LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 13) Chương Sáu Chín năm dạy học ở thôn quê Sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm khóa 1963-1966, thầy Nguyễn Đức Nam bảo tôi có muốn ở lại trường làm cán bộ dạy môn văn học phương tây thì thầy đề xuất khoa văn giữa lại, nhưng phải học tiếp bốn năm tiếng Pháp nữa tại khoa Pháp văn rồi mới trở về khoa văn làm phụ giảng Tôi nghe thầy Nam nói sợ quá vì đời sống sinh viên quá khổ cực. Lúc đó có câu “ăn sư ở phạm”, có nghĩa là sinh viên trường sư phạm ăn như sư, ở như phạm nhân. Tôi xin ra trường đi dạy học vì lý do “gia đình khó khăn” về kinh tế. Tướng Qua bảo với mẹ tôi: Khải đã tốt nghiệp đại học thì không thiếi gì việc để nó làm, để tôi xin cho nó về Bộ (CA), khỏi phải đi xa. Mẹ tôi mừng lắm vì chỉ có mình tôi là con trai (tôi có hai bà chị và một em gái). Tôi được ông nội, bà nội rất cưng chiều. Khi học cấp ba rồi, mà về mùa đông, tối đến tôi vẫn nằm ở giữa, ông nội tôi nằm một bên, bà nội tôi nằm một bên, để tôi nằm giữa cho ấm! Vì thế ông bà nội tôi rất ưng ý để tôi công tác ở ngay Hà Nội. Nhưng, tôi biết rất rõ, tôi không có “máu” làm công chức, nhất là làm công an. Vì thế, tôi kiên quyết cầm quyết định của nhà trường, cắt hộ khẩu Hà Nội để chuyển về Hải Hưng nhận công tác, dù biết chắc sẽ về nông thôn dạy học. Tôi được Ty giáo dục tỉnh Hải Hưng lúc đó phân bố về trường trung cấp sư phạm ở huyện Ninh Giang. Trường sư phạm tỉnh đang sơ tán ở xã vùng sâu của huyện. Hôm nhập trường các sinh viên mới ra trường đến nhận công tac ngồi túm tụm ở địa điểm tập trung ghi trong giấy quyết định của Ty. Bỗng một anh chàng đến sau, gác xe đạp rồi lớn tiếng hỏi: văn phòng Đảng ủy nhà trường ở đâu các anh có biết không? Ý anh là muốn giới thiệu với mọi người, anh ta là một đảng viên, tìm văn phòng Đảng ủy để nộp giấy sinh hoạt Đảng. Để vênh vang khoe mẽ với mọi người ngay từ phút đầu. Hồi đó đảng viên hiếm lắm. Anh chàng này sẽ là một giáo viên sáng giá của nhà trường với các “mác” đảng viên này. Tôi thấy cần phải dậy ngay cho anh ta một bài học… đầu đời! Tôi đứng dậy, bảo anh ta: đi theo tôi. Rồi tôi dẫn anh ta đi vòng vèo trong xóm. Đến một cái nhà xí hai ngăn (một thứ nhà vệ sinh rất thịnh hành thời đó ở nông thôn Bắc Bộ), tôi chỉ vào đó rồi nói: đây là chỗ đi ỉa, đi đái. Cậu mới đến từ xa, cần biết chỗ này trước đã, còn văn phòng Đảng ủy thì thư thư cũng được. Anh ta trợn ngược mắt nhìn tôi đầy vẻ căm thù. Lúc sau tôi quay về chỗ cũ, mọi người hỏi tôi dẫn anh ta đi đâu mà lâu thế? Tôi kể lại câu chuyện dẫn anh ta đến nhà xí hai ngăn, mọi người cười ồ. Từ giờ phút đó trở đi, tôi được Đảng ủy nhà trường xem như là một phần tử “bất trị”! Nhưng khả năng giảng dạy của tôi đã lật ngược thế cờ. Nhà trường có hai hệ đào tạo giáo viên cấp hai. Một là hệ 7+3, tức tốt nghiệp cấp 2 rồi học ba năm nữa để lấy bằng sư phạm trung cấp. Một hệ 10+1, tức tốt nghiệp cấp 3 rồi, học thêm một năm nữa rồi ra trường ngay. Hầu hết các thầy giáo mới tốt nghiệp đại học đều xin dậy năm thứ nhất của hệ 7+3, không ai dám nhận dậy hệ 10+1. Tôi xin nhận dậy 10+1 trước sự vui mừng của thầy hiệu trưởng vì đang thiếu thầy cô dậy hệ này và nhiệm vụ của nhà trường là mau chóng đào tạo giáo viên cấp 2 đang thiếu cho tỉnh. Hồi đó ở ngành giáo dục tình Hải Hưng có câu ca “văn như Quán, toán như Cang”. Có nghĩa là thầy Quán dậy văn giỏi nhất, thầy Cang dậy toán giỏi nhất. Thầy Cang đang dậy một lớp chuyên toán cấp 3 của tỉnh, còn thầy Quán đang dậy lớp 10+1 của trường sư phạm mà tôi đang dậy. Thầy Quán được trường đại học sư phạm Việt Bắc mới mở xin lên làm giảng viên của trường, nhưng vì chưa có ai thay thế thầy ở hệ 10+1 của trường sư phạm trung cấp Hải Hưng nên thầy chưa thể đi được. Sau một học kỳ, thầy Quán mời ban giám hiệu và cán bộ bộ môn văn của tỉnh dự giờ lên lớp của tôi, để chứng minh rằng tôi có thể thay thế thầy đứng lớp 10+1. Kết quả là người ta đã đồng ý để thầy Quán chuyển lên dậy đại học và tôi thay thế thầy dậy lớp 10+1. Tới hết niên học 1969-1970 thì lượng giáo viên cấp 2 trong tỉnh đã đủ, trường trung cấp sư phạm giải tán. Tôi được điều về trường cấp 3 của một huyện vùng xa trong tỉnh Hải Hưng rộng lớn, trong khi tôi cần về trường cấp 3 Cẩm Giàng nơi vợ tôi mới sinh con đầu lòng và đang dậy cấp 2 ở đó, rất cần tôi ở gần để phụ giúp gia đình. Trước tình thế này, tôi phải dùng đến thế lực. Hồi đó có câu ngạn ngữ nổi tiếng “nhất thân nhì thế”. Có nghĩa là thân quen thì việc gì cũng xong. Tôi về Bộ Công An gặp tướng Qua và trình bày sự cần thiết phải về huyện Cẩm Giàng. Nghe xong, tướng Qua không nói gì cả, chỉ lấy một mảnh giấy nhỏ ghi mấy chữ. Trong giấy gửi ông Hoàng Sơn, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong giấy chỉ ghi mấy chữ ngắn gọn, đại ý tôi có thằng cháu đích tôn, muốn xin anh cho cháu về dạy học ở Cẩm Giàng. Khi ông Hoàng Sơn xem xong thư, vỗ vai tôi bảo: ông Qua nổi tiếng ở ngành công an lắm, rồi ông gọi cánh văn phòng UBND tỉnh lên bảo làm quyết định của Ủy ban cho tôi về làm việc ở Cẩm Giàng. Tôi cầm quyết định của ủy ban tình với chữ ký của phó chủ tịch thứ nhất phụ trách nội chính đưa cho trưởng phòng tổ chức Ty giáo dục Hải Hưng. Xem quyết định đó xong, ông Lự, tên của trưởng phòng, nhìn tôi lắc đầu! Theo nguyên tắc thì quyết định điều động giáo viên cho trưởng Ty hay phó trưởng Ty ký. Quyết định của tôi lại do Ủy ban tỉnh ký tên. Ty giáo dục phải làm một quyết định lại, điều cô giáo dậy văn đã được điều về Cẩm Giàng đi một trường khác. Thế mới hay cái câu “nhất thân nhì thế” quả là không sai! Tôi dạy học ở Cẩm Giàng đến đầu năm 1974 thì chuyển về Đài Tiếng nói Việt Nam làm phóng viên. Gần chín năm dạy học ở nông thôn, sống ngay trong nhà dân khi ở trường sư phạm, rồi sống trong khu tập thể ở trường phổ thông cấp 3 Cẩm Giàng cũng sơ tán trong làng… tôi có dịp gẩn gũi để tìm hiểu người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Tôi có thể rút ra những nhận xét, những dẫn chứng, những kết luận mà những nhà xã hội học ngồi ở các Vụ, Viện ở Hà Nội không bao giờ có được chỉ bằng những chuyến “đi thực tế”. Thứ nhất, với chính sách hợp tác hóa, ruộng đất bị đưa vào làm ăn tập thể, cha chung không ai khóc, người nông dân đồng bằng Bắc Bộ bị bần cùng hóa và nghèo khổ đến cùng cực. Khi tôi ở Ninh Giang, “trọ” trong nhà một bà cụ có tên là cụ Kịp. Nhà chỉ có hai mẹ con. Anh con trai tên là Hữu. anh này có lẽ vì mắt kèm nhèm nên không trúng nghĩa vụ quân sự. Đó là trường hợp hãn hữu ở nông thôn lúc bấy giờ. Anh Hữu ngày đi làm hợp tác xã, tối về chỉ xoa hai chân vào nhau là lên giường ngủ, không hề có guốc, dép. Anh cũng không có khái niệm đánh răng rửa mặt. Một lần về Hà Nội, tôi mua tặng anh một cái bàn chải đánh răng, một cái khăn mặt và một tuýp kem [thuốc] đánh răng. Mấy hôm sau, tôi thấy tuýp thuốc đánh răng xẹp lép, tôi hỏi làm sao lại hết nhanh thế. Anh Hữu cười hồn nhiên, anh cho biết, thấy thuốc đánh răng thơm và ngọt nên anh đã… ăn hết rồi! Tôi hú hồn. Chẳng may vì thuốc đánh răng mà Hữu làm sao thì tôi… mang vạ. Tôi đành phải hướng dẫn anh Hữu đánh răng bằng muối. Sau hai năm ở Ninh Giang, trường sư phạm dọn về Gia Lộc. Tôi ở trong nhà một ông cụ tên là Vơn. Nhà xây, có giếng nước đàng hoàng. Xưa kia cụ Vơn cũng là loại khá giả. Cụ biết chữ Nho võ vẽ. Hai vợ chồng anh con cả làm hợp tác xã, người con thứ hai đi bộ đội vào Nam, được gia đình xem như đã chết vì không có tin tức gì. Cậu con út tên là Mùi, đi học trường làng. Mỗi khi ăn cơm, chị con dâu ngã cái mâm bằng gỗ dựng ở góc tường xuống, bốc rau để lên mâm. Khi ăn xong, cụ Vơn lấy cái chổi lúa vẫn thường quét nhà để quét mâm rồi lại dựng lên như cũ. Cứ thế năm này qua năm khác, cái mâm cáu bẩn còn hơn cả cái nền nhà. Nhà luôn thiếu ăn, ai cũng xanh xao, bủng beo. Năm 1991, tôi ra Hà Nội để đi Liên Xô, khi về có ít quà, tôi mượn Bộ Thủy sản cái xe con về thăm lại gia đình. Xe đậu ở đầu thôn. Tôi xuống xe hỏi bà bán nước. Cụ Vơn còn không? trả lời: chết rồi! Tôi lại hỏi chị vợ anh Khoát còn không? Trả lời: chết rồi. Tôi choáng váng hỏi: thế thằng Mùi đâu…? Từ đằng xa, tôi trông thấy một người đàn ông đầu bạc xóa chạy lại, vừa chạy vừa kêu lớn: thằng Mùi đây! Cái thằng Mùi bé con học trường làng ngày ấy chỉ 20 năm sau đã trở thành một ông già đen đúa, tóc bạc trắng khi chưa đầy 50 tuổi. Tôi thành kính đặt lên bàn thờ những người đã khuất chút hương hoa của kẻ đã từng trú ngụ trong ngôi nhà này, rồi thắp hương khấn cho vong hồn của họ siêu thoát. Ông cụ Vơn và vợ chồng người con trai cả của cụ là những nông dân cần cù chất phác. Họ rất nghèo nhưng tấm lòng luôn rộng mở, sẵn sàng cưu mang những cán bộ ở thành phố về sơ tán trọ trong nhà họ. Sẵn sàng nhường cơm xẻ áo cho chúng tôi. Những đêm tôi thức chấm bài khuya, chị con dâu thường đem vào phòng cho tôi một đĩa khoai luộc hay một góc củ sắn (khoai mì). Nắm bột mì luộc và bát “súp” khẩu phần ăn của tôi được các cô giáo sinh lĩnh hộ từ nhà bếp mang về… được cụ Vơn bắt con cháu ăn hộ và dành cơm cho tôi ăn. Ở nông thôn, người ta rất kiêng kỵ cho vợ chồng người lạ ngủ trong nhà mình, vậy mà khi vợ tôi đến thăm, gia đình vẫn vui vẻ cho vợ tôi ngủ lại. Tôi hỏi Mùi, bây giờ đã là chủ gia đình có một vợ và hai con, tại sao anh chị Khoát