LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 22) Sống hòa mình với xã hội, tôi thu lượm được nhiều kiến thức thực tế, đặc biệt là lời ăn tiếng nói, ngôn ngữ của người dân Nam Bộ. Điều này rất cần cho một người cầm bút. Đặc biệt là viết “Câu chuyện truyền thanh” cho đài phát thanh, một thể tài hấp dẫn nhưng khó viết nhất. Vì, câu chuyện truyền thanh là một vở kịch của báo nói. Nó vừa phải truyền tải những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống, vừa có tính văn nghệ của một vở kịch nhỏ. Các nhân vật của câu chuyện truyền thanh phải nói tiếng nói của tác giả. Vì vậy tác giả phải có vốn sống. Cuốn sổ tay của tôi luôn được giở ra để ghi chép “lời lẽ các nhân vật”. Nhà báo Phan Quang trong cuốn “Đồng bằng sông Cửu Long”, xuất bản sau năm 1975 được tái bản nhiều lần đã có một nhận xét tinh tế: người Việt Nam từ đầu đến cuối đất nước, sống cách xa nhau hai nghìn cây số, nhưng Bắc Nam thoạt gặp đã dễ dàng nghe tiếng nói của nhau. Cùng một cội nguồn, cùng một ngôn ngữ dân tộc như vậy là lẽ đương nhiên. Không những ngữ pháp không thay đổi, từ vị thống nhất mà tôi còn ghi nhận một chi tiết hay hay: người Bắc và người Nam chi nhau hai phần của một từ kép, khi thì phần trước, khi thì phần sau. Chẳng hạn: dơ bẩn, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, chà xát, hay biết… người Nam dùng phần đầu. Ngược lại trong thóc lúa, lanh lẹ, nóng nực, dẫm đạp, đón rước, lừa gạt… người Nam lại lĩnh phần sau (Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Trẻ, tr. 412). Trong những năm tháng rong ruổi ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã ghi thêm được nhiều ví dụ về sự “chia nhau” một từ kéo như thế. Năm ông Phan Quang tròn 85 tuổi, tôi đã gửi ra Hà Nội “mừng thọ” ông 100 từ kép được “chia nhau” như thế. Mời bạn đọc… xem chơi! Tôi xếp các từ kép này theo thứ tự abc (chữ đầu) của từ: ô dù, ốm đau, buồn rầu, bơi lội, bóc lột, cố gắng, co kéo, chọc ghẹo, chán ngán, chặt đốn, cưng chiều, chén bát, chờ đợi, chửi rủa, chậm trễ, cần thiết, cạn kiệt, chia xớt, đưa rước, dạy bảo, dòmn ngó, dọn dẹp, dụ dỗ, đùa giỡn, đùi vế, đau ốm, đĩ điếm, khờ dại, điên khùng, dư thừa, giỡn chơi, đui mù, dòm ngó, dọa nạt, đe dọa, hư hỏng, hao tốn, hăm dọa, hối thúc, hù dọa, hung dữ, ham thích, hoảng sợ, hèn nhát, hư hao, ham muốn, lượm nhặt, nhờ cậy, kiểm điểm, khỏe mạnh, kêu xin, kỳ lạ, khờ dại, lựa chọn, lời lãi, lười biếng, mau lẹ, mồm miệng, may rủi, nôn nóng, mai mốt, ngăn ngừa, ngăn chặn, nón mũ, ngất xỉu, nhìn ngó, quậy phá, rơi rớt, rảnh rỗi, rượt đouổi, rầy la, tập dượt, thuê mướn, thay thế, tiêm chích, thưa kiện, tìm kiếm, trưng bày, tồi tệ, to lớn, trêu chọc, tuyển mộ, trông chờ, tránh né, thương yêu, trông coi, uổng phí, ưa thích, vâng dạ, vay mượn, rượt đuổi, sáng tỏ, sửa chữa, giúp đỡ, giành giật, gầy ốm, già cỗi, ghê sợ, say xỉn, phòng ngừa… hơn 100 từ ghép kể trên đều như nhận xét của Phan Quang. Ví dụ như đui mù thì người Nam nói đui, người Bắc nói mù. Câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu: “Thà đui mà giữ đạo nhà / còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”. Có một nhận xét của nhà văn Nam Bộ cũng tinh tế chẳng kém gì Phan Quang là ông Sơn Nam. Đó là như tôi đã viết hàng trăm bài phát thanh, bài báo, bài bút ký trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Nam chí Bắc và cho ra đời đến 5-6 đầu sách về Đồng bằng sông Cửu Long. Một lần gặp Sơn Nam ở Sài Gòn, ông biểu tôi: ban đầu tao cứ tưởng mày là một thằng Nam Bộ, nhưng đọc kỹ, tao biết mày là một thằng Bắc Kỳ thứ thiệt. Tôi ngạc nhiên quá, hỏi lại ông: vì sao thầy lại nhận xét thế? Ông già hóm hỉnh nói: mày viết hay dẫn chứng, hay đưa con số để chứng minh điều này điều kia… thằng Nam Bộ nó không thế. Thì ra là vậy. Do tôi cố gắng dùng ngôn ngữ của người dân Nam để viết, như ghi chép cả trăm từ kép để học cách nói của dân Nam Bộ nên ban đầu Sơn Nam tưởng tôi là Nam Bộ. Nhưng sự hay dẫn chứng, chứng minh của tôi khiến Sơn Nam phát hiện ra tôi là dân Bắc Kỳ! Và chính ông đã viết lời bạt cho cuốn “Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long” gần 400 trang của tôi do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2000. Báo Nhân Dân số ra ngày 9.5.2000 đã đăng bài viết đó của Sơn Nam. Nếu những năm dạy học ở nông thôn miền Bắc đã cho tôi hiểu phần nào về cuộc sống và xã hội Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ thì những năm “dấn thân” ở Đồng bằng sông Cửu Long đã cho tôi hiểu tính cách con người Nam Bộ. Là người Việt Nam, người dân Nam Bộ có tất cả những ưu điểm và khuyết tật của người Việt nói chung, nhưng điều kiện địa lý, thiên nhiên, vị trí của mảnh đất Nam Bộ (xa phương Bắc) đã tạo nên những tính cách rất đặc trưng của người dân. Từ công chức, cán bộ trong bộ máy công quyền (xưa và nay) cũng như người dân nói chung họ có tính cởi mở, thẳng thắn, dễ tin người, ham vui trọng nghĩa, hồn nhiên đến hoang sơ… và đối với họ, không có nguyên tắc nào cả! Tôi không phải nhà lý luận, nhà nghiên cứu, tôi chỉ là nhà quan sát nên dẫn ra đây vài ví dụ điển hình để góp phần cung cấp tư liệu cho các nhà xã hội học. Vào đất Tiền Giang, tôi công tác ở Đài Phát thanh của tỉnh còn vợ tôi công tác ở công ty ngoại thương Tiền Giang. Ba năm liền, vợ tôi năm nào cũng được tăng lương, trong khi đó các người khác 3-4 năm còn phải xét. Khi họp chi bộ, có người thắc mắc với giám đốc công ty ngoại thương là ông Nguyễn Văn Khang (tức Ba Khang): cô Thuận (tên vợ tôi) mỗi năm mỗi tăng lương, anh em người ta thắc mắc nhiều lắm? Giám đốc Ba Khang mắng: chúng mày ngu vừa phải thôi… chú Khải, chồng cô Thuận ở bên Đài phát thanh, chú ấy có công với tỉnh, viết bao nhiêu bài giới thiệu Tiền Giang ra cả nước, bên ấy chúng nó ngu, không tăng lương cho chú ấy… thì bên này mình tăng lương cho vợ chú ấy cũng thế… thắc mắc cái gì! Không ở đâu có cái logic tăng lương như thế. Chỉ có các anh Hai Nam Bộ mới có cái tư duy logic kiểu đó. Nhưng xét ra… cũng không sai! Để nói về tính cương trực thẳng thắn của dân Nam Bộ, tôi xin dẫn ra một ví dụ cũng khá điển hình. Những năm đầu thập kỷ 80 (thế kỷ 20) còn chế độ bao cấp, phân phối đều. Tỉnh Minh Hải, vùng mặn nuôi tôm cũng được trung ương phân phối một lượng phân bón nhập ngoại như các tỉnh khác. Trong khi đó, Tiền Giang xây dựng vùng lúa năng suất cao cần nhiều phân bón nên phải xuống Minh Hải mua phân dư thừa. Thời đó mua bán ngoài kế hoạch được cấp là một sai phạm nghiêm trọng. Khi đoàn của thủ tướng Phạm Văn Đồng vào kiểm tra, ông hỏi: vì sao lại mua bán phân bón, phải đình chỉ ngay. Chủ tịch Tiền Giang lúc đó là ông Sáu Bình trả lời: chúng tôi chẳng những không đình chỉ mà còn tiếp tục mua nữa vì dưới đó trung ương phân cho họ, họ không trồng lúa, thừa phân, trên này chúng tôi trồng lúa thiếu phân nên còn phải tiếp tục mua nữa(!) Có cho ăn kẹo thì một ông chủ tịch tỉnh ở miền Bắc cũng không dám cãi lại Thủ tướng như thế. Người Nam Bộ hay nói thẳng. Vì thế, trước đây tướng Qua về nhà tôi, đã hai lần “than phiền” với ông bố tôi về tính nói thẳng của dân Nam Bộ. Một lần ông nói về ông Bẩy Trân. Ông Bẩy Trân như tôi đã nói ở đầu sách, ra Hà Nội để “nằm chờ” bố trí công tác quan trọng. Nghe đâu thời học trường Đảng cao cấp ở Moscow cùng với ông Trần Văn Giàu và ông Mười Giáo, ông đã có lần lấy vợ người Nga. Vì thế sau năm 1954, trung ương dự định bố trí đi làm đại sứ ở Liên Xô và cử ông đi học trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Khi ông Trường Chinh vào giảng bài về lịch sử Đảng ông có nói, tổ chức thanh niên tiền phong ở Nam Bộ trước kia là tổ chức phản động thân Nhật. Học viên Nguyễn Văn Trân đứng dậy nói: thanh niên tiền phong ở Nam Bộ lúc đó do tôi cử Trần Văn Giàu đi gặp Phạm Ngọc Thạch để tổ chức ra nó. Tuy cái vỏ bên ngoài là của Nhật, nhưng cái ruột bên trong là của ta. Đồng chí không biết lịch sử Nam Bộ thì đừng nên giảng như thế! Tướng Qua kể lại cho ông bố tôi sự việc trên rồi kết luận: mấy ông Nam Bộ tập kết ra Bắc thẳng quá nên sẽ rước họa vào thân. Ông Bẩy nhà ta (vì lúc đó Bẩy Trân là sui gia với bố mẹ tôi) sẽ gặp nạn mất thôi. Chỉ ít lâu sau Bẩy Trân nhận được quyết định về hưu lúc mới ngoài 50 tuổi. Trường hợp thứ hai là nhà trí thức Dương Bạch Mai. Cũng một lần, tướng Qua về nhà nói với ông bố tôi: trong một hội nghị trung ương, ông Dương Bạch Mai tuyên bố Mao Trạch Đông là tên thổ phỉ, không thể nghe ông ta được. Ông Nam Bộ này liều quá, rồi lại mang họa vào thân! Hồi đó Mao Trạch Đông được xem như ông thần, ông thánh, lần đầu tiên tôi được nghe có người phê phán ông Mao là “thổ phỉ”. Sau này, tôi còn được nghe một người nữa, vào những năm đó, đã dám phê phán Mao Trạch Đông là thầy Nguyễn Văn Hạnh của tôi. Đó là năm thứ 2 của khóa Đại học Sư phạm văn (1963-1966) sơ tán tại Đại Từ, Bắc Thái, trong một giờ lên lớp về lý luận văn học, thầy Hạnh khi nói đến bài phát biểu của Mao trong “Cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An” đã phê phán “Mao Trạch Đông không có hệ thống, vì thế những bài phát biểu của ông không thể lấy làm căn cứ được”! Lập tức bài giảng của thầy Hạnh đã bị chi bộ lớp (gồm một số giáo viên cấp 2 được cử đi học để lên dậy cấp 3) báo cáo lên Đảng ủy của khoa! (khoa văn). Nói về tính “hoang sơ” của dân Nam Bộ, tôi có một kỷ niệm rất vui. Đó là kỳ đại hội Đảng bộ huyện Gò Công tây tỉnh Tiền Giang, tôi với tư cách là nhà báo được mời đến dự. Khi tôi đến thì đại hội đã khai mạc, cờ quạt uy nghiêm. Ông trưởng ban tổ chức đại hội giới thiệu tôi như sau: xin giới thiệu có nhà văn Nguyễn Khải đến dự với đại hội chúng ta. Tiếng vỗ tay rào rào… Tôi hoảng quá, nói với vị trưởng ban tổ chức: xin anh cải chính cho, tôi không phải là nhà văn Nguyễn Khải, ông ấy lớn lắm, mang tiếng cho tôi. Vị đó nhất định không cải chính. Tôi năn nỉ thì vị ấy lấy tay gạt vào không khí, nói: Khải nào không là Khải!!! Thế là suốt ngày hôm ấy, tôi mang danh nhà văn Nguyễn Khải để nâng ly, chúc tụng. Có vị đến cụng ly với tôi nói: tôi đã đọc tác phẩm “Cù Lam Tràm” của đồng chí rồi, hay lắm(!) mọi người lại cụng ly chúc mừng tôi! Thật là tưng bừng rôm rả!!! Nói về tính phóng khoáng của dân Nam Bộ, tôi lại có ví dụ. Đó là vào năm 1994, Đồng bằng sông Cửu Long đang có dịch tôm chết rất lớn, thiệt hại nặng. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đi kiểm tra vùng nuôi tôm lớn ở Cà Mau. Khi ông Kiệt hỏi vị chủ tịch Cà Mau: vì sao tôm chết? Ông chủ tịch tỉnh trả lời “vô tư”: thưa thủ tướng tôm nó chết vì nó không thể… sống được! Mọi người đã cười rần! Tôi nghĩ chắc ông thủ tướng tức giận lắm. Nhưng không thấy ông nói gì… vậy mà đến hội nghị khoa học để bàn về vấn đề tôm chết năm ấy, ông Võ Văn Kiệt còn đem câu chuyện “tôm chết vì nó không thể sống được” ra kể để mọi người cười một mẻ nữa! Tôi có cảm giác ông Kiệt “thích” câu trả lời đó của chủ tịch Cà Mau. Sau hội nghị này, tôi có viết một câu chuyện truyền thanh (CCTT) nhan đề: “Vì sao tôm chết” để hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm. Mở đầu CCTT là đoạn thủ tướng đến kiểm tra vùng nuôi tôm… CCTT này đã được phát trên đài TNVN và sau đó nhiều đài phát thanh ở Nam Bộ đã phát lại. Khi ông Võ Văn Kiệt qua đời, báo Cà Mau có bài “khóc” ông đăng đến 9 số báo liền (từ số ra ngày 16.6.2008 đến số 11.7.2008). Trong 9 số báo ấy có đoạn tôi đọc được như sau, đại ý nói có lần thủ tướng đi công cán đến một địa phương ở Nam Bộ. Một người bạn chiến đấu cũ của ông đến thăm và đưa theo một người thanh niên. Người bạn cũ nói với vị thủ tướng đương kim: tôi đưa cậu này đến để nó nhìn mặt cha nó, vì lúc mẹ nó chết đi dặn nó là phải đi tìm cha, cha nó tên là Võ Văn Kiệt. Nó chỉ yêu cầu thế thôi, không đòi hỏi gì nữa. Ông Kiệt đã vui vẻ tiếp cậu thanh niên này. Và còn giữ cậu ở lại chơi, cho coi TV. Ba ngày sau ông nói với cậu ta: bác đã nghĩ kỹ lại rồi, khi bác hành quân qua làng mẹ cháu, bác không có bạn gái nào ở đó cả, vì thế cháu không phải là con của bác. Nhưng bác nhận cháu là con nuôi, cháu về đi khi nào muốn gặp bác thì cứ lại. Cậu thanh niên kia cảm ơn thủ tướng rồi ra về. Ít lâu sau cậu đến gặp để xin lỗi thủ tướng vì cậu ta đã tìm thấy cha của mình là Võ Văn Kiệt trong một nghĩa trang liệt sĩ. (Tên thật của thủ tướng Võ Văn Kiệt là Phan Văn Hòa). Trên đời này ít có vị thủ tướng được kim nào lại gặp câu chuyện éo le như thế, và cũng hiếm có vị thủ tướng nào lại ứng xử một cách bình tĩnh và bình thản như thế, nếu không phài là một “anh Hai Nam Bộ”? Tôi cho là vậy. Vậy mà khi thủ tướng qua đời (ở tuổi 85) năm 2008, tôi có chủ biên một cuốn sách xuất bản đúng dịp kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của ông, trong cuốn sách đó có 7 bài tôi viết về ông lúc còn sống cũng như sau khi ông mất. Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác của GS Tương Lai, Ts Nguyễn Xuân oánh, Ts Tô Vân Tường (nguyên phó thủ tướng chế độ Sài Gòn cũ) và Nguyên chủ tịch tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị… Tôi có đưa câu chuyện kể trên vào một bài viết của tôi như Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM khi duyệt đã cắt bỏ đoạn đó. Cả cái tên sách do tôi đặt: “hào Kiệt của Dân”, chữ “hào” và chữ “của” viết thường, chữ Kiệt và chữ Dân viết hoa, để… chơi chữ! (ông Võ Văn Kiệt là hào kiệt của dân. Kiệt và Dân cũng là tên ông – Sáu Dân). Nhưng khi Nhà xuất bản đem bìa sách lên thành ủy để duyệt, trưởng Ban tuyên huấn là ông Phan Xuân Biên lúc đó nhất định không đồng ý cái tên sách như thế. Tôi hiểu ông trưởng Ban tuyên huấn quê ở miền Trung này muốn giữ “chén cơm” của mình thật cẩn trọng. Vì lỡ ra có người ở trên hỏi: vậy chúng tao là hào kiệt của ai? Không lẽ chúng tao là hào kiệt của quan à? Cãi lý mãi, cuối cùng tôi vẫn thua vì người ta có quyền “xét duyệt”. Thấy tôi có ý định không in cuốn sách đó nữa vì không được chấp nhận tên sách do mình đặt ra, chị Thanh Hương lúc đó là giám đốc Nhà xuất bản tổng hợp Tp HCM “thương lượng” với tôi, hay là đổi tên sách là: “Hào kiệt Đồng bằng sông Cửu Long”! Tôi đem việc này kể với nhà thơ Thái Thăng Long, anh Long chửi thề: đù mẹ, thế thì chỉ bằng thằng Bảy Nhị thôi à?! (Bảy Nhị là Nguyễn Minh Nhĩ, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang, một người nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long). Cái sự kiểm duyệt ở chế độ độc trị nó kinh khủng như thế. Vì thế, có một nhà văn ở một nước XHCN bên Đông Âu trước đây đã có lần phải thốt lên: chúng tôi không có kẽ hở để suy nghĩ! (noud n’avons pas l’escape de pencer). (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 6, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/06/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-22/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 23): https://www.minds.com/newsfeed/1019885759111942144?