng Tháp Mười chỉ có toàn nước phèn nên cả tuần nam giới chẳng ai dám tắm rửa, nước ngọt ở nhà khách ủy ban huyện phải để dành cho mấy chị trong đoàn, trong đó có bà Chín, trưởng Ty Y tế. Vậy mà bà Chín lại vô tình chê ông Tư ở dơ (bẩn). Vốn tính nóng như lửa, ông Tư quát: có ít nước ngọt dành cho chị rửa L hết rồi, còn chê bai tôi ở dơ nỗi gì! Thế là chính Tư Thân đã phá lệ, nhắc đến vần L! Cả đoàn lại lăn ra cười và báo cho Năm Tâm không phải lánh mặt nữa. Hình như ở cái vùng đất hoang vu này, con người phải biết cười vui để sống: vì đã “buồn lắm rồi, heo hút cô đơn lắm rồi…”. Lại nói về cây cầu Mộc Hóa bắc qua sông Vàm Cỏ Tây. Hai Văn vốn là bạn với Hữu Thọ nên gọi điện mời Hữu Thọ vào Long An chơi. Ông đưa Hữu Thọ lên cầu Mộc Hóa, chỉ xuống sông hỏi Hữu Thọ: Sông này là sông gì? Trả lời: Sông Vàm Cỏ Tây! Hai Văn lại nói: Thế sao báo Nhân Dân lại bảo cầu Mộc Hóa bắc qua sông Tiền? Hữu Thọ lại bảo: Mình tưởng nó là một nhánh của sông Tiền! Đến một nhà báo nổi tiếng như Hữu Thọ mà còn lơ mơ về địa lý Nam Bộ như thế thì còn trách gì ai(!) Báo Nhân dân năm 1985 còn đủ 365 số lưu trữ trong thư viện quốc gia, tôi đâu dám bịa chuyện nhầm lẫn “động trời” này! Cái thời điểm đó chưa có một cơ quan đài báo nào ở trung ương đặt phóng viên thường trú ở Đồng bằng sông Cửu Long nhưng ở miền Bắc thì tỉnh nào cũng có thường trú. Giám đốc Nguyễn Thành sốt ruột cũng phải. Ông làm công văn xin Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cho tôi được trở về Đài tiếng nói Việt Nam nhưng vẫn “đóng quân” ở Mỹ Tho. Chủ tịch Tiền Giang Nguyễn Công Bình đồng ý. Thế là tôi trở thành phóng viên thường trú đầu tiên của báo, đài trung ương tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trong quyết định, giám đốc Nguyễn Thành giao cho tôi viết tin, bài ở ba tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Đồng Tháp. Ông nói miệng: Có sức thì Phú Khải cứ đi cả đồng bằng thì càng tốt! Thực trạng thông tin về Đồng bằng sông Cửu Long như thế nên tôi có tham vọng tìm hiểu toàn diện về đồng bằng để trước hết là thông tin chính xác, làm cơ sở cho các đồng nghiệp của mình. Tôi kiếm được cái bản đồ đường sông và đường bộ Đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ 1:500.000 của Cục đường sông Bộ Giao thông vận tải in. Tôi bắt đầu đi khảo sát đồng bằng từ 6 vùng sinh thái (vùng phù sa nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu, vùng nhiễm mặn ven biển, vùng tây sông Hậu, vùng bán đảo Cà Mau, vùng tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười) của đồng bằng cho đến vác vấn đề then chốt nhu hệ thống đường sông, tiềm năng giao thông đường sông, tiềm năng thủy lợi, du lịch, văn hóa Khơ me… Có lần đi cả tháng liền, đi đâu cũng mang bản đồ theo, đến chỗ nào thì đánh dấu vào bản đồ hoặc vẽ thêm vào những con đường, dòng kinh mới xuất hiện. Thời điểm đó (1985-1995) công cuộc khai hoang Đồng Tháp Mười (ĐTM) rầm rộ nên tôi chú ý đến vùng này. Tấm bản đồ của tôi về vùng ĐTM dầy đặc những nét vẽ mới, nó rách bươm đến nỗi phải “vá víu” chằng đụp. Sai hai năm mải miết đi khảo sát như thế, tôi có thể tin rằng mình đã nắm sơ bộ về Đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây là một vùng nông nghiệp đa dạng, phong phú, có vùng rất trù phú như vùng phù sa nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu, ở đó có lúa một năm 2-3 vụ, có vườn cây trái tốt tươi, quanh năm có phù sa nước ngọt. Đời sống vật chất ở vùng này rất cao như có khách du lịch đã ghi cảm tưởng trong một nhà vườn: Đây là một “thiên đường nhỏ” (petit parade). Nhưng cũng có những vùng vô cùng khắc nghiệt vì xa nguồn nước ngọt, đất trũng, mùa lũ thì bị ngập tràn cả tháng nhưng mùa khô lại như sa mạc, đất phèn nặng … đó là các vùng Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên. Đến năm 1988, tôi đã hoàn thành bản thảo cuốn “Đồng Tháp Mười hôm nay”. Trong một lần đi tháp tùng phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng Võ Văn Kiệt đi khảo sát, kiểm tra vùng Đồng Tháp Mười, tối ngủ lại ở nông trường khai ohang trồng khóm Tân Lập tỉnh Tiền Giang. Sáng hôm sau, lúc ngồi ăn điểm tâm tôi có nói với ông Kiệt: cuốn sách viết về Đồng Tháp Mười của tôi đã xong, nhưng bản thảo nằm ở một nhà xuất bản trên Tp HCM cả năm nay mà chưa được in. Ông Kiệt nhìn tôi cười hóm hỉnh: Phú Khải cứ đặt tên cho nó là “hoa hậu Đồng Tháp Mười” tôi đảm bảo là được in liền! Mọi người có mặt ăn sáng lúc đó đều tán đồng. Sau này tôi có viết một bài ký dự thi cuộc thi viết ký văn học của báo Sài Gòn giải phóng năm 2005 với cái đầu đề: “Hoa hậu Đồng Tháp Mười” viết về một nữ doanh nhân ở TP HCM thuê 2000 ha đất trong vùng hoang Đồng Tháp Mười của tỉnh Long an mà trước đó các nông trường quốc doanh khai hoang đều thất bại, nhưng chị Bé Hai (tên doanh nhân) lại thành công. Bài ký đó tôi đã nhận được giải thưởng 6 triệu (5 triệu giải thưởng + 1 triệu nhuận bút đăng báo), hơn cả nhuận bút cuốn “Đồng Tháp Mười hôm nay”. Cuốn sách này do nhà xuất bản tổng hợp TP HCM xuất bản (1989) có cả bản đồ Đồng Tháp Mười in năm 1939 lấy từ sách “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười” của Nguyễn Hiến Lê, và một số ảnh về Đồng Tháp Mười hôm nay do tôi chụp. Đó là cuốn sách thứ 2 tôi xuất bản về Đồng bằng sông Cửu Long sau cuốn đầu tiên “Rắn độc trong tay người” viết chung với Trần Đồng Minh về trại nuôi rắn Đồng Tâm của Bs Tư Dược ở Xí nghiệp dược liệu quân khu 9 đóng tại Tiền Giang – Một cuốn sách thiếu nhi do nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Cho đến bây giờ vẫn có ý kiến tranh luận về vấn đề khai hoang ở ĐTM. Có lập luận rằng khai hoang là phá môi trường sinh thái do tự nhiên sắp đặt. Thì ngay từ ban đầu, sau 1975 chuyên gia Liên Xô cũng khuyên ta không nên khai phá ĐTM, để đó làm du lịch. Đây là vùng đầm lầy ngập nước rộng lớn nhất ở Đông Nam Á, để nguyên nó sẽ thu hút chim chóc cả vùng về đây sẽ thành điểm du lịch quốc tế lý tưởng (nay ta còn khoảng 7000 ha ở Tam Nông Đồng Tháp cho loài sếu đầu đỏ đi về). Nhưng do sức ép về lương thực thời đó, nên buộc ta phải khai hoang ĐTM để trồng lúa. Nhưng những người đưa ý kiến không nên khai phá ĐTM lại phản biện rằng, vì chính sách hợp tác hóa nông nghiệp sai lầm nên ta mới thiếu lương thực. Nay bỏ hợp tác hóa thì ngay cả đồng bằng Bắc Bộ cũng thừa gạo ăn cho miền Bắc, có năm còn xuất khẩu thì cần gì phải khai thác ĐTM. Lịch sử trớ trêu là vậy. Nếu còn nguyên ĐTM hoang vu thì quý hóa biết mấy. Có nhà khoa học đã nói: một đất nước không ra đất nước nếu không có những vùng đất hoang. Một nhà thơ Pháp André Theuriet đã viết: “Hồn tổ quốc ngự nơi rừng sâu thẳm”! Nếu để vùng ĐTM là sân chim của cả vùng ĐNÁ như chuyên gia Liên Xô đã từng khuyên ta thì bây giờ tiền thu được từ dịch vụ du lịch còn lớn hơn nhiều tiền xuất khẩu gạo trầy trật. Nhưng lịch sử không có chữ “nếu”! Người Pháp có câu ngạn ngữ rằng. “Với một chữ nếu, tôi có thể bỏ cả cái thành Paris vào trong một cái lọ!” Than ôi! Sau cuốn ĐTM, tôi lần lượt cho xuất bản tập bút ký “Viết về Đồng bằng sông Cửu Long” (NXB Tổng hợp TP HCM 1998) “Dòng đời xuôi ngược” (NXB Công an nhân dân 1998); “Hồ sơ Đồng bằng sông Cửu Long” (NXB Thanh niên 2000); “Chung sống với lũ” (NXBTN 2001). Các sách trên đều đã được tái bản. Viết những cuốn sách đó, tôi chỉ hy vọng cung cấp ít nhiều tư liệu chính xác cho các bạn đồng nghiệp của mình về vùng đất mà cả nước quan tâm là vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà thôi. Cùng với việc cho ra đời các cuốn sách, hầu như tháng nảo tôi cũng có bài phát trên Đài tiếng nói Việt Nam và báo Sài Gòn giải phóng về Đồng bằng sông Cửu Long. Đôi khi còn viết ký cho báo Văn nghệ Hội nhà văn. Những bài nào theo suy nghĩ của tôi là có “nhận định”, có đề xuất vấn đề ở tầm vĩ mô với Đồng bằng sông Cửu Long thì tôi gửi cho báo Nhân Dân, và hầu hết được đăng, như các bài: Tiền Giang từ khi có nghị quyết lần thứ V của Đảng (báo ND 19.11.1982); Nhìn lại vận tải đường sông ở Đồng bằng sông Cửu Long (báo ND 24.4.90). Nhà văn Mai Văn Tạo quê ở An Giang đã đọc kỹ cuốn “Đồng Tháp Mười hôm nay” của tôi và bản thảo tập ký “Viết từ Đồng bằng sông Cửu Long” và ông đã viết lời giới thiệu cho tập ký này của tôi với tất cả tình cảm của người đi trước để động viên một nhà báo quê ở miền Bắc đã có công lặn lội để viết về miền Nam quê hương ông. Quả thật, trong suốt thời gian làm phóng viên thường trú của Đài tiếng nói Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long (từ 1984-1992) rồi lên TP HCM, tôi vẫn đi, vẫn viết về Đồng bằng sông Cửu Long cho đến năm về hưu (2002), và cả khi hưu rồi. vẫn đi vẫn viết về đồng bằng… Tôi đã không tiếc mồ hôi để hy vọng góp một chút sức lực của mình cho sự phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, mà chỉ có Đồng bằng sông Cửu Long mới có thể cứu nguy cho nhiều vùng đói khổ của đất nước. Đúng như nhà thơ Bùi Minh Quốc đã viết: “Cả tuổi xuân ta hiến dân cuồng nhiệt Để đúc nên chính cỗ máy này” Thật là chua chát! Cho đến nay khi Việt Nam đã xuất khẩu gạo vào hàng nhất nhì thế giới, nhưng càng xuất nông dân Đồng bằng sông Cửu Long càng nghèo và các nhóm lợi ích càng giàu. Người làm ra hạt lúa thì nghèo, kẻ đi buôn gạo được lấy tiền ngân hàng lãi xuất thấp đi buôn, buôn độc quyền thì phè phỡn. Tham nhũng thành quốc nạn, lãnh thổ bị gặm dần bởi anh bạn 16 chữ vàng, đất nước đứng bên bở vực thẳm. Đó là kết quả của đại hội 6, chỉ cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị, dẫn đến một nền kinh tế của bọn mafia. Tôi chỉ còn một con đường là cầm bút viết cho báo “lề trái”, viết cho mạng Internet tự do! Cũng cần phải nói rõ thêm về khẩu hiệu “chung sống với lũ” mà tôi là người đầu tiên đưa nó lên phương tiện thông tin, báo chí. Tháng 10-1997, anh Lê Huy Ngọ lên làm bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Lần đầu tiên vô Sài Gòn, anh kêu chuyên gia thủy lợi Nguyễn Nhiệm đang công tác tại văn phòng II của Bộ ở đường Pasteur đến giao nhiệm vụ: cậu tìm xem ai là người đầu tiên nêu khẩu hiệu “chung sống với lũ” để tôi thưởng. Anh Nhiệm mời tôi đến văn phòng II chơi, rồi đưa tôi đi nhà hàng ăn trưa. Anh kể lại nhiệm vụ bộ trưởng Ngọ mới giao và nhờ tôi, một người hay viết về Đồng bằng sông Cửu Long tìm hộ tác giả đó. Anh còn nói: Bộ trưởng mới giao việc cho tôi, anh Phú Khải cố giúp tôi việc này. Tôi bảo với anh Nhiệm: cứ yên tâm, mai tôi sẽ trả lời anh ngay. Anh Nhiệm mừng lắm. Hôm sau tôi mang đến cho anh Nhiệm bản photo ba bài viết của tôi trên báo. Bài thứ nhất: Ơi! Đồng bằng sông Cửu Long Báo xuân Sài Gòn giải phóng Nhân thân 1992; Bài thứ hai nhan đề: Chung sống với thiên nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long (đăng liền 2 số báo Sài Gòn giải phóng từ số 21/10/94 đến 1/11/94 và số tiếp theo). Bài thứ ba: Né lũ (báo Văn nghệ Hội nhà văn VN 5/11/1994). Tôi nói với anh Nhiệm: anh đọc kỹ ba bài báo này theo thứ tự thời gian đăng. Nếu anh không tìm thấy văn bản nào, bài bào, cuốn sách hay quyết định công văn nào trước đó đã nêu khẩu hiệu “chung sống với lũ” thì tôi là tác giả của khẩu hiệu này. Anh Nhiệm mừng lắm, cảm ơn tôi. Ba ngày sau anh điện cho tôi lên văn phòng II dùng cơm với anh Ngọ, để anh Ngọ thưởng tôi. Bữa cơm có cả chị Năm Triều, Tổng giám đốc công ty lương thực miền Nam và một vài nhà bào khác. Lúc đã ngà ngà say, anh Ngọ nói: giá bây giờ có cái chiếu giải xuống đất ngồi mà nhậu thì hay quá! Tôi nhớ mãi câu này vì ai đời đang ngồi bàn có ghế tựa lưng để ăn nhậu rất sang trọng lại ước ngồi chiếu ở dưới đất(!) Ông Ngọ đúng là một “Bộ trưởng của nông dân”! Tiệc xong, cậu Nhạn thư ký của anh Ngọ đưa cho tôi một chai rượu Hennessy và nói: Bộ trưởng tặng thưởng nhà báo! Tôi đem chai rượu về khoe với bà xã. Bà bảo tôi: Bộ trưởng thưởng công mà chỉ có một chai rượu thôi à? Sau đó tôi có việc phải đi Hà Nội. Tôi kể cho chú em họ tôi là Lê Phú Hoành đương kim vụ trưởng Vụ Quan hệ Quốc tế Bộ Tài chính nghe câu chuyện “chung sống với lũ” và phần thưởng của Bộ trưởng Ngọ cho tôi. Chú em tôi nói: Mồm anh bé mà nói một câu lớn như thế người ta không cắt lưỡi là may lắm rồi(!) còn đòi gì nữa. May cho họ Lê Phú nhà ta không có người bị cắt lưỡi! Tôi là một nhà báo, mà nhà báo thì là người làm chính trị mà không mưu đồ quyền lực nên đã “ngây thơ” chăng? Viết lại câu chuyện tôi chỉ muốn nói rõ một điều là, trên thực tế nông dân ĐBSCL vẫn chung sống với lũ từ xưa đến nay. Bà con gọi là “mùa nước nổi”, là “lũ lành”. Khi chúng ta khai hoang những vùng đất xưa kia, bà con chỉ vào thu hoạch lúa nổi, lúa trời chứ không ở lại đó. Nay làm lúa 2 vụ ở những vùng đó, xây nhà, xây trường học ở những vùng xưa kia không ai ở, chỉ đến xâm canh mà thôi. Vì thế, mới thiệt hại và chưa có biện pháp chung sống với lũ ở các vùng mới định cư đó. Và, nhà nước vội vàng hô “chống lũ”, báo chí hùa theo viết bài “chống lũ”! Ông Đỗ Mười còn dọa sẽ “huy động toàn Đảng, toàn dân đắp đê cho Đồng bằng sông Cửu Long”! Khi ông ở ngoài Bắc vào Nam để triển khai tư tưởng này, thứ trưởng Bộ Thủy lợi là ông Nguyễn Giới đã phải đem cả một tốp chuyên gia thủy lợi đến thuyết phục, may quá ông Đỗ Mười đã nghe ra và bỏ ý định “huy động toàn Đảng toàn dân …” đắp đê cho Đồng bằng sông Cửu Long. Ngay cả bà con đang sống trong vùng kinh tế mới giữa Đồng Tháp Mười đã khẫn hoang, họ vẫn có cách “né lũ” để sống chứ không phải họ chống lũ. Vì thế tôi chỉ là người có công gọi đúng tên sự vật khách quan là nhân dân đang “chung sống với lũ” chứ tôi không phát kiến ra cái gì mới lạ cả. Có điều là, nhà báo phải sát dân, không ngồi trong phòng lạnh để chờ ăn theo, nói leo các ông lớn. Tôi nẩy ra ý định viết hàng loạt bài cổ vũ cho khẩu hiệu “chung sống với lũ” trong một chuyến đi thực tế quan sát lũ. Hôm đó là một buổi chiều cuối năm 1991, phó giám đốc Sở Nông nghiệp Tiền Giang là anh Nguyễn Văn Khang hiện nay (2013) đang là chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh. Anh Khang đến rủ rôi và nhà báo Hải Bình, trưởng cơ quan TTXVN tại Tiền Giang đi Cái Bè gấp với anh. Anh nói: Lũ miệt trên (tức An Giang-Đồng Tháp) đã về đến xã Hậu Mỹ Bắc A cùa Cái Bè Tiền Giang rồi, tôi sốt ruột lắm, mời 2 anh đi với tôi, các anh “la lên” cho mọi người biết lũ năm nay to lắm, chuẩn bị mà đối phó. Thế là chúng tôi đi. Đến xã Hậu Mỹ Bắc thì cánh đồng còn khô ráo, bà con đang gặt lúa gấp để né lũ. Lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long là lũ chảy tràn trên một mặt bằng rất rộng lớn nên nó bò từ từ, qua rất nhiều chướng ngại vật là bờ ruộng, bờ kênh, nhà cửa, vườn tược. Nước lên nhích dần từng centimet. Chiều tối hôm ấy chúng tôi quyết định ngủ lại một nhà dân đang gặt lúa chạy lũ. Mâm rượu được dọn ra đãi khách. Lúc chúng tôi cởi dép lên giường ngồi nhậu thì sàn nhà còn khô ráo. Một lúc sau quờ chân xuống đất tìm đôi dép thì đã chạm chân vào nước. Nước đã vô nền nhà và đôi dép chui vô gầm giường. Sáng hôm sau thì cả vùng đất rộng lớn là huyện Cái Bè của tỉnh Tiền Giang, vùng giáp ranh với Đồng Tháp Mười đã mênh mông nước. Những gia đình nào chưa kịp thu hoạch lúa thì đang gặt mò! Gia đình nào đã thu hoạch xong thì lo chở lúa lên lộ cao phơi. Bấy giờ mọi người đi lại bằng chiếc xuồng ba lá bé nhỏ. Tôi đứng nhìn cánh đồng ngập nước mênh mông… cảnh sắc giống hệt vùng chiêm trũng Hà Nam-Phủ Lý mùa mưa bão ngoài Bắc. Nhưng nên nhớ rằng, nước đồng chiêm trũng ngoài Bắc là thứ nước chua có hại cho lúa mà bà con gọi là vùng “chiêm khê mùa thối”. Còn “nước nổi” mà chúng tôi đang cởi quần dài vắt lên cổ để lội ở Cái Bè này ...