lại chết? Chết vì bệnh gì? Mùi thành thật nói chết vì… ăn no! Rồi Mùi kể hết sự tình đoạn trường hơn 20 năm qua của gia đình cụ Vơn. Sau những năm vô cùng đói khổ của thời kỳ bao cấp và duy trì hợp tác xã, đến khi có chính sách khoán ruộng, (trả ruộng lại cho dân) thì nhà thừa thóc ăn. Vụ thu hoạch đầu tiên của năm trả ruộng đó, anh chị Khóa ăn no quá, ngày nào cũng ăn no kềnh no càng… rồi sinh bệnh chết! Tôi đã hiểu. Cả hai vợ chồng nông dân này đềm vạm vỡ. Do phải ăn đói trong nhiều năm liền, nên tuy to xác nhưng bủng beo, một dạng “Tàu phù” như các cụ ta vẫn gọi bọn Tàu Tưởng năm xưa. Đến lúc có ăn thì lại ăn nhiều quá, cơ thể không thích ứng kịp nên sinh bệnh và khi sinh bệnh lại không có thuốc nên bệnh nặng dần mà chết. Câu chuyện của vợ chồng anh Khoát làm người ta nhớ lại nạn đói năm 1945. Có người đói quá, đói cả tháng, đến khi được ăn một bữa no là chết liền. Gọi là chết no. Những năm dạy học ở nông thôn tôi còn được chứng kiến một trận lụt kinh hoàng vào năm 1971. Năm đó vợ tôi vừa sinh đứa con thứ hai, sau kỳ nghỉ hè về lại trường Cẩm Giàng để chuẩn bị năm học mới thì vỡ đê Văn Thai, một con đê nằm trong hệ thống sông Thái Bình. Ai chưa một lần trong đời chứng kiến cảnh vỡ đê thì không thể hình dung sự tàn phá của nạn hồng thủy. Các cụ ta ngày xưa tổng kết “thủy, hỏa, đạo tặc”. Đặt chữ “thủy” lên đầu trong các thứ họa trên đời là hoàn toàn đúng. Buổi sáng tôi còn đi chợ mua vài con cá, cảnh vật vẫn bình yêu thì xế trưa nước đã từ phía bắc đổ về. Kê cái giường lên bàn cho cao còn để đồ đạc thì ngoảnh đi ngoảnh lại nước đã tràn lên giường. Phải phá trần nhà rút lên trần, kê giát giường mà ngồi. Mấy chục con người, đa số là phụ nữ và trẻ con phải sinh sống cả tháng trời trên cái trần nhà cấp 4 ọp ẹp đó, nếu sập trần thì trẻ con chết hết. Cả tỉnh Hải Dương, gồm cả thị xã Hải Dương ngậm chìm trong nước. Suốt ngày tôi phải lội nước đến cổ đi kiếm buồng chuối xanh hoặc nín thở lặn xuống các ruộng rau muống quanh trường để kiếm chút rau xanh cho vợ và hai đứa con nhỏ. Một đứa 2 tuổi, một mới sanh được đầy tháng. Ấn tượng sâu đậm nhất với tất cả chúng tôi là tiếng kêu tuyệt vọng của đàn trâu trong huyện. Chúng cứ bơi, cứ bơi, ngày này qua ngày khác đến khi kiệt sức thì chết nổi lên. Cả một vùng đồng bẳng rộng lớn như Hải Dương lấy đâu ra một gò đất cao cho trâu trú chân. Đàn trâu cứ bơi, vừa bơi vừa kêu. trong đêm khuya thanh vắng tiếng kêu tuyệt vọng của bầy trâu mới bi oán làm sao. Ban đầu còn nghe thấy nhiều tiếng kêu, sau thưa dần, thưa dần rồi im hẳn. Chúng đã chết hết. Khi nước tràn về, nhưng con vật sống dưới lòng đất hoảng hốt bò lên. Mặt đường tàu hỏa thì chuột và rắn bò lên chạy lụt. Chưa bao giờ người ta thấy chuột và rằn nhiều như thế. Trong cơn hốt hoảng rắn không bắt chuột nữa. Chúng “chung sống hòa bình”. Nhưng khi nước tràn lên mặt đường tàu thì số phận của chúng cũng như đàn trâu bò mà thôi. Chỉ còn có các cây cao là chỗ cuối để rắn cố thủ. Đó là những “cây rắn”. Có người trèo lên cây chạy lụt nhìn thấy rắn sợ quá ngả nhào xuống đất. Thiên tai địch họa thường đến với người nông dân Bắc Bộ như thế. Những năm sống ở nông thôn miền Bắc, tôi còn cảm nhận được điều thứ hai là, thế hệ người già ở nông thôn, nhất là người có chút Nho học, họ bị ảnh hưởng sâu đậm của triết thuyết Khổng Mạnh. Khổng giáo thấm sâu đậm vào từng thớ thịt, từng mạch máu của lớp người này. Họ trọng nam khinh nữ, trọng văn khinh võ, thích những điều sao siêu trừu tượng… Ông cụ Vơn, chủ nhà của tôi, có ngôi nhà ngói duy nhất trong cái xóm nhỏ đó. Nhà có một phòng riêng, lại có giếng nước xây. Các giáo viên sơ tán trong làng ai cũng muốn trọ ở nhà cụ vì nó khang trang nhất. Nhưng cụ từ chối nhiều giáo viên xin ở trọ trước khi tôi đến. Người thứ nhất là một giáo viên dậy thể dục. Anh chàng này cao to, khỏe mạnh, đẹp trai nữa… nhưng cụ Vơn từ chối vì anh chàng này có vẻ… võ biền! Người thứ hai bị cụ từ chối là một giáo viên dậy sử. Anh chàng này bé nhỏ, đầu hói, “mồi thối lửa” (tức mồm bé, môi mỏng). Cụ Vơn xem tướng anh chàng một lúc rồi đi vô nhà, không nói không rằng. Tôi quyết định đến xin ở nhà cụ Vơn. Tôi bảo một cô giáo sinh (học sinh sư phạm) gánh một gánh sách của tôi đi sau, tôi đi trước. Đi từ tốn, đĩnh đạc. Thấy cụ đang quét sân, tôi đánh tiếng chào thật to và nói: cụ định đóng vai Lưu Bị quét sân để đánh lừa Tào Tháo phải không? Cụ Vơn dừng tay chổi, ngẩng lên nhìn tôi từ đầu đến chân rồi lại nhìn cô giáo sinh gánh một gánh sách nặng đi sau. Cô giáo cúi rạp đầu chào cụ chủ theo lời dặn từ trước của tôi. Bổng cụ chủ cười khanh khách rồi cất lời mời tiên sinh vào nhà! Thế là tôi đã thắng lợi nhờ biết tâm lý của các cụ nhà ta, vốn “trọng văn khinh võ”. Ở nhà cụ Vơn, tôi không nói những chuyện cụ thể, toàn nói những chuyện cao siêu, trên trời dưới đất… chuyện Lã Vọng câu cá bằng lưỡi câu thẳng, chuyện Lưu Bị, Quan Công “tam anh chiến” Lã Bố, chuyện Từ Hải chết đứng… mà thôi! Cụ khen tôi, đúng là “người quân tử”. Một hôm tôi đi vắng, thầy hiệu trưởng nhà trường đến chơi, có ý thăm dò nhà chủ xem tôi ăn ở với dân có điều gì chê trách không. Vì lúc đó có nhiều thầy cô ở trọ nhà dân, có vài trường hợp không được lòng chủ nhà, bị chê trách, bất lợi cho “công tác dân vận” của nhà trường. Sau khi biết chuyện thầy hiệu trưởng lại thăm nơi tôi trọ, lúc gặp ông, một cán bộ già dặn, tôi hỏi thẳng: cụ chủ nhà có phê bình gì tôi không, thưa thầy? Thầy hiệu trưởng trả lời: ông cụ chỉ cười lớn và bảo với tôi, thầy giáo Khải trừu tượng lắm! Chỉ nhận xét anh “trừu tượng” thôi! Thực ra thì cụ Vơn không hiểu biết gì về thực tế cả, công việc làm ăn cụ đều giao khoán cho vợ chồng anh con cả. Cụ chỉ thích nói chuyện đời xưa với tôi. Mấy người em của cụ đều là những nông dân tháo vát, cần cù. Vậy mà tôi còn thấy cụ còn mắng các em là không biết hầu chuyện, “nhàn đàm” với cụ và tôi những lúc rảnh rỗi. Nhưng có điều lạ là, họ đều rất “phục” ông anh, cho ông anh của mình mới là người cao kiến! Có một câu chuyện khôi hài thế này, một hôm trời rét như cắt ruột. Tôi và cụ Vơn đang ngồi uống trà trong nhà. Bỗng cụ nhìn thấy một anh chàng đang phun thuốc trừ sâu ở cánh đồng trước nhà. Cụ ra lệnh cho chị con dâu đang ngồi sàng gạo ở trước thềm ra mời anh thanh niên đang phun thuốc vào nhà cho cụ gặp. Anh nhận lời và khi gặp cụ bào anh gỡ cái loa kim (hệ thống loa phát thanh bằng dây dẫn), lật ngửa chiếc loa rồi phun thuốc trừ sâu vào đó. Như có phép thần, đến giờ phát thanh buổi chiều, chiếc loa đang im bặt cả tuần bỗng nói oang oang. Chị con dâu khen: thầy em tinh thật, cái gì cũng biết! Thì ra cái loa kim bị sét rỉ, thuốc trừ sâu phun vào làm nó bị ăn mòn và trở nên dẫn điện tốt trở lại. Cụ Vơn có “uy tín” nhờ những “sáng kiến trừu tượng” như thế. Cả nhà, cả xóm rất coi trọng cụ. Chưa hết, một lần hợp tác xã mổ lợn, chia cho nhà cụ 1kg. Khi ngồi ăn cơm, cụ Vơn húp một thìa nước luộc thịt rồi lắc đầu chê: thiếu đạm là không ngọt. Tôi hỏi cụ: đạm là thứ gì mà thiếu? Cụ trả lời: đạm là mì chính (bột ngọt) ông giáo ạ! Anh con trai cũng húp thử một húp rồi khen: thầy em tinh thật! Chưa hết, đúng năm đó Bác Hồ mất. Tôi về Hà Nội mấy hôm. Khi trở lại, tôi đem tặng cụ tấm ảnh chủ tịch nước mới là Tôn Đức Thắng để gia đình treo bên cạnh ảnh cụ Hồ. Xem xong, cụ đi đi lại lại, chắp tay ra sau rồi lại nhìn lên bức hình bác Tôn. Cụ có vẻ băn khoăn lắm. Tôi thấy vậy bèn hỏi: cụ thấy hình bác Tôn thế nào? Cụ khẽ lắc đầu, nhận xét: Hồ Chủ Tịch này cũng già lắm rồi! Nông thôn miền Bắc XHCN cuối thập niên 1960 là như thế. Chỉ có trẻ em, phụ nữ, người già. Thanh niên đi “B” hết. Năm 1972, ở tuổi 30 tôi cũng được gọi đi nghĩa vụ quân sự theo giấy gọi của huyện. Nhà trường, học sinh lớp tôi chủ nhiệm cũng làm liên hoan tiễn thầy đi bộ đội long trọng lắm. Nhưng được có nửa tháng, lên đến tỉnh khám sức khỏe lại, tôi bị loại, lại khoác ba lô về lại trường cũ. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 10, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/10/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-13/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 14): https://www.minds.com/newsfeed/1019879547523878912?