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 21): https://www.minds.com/newsfeed/1019884908175740928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 21) Ba năm ở Đài Phát thanh Tiền Giang Khi vô tới TP HCM, tôi vào cơ quan thường trú của Đài THVN, Giám đốc Nguyễn Thành, nguyên là giám đốc của Đài Giải Phóng trước 1975, phó chủ nhiệm UB Phát thanh và Truyền hình VN xem quyết định về Đài phát thanh Tiền Gian của tôi rồi nói: Vũng Tàu mới thành lập Đài phát thanh, rất cần cán bộ, họ vừa có công văn xin Đài THVN một phó giám đốc phụ trách nội dung, nếu cậu đồng ý, tôi sẽ hủy quyết định về Tiền Giang của cậu và viết quyết định cho cậu ra làm phó Đài Vũng Tàu. Tôi cảm ơn sự tín nhiệm của ông Thành rồi nói mục đích của tôi là vào Đồng bằng sông Cửu Long để viết, tôi không thể về Vũng Tàu được. Giám đốc Thành lại nói: Vũng Tàu là địa bàn quan trọng, ở đó đang khai thác dầu khí, đây là nhiệm vụ, tôi viết quyết định cậu phải đi. Giám đốc Thành là một người quyết đoán và trên cương vị là phó chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh và Truyền hình VN, ông có toàn quyền để làm việc đó. Nhưng tôi có một “bảo bối” để chống lại mọi quyết định của lãnh đạo trong một thể chế Đảng trị. Tôi ý thức rất rõ điều này. Nhưng dù sao tôi cũng phải cảm ơn thầm trong bụng vì sự tín nhiệm của ông Thành với tôi. Cuối cùng thì tôi vò đầu vò tai, nói ra vẻ muốn đi lắm mà không thể được! Tôi còn đề phóng, nếu giám đốc Thành nói “tôi sẽ kết nạp cậu vào Đảng” như đã có lần mà Đài Truyền hình trung ương giao nhiệm vụ mà tôi không nhận với lý do “không phải Đảng viên”, người ta đã nói với tôi như thế. Nhưng giám đốc Thành là một người nguyên tắc cao, nghe thấy tôi nói như thế ông không nói gì nữa. Nhưng cũng chính giám đốc Thành, đúng ba năm sau, ông đã xin chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cho tôi về lại Đài TNVN, biên chế tại cơ quan thường trú của Đài tại TP HCM, dưới quyền của ông. Nhưng ông đặt tôi thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long, ở tại Tiền Giang. Đấy là lần đầu tiên một cơ quan báo chí của trung ương có đặt phóng viên thường trú ở Đồng bằng sông Cửu Long. Sau này, báo Nhân Dân có đặt phóng viên thường trú ở một số tỉnh như Minh Hải, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ… Nhưng các vị thường trú này, có người làm việc hiệu quả, được địa phương quý mến như nhà báo Kiến Phước thường trú ở Cần Thơ; Cũng có người nổi tiếng mượn danh báo Nhân Dân để đi tống tiền, đi vơ vét khắp nơi như ông Phan Huy (người thay ông Kiến Phướng ở Cần Thơ). Ông Phan Huy được mệnh danh là “Huy cá rồ” vì ông ăn tạp và ăn bẩn. Chuyện về ông đi ăn xin như thế nào, ăn xin kiểu nhà báo dưới chế độ độc Đảng, lại là đại diện cho tờ báo của trung ương Đảng tại địa phương nên nó ly kỳ lắm. Tôi có thể viết thành một cuốn sách dầy, xin để phần tiếp sau sẽ nói. Đang là phóng viên của Đài phát thanh quốc gia, rồi Đài truyền hình trung ương, địa bàn hoạt động cả nước, công việc khá phức tạp, tôi về làm phóng viên của một đài phát thanh tỉnh lẻ vừa mới thành lập, một ngày chỉ phát sóng vài tiếng kể cả tiếp âm đài trung ương rồi ca nhạc, cải lương là chính… nên rất nhàn nhã. Việc đầu tiên là tôi đi sưu tầm sách vở, tài liệu về Đồng bằng sông Cửu Long để đọc. Người ta giới thiệu với tôi một người có nhiều sách nhất là thầy giáo Nguyễn Văn Quý, vốn là giáo viên dậy Pháp văn trước 30.4.1975. Tôi tìm đến nhà thầy Quý ở một con hẻm nhỏ đường Trần Hưng Đạo TP Mỹ Tho. Quả thật nhà thầy Quý là một cái thư viện nhỏ. Nhưng thầy giáo Quý không chỉ là một người đọc sách, sưu tầm sách mà thầy còn là một người chơi sách – theo đúng nghĩa của chữ “chơi”. Thầy có thể đem cho khách ở xa tới xem một lúc 6 cuốn “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân qua 7 lần tái bản từ khi tác phẩm này ra đời trước năm 1945! Thầy còn “dọa” nếu mai mốt tái bản “Vang bóng một thời” thì còn mua nữa. Thầy giải thích, vì mỗi lần tái bản, cuốn sách lại được viết lời tựa, thay co chữ, trình bày bìa… và cả chất liệu giấy cũng khác nhau! Một lần nhà văn Tô Hoài, sau 1975 về thăm Hội Văn Nghệ tỉnh Tiền Giang, được bạn văn ở Mỹ Tho dẫn đến nhà thầy Quý chơi. Thầy đã đem cho nhà văn xem tất cả các sách của Tô Hoài đã xuất bản từ trước đến đó. Trong đó có cuốn xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám mà Tô Hoài cũng không giữ được, như các cuốn: Xóm giềng ngày xưa, Nhà nghèo, O chuột… Tô Hoài đã rung rung nước mắt vì cảm động. Như thế không phải “chơi sách” thì là gì?! Vì “chơi” cho nên mới nghèo! Trò đời xưa nay vẫn thế, phàm đã “chơi” cái gì đến độ đam mê thì rồi rốt cuộc cũng nghèo! Thầy Quý không ra ngoài quy luật đó. Nghèo đến mức thầy không có tiền để sắm thêm giá sách. Có lần đến thăm thầy, tôi phải chứng kiến cảnh mối xông, “xơi” của thầy cả một đống sách “cất” dưới gầm giường! Thầy Quý đã phải lấy xẻng hốt mối ra sân… và bầy gà hàng xóm được một bữa tiệc mối… mệt nghỉ(!) Có người đã bàn với thầy, hay là, bán bớt một bộ tự điển Encyclopedie cho thư viện để lấy tiền mua giá sách, vì thầy có đến hai bộ Excyclopedie… Nhưng thầy lại… tiếc! Lần đến chơi thầy Quý, chứng kiến cảnh mối “xơi” sách của thầy, buồn quá tôi đã viết một bài về “thàm cảnh” mối ăn sách của một “nhà chơi sách” cho một tờ báo của TP HCM. Nam Bộ vốn là đất của những Mạnh Thường Quân… Chỉ ít lâu sau, một ông chủ xưởng gỗ ở Mỹ Tho đọc báo, đã tặng thầy Quý giá sách. Từ đó, căn “phòng khách” của thầy trở thành một cái thư viện nhỏ. Bốn mặt tường đều là giá sách. Từ điển để riêng một giá, văn học một giá, chính trị một giá. Riêng sách tiếng Pháp một giá, vẫn không đủ, sách còn được đưa vào phòng ngủ… ở phía sau, nhưng được kê kích đàng hoàng, không phải trải vải nhựa để dưới gầm giường làm mồi cho mối như khi xưa… Tôi mê mẩn những sách nghiên cứu về Nam Bộ của thầy như cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười” của học giả Nguyễn Hiến Lê, của nhà văn nổi tiếng Sơn Nam như các cuốn: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long hay là Văn Minh Miệt Vườn, Cá Tính Miền Nam, Hương Rừng Cà Mau… Nhưng thầy Quý không cho mượn sách đem về nhà đọc. Thầy chỉ cho xem hoặc đọc tại chỗ. Tôi bèn nghĩ ra một cách, đem tất cả những cuốn sách quý được tôi chọn lọc để đem theo vào Nam tặng thầy Quý. Tôi biết chắc chắn rằng những sách này thầy Quý không thể có, vì nó được xuất bản ở miền Bắc trước 1975. Trong đó có bộ sách “Lịch sử văn học Trung Quốc” ba tập dầy cộp do Quách Mạc Nhược, học giả hàng đầu của Trung Quốc biên soạn. Và, tập thơ mỏng dính “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ tý hon Trần Đăng Khoa do ty giáo dục Hải Hưng xuất bản năm 1968. Với một người chơi sách như thầy Quý thì còn gì hơn những thứ hàng quý hiếm đó. Thầy Quý nhận các cuốn sách từ tôi và từ đó thầy sẵn sàng cho tôi mượn sách đem về nhà đọc (chắc là thầy sẽ không nghi ngờ gì là tôi sẽ “chôm” các sách quý của thầy, vì thầy thấy tôi đem sách quý đi biếu thì chắc chắn không phải là tay chơi sách như mình rồi). Tôi đã được “vỡ lòng” về đất Nam Bộ từ kho sách quý của thầy. Tôi có thể viết những bài về Nam Bộ trên cơ sở quan sát thực tế và những kiến thức có chiều sâu từ sách vở để lại của người đi trước. Khi viết về vủng đất đang được khai hoang nhiễm phèn nặng của tỉnh Tiền Giang trong vùng Đồng Tháp Mười, tôi đã đọc kỹ cuốn “Những vấn đề về đất phèn Nam Bộ” của Lê Huy Ba (NXB TP HCM năm 1982). Việt Nam là “cường quốc đất phèn”, đứng thứ ba trên thế giới sau Hà Lan và Indonesia theo kết luận của hội nghị đất phèn thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, đều gọi nó bằng cái tên chung là “Acit sulphate soil” là thứ đất và thứ nước không con gì sống được trong đất và trong nước của nó. Những kiến thức mà tôi có được từ sách vở đã giúp cho các bài viết của tôi có chiều sâu, có căn cứ khoa học để đưa ra được những nhận định có căn cứ và dĩ nhiên, báo chí trung ương, đặc biệt là báo Nhân Dân lúc đó đang cần những bài về Nam Bộ như thế. Hàng loạt những bài tôi gửi ra với các chủ đề như Tiền Giang xây dựng vùng lúa năng suất cao; Cây khóm (dứa) trên đất phèn Đồng Tháp Mười; Giao thông nông thôn trên các xã cù lao; Nghề nuôi rắn ở Đồng Tâm… Đặc biệt là phóng sự “Đám cưới to nhất tỉnh” đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng, sau đó báo Nhân Dân biên tập lại với các “tít” khá “ăn khách”. “Đám cưới “to” nhất nước” (Báo Nhân Dân số ra ngày 27/3/1983) đã gây được dư luận trong tỉnh. Phóng sự phản ánh việc Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang mà đứng đầu là ông chủ tịch Nguyễn Công Bình làm chủ hôn cho một đám cưới tập thể 21 cặp trai gái. Các cô gái xuất thân là “gái lỡ lầm”, như cách gọi rất nhân văn của chủ tịch sáu Bình, được đưa vào nông trường khai hoang của tỉnh trong vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang để lao động cải tạo. Qua lao động, các chị đã bén duyên với 21 chàng trai của nông trường trồng khóm. Và, chủ tịch Sáu Bình đại diện nhà trai, bà trưởng ty thương binh xã hội tỉnh đại diện nhà gái đã đứng ra tổ chức lễ cưới tập thể cho 21 cặp trai gái này. Mừng nông trường khai hoang của tỉnh trồng khóm trên đất phèn nặng thành công, lại mừng cho 21 cặp trai gái của nông trường đón hạnh phúc trên miền đất mới được khẩn hoang, các công ty, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh gửi quà mừng đến rất nhiều. Có bác nông dân trong tỉnh nghe tin vui cũng gửi thư và tiền mừng đến đám cưới tập thể. Bài phát biểu của ông chủ hôn mà chũ tịch Sáu Bình bảo tôi soạn thảo cho ông đã được vỗ tay nhiệt liệt. Trong đó có câu: “Chỉ có cách mạng mới có được niềm vui như thế này”. Sau đám cưới mọi người ra về hết, tôi còn ở lại nông trường khai hoang Tân Lập cả tuần lễ để hoàn thành bài phóng sự nhiều kỳ này. Vì thế, càng có dịp để hiểu thế nào là đất phèn nước phèn. Ban đêm ở vùng Tân Lập, dù trời mưa to gió lớn không có tiếng ếch nhái kêu vì nó không sống nổi ở vùng đất này. Nước thì trong vắt mà không có một loài thủy sản nào sống được. Áo trắng lốp mà đem giặt trong dòng nước trong vắt này lại vàng khè và mau rách. Nếu ai ăn trầu, nhổ một miếng nước bã trầu xuống dòng kinh thì nước bã trầu đó sẽ biến thành màu trắng… như phản ứng hóa học trong phòng thí nghiệm(!) Cánh đồng năn, cỏ lát chạy tít tắp đến tận chân trời. Vì thế thời xưa, người Pháp mới gọi Đồng Tháp Mười là “đồng cỏ lát” (plaine de jonds). Bàn chân con người vẫn chạm đất, mắt vẫn nhìn thấy màu xanh của cỏ, nhưng lặng thinh không có tiếng chim kêu, không tiếng một con cá quẫy. Nó không phải là sự vắng vẻ âm u của núi rừng, cũng không phải sự vẻ cô đơn của biển cả. Đây là biển trên đất liền. Là cái vắng lặng mênh mông kiểu Đồng Tháp Mười. Ca lên một câu vọng cổ trên đất này thì nó vang xa lắm. Như cứa vào chỗ da non nhất của con người… đi khai hoang lập nghiệp. Tôi đã hiểu vì sao những câu ca cổ lại buồn đến thế. Nhưng đó là nỗi buồn có cung bậc, có gam màu không bi lụy là ẩn chứa một niềm tin khắc khoải đến mai sau. Tôi càng mến yêu những cặp vợ chồng mới, dám trụ lại đất này để tính chuyện tương lai. Một sự việc có liên quan đến tôi trong những năm làm việc ở Đài Phát thanh tỉnh là việc Đài mở lớp tập huấn nghiệp vụ cho phóng viên và biên tập viên của mình. Là một đài phát thanh của tỉnh thành lập sau 30.04.1975, lại được thành lập muộn so với các tỉnh láng giềng nên lực lượng phóng viên, biên tập viên còn rất mỏng. Vì thế, Đài Tiền Giang mở lớp huấn luyện và mời một trưởng phòng biên tập của Đài Phát thanh Hải Phòng, một đài địa phương lâu năm của miền Bắc vào làm giảng viên cho lớp. Với tư cách là phóng viên của Đài Tiền Giang, tôi cũng là học viên của lớp. Khi anh trưởng phòng biên tập của Đài Hải Phòng trong buổi khai mạc thấy tôi ngồi lù lù trong lớp thì anh ta bất ngờ quá. Anh ta thốt lên với lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo Đài Tiền Giang: có anh Lê Phú Khải ở đây rồi thì còn mời tôi vô làm gì nữa! Chẳng là, khi còn ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi đã từng về Hải Phòng nhiều lần, cùng anh bạn này đi ra vùng mỏ Quảng Ninh công tác. Bài vở của tôi đăng tải khắp các báo miền Bắc như Nhân Dân, Quân Đội nhân dân, Văn Nghệ… anh đều đọc cả. Tôi còn cùng Ban địa phương của Đài tiếng nói Việt Nam xuống Hải Phòng mở những lớp tập huấn như Đài Tiền Giang đang làm… Vì thế, sau lớp học đó, khi các đài truyền thanh các hyuện mới thành lập, Đài phát thanh tỉnh đều cử tôi đi xuống các huyện để hướng dẫn các lớp học dài ngày đào tạo biên tập viên, phóng viên, cộng tác viên cho đài huyện. Với chiếc xe đạp cọc cạch và giỏ quần áo, tài liệu đeo bên mình, tôi đi xuống các huyện công tác cả tháng mới về. Từ phóng viên của Đài phát thanh quốc gia, rồi Đài truyền hình trung ương… đi công tác bằng máy bay, bằng xe con, đến các địa phương thì ở nhà khách của ủy ban, nhà khách tỉnh ủy, huyện ủy, làm việc với các lãnh đạo địa phương là quan đầu tỉnh, đầu huyện… nay về địa phương, đi xuống huyện công tác hàng chục cây số, tối ngủ lại các Đài hyuện có khi là một góc đình làng dột nát, vì đài huyện mới thành lập chưa có trụ sở. Đêm nằm chuột chạy lao cả vào mùng! Trưa ra sông tắm giữa trời. Học viên thì có em còn đi chân đất vì là thanh niên của xã lên dự tập huấn ở đài huyện, để về làm truyền thanh ở xã… Nếu xét về sự sang trọng, sung sướng thì thật là tôi “đang ở bể lại vào ngòi”! Nhưng tôi lại thấy thích thú. Sáng ra chợ huyện ăn tô bánh canh, tôi nghe được đủ chuyện trên đời. Nhà văn Nga Sên khốp