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 24) Những năm 1980 là những năm diễn ra cảnh “ngăn sông cấm chợ” khủng khiếp nhất ở nước ta. Ở ĐBSCL, nơi có nhiều hàng hóa nông sản nhất nước, cảnh ngăn sông cấm chợ càng tệ hại nhất. Trạm thuế Tân Hương, vị trí giáp ranh của tỉnh Tiền Giang với Long An là địa danh khét tiếng một thời. Xe cộ từ các tỉnh miền Tây lên đến đây bì ùn tắc vì phải đỗ lại để quản lý thị trường khám xét. Khách hàng phải xuống hết để nhân viên quản lý thị trường lên xe săm soi từng cái gầm ghế. Một kg gạo, một trái dừa khô, một kg đường cũng bị tra hỏi. Có anh bộ đội về phép thăm nhà, đem 10 kg gạo, khi bị quản lý thị trường giữ, anh ta nói: có giấy phép của ông Đỗ Mười, quản lý thị trường quát: Đỗ mười một cũng tịch thu nữa là đỗ mười! Cái giai thoại trên ra đời ở cái vùng nhiều lúa gạo nhất ở nước này là ĐBSCL. Tôi đã có lần đi qua trạm Tân Hương, lấy máy ảnh chụp đoàn xe nối đuôi nhau cả cây số để chờ khám xét, đã bị quản lý thị trường trạm này bắt, nhốt vào cái phòng tối om cả nửa ngày, mặc dù trước đó tôi đã trình thẻ nhà báo nhưng vẫn bị họ tịch thu cuộn phim trong máy ảnh. Khi về cơ quan thường trú ở TP HCM báo cáo việc này, giám đốc Nguyễn Thành bảo tôi viết một bài ghi nhanh ở Tân Hương, nhưng khi thu băng rồi, gửi ra Hà Nội, Đài TNVN cũng không dám phát, vì lúc đó quản lý thị trường là một “chủ trương lớn của Đảng và nhà nước”! Nhưng nói đến chuyện ngăn sông cấm chợ ở ĐBSCL thời thập niên 1980 của thế kỷ 20 thì phải kể đến chuyện đường sông mới là đáng nói. Vì đa số hàng hóa ở vùng này đều do đường sông đảm nhiệm việc chuyên chở. Sông Tiền và Sông Hậu rộng mênh mông nối với mạng lưới kinh rạch chằng chịt ở đồng bằng, có nhiều nơi hẻo lánh và đặc điểm của vận tải sông là ghe thuyền chạy suốt đêm ngày (động cơ của nó có cấu tạo để luôn có nước sông làm mát máy không như ô tô chạy trên bộ). Các trạm thuế vụ, trạm quản lý thị trường lại đều được trang bị súng… nên họ lộng hành và dân vận tải sông “rên xiết dưới sự kiểm soát của họ”. Một cái ghe chở hàng nặng mấy chục tấn, đang chạy giữa sông Tiền sông Hậu rộng mênh mông, chỉ cần nghe một tiếng súng nổ trên bờ là phải quay vào để thuế vụ, quản lý thị trường kiểm tra giấy tờ, khám xét hàng hóa. Nếu đủ giấy tờ và không chở hàng “lậu” thì cũng phải nộp tiền chi phí phát đạn. Giá tiền một phát đạn như thế muốn tính bao nhiêu cũng phải chịu. Trên thế giới này có lẽ không đâu có cách phạt vạ người dân kỳ lạ và tàn bạo như thế. Người ta đua nhau vượt biên, bất chấp sống chết vì lối cai trị và cách phạt vạ người dân kiểu Việt cộng như thế! Tôi đã đi theo một đoàn ghe 5 chiếc, mỗi chiếc có trọng tải 25 tấn của hợp tác xã vận tải đường sông Rạch Gầm tỉnh Tiền Giang chở gạo thuê cho nhà nước từ các kho của tỉnh Kiên Giang lên kho của Tổng công ty lương thực miền nam ở Tp HCM. Cả đi lẫn về 11 ngày liền nên tôi được chứng kiến tận mắt cảnh các trạm kiểm soát dọc đường sông ở Đồng bằng sông Cửu Long đã hành hạ các chủ ghe và thủy thủ của họ như thế nào. Có chủ ghe nói thẳng với tôi là sẽ tu sửa ghe cho thật tốt rồi đưa cả gia đình, vô con đi vượt biên không thể sống với các ông cộng sản được! Sau chuyến đi đó, tôi đã viết bài điều tra mang tên “Đi theo những con thuyền mang tên Rạch Gầm”, báo Sài Gòn giải phóng đầu năm đó (1986) đã đăng bài phóng sự này. Chính đại tá Hoàng Cuông, trưởng ty Công an Hải Hưng năm xưa, người được tướng Qua nhắc đến như một điển hình tốt của Bộ Công an đã đọc được bài báo đó khi ông nhận chức cục phó một cục của Bộ có cơ quan tại phía Nam. Đại tá Hoàng Cuông đã đi xe com-măng-ca nhưng đổ ở đầu đường, đi bộ đến số nhà 30 Thạch Thị Thanh ở Q1 TP HCM để gặp tôi, theo hẹn, ông luôn “giữ bí mật” theo tác phong của ông. Gặp tôi ông hỏi chuyện về bài phóng sự đó. Tôi nói thẳng với vị đại tá công an này, là người ta sẽ bỏ nước đi hết nếu Đảng không thay đổi đường lối lãnh đạo, vẫn ngăn sông cấm chợ kiểu dã man trung cổ này! Đó là chuyện tôi viết báo công khai, tôi còn làm “báo cáo mật” cho chủ tịch Tiền Giang Nguyễn Công Bình về việc các trạm thuế trên các đường sông. Đó là một lần tôi đi lang thang bên rạch Bảo Định ở Mỹ Tho, tôi nghe thấy một bà chủ ghe dưới rạch lớn tiếng than: kỳ này về tôi sẽ đốt ghe, không đi buôn nữa! Tôi vội lao xuống xem sự tình thế nào. Thấy chiếc ghe khác lớn mang biển số KG, tôi biết là ghe của tỉnh Kiên Giang. Bà chủ ghe cho tôi hay, ghe của bà có trọng tải 21 tấn, bà chở đủ 21 tấn khoai mì (sắn) lên thành phố bán, nhưng đi qua các tỉnh, các trạm thuế đều bắt đóng thuế “bổ sung”, lấy lý do bà chở quá 21 tấn quy định. Nếu không đóng thuế “bổ sung” thì phải dỡ khoai mì lên cân lại. Bà than: bốc đủ 21 tấn lên cân lại thì bằng thắt cổ tôi cho xong! Đó là cách bắt chẹt, bóp cổ dân của các trạm thuế. Một điều thật kinh hoàng là, ghe của bà sau khi cộng hết số hóa đơn “bổ sung” của các trạm thuế đường sông (trong đó có trạm Kinh Nước Mặn tỉnh Long An không thua gì trạm Tân Hương trên đường bộ) đã lên đến 20 tấn, xấp sỉ trọng tải chiếc ghe 21 tấn của bà. Đến Kinh Nước Mặn, chồng bà phải tháo chiếc đồng hồ senko đeo tay để trạm thuế “cầm”, như người ta “cầm đồ”, đợi khi nào lên TP HCM bán được khoai mì, lúc trở về sẽ “chuộc”(!) Cũng còn may là lên đến TP, bà không phải đóng thuế nhờ chính sách miễn thuế cho các ghe chở lương thực (như khoai mì) cứu đói cho thành phố. Nơi đây muốn có khoai mì để cán bộ công nhân viên và nhân dân TP ăn sáng. Đó cũng là chính sách “xé rào” của TP HCM một thời. Tôi hỏi bà chủ ghe cho biết tên những trạm thu thuế bổ sung, thì được biết đó là các trạm: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành … Tôi xin bà các hóa đơn đó, bà cho ngay (trong đó có cả giấy biên nhận giữ đồng hồ của chồng bà ở trạm thuế Kinh Nước Mặn, khi bà quay về chuộc lại họ quên không đòi lại giấy để hủy). Với đầy đủ chứng cứ trong tay, suốt đêm tôi viết “báo cáo mật” về vụ đánh thuế chiếc ghe biển số Kiên Giang đầy oan nghiệt… (có kèm theo đầy đủ hóa đơn thu thuế bổ sung). Sáng hôm sau tôi đem đến báo cáo chủ tịch tỉnh Nguyễn Công Bình. Xem xong “báo cáo mật” của tôi, ông chủ tịch đập tay xuống bàn rất mạnh và không nói câu nào cả. Đến kỳ họp giao ban hàng tuần, có đầy đủ các ty, ban, ngành trong sở, chủ tịch Sáu Bình đã phê phán gay gắt ngành tài chính và các trạm thuế. Ông đập tay xuống bàn rồi giơ tập hóa đơn thuế bổ sung lên nói to trước cuộc họp: thế này thì chúng ta trở thành kẻ cướp rồi, đâu phải chính quyền cách mạng! Một ông trưởng ty ngồi cạnh tôi, ghé vào tai tôi nói nhỏ: đây là bọn công an kinh tế tỉnh nó “chơi” bọn tài chính thuế vụ đấy! (không ai biết là tôi đã “báo cáo mật” bằng văn bản cho chủ tịch Sáu Bình). Đến buổi chiều, chủ tịch cho gôi tôi đến, bão tôi viết thay ông lá thư xin lỗi bà chủ ghe ở Kiên Giang. Ông cho tôi hay: sẽ theo địa chỉ ghi tên bảng hiệu của ghe và tên bà chủ để cử cán bộ xuống Kiên Giang xin lỗi bà, bồi hoàn số tiền mà tỉnh Tiền Giang đã 9ánh thuế oan với bà. Chủ tịch tỉnh Tiền Giang là một người như thế, ông nổi tiếng là sáng suốt, cương trực và liêm chính. Nhiệm kỳ chủ tịch tỉnh của ông, tỉnh Tiền Giang đứng đầu ĐBSCL về nhiều mặt. Tôi có nhiều kỷ niệm với ông khi làm việc tại Đài Phát thanh Tiền Giang. Có lần ông kêu tôi đi cùng đoàn làm việc của tỉnh vào nông trường khai hoang Tân Lập trong Đồng Tháp Mười làm việc liền ba ngày. Buổi sáng cuối cùng, trước khi về ông hỏi tôi, ba ngày qua đi xuống các đội sản xuất rồi làm việc với Ban lãnh đạo nông trường, với công đoàn nông trường… “nhà báo thấy có gì cần phải trao đồi không?” Tôi thưa với ông, mọi chỉ đạo của chủ tịch tôi thấy đều đúng, duy chỉ việc trồng cây dọc các bờ vùng bờ thuở của cái nông trường hơn 3000 ha này thì tôi thấy phải suy nghĩ lại. Tôi kể câu chuyện ông nội tôi làm thư ký cho Toàn Quyền Đông Dương, đi kinh lý các địa phương, khi cần làm việc gì, Toàn quyền đều giao cho chuyên gia, không bao giờ chỉ đạo cụ thể. Vì thế việc chủ tịch chỉ đạo trồng điều lộn hột, giao cho Sở Nông nghiệp nghiên cứu trồng cây gì thích hợp. Sau này bạch đàn lên tốt, cao vút, đường kính mỗi cây hai, ba tấc, ông Sáu đã chỉ đạo nông trường phải thưởng người kỹ sư đã tham mưu đúng (và cho cả tôi nữa). Một kỷ niệm khác, trong chuyến đi Campuchia, thăm và đem quà tết của tỉnh Kiên Giang cho các bạn ở tỉnh kết nghĩa Puasat, khi đoàn dân-quân-chính của tỉnh về nước rồi, là người có mặt trong đoán đi, tôi làm một bản báo cáo có số liệu về địa lý, kinh tế, văn hóa của tỉnh bạn (có so sánh với số liệu của Tiền Giang) trình chủ tịch Sáu Bình để sau tết ông đi thăm tỉnh kết nghĩa này. Chuyến đi của ông sang thăm tỉnh bạn kết nghĩa đó ngay sau tết 1982 rất thành công. Nhưng không ngờ cuối năm đó, chủ tịch lại có cuộc viếng thăm nước bạn XHCN Bungari, ông đến tận nhà tôi, đề nghị tôi soạn giúp một văn bản giống như đã làm với chuyến thăm Campuchia trước đây để ông tham khảo cho chuyến đi Bun sắp tới. Tôi hoảng quá, báo cáo. thưa ông Sáu, tôi chưa đi Bun lần nào ạ. Ông chủ tịch vốn nghiêm nghị này nghiêm nét mặt bảo tôi: đồng chí không được… khiêm tốn! Rồi ông ra về. Sở dĩ ông có thái độ nghiêm nghị và dứt khoát như thế vì mấy hôm trước có đoàn nhà bào ở TTX Novoti Liên Xô đến thăm tỉnh, ông cũng đến vảo tôi: đồng chí đi nhiều nước rồi, có kinh nhgiệm, ngày mai đồng chí cùng các nhà báo của tỉnh tiếp khách cùng tôi. Tôi giao cho đồng chí việc đó. Tôi nói: Thưa ông Sáu tôi chưa đi nước ngoài bao giờ, trừ chuyến đi Campuchia năm ngoái. Ông Sáu nghiêm nét mặt bảo tôi: Đồng chí không được… khiêm tốn! Tôi đành sang Hội hữu nghị Việt-Xô của tỉnh mượn tất cả các số tạp chí của TTX Novoti phát cho anh em đọc và dặn anh em ngày mai đem các số báo ấy đi, đặt lên bàn cho khách người ta trông thấy và phát biểu nhận xét về tạp chí này. Khi thấy chúng tôi đều có tạp chí Novoti in bằng tiếng Việt đặt trước mặt và phát biểu rôm rả, đương nhiên là tôi phát biểu trước… bạn rất hài lòng. Cuộc đón tiếp đạt kết quả tốt nên mới có chuyện ông chủ tịch giao cho tôi soạn thảo tài liệu đi Bun và ông đinh ninh là tôi đi nhiều nước rồi sau cái vụ tiếp đoàn thông tấn Novoti(!) Cùng tắc biến! Tôi lên TP HCM đến Hội trí thức thành phố và may mắn kiếm được cuốn “Bungari tự giới thiệu” bằng tiếng Pháp. Tôi đem về nhờ “thầy Quý chơi sách” dịch tóm tắt hộ về soạn thành tài liệu đưa trình chủ tịch sáu Bình. Tôi không quên ghi chú trong tài liệu rằng, trước khi chủ tịch về, nếu còn thời gian xin bạn cho đi dâng hoa viếng mộ nhà thơ X, thi hào của nước Bun như trong sách “Bungari tự giới thiệu” đã viết. Sau chuyến đi đó, chánh văn phòng ủy ban Sáu Kỳ, người tháp tùng chủ tịch đi Bun đem một cái khăn quàng phụ nữ rất đẹp, nói là quà của “chú Sáu” đi Bun tặng cho bà xã tôi. Sáu Kỳ cũng cho tôi hay, bạn rất phấn khởi khi nghe “chú Sáu” yêu cầu cho đi viếng mộ thi hào của nước Bun. Vì chưa có đoàn khách nào của Việt Nam, nhất là của một tỉnh mới giải phóng ở miền Nam lại có cử chỉ đẹp như thế. Chưa hết. Tôi còn một kỷ niệm khó quên với chủ tịch Sáu Bình khi cùng ông đi khánh thành một cây cầu mới trong một xã vùng sâu ở huyện Cai Lậy. Cắt băng khánh thành xong, ông chủ tịch còn nán lại dặn dò cán bộ xã phải bảo quản cây cầu như thế nào. Lúc quay ra thì cậu lái xe (tên là Vũ) đi đâu mất. Xã phải cho người đi kiếm (miền Bắc gọi là đi tìm). Thì ra có một đám giỗ, Vũ bị bắt vào nhậu. Thấy có người đến kiếm, nói “chú Sáu” giận lắm, Vũ hoảng quá lái xe như bay về. Nào ngờ cái cầu mới khánh thành, bề ngang hẹp, Vũ tông ngay xe vào thành cầu. Cánh cửa xe Lada của chủ tịch bẹp dúm, thành cầu cũng bị “tổn thương”. Ông Sáu giận lắm. Lúc ngồi trên xe trở về Mỹ Tho ông không ngớt lời mắng Vũ, dọa sẽ kỷ luật. Xong rồi việc cũng đâu vào đấy. Vũ vẫn lái xe cho chủ tịch. Nhưng việc đáng ghi nhận là từ đó, cây cầu mới chưa kịp đặt tên ấy, đã “chết” tên là “Cầu ông Vũ”. Bà con cái ấp ấy vẫn gọi là “Cầu ông Vũ” cho đến tận ngày nay. Trong văn bản địa đồ của chuyện cũng chính thức ghi “Cầu ông Vũ”! Bởi có thế người ta mới biết mà hỏi đường. Và, nếu bạn đi lang thang ở Nam Bộ, nếu thấy một địa danh như Ấp Bà Bèo, cầu Bà Rượu, cầu Cái Vồn, cửa Sông Đốc, cửa Ông Trang, quận Cái Răng, cầu ông Tành, cầu Tắc ông Thục, xóm Kiến Vàng… thì đừng vội kết luận ngay đó là tên những danh nhân, địa danh nơi xảy ra những sự kiện lịch sử như Rạch Gầm. Có thể đó là tên một vị anh hùng hào kiệt nào đó có công lập ấp, lập làng, đánh đuổi trộm cướp, cá sấu, hùm beo khi ông bà ta đến mảnh đất này “mở cõi”, cũng có thể là một người bình dân như ông Vũ nhưng đã để lại cho xóm ấp những kỷ niệm đời thường, có thể vui, có thể buồn và đáng nhớ. Vậy thôi! (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 11, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/11/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-24/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 25): https://www.minds.com/newsfeed/1019886581300297728?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 23): https://www.minds.com/newsfeed/1019885759111942144?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