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 12): https://www.minds.com/newsfeed/1019878588886253568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 12) Lời Ai Điếu Nhân vật thứ hai được tướng Qua luôn nhắc đến là Phạm Văn Đồng – thủ tướng lâu năm. Dưới mắt tướng Qua thì Phạm Văn Đồng là con người chủ quan, bốc đồng và rất vô tích sự. Ông kể: Vừa mới giải phóng thủ đô, tôi phải bảo vệ cuộc họp quan trọng của đại diện Cộng hòa Pháp với chính phủ ta. Tôi phải đích thân lái xe đến chỗ Sainteny để chở hắn sang họp với Phạm Văn Đồng. Sainteny yêu cầu phải có xe của Bộ Công an ta sang đón thì hắn mới đi, vì trước đó trong ngày CM tháng Tám mới thành công, đã có lần xe của hắn bị bắn. Hắn sợ! Cuộc họp kết thúc, Sainteny chưa bước ra khỏi phòng họp thì đã thấy tiếng cười lớn Ha! Ha! Ha! của Phạm Văn Đồng rồi tất cả cười theo. Thấy thế Sainteny quay ngoắt lại, có vẻ rất ngạc nhiên và khó chịu. Sau khi đưa Sainteny về rồi, tôi quay lại hỏi ông Lê Thanh Nghị: vì sao khi Sainteny chưa ra khỏi phòng mà ông Đồng và mọi người đã cười to thế, khiến hắn rất khó chịu, tôi thấy làm như thế là bất lịch sự… ông Nghị cười nói: Sainteny sau cùng có đề nghị ta, nếu chính phủ Việt Nam có cần giúp đỡ, bồi hoàn chiến tranh của chính phủ Pháp thì xin các ông cứ đề đạt, tôi sẽ là người tích cực trong công việc này… Nghe Sainteny nói, anh Đồng không trả lời, khi y quay ra thì anh Đồng nói: Mới đánh cho thua vãi cứt mà đã lên mặt! Rồi anh ấy cười lớn, mọi người cười theo! Kể xong câu chuyện trên, tướng Qua kết luận với tôi: Phạm Văn Đồng là thế đó, chỉ làm hại đất nước! Ông còn kể tiếp về Sainteny: “ngày Bác mất, Sainteny được chính phủ Pháp cử sang dự lễ tang. Đúng lúc Y bước vào nhà tang lễ thì tôi đang túc trực hòm kính pha lê thi hài Bác cùng ba vị nữa ở Bộ Công An. Tôi thấy y mặc áo đuôi tôm, tức trang phục chỉ dùng cho đại lễ ở bên Tây, rất trang trọng, sau đó Y ngồi viết vào sổ lưu niệm. Sau 20 phút đứng túc trực theo quy định của Ban tang lễ, tôi lên mở sổ lưu niệm ra xem. Sainteny đã viết: suốt đời tôi là đối phương của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tôi chưa bao giờ là kẻ thù riêng của con người này. Tướng Qua kể xong tôi kết luận: chỉ có hai cảm tưởng viết trong sổ lưu niệm là hay nhất, độc đáo chân thành là của Sihanouk và Sainteny.” Tôi cho rằng, có lẽ tướng Qua chỉ đọc được tiếng Pháp nên ông mới nhận xét như thế. Còn các ngôn ngữ khác ông đâu có rành! Một lần, nhân nói đến sự vô tích sự của Phạm Văn Đồng, ông kể: Bộ Công An có đến 61 cục, vụ, viện, như một cái hàng xén hoạt động kém hiệu quả. Tôi đề nghị tên H cho thành lập Tổng cục để bộ máy hoạt động hiệu quả, kịp thời hơn. Nhưng tên H không cho, hắn sợ phải phân quyền, 61 cái đầu mối ấy hắn nắm, trực tiếp chỉ huy vì thế rất chậm trễ, trì trệ. Hắn còn nói thẳng vào mặt tôi, anh định làm Bộ trưởng thay tôi hay sao. Tôi lên thẳng thủ tướng để đề đạt phải thành lập Tổng cục. Hôm lên gặp Phạm Văn Đồng thì gặp Lê Quý Quỳnh, bí thư tỉnh Hưng Yên, một tỉnh đang có phong trào nuôi ong. Quỳnh được Phạm Văn Đồng mời vào trước. Ngồi bên ngoài, chỉ cách tấm bình phong, tôi nghe Lê Quý Quỳnh tán về cái chân con ong. Nào sự kỳ diệu của cái chân con ong, bới phấn hoa bằng chân, chuyên chở phấn hoa bằng chân… nghe Lê Quý Quỳnh nói, Phạm Văn Đồng cười hả hê Ha! Ha! Ha! … suốt nửa tiếng đồng hồ, Quỳnh tán về cái chân con ong mà Đồng vẫn ngồi nghe, còn tán dương… cười ha hả. Đến lượt tôi, vừa nói đến câu thứ hai về cái hàng xén 61 cục vụ viện ở Bộ Công An cần phải được tổ chức lại … thì Phạm Văn Đồng gạt phắt đi, ông ta khua tay nói, tôi nghe đủ lắm rồi, anh về đi!!! Tôi đi xuống cầu thang mà đầu choáng váng, mắt tối rầm, căm tức trào lên tận cổ! Một lần khác, tướng Qua kể tiếp: Lần này thì chính Phạm Văn Đồng gọi tôi lên để trình bày về cái vụ thế giới nó chỉ trích ta về nhân quyền trong vụ bắt tù nhân là tướng lĩnh sĩ quan Sài Gòn đi cải tạo vô kỳ hạn sau 1975. Với tư cách Cục trưởng Cục Trại giam, tôi phải báo cáo thủ tướng chính phủ để còn biết đường mà trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí phương tây. Tôi chuẩn bị khá kỹ tài liệu để báo cáo. Gặp tôi, ông ta không thèm hỏi han một câu nào, chỉ ra hiệu, “Anh nói đi”! Tôi vừa báo cáo được vài câu thì đã thấy ông ta ngủ gật. Tôi phải vờ đặt cái tay xuống bàn thật mạnh để ông ta tỉnh dậy. Tôi lại báo cáo, ông ta lại ngủ gật. Lúc tỉnh dậy, ông nói, anh báo cáo lại đi tôi nghe chưa rõ. Tôi đứng dậy và nói thẳng vào mặt ông ta, anh có nghe đâu mà rõ… sau đó tôi quay gót về luôn. Ông ta cũng không nói gì cả. Chắc là để ngủ tiếp!!! Sau này tôi được nghe nhà báo Trần Đĩnh ở báo Nhân dân kể, Phạm Văn Đồng chuyên hút thuốc phiện và chơi đĩ do Lê Đức Thọ cung cấp, vì thế hai cái môi thâm sì. Và Lê Đức Thọ bảo sao thì phải nghe vậy, không thì cắt nguồn thuốc phiện và gái(!) Tôi tin lời anh TĐ vì suy ra, người hút thuốc phiện hay ngủ gật, và điều tướng Qua nói là hoàn toàn đúng về cái sự ngủ gật của ông Thủ tướng lâu năm này. Chả có thế mà đã thành bài vè trong dân gian “Hoan hô anh Tạ Đình Đề Trước là gián điệp sau về với ta Hoan hô anh Lê Quảng Ba Trước là thổ phỉ sau ra với mình Hoan hô đồng chí Trường Chinh Trước theo Trung Quốc nay hình như không Hoan hô ông Phạm Văn Đồng Tuy là thủ tướng nhưng không làm gì!” “Không làm gì” đó là đặc điểm nổi bật của ông Phạm Văn Đồng. Vậy mà ông làm thủ tướng lâu đến thế. Chính ông cũng từng nói một câu nổi tiếng: “Tôi làm thủ tướng mà chẳng có quyền gì cả!” Vậy mà ông cứ làm. Ngày ông mất, từng đoàn xe con bóng lộn của các quan chức Hà Nội đi theo linh cữu ông đến Mai Dịch. Nhưng không thấy người dân Hà Nội nào đứng hai bên đường để tiễn chân ông. Khác hẳn với đám tang ông Võ Văn Kiệt, dân chúng Sài Gòn đứng đông nghẹt hai bên đường từ dinh Thống Nhất đến nghĩa trang Thủ Đức dài hàng chục cây số để tiễn đưa, người đã từng ngược xuôi “chạy gạo” cho dân Sài Gòn khi ông làm bí thư thành ủy thời bao cấp. Người thứ ba mà tôi thấy tướng Qua hay nhắc đến là ông Trường Chinh. Khi nói về tính cẩn thận, tướng Qua kể: ông này (TC) cẩn thận chưa từng thấy, đo may quần áo cho ông rồi, chiến sĩ của tôi khi đem quần áo đến nhà thì phải chở theo một cái gương rất to. Ông mặc thử rồi đứng trước gương soi. Hai cảnh sát đứng sau lưng ông cầm cái gương để ông ngắm xem phía sau có “chuẩn” không. Chỉ cần cái tà áo phía sau hơi cong một chút là đem về may lại! Trên Tam Đảo, tôi đã bố trí một cảnh sát cắt tóc có nghề để phục vụ cán bộ cao cấp khi nghỉ mát cần cắt tóc. Đến Bác Hồ cũng từng để cậu này cắt tóc, cạo mặt cho. Vậy mà khi cần cắt tóc ở Tam Đảo, theo yêu cầu của ông Trường Chinh, chúng tôi phải đánh một cái xe chở cậu cắt tóc quen thuộc của ông từ Hà Nội lên để cắt tóc cho ngài! Nói xong, tướng Qua lắc đầu than: dictateur! (kẻ độc tài). Người thứ tư mà tướng Qua hay nhắc tới là Hồ Chí Minh. Ông nhiều lần kể cho tôi câu chuyện, sau CM tháng Tám, bộ đội, công an, dân quân tự vệ, du kích ta “thèm” súng lắm. Ai cũng muốn mình có một khẩu súng để chuẩn bị đánh giặc, vì thế du kích ở Chèm thấy có một cái tầu của quân Tưởng ngược về phía Bắc tưởng là tầu chở vũ khí nên họ đánh úp. Té ra là tầu chở bọn Tưởng ốm về Tầu trị bệnh. Trót giết mất bọn này rồi, quân ta chuồn luôn. Nào ngờ một tên trốn thoát, nó về báo cáo cấp trên. Quân Tưởng hạ lệnh cho ta phải tìm cho bằng được số du kích này để xử. Được lệnh của Bác, tôi phải lên tận Chèm để bắt các vị này. Không khó lắm, chỉ cần hỏi chuyện ông già bán chuối ở đầu làng là ra hết. Bắt được mấy vị này rồi, tôi báo cáo Bác. Nhưng một số anh em bàn, lấy tù thường phạm “thế” vào mấy vị này. Nhưng tên Tầu Tưởng trong lúc nhốn nháo, nó nằm bẹp một xó nhớ mặt các vị đó, rồi nhẩy xuống sông trốn thoát. Nó nhận mặt tù nhân và không chịu. Bác rất than phiền. Ông cụ nói, quân đội cách mạng mới xây dựng mà đã vô kỷ luật thế này thì làm sao mà trưởng thành nổi. Ông cụ phân tích: quân Tưởng là đại diện cho Đồng minh, động vào quân Tưởng là chống lại Đồng minh, vì vậy không thể không xử vụ này được. Lệnh tử hình mấy vị này trước mặt quân Tưởng được ban hành. Trước khi bắn các vị đó, tôi cẩn thận gọi điện báo cáo Bác một lần nữa. Bác chỉ trả lời ngắn gọn: một là mất nước, hai là thi hành lệnh. Anh Nguyễn Văn Trân (bí thư thành ủy HN sau này – LPK) bắn một phát rồi run quá, nằm vật ra, mồ hôi vã ra như tắm. Tôi phải giằng lấy súng, xử nốt mấy vị còn lại bằng các viên đạn vào thái dương. Xong, tôi cũng choáng quá, như muốn ngã xuống đất. Nhưng không quên gọi điện cho Bác, báo cáo đã thi hành lệnh. Từ đầu dây bên kia tôi nghe rõ Bác nói, giọng xúc động: nhớ ghi tên các chú đó để sau này làm bằng liệt sỹ cho các chú ấy. Mỗi lần kể lại cho tôi nghe câu chuyện này, tướng Qua đều rơm rớm nước mắt. Ông đốt thuốc liên tục. Câu chuyện thứ hai mà tướng Qua kể về ông Hồ là phải đem vàng chuộc Bác. Không hiểu vì lý do gì quân Tưởng mời Bác sang làm việc rồi giam ông cụ lại. Đã mấy ngày trôi qua, ở nhà ai cũng vô cùng lo lắng. Tôi được cử đi gặp ông cụ để nắm tình hình. Đến nơi tôi rất ngạc nhiên là thấy cụ ngồi bình thản hút thuốc như không có việc gì xẩy ra, sau đó bảo tôi: thế là mất toi cả tuần lễ vàng! Sau đó ta phải đem vàng để chuộc ông cụ về! Một câu chuyện khác về ông Hồ rất “độc đáo”. Tướng Qua vui vẻ kể: mới độc lập mà ông cụ đã gọi tôi lên bảo: phải giữ phố Khâm Thiên lại cho Bác. Tôi không hiểu ý ra sao. Còn anh em thì muốn dẹp ngay cái phố cô đầu nổi tiếng ở Hà Nội này đi vì cách mạng đã thành công. Nhưng đến khi quân Tầu Tưởng ồ ạt kéo sang, đại diện cho quân Đồng minh ở miền Bắc để giải giáp quân Nhật thì Bác lại gọi tôi lên bảo: tối tối đưa các sỹ quan tướng lĩnh của quân Tưởng xuống đó chơi bời cho nó đỡ phá phách, gây sự với ta. Thế là chúng tôi hiểu. Nhưng hiềm một nỗi là, bọn quan tướng Tầu Tưởng khốn nạn lắm. Ban đêm chúng “tòm chát” ở Khâm Thiên, ban ngày chúng lại dẫn mấy con đào này đi ưỡn ẹo ở Hàng Ngang Hàng Đào, mấy con đĩ này chỉ vào cái vòng vàng, vòng bạc, đồ nữ trang nào là bọn tướng Tầu lại cướp không cho chúng. Đồng bào thưa kiện lên chúng tôi. Ai lại cách mạng rồi mà không bảo vệ được tài sản cho đồng bào thì còn ra làm sao. Thế là chúng tôi lại phải đến lột lại các đồ vàng bạc đó ở các con đĩ, dọa chúng còn làm thế nữa là “coi chừng mạng sống”, rồi đem trả lại cho đồng bào. Thế