từng khuyên các nhà văn đi tàu nên mua vé hạng bét đó sao! Có lần lên lớp, tôi thấy có em để dưới chân mình một cái bị, ở trong luôn có con gì ngọ nguậy. Đến cuối giờ, các em rủ thầy ra quán lẩu rắn nhậu. Thì ra em học sinh đó về nhà bắt được một bị rắn để hôm sau đến lớp thết thầy. Em đem bị rắn đó ra quán, chia đôi, cho chủ quán một nửa, còn nửa kia thì chủ quán có nhiệm vụ nấu nồi lẩu rắn cho thầy trò tôi nhậu. Em khỏi phải trả tiền bữa nhậu đó. Cuối khóa học, em cũng tặng tôi một bị rắn tươi sống như thế để làm quà đem về Mỹ Tho(!) Trước khi vô Nam, tôi có đem theo nhiều tài liệu về nghiệp vụ báo chí, trong đó có cả tài liệu của Tân Hoa xã do người chú tôi là Lê Phú Hào, là nhá báo miền Bắc đầu tiên đi thường trú ở Bắc Kinh sau hòa bình 1954 đem về Hà Nội. Tôi còn đem theo các tài liệu của Việt Tấn xã, cơ quan thông tấn của chế độ Sài Gòn cũ khi tôi vô Nam lần đầu, đến Việt Tấn xã thu lượm được. trong đó có cuốn “săn tin” bằng song ngữ Anh-Việt. Sau này tôi mới biết đó là cuốn sách nghiệp vụ nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975, do chính điệp viên Phạm Xuân Ẩn đóng vai nhà báo biên soạn. Ngoài ra tôi còn có cả những giáo trình của các giáo sư đại học báo chí Colombia, như cuốn “ký giả chuyên nghiệp” của John Hohenberg, bản dịch của Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu in ở Sài Gòn 1974. Đem những cuốn sách đó đi theo, tôi tự nhủ với mình như người thợ đem theo đồ nghề để kiếm sống ở phương xa. Và quả thật, những tài liệu huấn luyện báo chí đó cộng với kinh nghiệm 5 năm làm phóng viên phát thanh và truyền hình ở miền Bắc đã cho tôi nhiều lợi thế khi phải làm giảng viên ở các lớp đào tạo phóng viên như tôi đã làm ở các hyuện trong tỉnh Tiền Giang, cũng như ở các lớp nghiệp vụ, các khoa báo chí ở các trường đại học tại TP HCM sau này. Có lần, giảng về công việc truyền thanh trực tiếp (đọc và truyền thanh trực tiếp) ở đài phát thanh huyện thì phải hết sức cẩn trọng, sai một ly đi một dặm. Tôi đã dẫn ví dụ ở một huyện ở miền Bắc, đài truyền thanh ở huyện đó đã bị bà con nghe đài gọi là Đài truyền thanh “buông tay em ra”! Chuyện kể rằng, hôm đó đã vào phòng bá âm rồi (phòng đọc và phát). Khi cô phát thanh viên xướng lên. đây là đài truyền thanh… thì vừa lúc đó anh biên tập viên lợi dụng phòng bá âm luôn phải đóng kín cửa nên đã cầm tay cô ta… Do quên mất mình đang phát thanh, cô phát thanh viên kêu lên “buông tay em ra”! Thế là cả huyện đã nghe được câu: “đây là đài truyền thanh… buông tay em ra!” Những bài giảng của tôi như thế luôn được các em hưởng ứng, không em nào bỏ học giữa chừng. Cuối khóa học đều có phát chứng chỉ tốt nghiệp lớp nghiệp vụ phát thanh, truyền thanh cho Đài tỉnh cấp nên các em rất phấn khởi. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 3, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/03/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-21/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 22): https://www.minds.com/newsfeed/1019885317801615360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 20): https://www.minds.com/newsfeed/1019883660420632576?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 20) Lại kể tiếp về những năm tháng cuối cùng của tôi ở Đài Truyền hình. Tôi tiếp tục làm những phim ở ngoài trời để tránh phải vào đấu đá ở trường quay. Nhưng với chính sách hoang tưởng của những người kiêu căng sau chiến thắng 1975 như cải tạo tư sản Sài Gòn, tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH, sáp nhập tỉnh, xây dựng các huyện trong cả nước thành 500 pháo đài XHCN, kể cả tham vọng làm bom nguyên tử, dời thủ đô lên Tây Nguyên làm bá chủ vùng Đông Nam Á của TBT Lê Duẩn vv… vv… đất nước đã đi vào ngõ cụt. Chưa bao giờ cán bộ và nhân dân Hà Nội khốn khổ như thế. Và tất nhiên là các địa phương còn khốn khổ hơn. Viết cuốn sách 1000 trang cũng không thể nói hết về sự đói khát của nhân dân thời đó, tức từ năm 1975 đến cuối năm 1980, đến 1981 khi tôi rời Hà Nội vô Nam. Nghe nói sau đó còn tệ hơn. Một buổi sáng, tôi đèo cái can nhựa sau xe máy đi mua dầu hỏa theo tem phiếu để nấu ăn bằng bếp dầu (thứ bếp thịnh hành thời đó). Khi tôi dừng xe ở chợ Mơ để mua gói thuốc lá chợ đen giá cao, tôi thấy một chị công nhân nhà máy dệt 8-3 mặt xanh xao, người gầy ốm đang ngồi xụt xịt khóc. Lúc đó chị đi làm ca đêm về, tôi hỏi: “Sao chị không về nhà đi?” Chị không trả lời ngay mà vẫn khóc, gặng hỏi mãi chị mới kể cho biết người chồng đã ốm suốt cả tuần nay, anh chỉ thèm có một bát cháo thịt. Cho thuốc gì anh cũng không uống, chỉ nói: cho bát cháo thịt là khỏi ngay! Chị không đủ tiền mua 1kg thịt của “con phe” (thời đó những người bán thịt rong bị gọi là con phe). Chị năn nỉ một “con phe” bán cho 100 gram vì không đủ tiền mua cả 1 kg, và chị sẽ trả cao hơn giá bán (chẳng hạn 10 đồng/kg, chị trả 11 đồng). Nhưng con phe đã không bán mà còn chửi té tát vào mặt chị: không có tiền thì ăn máu L… đừng hỏi mua thịt! Chị tủi thân quá, thương chồng nên khóc… Thời đó những công nhân đi làm ca đêm và những người không có thời gian đi xếp hàng phải bán tem phiếu cho “con phe”. Con phe móc ngoặc với mậu dịch viên để mua được thịt ngon bằng tem phiếu, sau ra ngoài bán lại cho người dân giá cao kiếm chênh lệch. Và đó là nguồn sống của chính họ. Nghe chuyện chị kể, tôi an ủi chị đừng khóc nữa và cứ ngồi yên đó, tôi sẽ đem về cho 100 gram thịt. Nói xong tôi phóng xe lên cửa hàng thực phẩm tận chợ Cửa Nam, nơi bà chị gái thứ hai làm cán bộ mậu dịch ở đó để có được 100 gram thịt nạc. Tôi vẫn còn nhớ rõ sự sung sướng của chị ngày ấy và đó là việc có ích nhất là tôi làm được trong cả đời cầm bút của mình. Có phải thế không, hỡi bạn đọc vĩ đại của tôi! Tình hình kinh tế đất nước ngày một bi đát vào những năm 1978-1979-1980… trong khi đó hai đứa con trai của tôi đang độ tuổi lớn. Một đứa 7 tuổi, một đứa 9 tuổi. Vợ tôi lương giáo viên cấp 2 ít ỏi. Tôi lương phóng viên bậc thấp, không chức không quyền chẳng có bổng lộc gì nên gia đình càng ngày càng túng thiếu. Vợ tôi ngày nghỉ phải nhảy tàu về Cẩm Giàng, nơi cô ta dạy học trước đây để đem mì sợi, thứ bột mì được kéo thành sợi bán vào tiêu chuẩn lương thực hàng tháng của cán bộ công nhân viên nhà nước để đổi lấy gạo ở các chợ quê. Đổi như thế lợi hơn nhiều, vì ở nhà quê bà con mò được con cua con ốc, nấu thành canh ăn với mì sợi thay bún rất lạ miệng, rất ngon. Hàng ngày vợ tôi ngoài công việc ở cơ quan là cắm đầu vào đan len thuê để kiếm thêm chút tiền mua gạo cho hai thằng con đang tuổi ăn, tuổi lớn. Tướng Qua từ ngày được đeo lon tướng, tuy chức vụ vẫn là cục trưởng nhưng hàm thì ngang thứ trưởng nên có xe riêng, được lãnh sổ mua hàng ở cửa hàng cao cấp Tôn Đản. Bà thím tôi vì thương vợ chồng tôi lương ít nên mỗi lần đi mua sắm ở Tôn Đản đều hẹn vợ tôi lên nhà và cho đi theo. Cái gì bà mua thì mua, còn lại cho vợ tôi mua. Vợ tôi mua những thứ linh tinh ở cái “chợ của vua quan” đó, đem ra “chợ của nhân dân anh hùng” là vỉa hè bán kiếm chút chênh lệch, thêm thắt vào cuộc sống khó khăn của gia đình. Nhìn vợ tôi ngồi ở vỉa hè, bán những thứ mà “bọn tư bản giãy chết” vứt đi không hết ấy mà phải “ân huệ” lắm mới được bước chân vào “chợ vua quan” Tôn Đản mua ra… tôi ngán đến tận cổ cái Chủ nghĩa xã hội ưu việt mà tôi đang phải sống. Tôi bắt đầu nẩy sinh ra tư tưởng rời bỏ Hà Nội, nơi tôi sinh ra và lớn lên để vào Nam. Cụ thể hơn là vào Đồng bằng sông Cửu Long mà những lần tôi đi công tác đã được thấy tận mắt cảnh trên bến dưới thuyền, “gạo trắng nước trong” và tính tình cở mở, vô tư của đồng bào Nam Bộ. Một lần, đi máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội, tôi phải dành xuất ăn nhẹ được phát trên máy bay (có một khúc bánh mì kẹp thịt, một cái bánh ngọt, một gói đường nhỏ để uống trà …) mang về làm quà của bố sau một chuyến đi công tác dài ngày cho hai thằng con trai đang đói khát ở nhà. Nhìn hai thằng chia nhau mẩu bánh mì và cái bánh ngọt, còn gói đường nhỏ cũng chia nhau… tôi không còn do dự gì nữa cho sự ra đi của mình. Hồi đó, Hà Nội cũng nở rộ chuyện tiếu lâm. Ở các quán nước, được gọi là quán “trà xụp” ở vỉa hè, đâu đâu cũng được nghe tiếu lâm. Chuyện tiếu lâm chủ yếu mang chủ đề chính trị-xã hội. Những chuyện thời đó mà ai cũng biết như: nhà 5 tầng không hố xí, bạn học của anh Ba (Lê Duẩn) … Có điều đáng chú ý là chuyện về TBT Lê Duẩn chiếm vị trí số 1. Có lẽ vì dân Hà Nội quá đói khổ lúc đó, lại luôn phải nghe những lý thuyết hoang đường như “làm chủ tập thể” và những lời hứa hão huyền “mỗi nhà đều có TV, tủ lạnh” của TBT từ sau cơn bốc đồng chiến thắng 30.4.1975 nên các “sĩ phu Bắc Hà” tập trung sáng tác giai thoại về ông ta. Tạm kể mấy giai thoại “ai cũng biết” thời đó, để đời sau… biết những câu chuyện không “chính sử” này. Chuyện kể rằng: có một ngôi nhà tập thể ở Hà Nội được xây tới 5 tầng lầu. Khi xây xong công ty xây dựng mời khách đến khánh thành và tham quan. Quan khách thắc mắc: vì sao tầng 1 lại không có hố xí? Giải thích: vì tầng 1 bố trí làm nhà trẻ cho các cháu mẫu giáo, các cháu ỉa bô không cần hố xí. Đến tầng 2 khách lại thắc mắc vì sao không có hố xí? Giải thích: tầng 2 giành cho sinh viên ở, sinh viên nó ăn gì mà ỉa! Tầng 3 được giải thích là để bố trí cho các nhà văn, nhà báo ở. Họ quen ỉa vào mồm nhau rồi nên không cần hố xí. Tầng 4 được giải thích là bố trí cho các hộ độc thân, và họ ỉa ở cơ quan rồi. Tầng 5 là để bố trí cho các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước ở, họ quen ỉa lên đầu nhân dân rồi nên cũng không cần đến hố xí. Chuyện thứ hai: có một hôm, một anh chàng đến số 6 phố Hoàng Diệu (nhà riêng Lê Duẩn), xin gặp đồng chí TBT. Bảo vệ hỏi: anh quan hệ với TBT như thế nào? Anh chàng kia trả lời: Bạn học cũ! Anh ta liền bị còng tay ngay vì đồng chí Lê Duẩn có đi học bao giờ đâu mà có bạn học! Chuyện thứ ba: có một nhóm phản động, hàng đêm đem cả bị vứt vào số 6 Hoàng Diệu. Công an mang về điều tra thì thấy toàn là sâm nhung quế phụ. Đem xét nghiệm thỉ thấy đây là thuốc bổ thứ thiệt không phải hàng giả. Công an bố trí bắt được nhóm người vứt đồ vào nhà TBT, tra hỏi mãi chúng mới nói thật là, tổ chức phản động nước ngoài cốt làm thế để TBT Lê Duẩn sống mãi, để phá hoại đất nước Việt Nam! Tôi từng đọc sách Marx thấy ông ta nói: giai đoạn cuối cùng của mỗi một hình thái xã hội bao giờ cũng là những tấn hài kịch của nó. Người ta cười để vui vẻ giã từ quá khứ. Tôi càng nghe nhiều giai thoại ở Hà Nội lúc đó, ý chí đi Nam của tôi càng tăng. Cảnh túng bấn đói khổ của thời bao cấp lúc đó không riêng gì của gia đình tôi. Nhưng với tôi còn cộng thêm những mâu thuẫn về cách sống, lối sống của tôi với ông bố tôi. Những phát biểu về các vấn đề chính trị của tôi khác với quan điểm của nhiều người trong gia tộc nên tôi thấy quyết định ra đi là đúng nhất. Thấy tôi làm đơn đi khỏi Đài truyền hình trung ương, lại đi về một nơi là Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang mà không phải là TP HCM, các bạn bè và đồng nghiệp ở Hà Nội đều rất ngạc nhiên. Vì lúc đó Đài truyền hình trung ương là một cơ quan sáng giá vào loại bậc nhất ở Hà Nội. Truyền hình là phương tiện truyền thông hấp dẫn và thời thượng lúc đó. Các bà vợ, cô chiêu cậu ấm, các ông lớn ở Hà Nội lúc đó đều mê truyền hình. Ông Trần Lâm, chủ nhiệm Ủy ban phát thanh và Truyền hình Việt Nam luôn nhận được điện thoại từ các vị Bộ chính trị, Ban bí thư… là truyền hình ở nhà họ bị trục trặc, cần phải sửa chữa ngay. Chả thế mà Đài TH có cả một đội ngũ kỹ sư giỏi, đứng đầu là ông Trịnh Lý Thản luôn tất bật đi xử lý các sự cố kỹ thuật ở các nhà quan lớn. Phóng viên, biên tập viên của Đài Truyền hình trung ương lúc đó có giá lắm. Hội nghị nào mà truyền hình chưa đến thì dù báo chí đã đến đủ nhưng vẫn chưa khai mạc được. Ai cũng muốn lên truyền hình. Vấn nạn xin xỏ, mè nheo, làm tiền của các nhà báo truyền hình đã nẩy nở từ những ngày đó, mở đầu cho sự tha hóa của báo chí quốc doanh cho đến bây giờ. Đương làm việc ở cơ quan sáng giá như thế giữa thủ đô mà tôi lại xin về một tỉnh lẻ thì bạn bè thắc mắc là phải. Có người bạn thân hỏi tôi đã nghĩ kỹ chưa? Tôi đã trả lời anh bạn tôi là đã nghĩ kỹ lắm rồi. Tôi đã thấy có bệnh viện ở Hà Nội còn đem cả xe cứu thương gắn chữ thập đỏ chạy vào Nam mua gạo… thì còn gì để nói! Thấy ông viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật Đường Hồng Dật phải nuôi lợn trên căn nhà tận gác tư chật hẹp của gia đình ông thì có gì để mà nói nữa! Cái thìa trong cửa hàng café mậu dịch phải đục thủng lỗ để khách hàng khỏi lấy cắp thì có gì mà luyến tiếc nữa! Chỉ có một người ủng hộ việc ra đi của tôi là nhà báo Trần Minh Tân. Anh nói: cậu vô Đồng bằng sông Cửu Long là đúng lắm. Đó là vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước. Nước này muốn sống được phải dựa vào đồng bằng Nam Bộ. Đó là vùng đất mới, còn nhiều vấn đề phải viết, có rất nhiều đề tài để viết. Chúng ta là người cầm bút thì nơi nào có đề tài, nơi đó là nơi phải đến. Anh còn gợi ý tôi cụ tể: người ta có bài hát “Dáng đứng Bến Tre” nổi tiếng. Vậy thì bây giờ “Dáng đi Bến Tre” là gì? Phải trả lời câu hỏi đó. Phải viết một bài với cái “tít” như thế. Anh Tân quả là một nhà báo bậc thầy. Sau này, nhân kỷ niệm 10 năm đất nước thống nhất 1985, tôi đã viết bài báo nhan đề như thế, đăng trang nhất báo Đại đoàn kết, được đồng chí bí thư tỉnh ủy Hai Chung đem bài đó ra đọc trong một phiên họp toàn thể của Đảng bộ Bến Tre. Lúc đó, đồng chí Hai Trung chưa biết tác giả là ai. Lúc tôi lên đường anh Minh Tân lại vỗ vai tôi dặn: ở nước ta ở nơi đâu cũng có nạn cục bộ địa phương, điển hình là tỉnh Hải Hưng của tôi. Hai tỉnh Hải Dương và Hưng yên khi sáp nhập lại đánh nhau quanh năm. Vì thế mà bây giờ mới có tên là tỉnh “Hải Hùng”! Cậu vô trong đó, chỉ làm khách, không làm chủ, tập trung viết (ý anh nói không nên tham gia tranh chấp gì). Tôi đã làm theo đúng lời căn dặn của người bạn vong niên Trần Minh Tân suốt hơn 30 năm sống ở đất Nam Bộ. Tuy nhiên cuộc ra đi của gia đình tôi vẫn gây bất ngờ, gây một cú sốc cho cả dòng họ, vì tôi là “đích tôn”. Bà thím thứ ba của tôi (bà Ba) người mà tôi rất kính trọng về tư duy chính trị (mà lại không phải là nhà chính trị), lúc chia tay đã nắm lấy tay vợ tôi căn dặn rất thiết tha: chị nhớ chị là dâu trưởng, lại có hai đứa con trai, đi đâu thì đi nhưng phải nhớ dắt con về! Thì ra bà đã nhìn thấy trước sự phá sản của CNXH, sự phá sản của cái gọi là “ngày mai đây tất cả sẽ chung, tất cả sẽ là vui và ánh sáng” (Tố Hữu). Bà đã nhìn thấy trước sự tranh chấp gia sản ở chính gia đình tôi và dòng họ của tôi về cái gia tài gần 2000 mét vuông đất và ngôi nhà ngói vào loại to nhất làng Hoàng Mai, nay là quận Hoàng Mai, nội thành Hà Nội! Khi tiễn gia đình tôi lên tàu ở ga Hàng Cỏ để vô nam, cả tướng Qua và nhiều người đã có mặt. Đó là một buổi sáng u ám trong cuộc đời tôi. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 1, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/01/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-20/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 21): https://www.minds.com/newsfeed/1019884908175740928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 19): https://www.minds.com/newsfeed/1019883441955704832?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 19) Nói đến cái gọi là trường quay của Đài truyền hình trung ương, tôi không thể không nhắc đến một nhân vật “độc đáo” của truyền hình Việt Nam là đạo diễn Khải Hưng. Số là, Ban khoa giáo của Đài không có riêng một trường quay để thực hiện các chương trình của Ban như: dậy ngoại ngữ trên Đài, tọa đàm, phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng, thực hiện các tiết mục văn nghệ vv… vv… Mỗi lần ghi hình phải đăng ký trường quay. Đa số các biên tập viên, biên kịch của khoa giáo là những người tốt nghiệp Khoa Học Xã Hội, không thạo về kỹ thuật điện đóm, ánh sáng, âm thanh… Vì thế, mỗi lần thu hình đầu bị các kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật ở trường quay làm khó dễ, “bắt nạt”. Sở dĩ tôi thích đi làm phim ngoài trời từ khi sang truyền hình vì không muốn các nhân viên trường quay, vốn là các “con ông cháu cha” được tuyển vô truyền hình hạnh họe mình. Tình trạng hay cãi lộn thường xảy ra ở trường quay và cuối cùng thì các biên tập viên đều thua vì bị “úm ba la” về kỹ thuật. Trong hoàn cảnh đó của Ban khoa giáo, tôi nghĩ đến Khải Hưng. Anh là giáo viên dậy vật lý ở trường cấp 3 Cẩm Giàng tỉnh Hải Hưng cùng với tôi. Khải Hưng đẹp trai, thông minh, dậy giỏi, và đặc biệt là tính tình của anh rất “du côn”, cuồng loạn. Anh được mệnh danh là “Hưng cuồng” thời còn dạy học cùng tôi. Lúc Khải Hưng bỏ biên chế dạy học về Hà Nội, sống lang thang và chưa có việc làm ổn định. Tôi đề xuất “sếp” Hán nhận Khải Hưng về Ban khoa giáo. Với lý lịch giáo viên cấp 3, anh làm khoa giáo là hợp lý. Với trình độ chuyên môn vật lý (điện, ánh sáng, tiếng động…) của anh, thì các biên tập viên không ai còn bị lo “bắt nạt” khi Khải Hưng có mặt trong trường quay. Rất may là “sếp” Hán nghe bùi tai nên nhận anh về Ban. Nhưng khi nghe tin Khải Hưng sắp được nhận về truyền hình thì chính người cậu của anh là Ph.D Ngoạn, cục trưởng Cục kỹ thuật của Đài lại nói với ông Hán: thằng Khải Hưng mất dậy lắm, không nhận nó về Đài được. Nghe vậy, “sếp” Hán giận lắm, ông gọi tôi lên phòng và nói lại lời của Ph.D Ngoạn. ông còn đay nghiến: Mày giới thiệu cho tao một thằng mất dậy đến nỗi chính cậu nó cũng không muốn nhận. Tôi bình tĩnh nói với thủ trưởng của mình: chúng ta đang rất cần một thằng mất dậy để trị những thằng mất dậy trong trường quay là gì? Tôi đã tìm được đúng người, đúng việc cho Ban ta còn gì nữa. Sau đó “sếp” Hán xuôi tai liền nhận Khải Hưng về Đài. Y như rằng, từ khi có Khải Hưng, trường quay không còn cảnh cãi lộn. Không ai qua mặt được anh về khâu điện, ánh sáng, âm thanh… mà trước đây các biên tập Ban Khoa giáo bị bịp, bị bắt nạt. Thấy Khải Hưng có khả năng, Đài cho anh đi học một khóa đạo diễn. Học xong về Đài anh làm được một phim truyện nổi tiếng, đó là phim “Lời nguyền của dòng sông”, chuyển thể từ truyện ngắn “Mùa hoa cải bên sông”. Công bằng mà nói, công của nghệ sĩ nhân dân Trịnh Thịnh sắm vai ông lão thuyền chài trong phim này rất lớn. Trịnh Thịnh lớn tuổi nên ông hiểu được tâm lý, tác phong của người già nên vào vai diễn rất đạt. Nhờ có diễn viên gạo cội Trịnh Thịnh góp sức mà Khải Hưng làm được phim truyện nổi tiếng này. Khi đã trở thành một đạo diễn nổi tiếng, Khải Hưng vào Đảng và trở thành giám đốc của Hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc Đài THVN). Anh ta vẫn “cuồng” như xưa. Khi làm phim, Khải Hưng luôn mồm chửi diển viên: địt mẹ con đĩ… mày diễn thế à! Có lần gặp một đoàn phóng viên truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ, tôi hỏi chị em: thằng Khải Hưng dạo này còn chửi bới luôn mồm không? Chị em ngạc nhiên quá. Sao ở tận Cần Thơ mà anh rành Khải Hưng thế!? Vợ tôi mỗi lần xem truyền hình thấy Khải Hưng phát biểu, lại bảo tôi: chú Hưng lại ba hoa anh ạ! (chả là khi còn dạy chung ở trường Cấp 3 cùng tôi, vợ tôi vẫn gọi Hưng là chú vì y ít tuổi hơn tôi nhiều). Anh Ngô Như Hà, giáo viên dậy hóa cùng trường với chúng tôi, vì bị bệnh phổi, không dạy học được nữa nên anh xin nghỉ và về Hà Nội. Để kiếm sống, anh ngồi sửa xe ở trước cửa nhà mình (số 102 đường Minh Khai). Nhà Khải Hưng ở làng Quỳnh Lôi, hàng ngày anh đi làm phải qua Minh Khai. Có lần tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội có đến chơi thăm Hà. Vợ anh bảo: chú Hưng ngày nào cũng đi qua đây, nhưng thấy anh Hà nhà em thì quay mặt đi. Người phụ nữ miền Bắc gọi bạn của chồng mình bằng “chú” là thân tình lắm. Tức là có một thời gian dài họ đến nhà nhau chơi, đến mức vợ có thể xưng hô với bạn của chồng một cách thân mật bằng chú! Báo chí “lề phải” nhất là tạp chí truyền hình VTV, nhiều khi “bốc” Khải Hưng đến mức tôi đọc thấy phát ngượng cho cả người viết và người được viết về mình. Một thiết chế đặc quyền phương tiện thông tin thì “bốc” ai lên mà chả được. Nhân cách cứ thế mà xuống thấp dần, tha hóa dần vì không có thông tin đa chiều. Nói đến truyền hình Việt Nam mà không nói đến Tổng giám đốc Vũ Văn Hiến thì thật là thiếu sót. Hiến học ở Ba Lan về. Khi tôi về Ban miền Nam của Đài cuối năm 1974 thì Hiến đang là phóng viên của Ban. So với các cây bút như Trung Ngôn, Viễn Kính, Phan Đắc Lập, Trúc Thông, Nguyễn Thị Quý, … thì Hiến là một phóng viên mờ nhạt. Sau 1975, Ban miền Nam giải tán, Hiến lại về làm việc cùng phòng với tôi ở chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XHCN”. Hiến là đề tài cho cả phòng bình luận về sự ngô nghê, ngớ ngẩn của anh. Vợ đẻ con so, anh hỏi tôi: vợ tôi có ăn cà chua được không? Tôi trả lời: có! Vài bữa sau anh lại hỏi tôi, vì biết tôi đã có 2 con: vợ tôi có ăn cá mè được không? Tôi giả vờ suy nghĩ ít phút rồi vỗ trán trả lời: được! Phòng tôi được phân phối một cái giấy đi viếng lăng Bác. Trong giấy cho phép đi 4 người. Tôi và anh Hiến cầm giấy phép đi lên lăng Bác. Khi vô cửa, công an gác cửa xem giấy hỏi: sao giấy 4 người lại đi có 2 người. Hiến mau miệng trả lời: một đồng chí vì đi ỉa chảy…!!! Viên công an trợn mắt quát: vô ý thức với Bác! Tôi thấy vậy kéo Hiến lại rồi cả 2 ra về. Nhất định tôi lôi anh phải đi về. Đi được một đoạn xa tôi mới bảo hiến: sao mày ngu thế, mình là nhà báo, chỉ cần nói là 2 đồng chí đi tháp tùng các vị lãnh đạo có phải êm không. Thằng công an kia, mình vô ý thức với nó đã đủ chết, đằng này nó lại nâng quan điểm lên là “vô ý thức với Bác” thì chỉ có nước đi tù mọt gông. Tao phải kéo mày về vội là vì thế(!) Hiến vừa đi vừa làu bàu: hồi ở Liên Xô chính tôi đã dẫn các ông lãnh đạo Việt Nam đi viếng lăng Lê Nin. Vậy mà về nước, viếng lăng Bắc củng không được. Ngẫm nghĩ một lát, Hiến than phiền: hễ đi viếng lăng là thế nào cũng có giai thoại, rồi Hiến kể cho tôi nghe câu chuyện đi viếng lăng Lê Nin. Kể: ở Liên Xô hồi đó, thanh niên Nga bắt chước bọn hippy phương Tây để tóc dài, râu dài… lệnh trên xuống là ai tóc dài râu dài không được vô viếng lăng. Thế là một hôm Lê Nin bật nắp quan tài kính dậy, đi ra cửa lăng, tát cho tên thiếu tá chỉ huy canh gác lăng một cái nổ đom đóm mắt. Rồi mắng rằng: từ nay những đứa tóc dài cũng phải cho vào viếng, có phải đứa nào cũng đầu hói như tao đâu(!) Tôi đem câu chuyện đi viếng lăng Bác với Hiến kể cho anh em trong Đài nghe. Ai cũng ôm bụng cười. Chưa hết, khi đoàn nhà báo ở Đài truyền hình Ba Lan sang ta đi thực tế để quay phim về nhà ổ chuột ở Sài Gòn (để tố cáo xã hội Mỹ ngụy), Hiến được cử đi phiên dịch. Quay phim xong, xe chạy ngày đêm từ Sài Gòn ra đến Hà Nội thì trời đã tối không thuê được khách sạn. Một vị trong đoàn Ba Lan đề nghị: về nhà thằng Hiến ngủ tạm một đêm. hiến nghe thấy thế sợ quá, bỏ luôn các bạn đồng nghiệp trên xe… rồi biến mất. Hôm sau anh đến cơ quan kể lại sự việc này với chúng tôi rồi kết kuận: nhà tôi trong khu tập thể ở Đại La còn… hơn cái khu ổ chuột ở Sài Gòn(!). Chưa hết, khu tập thể của Đài “còn hơn cái ổ chuột” bị cháy. Hiến lao về… thì thấy bà mẹ anh đã chạy được hộp đựng tem phiếu ra sân và đang ngồi thở. Anh hỏi: cháu đâu (tức thằng con anh). Bà mẹ mới hoảng hồn chỉ vào trong nhà. Hiến lao vào bê thằng con ra khi lửa đã bén vào gần đến chiếc nôi(!) Kể lại câu chuyện này cho mọi người nghe, tôi vẫn còn nhớ một lời “bình luận” đau điếng thế này: bà mẹ này thật là thông minh khi cứu hộp tem phiếu trước, vì nếu cháy hết tem phiếu thì sẽ chết cả nhà! Có câu chuyện nào tố cáo thời bao cấp lại hay hơn chuyện này? Xin bạn đọc chép lại cho đời sai để con cháu chúng ta biết về một thời XHCH! Khi tôi rời Đài tuyền hình trung ương vô Nam đầu năm 1981 thì Hiến vẫn còn là phóng viên ở Đài THVN. Vậy mà không biết bằng con đường nào mà Vũ Văn Hiến trở thành ủy viên trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài THVN nhanh như thế! Khi là ông ủy viên trung ương rồi, một lần Hiến vô Sài Gòn, Hữu Tính xưa kia là trợ lý của trưởng Ban miền Nam Đài tiếng nói Việt Nam, người đã cùng tôi đi phỏng vấn Gs Tôn Thất Tùng như đã kể ở phần trên, bảo với Hiến: anh Thái Bảo thủ trưởng của tớ và cậu ở Ban miền Nam trước kia hiện đang bệnh nặng bây giờ cậu là ủy viên trung ương rồi, tớ biết nhà anh Thái Bảo để tớ đưa cậu đến thăm động viên anh thì tốt biết mấy… nhưng Hiến lờ đi. Chỉ ít lâu sau, anh Thái Bảo, vị thủ trưởng đáng kính của chúng tôi qua đời. Hôm tiễn đưa anh, Hữu Tính vẫn nhắc đến chuyện “thằng Hiến nhiều lần tôi đã bảo nó đến thăm anh Thái Bảo mà nó cứ lờ đi!” Hiển nổi tiếng là người hay đi thăm hỏi và quà cáp cho cấp trên từ lâu rồi, nhưng chỉ là người còn chức quyền thôi, không phải là người đã nghỉ hưu như anh Thái Bảo (mà anh em ở Đài tiếng nói Việt Nam rất yêu quý, kính trọng). Anh Thái Bảo còn là thư ký riêng cho tướng Nguyễn Bình và là một cán bộ lãnh đạo mẫu mực. Trong các phương tiện truyền thông thì truyền hình phải đầu tư cơ sở vật chất tốn kém nhất. Hiến vướng vào những vụ tham nhũng khi xây dựng các công trình ở Đài truyền hình. Dư luận đã ầm ỉ một thời gian, nhưng giống như hàng ngàn ông quan tham khác, y vẫn hạ cánh an toàn. “Triều đại” của Hiến đã để lại cho Đài truyền hình một lớp cán bộ thật “ấn tượng”. Điển hình là Lại Văn Sâm. Một Việt Kiều ở Pháp vô tình biết tôi từng làm phát thanh và truyền hình đã kể rằng, khi Lại Văn Sâm qua Pháp làm việc, đồng bào yêu quý các nhà báo của quê hương nên đã tổ chức nhau mời Lại Văn Sâm một bữa cơm. Thấy các món ăn sơ sài quá, Lại Văn Sâm đã trừng mắt nói: mời Lại Văn Sâm mà thế này à? Nghe xong tất cả mọi người kinh ngạc về nhân cách văn hóa thấp kém của Sâm. Theo tôi, có lẽ Lại Văn Sâm quen đi các địa phương ở trong nước được các quan chức lấy tiền thuế của dân ra đãi những bữa tiệc vừa ăn vừa đổ đi nên quen thói rồi. Anh chàng MC mồm mép như anh bán thuốc dạo trên tàu điện ở Hà Nội ngày xưa, có hay đâu đồng bào xa xứ của mình phải vất vả mới kiếm được miếng ăn ở xứ người, vì yêu mến quê hương mà gom tiền lại đãi đằng nhà báo Việt Nam. Đồng bào đã bất ngờ khi thấy thái độ của Sâm như thế – một nhà báo XHCN! Khi tôi viết báo “lề trái” trên mạng, đôi lần có nhắc đến “Lại Văn Sâm khua môi múa mép trên truyền hình” thì lập tức có nhiều comment hưởng ứng ngay. Thì ra người xem truyền hình ở Việt Nam rất ghét khi thấy Lại Văn Sâm xuất hiện. Ở các nước văn minh MC truyền hình phải được khán già ưa thích, không thì phải thay ngay, vì người ta luôn luôn thăm dò ý kiến khán giả qua các hình thức trưng cầu dân ý. Ở ta, cứ Đảng phân công là người ta cứ nhâng nháo vác mặt lên truyền hình quốc gia! Trong thời gian công tác ở Đài truyền hình trung ương, có một sự cố lớn ảnh hưởng đến tư tưởng và dẫn đến quyết định sự ra đi của tôi khỏi “miền Bắc XHCN”, khỏi Hà Nội nơi tôi sinh ra. Đó là vào cuối năm 1978, tại nhà hát lớn Hà Nội diễn ra hội nghị khoa học toàn quốc. Tôi đến dự, nói đúng hơn là đến hành nghề. Trí thức cả hai miền Nam Bắc về dự hội nghị quan trọng này. Khi thủ tướng Phạm Văn Đồng đến, cả đại hội đã vỗ tay kiểu “đại hội” như tôi đã giới thiệu kiểu vỗ tay này ở đầu sách. Người trong ban tổ chức giới thiệu: người anh cả của khoa học đã đến dự với chúng ta. Lại vỗ tay. Tôi nói với vị trí thức ngồi cạnh tôi: giả sử lát nữa có đồng chí Lê Duẩn đến thì không biết người ta sẽ giới thiệu thế nào? Không lẽ phải giới thiệu là “người anh cả đỏ đã đến”. Vị đại biểu này không nói gì(!) Khi tham luận có một nữ đại biểu ở Tổng cục khai hoang nêu khó khăn không thể khai hoang 50 vạn héc ta trong một thời gian như chính phủ lên kế hoạch. Phạm Văn Đồng rung chuông đuổi xuống. Chị ta cứ nói: khai hoang 50 vạn héc ta thì xin phép phải được nói dài(!) Lại rung chuông. Vẫn nói. Lại rung chuông… Khi giải lao, các vị đại biểu vây quanh người phụ nữ rắn rỏi này. Có người nói: chị gan quá. Thủ tướng rung chuông nhiều lần mà cứ nói không chịu xuống. Chị trả lời: các anh là đàn ông, nhiều tham vọng. Tôi là phụ nữ, tôi không có tham vọng nên tôi nói thật(!) Ai cũng hiểu chị ta muốn nói đàn ông các anh hèn lắm. Vì tham quyền cao chức trọng, bổng lộc nên ngậm miệng ăn tiền. Viết đến đây tôi nhớ bài thơ mới đọc hôm 18/2/2013 của tướng Phạm Chuyên mang tên “Người hèn”, đăng trên trang mạng Ba Sàm. Vừa mới đọc có đôi lần mà đã thuộc vì nó hay quá: “Đất nước ngàn năm / hiếm kẻ bán nước / có nhiều nhặn gì đâu / một Trần Ích Tắc / một Lê Chiêu Thống / một Hoàng Văn Hoan / đất nước ngàn năm / quá lắm người hèn / hèn vì quyền cao chức trọng / hèn vì nhà cao cửa rộng / hèn vì miếng cơm manh áo / hèn vì vợ dại con thơ / hèn vì danh hão danh hờ / hèn mà còn nhận ra / mình là thằng hèn / là hèn tử tế / hèn ngậm miệng ăn tiền / hèn nhơ bẩn / hèn … / hèn bất nhân / hèn bán đất bán nước / trờ chu đất diệt / hèn ơi! Đất nước ơi!” … Thấy đại biểu túm tụm, Phạm Văn Đồng đến. Ông hỏi một trí thức ở Sài Gòn ra họp: trong ấy tình hình nghiên cứu khoa học thế nào? Vị này thưa: trong phòng thí nghiệm đến H2O cũng không có! Ông hỏi vị trí thức thứ hai, vị này thưa: chúng tôi phải tẩy xóa bằng cái nút lọ penicillin thay cho cục gôm! Thế là thủ tướng cười: Ha ha ha! Cái cười rất Phạm Văn Đồng. Thế là mọi người cười theo. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam là anh Hà Việt đã nhanh tay bấm máy được cái hình mọi người cười rất tươi, cười hết cỡ. Cuối hội nghị, thủ tướng chỉ đạo. Ông ta nói: chúng ta làm khoa học kỹ thuật theo cách của Việt Nam, như Cù Chính Lan chạy tắt rừng để đón đầu đánh xe tăng. Chúng ta phải đi tắt, đón đầu, đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm… Lại vỗ tay! Tôi muốn dừng ít phút ở đây để nói về phương Tây. Tôi vừa đi theo một chuyến máy bay DC chở cá mè bột (cá giống) vào Nam và theo máy bay chở cá giống bố mẹ rô phi ra Bắc cùng mấy anh em cán bộ kỹ thuật của Bộ Thủy Sản và các bác nông dân nuôi cá ở một hợp tác tác xã của huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Lúc lên máy bay, phi công xem giấy tờ thấy tôi là nhà báo. Anh ta không cho đi. Lý do: máy bay cất cánh những giờ cuối cùng rồi cho vào nghĩa địa vì “hết đát”. Tôi là nhà báo, phải bảo vệ tính mạng cho tôi. Tôi cự lại: Đảng và nhà nước đào tạo một phi công như đồng chí tốn kém gấp 10 lần một anh phóng viên ốm yếu như tôi. Các đồng chí quý giá hơn tôi 10 lần, cả về thể chất con người nữa, mà đi được thì sao tôi không đi được? Anh chàng phi công phát cáu: ông nhà báo lắm lý sự quá. Thôi mời ông lên. Thế là tôi được đi những giờ phút cuối cùng của loại máy bay mang mác DC ở Việt Nam. Lên máy bay rồi, tôi lại còn đòi ngồi ở cabin để còn… quan sát. Cabin máy bay DC chỉ ngồi được ba người. Phi công, thợ máy và dẫn đường. Vì máy bay bay ở độ cao 300 mét nên người dẫn đường cầm một xấp bản đồ, nhìn xuống thấy rõ mổn một từng địa phận máy bay bay qua. Máy bay chỉ bay tốc độ 300 km/h nên quan sát rất dễ. Tôi ngồi bệt xuống chân, giữa 2 người thợ máy và dẫn đường. Lúc bay đến Nam Định, anh thợ máy nói: lúc nãy nói chơi vậy thôi, chứ máy bay có tới 56 cái đồng hồ trục trặc cái gì là báo ngay để xử lý. Đi máy bay là an toàn nhất. Tôi nhìn theo ngón tay của người thợ máy và đếm đủ 56 cái đồng hồ trên tableau trước mặt. Cái máy bay như thế mà đã vứt vào nghĩa địa vì nó được bay hết giờ quy định của hãng chế tạo ra nó. Phương Tây là như thế. Tôi nghĩ, 100 năm nữa chưa chắc nước ta đã làm nỗi một chiếc máy bay từ A tới Z như cái DC tôi vừa đi. Tôi chưa thấy ai bốc phét như ông Phạm Văn Đồng “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm nữa…!!!” Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi. Chỉ có phụ nữ là dám nói sự thật. Ôi, phụ nữ Việt Nam anh hùng quá. Đất nước đáng tự hào về họ quá. Họ chính là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu… Ngày hôm sau của cuộc hội nghị quan trọng đó, cô nhân vật đánh máy của cơ quan tôi cầm tờ báo Tiền Phong có tấm hình phóng viên Hà Việt chụp đến khoe với tôi: anh Phú Khải có cái hình đẹp quá, đứng cạnh thủ tướng và đại tướng. Tôi cầm bức hình mà hôm qua “bị” chụp xem. Rồi nói rõ xuất xứ của những cái cười hết cỡ trong ảnh và kết luận: như thế mà cười được thì là vô liêm sỉ, chỉ có tôi là còn chút liêm sỉ nên không cười(!). Mọi người đứng quanh tôi không ai nói gì cả. Vài ngày sau vợ tướng Qua nhắn vợ tôi lên nhà bà gấp. Bà cho hay những gì tôi nói về bức ảnh chụp Phạm Văn Đồng đã đăng báo… đã được phản ánh về Bộ Công An. Bà nói: thằng Thanh, chồng con Tuyết nó đến tận nhà báo cáo với chú chị mà nó vừa nói, vừa thở, vừa run… “thằng Thanh” như lời bà thím tôi là Nguyễn Thanh, cục trưởng Cục xử lý tin tức Bộ Công An. Còn “con Tuyết” là con ông chú thứ hai của tôi, cô đang làm phó Ban tài chính và quản trị trung ương. Nguyễn Thanh phải gọi tướng Qua là bác, (bác vợ). Sự thể là như thế. Bà thím tôi còn nói: mày về bảo chồng mày ăn nói phải giữ mồm giữ miệng không thì mang họa vào thân. Ông Qua ông ấy giận thằng cháu đích tôn lắm. Lúc thằng Thanh báo cáo xong, ông ấy đập tay xuống bàn! Cái hồi tôi đi làm nhà nước hồi đó, lý lịch là số 1. Lý lịch phải khai đầy đủ cả họ nội, họ ngoại. Nên việc tôi là cháu ruột của tướng Qua, bên an ninh họ đều biết (nhất là an ninh được “cài” vào một cơ quan như Đài truyền hình trung ương). Vì thế tướng Qua bực mình là phải. Chủ nhật tuần lễ đó, ông xuống tận nhà tôi ở Hoàng Mai mắng tôi một chập. Tôi cãi “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng 20 năm thì rõ là hoang đường rồi còn gì?” Nghe xong ông nói: “Đúng thế, nhưng người phát ngôn không phải là cháu!” Trời đất thiên địa ơi! Chân lý thì ai nói ra mà chẳng được. Từ trước công nguyên Aristote đã từng nói “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!” Phương Tây là như vậy nên họ mới có máy bay DC. Còn phương Đông thì chỉ thầy mới đúng, còn trò thì không bao giờ được cãi thầy… Thì ra ông chú yêu quý của tôi cũng có một ông Khổng Tử ở trong đầu. Các cụ ta bảo, học nói chỉ mất 3 năm, nhưng học im lặng phải mất 60 năm. Nếu phải như bây giờ thì tôi không cãi, tôi im lặng nhận lỗi thì chú Qua tôi vui lòng ngay. Nhưng tuổi trẻ là thế, tôi cãi. Tướng Qua giận lắm. Sau đó ông còn đến cả Đài Truyền hình gặp lãnh đạo Đài. Khi ông đeo lon tướng vô cửa, đồng chí công an gác đài đã đứng nghiêm chào, không dám hỏi giấy tờ. Sau buổi ông đến Đài, “sếp” Hán vỗ vai tôi cười nói: ông chú mày dọa “bắt” mày đó! … vậy thôi… không nói gì nữa… đúng là “Hán Cao Tổ”!!! Đúng 18 năm sau, năm 1996, tôi gặp ông Phạm Văn Đồng ở tỉnh ủy Cần Thơ, ông đang ngồi nói chuyện với ông Sáu Phan (Nguyễn Hà Phan). Ông đeo một cái kính râm rất to. Lúc đó cả nước đã bước vào thời kỳ đổi mới sau đại hội VI. Các sách vở “lề phải” đều nói đến vấn đề Việt Nam có thể bị tụt hậu so với các nước trong khu vực(!) Vậy là đã gần hết hạn 20 năm để đuổi kịp và vượt phương tây như chỉ đạo của thủ tướng. Vậy tôi có nên vào báo cáo với thủ tướng là ta có khả năng tụt hậu so với các nước láng giềng hơn là “đuổi kịp và vượt phương Tây” như thủ tướng chỉ đạo cách đây vừa đúng 20 năm! Tôi sực nhớ đến dạo ở Hà Nội, mỗi lần thủ tướng đến thăm nơi nào người thư ký đề đến trước dặn mọi người không nên nói điều gì … làm ảnh hưởng đến sức khỏe của ông, nên tôi thôi. Ông Đồng mất vào năm 2000. Tướng Qua, người sĩ quan cận vệ của ông ở hội nghị Geneve năm xưa mất vào năm 2001. Tất cả đã đi vào quá khứ, và kẻ đang viết những dòng này cũng đang trên đường đến… nghĩa trang. Nhưng sự thật lịch sử thì phải rõ ràng công bằng. Chân lý phải quý hơn thầy. Vậy thôi. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 28, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/28/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-19/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 20): https://www.minds.com/newsf...
14 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 21) Ba năm ở Đài Phát thanh Tiền Giang Khi vô tới TP HCM, tôi vào cơ quan thường trú của Đài THVN, Giám đốc Nguyễn Thành, nguyên là giám đốc của Đài Giải Phóng trước 1975, phó chủ nhiệm UB Phát thanh và Truyền hình VN xem quyết định về Đài phát thanh Tiền Gian của tôi rồi nói: Vũng Tàu mới thành lập Đài phát thanh, rất cần cán bộ, họ vừa có công văn xin Đài THVN một phó giám đốc phụ trách nội dung, nếu cậu đồng ý, tôi sẽ hủy quyết định về Tiền Giang của cậu và viết quyết định cho cậu ra làm phó Đài Vũng Tàu. Tôi cảm ơn sự tín nhiệm của ông Thành rồi nói mục đích của tôi là vào Đồng bằng sông Cửu Long để viết, tôi không thể về Vũng Tàu được. Giám đốc Thành lại nói: Vũng Tàu là địa bàn quan trọng, ở đó đang khai thác dầu khí, đây là nhiệm vụ, tôi viết quyết định cậu phải đi. Giám đốc Thành là một người quyết đoán và trên cương vị là phó chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh và Truyền hình VN, ông có toàn quyền để làm việc đó. Nhưng tôi có một “bảo bối” để chống lại mọi quyết định của lãnh đạo trong một thể chế Đảng trị. Tôi ý thức rất rõ điều này. Nhưng dù sao tôi cũng phải cảm ơn thầm trong bụng vì sự tín nhiệm của ông Thành với tôi. Cuối cùng thì tôi vò đầu vò tai, nói ra vẻ muốn đi lắm mà không thể được! Tôi còn đề phóng, nếu giám đốc Thành nói “tôi sẽ kết nạp cậu vào Đảng” như đã có lần mà Đài Truyền hình trung ương giao nhiệm vụ mà tôi không nhận với lý do “không phải Đảng viên”, người ta đã nói với tôi như thế. Nhưng giám đốc Thành là một người nguyên tắc cao, nghe thấy tôi nói như thế ông không nói gì nữa. Nhưng cũng chính giám đốc Thành, đúng ba năm sau, ông đã xin chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cho tôi về lại Đài TNVN, biên chế tại cơ quan thường trú của Đài tại TP HCM, dưới quyền của ông. Nhưng ông đặt tôi thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long, ở tại Tiền Giang. Đấy là lần đầu tiên một cơ quan báo chí của trung ương có đặt phóng viên thường trú ở Đồng bằng sông Cửu Long. Sau này, báo Nhân Dân có đặt phóng viên thường trú ở một số tỉnh như Minh Hải, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ… Nhưng các vị thường trú này, có người làm việc hiệu quả, được địa phương quý mến như nhà báo Kiến Phước thường trú ở Cần Thơ; Cũng có người nổi tiếng mượn danh báo Nhân Dân để đi tống tiền, đi vơ vét khắp nơi như ông Phan Huy (người thay ông Kiến Phướng ở Cần Thơ). Ông Phan Huy được mệnh danh là “Huy cá rồ” vì ông ăn tạp và ăn bẩn. Chuyện về ông đi ăn xin như thế nào, ăn xin kiểu nhà báo dưới chế độ độc Đảng, lại là đại diện cho tờ báo của trung ương Đảng tại địa phương nên nó ly kỳ lắm. Tôi có thể viết thành một cuốn sách dầy, xin để phần tiếp sau sẽ nói. Đang là phóng viên của Đài phát thanh quốc gia, rồi Đài truyền hình trung ương, địa bàn hoạt động cả nước, công việc khá phức tạp, tôi về làm phóng viên của một đài phát thanh tỉnh lẻ vừa mới thành lập, một ngày chỉ phát sóng vài tiếng kể cả tiếp âm đài trung ương rồi ca nhạc, cải lương là chính… nên rất nhàn nhã. Việc đầu tiên là tôi đi sưu tầm sách vở, tài liệu về Đồng bằng sông Cửu Long để đọc. Người ta giới thiệu với tôi một người có nhiều sách nhất là thầy giáo Nguyễn Văn Quý, vốn là giáo viên dậy Pháp văn trước 30.4.1975. Tôi tìm đến nhà thầy Quý ở một con hẻm nhỏ đường Trần Hưng Đạo TP Mỹ Tho. Quả thật nhà thầy Quý là một cái thư viện nhỏ. Nhưng thầy giáo Quý không chỉ là một người đọc sách, sưu tầm sách mà thầy còn là một người chơi sách – theo đúng nghĩa của chữ “chơi”. Thầy có thể đem cho khách ở xa tới xem một lúc 6 cuốn “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân qua 7 lần tái bản từ khi tác phẩm này ra đời trước năm 1945! Thầy còn “dọa” nếu mai mốt tái bản “Vang bóng một thời” thì còn mua nữa. Thầy giải thích, vì mỗi lần tái bản, cuốn sách lại được viết lời tựa, thay co chữ, trình bày bìa… và cả chất liệu giấy cũng khác nhau! Một lần nhà văn Tô Hoài, sau 1975 về thăm Hội Văn Nghệ tỉnh Tiền Giang, được bạn văn ở Mỹ Tho dẫn đến nhà thầy Quý chơi. Thầy đã đem cho nhà văn xem tất cả các sách của Tô Hoài đã xuất bản từ trước đến đó. Trong đó có cuốn xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám mà Tô Hoài cũng không giữ được, như các cuốn: Xóm giềng ngày xưa, Nhà nghèo, O chuột… Tô Hoài đã rung rung nước mắt vì cảm động. Như thế không phải “chơi sách” thì là gì?! Vì “chơi” cho nên mới nghèo! Trò đời xưa nay vẫn thế, phàm đã “chơi” cái gì đến độ đam mê thì rồi rốt cuộc cũng nghèo! Thầy Quý không ra ngoài quy luật đó. Nghèo đến mức thầy không có tiền để sắm thêm giá sách. Có lần đến thăm thầy, tôi phải chứng kiến cảnh mối xông, “xơi” của thầy cả một đống sách “cất” dưới gầm giường! Thầy Quý đã phải lấy xẻng hốt mối ra sân… và bầy gà hàng xóm được một bữa tiệc mối… mệt nghỉ(!) Có người đã bàn với thầy, hay là, bán bớt một bộ tự điển Encyclopedie cho thư viện để lấy tiền mua giá sách, vì thầy có đến hai bộ Excyclopedie… Nhưng thầy lại… tiếc! Lần đến chơi thầy Quý, chứng kiến cảnh mối “xơi” sách của thầy, buồn quá tôi đã viết một bài về “thàm cảnh” mối ăn sách của một “nhà chơi sách” cho một tờ báo của TP HCM. Nam Bộ vốn là đất của những Mạnh Thường Quân… Chỉ ít lâu sau, một ông chủ xưởng gỗ ở Mỹ Tho đọc báo, đã tặng thầy Quý giá sách. Từ đó, căn “phòng khách” của thầy trở thành một cái thư viện nhỏ. Bốn mặt tường đều là giá sách. Từ điển để riêng một giá, văn học một giá, chính trị một giá. Riêng sách tiếng Pháp một giá, vẫn không đủ, sách còn được đưa vào phòng ngủ… ở phía sau, nhưng được kê kích đàng hoàng, không phải trải vải nhựa để dưới gầm giường làm mồi cho mối như khi xưa… Tôi mê mẩn những sách nghiên cứu về Nam Bộ của thầy như cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười” của học giả Nguyễn Hiến Lê, của nhà văn nổi tiếng Sơn Nam như các cuốn: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long hay là Văn Minh Miệt Vườn, Cá Tính Miền Nam, Hương Rừng Cà Mau… Nhưng thầy Quý không cho mượn sách đem về nhà đọc. Thầy chỉ cho xem hoặc đọc tại chỗ. Tôi bèn nghĩ ra một cách, đem tất cả những cuốn sách quý được tôi chọn lọc để đem theo vào Nam tặng thầy Quý. Tôi biết chắc chắn rằng những sách này thầy Quý không thể có, vì nó được xuất bản ở miền Bắc trước 1975. Trong đó có bộ sách “Lịch sử văn học Trung Quốc” ba tập dầy cộp do Quách Mạc Nhược, học giả hàng đầu của Trung Quốc biên soạn. Và, tập thơ mỏng dính “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ tý hon Trần Đăng Khoa do ty giáo dục Hải Hưng xuất bản năm 1968. Với một người chơi sách như thầy Quý thì còn gì hơn những thứ hàng quý hiếm đó. Thầy Quý nhận các cuốn sách từ tôi và từ đó thầy