23 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 23) Nói về sự cởi mở của “anh Hai Nam Bộ” tôi phải dẫn thêm trường hợp ts Võ Tòng Xuân phản đối làm cầu Mỹ Thuận! Tôi hỏi gs Võ Tòng Xuân: tôi nghe nói hồi sắp làm cầu Mỹ Thuật qua sông Tiền, ông phản đối? Giáo sư trả lời vô tư: đúng thế. Tôi bảo ông: vậy là ông điên rồi. Võ Tòng Xuân cãi: làm cầu thì mấy anh đi, tôi đi chứ nông dân có đi đâu! Thay vì dành tiền ấy thay các cầu khỉ cho nông dân đi, để bà con làm ăn khấm khá rồi thu thuế làm cầu cũng chưa muộn. Ngẫm nghĩ một lát rồi ông lại cười nói tiếp: tôi còn viết bài phân tích rõ lợi hại nói trên, vì thế lúc đó thủ tướng Võ Văn Kiệt mới la lên “Võ Tòng Xuân nó phát tôi!”. “Không chịu nổi”, tôi bảo Sg Xuâb: may đời cho anh, phải ông thủ tướng khác thì gặp nạn rồi(!) SG Xuân vẫn hồn nhiên: nhưng thủ tướng lúc đó bảo tôi: thư thả làm xong cầu, chính phủ sẽ thu thuế qua cầu, lấy tiền làm cầu thay cầu khỉ cho nông dân… vì câu nói đó của thủ tướng mà báo Thanh Niêntheo dõi việc thu thuế cầu để làm cầu… dài dài sau này. Thì ra chuyện phản đối làm cầu Mỹ Thuận của Võ Tòng Xuân là có thiệt! Quả thật lúc này, tôi không còn thời gian để “chất vấn” Giáo sư Xuân về vụ nuôi tôm hay trồng lúa, “cứ có lợi là làm” của ông, mà nhiều nông dân đã cắt bài báo đó để trong túi làm “bùa hộ mệnh” để nuôi tôm… bạt mạng, bất kể phân biệt vùng quy hoạch mặn hay ngọt(!) Võ Tòng Xuân là vậy. Nghĩ thế nào nói thế, chỉ tính hơn-thua cho nông dân, không tính lợi-hại cho mình hay bất cứ ai. Vì thế ông được nông dân Đồng bằng sông Cửu Long rất yêu quý, đồng thời cũng bị người có trách nhiệm quản lý toàn diện đôi lần nổi giận. Nhưng “giận mà thương”! Nói về cái khuynh hướng tình cảm trong ứng xử, trong đời sống hàng ngày, tôi có ví dụ khá điển hình về một “anh Hai Nam Bộ” là Ba Tạo ở Cần Thơ. Năm 1985 sau khi trở về cơ quan thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam tại TP HCM từ Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang, nhưng vẫn “trụ” lại Mỹ Tho để thực hiện ý đồ “có người luôn có mặt, thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long” của giám đốc Nguyễn Thành, tôi tiến hành một cuộc đi khảo sát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của Đồng bằng sông Cửu Long. Tôi đi Cần Thơ. Với giấy giới thiệu của Đài tiếng nói Việt Nam, tôi trình chánh văn phòng Sở quản lý nhà đất Tp Cần Thơ xin gặp ông giám đốc. Sau ít phút, chánh văn phòng trở ra cho biết giám đốc từ chối không tiếp nhà báo. Cũng không nói lý do gì cả. Đây là một trường hợp “hơi bị hiếm” với một cơ quan một tỉnh lẻ, từ chối không tiếp người đại diện cho cơ quan ngôn luận cấp quốc gia. Tôi kiên trì thuyết phục vị chánh văn phòng sở báo cáo lại ông giám đốc là tôi chỉ xin gặp trong ít phút, không làm mất thời gian của ông nhưng kết quả là vẫn bị từ chối. Đây là một việc làm trái nguyên tắc, vì theo quy định nhà nước, được in ngay phía sau thẻ nhà báo thời đó (sau bị bỏ) là các cơ quan, đôn vị… phải có nhiệm vụ cung cấp tư liệu, thông tin cho báo chí. Nhưng tôi đành quay ra và tự đi tìm kiếm tư liệu trong một tuần lễ. Trước khi về, tôi quay lại Sở nhà đất Cần Thơ, nói với vị Chánh văn phòng sở bữa trước rằng, tôi đã làm việc cả tuần lễ tại thành phố “Tây đô”, trước khi ra về, chỉ xin phép vào chào đồng chí giám đốc sở một câu cho phải phép. Tôi làm thế để muốn nhìn tận mắt xem ông giám đốc quan liêu và hách dịch này mặt mũi ngang dọc ra sao! Quả nhiên giám đốc cho vào. Trước mặt tôi lúc đó là một người đàn ông cao, gầy, da đen sạm và mất một tay đến sát vai. Tôi được ông mời nước, mời thuốc. Đúng như đã hứa với vị chánh văn phòng, tôi nói: thưa đồng chí giám đốc, tôi đã tìm hiểu về quản lý đô thị ở thành phố ta, tôi đến chào giám đốc, chúc sức khỏe và xin phép ra về. Nói xong tôi đứng dậy. Vị giám đốc vỗ vai tôi bằng cánh tay còn lại và mời tôi cứ ngồi, có cần gì cứ hỏi… Sau một lúc trò chuyện tôi được biết ông là Ba Tạo, từng là chiến sĩ giải phóng quân đánh trận Mậu Thân ở Cần Thơ “rút vào, rút ra”. Chuyện trò giữa tôi và Ba Tạo càng lúc càng tâm đầu ý hợp. Cuối cùng, hết giờ làm việc, Ba Tạo không cho tôi về, bảo tôi về nhà ông chơi, nhậu một bữa, tâm sự một đêm, sáng mai mới được về. Ông chở tôi bằng cái xe honda màu đen cũ kỹ, điều khiểu xe bằng cánh tay còn lại ra tận ngoại ô Cần Thơ, nơi ông có căn nhà cấp 4 đơn sơ nhưng vườn khá rộng. Ông giới thiệu tôi với bà vợ rất nhiệt tình như gặp lại bạn cũ lâu ngày. Tối hôm đó chúng tôi nhậu lai rai bên hè nhà gió lộng. Ông kể cho tôi nghe, vì sao là giám đốc Sở nhà đất nhưng lại ở cái nhà xập xệ thế này, lý do là vì ông thích vườn rộng. Lúc mới giải phóng chỗ này còn hoang vu lắm. Muốn ở bao nhiêu tùy sức. Đêm đó hầu như chúng tôi rất ít ngủ, lúc tỉnh giấc lại chuyện. Tôi được nghe về cuộc đời chinh chiến của ông, vì sao lại mất mát một tay, mất tay trong trường hợp nào. Và, đặc biệt ông kể về những khó khăn trong quản lý đô thị ở miền Nam, điều tôi rất cần nghe. Khi mới giải phóng miền Nam, từ chiến khu, các cơ quan của ta vào thành phố và cứ theo sự đồng dạng về tên gọi của hai chính quyền cũ và mới để tiếp thu các công sở. Ta cứ tiếp quản “nguyên canh nguyên cư” như thế nên bây giờ mới có cảnh trái đời. Một tỉnh nông nghiệp lớn mà cơ quan nông nghiệp và thủy lợi lại bé như cái lỗ mũi. Nhốt hàng trăm nhân viên trong một căn nhà hẹp trong khi ở ngay cách đó, một phòng cảnh sát lại chiếm cái nhà to đùng. Chỉ một Hội Chữ Thập Đỏ thì phải mua thêm thật nhiều khóa để khóa các phòng không khi nào có người bước chân vào cả. Sở quản lý nhà đất và công trình đô thị của Ba Tạo đã “sứt đầu mẻ trán” vì đứng ra chia lại, khi có những người thế lực đầy mình chống lại. Ba Tạo là con người như thế. Ông đã tâm sự với tôi về cuộc đụng độ của ông để tiết kiệm cho ngân sách và để quản lý cái đô thị có 5 triệu mét vuông nhà. Sáng hôm sau, Ba Tạo chở tôi đi uống café, ăn hủ tiếu rồi đưa tôi ra thẳng bến xe, nơi có ông trưởng bến là “quân cũ” của ông. Dặn trưởng bến cho tôi lên cabin ngồi, lúc tiễn tôi lên cabin cái xe đò sắp chạy, ông còn móc túi cho tôi ít tiền… trước mặt tất cà các hành khách trên xe. Ông còn dặn khi nào về Cần Thơ phải ghé. Anh Hai Nam Bộ là như thế, không thích thì không tiếp, không cần “luật lệ”, dù là luật lệ được in trên thẻ nhà báo do chính phủ cấp đàng hoàng. Nhưng một khi đã có tình cảm rồi thì… “vô tư”! Cũng trong năm 1985, tôi tiến hành đi khảo sát về nông thôn vùng sâu của đồng bằng ở tỉnh Kiên Giang nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên còn nhiều đất hoang. Với một cái túi trên vai đựng ít quần áo và cái máy ảnh giấu trong đó, tôi xuống một bến đò dọc ở huyện Hòn Đất. Cứ đi, khi nào người đi ghe lên hết thì mình lên. Tôi đến một xã, sau này biết là xã An Thái Sơn. Vừa lên khỏi bến đã thấy tiếng cười nói ồn ào. Biết là nhà có giỗ, tôi cứ đi vô. Chủ nhân chẳng cần biết tôi là ai, kéo ngồi xuống cái chiếu đang có đông người đang ăn uống ngay giữa nhà. Chiếc ly rượu quay được vài vòng thì có người trỏ tay vào người đàn ông ngồi bên tôi, nói: hôm nay ông được ngồi cạnh Vua Hòn! Người được suy tôn là “Vua Hòn” cụng ly với tôi. Xế chiều, vì quá say tôi phải nằm ngay xuống xái chiếu đang ngồi ngủ một giấc. Ở Nam Bộ, người đến ăn giỗ “chết” tại chỗ như thế, chủ nhà rất thích. Khi tỉnh dậy, tôi được biết “Vua Hòn” là bí thư huyện Hòn Đất. Sau khi biết tôi là nhà báo, “Vua Hòn” tức Sáu Chấp mời tôi ở lại để hôm sau đi thăm vùng trồng mè (vừng) thí nghiệm trong vùng đất hoang của huyện. Tối đến tôi thấy Sáu Chấp lấy khẩu súng lục to đùng giắt ở trong người ra, gối đầu lên súng ngủ! Sáng hôm sau chúng tôi đi bộ một đoàn gần chục người vào vùng trồng mè. Đi đến 6-7 km mà chưa tới nơi. Trời nắng khát quá mà chỉ gặp những hố chân trâu đọng nước mưa nên đành phải vốc lên mà uống. Nhưng tôi chưa bao giờ uống nước lã mà thấy ngon như thế. Chiều tối, Sáu Chấp rủ rôi về huyện ủy ngủ, nhưng tôi về để còn đi tiếp. Sáu chấp viết cho tôi một mảnh giấy giới thiệu với các xã để tôi đi tiếp. Nhưng tôi chẳng cần đến giấy của anh làm gì. Tôi cứ đi, gặp nhà nào có đám giỗ là vô, tối ngủ lại đó với những người “chết” sau trận cụng ly trong đám giỗ! Một tuần lễ sau, tôi về lại Rạch Giá, thủ phủ của tỉnh Kiên Giang. Ngủ nhà khách tỉnh ủy để chờ gặp lãnh đạo. Tiếp tôi là phó bí thư thường trực tỉnh ủy, tên Tám Quýt, nhân vật ngoài đời được nhà văn Anh Đức lấy làm hình mẫu để xây dựng hình tượng anh Hai Thép trong tiểu thuyết “Hòn Đất”. Khi tôi nói về đồng chí phó bí thư tỉnh ủy về chuyến đi thực tế của mình một tuần qua, trước khi về, xin phép hỏi lãnh đạo tỉnh một số điều. Phó bí thư thường trực Tám Quýt trả lời tôi một câu đầy ấn tượng: đồng chí nhà báo đã đi như thế thì tôi phải hỏi đồng chí chứ sao đồng chí lại phải hỏi tôi! Khi nói về chuyện chiến tranh năm xưa, “Anh Hai Thép” đã làm tôi ngạc nhiên một lần nữa. Theo Tám Quýt thì cuộc chiến đấu ở Hòn Đất không thấm gì với cuộc chiến ở đồi Tức Dụp bên An Giang, nhưng vì nhà văn Anh Đức viết về Hòn Đất nên địa danh này trở nên nổi tiếng, vậy thôi! Sau này tôi có dịp đến Tức Dụp, được nghe kể về cuộc chiến, được đọc tài liệu về Tức Dụp mới thấy điều “Anh Hai Thép” nói là sự thực. Các “anh Hai Nam Bộ” hồn nhiên và vô tư như thế đó. Đọc đến đây sẽ có bạn đọc cười thầm và đặt câu hỏi: thế “đồng chí X” thì sao đây? Tôi xin nhường lời cho bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, người sinh ra (1943) ở Tân Sơn Nhì Sài Gòn, người được mệnh danh là “chuyên gia biểu tình” như nhận xét của ông Trương Tấn Sang, nói về “đồng chí X”. Cách đây vài tuần, sau Tết Nguyên đán Quý Tỵ (2013), trong một cuộc gặp gỡ khá bất ngờ tại một quán café ở Sài Gòn, gồm có nhà văn Hoàng Minh Tường (tác giả của tiểu thuyết “Thời của thánh thần”) ở Hà Nội vào, PGS TS Vũ Trọng Khải, nhà thơ Hoàng Hưng, Nguyễn Thị Khánh Trâm, bác sĩ Mẫm và tôi. Anh Mẫm kể cho chúng tôi nghe về cuộc gặp gỡ mới đây của ông với chủ tịch nước Trương Tấn Sang, ông Nguyễn Bá Thanh… Khi nói về “đồng chí X”, anh Mẫm nhận xét: Tôi chưa thấy tay Nam Bộ nào nham hiểm, tàn độc như “đồng chí X”! Trường hợp của “đồng chí X” là cá biệt, “chưa thấy” như anh Mẫm nói là đúng, tôi nghĩ vậy với tư cách một dân “Bắc kỳ thứ thiệt” đã sống lang thang hơn 30 năm ở đất Nam Bộ, gặp gỡ và trò chuyện với các chức sắc của giới thượng lưu cho đến giới bình dân ở xứ này. Các “anh Hai Nam Bộ” dù có địa vị cao, vẫn có tác phong bình dân, ít quan cách hơn các quan cộng sản ở các miền khác của đất nước. Có lẽ do họ đều có “xuất xứ” bình dân. Trong 10 năm sống và làm việc ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi có biết một trường hợp khá thú vị. Đó là trường hợp của ông Sáu Cao, thường vụ tỉnh ủy Tiền Giang. Từng là ủy viên Ban Tuyên huấn trung ương Cục trong chiến tranh, sau 30-4 ông về quê công tác. Một lần ra Hà Nội làm việc, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện hỏi tôi: ở tỉnh cậu đang làm phóng viên thường trú, có lãnh đạo nào đọc được tiếng Pháp không? Tôi trả lời ông Viện: chỉ có ông Sáu Cao, đậu diplome. Ông Viện mừng lắm, đưa cho tôi cuốn “Delta du Mekong” (Đồng bằng sông Mekong) rồi bảo: về tặng cho Sáu Cao. Ông Sáu Cao cũng là người duy nhất ở Mỹ Tho đặt mua 2 tờ “Nouvell de Moscow” và “Temps Nouveaux” ở bưu điện tỉnh. Ông giữ rất nhiều chức trong tỉnh, giám đốc đài phát thanh, giám đốc báo Ấp Bắc, giám đốc bảo tàng tỉnh, chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh, giám đốc trường Đảng tỉnh… Nhưng ông ít đến các cơ quan đó, giao cho chức phó điều hành, nếu có đến thì chỉ nói chuyện “trên trời” là chính… vì thế anh em văn nghệ trong tỉnh gọi là “ông Sáu tào lao”! Tuy là thường vụ tỉnh ủy nhưng ông Sáu sống rất bình dân, áo bỏ ngoài quần, hút thuốc rê quanh năm. Một lần tôi đi ra quán cắt tóc gần nhà ông Sáu (cũng gần nhà tôi) để cắt tóc. Biết tôi quen với ông Sáu nên anh thợ vốn mau mồm mau miệng – mà thợ cắt tóc nào từ Bắc chí Nam mà chẳng thế – bảo với tôi: tôi phục ông Sáu Cao là “một người quân tử”! Tôi hỏi lại anh ta: quân tử thế nào nói tôi nghe? Anh thợ cắt tóc kể rất say sưa: hôm trước ông Sáu ra đây cắt tóc. Tôi hỏi, lâu lắm không thấy ông Sáu cắt tóc. Ông Sáu bảo: mình đi Liên Xô. Thế là có một tay ngồi chờ cắt tóc nhìn ông Sáu từ đầu đến chân, có lẽ hắn thấy ông Sáu mặc bộ đồ pajama nhàu nhò, chân đi dép lê, người lại đen như nông dân, miệng hút thuốc rê vấn sâu kèn… nên tay này bảo: thôi đi cha nội, nói dóc nó vừa phải thôi, còn để người khác nói dóc với chứ… thứ ông ai người ta cho đi Liên Xô… Ông Sáu không nói gì, ngồi xuống ghế tiếp tục “kéo” thuốc rê. Được thể, tay này lại lớn tiếng: nói dóc vừa phải thôi, không có ngày công an bắt đó! (ở tỉnh lẻ, nhất là ở Nam Bộ, đi Liên Xô là lớn chuyện lắm, phải là bí thơ hay chủ tịch). Tôi hỏi anh thợ cắt tóc: thế ông Sáu vẫn không nói gì à? Anh ta cười lớn, nói: thế mới bảo ông Sáu là người quân tử!!! Thật hiếm ở nơi nào trên đất nước ta thời cộng sản, lại có một ông quan thường vụ tỉnh ủy “quân tử” như thế, nếu không phải là ở Đồng bằng sông Cửu Long(!) Về tính cách ham vui của người dân Nam Bộ, tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Ở cùng phố với tôi, có anh bạn một hôm đến rủ tôi đến nhà anh ăn mừng sinh nhật Bác Hồ ngày 19-5. Đương nhiên là tôi đi. Đúng một tháng sau, anh lại đến rủ tôi đi liên hoan. Tôi hỏi, dịp gì thế? Anh ta bảo, hôm nay “đầy tháng” Bác Hồ! Chưa hết, anh rủ tôi đến nhà ăn giỗ bà