mà có con còn ngoan cố, vẫn không chừa… lấy rồi trả, trả rồi lại phải đi lấy lại, như đèn cù. Nói về sự tiết kiệm, tướng Qua kể: đi công tác trong kháng chiến, chúng tôi phải nắm cơm mang theo. Đến giờ ăn, cậu cần vụ giở nắm cơm ra, cẩn thận cậu ta dùng dao ca-níp gọt vỏ nắm cơm đã bị cứng ở bên ngoài ra, để vào một góc tờ giấy. Gọt đến đâu thì ông cụ bỏ vào mồm nhai đến đó, thấy thế cậu ta từ đó không gọt vỏ cơm nữa. Riêng với cá nhân tướng Qua, có lần ông kể: tôi là dân Hà Nội, không quen đi chân đất nên lúc đi kháng chiến có mang theo một đôi “ghệt” cao cổ. Thấy tôi đi đôi giầy da của bọn police militaire Pháp, có cậu thưa với ông cụ: anh Qua đi kháng chiến mà còn mang thói tiểu tư sản, đi giầy cao cổ của thực dân Pháp! Ông cụ chỉ nói: thôi, chú ấy được việc là được. Còn bộ đồ kaki Mỹ của tôi mặc trên người cũng bị chỉ trích. Ông cụ lại nói: thứ vải ấy nó bền, cứ để chú ấy mặc! Có lần tướng Qua cho tôi xem một tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, đó là bức thư được đánh máy từ cái máy chữ xách tay, chữ nhỏ li ti. Trong thư ông Hồ chỉ thị cho tướng Qua ém quân ở một đoạn đường để bảo vệ cho thiếu tướng Văn Tiến Dũng đưa quân ta vượt sông. Dưới cùng ký tên Hồ Chí Minh, cũng là ba chữ đánh máy. Xem thư tôi mới biết hồi đó quân ta đã được phong hàm, và ông Văn Tiến Dũng là thiếu tướng. Lá thư đó được tướng Qua giữ cẩn thận trong một cuốn an-bum, ông bảo tôi: đây là précieux souvenir (kỷ niệm quý). Ngày ông đau nặng, chỉ còn nói được câu một. Tôi hỏi về từng người: Trường Chinh? Trả lời: dictateur. Phạm Văn Đồng? Trả lời: suốt đời làm hại người khác! Hồ Chí Minh? Trả lời: đâu cũng đi, cái gì cũng biết! Những lời nhận xét của ông đương nhiên chỉ là lời một võ tướng. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ thấy ông “phê phán” ông Hồ Chí Minh cả. Duy chỉ có một lần, sau ngày ông cụ mất (2.9.1969), tôi lên chơi, ông hỏi: cháu có biết ai là người thương Bác Hồ nhất không? Tôi còn chưa biết trả lời thế nào thì ông nói: mấy hiệu nhiếp ảnh là họ thương cụ Hồ nhất vì thức suốt đêm để in những tấm ảnh bốn ông đứng gác hòm kính pha lê… để bán, mắt cậu nào cũng đỏ hoe! (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 8, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-12/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 13): https://www.minds.com/newsfeed/1019878999822864384?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 11): https://www.minds.com/newsfeed/1019877983002349568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
19 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 11) Chương Năm – phần 2 Sau 1975, với sự việc bắt đi cải tạo tất cả các sĩ quan tướng lĩnh thuộc chế độ Sài Gòn cũ (thực chất là bắt đi tù vô thời hạn), tướng Qua lên án Trần Quốc Hoàn rất gay gắt. Dĩ nhiên việc này không chỉ riêng ông Hoàn chịu trách nhiệm, nhưng tướng Qua có nhiều bất đồng với các chủ trương của Hoàn trong việc này. Ông nói: Sau 30/4/1975 việc đầu tiên là tên H lưu manh lùa cán bộ vào Nam bắt tù. Y vô Sài Gòn ngồi khoanh chân vòng tròn trên một cái sập, luôn mồm thúc giục phải gấp làm hồ sơ để bắt tù. Trông y ngồi như một tên địa chủ! Việc làm hồ sơ tù nhân là để phân loại, cấp tá thì lùa ra Bắc bằng tàu thủy. Cấp tướng và ngụy quyền cao cấp (tức thứ, bộ trưởng, nghị sĩ quốc hội …) thì đi bằng máy bay. Điều này trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức đã mô tả là rất đúng. Tôi, kẻ viết những dòng chữ này là người trực tiếp đi “đón” các vị đi cải tạo ra Bắc nên xác nhận Huy Đức viết đúng. Số là thế này, sau nhiều năm dạy học ở Hải Hưng, năm 1974 tôi được Đài Tiếng nói Việt Nam nhận về làm phóng viên tại ban miền Nam của Đài. Sau 30/4 ở Đài Tiếng nói Việt Nam ai cũng muốn đi vô Sài Gòn. Lúc đó được đi Sài Gòn thì sung sướng gấp 10 lần được đi nước ngoài. Nhưng chỉ cán bộ lãnh đạo cấp trưởng, phó ban trở lên của Đài mới hy vọng được đi. Các vị đi Sài Gòn lúc đó phải có quyết định của Tổng Giám đốc Đài, phải được sự đồng ý của Cục tác chiến Bộ Quốc Phòng, phải có giấy để đi đổi tiến vì miền Nam lúc ấy còn tiêu tiền chế độ cũ… Nói chung là rất khó. Tôi nghĩ ra một “mẹo” là sang Bộ Công An, xin tướng Qua một cái giấy giới thiệu là nhà báo, được Cục Quản lý Trại giam giới thiệu vào các trại giam ở miền Nam để “nghiên cứu”. Giấy giới thiệu được đóng mộc Bộ Công An ngay vì em ruột của tướng Qua là Lê Phú Ninh đang làm ở văn phòng Bộ. Ông Lê Phú Ninh cũng là chú ruột của tôi, tôi kêu bằng chú Ba. Với cái giấy giới thiệu của Bộ Công An như thế đem về Đài, Tổng giám đốc Trần Lâm đồng ý ngay. Đều là dân Hà Nội đi hoạt động cách mạng nên Trần Lâm cũng rất biết tướng Qua (ông Lâm quê gốc ở Hải Dương nhưng sống ở Hà Nội từ bé và lấy vợ con nhà giàu ở phố Hàng Đào). Ông trưởng phòng của tôi cũng được “ăn theo” tôi đi Sài Gòn vì đi phải có đoàn, có tập thể. Trước khi đi, Tổng giám đốc Đài còn giao nhiệm vụ cho “đoàn” là phải gặp gỡ các trí thức Sài Gòn như các ông Lý Chánh Trung, bà Ngô Bá Thành, anh Lê Văn Nuôi, anh Huỳnh Tấn Mẫm… để thu thập tư liệu, chuẩn bị bài viết về họ vì năm 1976, các vị này sẽ tham gia quốc hội thống nhất đầu tiên. Tôi lên đường. Trại giam nào cũng vào, kể cả Khám Chí Hòa vì có cái giấy giới thiệu của Cục Trại giam. Khi trưởng trại biết tôi là cháu ruột của tướng Qua thì ông mời nhậu … vô tư. Một lần tôi đi lang thang lên Thủ Dầu Một chơi, gặp ông Sáu Phát, là cán bộ cao cấp của tỉnh, sau này là chủ tịch tỉnh Sông Bé, lúc ra về trời đã tối ông Sáu rất tốt bụng đưa cho tôi một khẩu súng lục bảo cầm lấy để phòng thân. Tôi thành thật nói từ bé đến giờ tôi chưa cầm súng thật bao giờ và cũng không biết bắn súng. Tôi cảm ơn và trả lại ông. Tôi còn nói đùa: Nếu gặp địch là … tôi đầu hàng! Ông Sáu Phát khen tôi là người Hà Nội có khiếu nói giỡn. Cũng nhờ lang thang các trại giam ở Sài Gòn và miền Nam mà tôi gặp đại úy Hán, trại trưởng một trại ở Nam Hà, ông này có nhiệm vụ là vô Sài Gòn để mua một cái “téc” xăng đem ra Bắc để trại ông nấu rượu mơ vì vùng của ông là cả một rừng mơ. Ông cũng được giao nhiệm vụ chở hồ sơ tù ra Bắc cho Bộ Công An. Chiếc xe tải to đùng của ông đủ chở cái “téc” xăng trong đựng hồ sơ tù. Tôi xin ông cho quá giang xe về Hà Nội. Dĩ nhiên là ông đồng ý. Chúng tôi đi mất 4 ngày mới về đến Hà Nội, đêm ngủ ở các ty công an tỉnh. Một buổi sáng nọ, tướng Qua cho tôi cùng đi “quan sát” việc đưa tù nhân cấp tướng và ngụy quyền cao cấp Sài Gòn ra Bắc. Xe com-măng-ca của ông đỗ trong sân bay Gia Lâm chờ máy bay chở tù từ Sài Gòn hạ cánh. Từ xa chúng tôi dùng ống nhòm quan sát các vị tướng lĩnh xuống máy bay. Tôi nhìn rõ qua ống nhòm, các ông tướng mang theo hành trang nặng nề như các ông tay ba lô đi du lịch bụi bây giờ. Tướng Qua giải thích, chúng tôi cho họ mang đầy đủ đồ dùng cá nhân, chăn mền, cả chiếu nằm nữa. Một buổi sáng đầu năm 1977, tôi lại được tướng Qua cho vô thăm trại Ba Sao, nơi giam giữ các tướng lĩnh và “ngụy quyền” cao cấp của chế độ Sài Gòn để học tập cải tạo. Vừa xuống xe, các sĩ quan quản lý trại đã nói: Chúc mừng thủ trưởng sắp lên tướng. Thì ra họ đã biết tướng Qua (lúc đó đang đeo lon đại tá) sẽ được lên tướng trong thời gian sắp tới. Quả đúng như vậy, tháng 4/1977 ông được thăng chức thiếu tướng. Ngày đó, chức thiếu tướng “oai” lắm. Theo tôi biết ở Bộ Công An, chỉ có một vị được đeo lon thiếu tướng ngạch cảnh sát là thiếu tướng Nguyễn Thế Tùng. Quan sát cảnh quanh trại Ba Sao thì đây là vùng Hà Nam Ninh, vũng trũng có nhiều núi đá vôi mọc lên từ các đầm nước rộng. Sách địa lý gọi đó là vùng Hạ Long cạn. Nhân đây cũng nói thêm, sau 30/4 Cục Trại giam đã “đánh” một vị phó tiến sĩ tâm lý học, tốt nghiệp ở Liên Xô về, nếu tôi nhớ không nhầm thì anh ta tên là Tịch đeo lon đại úy. Xin bạn đọc tha lỗi cho những đoạn phải thòng câu “nếu tôi nhớ không nhầm” vì ngày đó thú thật tôi không định làm một cuốn như “Bên Thắng Cuộc” nên không ghi chép lại cụ thể nhưng đến nay đã ở tuổi 70 thấy cần phải nói rõ sự thật, không nói một nửa sự thật như người ta vẫn làm nên mới có cuốn hồi ký này. Đại úy Tịch được “đánh” vào trại giam với với số tù giả. Tôi được đưa xem nơi ăn ở của các tù nhân học tập cải tạo. Phòng giam rất rộng, được xây rất nhiều bệ xi măng sát nhau vừa một người nằm. Các tù nhân trải chiếu cá nhân đan bằng sợi ny lon nhiều màu lên các “giường” của mình như trải chiếu hoa. Trông rất đẹp mắt. Giường chiếu, đồ đạc được xếp ngăn nắp, trật tự. Trong khi tôi đi ngắm nơi ăn chốn ở của họ thì các tù nhân lại đứng chơi ở ngoài sân rộng, ngắm phong cảnh. Tôi thấy một vị rất già, mặt vuông chữ điền, râu để dài như Quan Vân Trường, chỉ khác là râu đã bạc trắng, rất oai vệ. Tôi hỏi tướng Qua: Già thế kia còn bắt đi cải tạo làm gì? Tướng Qua nói, thế cháu không biết ông ấy là Vũ Hồng Khanh, đảng trưởng Quốc dân đảng à? Tôi vẫn thắc mắc: Quốc dân đảng đã chết từ lâu rồi cơ mà? Tôi lại được giải thích: Mỹ luôn duy trì các đảng phái chính trị đối lập, khi cần thì thay ngựa giữa dòng! Lệnh của H phải bắt thì tôi cứ bắt, nhưng sẽ thu xếp để ông ấy được về quê ở Vĩnh Yên, chết già, khỏi mang tiếng là chết trong tù (quả thật, sau này ông Vũ Hồng Khanh được chết ở quê hương Vĩnh Yên của ông). Tôi lại gặp một vị đứng tuổi khác, dáng vẻ rất trí