sẵn sàng cho tôi mượn sách đem về nhà đọc (chắc là thầy sẽ không nghi ngờ gì là tôi sẽ “chôm” các sách quý của thầy, vì thầy thấy tôi đem sách quý đi biếu thì chắc chắn không phải là tay chơi sách như mình rồi). Tôi đã được “vỡ lòng” về đất Nam Bộ từ kho sách quý của thầy. Tôi có thể viết những bài về Nam Bộ trên cơ sở quan sát thực tế và những kiến thức có chiều sâu từ sách vở để lại của người đi trước. Khi viết về vủng đất đang được khai hoang nhiễm phèn nặng của tỉnh Tiền Giang trong vùng Đồng Tháp Mười, tôi đã đọc kỹ cuốn “Những vấn đề về đất phèn Nam Bộ” của Lê Huy Ba (NXB TP HCM năm 1982). Việt Nam là “cường quốc đất phèn”, đứng thứ ba trên thế giới sau Hà Lan và Indonesia theo kết luận của hội nghị đất phèn thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, đều gọi nó bằng cái tên chung là “Acit sulphate soil” là thứ đất và thứ nước không con gì sống được trong đất và trong nước của nó. Những kiến thức mà tôi có được từ sách vở đã giúp cho các bài viết của tôi có chiều sâu, có căn cứ khoa học để đưa ra được những nhận định có căn cứ và dĩ nhiên, báo chí trung ương, đặc biệt là báo Nhân Dân lúc đó đang cần những bài về Nam Bộ như thế. Hàng loạt những bài tôi gửi ra với các chủ đề như Tiền Giang xây dựng vùng lúa năng suất cao; Cây khóm (dứa) trên đất phèn Đồng Tháp Mười; Giao thông nông thôn trên các xã cù lao; Nghề nuôi rắn ở Đồng Tâm… Đặc biệt là phóng sự “Đám cưới to nhất tỉnh” đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng, sau đó báo Nhân Dân biên tập lại với các “tít” khá “ăn khách”. “Đám cưới “to” nhất nước” (Báo Nhân Dân số ra ngày 27/3/1983) đã gây được dư luận trong tỉnh. Phóng sự phản ánh việc Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang mà đứng đầu là ông chủ tịch Nguyễn Công Bình làm chủ hôn cho một đám cưới tập thể 21 cặp trai gái. Các cô gái xuất thân là “gái lỡ lầm”, như cách gọi rất nhân văn của chủ tịch sáu Bình, được đưa vào nông trường khai hoang của tỉnh trong vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang để lao động cải tạo. Qua lao động, các chị đã bén duyên với 21 chàng trai của nông trường trồng khóm. Và, chủ tịch Sáu Bình đại diện nhà trai, bà trưởng ty thương binh xã hội tỉnh đại diện nhà gái đã đứng ra tổ chức lễ cưới tập thể cho 21 cặp trai gái này. Mừng nông trường khai hoang của tỉnh trồng khóm trên đất phèn nặng thành công, lại mừng cho 21 cặp trai gái của nông trường đón hạnh phúc trên miền đất mới được khẩn hoang, các công ty, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh gửi quà mừng đến rất nhiều. Có bác nông dân trong tỉnh nghe tin vui cũng gửi thư và tiền mừng đến đám cưới tập thể. Bài phát biểu của ông chủ hôn mà chũ tịch Sáu Bình bảo tôi soạn thảo cho ông đã được vỗ tay nhiệt liệt. Trong đó có câu: “Chỉ có cách mạng mới có được niềm vui như thế này”. Sau đám cưới mọi người ra về hết, tôi còn ở lại nông trường khai hoang Tân Lập cả tuần lễ để hoàn thành bài phóng sự nhiều kỳ này. Vì thế, càng có dịp để hiểu thế nào là đất phèn nước phèn. Ban đêm ở vùng Tân Lập, dù trời mưa to gió lớn không có tiếng ếch nhái kêu vì nó không sống nổi ở vùng đất này. Nước thì trong vắt mà không có một loài thủy sản nào sống được. Áo trắng lốp mà đem giặt trong dòng nước trong vắt này lại vàng khè và mau rách. Nếu ai ăn trầu, nhổ một miếng nước bã trầu xuống dòng kinh thì nước bã trầu đó sẽ biến thành màu trắng… như phản ứng hóa học trong phòng thí nghiệm(!) Cánh đồng năn, cỏ lát chạy tít tắp đến tận chân trời. Vì thế thời xưa, người Pháp mới gọi Đồng Tháp Mười là “đồng cỏ lát” (plaine de jonds). Bàn chân con người vẫn chạm đất, mắt vẫn nhìn thấy màu xanh của cỏ, nhưng lặng thinh không có tiếng chim kêu, không tiếng một con cá quẫy. Nó không phải là sự vắng vẻ âm u của núi rừng, cũng không phải sự vẻ cô đơn của biển cả. Đây là biển trên đất liền. Là cái vắng lặng mênh mông kiểu Đồng Tháp Mười. Ca lên một câu vọng cổ trên đất này thì nó vang xa lắm. Như cứa vào chỗ da non nhất của con người… đi khai hoang lập nghiệp. Tôi đã hiểu vì sao những câu ca cổ lại buồn đến thế. Nhưng đó là nỗi buồn có cung bậc, có gam màu không bi lụy là ẩn chứa một niềm tin khắc khoải đến mai sau. Tôi càng mến yêu những cặp vợ chồng mới, dám trụ lại đất này để tính chuyện tương lai. Một sự việc có liên quan đến tôi trong những năm làm việc ở Đài Phát thanh tỉnh là việc Đài mở lớp tập huấn nghiệp vụ cho phóng viên và biên tập viên của mình. Là một đài phát thanh của tỉnh thành lập sau 30.04.1975, lại được thành lập muộn so với các tỉnh láng giềng nên lực lượng phóng viên, biên tập viên còn rất mỏng. Vì thế, Đài Tiền Giang mở lớp huấn luyện và mời một trưởng phòng biên tập của Đài Phát thanh Hải Phòng, một đài địa phương lâu năm của miền Bắc vào làm giảng viên cho lớp. Với tư cách là phóng viên của Đài Tiền Giang, tôi cũng là học viên của lớp. Khi anh trưởng phòng biên tập của Đài Hải Phòng trong buổi khai mạc thấy tôi ngồi lù lù trong lớp thì anh ta bất ngờ quá. Anh ta thốt lên với lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo Đài Tiền Giang: có anh Lê Phú Khải ở đây rồi thì còn mời tôi vô làm gì nữa! Chẳng là, khi còn ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi đã từng về Hải Phòng nhiều lần, cùng anh bạn này đi ra vùng mỏ Quảng Ninh công tác. Bài vở của tôi đăng tải khắp các báo miền Bắc như Nhân Dân, Quân Đội nhân dân, Văn Nghệ… anh đều đọc cả. Tôi còn cùng Ban địa phương của Đài tiếng nói Việt Nam xuống Hải Phòng mở những lớp tập huấn như Đài Tiền Giang đang làm… Vì thế, sau lớp học đó, khi các đài truyền thanh các hyuện mới thành lập, Đài phát thanh tỉnh đều cử tôi đi xuống các huyện để hướng dẫn các lớp học dài ngày đào tạo biên tập viên, phóng viên, cộng tác viên cho đài huyện. Với chiếc xe đạp cọc cạch và giỏ quần áo, tài liệu đeo bên mình, tôi đi xuống các huyện công tác cả tháng mới về. Từ phóng viên của Đài phát thanh quốc gia, rồi Đài truyền hình trung ương… đi công tác bằng máy bay, bằng xe con, đến các địa phương thì ở nhà khách của ủy ban, nhà khách tỉnh ủy, huyện ủy, làm việc với các lãnh đạo địa phương là quan đầu tỉnh, đầu huyện… nay về địa phương, đi xuống huyện công tác hàng chục cây số, tối ngủ lại các Đài hyuện có khi là một góc đình làng dột nát, vì đài huyện mới thành lập chưa có trụ sở. Đêm nằm chuột chạy lao cả vào mùng! Trưa ra sông tắm giữa trời. Học viên thì có em còn đi chân đất vì là thanh niên của xã lên dự tập huấn ở đài huyện, để về làm truyền thanh ở xã… Nếu xét về sự sang trọng, sung sướng thì thật là tôi “đang ở bể lại vào ngòi”! Nhưng tôi lại thấy thích thú. Sáng ra chợ huyện ăn tô bánh canh, tôi nghe được đủ chuyện trên đời. Nhà văn Nga Sên khốp từng khuyên các nhà văn đi tàu nên mua vé hạng bét đó sao! Có lần lên lớp, tôi thấy có em để dưới chân mình một cái bị, ở trong luôn có con gì ngọ nguậy. Đến cuối giờ, các em rủ thầy ra quán lẩu rắn nhậu. Thì ra em học sinh đó về nhà bắt được một bị rắn để hôm sau đến lớp thết thầy. Em đem bị rắn đó ra quán, chia đôi, cho chủ quán một nửa, còn nửa kia thì chủ quán có nhiệm vụ nấu nồi lẩu rắn cho thầy trò tôi nhậu. Em khỏi phải trả tiền bữa nhậu đó. Cuối khóa học, em cũng tặng tôi một bị rắn tươi sống như thế để làm quà đem về Mỹ Tho(!) Trước khi vô Nam, tôi có đem theo nhiều tài liệu về nghiệp vụ báo chí, trong đó có cả tài liệu của Tân Hoa xã do người chú tôi là Lê Phú Hào, là nhá báo miền Bắc đầu tiên đi thường trú ở Bắc Kinh sau hòa bình 1954 đem về Hà Nội. Tôi còn đem theo các tài liệu của Việt Tấn xã, cơ quan thông tấn của chế độ Sài Gòn cũ khi tôi vô Nam lần đầu, đến Việt Tấn xã thu lượm được. trong đó có cuốn “săn tin” bằng song ngữ Anh-Việt. Sau này tôi mới biết đó là cuốn sách nghiệp vụ nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975, do chính điệp viên Phạm Xuân Ẩn đóng vai nhà báo biên soạn. Ngoài ra tôi còn có cả những giáo trình của các giáo sư đại học báo chí Colombia, như cuốn “ký giả chuyên nghiệp” của John Hohenberg, bản dịch của Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu in ở Sài Gòn 1974. Đem những cuốn sách đó đi theo, tôi tự nhủ với mình như người thợ đem theo đồ nghề để kiếm sống ở phương xa. Và quả thật, những tài liệu huấn luyện báo chí đó cộng với kinh nghiệm 5 năm làm phóng viên phát thanh và truyền hình ở miền Bắc đã cho tôi nhiều lợi thế khi phải làm giảng viên ở các lớp đào tạo phóng viên như tôi đã làm ở các hyuện trong tỉnh Tiền Giang, cũng như ở các lớp nghiệp vụ, các khoa báo chí ở các trường đại học tại TP HCM sau này. Có lần, giảng về công việc truyền thanh trực tiếp (đọc và truyền thanh trực tiếp) ở đài phát thanh huyện thì phải hết sức cẩn trọng, sai một ly đi một dặm. Tôi đã dẫn ví dụ ở một huyện ở miền Bắc, đài truyền thanh ở huyện đó đã bị bà con nghe đài gọi là Đài truyền thanh “buông tay em ra”! Chuyện kể rằng, hôm đó đã vào phòng bá âm rồi (phòng đọc và phát). Khi cô phát thanh viên xướng lên. đây là đài truyền thanh… thì vừa lúc đó anh biên tập viên lợi dụng phòng bá âm luôn phải đóng kín cửa nên đã cầm tay cô ta… Do quên mất mình đang phát thanh, cô phát thanh viên kêu lên “buông tay em ra”! Thế là cả huyện đã nghe được câu: “đây là đài truyền thanh… buông tay em ra!” Những bài giảng của tôi như thế luôn được các em hưởng ứng, không em nào bỏ học giữa chừng. Cuối khóa học đều có phát chứng chỉ tốt nghiệp lớp nghiệp vụ phát thanh, truyền thanh cho Đài tỉnh cấp nên các em rất phấn khởi. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 3, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/03/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-21/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 22): https://www.minds.com/newsfeed/1019885317801615360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 20): https://www.minds.com/newsfeed/1019883660420632576?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
16 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 20) Lại kể tiếp về những năm tháng cuối cùng của tôi ở Đài Truyền hình. Tôi tiếp tục làm những phim ở ngoài trời để tránh phải vào đấu đá ở trường quay. Nhưng với chính sách hoang tưởng của những người kiêu căng sau chiến thắng 1975 như cải tạo tư sản Sài Gòn, tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH, sáp nhập tỉnh, xây dựng các huyện trong cả nước thành 500 pháo đài XHCN, kể cả tham vọng làm bom nguyên tử, dời thủ đô lên Tây Nguyên làm bá chủ vùng Đông Nam Á của TBT Lê Duẩn vv… vv… đất nước đã đi vào ngõ cụt. Chưa bao giờ cán bộ và nhân dân Hà Nội khốn khổ như thế. Và tất nhiên là các địa phương còn khốn khổ hơn. Viết cuốn sách 1000 trang cũng không thể nói hết về sự đói khát của nhân dân thời đó, tức từ năm 1975 đến cuối năm 1980, đến 1981 khi tôi rời Hà Nội vô Nam. Nghe nói sau đó còn tệ hơn. Một buổi sáng, tôi đèo cái can nhựa sau xe máy đi mua dầu hỏa theo tem phiếu để nấu ăn bằng bếp dầu (thứ bếp thịnh hành thời đó). Khi tôi dừng xe ở chợ Mơ để mua gói thuốc lá chợ đen giá cao, tôi thấy một chị công nhân nhà máy dệt 8-3 mặt xanh xao, người gầy ốm đang ngồi xụt xịt khóc. Lúc đó chị đi làm ca đêm về, tôi hỏi: “Sao chị không về nhà đi?” Chị không trả lời ngay mà vẫn khóc, gặng hỏi mãi chị mới kể cho biết người chồng đã ốm suốt cả tuần nay, anh chỉ thèm có một bát cháo thịt. Cho thuốc gì anh cũng không uống, chỉ nói: cho bát cháo thịt là khỏi ngay! Chị không đủ tiền mua 1kg thịt của “con phe” (thời đó những người bán thịt rong bị gọi là con phe). Chị năn nỉ một “con phe” bán cho 100 gram vì không đủ tiền mua cả 1 kg, và chị sẽ trả cao hơn giá bán (chẳng hạn 10 đồng/kg, chị trả 11 đồng). Nhưng con phe đã không bán mà còn chửi té tát vào mặt chị: không có tiền thì ăn máu L… đừng hỏi mua thịt! Chị tủi thân quá, thương chồng nên khóc… Thời đó những công nhân đi làm ca đêm và những người không có thời gian đi xếp hàng phải bán tem phiếu cho “con phe”. Con phe móc ngoặc với mậu dịch viên để mua được thịt ngon bằng tem phiếu, sau ra ngoài bán lại cho người dân giá cao kiếm chênh lệch. Và đó là nguồn sống của chính họ. Nghe chuyện chị kể, tôi an ủi chị đừng khóc nữa và cứ ngồi yên đó, tôi sẽ đem về cho 100 gram thịt. Nói xong tôi phóng xe lên cửa hàng thực phẩm tận chợ Cửa Nam, nơi bà chị gái thứ hai làm cán bộ mậu dịch ở đó để có được 100 gram thịt nạc. Tôi vẫn còn nhớ rõ sự sung sướng của chị ngày ấy và đó là việc có ích nhất là tôi làm được trong cả đời cầm bút của mình. Có phải thế không, hỡi bạn đọc vĩ đại của tôi! Tình hình kinh tế đất nước ngày một bi đát vào những năm 1978-1979-1980… trong khi đó hai đứa con trai của tôi đang độ tuổi lớn. Một đứa 7 tuổi, một đứa 9 tuổi. Vợ tôi lương giáo viên cấp 2 ít ỏi. Tôi lương phóng viên bậc thấp, không chức không quyền chẳng có bổng lộc gì nên gia đình càng ngày càng túng thiếu. Vợ tôi ngày nghỉ phải nhảy tàu về Cẩm Giàng, nơi cô ta dạy học trước đây để đem mì sợi, thứ bột mì được kéo thành sợi bán vào tiêu chuẩn lương thực hàng tháng của cán bộ công nhân viên nhà nước để đổi lấy gạo ở các chợ quê. Đổi như thế lợi hơn nhiều, vì ở nhà quê bà con mò được con cua con ốc, nấu thành canh ăn với mì sợi thay bún rất lạ miệng, rất ngon. Hàng ngày vợ tôi ngoài công việc ở cơ quan là cắm đầu vào đan len thuê để kiếm thêm chút tiền mua gạo cho hai thằng con đang tuổi ăn, tuổi lớn. Tướng Qua từ ngày được đeo lon tướng, tuy chức vụ vẫn là cục trưởng nhưng hàm thì ngang thứ trưởng nên có xe riêng, được lãnh sổ mua hàng ở cửa hàng cao cấp Tôn Đản. Bà thím tôi vì thương vợ chồng tôi lương ít nên mỗi lần đi mua sắm ở Tôn Đản đều hẹn vợ tôi lên nhà và cho đi theo. Cái gì bà mua thì mua, còn lại cho vợ tôi mua. Vợ tôi mua những thứ linh tinh ở cái “chợ của vua quan” đó, đem ra “chợ của nhân dân anh hùng” là vỉa hè bán kiếm chút chênh lệch, thêm thắt vào cuộc sống khó khăn của gia đình. Nhìn vợ tôi ngồi ở vỉa hè, bán những thứ mà “bọn tư bản giãy chết” vứt đi không hết ấy mà phải “ân huệ” lắm mới được bước chân vào “chợ vua quan” Tôn Đản mua ra… tôi ngán đến tận cổ cái Chủ nghĩa xã hội ưu việt mà tôi đang phải sống. Tôi bắt đầu nẩy sinh ra tư tưởng rời bỏ Hà Nội, nơi tôi sinh ra và lớn lên để vào Nam. Cụ thể hơn