già. Đúng một tháng sau anh lại đến rủ tôi, nói: hôm nay giỗ bà già tôi! Nghe vậy tôi ngạc nhiên quá, vì vừa ăn giỗ tháng trước. Anh hiểu sự ngạc nhiên này nên giải thích ngay: năm nay nhuận hai tháng tám phải giỗ hai lần! Vẫn chưa hết. Ngày Phật Đản, anh rủ tôi rồi đến ngày Noel mừng Thiên Chúa Giáng Sinh anh cũng đến mời tôi đi ăn mừng. Tôi thắc mắc vì anh theo đạo Phật cơ mà, anh cười, nói tôi đa tôn giáo! Thế nên hèn chi, ca dao Nam Bộ mới có câu: “Ra đường thấy vịt cũng lùa Thấy duyên cũng kết, thấy chùa cũng tu”! Với dân Nam Bộ, cái gì cũng có thể đem ra vui đùa được, không có vùng cấm kỵ. Có lần bác sĩ Tư Dược, giám đốc xí nghiệp dược liệu quân khu 9 trong đó có trại rắn Đồng Tâm nổi tiếng, mời tôi ăn cơm. Khi gắp cho tôi một cái đuôi rắn hổ vào bát, ông bảo tôi ăn đi, bổ lắm, trong thịt rắn hổ có tới 18 loại axit amin! Rồi ông đố tôi: đố nhà báo, ở Nam Bộ cái gì ngon nhất? Tất nhiên là tôi chịu thua. Ông cười nói: rốn chị sui là ngon nhất. Nói rồi ông đọc cho tôi nghe một câu phương ngôn Nam Bộ: “Thứ nhất là rốn chị sui, thứ nhì là đuôi rắn hổ”. Chuyện tiếu lâm ở Nam Bộ cũng lạ lẫm. Chuyện kể rằng ở Cà Mau có bốn bác nông dân ngồi nhậu. Một bác đề xuất phải họa thơ. Mọi người hưởng ứng. Bác chủ nhà đọc câu đầu: Trước cửa nhà tôi có bụi môn! (khoai môn) Bác thứ hai họa tiếp: Cái lá nghiên nghiên tựa cái lồn Bác thứ ba họa tiếp: Cái củ xồm xoàm như con cặc Bác thứ tư kết: Thế mà nấu chín lại ăn ngon! Dân Nam Bộ là thế, chỉ thích vui “vì cuộc đời họ buồn lắm rồi, heo hút cô đơn lắm rồi…” Tôi rất thích đoạn văn đó của nhà văn Nguyễn Văn Bổng. Một người đã sống nhiều năm ở Nam Bộ, tác giả của tiểu thuyết “Rừng U Minh” và tập ký “Cửu Long cuộn sóng”. Tôi đã đọc nhiều lần đoạn văn đó của ông đến mức không cần giở sách cũng có thể chép nguyên văn: “Đất nước ta càng về phương Nam càng là đất mới, đất của những người không có quyền sống trên những mảnh đất đã được khai phá, vì vậy càng là đất của những người nổi dậy! Miền Tây Nam Bộ là mảnh đất lưu đày và nổi dậy cuối cùng của tổ quốc. Đến đây là sơn cùng thủy tận rồi. Đến đây là đến trên bờ Thái Bình Dương, Vịnh Xiêm La mịt mù rồi. Đến đây chỉ còn hai con đường, một là không đủ nghị lực sống nữa thì đâm đầu xuống biển mà chết, hai là cố bám lại đấu tranh để sống. Con người đến đây là con người liều, con người ngang tàng, nghĩa khí, tính mạng coi nhẹ tựa lông hồng, tiền tài coi khinh như rơm rác. Đối với họ, chỉ nghĩa khí là trọng. Họ không cần có nhà đẹp, vì xưa nay có ở đâu được lâu. Nhà của họ là “nhà đá”, “nhà đạp”, dựng lên đó, ở lại đó nhưng nếu không chịu nỗi áp bức thì lại đạp đi, đá đi, đến chỗ khác mà ở. Họ chẳng cần mặc sang, và có thì ăn, cũng không cần lo cho ngày mai lắm. Vì trước đây chắc gì họ được sống đến ngày mai, còn miễn sống được thì ngày mai ở trên hai cánh tay mình, dưới sông, trên rạch, trong rừng kia! Họ vồ vập hiếu khách vì cuộc đời họ đã buồn lắm rồi, heo hút, cô đơn lắm rồi. Họ chỉ còn có tình nghĩa là đậm đà với nhau. Họ sẵn sàng nhường áo, xẻ cơm, vì họ đã từng biết cái cực, cái nhục của đói khổ là thế nào. Và trên hết, họ rất căm thù. Đừng động đến họ” (Sau một cuốn ách – Nguyễn Văn Bổng). Chính kẻ viết những dòng này cũng là kẻ “không có quyền sống trên những mảnh đất đã được khai phá”! Không sống được trên mảnh đất và ngôi nhà đẹp vào loại nhất làng Hoàng Mai giàu có giữa thủ đô Hà Nội vì “không có một kẽ hở để suy nghĩ” trong chính ngôi nhà đó, không thể sống được trong cái xã hội XHCN ở miền Bắc lúc đó, một thứ chủ nghĩa xã hội nhà nước, tất cả phải làm cho cơ quan nhà nước. Và đã ở trong cơ quan nhà nước thì nhất thiết phải chui vào Đảng mới có địa vị và quyền hành, có bổng lộc để sống dễ thở hơn trong cái xã hội “xếp hàng cả ngày đó”! Không phải ai vào Đảng cái thời tôi ở Hà Nội cũng vì động cơ đó. Có người đã tâm sự với tôi, phải vào Đảng để có quyền, và chỉ có quyền mới có thể làm điều tốt nhiều hơn. Những người như thế có, nhưng ít lắm. Còn đa số chui vào Đảng để dễ đục khoét, dễ giàu có hơn người, nhất là ở cái thời “kinh tế thị trường định hướng XHCN” này khi “đểu cáng đã lên ngôi”! (Bùi Minh Quốc) thì vào Đảng 99,99% là để kiếm xôi thịt. Tôi nhớ năm 1991, tôi sang Liên Xô. Một nhà tư bản Mỹ khi tới thăm Liên Xô lúc đó phát biểu: Ở nước Mỹ chúng tôi, có tiền là có hết, còn ở nước các ông có quyền là có hết! Vì thế, chưa có ở đâu người ta tranh quyền quyết liệt bằng ở các nước XHCN. Cuộc đấu đá “ghế ít đít nhiều” luôn diễn ra khốc liệt ở mọi cơ quan nhà nước. Tôi có anh bạn ở báo Nhân Dân kể với tôi rằng, trong phòng anh làm việc, tất cả mọi người đều ngồi chung với nhau một một gian phòng rộng, nhưng riêng ông trưởng phòng thì được ngồi một cái ghế to hơn, cái bàn rộng hơn có ngăn kéo ở hai ên. Có lần một phóng viên chua chát nói: tôi đã đi mọi nẻo đường, đã vào Nam ra Bắc trong chiến tranh, vậy mà chỉ đi từ cái ghế này (anh chỉ tay vào cái ghế của mình) sang cái ghế này (anh chỉ tay vào cái ghế trưởng phòng) rồi kết luận: nhiều năm rồi mà không đi được một đoạn vài bước chân này! Thật là khốn nạn, khốn nạn! Cũng cần phải nói cho rõ vì sẽ có người sẽ ngộ nhận. Ở Mỹ, để làm người có tiền không dễ vì luật pháp nghiêm minh, mọi thứ minh bạch. Muốn có tiền để có hết phải buôn bán làm ăn tử tế, làm việc tử tế và có tài. Còn ở nước ta, muốn có tiền trước hết phải biết buôn vua, buôn quan, buôn bán làm ăn dối trá làm đầu. Như nhà nghiên cứu xã hội Nguyễn Trần Bạt đã “phát hiện”, trốn thuế là sức mạnh cạnh tranh hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam. Những thế hệ người đi mở cõi phương Nam của đất nước ta thì anh dũng và cần cù, nhưng khi mảnh đất đã được khai phá quá màu mỡ, dễ sống nên các “anh Hai Nam Bộ” sau này ăn nhậu la đà, còn “suy tôn” cả những tay bợm nhậu bằng ca dao tục ngữ. “Con chin khôn tìm cành đùm mà đậu Con gái ngoan tìm thằng ăn nhậu mà nhờ Mai kia nó chết bụi, chết bờ… đỡ chôn!” Cảnh ăn nhậu, say xỉn của đám mày râu ở Nam Bộ sau này đã gây ra nhiều thảm cảnh gia đình, xã hội. Vì thế, tôi đã viết bài báo nhan đề: “Rượu – Thảm họa ở đồng bằng sông Cửu Long” trên báo Lao Động chủ nhật số ra ngày 10-6-1990. Nói về rượu, tôi ghi được ở tỉnh Kiên Giang một bài hát về rượu như sau: “Một ly nhâm nhi tình bạn / Hai ly giải hạn cơn sầu / ba ly cứt mũi đầy râu / bốn ly ngồi đâu nói đó / năm ly cho chó ăn chè / sáu ly ai nói nấy nghe / bảy ly làm xe lội nước / tám ly chân bước chân quỳ / chín ly còn gì mà kể / mười ly khiên để xuống xuồng”. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 8, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-23/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 24): https://www.minds.com/newsfeed/1019886326475034624?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 22): https://www.minds.com/newsfeed/1019885317801615360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 22) Sống hòa mình với xã hội, tôi thu lượm được nhiều kiến thức thực tế, đặc biệt là lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ của người dân Nam Bộ. Điều này rất cần cho một người cầm bút. Đặc biệt là viết “Câu chuyện truyền thanh” cho đài phát thanh, một thể tài hấp dẫn nhưng khó viết nhất. Vì, câu chuyện truyền thanh là một vở kịch của báo nói. Nó vừa phải truyền tải những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống, vừa có tính văn nghệ của một vở kịch nhỏ. Các nhân vật của câu chuyện truyền thanh phải nói tiếng nói của tác giả. Vì vậy tác giả phải có vốn sống. Cuốn sổ tay của tôi luôn được giở ra để ghi chép “lời lẽ các nhân vật”. Nhà báo Phan Quang trong cuốn “Đồng bằng sông Cửu Long”, xuất bản sau năm 1975 được tái bản nhiều lần đã có một nhận xét tinh tế: người Việt Nam từ đầu đến cuối đất nước, sống cách xa nhau hai nghìn cây số, nhưng Bắc Nam thoạt gặp đã dễ dàng nghe tiếng nói của nhau. Cùng một cội nguồn, cùng một ngôn ngữ dân tộc như vậy là lẽ đương nhiên. Không những ngữ pháp không thay đổi, từ vị thống nhất mà tôi còn ghi nhận một chi tiết hay hay: người Bắc và người Nam chi nhau hai phần của một từ kép, khi thì phần trước, khi thì phần sau. Chẳng hạn: dơ bẩn, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, chà xát, hay biết… người Nam dùng phần đầu. Ngược lại trong thóc lúa, lanh lẹ, nóng nực, dẫm đạp, đón rước, lừa gạt… người Nam lại lĩnh phần sau (Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Trẻ, tr. 412). Trong những năm tháng rong ruổi ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã ghi thêm được nhiều ví dụ về sự “chia nhau” một từ kéo như thế. Năm ông Phan Quang tròn 85 tuổi, tôi đã gửi ra Hà Nội “mừng thọ” ông 100 từ kép được “chia nhau” như thế. Mời bạn đọc… xem chơi! Tôi xếp các từ kép này theo thứ tự abc (chữ đầu) của từ: ô dù, ốm đau, buồn rầu, bơi lội, bóc lột, cố gắng, co kéo, chọc ghẹo, chán ngán, chặt đốn, cưng chiều, chén bát, chờ đợi, chửi rủa, chậm trễ, cần thiết, cạn kiệt, chia xớt, đưa rước, dạy bảo, dòmn ngó, dọn dẹp, dụ dỗ, đùa giỡn, đùi vế, đau ốm, đĩ điếm, khờ dại, điên khùng, dư thừa, giỡn chơi, đui mù, dòm ngó, dọa nạt, đe dọa, hư hỏng, hao tốn, hăm dọa, hối thúc, hù dọa, hung dữ, ham thích, hoảng sợ, hèn nhát, hư hao, ham muốn, lượm nhặt, nhờ cậy, kiểm điểm, khỏe mạnh, kêu xin, kỳ lạ, khờ dại, lựa chọn, lời lãi, lười biếng, mau lẹ, mồm miệng, may rủi, nôn nóng, mai mốt, ngăn ngừa, ngăn chặn, nón mũ, ngất xỉu, nhìn ngó, quậy phá, rơi rớt, rảnh rỗi, rượt đouổi, rầy la, tập dượt, thuê mướn, thay thế, tiêm chích, thưa kiện, tìm kiếm, trưng bày, tồi tệ, to lớn, trêu chọc, tuyển mộ, trông chờ, tránh né, thương yêu, trông coi, uổng phí, ưa thích, vâng dạ, vay mượn, rượt đuổi, sáng tỏ, sửa chữa, giúp đỡ, giành giật, gầy ốm, già cỗi, ghê sợ, say xỉn, phòng ngừa… hơn 100 từ ghép kể trên đều như nhận xét của Phan Quang. Ví dụ như đui mù thì người Nam nói đui, người Bắc nói mù. Câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu: “Thà đui mà giữ đạo nhà / còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”. Có một nhận xét của nhà văn Nam Bộ cũng tinh tế chẳng kém gì Phan Quang là ông Sơn Nam. Đó là như tôi đã viết hàng trăm bài phát thanh, bài báo, bài bút ký trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Nam chí Bắc và cho ra đời đến 5-6 đầu sách về Đồng bằng sông Cửu Long. Một lần gặp Sơn Nam ở Sài Gòn, ông biểu tôi: ban đầu tao cứ tưởng mày là một thằng Nam Bộ, nhưng đọc kỹ, tao biết mày là một thằng Bắc Kỳ thứ thiệt. Tôi ngạc nhiên quá, hỏi lại ông: vì sao thầy lại nhận xét thế? Ông già hóm hỉnh nói: mày viết hay dẫn chứng, hay đưa con số để chứng minh điều này điều kia… thằng Nam Bộ nó không thế. Thì ra là vậy. Do tôi cố gắng dùng ngôn ngữ của người dân Nam để viết, như ghi chép cả trăm từ kép để học cách nói của dân Nam Bộ nên ban đầu Sơn Nam tưởng tôi là Nam Bộ. Nhưng sự hay dẫn chứng, chứng minh của tôi khiến Sơn Nam phát hiện ra tôi là dân Bắc Kỳ! Và chính ông đã viết lời bạt cho cuốn “Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long” gần 400 trang của tôi do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2000. Báo Nhân Dân số ra ngày 9.5.2000 đã đăng bài viết đó của Sơn Nam. Nếu những năm dạy học ở nông thôn miền Bắc đã cho tôi hiểu phần nào về cuộc sống và xã hội Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ thì những năm “dấn thân” ở Đồng bằng sông Cửu Long đã cho tôi hiểu tính cách con người Nam Bộ. Là người Việt Nam, người dân Nam Bộ có tất cả những ưu điểm và khuyết tật của người Việt nói chung, nhưng điều kiện địa lý, thiên nhiên, vị trí của mảnh đất Nam Bộ (xa phương Bắc) đã tạo nên những tính cách rất đặc trưng của người dân. Từ công chức, cán bộ trong bộ máy công quyền (xưa và nay) cũng như người dân nói chung họ có tính cởi mở, thẳng thắn, dễ tin người, ham vui trọng nghĩa, hồn nhiên đến hoang sơ… và đối với họ, không có nguyên tắc nào cả! Tôi không phải nhà lý luận, nhà nghiên cứu, tôi chỉ là nhà quan sát nên dẫn ra đây vài ví dụ điển hình để góp phần cung cấp tư liệu cho các nhà xã hội học. Vào đất Tiền Giang, tôi công tác ở Đài Phát thanh của tỉnh còn vợ tôi công tác ở công ty ngoại thương Tiền Giang. Ba năm liền, vợ tôi năm nào cũng được tăng lương, trong khi đó các người khác 3-4 năm còn phải xét. Khi họp chi bộ, có người thắc mắc với giám đốc công ty ngoại thương là ông Nguyễn Văn Khang (tức Ba Khang): cô Thuận (tên vợ tôi) mỗi năm mỗi tăng lương, anh em người ta thắc mắc nhiều lắm? Giám đốc Ba Khang mắng: chúng mày ngu vừa phải thôi… chú Khải, chồng cô Thuận ở bên Đài phát thanh, chú ấy có công với tỉnh, viết bao nhiêu bài giới thiệu Tiền Giang ra cả nước, bên ấy chúng nó ngu, không tăng lương cho chú ấy… thì bên này mình tăng lương cho vợ chú ấy cũng thế… thắc mắc cái gì! Không ở đâu có cái logic tăng lương như thế. Chỉ có các anh Hai Nam Bộ mới có cái tư duy logic kiểu đó. Nhưng xét ra… cũng không sai! Để nói về tính cương trực thẳng thắn của dân Nam Bộ, tôi xin dẫn ra một ví dụ cũng khá điển hình. Những năm đầu thập kỷ 80 (thế kỷ 20) còn chế độ bao cấp, phân phối đều. Tỉnh Minh Hải, vùng mặn nuôi tôm cũng được trung ương phân phối một lượng phân bón nhập ngoại như các tỉnh khác. Trong khi đó, Tiền Giang xây dựng vùng lúa năng suất cao cần nhiều phân bón nên phải xuống Minh Hải mua phân dư thừa. Thời đó mua bán ngoài kế hoạch được cấp là một sai phạm nghiêm trọng. Khi đoàn của thủ tướng Phạm Văn Đồng vào kiểm tra, ông hỏi: vì sao lại mua bán phân bón, phải đình chỉ ngay. Chủ tịch Tiền Giang lúc đó là ông Sáu Bình trả lời: chúng tôi chẳng những không đình chỉ mà còn tiếp tục mua nữa vì dưới đó trung ương phân cho họ, họ không trồng lúa, thừa phân, trên này chúng tôi trồng lúa thiếu phân nên còn phải tiếp tục mua nữa(!) Có cho ăn kẹo thì một ông chủ tịch tỉnh ở miền Bắc cũng không dám cãi lại Thủ tướng như thế. Người Nam Bộ hay nói thẳng. Vì thế, trước đây tướng Qua về nhà tôi, đã hai lần “than phiền” với ông bố tôi về tính nói thẳng của dân Nam Bộ. Một lần ông nói về ông Bẩy Trân. Ông Bẩy Trân như tôi đã nói ở đầu sách, ra Hà Nội