thức. Ông ta tự giới thiệu là Phạm Xuân Bào, thứ trưởng Bộ Giáo Dục Sài Gòn có con đang học đạo diễn ở bên Pháp. Tôi lại đi tìm tướng Qua để thắc mắc. Tôi nói: ông thứ trưởng Phạm Xuân Bào là một trí thức có tên tuổi ở miền Nam. Ngày cháu vô thư viện Huế, thấy có cả một cái étagère sách dành riêng cho giáo sư. Bắt những trí thức như thế đi cải tạo làm gì? Tướng Qua vẫn trầm tư hút thuốc, ông nhả từng làn khói rồi mỉa mai nói: ngụy quyền cao cấp mà! Ông muốn mỉa mai những điều mà tên H đặt ra rồi bắt Cục trại giam thực thi với các đối tượng phải đi tù ra Bắc. Có một vị làm tôi suy nghĩ mãi, đó là một trung niên. Ông ta nói thẳng với tôi làm mình bị tù oan! Tôi hỏi lý do, ông ta giải thích: tôi là nghị sĩ Quốc Hội, nhưng là phe đối lập với ông Thiệu, chống chính phủ Thiệu tham nhũng! Tôi không khỏi ngỡ ngàng đến đau xót khi thấy chế độ Sài Gòn về mặt thể chế hơn hẳn chế độ độc đảng ở miền Bắc, vì Quốc hội của họ có phe đối lập. Nhưng dưới con mắt của những người sống trong xã hội nhất nguyên độc đảng thì nghị sĩ Quốc hội là “ngụy quyền cao cấp” rồi, đã là “cao cấp” thì phải đi cải tạo! Tôi không còn hỏi thêm gì nữa, sau khi gặp ông nghị sĩ phải tù oan này! Làm sao cục trưởng Qua có thể cãi lại những quan điểm của Bộ trưởng H và cả những người trên H nữa. Nhưng tướng Qua phản đối việc khai thác, lấy cung tù nhân ngay lập tức. Ông nói với tôi: người ta vừa chân ướt chân ráo ra Bắc, đang hoang mang cực độ, có hỏi cung thì họ cũng khai cho qua chuyện, hoặc khai láo không đem lại một thông tin gì có tính khoa học để ta hiểu thêm phía bên kia. Quan điểm chính thống là, tướng lĩnh cao cấp của chính quyền Sài Gòn sẽ phải khai ra những bí mật, những ý đồ, cả những tâm tư của họ trong suốt mấy chục năm giao tranh với bên cộng sản mà nay là dịp ta được biết, rất cần cho ngành an ninh của ta. Tướng Qua lại chủ trương thuyết phục, cảm hóa để họ nói thật, khai thật. Cuối cùng thì quan điểm của ông đã thắng. Vì thế mới có chuyện các vị giáo sư, các nhà sử học, văn học của ta được mời vô các trại giam giữ tướng lĩnh và ngụy quyền cao cấp để nói chuyện, thuyết trình khoa học, trao đổi với các vị “cao cấp” này để họ hiểu đường lối đúng đắn của chính quyền miền Bắc. Tôi cũng được tướng Qua cho tham gia vào công việc mà theo tôi, rất đúng đắn, rất nhân văn này. Tôi được ông hỏi ý kiến về việc đề xuất những ai, những vị trí thức nào ở Hà Nội lúc đó để Cục đón vào nói chuyện với tù nhân với từng đề tài cho phù hợp. Ấn tượng nhất với tôi là đề tài “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Các tù nhân, đương nhiên là có học, đều rất cảm phục miền Bắc là trong khó khăn bom đạn chiến tranh như thế mà vẫn quan tâm “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, và đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, đưa ra được nhiều kết luận xác đáng về tiếng Việt, sự cần thiết phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Sau này, khi tôi được đọc những cuốn sách như “Hoa xuyên tuyết”, “Mặt thật” của nhà báo Bùi Tín, cuốn “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên đều thấy có những đoạn nhắc đến tướng Qua. Ông Bùi Tín cho hay, ông đã được cục trưởng Lê Hữu Qua mời vào trại giam để nói chuyện, còn nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày”, đã kể lại, khi cục trưởng Qua vô thăm trại giam mà ông đang là tù nhân, xem danh sách tù nhân, thấy Vũ Thư Hiên trước khi vô tù là một nhà văn nên đã cho Vũ Thư Hiên phụ trách tờ báo tường của trại và được miễn lao động hàng ngày. Có điều, nhà văn đã viết nhầm tên cục trưởng là Lê Phú Qua. Có lẽ ông suy ra từ tên cúng cơm của tướng Qua là Lê Phú Cường! Kết quả của chủ trương thuyết phục cảm hóa, các tướng lĩnh Sài Gòn đã viết những bản tự thuật về cuộc đời binh nghệp của mình một cách chân thực. Nhiều bản dầy đến hàng trăm trang, như một cuốn tiểu thuyết rất hay, rất có giá trị để ta nghiên cứu Tôi rất muốn xin tướng Qua một bản để xem nhưng không được. Về quan điểm đối với tù nhân nói chung ở miền Bắc thời đó cũng khác nhau. Tướng Qua kể, sau khi nhận chức Cục trưởng Cục Lao cải (lao động cải tạo) thay cho cục trưởng cũ Hoàng Mai. Lần đầu đến thăm một trại giam, ông thấy các tù nhân bị nhốt kín trong nhà giam, các hoạt động đều ngưng trệ. Hỏi ra ông mới biết, trước đây mỗi lần cục trưởng Hoàng Mai đến thăm trại, ông đều ra lệnh như thế để đề phòng! Tướng Qua chỉ thị, bỏ lệ ấy mỗi khi có lãnh đạo Cục thăm trại. Vậy mà, sau này đến một trại khác, đi đâu cũng thấy có cán bộ lăm lăm súng trong tay đi kèm ông để bảo vệ. Ông ra lệnh cất súng đi. Khi ông ra thăm một ruộng mía, lúc đó các tù nhân đang chặt mía mùa thu hoạch, cán bộ trại không cho ông tiếp xúc với phạm nhân nhưng ông đã một mình đi ra đó không hề sợ các tù nhân đang cầm dao dài trong tay. Ông mời hút thuốc và ngồi bên ruộng mía nói chuyện với họ. Các cán bộ trại đứng từ xa ai cũng thót tim vì lo các tù nhân hình sự kia, với dao dài trong tay có thể kết liễu đời “chúa ngục” Lê Hữu Qua bất cứ lúc nào. Đến chiều, trại giam tổ chức liên hoan văn nghệ và biểu diễn rất hay. Sau một tiết mục hay, cục trưởng vỗ tay nhưng không ai dám vỗ tay theo cả. Thấy thế ông rất ngạc nhiên, phải “ra lệnh” nếu tôi vỗ tay thì anh em phải “hưởng ứng”. Ông còn gợi ý cho cán bộ chạy vào rừng hái hoa để tiết mục nào hay, cục trưởng lên tặng hoa. Sau cuộc liên hoan đó, cán bộ trại cho biết trước đây cục trưởng Hoàng Mai không vỗ tay khen ngợi các tiết mục biểu diển của tù nhân. Vì đó là vấn đề “đấu tranh giai cấp”. Tướng Qua nói với tôi, cái thằng bắn được con chim gáy phải chạy cho mau về biếu vợ bộ trưởng nó như thế đấy! Thằng nịnh trên bao giờ cũng nạt dưới. Bằng trải nghiệm cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ông bảo với tôi, bọn cơ hội lúc nào thời nào cũng có. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, khi phải bắt bọn Việt Gian phản động có vũ khí, được quân Tàu Tưởng nuôi dưỡng thì chẳng thằng náo dám đi. Nhưng khi tôi và một số anh em đi bắt được chúng rồi, nhốt lại, thì nhiều thằng thay nhau vào phòng giam để đánh. Chúng nó đánh để máu bọn Việt Gian vấy lên quần áo chúng, rồi chúng đi đi lại lại trước mặt mọi người để chứng tỏ “lòng căm thù giai cấp đến cao độ” của chúng! Những thằng đó “đi theo cách mạng” đến bây giờ chúng vẫn ngồi nhan nhản ở cái Bộ Công An này. Gặp tôi đi ngược chiều với chúng ở một hành lang thì từ xa chúng đã né sang bên làm như không trông thấy tôi và đi cho mau… C’est la vie! Rồi ông kết luận bằng một câu tiếng Pháp như thế (cuộc đời là như thế đấy!) Nghe những chuyện kể của tướng Qua như thế, tôi lại nhớ đến một câu của nữ nhà văn Dương Thu Hương: cần có cách mạmg để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là rác rưởi mà một cuộc cách mạng vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cả rác rưởi mà nó định quét đi, vì thế mà tướng Trần Độ đã viết trong “Nhật ký rồng rắn” của mình rằng: tôi đi làm cách mạng để xóa đi một xã hội xấu xa, nhưng xã hội hiện nay lại xấu bằng và xấu hơn cái xã hội mà chúng tôi đã xóa đi! Nhân nói đến chuyện “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, tôi xin kể thêm. Bạn tôi, họa sĩ Hồ Thanh, người từng xuống đường ở Huế biểu tình chống chế độ Ngô Đình Diện, kể với tôi rằng, sau 30/4/1975 có một cảnh sát chế độ cũ khi ra khai báo với chế độ (quân quản), khi được hỏi chức vụ gì? Anh ta khai: an ninh thiết vận. Nghe đến hai chữ “an ninh” và “thiết vận”, người cán bộ quân quản ít biết chữ Hán-Việt nên đinh ninh đây là phần tử quan trọng ngành an ninh chế độ cũ, bèn ghi tên anh ta váo danh sách đi cải tạo dài hạn. Khi vô trại rồi, người ta mới biết anh ta chỉ là công an giữ trật tự ở các đường tàu và ga xe hỏa. Từ Hán-Việt, “thiết vận” có nghĩa là “đường sắt” trong tiếng Việt mà thôi. Cái anh chàng công an đường sắt kia bị tù oan vì mấy chữ Hán-Việt! Tôi còn được nghe kể rằng, khi có khẩu hiệu “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, cụ Hồ có vào thăm một “Trại cải tạo gái điếm”. Thấy mấy chữ “gái điếm”, cụ đã lấy bút gạch đi và thay vào đó là “các cô gái mất nết”, rồi cụ bảo với trưởng trại: trong truyện Kiều có câu: có kẻ bán, có người mua. Vậy ai bán, ai mua? Các chú mua chứ ai mua? Các cô này chỉ mất nết mà thôi, rồi các cô ấy sẽ trở lại nết na như trước, “mất nết” là một từ thuần Việt. Nghe tướng Qua phàn nàn về các nhân vật “đen” ở Bộ Công An nhiều quá, có lần tôi hỏi thẳng ông: vậy ở Bộ Công An không có ai tốt sao? Tướng Quan trừng mắt bảo: nhiều người tốt lắm cháu ạ. Rồi ông kể cho tôi nghe nhiều chuyện tốt đẹp của những con người của ngành an ninh Việt Nam mà ông từng cộng tác. Đó là những con người cương trực, tài giỏi, có nhân cách cao cả. Trong những người mà tướng Qua thường ca ngợi đó có các vị mà tôi nhớ như: tướng Phạm Kiệt, ông Lê Giản, ông Nguyễn Tao, ông Lê Tuấn Thức, ông Nguyễn Công Tài, cục trưởng Cục nghiên cứu tổng hợp Lê Hồng Hà, trưởng ty công an Hải Hưng Hoàng Cuông… và cả người cần vụ của ông trong những năm kháng chiến chống Pháp và sau này là ông Trường … mà tôi hay gọi là chú Trường mỗi khi gặp chú. Ông kể nhiều chuyện lắm về những con người này. Ví dụ như về “chú Trường”. Vì tướng Qua không biết bơi nên đi đường chú Trường phải đem theo một cái phao bằng