là vào Đồng bằng sông Cửu Long mà những lần tôi đi công tác đã được thấy tận mắt cảnh trên bến dưới thuyền, “gạo trắng nước trong” và tính tình cở mở, vô tư của đồng bào Nam Bộ. Một lần, đi máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội, tôi phải dành xuất ăn nhẹ được phát trên máy bay (có một khúc bánh mì kẹp thịt, một cái bánh ngọt, một gói đường nhỏ để uống trà …) mang về làm quà của bố sau một chuyến đi công tác dài ngày cho hai thằng con trai đang đói khát ở nhà. Nhìn hai thằng chia nhau mẩu bánh mì và cái bánh ngọt, còn gói đường nhỏ cũng chia nhau… tôi không còn do dự gì nữa cho sự ra đi của mình. Hồi đó, Hà Nội cũng nở rộ chuyện tiếu lâm. Ở các quán nước, được gọi là quán “trà xụp” ở vỉa hè, đâu đâu cũng được nghe tiếu lâm. Chuyện tiếu lâm chủ yếu mang chủ đề chính trị-xã hội. Những chuyện thời đó mà ai cũng biết như: nhà 5 tầng không hố xí, bạn học của anh Ba (Lê Duẩn) … Có điều đáng chú ý là chuyện về TBT Lê Duẩn chiếm vị trí số 1. Có lẽ vì dân Hà Nội quá đói khổ lúc đó, lại luôn phải nghe những lý thuyết hoang đường như “làm chủ tập thể” và những lời hứa hão huyền “mỗi nhà đều có TV, tủ lạnh” của TBT từ sau cơn bốc đồng chiến thắng 30.4.1975 nên các “sĩ phu Bắc Hà” tập trung sáng tác giai thoại về ông ta. Tạm kể mấy giai thoại “ai cũng biết” thời đó, để đời sau… biết những câu chuyện không “chính sử” này. Chuyện kể rằng: có một ngôi nhà tập thể ở Hà Nội được xây tới 5 tầng lầu. Khi xây xong công ty xây dựng mời khách đến khánh thành và tham quan. Quan khách thắc mắc: vì sao tầng 1 lại không có hố xí? Giải thích: vì tầng 1 bố trí làm nhà trẻ cho các cháu mẫu giáo, các cháu ỉa bô không cần hố xí. Đến tầng 2 khách lại thắc mắc vì sao không có hố xí? Giải thích: tầng 2 giành cho sinh viên ở, sinh viên nó ăn gì mà ỉa! Tầng 3 được giải thích là để bố trí cho các nhà văn, nhà báo ở. Họ quen ỉa vào mồm nhau rồi nên không cần hố xí. Tầng 4 được giải thích là bố trí cho các hộ độc thân, và họ ỉa ở cơ quan rồi. Tầng 5 là để bố trí cho các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước ở, họ quen ỉa lên đầu nhân dân rồi nên cũng không cần đến hố xí. Chuyện thứ hai: có một hôm, một anh chàng đến số 6 phố Hoàng Diệu (nhà riêng Lê Duẩn), xin gặp đồng chí TBT. Bảo vệ hỏi: anh quan hệ với TBT như thế nào? Anh chàng kia trả lời: Bạn học cũ! Anh ta liền bị còng tay ngay vì đồng chí Lê Duẩn có đi học bao giờ đâu mà có bạn học! Chuyện thứ ba: có một nhóm phản động, hàng đêm đem cả bị vứt vào số 6 Hoàng Diệu. Công an mang về điều tra thì thấy toàn là sâm nhung quế phụ. Đem xét nghiệm thỉ thấy đây là thuốc bổ thứ thiệt không phải hàng giả. Công an bố trí bắt được nhóm người vứt đồ vào nhà TBT, tra hỏi mãi chúng mới nói thật là, tổ chức phản động nước ngoài cốt làm thế để TBT Lê Duẩn sống mãi, để phá hoại đất nước Việt Nam! Tôi từng đọc sách Marx thấy ông ta nói: giai đoạn cuối cùng của mỗi một hình thái xã hội bao giờ cũng là những tấn hài kịch của nó. Người ta cười để vui vẻ giã từ quá khứ. Tôi càng nghe nhiều giai thoại ở Hà Nội lúc đó, ý chí đi Nam của tôi càng tăng. Cảnh túng bấn đói khổ của thời bao cấp lúc đó không riêng gì của gia đình tôi. Nhưng với tôi còn cộng thêm những mâu thuẫn về cách sống, lối sống của tôi với ông bố tôi. Những phát biểu về các vấn đề chính trị của tôi khác với quan điểm của nhiều người trong gia tộc nên tôi thấy quyết định ra đi là đúng nhất. Thấy tôi làm đơn đi khỏi Đài truyền hình trung ương, lại đi về một nơi là Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang mà không phải là TP HCM, các bạn bè và đồng nghiệp ở Hà Nội đều rất ngạc nhiên. Vì lúc đó Đài truyền hình trung ương là một cơ quan sáng giá vào loại bậc nhất ở Hà Nội. Truyền hình là phương tiện truyền thông hấp dẫn và thời thượng lúc đó. Các bà vợ, cô chiêu cậu ấm, các ông lớn ở Hà Nội lúc đó đều mê truyền hình. Ông Trần Lâm, chủ nhiệm Ủy ban phát thanh và Truyền hình Việt Nam luôn nhận được điện thoại từ các vị Bộ chính trị, Ban bí thư… là truyền hình ở nhà họ bị trục trặc, cần phải sửa chữa ngay. Chả thế mà Đài TH có cả một đội ngũ kỹ sư giỏi, đứng đầu là ông Trịnh Lý Thản luôn tất bật đi xử lý các sự cố kỹ thuật ở các nhà quan lớn. Phóng viên, biên tập viên của Đài Truyền hình trung ương lúc đó có giá lắm. Hội nghị nào mà truyền hình chưa đến thì dù báo chí đã đến đủ nhưng vẫn chưa khai mạc được. Ai cũng muốn lên truyền hình. Vấn nạn xin xỏ, mè nheo, làm tiền của các nhà báo truyền hình đã nẩy nở từ những ngày đó, mở đầu cho sự tha hóa của báo chí quốc doanh cho đến bây giờ. Đương làm việc ở cơ quan sáng giá như thế giữa thủ đô mà tôi lại xin về một tỉnh lẻ thì bạn bè thắc mắc là phải. Có người bạn thân hỏi tôi đã nghĩ kỹ chưa? Tôi đã trả lời anh bạn tôi là đã nghĩ kỹ lắm rồi. Tôi đã thấy có bệnh viện ở Hà Nội còn đem cả xe cứu thương gắn chữ thập đỏ chạy vào Nam mua gạo… thì còn gì để nói! Thấy ông viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật Đường Hồng Dật phải nuôi lợn trên căn nhà tận gác tư chật hẹp của gia đình ông thì có gì để mà nói nữa! Cái thìa trong cửa hàng café mậu dịch phải đục thủng lỗ để khách hàng khỏi lấy cắp thì có gì mà luyến tiếc nữa! Chỉ có một người ủng hộ việc ra đi của tôi là nhà báo Trần Minh Tân. Anh nói: cậu vô Đồng bằng sông Cửu Long là đúng lắm. Đó là vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước. Nước này muốn sống được phải dựa vào đồng bằng Nam Bộ. Đó là vùng đất mới, còn nhiều vấn đề phải viết, có rất nhiều đề tài để viết. Chúng ta là người cầm bút thì nơi nào có đề tài, nơi đó là nơi phải đến. Anh còn gợi ý tôi cụ tể: người ta có bài hát “Dáng đứng Bến Tre” nổi tiếng. Vậy thì bây giờ “Dáng đi Bến Tre” là gì? Phải trả lời câu hỏi đó. Phải viết một bài với cái “tít” như thế. Anh Tân quả là một nhà báo bậc thầy. Sau này, nhân kỷ niệm 10 năm đất nước thống nhất 1985, tôi đã viết bài báo nhan đề như thế, đăng trang nhất báo Đại đoàn kết, được đồng chí bí thư tỉnh ủy Hai Chung đem bài đó ra đọc trong một phiên họp toàn thể của Đảng bộ Bến Tre. Lúc đó, đồng chí Hai Trung chưa biết tác giả là ai. Lúc tôi lên đường anh Minh Tân lại vỗ vai tôi dặn: ở nước ta ở nơi đâu cũng có nạn cục bộ địa phương, điển hình là tỉnh Hải Hưng của tôi. Hai tỉnh Hải Dương và Hưng yên khi sáp nhập lại đánh nhau quanh năm. Vì thế mà bây giờ mới có tên là tỉnh “Hải Hùng”! Cậu vô trong đó, chỉ làm khách, không làm chủ, tập trung viết (ý anh nói không nên tham gia tranh chấp gì). Tôi đã làm theo đúng lời căn dặn của người bạn vong niên Trần Minh Tân suốt hơn 30 năm sống ở đất Nam Bộ. Tuy nhiên cuộc ra đi của gia đình tôi vẫn gây bất ngờ, gây một cú sốc cho cả dòng họ, vì tôi là “đích tôn”. Bà thím thứ ba của tôi (bà Ba) người mà tôi rất kính trọng về tư duy chính trị (mà lại không phải là nhà chính trị), lúc chia tay đã nắm lấy tay vợ tôi căn dặn rất thiết tha: chị nhớ chị là dâu trưởng, lại có hai đứa con trai, đi đâu thì đi nhưng phải nhớ dắt con về! Thì ra bà đã nhìn thấy trước sự phá sản của CNXH, sự phá sản của cái gọi là “ngày mai đây tất cả sẽ chung, tất cả sẽ là vui và ánh sáng” (Tố Hữu). Bà đã nhìn thấy trước sự tranh chấp gia sản ở chính gia đình tôi và dòng họ của tôi về cái gia tài gần 2000 mét vuông đất và ngôi nhà ngói vào loại to nhất làng Hoàng Mai, nay là quận Hoàng Mai, nội thành Hà Nội! Khi tiễn gia đình tôi lên tàu ở ga Hàng Cỏ để vô nam, cả tướng Qua và nhiều người đã có mặt. Đó là một buổi sáng u ám trong cuộc đời tôi. (Còn tiếp) ----- Tháng Mười 1, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/10/01/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-20/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 21): https://www.minds.com/newsfeed/1019884908175740928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 19): https://www.minds.com/newsfeed/1019883441955704832?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 19) Nói đến cái gọi là trường quay của Đài truyền hình trung ương, tôi không thể không nhắc đến một nhân vật “độc đáo” của truyền hình Việt Nam là đạo diễn Khải Hưng. Số là, Ban khoa giáo của Đài không có riêng một trường quay để thực hiện các chương trình của Ban như: dậy ngoại ngữ trên Đài, tọa đàm, phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng, thực hiện các tiết mục văn nghệ vv… vv… Mỗi lần ghi hình phải đăng ký trường quay. Đa số các biên tập viên, biên kịch của khoa giáo là những người tốt nghiệp Khoa Học Xã Hội, không thạo về kỹ thuật điện đóm, ánh sáng, âm thanh… Vì thế, mỗi lần thu hình đầu bị các kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật ở trường quay làm khó dễ, “bắt nạt”. Sở dĩ tôi thích đi làm phim ngoài trời từ khi sang truyền hình vì không muốn các nhân viên trường quay, vốn là các “con ông cháu cha” được tuyển vô truyền hình hạnh họe mình. Tình trạng hay cãi lộn thường xảy ra ở trường quay và cuối cùng thì các biên tập viên đều thua vì bị “úm ba la” về kỹ thuật. Trong hoàn cảnh đó của Ban khoa giáo, tôi nghĩ đến Khải Hưng. Anh là giáo viên dậy vật lý ở trường cấp 3 Cẩm Giàng tỉnh Hải Hưng cùng với tôi. Khải Hưng đẹp trai, thông minh, dậy giỏi, và đặc biệt là tính tình của anh rất “du côn”, cuồng loạn. Anh được mệnh danh là “Hưng cuồng” thời còn dạy học cùng tôi. Lúc Khải Hưng bỏ biên chế dạy học về Hà Nội, sống lang thang và chưa có việc làm ổn định. Tôi đề xuất “sếp” Hán nhận Khải Hưng về Ban khoa giáo. Với lý lịch giáo viên cấp 3, anh làm khoa giáo là hợp lý. Với trình độ chuyên môn vật lý (điện, ánh sáng, tiếng động…) của anh, thì các biên tập viên không ai còn bị lo “bắt nạt” khi Khải Hưng có mặt trong trường quay. Rất may là “sếp” Hán nghe bùi tai nên nhận anh về Ban. Nhưng khi nghe tin Khải Hưng sắp được nhận về truyền hình thì chính người cậu của anh là Ph.D Ngoạn, cục trưởng Cục kỹ thuật của Đài lại nói với ông Hán: thằng Khải Hưng mất dậy lắm, không nhận nó về Đài được. Nghe vậy, “sếp” Hán giận lắm, ông gọi tôi lên phòng và nói lại lời của Ph.D Ngoạn. ông còn đay nghiến: Mày giới thiệu cho tao một thằng mất dậy đến nỗi chính cậu nó cũng không muốn nhận. Tôi bình tĩnh nói với thủ trưởng của mình: chúng ta đang rất cần một thằng mất dậy để trị những thằng mất dậy trong trường quay là gì? Tôi đã tìm được đúng người, đúng việc cho Ban ta còn gì nữa. Sau đó “sếp” Hán xuôi tai liền nhận Khải Hưng về Đài. Y như rằng, từ khi có Khải Hưng, trường quay không còn cảnh cãi lộn. Không ai qua mặt được anh về khâu điện, ánh sáng, âm thanh… mà trước đây các biên tập Ban Khoa giáo bị bịp, bị bắt nạt. Thấy Khải Hưng có khả năng, Đài cho anh đi học một khóa đạo diễn. Học xong về Đài anh làm được một phim truyện nổi tiếng, đó là phim “Lời nguyền của dòng sông”, chuyển thể từ truyện ngắn “Mùa hoa cải bên sông”. Công bằng mà nói, công của nghệ sĩ nhân dân Trịnh Thịnh sắm vai ông lão thuyền chài trong phim này rất lớn. Trịnh Thịnh lớn tuổi nên ông hiểu được tâm lý, tác phong của người già nên vào vai diễn rất đạt. Nhờ có diễn viên gạo cội Trịnh Thịnh góp sức mà Khải Hưng làm được phim truyện nổi tiếng này. Khi đã trở thành một đạo diễn nổi tiếng, Khải Hưng vào Đảng và trở thành giám đốc của Hãng phim truyền hình Việt Nam (thuộc Đài THVN). Anh ta vẫn “cuồng” như xưa. Khi làm phim, Khải Hưng luôn mồm chửi diển viên: địt mẹ con đĩ… mày diễn thế à! Có lần gặp một đoàn phóng viên truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ, tôi hỏi chị em: thằng Khải Hưng dạo này còn chửi bới luôn mồm không? Chị em ngạc nhiên quá. Sao ở tận Cần Thơ mà anh rành Khải Hưng thế!? Vợ tôi mỗi lần xem truyền hình thấy Khải Hưng phát biểu, lại bảo tôi: chú Hưng lại ba hoa anh ạ! (chả là khi còn dạy chung ở trường Cấp 3 cùng tôi, vợ tôi vẫn gọi Hưng là chú vì y ít tuổi hơn tôi nhiều). Anh Ngô Như Hà, giáo viên dậy hóa cùng trường với chúng tôi, vì bị bệnh phổi, không dạy học được nữa nên anh xin nghỉ và về Hà Nội. Để kiếm sống, anh ngồi sửa xe ở trước cửa nhà mình (số 102 đường Minh Khai). Nhà Khải Hưng ở làng Quỳnh Lôi, hàng ngày anh đi làm phải qua Minh Khai. Có lần tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội có đến chơi thăm Hà. Vợ anh bảo: chú Hưng ngày nào cũng đi qua đây, nhưng thấy anh Hà nhà em thì quay mặt đi. Người phụ nữ miền Bắc gọi bạn của chồng mình bằng “chú” là thân tình lắm. Tức là có một thời gian dài họ đến nhà nhau chơi, đến mức vợ có thể xưng hô với bạn của chồng một cách thân mật bằng chú! Báo chí “lề phải” nhất là tạp chí truyền hình VTV, nhiều khi “bốc” Khải Hưng đến mức tôi đọc thấy phát ngượng cho cả người viết và người được viết về mình. Một thiết chế đặc quyền phương tiện thông tin thì “bốc” ai lên mà chả được. Nhân cách cứ thế mà xuống thấp dần, tha hóa dần vì không có thông tin đa chiều. Nói đến truyền hình Việt Nam mà không nói đến Tổng giám đốc Vũ Văn Hiến thì thật là thiếu sót. Hiến học ở Ba Lan về. Khi tôi về Ban miền Nam của Đài cuối năm 1974 thì Hiến đang là phóng viên của Ban. So với các cây bút như Trung Ngôn, Viễn Kính, Phan Đắc Lập, Trúc Thông, Nguyễn Thị Quý, … thì Hiến là một phóng viên mờ nhạt. Sau 1975, Ban miền Nam giải tán, Hiến lại về làm việc cùng phòng với tôi ở chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XHCN”. Hiến là đề tài cho cả phòng bình luận về sự ngô nghê, ngớ ngẩn của anh. Vợ đẻ con so, anh hỏi tôi: vợ tôi có ăn cà chua được không? Tôi trả lời: có! Vài bữa sau anh lại hỏi tôi, vì biết tôi đã có 2 con: vợ tôi có ăn cá mè được không? Tôi giả vờ suy nghĩ ít phút rồi vỗ trán trả lời: được! Phòng tôi được phân phối một cái giấy đi viếng lăng Bác. Trong giấy cho phép đi 4 người. Tôi và anh Hiến cầm giấy phép đi lên lăng Bác. Khi vô cửa, công an gác cửa xem giấy hỏi: sao giấy 4 người lại đi có 2 người. Hiến mau miệng trả lời: một đồng chí vì đi ỉa chảy…!!! Viên công an trợn mắt quát: vô ý thức với Bác! Tôi thấy vậy kéo Hiến lại rồi cả 2 ra về. Nhất định tôi lôi anh phải đi về. Đi được một đoạn xa tôi mới bảo hiến: sao mày ngu thế, mình là nhà báo, chỉ cần nói là 2 đồng chí đi tháp tùng các vị lãnh đạo có phải êm không. Thằng công an kia, mình vô ý thức với nó đã đủ chết, đằng này nó lại nâng quan điểm lên là “vô ý thức với Bác” thì chỉ có nước đi tù mọt gông. Tao