để “nằm chờ” bố trí công tác quan trọng. Nghe đâu thời học trường Đảng cao cấp ở Moscow cùng với ông Trần Văn Giàu và ông Mười Giáo, ông đã có lần lấy vợ người Nga. Vì thế sau năm 1954, trung ương dự định bố trí đi làm đại sứ ở Liên Xô và cử ông đi học trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Khi ông Trường Chinh vào giảng bài về lịch sử Đảng ông có nói, tổ chức thanh niên tiền phong ở Nam Bộ trước kia là tổ chức phản động thân Nhật. Học viên Nguyễn Văn Trân đứng dậy nói: thanh niên tiền phong ở Nam Bộ lúc đó do tôi cử Trần Văn Giàu đi gặp Phạm Ngọc Thạch để tổ chức ra nó. Tuy cái vỏ bên ngoài là của Nhật, nhưng cái ruột bên trong là của ta. Đồng chí không biết lịch sử Nam Bộ thì đừng nên giảng như thế! Tướng Qua kể lại cho ông bố tôi sự việc trên rồi kết luận: mấy ông Nam Bộ tập kết ra Bắc thẳng quá nên sẽ rước họa vào thân. Ông Bẩy nhà ta (vì lúc đó Bẩy Trân là sui gia với bố mẹ tôi) sẽ gặp nạn mất thôi. Chỉ ít lâu sau Bẩy Trân nhận được quyết định về hưu lúc mới ngoài 50 tuổi. Trường hợp thứ hai là nhà trí thức Dương Bạch Mai. Cũng một lần, tướng Qua về nhà nói với ông bố tôi: trong một hội nghị trung ương, ông Dương Bạch Mai tuyên bố Mao Trạch Đông là tên thổ phỉ, không thể nghe ông ta được. Ông Nam Bộ này liều quá, rồi lại mang họa vào thân! Hồi đó Mao Trạch Đông được xem như ông thần, ông thánh, lần đầu tiên tôi được nghe có người phê phán ông Mao là “thổ phỉ”. Sau này, tôi còn được nghe một người nữa, vào những năm đó, đã dám phê phán Mao Trạch Đông là thầy Nguyễn Văn Hạnh của tôi. Đó là năm thứ 2 của khóa Đại học Sư phạm văn (1963-1966) sơ tán tại Đại Từ, Bắc Thái, trong một giờ lên lớp về lý luận văn học, thầy Hạnh khi nói đến bài phát biểu của Mao trong “Cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An” đã phê phán “Mao Trạch Đông không có hệ thống, vì thế những bài phát biểu của ông không thể lấy làm căn cứ được”! Lập tức bài giảng của thầy Hạnh đã bị chi bộ lớp (gồm một số giáo viên cấp 2 được cử đi học để lên dậy cấp 3) báo cáo lên Đảng ủy của khoa! (khoa văn). Nói về tính “hoang sơ” của dân Nam Bộ, tôi có một kỷ niệm rất vui. Đó là kỳ đại hội Đảng bộ huyện Gò Công tây tỉnh Tiền Giang, tôi với tư cách là nhà báo được mời đến dự. Khi tôi đến thì đại hội đã khai mạc, cờ quạt uy nghiêm. Ông trưởng ban tổ chức đại hội giới thiệu tôi như sau: xin giới thiệu có nhà văn Nguyễn Khải đến dự với đại hội chúng ta. Tiếng vỗ tay rào rào… Tôi hoảng quá, nói với vị trưởng ban tổ chức: xin anh cải chính cho, tôi không phải là nhà văn Nguyễn Khải, ông ấy lớn lắm, mang tiếng cho tôi. Vị đó nhất định không cải chính. Tôi năn nỉ thì vị ấy lấy tay gạt vào không khí, nói: Khải nào không là Khải!!! Thế là suốt ngày hôm ấy, tôi mang danh nhà văn Nguyễn Khải để nâng ly, chúc tụng. Có vị đến cụng ly với tôi nói: tôi đã đọc tác phẩm “Cù Lam Tràm” của đồng chí rồi, hay lắm(!) mọi người lại cụng ly chúc mừng tôi! Thật là tưng bừng rôm rả!!! Nói về tính phóng khoáng của dân Nam Bộ, tôi lại có ví dụ. Đó là vào năm 1994, Đồng bằng sông Cửu Long đang có dịch tôm chết rất lớn, thiệt hại nặng. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi kiểm tra vùng nuôi tôm lớn ở Cà Mau. Khi ông Kiệt hỏi vị chủ tịch Cà Mau: vì sao tôm chết? Ông chủ tịch tỉnh trả lời “vô tư”: thưa thủ tướng tôm nó chết vì nó không thể… sống được! Mọi người đã cười rần! Tôi nghĩ chắc ông thủ tướng tức giận lắm. Nhưng không thấy ông nói gì… vậy mà đến hội nghị khoa học để bàn về vấn đề tôm chết năm ấy, ông Võ Văn Kiệt còn đem câu chuyện “tôm chết vì nó không thể sống được” ra kể để mọi người cười một mẻ nữa! Tôi có cảm giác ông Kiệt “thích” câu trả lời đó của chủ tịch Cà Mau. Sau hội nghị này, tôi có viết một câu chuyện truyền thanh (CCTT) nhan đề: “Vì sao tôm chết” để hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm. Mở đầu CCTT là đoạn thủ tướng đến kiểm tra vùng nuôi tôm… CCTT này đã được phát trên đài TNVN và sau đó nhiều đài phát thanh ở Nam Bộ đã phát lại. Khi ông Võ Văn Kiệt qua đời, báo Cà Mau có bài “khóc” ông đăng đến 9 số báo liền (từ số ra ngày 16.6.2008 đến số 11.7.2008). Trong 9 số báo ấy có đoạn tôi đọc được như sau, đại ý nói có lần thủ tướng đi công cán đến một địa phương ở Nam Bộ. Một người bạn chiến đấu cũ của ông đến thăm và đưa theo một người thanh niên. Người bạn cũ nói với vị thủ tướng đương kim: tôi đưa cậu này đến để nó nhìn mặt cha nó, vì lúc mẹ nó chết đi dặn nó là phải đi tìm cha, cha nó tên là Võ Văn Kiệt. Nó chỉ yêu cầu thế thôi, không đòi hỏi gì nữa. Ông Kiệt đã vui vẻ tiếp cậu thanh niên này. Và còn giữ cậu ở lại chơi, cho coi TV. Ba ngày sau ông nói với cậu ta: bác đã nghĩ kỹ lại rồi, khi bác hành quân qua làng mẹ cháu, bác không có bạn gái nào ở đó cả, vì thế cháu không phải là con của bác. Nhưng bác nhận cháu là con nuôi, cháu về đi khi nào muốn gặp bác thì cứ lại. Cậu thanh niên kia cảm ơn thủ tướng rồi ra về. Ít lâu sau cậu đến gặp để xin lỗi thủ tướng vì cậu ta đã tìm thấy cha của mình là Võ Văn Kiệt trong một nghĩa trang liệt sĩ. (Tên thật của thủ tướng Võ Văn Kiệt là Phan Văn Hòa). Trên đời này ít có vị thủ tướng được kim nào lại gặp câu chuyện éo le như thế, và cũng hiếm có vị thủ tướng nào lại ứng xử một cách bình tĩnh và bình thản như thế, nếu không phài là một “anh Hai Nam Bộ”? Tôi cho là vậy. Vậy mà khi thủ tướng qua đời (ở tuổi 85) năm 2008, tôi có chủ biên một cuốn sách xuất bản đúng dịp kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của ông, trong cuốn sách đó có 7 bài tôi viết về ông lúc còn sống cũng như sau khi ông mất. Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác của GS Tương Lai, Ts Nguyễn Xuân oánh, Ts Tô Vân Tường (nguyên phó thủ tướng chế độ Sài Gòn cũ) và Nguyên chủ tịch tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị… Tôi có đưa câu chuyện kể trên vào một bài viết của tôi như Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM khi duyệt đã cắt bỏ đoạn đó. Cả cái tên sách do tôi đặt: “hào Kiệt của Dân”, chữ “hào” và chữ “của” viết thường, chữ Kiệt và chữ Dân viết hoa, để… chơi chữ! (ông Võ Văn Kiệt là hào kiệt của dân. Kiệt và Dân cũng là tên ông – Sáu Dân). Nhưng khi Nhà xuất bản đem bìa sách lên thành ủy để duyệt, trưởng Ban tuyên huấn là ông Phan Xuân Biên lúc đó nhất định không đồng ý cái tên sách như thế. Tôi hiểu ông trưởng Ban tuyên huấn quê ở miền Trung này muốn giữ “chén cơm” của mình thật cẩn trọng. Vì lỡ ra có người ở trên hỏi: vậy chúng tao là hào kiệt của ai? Không lẽ chúng tao là hào kiệt của quan à? Cãi lý mãi, cuối cùng tôi vẫn thua vì người ta có quyền “xét duyệt”. Thấy tôi có ý định không in cuốn sách đó nữa vì không được chấp nhận tên sách do mình đặt ra, chị Thanh Hương lúc đó là giám đốc Nhà xuất bản tổng hợp Tp HCM “thương lượng” với tôi, hay là đổi tên sách là: “Hào kiệt Đồng bằng sông Cửu Long”! Tôi đem việc này kể với nhà thơ Thái Thăng Long, anh Long chửi thề: đù mẹ, thế thì chỉ bằng thằng Bảy Nhị thôi à?! (Bảy Nhị là Nguyễn Minh Nhĩ, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang, một người nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long). Cái sự kiểm duyệt ở chế độ độc trị nó kinh khủng như thế. Vì thế, có một nhà văn ở một nước XHCN bên Đông Âu trước đây đã có lần phải thốt lên: chúng tôi không có kẽ hở để suy nghĩ! (noud n’avons pas l’escape de pencer). (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 6, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/06/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-22/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 23): https://www.minds.com/newsfeed/1019885759111942144?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 21): https://www.minds.com/newsfeed/1019884908175740928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 24) Những năm 1980 là những năm diễn ra cảnh “ngăn sông cấm chợ” khủng khiếp nhất ở nước ta. Ở ĐBSCL, nơi có nhiều hàng hóa nông sản nhất nước, cảnh ngăn sông cấm chợ càng tệ hại nhất. Trạm thuế Tân Hương, vị trí giáp ranh của tỉnh Tiền Giang với Long An là địa danh khét tiếng một thời. Xe cộ từ các tỉnh miền Tây lên đến đây bì ùn tắc vì phải đỗ lại để quản lý thị trường khám xét. Khách hàng phải xuống hết để nhân viên quản lý thị trường lên xe săm soi từng cái gầm ghế. Một kg gạo, một trái dừa khô, một kg đường cũng bị tra hỏi. Có anh bộ đội về phép thăm nhà, đem 10 kg gạo, khi bị quản lý thị trường giữ, anh ta nói: có giấy phép của ông Đỗ Mười, quản lý thị trường quát: Đỗ mười một cũng tịch thu nữa là đỗ mười! Cái giai thoại trên ra đời ở cái vùng nhiều lúa gạo nhất ở nước này là ĐBSCL. Tôi đã có lần đi qua trạm Tân Hương, lấy máy ảnh chụp đoàn xe nối đuôi nhau cả cây số để chờ khám xét, đã bị quản lý thị trường trạm này bắt, nhốt vào cái phòng tối om cả nửa ngày, mặc dù trước đó tôi đã trình thẻ nhà báo nhưng vẫn bị họ tịch thu cuộn phim trong máy ảnh. Khi về cơ quan thường trú ở TP HCM báo cáo việc này, giám đốc Nguyễn Thành bảo tôi viết một bài ghi nhanh ở Tân Hương, nhưng khi thu băng rồi, gửi ra Hà Nội, Đài TNVN cũng không dám phát, vì lúc đó quản lý thị trường là một “chủ trương lớn của Đảng và nhà nước”! Nhưng nói đến chuyện ngăn sông cấm chợ ở ĐBSCL thời thập niên 1980 của thế kỷ 20 thì phải kể đến chuyện đường sông mới là đáng nói. Vì đa số hàng hóa ở vùng này đều do đường sông đảm nhiệm việc chuyên chở. Sông Tiền và Sông Hậu rộng mênh mông nối với mạng lưới kinh rạch chằng chịt ở đồng bằng, có nhiều nơi hẻo lánh và đặc điểm của vận tải sông là ghe thuyền chạy suốt đêm ngày (động cơ của nó có cấu tạo để luôn có nước sông làm mát máy không như ô tô chạy trên bộ). Các trạm thuế vụ, trạm quản lý thị trường lại đều được trang bị súng… nên họ lộng hành và dân vận tải sông “rên xiết dưới sự kiểm soát của họ”. Một cái ghe chở hàng nặng mấy chục tấn, đang chạy giữa sông Tiền sông Hậu rộng mênh mông, chỉ cần nghe một tiếng súng nổ trên bờ là phải quay vào để thuế vụ, quản lý thị trường kiểm tra giấy tờ, khám xét hàng hóa. Nếu đủ giấy tờ và không chở hàng “lậu” thì cũng phải nộp tiền chi phí phát đạn. Giá tiền một phát đạn như thế muốn tính bao nhiêu cũng phải chịu. Trên thế giới này có lẽ không đâu có cách phạt vạ người dân kỳ lạ và tàn bạo như thế. Người ta đua nhau vượt biên, bất chấp sống chết vì lối cai trị và cách phạt vạ người dân kiểu Việt cộng như thế! Tôi đã đi theo một đoàn ghe 5 chiếc, mỗi chiếc có trọng tải 25 tấn của hợp tác xã vận tải đường sông Rạch Gầm tỉnh Tiền Giang chở gạo thuê cho nhà nước từ các kho của tỉnh Kiên Giang lên kho của Tổng công ty lương thực miền nam ở Tp HCM. Cả đi lẫn về 11 ngày liền nên tôi được chứng kiến tận mắt cảnh các trạm kiểm soát dọc đường sông ở Đồng bằng sông Cửu Long đã hành hạ các chủ ghe và thủy thủ của họ như thế nào. Có chủ ghe nói thẳng với tôi là sẽ tu sửa ghe cho thật tốt rồi đưa cả gia đình, vô con đi vượt biên không thể sống với các ông cộng sản được! Sau chuyến đi đó, tôi đã viết bài điều tra mang tên “Đi theo những con thuyền mang tên Rạch Gầm”, báo Sài Gòn giải phóng đầu năm đó (1986) đã đăng bài phóng sự này. Chính đại tá Hoàng Cuông, trưởng ty Công an Hải Hưng năm xưa, người được tướng Qua nhắc đến như một điển hình tốt của Bộ Công an đã đọc được bài báo đó khi ông nhận chức cục phó một cục của Bộ có cơ quan tại phía Nam. Đại tá Hoàng Cuông đã đi xe com-măng-ca nhưng đổ ở đầu đường, đi bộ đến số nhà 30 Thạch Thị Thanh ở Q1 TP HCM để gặp tôi, theo hẹn, ông luôn “giữ bí mật” theo tác phong của ông. Gặp tôi ông hỏi chuyện về bài phóng sự đó. Tôi nói thẳng với vị đại tá công an này, là người ta sẽ bỏ nước đi hết nếu Đảng không thay đổi đường lối lãnh đạo, vẫn ngăn sông cấm chợ kiểu dã man trung cổ này! Đó là chuyện tôi viết báo công khai, tôi còn làm “báo cáo mật” cho chủ tịch Tiền Giang Nguyễn Công Bình về việc các trạm thuế trên các đường sông. Đó là một lần tôi đi lang thang bên rạch Bảo Định ở Mỹ Tho, tôi nghe thấy một bà chủ ghe dưới rạch lớn tiếng than: kỳ này về tôi sẽ đốt ghe, không đi buôn nữa! Tôi vội lao xuống xem sự tình thế nào. Thấy chiếc ghe khác lớn mang biển số KG, tôi biết là ghe của tỉnh Kiên Giang. Bà chủ ghe cho tôi hay, ghe của bà có trọng tải 21 tấn, bà chở đủ 21 tấn khoai mì (sắn) lên thành phố bán, nhưng đi qua các tỉnh, các trạm thuế đều bắt đóng thuế “bổ sung”, lấy lý do bà chở quá 21 tấn quy định. Nếu không đóng thuế “bổ sung” thì phải dỡ khoai mì lên cân lại. Bà than: bốc đủ 21 tấn lên cân lại thì bằng thắt cổ tôi cho xong! Đó là cách bắt chẹt, bóp cổ dân của các trạm thuế. Một điều thật kinh hoàng là, ghe của bà sau khi cộng hết số hóa đơn “bổ sung” của các trạm thuế đường sông (trong đó có trạm Kinh Nước Mặn tỉnh Long An không thua gì trạm Tân Hương trên đường bộ) đã lên đến 20 tấn, xấp sỉ trọng tải chiếc ghe 21 tấn của bà. Đến Kinh Nước Mặn, chồng bà phải tháo chiếc đồng hồ senko đeo tay để trạm thuế “cầm”, như người ta “cầm đồ”, đợi khi nào lên TP HCM bán được khoai mì, lúc trở về sẽ “chuộc”(!) Cũng còn may là lên đến TP, bà không phải đóng thuế nhờ chính sách miễn thuế cho các ghe chở lương thực (như khoai mì) cứu đói cho thành phố. Nơi đây muốn có khoai mì để cán bộ công nhân viên và nhân dân TP ăn sáng. Đó cũng là chính sách “xé rào” của TP HCM một thời. Tôi hỏi bà chủ ghe cho biết tên những trạm thu thuế bổ sung, thì được biết đó là các trạm: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành … Tôi xin bà các hóa đơn đó, bà cho ngay (trong đó có cả giấy biên nhận giữ đồng hồ của chồng bà ở trạm thuế Kinh Nước Mặn, khi bà quay về chuộc lại họ quên không đòi lại giấy để hủy). Với đầy đủ chứng cứ trong tay, suốt đêm tôi viết “báo cáo mật” về vụ đánh thuế chiếc ghe biển số Kiên Giang đầy oan nghiệt… (có kèm theo đầy đủ hóa đơn thu thuế bổ sung). Sáng hôm sau tôi đem đến báo cáo chủ tịch tỉnh Nguyễn Công Bình. Xem xong “báo cáo mật” của tôi, ông chủ tịch đập tay xuống bàn rất mạnh và không nói câu nào cả. Đến kỳ họp giao ban hàng tuần, có đầy đủ các ty, ban, ngành trong sở, chủ tịch Sáu Bình đã phê