xăm ô tô. Khi vượt sông, vượt suối, cần vụ Trường bơm phao lên rồi buộc vào dây, vừa bơi, vừa kéo. Tướng Qua ông phao ở phía sau để “vượt” sông! Ông kể, có lần qua một con sông nước lớn chảy xiết, chú trường và tôi bị nước đẩy về phía hạ lưu hàng trăm thước. Nhờ Trường dai sức không thì cả hai đã bị hà bá nuốt rồi! Khi hòa bình 1954 lập lại, về Hà Nội rồi, lúc đó còn chế độ cần vụ nên Trường vẫn theo tôi. Có người nói với tôi, đi trọn mùa kháng chiến 8-9 năm, người ta về Hà Nội thì ít nhiều cũng có một chỗ đứng, không lẽ anh cứ để anh Trường làm cần vụ cho anh đến già. Tôi cũng nghĩ như thế nên bàn với tổ chức sắp xếp cho chú Trường một công việc thích hợp thời bình. Tổ chức xếp cho chú ấy làm đội trưởng đội xe của Bộ. Nhưng chú ấy nói với tôi, làm việc với thủ trưởng quen rồi, không muốn chuyển công tác! Tôi đành chịu. Về con người của chú Trường thì tôi biết khá rõ, vì chú thường vẫn theo tướng Qua mỗi lần ông về thăm ông bà nội tôi. Tính chú hiền hòa, ít nói, người thấp và đen nhưng rất nhanh nhẹn. Sau này, cả hai vị, thủ trưởng và cần vụ đều đã về hưu. Nhưng vẫn đi lại thăm hỏi nhau. Có lần tôi từ Sài Gòn ra, lên phố Hàng Rươi thăm ông chú đã già, rồi hai chú cháu đi bộ ra bờ hồ, ngồi ghế đá ngắm cảnh. Bỗng một ông già đang đi xe đạp dưới lòng đường, nhảy phốc xuống dắt xe chạy lại mừng rỡ reo lên: thủ trưởng khỏe không? Chúng tôi cũng mừng rỡ nhận ra chú Trường. Hai người bạn già, hai người kháng chiến thời trai trẻ năm xưa hỉ hả hỏi thăm nhau đủ chuyện. Bỗng một làn gió mạnh thổi bay cái mũ phớt của tướng Qua xuống mặt hồ. Nhanh như cắt, ông già Trường lội phăng xuống nước vớt cái mũ phớt lên. Ông cầm cái mũ rũ mạnh nhiều lần cho hết nước rồi đưa mũ cho tướng Qua nói: thủ trưởng để cho khô rồi hãy đội! Tôi chưa thấy ai tốt bụng, hồn nhiên, vọ tư và “đẹp” như chú Trường. Nếu được chọn một Con Người viết hoa trên đời này thì tôi chọn chú Trường. Về trưởng ty Công An Hải Hưng Hoàng Cuông thì tướng Qua kể: Cuông trước đây mặt rỗ, để đi hoạt động, cậu ấy đã lấy bàn là (bàn ủi) là mặt mình đi để mật thám không nhận ra nữa. Cậu ấy can trường lắm. Tướng Qua tỏ ra rất khâm phục con người Phạm Kiệt. Ông nói vì ghét tài năng và tính cương trực của ông Kiệt nên tên H phân cho thứ trưởng Phạm Kiệt làm tư lệnh công an vũ trang (biên phòng) quanh năm đi tuần tra biên giới, chỉ để những kẻ nịnh hót quanh mình. Đến khi được Cục quản lý sức khỏe cho biết là Phạm Kiệt đã bị ung thư hậu môn giai đoạn cuối, chẳng sống được là bao, nên hội nghị công an toàn quốc năm ấy (1974), khi Phạm Kiệt bước vào, tên H lao ra ôm lấy ông, nghẹn ngào, nức nở … cả hội trường ai cũng cảm động, cho là H trân trọng yêu quý lão tướng Phạm Kiệt lắm(!) chỉ có tôi và HH được Cục bảo vệ sức khỏe cho biết về cái chết đã gần kề với Phạm Kiệt nên cười thầm trong bụng. Ở ngành an ninh Việt Nam, sau khi Lê Giản chuyển sang ngành Tư Pháp-Tòa án, lần lượt các “lão tướng trung thần” như Nguyễn Tạo, Lê Tuấn Thức đều ra đi. Ông Nguyễn Tạo sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp, Lê Tuấn Thức sang làm chánh văn phòng cho Tổng cục lâm nghiệp… vì không thể ở lại ngành dưới triều đại của Trần Quốc Hoàn. Bây giờ bạn đọc chỉ cần đánh vào Google ba chữ “Trần Quốc Hoàn” là được đọc ngay thành tích bất hảo của Hoàn. Được biết về vụ án cô Nông Thị Xuân năm 1957. Trước đó Trần Quốc Hoàn đã hiếp cô cô Nông Thị Xuân ở số nhà 66 phố Hàng Bông Nhuộm rồi lập mưu giết hại cô như thế nào? Trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” nhà văn Vũ Thư Hiên cũng viết trên giấy trắng mực đen vụ án kinh tởm ấy. Vũ Thư Hiên còn nói rõ trong “Đêm giữa ban ngày” là, cán bộ từ cấp vụ trở lên ở Bộ Công An đều biết vụ án này. Vì thế, tướng Qua mới luôn gọi Trần Quốc Hoàn là “thằng H lưu manh” khi nói chuyện với tôi. Còn nhà văn XĐ quê ở Nghệ An thì nói với tôi rằng, nếu giết hết được cả làng tôi thì thằng Hoàn nó cũng giết, vì cả làng đều biết nó là thằng ăn cắp ở chợ làng trước kia! Vì thế, mỗi lần về Hà Nội, đi qua con đường mới mở to đẹp ở quận Cầu Giấy mang tên Trần Quốc Hoàn, tôi không khỏi ngậm ngùi đau xót cho số phận của dân tộc mình. Rồi có ngày tấm biển đó phải được giật xuống. Tôi tin như thế. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 5, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/05/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-11/ *** Đọc tiếp - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 12): https://www.minds.com/newsfeed/1019878588886253568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 10): https://www.minds.com/newsfeed/10198776308276142...
23 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 10) Chương Năm Những chuyện kể của tướng Qua Sở dĩ có chương này trong hồi ký của tôi vì người phương Tây có câu phương ngôn đầy ý nghĩa xã hội: Một nửa sự thật không phải là sự thật. Vì người ta mới chỉ viết có một nửa sự thật nên có những nhân vật có thời được dựng tượng, nhưng một thời gian không lâu, chỉ vài chục năm sau, thiên hạ lại kéo đổ thần tượng đó xuống. Nhưng hàng trăm năm nay, không có ai kéo tượng của Puskin, của Victor Hugo xuống cả. Lịch sử công bằng như thế. Tướng Lê Hữu Qua, tên khai sinh là Lê Phú Cường (1914-2001), là chú ruột của tôi. Ông là nhân chứng sống của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 cho đến khi ông qua đời, 2001. Ông tham gia Việt Minh từ năm 1943, từng làm trưởng Ban trinh sát Sở Công an Bắc Bộ năm 1945, là người phá vụ án phố Ôn Như Hầu nổi tiếng sau Cách mạng tháng Tám. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947 ông được cử làm Giám đốc Công an khu 11 (tức Công an Hà Nội). Khi Nha Công an trung ương chuyển lên Việt Bắc, ông được giao làm Phó Ty Trật tự tư pháp. Đến tháng 3 năm 1954 ông được cử đi bảo vệ đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi dự hội nghị Genève tại Thụy Sĩ. Khi hội nghị kết thúc, ông được cử tham gia đoàn của chính phủ đi công tác tại Ý, Ai Cập, Ấn Độ, Miến Điện, Hồng Kông. Về Việt Nam ông được điều về Hà Nội gấp để bảo vệ Hồ Chủ tịch và ông Phạm Văn Đồng trong cuộc gặp đại diện Cộng hòa Pháp Sainteny tại Phủ Chủ tịch ngay sau giải phóng thủ đô. Năm 1956, ông làm Phó Giám đốc Vụ Trị an Dân cảnh. Đến tháng 5/1962 ông được chính phủ cử làm Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân với quân hàm thượng tá cảnh sát và giữ chức vụ này cho đến năm 1967. Ông là người xây dựng lực lượng cảnh sát nhân dân từ ngày đầu ấy. Sau thời gian đi học trường Nguyễn Ái Quốc về, ông giữ chức Cục trưởng Cục Quản lý trại giam cho đến năm nghỉ hưu 1980. Thời gian làm Cục trưởng Cục quản lý trại giam ông phải đảm nhận nhiều sĩ quan cấp tướng, cấp tá và quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn ra Bắc cải tạo, cũng như các trại cải tạo khác ở toàn quốc. Ngày 18/4/1977 ông được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong hàm Thiếu tướng công an. Bạn đọc chỉ cần gõ vào google mấy chữ “Thiếu tướng Lê Hữu Qua và những chiến công…” là có ngay bài viết cùng nhan đề trên báo Công an Nhân dân xuân Đinh Hợi 2007 để được biết về ông. Khi ông mất, báo Nhân dân số ra ngày Chủ nhật 21/1/2001 đã đăng ở đầu trang 8 tin buồn, nguyên văn: Đảng ủy Công an Trung ương Bộ Công an; Đảng ủy UBND phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội và gia đình thương tiếc báo tin đồng chí Thiếu tướng Lê Hữu Qua, sinh năm 1914, quê quán phường Phúc xá, Q. Ba Đình Hà Nội; Trú quán 28 Hàng Rươi phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội; Tham gia cách mạng năm 1943, vào Đảng CSVN năm 1945; nguyên Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng Bộ Công an, đã về hưu. Huân chương độc lập hạng ba, huân chương quân công hạng nhất, huân chương kháng chiến hạng hai, huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, huy chương vì thế hệ trẻ, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, kỷ niệm chương của Bộ Nội vụ Cu Ba và nhiều huân chương khác, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, đã từ trần hồi 4g 10 phút ngày 20/1/2001 tạ bệnh viện Hữu Nghị. Lễ viếng bắt đầu lúc 8g ngày 22/1 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (39 Trần Khánh Dư Hà Nội). Lễ truy điệu lúc 12g cùng ngày, an táng tại nghĩa trang xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm TP Hà Nội. Một người nằm trong ngành an ninh và giữ nhiều trọng trách như thế nên ông biết nhiều sự thật. Trong những lúc vui buồn dài theo năm tháng, ông đã kể cho thằng cháu ruột của mình – đích tôn của dòng họ Lê Phú – những sự thật đó một cách vô tư. Những câu chuyện của ông không có lớp lang gì cả, nhân sự việc này, ông kể câu chuyện có liên quan. Lúc nghe ông kể, tôi cũng không có ý thức phải ghi lại để sau này chép “sử” như nhà báo Huy Đức đã viết “Bên thắng cuộc”. Nhưng tôi nhận thấy cần phải viết lại những điều tướng Qua đã kể, để “một nửa sự thật” mà người đời không biết đến, hoặc người biết cố tình ém nhẹm đi, rồi lịch sử bị chôn vùi. Những nhân vật mà người ta chỉ biết đến “một nửa” về họ được suy tôn như những danh nhân hào kiệt, còn người đáng vinh danh lại không được ai nhắc đến. Báo Sài Gòn Giải Phóng thời ông Tô Hòa làm tổng biên tập, số ra ngày chủ nhật 1/6/1989 đã đăng bài thơ “Sự thật phải đong