phải kéo mày về vội là vì thế(!) Hiến vừa đi vừa làu bàu: hồi ở Liên Xô chính tôi đã dẫn các ông lãnh đạo Việt Nam đi viếng lăng Lê Nin. Vậy mà về nước, viếng lăng Bắc củng không được. Ngẫm nghĩ một lát, Hiến than phiền: hễ đi viếng lăng là thế nào cũng có giai thoại, rồi Hiến kể cho tôi nghe câu chuyện đi viếng lăng Lê Nin. Kể: ở Liên Xô hồi đó, thanh niên Nga bắt chước bọn hippy phương Tây để tóc dài, râu dài… lệnh trên xuống là ai tóc dài râu dài không được vô viếng lăng. Thế là một hôm Lê Nin bật nắp quan tài kính dậy, đi ra cửa lăng, tát cho tên thiếu tá chỉ huy canh gác lăng một cái nổ đom đóm mắt. Rồi mắng rằng: từ nay những đứa tóc dài cũng phải cho vào viếng, có phải đứa nào cũng đầu hói như tao đâu(!) Tôi đem câu chuyện đi viếng lăng Bác với Hiến kể cho anh em trong Đài nghe. Ai cũng ôm bụng cười. Chưa hết, khi đoàn nhà báo ở Đài truyền hình Ba Lan sang ta đi thực tế để quay phim về nhà ổ chuột ở Sài Gòn (để tố cáo xã hội Mỹ ngụy), Hiến được cử đi phiên dịch. Quay phim xong, xe chạy ngày đêm từ Sài Gòn ra đến Hà Nội thì trời đã tối không thuê được khách sạn. Một vị trong đoàn Ba Lan đề nghị: về nhà thằng Hiến ngủ tạm một đêm. hiến nghe thấy thế sợ quá, bỏ luôn các bạn đồng nghiệp trên xe… rồi biến mất. Hôm sau anh đến cơ quan kể lại sự việc này với chúng tôi rồi kết kuận: nhà tôi trong khu tập thể ở Đại La còn… hơn cái khu ổ chuột ở Sài Gòn(!). Chưa hết, khu tập thể của Đài “còn hơn cái ổ chuột” bị cháy. Hiến lao về… thì thấy bà mẹ anh đã chạy được hộp đựng tem phiếu ra sân và đang ngồi thở. Anh hỏi: cháu đâu (tức thằng con anh). Bà mẹ mới hoảng hồn chỉ vào trong nhà. Hiến lao vào bê thằng con ra khi lửa đã bén vào gần đến chiếc nôi(!) Kể lại câu chuyện này cho mọi người nghe, tôi vẫn còn nhớ một lời “bình luận” đau điếng thế này: bà mẹ này thật là thông minh khi cứu hộp tem phiếu trước, vì nếu cháy hết tem phiếu thì sẽ chết cả nhà! Có câu chuyện nào tố cáo thời bao cấp lại hay hơn chuyện này? Xin bạn đọc chép lại cho đời sai để con cháu chúng ta biết về một thời XHCH! Khi tôi rời Đài tuyền hình trung ương vô Nam đầu năm 1981 thì Hiến vẫn còn là phóng viên ở Đài THVN. Vậy mà không biết bằng con đường nào mà Vũ Văn Hiến trở thành ủy viên trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài THVN nhanh như thế! Khi là ông ủy viên trung ương rồi, một lần Hiến vô Sài Gòn, Hữu Tính xưa kia là trợ lý của trưởng Ban miền Nam Đài tiếng nói Việt Nam, người đã cùng tôi đi phỏng vấn Gs Tôn Thất Tùng như đã kể ở phần trên, bảo với Hiến: anh Thái Bảo thủ trưởng của tớ và cậu ở Ban miền Nam trước kia hiện đang bệnh nặng bây giờ cậu là ủy viên trung ương rồi, tớ biết nhà anh Thái Bảo để tớ đưa cậu đến thăm động viên anh thì tốt biết mấy… nhưng Hiến lờ đi. Chỉ ít lâu sau, anh Thái Bảo, vị thủ trưởng đáng kính của chúng tôi qua đời. Hôm tiễn đưa anh, Hữu Tính vẫn nhắc đến chuyện “thằng Hiến nhiều lần tôi đã bảo nó đến thăm anh Thái Bảo mà nó cứ lờ đi!” Hiển nổi tiếng là người hay đi thăm hỏi và quà cáp cho cấp trên từ lâu rồi, nhưng chỉ là người còn chức quyền thôi, không phải là người đã nghỉ hưu như anh Thái Bảo (mà anh em ở Đài tiếng nói Việt Nam rất yêu quý, kính trọng). Anh Thái Bảo còn là thư ký riêng cho tướng Nguyễn Bình và là một cán bộ lãnh đạo mẫu mực. Trong các phương tiện truyền thông thì truyền hình phải đầu tư cơ sở vật chất tốn kém nhất. Hiến vướng vào những vụ tham nhũng khi xây dựng các công trình ở Đài truyền hình. Dư luận đã ầm ỉ một thời gian, nhưng giống như hàng ngàn ông quan tham khác, y vẫn hạ cánh an toàn. “Triều đại” của Hiến đã để lại cho Đài truyền hình một lớp cán bộ thật “ấn tượng”. Điển hình là Lại Văn Sâm. Một Việt Kiều ở Pháp vô tình biết tôi từng làm phát thanh và truyền hình đã kể rằng, khi Lại Văn Sâm qua Pháp làm việc, đồng bào yêu quý các nhà báo của quê hương nên đã tổ chức nhau mời Lại Văn Sâm một bữa cơm. Thấy các món ăn sơ sài quá, Lại Văn Sâm đã trừng mắt nói: mời Lại Văn Sâm mà thế này à? Nghe xong tất cả mọi người kinh ngạc về nhân cách văn hóa thấp kém của Sâm. Theo tôi, có lẽ Lại Văn Sâm quen đi các địa phương ở trong nước được các quan chức lấy tiền thuế của dân ra đãi những bữa tiệc vừa ăn vừa đổ đi nên quen thói rồi. Anh chàng MC mồm mép như anh bán thuốc dạo trên tàu điện ở Hà Nội ngày xưa, có hay đâu đồng bào xa xứ của mình phải vất vả mới kiếm được miếng ăn ở xứ người, vì yêu mến quê hương mà gom tiền lại đãi đằng nhà báo Việt Nam. Đồng bào đã bất ngờ khi thấy thái độ của Sâm như thế – một nhà báo XHCN! Khi tôi viết báo “lề trái” trên mạng, đôi lần có nhắc đến “Lại Văn Sâm khua môi múa mép trên truyền hình” thì lập tức có nhiều comment hưởng ứng ngay. Thì ra người xem truyền hình ở Việt Nam rất ghét khi thấy Lại Văn Sâm xuất hiện. Ở các nước văn minh MC truyền hình phải được khán già ưa thích, không thì phải thay ngay, vì người ta luôn luôn thăm dò ý kiến khán giả qua các hình thức trưng cầu dân ý. Ở ta, cứ Đảng phân công là người ta cứ nhâng nháo vác mặt lên truyền hình quốc gia! Trong thời gian công tác ở Đài truyền hình trung ương, có một sự cố lớn ảnh hưởng đến tư tưởng và dẫn đến quyết định sự ra đi của tôi khỏi “miền Bắc XHCN”, khỏi Hà Nội nơi tôi sinh ra. Đó là vào cuối năm 1978, tại nhà hát lớn Hà Nội diễn ra hội nghị khoa học toàn quốc. Tôi đến dự, nói đúng hơn là đến hành nghề. Trí thức cả hai miền Nam Bắc về dự hội nghị quan trọng này. Khi thủ tướng Phạm Văn Đồng đến, cả đại hội đã vỗ tay kiểu “đại hội” như tôi đã giới thiệu kiểu vỗ tay này ở đầu sách. Người trong ban tổ chức giới thiệu: người anh cả của khoa học đã đến dự với chúng ta. Lại vỗ tay. Tôi nói với vị trí thức ngồi cạnh tôi: giả sử lát nữa có đồng chí Lê Duẩn đến thì không biết người ta sẽ giới thiệu thế nào? Không lẽ phải giới thiệu là “người anh cả đỏ đã đến”. Vị đại biểu này không nói gì(!) Khi tham luận có một nữ đại biểu ở Tổng cục khai hoang nêu khó khăn không thể khai hoang 50 vạn héc ta trong một thời gian như chính phủ lên kế hoạch. Phạm Văn Đồng rung chuông đuổi xuống. Chị ta cứ nói: khai hoang 50 vạn héc ta thì xin phép phải được nói dài(!) Lại rung chuông. Vẫn nói. Lại rung chuông… Khi giải lao, các vị đại biểu vây quanh người phụ nữ rắn rỏi này. Có người nói: chị gan quá. Thủ tướng rung chuông nhiều lần mà cứ nói không chịu xuống. Chị trả lời: các anh là đàn ông, nhiều tham vọng. Tôi là phụ nữ, tôi không có tham vọng nên tôi nói thật(!) Ai cũng hiểu chị ta muốn nói đàn ông các anh hèn lắm. Vì tham quyền cao chức trọng, bổng lộc nên ngậm miệng ăn tiền. Viết đến đây tôi nhớ bài thơ mới đọc hôm 18/2/2013 của tướng Phạm Chuyên mang tên “Người hèn”, đăng trên trang mạng Ba Sàm. Vừa mới đọc có đôi lần mà đã thuộc vì nó hay quá: “Đất nước ngàn năm / hiếm kẻ bán nước / có nhiều nhặn gì đâu / một Trần Ích Tắc / một Lê Chiêu Thống / một Hoàng Văn Hoan / đất nước ngàn năm / quá lắm người hèn / hèn vì quyền cao chức trọng / hèn vì nhà cao cửa rộng / hèn vì miếng cơm manh áo / hèn vì vợ dại con thơ / hèn vì danh hão danh hờ / hèn mà còn nhận ra / mình là thằng hèn / là hèn tử tế / hèn ngậm miệng ăn tiền / hèn nhơ bẩn / hèn … / hèn bất nhân / hèn bán đất bán nước / trờ chu đất diệt / hèn ơi! Đất nước ơi!” … Thấy đại biểu túm tụm, Phạm Văn Đồng đến. Ông hỏi một trí thức ở Sài Gòn ra họp: trong ấy tình hình nghiên cứu khoa học thế nào? Vị này thưa: trong phòng thí nghiệm đến H2O cũng không có! Ông hỏi vị trí thức thứ hai, vị này thưa: chúng tôi phải tẩy xóa bằng cái nút lọ penicillin thay cho cục gôm! Thế là thủ tướng cười: Ha ha ha! Cái cười rất Phạm Văn Đồng. Thế là mọi người cười theo. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam là anh Hà Việt đã nhanh tay bấm máy được cái hình mọi người cười rất tươi, cười hết cỡ. Cuối hội nghị, thủ tướng chỉ đạo. Ông ta nói: chúng ta làm khoa học kỹ thuật theo cách của Việt Nam, như Cù Chính Lan chạy tắt rừng để đón đầu đánh xe tăng. Chúng ta phải đi tắt, đón đầu, đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm… Lại vỗ tay! Tôi muốn dừng ít phút ở đây để nói về phương Tây. Tôi vừa đi theo một chuyến máy bay DC chở cá mè bột (cá giống) vào Nam và theo máy bay chở cá giống bố mẹ rô phi ra Bắc cùng mấy anh em cán bộ kỹ thuật của Bộ Thủy Sản và các bác nông dân nuôi cá ở một hợp tác tác xã của huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Lúc lên máy bay, phi công xem giấy tờ thấy tôi là nhà báo. Anh ta không cho đi. Lý do: máy bay cất cánh những giờ cuối cùng rồi cho vào nghĩa địa vì “hết đát”. Tôi là nhà báo, phải bảo vệ tính mạng cho tôi. Tôi cự lại: Đảng và nhà nước đào tạo một phi công như đồng chí tốn kém gấp 10 lần một anh phóng viên ốm yếu như tôi. Các đồng chí quý giá hơn tôi 10 lần, cả về thể chất con người nữa, mà đi được thì sao tôi không đi được? Anh chàng phi công phát cáu: ông nhà báo lắm lý sự quá. Thôi mời ông lên. Thế là tôi được đi những giờ phút cuối cùng của loại máy bay mang mác DC ở Việt Nam. Lên máy bay rồi, tôi lại còn đòi ngồi ở cabin để còn… quan sát. Cabin máy bay DC chỉ ngồi được ba người. Phi công, thợ máy và dẫn đường. Vì máy bay bay ở độ cao 300 mét nên người dẫn đường cầm một xấp bản đồ, nhìn xuống thấy rõ mổn một từng địa phận máy bay bay qua. Máy bay chỉ bay tốc độ 300 km/h nên quan sát rất dễ. Tôi ngồi bệt xuống chân, giữa 2 người thợ máy và dẫn đường. Lúc bay đến Nam Định, anh thợ máy nói: lúc nãy nói chơi vậy thôi, chứ máy bay có tới 56 cái đồng hồ trục trặc cái gì là báo ngay để xử lý. Đi máy bay là an toàn nhất. Tôi nhìn theo ngón tay của người thợ máy và đếm đủ 56 cái đồng hồ trên tableau trước mặt. Cái máy bay như thế mà đã vứt vào nghĩa địa vì nó được bay hết giờ quy định của hãng chế tạo ra nó. Phương Tây là như thế. Tôi nghĩ, 100 năm nữa chưa chắc nước ta đã làm nỗi một chiếc máy bay từ A tới Z như cái DC tôi vừa đi. Tôi chưa thấy ai bốc phét như ông Phạm Văn Đồng “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm nữa…!!!” Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi. Chỉ có phụ nữ là dám nói sự thật. Ôi, phụ nữ Việt Nam anh hùng quá. Đất nước đáng tự hào về họ quá. Họ chính là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu… Ngày hôm sau của cuộc hội nghị quan trọng đó, cô nhân vật đánh máy của cơ quan tôi cầm tờ báo Tiền Phong có tấm hình phóng viên Hà Việt chụp đến khoe với tôi: anh Phú Khải có cái hình đẹp quá, đứng cạnh thủ tướng và đại tướng. Tôi cầm bức hình mà hôm qua “bị” chụp xem. Rồi nói rõ xuất xứ của những cái cười hết cỡ trong ảnh và kết luận: như thế mà cười được thì là vô liêm sỉ, chỉ có tôi là còn chút liêm sỉ nên không cười(!). Mọi người đứng quanh tôi không ai nói gì cả. Vài ngày sau vợ tướng Qua nhắn vợ tôi lên nhà bà gấp. Bà cho hay những gì tôi nói về bức ảnh chụp Phạm Văn Đồng đã đăng báo… đã được phản ánh về Bộ Công An. Bà nói: thằng Thanh, chồng con Tuyết nó đến tận nhà báo cáo với chú chị mà nó vừa nói, vừa thở, vừa run… “thằng Thanh” như lời bà thím tôi là Nguyễn Thanh, cục trưởng Cục xử lý tin tức Bộ Công An. Còn “con Tuyết” là con ông chú thứ hai của tôi, cô đang làm phó Ban tài chính và quản trị trung ương. Nguyễn Thanh phải gọi tướng Qua là bác, (bác vợ). Sự thể là như thế. Bà thím tôi còn nói: mày về bảo chồng mày ăn nói phải giữ mồm giữ miệng không thì mang họa vào thân. Ông Qua ông ấy giận thằng cháu đích tôn lắm. Lúc thằng Thanh báo cáo xong, ông ấy đập tay xuống bàn! Cái hồi tôi đi làm nhà nước hồi đó, lý lịch là số 1. Lý lịch phải khai đầy đủ cả họ nội, họ ngoại. Nên việc tôi là cháu ruột của tướng Qua, bên an ninh họ đều biết (nhất là an ninh được “cài” vào một cơ quan như Đài truyền hình trung ương). Vì thế tướng Qua bực mình là phải. Chủ nhật tuần lễ đó, ông xuống tận nhà tôi ở Hoàng Mai mắng tôi một chập. Tôi cãi “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng 20 năm thì rõ là hoang đường rồi còn gì?” Nghe xong ông nói: “Đúng thế, nhưng người phát ngôn không phải là cháu!” Trời đất thiên địa ơi! Chân lý thì ai nói ra mà chẳng được. Từ trước công nguyên Aristote đã từng nói “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!” Phương Tây là như vậy nên họ mới có máy bay DC. Còn phương Đông thì chỉ thầy mới đúng, còn trò thì không bao giờ được cãi thầy… Thì ra ông chú yêu quý của tôi cũng có một ông Khổng Tử ở trong đầu. Các cụ ta bảo, học nói chỉ mất 3 năm, nhưng học im lặng phải mất 60 năm. Nếu phải như bây giờ thì tôi không cãi, tôi im lặng nhận lỗi thì chú Qua tôi vui lòng ngay. Nhưng tuổi trẻ là thế, tôi cãi. Tướng Qua giận lắm. Sau đó ông còn đến cả Đài Truyền hình gặp lãnh đạo Đài. Khi ông đeo lon tướng vô cửa, đồng chí công an gác đài đã đứng nghiêm chào, không dám hỏi giấy tờ. Sau buổi ông đến Đài, “sếp” Hán vỗ vai tôi cười nói: ông chú mày dọa “bắt” mày đó! … vậy thôi… không nói gì nữa… đúng là “Hán Cao Tổ”!!! Đúng 18 năm sau, năm 1996, tôi gặp ông Phạm Văn Đồng ở tỉnh ủy Cần Thơ, ông đang ngồi nói chuyện với ông Sáu Phan (Nguyễn Hà Phan). Ông đeo một cái kính râm rất to. Lúc đó cả nước đã bước vào thời kỳ đổi mới sau đại hội VI. Các sách vở “lề phải” đều nói đến vấn đề Việt Nam có thể bị tụt hậu so với các nước trong khu vực(!) Vậy là đã gần hết hạn 20 năm để đuổi kịp và vượt phương tây như chỉ đạo của thủ tướng. Vậy tôi có nên vào báo cáo với thủ tướng là ta có khả năng tụt hậu so với các nước láng giềng hơn là “đuổi kịp và vượt phương Tây” như thủ tướng chỉ đạo cách đây vừa đúng 20 năm! Tôi sực nhớ đến dạo ở Hà Nội, mỗi lần thủ tướng đến thăm nơi nào người thư ký đề đến trước dặn mọi người không nên nói điều gì … làm ảnh hưởng đến sức khỏe của ông, nên tôi thôi. Ông Đồng mất vào năm 2000. Tướng Qua, người sĩ quan cận vệ của ông ở hội nghị Geneve năm xưa mất vào năm 2001. Tất cả đã đi vào quá khứ, và kẻ đang viết những dòng này cũng đang trên đường đến… nghĩa trang. Nhưng sự thật lịch sử thì phải rõ ràng công bằng. Chân lý phải quý hơn thầy. Vậy thôi. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 28, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/28/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-19/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 20): https://www.minds.com/newsf...
14 views ·