phán gay gắt ngành tài chính và các trạm thuế. Ông đập tay xuống bàn rồi giơ tập hóa đơn thuế bổ sung lên nói to trước cuộc họp: thế này thì chúng ta trở thành kẻ cướp rồi, đâu phải chính quyền cách mạng! Một ông trưởng ty ngồi cạnh tôi, ghé vào tai tôi nói nhỏ: đây là bọn công an kinh tế tỉnh nó “chơi” bọn tài chính thuế vụ đấy! (không ai biết là tôi đã “báo cáo mật” bằng văn bản cho chủ tịch Sáu Bình). Đến buổi chiều, chủ tịch cho gôi tôi đến, bão tôi viết thay ông lá thư xin lỗi bà chủ ghe ở Kiên Giang. Ông cho tôi hay: sẽ theo địa chỉ ghi tên bảng hiệu của ghe và tên bà chủ để cử cán bộ xuống Kiên Giang xin lỗi bà, bồi hoàn số tiền mà tỉnh Tiền Giang đã 9ánh thuế oan với bà. Chủ tịch tỉnh Tiền Giang là một người như thế, ông nổi tiếng là sáng suốt, cương trực và liêm chính. Nhiệm kỳ chủ tịch tỉnh của ông, tỉnh Tiền Giang đứng đầu ĐBSCL về nhiều mặt. Tôi có nhiều kỷ niệm với ông khi làm việc tại Đài Phát thanh Tiền Giang. Có lần ông kêu tôi đi cùng đoàn làm việc của tỉnh vào nông trường khai hoang Tân Lập trong Đồng Tháp Mười làm việc liền ba ngày. Buổi sáng cuối cùng, trước khi về ông hỏi tôi, ba ngày qua đi xuống các đội sản xuất rồi làm việc với Ban lãnh đạo nông trường, với công đoàn nông trường… “nhà báo thấy có gì cần phải trao đồi không?” Tôi thưa với ông, mọi chỉ đạo của chủ tịch tôi thấy đều đúng, duy chỉ việc trồng cây dọc các bờ vùng bờ thuở của cái nông trường hơn 3000 ha này thì tôi thấy phải suy nghĩ lại. Tôi kể câu chuyện ông nội tôi làm thư ký cho Toàn Quyền Đông Dương, đi kinh lý các địa phương, khi cần làm việc gì, Toàn quyền đều giao cho chuyên gia, không bao giờ chỉ đạo cụ thể. Vì thế việc chủ tịch chỉ đạo trồng điều lộn hột, giao cho Sở Nông nghiệp nghiên cứu trồng cây gì thích hợp. Sau này bạch đàn lên tốt, cao vút, đường kính mỗi cây hai, ba tấc, ông Sáu đã chỉ đạo nông trường phải thưởng người kỹ sư đã tham mưu đúng (và cho cả tôi nữa). Một kỷ niệm khác, trong chuyến đi Campuchia, thăm và đem quà tết của tỉnh Kiên Giang cho các bạn ở tỉnh kết nghĩa Puasat, khi đoàn dân-quân-chính của tỉnh về nước rồi, là người có mặt trong đoán đi, tôi làm một bản báo cáo có số liệu về địa lý, kinh tế, văn hóa của tỉnh bạn (có so sánh với số liệu của Tiền Giang) trình chủ tịch Sáu Bình để sau tết ông đi thăm tỉnh kết nghĩa này. Chuyến đi của ông sang thăm tỉnh bạn kết nghĩa đó ngay sau tết 1982 rất thành công. Nhưng không ngờ cuối năm đó, chủ tịch lại có cuộc viếng thăm nước bạn XHCN Bungari, ông đến tận nhà tôi, đề nghị tôi soạn giúp một văn bản giống như đã làm với chuyến thăm Campuchia trước đây để ông tham khảo cho chuyến đi Bun sắp tới. Tôi hoảng quá, báo cáo. thưa ông Sáu, tôi chưa đi Bun lần nào ạ. Ông chủ tịch vốn nghiêm nghị này nghiêm nét mặt bảo tôi: đồng chí không được… khiêm tốn! Rồi ông ra về. Sở dĩ ông có thái độ nghiêm nghị và dứt khoát như thế vì mấy hôm trước có đoàn nhà bào ở TTX Novoti Liên Xô đến thăm tỉnh, ông cũng đến vảo tôi: đồng chí đi nhiều nước rồi, có kinh nhgiệm, ngày mai đồng chí cùng các nhà báo của tỉnh tiếp khách cùng tôi. Tôi giao cho đồng chí việc đó. Tôi nói: Thưa ông Sáu tôi chưa đi nước ngoài bao giờ, trừ chuyến đi Campuchia năm ngoái. Ông Sáu nghiêm nét mặt bảo tôi: Đồng chí không được… khiêm tốn! Tôi đành sang Hội hữu nghị Việt-Xô của tỉnh mượn tất cả các số tạp chí của TTX Novoti phát cho anh em đọc và dặn anh em ngày mai đem các số báo ấy đi, đặt lên bàn cho khách người ta trông thấy và phát biểu nhận xét về tạp chí này. Khi thấy chúng tôi đều có tạp chí Novoti in bằng tiếng Việt đặt trước mặt và phát biểu rôm rả, đương nhiên là tôi phát biểu trước… bạn rất hài lòng. Cuộc đón tiếp đạt kết quả tốt nên mới có chuyện ông chủ tịch giao cho tôi soạn thảo tài liệu đi Bun và ông đinh ninh là tôi đi nhiều nước rồi sau cái vụ tiếp đoàn thông tấn Novoti(!) Cùng tắc biến! Tôi lên TP HCM đến Hội trí thức thành phố và may mắn kiếm được cuốn “Bungari tự giới thiệu” bằng tiếng Pháp. Tôi đem về nhờ “thầy Quý chơi sách” dịch tóm tắt hộ về soạn thành tài liệu đưa trình chủ tịch sáu Bình. Tôi không quên ghi chú trong tài liệu rằng, trước khi chủ tịch về, nếu còn thời gian xin bạn cho đi dâng hoa viếng mộ nhà thơ X, thi hào của nước Bun như trong sách “Bungari tự giới thiệu” đã viết. Sau chuyến đi đó, chánh văn phòng ủy ban Sáu Kỳ, người tháp tùng chủ tịch đi Bun đem một cái khăn quàng phụ nữ rất đẹp, nói là quà của “chú Sáu” đi Bun tặng cho bà xã tôi. Sáu Kỳ cũng cho tôi hay, bạn rất phấn khởi khi nghe “chú Sáu” yêu cầu cho đi viếng mộ thi hào của nước Bun. Vì chưa có đoàn khách nào của Việt Nam, nhất là của một tỉnh mới giải phóng ở miền Nam lại có cử chỉ đẹp như thế. Chưa hết. Tôi còn một kỷ niệm khó quên với chủ tịch Sáu Bình khi cùng ông đi khánh thành một cây cầu mới trong một xã vùng sâu ở huyện Cai Lậy. Cắt băng khánh thành xong, ông chủ tịch còn nán lại dặn dò cán bộ xã phải bảo quản cây cầu như thế nào. Lúc quay ra thì cậu lái xe (tên là Vũ) đi đâu mất. Xã phải cho người đi kiếm (miền Bắc gọi là đi tìm). Thì ra có một đám giỗ, Vũ bị bắt vào nhậu. Thấy có người đến kiếm, nói “chú Sáu” giận lắm, Vũ hoảng quá lái xe như bay về. Nào ngờ cái cầu mới khánh thành, bề ngang hẹp, Vũ tông ngay xe vào thành cầu. Cánh cửa xe Lada của chủ tịch bẹp dúm, thành cầu cũng bị “tổn thương”. Ông Sáu giận lắm. Lúc ngồi trên xe trở về Mỹ Tho ông không ngớt lời mắng Vũ, dọa sẽ kỷ luật. Xong rồi việc cũng đâu vào đấy. Vũ vẫn lái xe cho chủ tịch. Nhưng việc đáng ghi nhận là từ đó, cây cầu mới chưa kịp đặt tên ấy, đã “chết” tên là “Cầu ông Vũ”. Bà con cái ấp ấy vẫn gọi là “Cầu ông Vũ” cho đến tận ngày nay. Trong văn bản địa đồ của chuyện cũng chính thức ghi “Cầu ông Vũ”! Bởi có thế người ta mới biết mà hỏi đường. Và, nếu bạn đi lang thang ở Nam Bộ, nếu thấy một địa danh như Ấp Bà Bèo, cầu Bà Rượu, cầu Cái Vồn, cửa Sông Đốc, cửa Ông Trang, quận Cái Răng, cầu ông Tành, cầu Tắc ông Thục, xóm Kiến Vàng… thì đừng vội kết luận ngay đó là tên những danh nhân, địa danh nơi xảy ra những sự kiện lịch sử như Rạch Gầm. Có thể đó là tên một vị anh hùng hào kiệt nào đó có công lập ấp, lập làng, đánh đuổi trộm cướp, cá sấu, hùm beo khi ông bà ta đến mảnh đất này “mở cõi”, cũng có thể là một người bình dân như ông Vũ nhưng đã để lại cho xóm ấp những kỷ niệm đời thường, có thể vui, có thể buồn và đáng nhớ. Vậy thôi! (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 11, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/11/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-24/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 25): https://www.minds.com/newsfeed/1019886581300297728?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 23): https://www.minds.com/newsfeed/1019885759111942144?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
23 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 23) Nói về sự cởi mở của “anh Hai Nam Bộ” tôi phải dẫn thêm trường hợp ts Võ Tòng Xuân phản đối làm cầu Mỹ Thuận! Tôi hỏi gs Võ Tòng Xuân: tôi nghe nói hồi sắp làm cầu Mỹ Thuật qua sông Tiền, ông phản đối? Giáo sư trả lời vô tư: đúng thế. Tôi bảo ông: vậy là ông điên rồi. Võ Tòng Xuân cãi: làm cầu thì mấy anh đi, tôi đi chứ nông dân có đi đâu! Thay vì dành tiền ấy thay các cầu khỉ cho nông dân đi, để bà con làm ăn khấm khá rồi thu thuế làm cầu cũng chưa muộn. Ngẫm nghĩ một lát rồi ông lại cười nói tiếp: tôi còn viết bài phân tích rõ lợi hại nói trên, vì thế lúc đó thủ tướng Võ Văn Kiệt mới la lên “Võ Tòng Xuân nó phát tôi!”. “Không chịu nổi”, tôi bảo Sg Xuâb: may đời cho anh, phải ông thủ tướng khác thì gặp nạn rồi(!) SG Xuân vẫn hồn nhiên: nhưng thủ tướng lúc đó bảo tôi: thư thả làm xong cầu, chính phủ sẽ thu thuế qua cầu, lấy tiền làm cầu thay cầu khỉ cho nông dân… vì câu nói đó của thủ tướng mà báo Thanh Niêntheo dõi việc thu thuế cầu để làm cầu… dài dài sau này. Thì ra chuyện phản đối làm cầu Mỹ Thuận của Võ Tòng Xuân là có thiệt! Quả thật lúc này, tôi không còn thời gian để “chất vấn” Giáo sư Xuân về vụ nuôi tôm hay trồng lúa, “cứ có lợi là làm” của ông, mà nhiều nông dân đã cắt bài báo đó để trong túi làm “bùa hộ mệnh” để nuôi tôm… bạt mạng, bất kể phân biệt vùng quy hoạch mặn hay ngọt(!) Võ Tòng Xuân là vậy. Nghĩ thế nào nói thế, chỉ tính hơn-thua cho nông dân, không tính lợi-hại cho mình hay bất cứ ai. Vì thế ông được nông dân Đồng bằng sông Cửu Long rất yêu quý, đồng thời cũng bị người có trách nhiệm quản lý toàn diện đôi lần nổi giận. Nhưng “giận mà thương”! Nói về cái khuynh hướng tình cảm trong ứng xử, trong đời sống hàng ngày, tôi có ví dụ khá điển hình về một “anh Hai Nam Bộ” là Ba Tạo ở Cần Thơ. Năm 1985 sau khi trở về cơ quan thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam tại TP HCM từ Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang, nhưng vẫn “trụ” lại Mỹ Tho để thực hiện ý đồ “có người luôn có mặt, thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long” của giám đốc Nguyễn Thành, tôi tiến hành một cuộc đi khảo sát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của Đồng bằng sông Cửu Long. Tôi đi Cần Thơ. Với giấy giới thiệu của Đài tiếng nói Việt Nam, tôi trình chánh văn phòng Sở quản lý nhà đất Tp Cần Thơ xin gặp ông giám đốc. Sau ít phút, chánh văn phòng trở ra cho biết giám đốc từ chối không tiếp nhà báo. Cũng không nói lý do gì cả. Đây là một trường hợp “hơi bị hiếm” với một cơ quan một tỉnh lẻ, từ chối không tiếp người đại diện cho cơ quan ngôn luận cấp quốc gia. Tôi kiên trì thuyết phục vị chánh văn phòng sở báo cáo lại ông giám đốc là tôi chỉ xin gặp trong ít phút, không làm mất thời gian của ông nhưng kết quả là vẫn bị từ chối. Đây là một việc làm trái nguyên tắc, vì theo quy định nhà nước, được in ngay phía sau thẻ nhà báo thời đó (sau bị bỏ) là các cơ quan, đôn vị… phải có nhiệm vụ cung cấp tư liệu, thông tin cho báo chí. Nhưng tôi đành quay ra và tự đi tìm kiếm tư liệu trong một tuần lễ. Trước khi về, tôi quay lại Sở nhà đất Cần Thơ, nói với vị Chánh văn phòng sở bữa trước rằng, tôi đã làm việc cả tuần lễ tại thành phố “Tây đô”, trước khi ra về, chỉ xin phép vào chào đồng chí giám đốc sở một câu cho phải phép. Tôi làm thế để muốn nhìn tận mắt xem ông giám đốc quan liêu và hách dịch này mặt mũi ngang dọc ra sao! Quả nhiên giám đốc cho vào. Trước mặt tôi lúc đó là một người đàn ông cao, gầy, da đen sạm và mất một tay đến sát vai. Tôi được ông mời nước, mời thuốc. Đúng như đã hứa với vị chánh văn phòng, tôi nói: thưa đồng chí giám đốc, tôi đã tìm hiểu về quản lý đô thị ở thành phố ta, tôi đến chào giám đốc, chúc sức khỏe và xin phép ra về. Nói xong tôi đứng dậy. Vị giám đốc vỗ vai tôi bằng cánh tay còn lại và mời tôi cứ ngồi, có cần gì cứ hỏi… Sau một lúc trò chuyện tôi được biết ông là Ba Tạo, từng là chiến sĩ giải phóng quân đánh trận Mậu Thân ở Cần Thơ “rút vào, rút ra”. Chuyện trò giữa tôi và Ba Tạo càng lúc càng tâm đầu ý hợp. Cuối cùng, hết giờ làm việc, Ba Tạo không cho tôi về, bảo tôi về nhà ông chơi, nhậu một bữa, tâm sự một đêm, sáng mai mới được về. Ông chở tôi bằng cái xe honda màu đen cũ kỹ, điều khiểu xe bằng cánh tay còn lại ra tận ngoại ô Cần Thơ, nơi ông có căn nhà cấp 4 đơn sơ nhưng vườn khá rộng. Ông giới thiệu tôi với bà vợ rất nhiệt tình như gặp lại bạn cũ lâu ngày. Tối hôm đó chúng tôi nhậu lai rai bên hè nhà gió lộng. Ông kể cho tôi nghe, vì sao là giám đốc Sở nhà đất nhưng lại ở cái nhà xập xệ thế này, lý do là vì ông thích vườn rộng. Lúc mới giải phóng chỗ này còn hoang vu lắm. Muốn ở bao nhiêu tùy sức. Đêm đó hầu như chúng tôi rất ít ngủ, lúc tỉnh giấc lại chuyện. Tôi được nghe về cuộc đời chinh chiến của ông, vì sao lại mất mát một tay, mất tay trong trường hợp nào. Và, đặc biệt ông kể về những khó khăn trong quản lý đô thị ở miền Nam, điều tôi rất cần nghe. Khi mới giải phóng miền Nam, từ chiến khu, các cơ quan của ta vào thành phố và cứ theo sự đồng dạng về tên gọi của hai chính quyền cũ và mới để tiếp thu các công sở. Ta cứ tiếp quản “nguyên canh nguyên cư” như thế nên bây giờ mới có cảnh trái đời. Một tỉnh nông nghiệp lớn mà cơ quan nông nghiệp và thủy lợi lại bé như cái lỗ mũi. Nhốt hàng trăm nhân viên trong một căn nhà hẹp trong khi ở ngay cách đó, một phòng cảnh sát lại chiếm cái nhà to đùng. Chỉ một Hội Chữ Thập Đỏ thì phải mua thêm thật nhiều khóa để khóa các phòng không khi nào có người bước chân vào cả. Sở quản lý nhà đất và công trình đô thị của Ba Tạo đã “sứt đầu mẻ trán” vì đứng ra chia lại, khi có những người thế lực đầy mình chống lại. Ba Tạo là con người như thế. Ông đã tâm sự với tôi về cuộc đụng độ của ông để tiết kiệm cho ngân sách và để quản lý cái đô thị có 5 triệu mét vuông nhà. Sáng hôm sau, Ba Tạo chở tôi đi uống café, ăn hủ tiếu rồi đưa tôi ra thẳng bến xe, nơi có ông trưởng bến là “quân cũ” của ông. Dặn trưởng bến cho tôi lên cabin ngồi, lúc tiễn tôi lên cabin cái xe đò sắp chạy, ông còn móc túi cho tôi ít tiền… trước mặt tất cà các hành khách trên xe. Ông còn dặn khi nào về Cần Thơ phải ghé. Anh Hai Nam Bộ là như thế, không thích thì không tiếp, không cần “luật lệ”, dù là luật lệ được in trên thẻ nhà báo do chính phủ cấp đàng hoàng. Nhưng một khi đã có tình cảm rồi thì… “vô tư”! Cũng trong năm 1985, tôi tiến hành đi khảo sát về nông thôn vùng sâu của đồng bằng ở tỉnh Kiên Giang nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên còn nhiều đất hoang. Với một cái túi trên vai đựng ít quần áo và cái máy ảnh giấu trong đó, tôi xuống một bến đò dọc ở huyện Hòn Đất. Cứ đi, khi nào người đi ghe lên hết thì mình lên. Tôi đến một xã, sau này biết là xã An Thái Sơn. Vừa lên khỏi bến đã thấy tiếng cười nói ồn ào. Biết là nhà có giỗ, tôi cứ đi vô. Chủ nhân chẳng cần biết tôi là ai, kéo ngồi xuống cái chiếu đang có đông người đang ăn uống ngay giữa nhà. Chiếc ly rượu quay được vài vòng thì có người trỏ tay vào người đàn ông ngồi bên tôi, nói: hôm nay ông được ngồi cạnh Vua Hòn! Người được suy tôn là “Vua Hòn” cụng ly với tôi. Xế chiều, vì quá say tôi phải nằm ngay xuống xái chiếu đang ngồi