đầy” của tôi: Con tôi hỏi Cái gì mắc nhất Tivi hay tủ lạnh, honda? Mai con lớn rồi con sẽ hiểu Mắc nhất trên đời là sự thật con ơi! Một nửa bánh mì vẫn là chất bánh Một nửa dòng sông vẫn có đôi bờ Một nửa vầng trăng vẫn thành nỗi nhớ Một nửa cái hôn vẫn thấy ngọt ngào Còn sự thật – con ơi – một nửa Ngừoi trung kiên vẫn chết gục giữa đường Kẻ bất lương vẫn trên ngôi thần thánh Thằng lưu manh vẫn khoác áo anh hùng! Sẽ muôn đời là dối trá, dối trá Khi sự thật chẳng đong đầy Bài thơ này gây bất ngờ cho nhiều người đọc thời đó. Ông Tô Hào sau một lần chất vấn TBT Nguyễn Văn Linh đã bị cho thôi chức, về hưu. Nay cuối đời, có thời gian tôi quay lại đề tài của bài thơ này trong chương mục “Chuyện kể của tướng Qua”. Tôi hệ thống lại các mẩu chuyện kể về các nhân vật cho rõ nét, có những chuyện không nhớ thời gian kể, chỉ nhớ nội dung chuyện vì thế tôi gom lại thành những chủ đề để ghi lại. Những chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe hoàn toàn ngẫu hứng và vô tình, trong những lần chú cháu gặp nhau. Như tôi đã kể trên đây, hàng tháng tôi phải lên nhà tướng Qua để nhận số tiền 30 đồng về cho ông bà nội tôi. Những năm sinh viên, tôi chỉ được nhận nửa học bổng tức 11 đồng /tháng còn thiếu 11 đồng phải đóng cho nhà trường. Vì thế mà chiều thứ bảy nào tôi cũngphải cắt cơm ở nhà bếp. Chủ nhật thì ăn no ở nhà rồi chiều mới vào trường để số tiền phải đóng ít đi. Là học sinh thành thị quen ăn sáng khi vào trường không được ăn sáng nên đói không học được. Ngày ấy tôi chăm lên nhà chú Qua tôi để cuối tháng còn xin một tập báo nhân dân về bán ve chai (đồng nát) lấy tiền ăn sáng. Bà thím tôi là một phụ nữ rất tằn tiện và tốt bụng. Bà thu gom đủ 30 số báo nhân dân hàng tháng, chờ đến cuối tháng tôi lên, cho tôi đem về bán ve chai. Bấy giờ giấy hiếm lắm, báo nhân dân lại là giấy khổ to bán được tiền cũng khá. Tôi nhớ, 30 tờ bán được đủ số tiền để mỗi sáng có được bát cháo lươn giá một hào do căn tin nhà trường bán cho sinh viên ăn sáng. Mỗi lần tôi lên nhà chú tôi là được giữ lại ăn cơm chiều. Chú thím tôi không có con, sau này nhận nuôi một bé còn nhỏ rồi lớn lên em tôi đi Liên Xô học nên nhà rất vắng vẻ. Trong những bữa cơm chiều, tôi thường được nghe nhiều câu chyuện nhân tình thế thái. Chương 5 của cuốn hồi ký này có được là nhờ những câu chuyện hàn huyên như thế. Tất nhiên còn nhiều chuyện được tướng Qua kể trong những dịp khác. 1. Chuyện về ông bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn. Gộp những gì tướng Qua nhắc đến thì đây là một ông quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Ông đã loại bỏ trí thức ra khỏi guồng máy công an. Vợ ông là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ… Chưa bao giờ tôi thấy tướng Qua gọi tên hay chức vụ Bộ trưởng đối với Trần Quốc Hoàn. Ông gọi vị Bộ trưởng này bằng tên H lưu manh! Không nhân nhượng gì cả. Ông gọi tắt chữ Hoàn bằng âm H (hát). Lần đầu tiên tôi nghe ông gọi thế, và mãi sau này vẫn gọi thế. Nhiều lúc tôi thấy thương ông chú tôi, suốt đời phải làm việc với một vị thủ trưởng như thế. Cũng nhiều lúc tôi thấy giận ông vì sao không thể… bỏ mà đi, không làm việc ở Bộ Công an nữa. Nhưng sau này gặp nhà văn Tuấn Vinh, chuyên viết truyện về đề tài công an, cùng công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam với tôi, biết tôi là cháu tướng Qua, nên đã tặng tôi tập sách “Bão táp mùa thu” của NXB Công an nhân dân 1995 gồm các truyện ký về sự trưởng thành của công an thủ đô nhân 50 năm thành lập ngành công an nhân dân của nhiều tác giả. Trong bài “Những ngày đầu” hồi ký của Lê Hữu Qua do nhà văn Mai Ngữ ghi lại, trong hơn 30 trang hồi ký đó có đoạn: “Anh em chúng tôi đa số là lớp thanh niên mới lớn, nhiều cậu lúc ấy chưa hề tỏ tình với cô gái nào là cách mạng đến. Nếu gọi là mối tình đầu của người con trai thì cách mạng là mối tình đầu của họ… một tình yêu chung thủy và sắt son, mặc dù sau bao nhiêu năm có nhiều điều làm ta bực bội. Có nhiều kẻ mang danh cách mạng làm chuyện vô lương, nhưng nếu có ai chống lại cách mạng thì chúng tôi không chịu nổi…”. Càng ngẫm tôi càng thương chú tôi, một thanh niên Hà Nội đẹp trai giỏi võ nghệ, giỏi bắn súng, giỏi lái xe hơi, nói thạo tiếng Pháp và… chỉ có “một mối tình đầu” là cách mạng và suốt đời chung thủy với mối tình đó nên ông không thể từ bỏ được. Ông không thể như Sartre “đi tìm niềm trung thành mới”. Đầu năm 60, tôi đến Bộ Công An chơi với chú tôi vì nhà ông ở ngay trong cơ quan Bộ, đi vô phải qua vọng gác. Ông ở trong một căn phòng nhỏ ở trên tầng lầu. Hai vợ chồng chỉ có một phòng cho tất cả mọi sinh hoạt. Tôi liếc nhìn bốn bề… Hiểu ý tôi, tướng Qua chỉ tay xuống căn biệt thự rất sang trọng dưới cửa sổ và nói: Tên H lưu manh này chỉ biết hắn thôi. Sau ngày giải phóng thủ đô, hắn chiếm ngay ngôi biệt thự này (nằm trên đường Trần Bình Trọng, một phía của biệt thự giáp đại lộ Trần Hưng Đạo, phía đối diện là Bộ Công an, chiếm cả dãy phố Trần Bình Trọng). Tất cả các cán bộ cao cấp khác, hắn bắt ở trong cơ quan Bộ với lý do “bảo vệ cán bộ”. Nhiều ngôi nhà quanh hồ Hale, chủ nhân di cư vô Nam, anh em xin ra ở đó H cũng không cho. Sau này lên thăm chú tôi nhiều lần, tôi mới biết đối diện phòng ông là phòng của Thứ trưởng Viễn Chi, sát đó là phòng của gia đình ông Nguyễn Công Tài, Cục trưởng. Vậy là hai vị cục trưởng và một vị thứ trưởng phải ở chung một tầng lầu chật hẹp, đi chung cầu thang, mọi tiện nghi sinh hoạt khác đều ở tầng trệt công cộng. Ông Viễn Chi có đứa con bị tật, ông phải đưa người bố đẻ ở quê lên để trông cháu. Tất tật chui rúc trong một căn phòng. Cụ thân sinh ra ông Viễn Chi rất đẹp lão, trông như một ông tiên. Một lần tôi sang chơi với cụ lúc mọi người đi vắng, cụ còn đọc thơ cho tôi nghe. Cụ lấy bút danh là Dã Tiên (ông tiên nơi thôn dã). Cụ than phiền với tôi phải rời quê ra đây, ở căn phòng chật hẹp này, cụ buồn lắm. Nhưng vì “thương anh Chi” nên cụ phải ở. Nói chuyện với cụ, tôi thấy đây là một ông già rất thông thái. Cụ thấy tôi đã 20 tuổi nhưng gầy yếu cụ khuyên tôi một vài năm nữa phải lấy vợ vì luật âm dương phải hài hòa!!! Một ông già như ông Dã Tiên phải được sống ở nơi non xanh nước biếc mà lại bị cầm tù ở cái gác ấy thì thật là đáng trách. Một lần, cũng do vô tình, tôi được một vị trung niên rất đẹp tướng, cao to, mặt mũi sáng sủa, là hàng xóm của tướng Qua kêu tôi sang nhà nhờ khiêng một cái giường cá nhân. Tôi thấy nhà ông ấy có nhiều sách lại có hai cái điện thọai mắc ở đầu giường, trong khi tướng Qua chỉ có một điện thoại. Tôi hỏi tướng Qua ông ấy là ai mà oai vậy? Tướng Qua cười bảo tôi, cháu học văn mà không biết, ông ấy là ông Tài con nhà văn Nguyễn Công Hoan đó. Cái thế giới nhà tập thể nó thế. Ai có ở nhà tập thể do cơ quan cấp mới thấy chán chường. Đã cả ngày nhìn thấy nhau ở cơ quan, đến khi về đến nhà riêng ra vào lại phải gặp những gương mặt đó. Hợp nhau đã vậy còn nếu không thì chỉ mong dọn đi chỗ khác. Có lẽ vì chán ở tập thể nên chú tôi tìm cách dọn ra ở bên ngoài. Di chuyển đôi lần rồi cuối cùng ông ở 28 phố Hàng Rươi cho đến cuối đời. Lý do về ở phố, theo ông nói với tôi là “thích ở gần dân”. Nhưng ngôi nhà 28 Hàng Rươi cũng vô cùng chật hẹp. Nhà hình ống, bề ngang chỉ hơn 2 m, cầu thang lên dựng đứng. Đi ra đi vào phải lách, vậy mà ông đã ở đấy cho đến lúc ra đi… Có lần, một người ở quê ra chơi, thấy ngôi nhà bé quá, khi về ông ta nhỡ miệng than với mọi người: Nhà ông tướng gì mà như cái chuồng chó! Sau này nghe được câu nói đó, tướng Qua buồn lắm! Cả một đời ngang dọc, đánh đông dẹp bắc chiến tích đầy mình mà đến cuối đời chú tôi vẫn phải ở trong căn nhà “như cái chuồng chó” ấy thật là bất công. Bây giờ, mỗi khi vô một căn nhà, chủ nhân chỉ là viên sĩ quan cấp tá thôi nhưng nhà họ nguy nga như một lâu đài. Tôi mới ngẫm ra rằng, như một nhà hiền triết đã nói: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh”. Nói về tính ích kỷ và sự dối trá của Trần Quốc Hoàn tướng Qua có lần kể, dưới bàn làm việc của tên H là một cái hầm. Chỉ cần bấm nút một cái là cả bàn giấy của H thụt xuống hầm sâu. Căn hầm có thể tránh được bom nguyên tử. Bên phố Yết Kiêu gần đấy, dưới đất là cả một căn hầm rộng mênh mông. Tên H rất sợ chết, chỉ lo bảo toàn tính mạng cho riêng hắn. Khi nói đến sự láu cá, cơ hội, nịnh hót trong hàng ngũ lãnh đạo Bộ Công An, tướng Qua dẫn ra những nhân vật thật tức cười. Đó là thứ trưởng Minh Tiến, cái ông đã làm giấy mượn khẩu súng lục của ông nội tôi khi còn là chủ tịch xã … Minh Tiến thường lảng vảng trong sân Bộ mỗi khi Trần Quốc Hoàn đi đâu về khuya. Khi nghe thấy tiếng xe của Hoàn về là Minh Tiến chạy vội lên phòng, bật đèn sáng choang, ngồi ngay ngắn… “làm việc”! Vì thế Hoàn thường khen: Ở Bộ này chỉ có Minh Tiến là “thức khuya dậy sớm” mà thôi. Cái nghề ở tập thể nó thế. Không ai che giấu được cái tốt, cái xấu với mọi người. Một nhân vật nữa là cục trưởng Hoàng Mai, cục trưởng Cục trại giam trước khi tướng Qua tiếp nhận chức vụ này. Hoàng Mai đi công tác từ Hà Nội, đến Bắc Giang thì bắn được một con chim gáy. Hắn vội quay xe về, chạy hộc tốc lên gác nhà Trần Quốc Hoàn, biếu vợ Hoàn con chim gáy đó và được vợ Hoàn khen nức nở là người tốt. Và dĩ nhiên là được Bộ trưởng Hoàn xếp vào danh sách cán bộ tin cậy. Nói về sự nịnh hót của