ngủ một giấc. Ở Nam Bộ, người đến ăn giỗ “chết” tại chỗ như thế, chủ nhà rất thích. Khi tỉnh dậy, tôi được biết “Vua Hòn” là bí thư huyện Hòn Đất. Sau khi biết tôi là nhà báo, “Vua Hòn” tức Sáu Chấp mời tôi ở lại để hôm sau đi thăm vùng trồng mè (vừng) thí nghiệm trong vùng đất hoang của huyện. Tối đến tôi thấy Sáu Chấp lấy khẩu súng lục to đùng giắt ở trong người ra, gối đầu lên súng ngủ! Sáng hôm sau chúng tôi đi bộ một đoàn gần chục người vào vùng trồng mè. Đi đến 6-7 km mà chưa tới nơi. Trời nắng khát quá mà chỉ gặp những hố chân trâu đọng nước mưa nên đành phải vốc lên mà uống. Nhưng tôi chưa bao giờ uống nước lã mà thấy ngon như thế. Chiều tối, Sáu Chấp rủ rôi về huyện ủy ngủ, nhưng tôi về để còn đi tiếp. Sáu chấp viết cho tôi một mảnh giấy giới thiệu với các xã để tôi đi tiếp. Nhưng tôi chẳng cần đến giấy của anh làm gì. Tôi cứ đi, gặp nhà nào có đám giỗ là vô, tối ngủ lại đó với những người “chết” sau trận cụng ly trong đám giỗ! Một tuần lễ sau, tôi về lại Rạch Giá, thủ phủ của tỉnh Kiên Giang. Ngủ nhà khách tỉnh ủy để chờ gặp lãnh đạo. Tiếp tôi là phó bí thư thường trực tỉnh ủy, tên Tám Quýt, nhân vật ngoài đời được nhà văn Anh Đức lấy làm hình mẫu để xây dựng hình tượng anh Hai Thép trong tiểu thuyết “Hòn Đất”. Khi tôi nói về đồng chí phó bí thư tỉnh ủy về chuyến đi thực tế của mình một tuần qua, trước khi về, xin phép hỏi lãnh đạo tỉnh một số điều. Phó bí thư thường trực Tám Quýt trả lời tôi một câu đầy ấn tượng: đồng chí nhà báo đã đi như thế thì tôi phải hỏi đồng chí chứ sao đồng chí lại phải hỏi tôi! Khi nói về chuyện chiến tranh năm xưa, “Anh Hai Thép” đã làm tôi ngạc nhiên một lần nữa. Theo Tám Quýt thì cuộc chiến đấu ở Hòn Đất không thấm gì với cuộc chiến ở đồi Tức Dụp bên An Giang, nhưng vì nhà văn Anh Đức viết về Hòn Đất nên địa danh này trở nên nổi tiếng, vậy thôi! Sau này tôi có dịp đến Tức Dụp, được nghe kể về cuộc chiến, được đọc tài liệu về Tức Dụp mới thấy điều “Anh Hai Thép” nói là sự thực. Các “anh Hai Nam Bộ” hồn nhiên và vô tư như thế đó. Đọc đến đây sẽ có bạn đọc cười thầm và đặt câu hỏi: thế “đồng chí X” thì sao đây? Tôi xin nhường lời cho bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, người sinh ra (1943) ở Tân Sơn Nhì Sài Gòn, người được mệnh danh là “chuyên gia biểu tình” như nhận xét của ông Trương Tấn Sang, nói về “đồng chí X”. Cách đây vài tuần, sau Tết Nguyên đán Quý Tỵ (2013), trong một cuộc gặp gỡ khá bất ngờ tại một quán café ở Sài Gòn, gồm có nhà văn Hoàng Minh Tường (tác giả của tiểu thuyết “Thời của thánh thần”) ở Hà Nội vào, PGS TS Vũ Trọng Khải, nhà thơ Hoàng Hưng, Nguyễn Thị Khánh Trâm, bác sĩ Mẫm và tôi. Anh Mẫm kể cho chúng tôi nghe về cuộc gặp gỡ mới đây của ông với chủ tịch nước Trương Tấn Sang, ông Nguyễn Bá Thanh… Khi nói về “đồng chí X”, anh Mẫm nhận xét: Tôi chưa thấy tay Nam Bộ nào nham hiểm, tàn độc như “đồng chí X”! Trường hợp của “đồng chí X” là cá biệt, “chưa thấy” như anh Mẫm nói là đúng, tôi nghĩ vậy với tư cách một dân “Bắc kỳ thứ thiệt” đã sống lang thang hơn 30 năm ở đất Nam Bộ, gặp gỡ và trò chuyện với các chức sắc của giới thượng lưu cho đến giới bình dân ở xứ này. Các “anh Hai Nam Bộ” dù có địa vị cao, vẫn có tác phong bình dân, ít quan cách hơn các quan cộng sản ở các miền khác của đất nước. Có lẽ do họ đều có “xuất xứ” bình dân. Trong 10 năm sống và làm việc ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi có biết một trường hợp khá thú vị. Đó là trường hợp của ông Sáu Cao, thường vụ tỉnh ủy Tiền Giang. Từng là ủy viên Ban Tuyên huấn trung ương Cục trong chiến tranh, sau 30-4 ông về quê công tác. Một lần ra Hà Nội làm việc, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện hỏi tôi: ở tỉnh cậu đang làm phóng viên thường trú, có lãnh đạo nào đọc được tiếng Pháp không? Tôi trả lời ông Viện: chỉ có ông Sáu Cao, đậu diplome. Ông Viện mừng lắm, đưa cho tôi cuốn “Delta du Mekong” (Đồng bằng sông Mekong) rồi bảo: về tặng cho Sáu Cao. Ông Sáu Cao cũng là người duy nhất ở Mỹ Tho đặt mua 2 tờ “Nouvell de Moscow” và “Temps Nouveaux” ở bưu điện tỉnh. Ông giữ rất nhiều chức trong tỉnh, giám đốc đài phát thanh, giám đốc báo Ấp Bắc, giám đốc bảo tàng tỉnh, chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh, giám đốc trường Đảng tỉnh… Nhưng ông ít đến các cơ quan đó, giao cho chức phó điều hành, nếu có đến thì chỉ nói chuyện “trên trời” là chính… vì thế anh em văn nghệ trong tỉnh gọi là “ông Sáu tào lao”! Tuy là thường vụ tỉnh ủy nhưng ông Sáu sống rất bình dân, áo bỏ ngoài quần, hút thuốc rê quanh năm. Một lần tôi đi ra quán cắt tóc gần nhà ông Sáu (cũng gần nhà tôi) để cắt tóc. Biết tôi quen với ông Sáu nên anh thợ vốn mau mồm mau miệng – mà thợ cắt tóc nào từ Bắc chí Nam mà chẳng thế – bảo với tôi: tôi phục ông Sáu Cao là “một người quân tử”! Tôi hỏi lại anh ta: quân tử thế nào nói tôi nghe? Anh thợ cắt tóc kể rất say sưa: hôm trước ông Sáu ra đây cắt tóc. Tôi hỏi, lâu lắm không thấy ông Sáu cắt tóc. Ông Sáu bảo: mình đi Liên Xô. Thế là có một tay ngồi chờ cắt tóc nhìn ông Sáu từ đầu đến chân, có lẽ hắn thấy ông Sáu mặc bộ đồ pajama nhàu nhò, chân đi dép lê, người lại đen như nông dân, miệng hút thuốc rê vấn sâu kèn… nên tay này bảo: thôi đi cha nội, nói dóc nó vừa phải thôi, còn để người khác nói dóc với chứ… thứ ông ai người ta cho đi Liên Xô… Ông Sáu không nói gì, ngồi xuống ghế tiếp tục “kéo” thuốc rê. Được thể, tay này lại lớn tiếng: nói dóc vừa phải thôi, không có ngày công an bắt đó! (ở tỉnh lẻ, nhất là ở Nam Bộ, đi Liên Xô là lớn chuyện lắm, phải là bí thơ hay chủ tịch). Tôi hỏi anh thợ cắt tóc: thế ông Sáu vẫn không nói gì à? Anh ta cười lớn, nói: thế mới bảo ông Sáu là người quân tử!!! Thật hiếm ở nơi nào trên đất nước ta thời cộng sản, lại có một ông quan thường vụ tỉnh ủy “quân tử” như thế, nếu không phải là ở Đồng bằng sông Cửu Long(!) Về tính cách ham vui của người dân Nam Bộ, tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Ở cùng phố với tôi, có anh bạn một hôm đến rủ tôi đến nhà anh ăn mừng sinh nhật Bác Hồ ngày 19-5. Đương nhiên là tôi đi. Đúng một tháng sau, anh lại đến rủ tôi đi liên hoan. Tôi hỏi, dịp gì thế? Anh ta bảo, hôm nay “đầy tháng” Bác Hồ! Chưa hết, anh rủ tôi đến nhà ăn giỗ bà già. Đúng một tháng sau anh lại đến rủ tôi, nói: hôm nay giỗ bà già tôi! Nghe vậy tôi ngạc nhiên quá, vì vừa ăn giỗ tháng trước. Anh hiểu sự ngạc nhiên này nên giải thích ngay: năm nay nhuận hai tháng tám phải giỗ hai lần! Vẫn chưa hết. Ngày Phật Đản, anh rủ tôi rồi đến ngày Noel mừng Thiên Chúa Giáng Sinh anh cũng đến mời tôi đi ăn mừng. Tôi thắc mắc vì anh theo đạo Phật cơ mà, anh cười, nói tôi đa tôn giáo! Thế nên hèn chi, ca dao Nam Bộ mới có câu: “Ra đường thấy vịt cũng lùa Thấy duyên cũng kết, thấy chùa cũng tu”! Với dân Nam Bộ, cái gì cũng có thể đem ra vui đùa được, không có vùng cấm kỵ. Có lần bác sĩ Tư Dược, giám đốc xí nghiệp dược liệu quân khu 9 trong đó có trại rắn Đồng Tâm nổi tiếng, mời tôi ăn cơm. Khi gắp cho tôi một cái đuôi rắn hổ vào bát, ông bảo tôi ăn đi, bổ lắm, trong thịt rắn hổ có tới 18 loại axit amin! Rồi ông đố tôi: đố nhà báo, ở Nam Bộ cái gì ngon nhất? Tất nhiên là tôi chịu thua. Ông cười nói: rốn chị sui là ngon nhất. Nói rồi ông đọc cho tôi nghe một câu phương ngôn Nam Bộ: “Thứ nhất là rốn chị sui, thứ nhì là đuôi rắn hổ”. Chuyện tiếu lâm ở Nam Bộ cũng lạ lẫm. Chuyện kể rằng ở Cà Mau có bốn bác nông dân ngồi nhậu. Một bác đề xuất phải họa thơ. Mọi người hưởng ứng. Bác chủ nhà đọc câu đầu: Trước cửa nhà tôi có bụi môn! (khoai môn) Bác thứ hai họa tiếp: Cái lá nghiên nghiên tựa cái lồn Bác thứ ba họa tiếp: Cái củ xồm xoàm như con cặc Bác thứ tư kết: Thế mà nấu chín lại ăn ngon! Dân Nam Bộ là thế, chỉ thích vui “vì cuộc đời họ buồn lắm rồi, heo hút cô đơn lắm rồi…” Tôi rất thích đoạn văn đó của nhà văn Nguyễn Văn Bổng. Một người đã sống nhiều năm ở Nam Bộ, tác giả của tiểu thuyết “Rừng U Minh” và tập ký “Cửu Long cuộn sóng”. Tôi đã đọc nhiều lần đoạn văn đó của ông đến mức không cần giở sách cũng có thể chép nguyên văn: “Đất nước ta càng về phương Nam càng là đất mới, đất của những người không có quyền sống trên những mảnh đất đã được khai phá, vì vậy càng là đất của những người nổi dậy! Miền Tây Nam Bộ là mảnh đất lưu đày và nổi dậy cuối cùng của tổ quốc. Đến đây là sơn cùng thủy tận rồi. Đến đây là đến trên bờ Thái Bình Dương, Vịnh Xiêm La mịt mù rồi. Đến đây chỉ còn hai con đường, một là không đủ nghị lực sống nữa thì đâm đầu xuống biển mà chết, hai là cố bám lại đấu tranh để sống. Con người đến đây là con người liều, con người ngang tàng, nghĩa khí, tính mạng coi nhẹ tựa lông hồng, tiền tài coi khinh như rơm rác. Đối với họ, chỉ nghĩa khí là trọng. Họ không cần có nhà đẹp, vì xưa nay có ở đâu được lâu. Nhà của họ là “nhà đá”, “nhà đạp”, dựng lên đó, ở lại đó nhưng nếu không chịu nỗi áp bức thì lại đạp đi, đá đi, đến chỗ khác mà ở. Họ chẳng cần mặc sang, và có thì ăn, cũng không cần lo cho ngày mai lắm. Vì trước đây chắc gì họ được sống đến ngày mai, còn miễn sống được thì ngày mai ở trên hai cánh tay mình, dưới sông, trên rạch, trong rừng kia! Họ vồ vập hiếu khách vì cuộc đời họ đã buồn lắm rồi, heo hút, cô đơn lắm rồi. Họ chỉ còn có tình nghĩa là đậm đà với nhau. Họ sẵn sàng nhường áo, xẻ cơm, vì họ đã từng biết cái cực, cái nhục của đói khổ là thế nào. Và trên hết, họ rất căm thù. Đừng động đến họ” (Sau một cuốn ách – Nguyễn Văn Bổng). Chính kẻ viết những dòng này cũng là kẻ “không có quyền sống trên những mảnh đất đã được khai phá”! Không sống được trên mảnh đất và ngôi nhà đẹp vào loại nhất làng Hoàng Mai giàu có giữa thủ đô Hà Nội vì “không có một kẽ hở để suy nghĩ” trong chính ngôi nhà đó, không thể sống được trong cái xã hội XHCN ở miền Bắc lúc đó, một thứ chủ nghĩa xã hội nhà nước, tất cả phải làm cho cơ quan nhà nước. Và đã ở trong cơ quan nhà nước thì nhất thiết phải chui vào Đảng mới có địa vị và quyền hành, có bổng lộc để sống dễ thở hơn trong cái xã hội “xếp hàng cả ngày đó”! Không phải ai vào Đảng cái thời tôi ở Hà Nội cũng vì động cơ đó. Có người đã tâm sự với tôi, phải vào Đảng để có quyền, và chỉ có quyền mới có thể làm điều tốt nhiều hơn. Những người như thế có, nhưng ít lắm. Còn đa số chui vào Đảng để dễ đục khoét, dễ giàu có hơn người, nhất là ở cái thời “kinh tế thị trường định hướng XHCN” này khi “đểu cáng đã lên ngôi”! (Bùi Minh Quốc) thì vào Đảng 99,99% là để kiếm xôi thịt. Tôi nhớ năm 1991, tôi sang Liên Xô. Một nhà tư bản Mỹ khi tới thăm Liên Xô lúc đó phát biểu: Ở nước Mỹ chúng tôi, có tiền là có hết, còn ở nước các ông có quyền là có hết! Vì thế, chưa có ở đâu người ta tranh quyền quyết liệt bằng ở các nước XHCN. Cuộc đấu đá “ghế ít đít nhiều” luôn diễn ra khốc liệt ở mọi cơ quan nhà nước. Tôi có anh bạn ở báo Nhân Dân kể với tôi rằng, trong phòng anh làm việc, tất cả mọi người đều ngồi chung với nhau một một gian phòng rộng, nhưng riêng ông trưởng phòng thì được ngồi một cái ghế to hơn, cái bàn rộng hơn có ngăn kéo ở hai ên. Có lần một phóng viên chua chát nói: tôi đã đi mọi nẻo đường, đã vào Nam ra Bắc trong chiến tranh, vậy mà chỉ đi từ cái ghế này (anh chỉ tay vào cái ghế của mình) sang cái ghế này (anh chỉ tay vào cái ghế trưởng phòng) rồi kết luận: nhiều năm rồi mà không đi được một đoạn vài bước chân này! Thật là khốn nạn, khốn nạn! Cũng cần phải nói cho rõ vì sẽ có người sẽ ngộ nhận. Ở Mỹ, để làm người có tiền không dễ vì luật pháp nghiêm minh, mọi thứ minh bạch. Muốn có tiền để có hết phải buôn bán làm ăn tử tế, làm việc tử tế và có tài. Còn ở nước ta, muốn có tiền trước hết phải biết buôn vua, buôn quan, buôn bán làm ăn dối trá làm đầu. Như nhà nghiên cứu xã hội Nguyễn Trần Bạt đã “phát hiện”, trốn thuế là sức mạnh cạnh tranh hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam. Những thế hệ người đi mở cõi phương Nam của đất nước ta thì anh dũng và cần cù, nhưng khi mảnh đất đã được khai phá quá màu mỡ, dễ sống nên các “anh Hai Nam Bộ” sau này ăn nhậu la đà, còn “suy tôn” cả những tay bợm nhậu bằng ca dao tục ngữ. “Con chin khôn tìm cành đùm mà đậu Con gái ngoan tìm thằng ăn nhậu mà nhờ Mai kia nó chết bụi, chết bờ… đỡ chôn!” Cảnh ăn nhậu, say xỉn của đám mày râu ở Nam Bộ sau này đã gây ra nhiều thảm cảnh gia đình, xã hội. Vì thế, tôi đã viết bài báo nhan đề: “Rượu – Thảm họa ở đồng bằng sông Cửu Long” trên báo Lao Động chủ nhật số ra ngày 10-6-1990. Nói về rượu, tôi ghi được ở tỉnh Kiên Giang một bài hát về rượu như sau: “Một ly nhâm nhi tình bạn / Hai ly giải hạn cơn sầu / ba ly cứt mũi đầy râu / bốn ly ngồi đâu nói đó / năm ly cho chó ăn chè / sáu ly ai nói nấy nghe / bảy ly làm xe lội nước / tám ly chân bước chân quỳ / chín ly còn gì mà kể / mười ly khiên để xuống xuồng”. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 8, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-23/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 24): https://www.minds.com/newsfeed/1019886326475034624?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 22): https://www.minds.com/newsfeed/1019885317801615360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 22) Sống hòa mình với xã hội, tôi thu lượm được nhiều kiến thức thực tế, đặc biệt là lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ của người dân Nam Bộ. Điều này rất cần cho một người cầm bút. Đặc biệt là viết “Câu chuyện truyền thanh” cho đài phát thanh, một thể tài hấp dẫn nhưng khó viết nhất. Vì, câu chuyện truyền thanh là một vở kịch của báo nói. Nó vừa phải truyền tải những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống, vừa có tính văn nghệ của một vở kịch nhỏ. Các nhân vật của câu chuyện truyền thanh phải nói tiếng nói của tác giả. Vì vậy tác giả phải có vốn sống. Cuốn sổ tay của tôi luôn được giở ra để ghi chép “lời lẽ các nhân vật”. Nhà báo Phan Quang trong cuốn “Đồng bằng sông Cửu Long”, xuất bản sau năm 1975 được tái bản nhiều lần đã có một nhận xét tinh tế: người Việt Nam từ đầu đến cuối đất nước, sống cách xa nhau hai nghìn cây số, nhưng Bắc Nam thoạt gặp đã dễ dàng nghe tiếng nói của nhau. Cùng một cội nguồn, cùng một ngôn ngữ dân tộc như vậy là lẽ đương nhiên. Không những ngữ pháp không thay đổi, từ vị thống nhất mà tôi còn ghi nhận một chi tiết hay hay: người Bắc và người Nam chi nhau hai phần của một từ kép, khi thì phần trước, khi thì phần sau. Chẳng hạn: dơ bẩn, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, chà xát, hay biết… người Nam dùng phần đầu. Ngược lại trong thóc lúa, lanh lẹ, nóng nực, dẫm đạp, đón rước, lừa gạt… người Nam lại lĩnh phần sau (Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Trẻ, tr. 412). Trong những năm tháng rong ruổi ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã ghi thêm được nhiều ví dụ về sự “chia nhau” một từ kéo như thế. Năm ông Phan Quang tròn 85 tuổi, tôi đã gửi ra Hà Nội “mừng thọ” ông 100 từ kép được “chia nhau” như thế. Mời bạn đọc… xem chơi! Tôi xếp các từ kép này theo thứ tự abc (chữ đầu) của từ: ô dù, ốm đau, buồn rầu, bơi lội, bóc lột, cố gắng, co kéo, chọc ghẹo, chán ngán, chặt đốn, cưng chiều, chén bát, chờ đợi, chửi rủa, chậm trễ, cần thiết, cạn kiệt, chia xớt, đưa rước, dạy bảo, dòmn ngó, dọn dẹp, dụ dỗ, đùa giỡn, đùi vế, đau ốm, đĩ điếm, khờ dại, điên khùng, dư thừa, giỡn chơi, đui mù, dòm ngó, dọa nạt, đe dọa, hư hỏng, hao tốn, hăm dọa, hối thúc, hù dọa, hung dữ, ham thích, hoảng sợ, hèn nhát, hư hao, ham muốn, lượm nhặt, nhờ cậy, kiểm điểm, khỏe mạnh, kêu xin, kỳ lạ, khờ dại, lựa chọn, lời lãi, lười biếng, mau lẹ, mồm miệng, may rủi, nôn nóng, mai mốt, ngăn ngừa, ngăn chặn, nón mũ, ngất xỉu, nhìn ngó, quậy phá, rơi rớt, rảnh rỗi, rượt đouổi, rầy la, tập dượt, thuê mướn, thay thế, tiêm chích, thưa kiện, tìm kiếm, trưng bày, tồi tệ, to lớn, trêu chọc, tuyển mộ, trông chờ, tránh né, thương yêu, trông coi, uổng phí, ưa thích, vâng dạ, vay mượn, rượt đuổi, sáng tỏ, sửa chữa, giúp đỡ, giành giật, gầy ốm, già cỗi, ghê sợ, say xỉn, phòng ngừa… hơn 100 từ ghép kể trên đều như nhận xét của Phan Quang. Ví dụ như đui mù thì người Nam nói đui, người Bắc nói mù. Câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu: “Thà đui mà giữ đạo nhà / còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”. Có một nhận xét của nhà văn Nam Bộ cũng tinh tế chẳng kém gì Phan Quang là ông Sơn Nam. Đó là như tôi đã viết hàng trăm bài phát thanh, bài báo, bài bút ký trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Nam chí Bắc và cho ra đời đến 5-6 đầu sách về Đồng bằng sông Cửu Long. Một lần gặp Sơn Nam ở Sài Gòn, ông biểu tôi: ban đầu tao cứ tưởng mày là một thằng Nam Bộ, nhưng đọc kỹ, tao biết mày là một thằng Bắc Kỳ thứ thiệt. Tôi ngạc nhiên quá, hỏi lại ông: vì sao thầy lại nhận xét thế? Ông già hóm hỉnh nói: mày viết hay dẫn chứng, hay đưa con số để chứng minh điều này điều kia… thằng Nam Bộ nó không thế. Thì ra là vậy. Do tôi cố gắng dùng ngôn ngữ của người dân Nam để viết, như ghi chép cả trăm từ kép để học cách nói của dân Nam Bộ nên ban đầu Sơn Nam tưởng tôi là Nam Bộ. Nhưng sự hay dẫn chứng, chứng minh của tôi khiến Sơn Nam phát hiện ra tôi là dân Bắc Kỳ! Và chính ông đã viết lời bạt cho cuốn “Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long” gần 400 trang của tôi do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2000. Báo Nhân Dân số ra ngày 9.5.2000 đã đăng bài viết đó của Sơn Nam. Nếu những năm dạy học ở nông thôn miền Bắc đã cho tôi hiểu phần nào về cuộc sống và xã hội Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ thì những năm “dấn thân” ở Đồng bằng sông Cửu Long đã cho tôi hiểu tính cách con người Nam Bộ. Là người Việt Nam, người dân Nam Bộ có tất cả những ưu điểm và khuyết tật của người Việt nói chung, nhưng điều kiện địa lý, thiên nhiên, vị trí của mảnh đất Nam Bộ (xa phương Bắc) đã tạo nên những tính cách rất đặc trưng của người dân. Từ công chức, cán bộ trong bộ máy công quyền (xưa và nay) cũng như người dân nói chung họ có tính cởi mở, thẳng thắn, dễ tin người, ham vui trọng nghĩa, hồn nhiên đến hoang sơ… và đối với họ, không có nguyên tắc nào cả! Tôi không phải nhà lý luận, nhà nghiên cứu, tôi chỉ là nhà quan sát nên dẫn ra đây vài ví dụ điển hình để góp phần cung cấp tư liệu cho các nhà xã hội học. Vào đất Tiền Giang, tôi công tác ở Đài Phát thanh của tỉnh còn vợ tôi công tác ở công ty ngoại thương Tiền Giang. Ba năm liền, vợ tôi năm nào cũng được tăng lương, trong khi đó các người khác 3-4 năm còn phải xét. Khi họp chi bộ, có người thắc mắc với giám đốc công ty ngoại thương là ông Nguyễn Văn Khang (tức Ba Khang): cô Thuận (tên vợ tôi) mỗi năm mỗi tăng lương, anh em người ta thắc mắc nhiều lắm? Giám đốc Ba Khang mắng: chúng mày ngu vừa phải thôi… chú Khải, chồng cô Thuận ở bên Đài phát thanh, chú ấy có công với tỉnh, viết bao nhiêu bài giới thiệu Tiền Giang ra cả nước, bên ấy chúng nó ngu, không tăng lương cho chú ấy… thì bên này mình tăng lương cho vợ chú ấy cũng thế… thắc mắc cái gì! Không ở đâu có cái logic tăng lương như thế. Chỉ có các anh Hai Nam Bộ mới có cái tư duy logic kiểu đó. Nhưng xét ra… cũng không sai! Để nói về tính cương trực thẳng thắn của dân Nam Bộ, tôi xin dẫn ra một ví dụ cũng khá điển hình. Những năm đầu thập kỷ 80 (thế kỷ 20) còn chế độ bao cấp, phân phối đều. Tỉnh Minh Hải, vùng mặn nuôi tôm cũng được trung ương phân phối một lượng phân bón nhập ngoại như các tỉnh khác. Trong khi đó, Tiền Giang xây dựng vùng lúa năng suất cao cần nhiều phân bón nên phải xuống Minh Hải mua phân dư thừa. Thời đó mua bán ngoài kế hoạch được cấp là một sai phạm nghiêm trọng. Khi đoàn của thủ tướng Phạm Văn Đồng vào kiểm tra, ông hỏi: vì sao lại mua bán phân bón, phải đình chỉ ngay. Chủ tịch Tiền Giang lúc đó là ông Sáu Bình trả lời: chúng tôi chẳng những không đình chỉ mà còn tiếp tục mua nữa vì dưới đó trung ương phân cho họ, họ không trồng lúa, thừa phân, trên này chúng tôi trồng lúa thiếu phân nên còn phải tiếp tục mua nữa(!) Có cho ăn kẹo thì một ông chủ tịch tỉnh ở miền Bắc cũng không dám cãi lại Thủ tướng như thế. Người Nam Bộ hay nói thẳng. Vì thế, trước đây tướng Qua về nhà tôi, đã hai lần “than phiền” với ông bố tôi về tính nói thẳng của dân Nam Bộ. Một lần ông nói về ông Bẩy Trân. Ông Bẩy Trân như tôi đã nói ở đầu sách, ra Hà Nội để “nằm chờ” bố trí công tác quan trọng. Nghe đâu thời học trường Đảng cao cấp ở Moscow cùng với ông Trần Văn Giàu và ông Mười Giáo, ông đã có lần lấy vợ người Nga. Vì thế sau năm 1954, trung ương dự định bố trí đi làm đại sứ ở Liên Xô và cử ông đi học trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Khi ông Trường Chinh vào giảng bài về lịch sử Đảng ông có nói, tổ chức thanh niên tiền phong ở Nam Bộ trước kia là tổ chức phản động thân Nhật. Học viên Nguyễn Văn Trân đứng dậy nói: thanh niên tiền phong ở Nam Bộ lúc đó do tôi cử Trần Văn Giàu đi gặp Phạm Ngọc Thạch để tổ chức ra nó. Tuy cái vỏ bên ngoài là của Nhật, nhưng cái ruột bên trong là của ta. Đồng chí không biết lịch sử Nam Bộ thì đừng nên giảng như thế! Tướng Qua kể lại cho ông bố tôi sự việc trên rồi kết luận: mấy ông Nam Bộ tập kết ra Bắc thẳng quá nên sẽ rước họa vào thân. Ông Bẩy nhà ta (vì lúc đó Bẩy Trân là sui gia với bố mẹ tôi) sẽ gặp nạn mất thôi. Chỉ ít lâu sau Bẩy Trân nhận được quyết định về hưu lúc mới ngoài 50 tuổi. Trường hợp thứ hai là nhà trí thức Dương Bạch Mai. Cũng một lần, tướng Qua về nhà nói với ông bố tôi: trong một hội nghị trung ương, ông Dương Bạch Mai tuyên bố Mao Trạch Đông là tên thổ phỉ, không thể nghe ông ta được. Ông Nam Bộ này liều quá, rồi lại mang họa vào thân! Hồi đó Mao Trạch Đông được xem như ông thần, ông thánh, lần đầu tiên tôi được nghe có người phê phán ông Mao là “thổ phỉ”. Sau này, tôi còn được nghe một người nữa, vào những năm đó, đã dám phê phán Mao Trạch Đông là thầy Nguyễn Văn Hạnh của tôi. Đó là năm thứ 2 của khóa Đại học Sư phạm văn (1963-1966) sơ tán tại Đại Từ, Bắc Thái, trong một giờ lên lớp về lý luận văn học, thầy Hạnh khi nói đến bài phát biểu của Mao trong “Cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An” đã phê phán “Mao Trạch Đông không có hệ thống, vì thế những bài phát biểu của ông không thể lấy làm căn cứ được”! Lập tức bài giảng của thầy Hạnh đã bị chi bộ lớp (gồm một số giáo viên cấp 2 được cử đi học để lên dậy cấp 3) báo cáo lên Đảng ủy của khoa! (khoa văn). Nói về tính “hoang sơ” của dân Nam Bộ, tôi có một kỷ niệm rất vui. Đó là kỳ đại hội Đảng bộ huyện Gò Công tây tỉnh Tiền Giang, tôi với tư cách là nhà báo được mời đến dự. Khi tôi đến thì đại hội đã khai mạc, cờ quạt uy nghiêm. Ông trưởng ban tổ chức đại hội giới thiệu tôi như sau: xin giới thiệu có nhà văn Nguyễn Khải đến dự với đại hội chúng ta. Tiếng vỗ tay rào rào… Tôi hoảng quá, nói với vị trưởng ban tổ chức: xin anh cải chính cho, tôi không phải là nhà văn Nguyễn Khải, ông ấy lớn lắm, mang tiếng cho tôi. Vị đó nhất định không cải chính. Tôi năn nỉ thì vị ấy lấy tay gạt vào không khí, nói: Khải nào không là Khải!!! Thế là suốt ngày hôm ấy, tôi mang danh nhà văn Nguyễn Khải để nâng ly, chúc tụng. Có vị đến cụng ly với tôi nói: tôi đã đọc tác phẩm “Cù Lam Tràm” của đồng chí rồi, hay lắm(!) mọi người lại cụng ly chúc mừng tôi! Thật là tưng bừng rôm rả!!! Nói về tính phóng khoáng của dân Nam Bộ, tôi lại có ví dụ. Đó là vào năm 1994, Đồng bằng sông Cửu Long đang có dịch tôm chết rất lớn, thiệt hại nặng. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi kiểm tra vùng nuôi tôm lớn ở Cà Mau. Khi ông Kiệt hỏi vị chủ tịch Cà Mau: vì sao tôm chết? Ông chủ tịch tỉnh trả lời “vô tư”: thưa thủ tướng tôm nó chết vì nó không thể… sống được! Mọi người đã cười rần! Tôi nghĩ chắc ông thủ tướng tức giận lắm. Nhưng không thấy ông nói gì… vậy mà đến hội nghị khoa học để bàn về vấn đề tôm chết năm ấy, ông Võ Văn Kiệt còn đem câu chuyện “tôm chết vì nó không thể sống được” ra kể để mọi người cười một mẻ nữa! Tôi có cảm giác ông Kiệt “thích” câu trả lời đó của chủ tịch Cà Mau. Sau hội nghị này, tôi có viết một câu chuyện truyền thanh (CCTT) nhan đề: “Vì sao tôm chết” để hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm. Mở đầu CCTT là đoạn thủ tướng đến kiểm tra vùng nuôi tôm… CCTT này đã được phát trên đài TNVN và sau đó nhiều đài phát thanh ở Nam Bộ đã phát lại. Khi ông Võ Văn Kiệt qua đời, báo Cà Mau có bài “khóc” ông đăng đến 9 số báo liền (từ số ra ngày 16.6.2008 đến số 11.7.2008). Trong 9 số báo ấy có đoạn tôi đọc được như sau, đại ý nói có lần thủ tướng đi công cán đến một địa phương ở Nam Bộ. Một người bạn chiến đấu cũ của ông đến thăm và đưa theo một người thanh niên. Người bạn cũ nói với vị thủ tướng đương kim: tôi đưa cậu này đến để nó nhìn mặt cha nó, vì lúc mẹ nó chết đi dặn nó là phải đi tìm cha, cha nó tên là Võ Văn Kiệt. Nó chỉ yêu cầu thế thôi, không đòi hỏi gì nữa. Ông Kiệt đã vui vẻ tiếp cậu thanh niên này. Và còn giữ cậu ở lại chơi, cho coi TV. Ba ngày sau ông nói với cậu ta: bác đã nghĩ kỹ lại rồi, khi bác hành quân qua làng mẹ cháu, bác không có bạn gái nào ở đó cả, vì thế cháu không phải là con của bác. Nhưng bác nhận cháu là con nuôi, cháu về đi khi nào muốn gặp bác thì cứ lại. Cậu thanh niên kia cảm ơn thủ tướng rồi ra về. Ít lâu sau cậu đến gặp để xin lỗi thủ tướng vì cậu ta đã tìm thấy cha của mình là Võ Văn Kiệt trong một nghĩa trang liệt sĩ. (Tên thật của thủ tướng Võ Văn Kiệt là Phan Văn Hòa). Trên đời này ít có vị thủ tướng được kim nào lại gặp câu chuyện éo le như thế, và cũng hiếm có vị thủ tướng nào lại ứng xử một cách bình tĩnh và bình thản như thế, nếu không phài là một “anh Hai Nam Bộ”? Tôi cho là vậy. Vậy mà khi thủ tướng qua đời (ở tuổi 85) năm 2008, tôi có chủ biên một cuốn sách xuất bản đúng dịp kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của ông, trong cuốn sách đó có 7 bài tôi viết về ông lúc còn sống cũng như sau khi ông mất. Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác của GS Tương Lai, Ts Nguyễn Xuân oánh, Ts Tô Vân Tường (nguyên phó thủ tướng chế độ Sài Gòn cũ) và Nguyên chủ tịch tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị… Tôi có đưa câu chuyện kể trên vào một bài viết của tôi như Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM khi duyệt đã cắt bỏ đoạn đó. Cả cái tên sách do tôi đặt: “hào Kiệt của Dân”, chữ “hào” và chữ “của” viết thường, chữ Kiệt và chữ Dân viết hoa, để… chơi chữ! (ông Võ Văn Kiệt là hào kiệt của dân. Kiệt và Dân cũng là tên ông – Sáu Dân). Nhưng khi Nhà xuất bản đem bìa sách lên thành ủy để duyệt, trưởng Ban tuyên huấn là ông Phan Xuân Biên lúc đó nhất định không đồng ý cái tên sách như thế. Tôi hiểu ông trưởng Ban tuyên huấn quê ở miền Trung này muốn giữ “chén cơm” của mình thật cẩn trọng. Vì lỡ ra có người ở trên hỏi: vậy chúng tao là hào kiệt của ai? Không lẽ chúng tao là hào kiệt của quan à? Cãi lý mãi, cuối cùng tôi vẫn thua vì người ta có quyền “xét duyệt”. Thấy tôi có ý định không in cuốn sách đó nữa vì không được chấp nhận tên sách do mình đặt ra, chị Thanh Hương lúc đó là giám đốc Nhà xuất bản tổng hợp Tp HCM “thương lượng” với tôi, hay là đổi tên sách là: “Hào kiệt Đồng bằng sông Cửu Long”! Tôi đem việc này kể với nhà thơ Thái Thăng Long, anh Long chửi thề: đù mẹ, thế thì chỉ bằng thằng Bảy Nhị thôi à?! (Bảy Nhị là Nguyễn Minh Nhĩ, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang, một người nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long). Cái sự kiểm duyệt ở chế độ độc trị nó kinh khủng như thế. Vì thế, có một nhà văn ở một nước XHCN bên Đông Âu trước đây đã có lần phải thốt lên: chúng tôi không có kẽ hở để suy nghĩ! (noud n’avons pas l’escape de pencer). (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 6, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/06/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-22/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 23): https://www.minds.com/newsfeed/1019885759111942144?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 21): https://www.minds.com/newsfeed/1019884908175740928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·