cấp dưới và sự ba hoa phét lác của “tên H lưu manh”, tướng Qua kể mỗi năm Bộ Công An có một cuộc họp toàn quốc vào cuối năm. H ba hoa xích đế trên diễn đàn. H thường mời những tay có học vị phó tiến sĩ đỗ đạt ở Liên Xô về nói các vấn đề mới về khoa học cho mình nghe. Khi hội nghị toàn quốc của ngành hắn đem những điều nghe được lõm bỏm đó ra ba hoa với hội nghị. Đến giờ giải lao, hắn chạy xuống chỉ tay vào những người ở hàng ghế đầu, thường là thứ trưởng, cục trưởng hỏi: Tôi nói nghe có được không? Thế là lập tức có kẻ xoa xoa hai tay, tâng bốc: Nghe Bộ trưởng nói cứ… sáng ra, ước gì một năm có vài lần hội nghị toàn quốc thế này để anh em được nâng cao trình độ. H sung sướng cười híp cả mắt. Vì thế nên tôi và HH (cục trưởng) đến kỳ họp toàn quốc phải lẩn xuống chỗ các trưởng ty ngồi để đề phòng tên H nhỡ ra lại chỉ tay vào mình mà hỏi: Tôi nói thế anh Qua thấy thế nào? Chả nhẽ lại nói, anh nói tôi nghe như… cục c! Nói về sự ton hót, tướng Qua kể một chuyện đáng buồn nôn. Đó là kỳ họp sau khi thống nhất đất nước. Sau khi nói về sự “tiến bộ” của ngành, tên H hỏi anh em: Đánh giá ngành ta thế có khách quan không? Một tên ton hót đã thưa: Thế mà có người nói rằng đi xa, lâu ngày về Bộ thấy chẳng có gì thay đổi cả(!) Tôi nghe câu đó giật mình lo cho Nguyễn Công Tài. Tài đi B công tác 9-10 năm, bị tù rất anh dũng, sau khi đất nước thống nhất được đón về như một vị anh hùng. Nhưng Tài thẳng thắn, và chính Tài là tác giả của câu nói đó. Và quả thật, Tài đã lâm nạn. Chỉ ít lâu sau bị “nghi vấn” là khi ở tù có khai báo và bị chuyển đi khỏi ngành. Nói về sự bịp bợm của tên H, tướng Qua kể, hắn mua rất nhiều máy tính điện tử, ngày nay gọi là máy vi tính. Tốn kém không biết bao nhiêu là tiền của công quỹ. Hắn báo cáo với Bộ Chính trị rằng, với thứ máy móc siêu việt này, án nào cũng phá được. Những người công tác lâu năm trong công việc điều tra hỉnh sự thì hiểu rất rõ rằng, nếu đưa dữ liệu sai vào máy tính thì còn nguy hiểm gấp trăm lần vì máy sẽ nhân cái sai lên trăm lần. Để nói về sự trung thực trong công tác điều tra, không quan liêu, không ép cung, để “phá án” lấy thành tích tướng Qua đã kể cho tôi nghe nhiều lần “Vụ án ở nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm Hà Nội”. Câu chuyện như sau: Giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia lâm tự tử. Nhưng vì muốn có thành tích, Sở Công An đã ép cung đến 8-9 cán bộ. Vì bị tra tấn ép cung quá, không chịu nổi họ đều đã nhận giết ông giám đốc nhà máy. Án được “phá” nhanh chóng và được báo cáo lên Quốc Hội, được chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh khen. Nhưng một hôm, cái xác ông giám đốc nhà máy ấy được vớt lên ở cửa sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên. Sau khi khám nghiệm tử thi, trưởng phòng đại úy Tích kết luận là nạn nhân tự sát, không phải bị giết. Nửa đêm, đại úy Tích đạp xe về Bộ báo cáo Cục trưởng cảnh sát Lê Hữu Qua. Ông cục trưởng nói: Nếu đúng vậy thì anh làm hồ sơ thật cẩn thận để điều tra lại. Thế là bùng nổ cuộc xung đột giữa giám đốc công an Hà Nội lúc đó mà đứng sau là thứ trưởng Lê Quốc Thân với Cục cảnh sát nhân dân, đứng đầu là cục trưởng Qua. Cuộc đối đầu này, mà theo cục trưởng Qua thì “Hồ sơ đã lên đến hàng tạ giấy” mà không phân thắng bại, phải trái. Nhưng quyết tâm của Cục cảnh sát là phải minh oan cho các nạn nhân bị ép cung. Cuộc đấu tranh một mất một còn này kéo thêm một cái chết nữa của một viên bác sĩ Pháp y của quân đội quốc gia (Bảo Đại). Viên thiếu tá Pháp y rất giỏi này được mời tham gia vụ án. Trong một phiên họp rất căng do Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn chủ trì, bác sĩ giáo sư Tôn Thất Tùng vì quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm. Ông rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mì chính nhỏ rơi ra (Bác sĩ Tùng có thói quen gói những gói mì chính (bột ngọt) nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vô tô phở). Thời đó, bột ngọt quý như vàng. Bác sĩ Tùng phải là người sang lắm mới có sẵn thứ này trong người. Tướng Qua kể, thấy Gs Tùng run quá, tôi phải nhặt dùm ông các gói mì chính rồi để lại vào túi cho ông. Tôi nói: Gs cứ bình tĩnh phát biểu. Gs Tùng đã từ chối kết luận vì ông không phải là Pháp y. Đến lượt viên thiếu tá Pháp y của quân đội quốc gia Bảo Đại phát biểu, sau khi chứng minh ông giám đốc không phải bị giết. Trong cơn xúc động, ông thiếu tá đấm tay vô chiếc bảng treo trên tường và nói lớn: Nếu giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm mà bị giết thì đốt hết sách vở đi! Nói xong, ông ta uống gói thuốc độc lấy ra từ túi và gục xuống chết ngay tại phòng họp. Tướng Qua cũng nói tỉ mỉ về vai trò của ông Lê Đức Thọ trong vụ này. Ông kể: Ông Thọ yêu cầu chúng tôi phải mang đạo cụ đến nhà riêng của ông, diễn lại vụ tự tử của giám đốc nhà máy như quan điểm của Cục Cảnh sát. Chúng tôi phải chở đến cả một xe tải dụng cụ, y như là một gán hát chở phông màn đến diễn tuồng. Cực nhất là phải mua cả tiết heo để vẩy lên hiện trường để thuyết minh các tình tiết về các vết máu khi xảy ra sự việc. Xem kỹ “vở diễn” ông Thọ kết luận là phải tiếp tục điều tra để đi đến kết luận. Sự việc lên đến đỉnh điểm khi một phiên họp, có cả giám đốc trại giam đang giam giữ các tù nhân bị ép cung, thứ trưởng Lê Quốc Thân ra hiệu bằng mồm (ám hiệu bật môi khi phát âm chữ bờ-b không thành tiếng) là bắn các tù nhân để bịt đầu mối. Tôi biết Thân hay ra ám hiệu nên theo dõi Thân rất kỹ trong cuộc họp. Đến khi hắn ra hiệu “bắn”, tôi báo ngay cho ông Thọ biết. lập tức ông Thọ điện cho Thân hỏi, có phải anh ra lệnh bắn tù để bịt đầu mối vụ án phải không? Sau này anh em kể lại, nghe điện thoại của ông Thọ xong, Thân chửi ầm lên là lại thằng Qua báo cáo chứ gì. Tình hình Bộ Công An lúc đó rất căng thẳng giữa Cục Cảnh sát và thứ trưởng Thân. Trong một phiên họp có phó Ban kiểm tra trung ương là Trần Kiên dự, Lê Quốc Thân đã chỉ thẳng vào mặt cục trưởng Lê Hữu Qua nạt: Anh Qua sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc rũ rối vụ án đã được khép lại này. Tướng Qua cũng kiên quyết: Tôi phản đối đến cùng kết luận của giám đốc công an Hà Nội và anh. Cuối cùng thì một đoàn chuyên gia của Bộ Công An nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức được mời sang. Theo tướng Qua, nước Đức có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ phá án. Quan điểm của các bạn Đức là nếu có án thì hung thủ phải để lại hiện trường dấu vết, và nếu có dấu vết thì sẽ tìm ra thủ phạm. Đoàn của Đức đi riêng một chuyên cơ gồm 10 người, gồm chuyên gia các lĩnh vực. Tướng Qua cho hay có một ông gọi là “chuyên gia thắt cổ”. Ông đem theo cả một bộ sách dầy, tổng kết tất cả các hình thức thắt cổ kèm theo hình vẽ, có từ thời Hy Lạp cổ đại đến giờ. Bộ sách phân tí...
83 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 12) Lời Ai Điếu Nhân vật thứ hai được tướng Qua luôn nhắc đến là Phạm Văn Đồng – thủ tướng lâu năm. Dưới mắt tướng Qua thì Phạm Văn Đồng là con người chủ quan, bốc đồng và rất vô tích sự. Ông kể: Vừa mới giải phóng thủ đô, tôi phải bảo vệ cuộc họp quan trọng của đại diện Cộng hòa Pháp với chính phủ ta. Tôi phải đích thân lái xe đến chỗ Sainteny để chở hắn sang họp với Phạm Văn Đồng. Sainteny yêu cầu phải có xe của Bộ Công an ta sang đón thì hắn mới đi, vì trước đó trong ngày CM tháng Tám mới thành công, đã có lần xe của hắn bị bắn. Hắn sợ! Cuộc họp kết thúc, Sainteny chưa bước ra khỏi phòng họp thì đã thấy tiếng cười lớn Ha! Ha! Ha! của Phạm Văn Đồng rồi tất cả cười theo. Thấy thế Sainteny quay ngoắt lại, có vẻ rất ngạc nhiên và khó chịu. Sau khi đưa Sainteny về rồi, tôi quay lại hỏi ông Lê Thanh Nghị: vì sao khi Sainteny chưa ra khỏi phòng mà ông Đồng và mọi người đã cười to thế, khiến hắn rất khó chịu, tôi thấy làm như thế là bất lịch sự… ông Nghị cười nói: Sainteny sau cùng có đề nghị ta, nếu chính phủ Việt Nam có cần giúp đỡ, bồi hoàn chiến tranh của chính phủ Pháp thì xin các ông cứ đề đạt, tôi sẽ là người tích cực trong công việc này… Nghe Sainteny nói, anh Đồng không trả lời, khi y quay ra thì anh Đồng nói: Mới đánh cho thua vãi cứt mà đã lên mặt! Rồi anh ấy cười lớn, mọi người cười theo! Kể xong câu chuyện trên, tướng Qua kết luận với tôi: Phạm Văn Đồng là thế đó, chỉ làm hại đất nước! Ông còn kể tiếp về Sainteny: “ngày Bác mất, Sainteny được chính phủ Pháp cử sang dự lễ tang. Đúng lúc Y bước vào nhà tang lễ thì tôi đang túc trực hòm kính pha lê thi hài Bác cùng ba vị nữa ở Bộ Công An. Tôi thấy y mặc áo đuôi tôm, tức trang phục chỉ dùng cho đại lễ ở bên Tây, rất trang trọng, sau đó Y ngồi viết vào sổ lưu niệm. Sau 20 phút đứng túc trực theo quy định của Ban tang lễ, tôi lên mở sổ lưu niệm ra xem. Sainteny đã viết: suốt đời tôi là đối phương của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tôi chưa bao giờ là kẻ thù riêng của con người này. Tướng Qua kể xong tôi kết luận: chỉ có hai cảm tưởng viết trong sổ lưu niệm là hay nhất, độc đáo chân thành là của Sihanouk và Sainteny.” Tôi cho rằng, có lẽ tướng Qua chỉ đọc được tiếng Pháp nên ông mới nhận xét như thế. Còn các ngôn ngữ khác ông đâu có rành! Một lần, nhân nói đến sự vô tích sự của Phạm Văn Đồng, ông kể: Bộ Công An có đến 61 cục, vụ, viện, như một cái hàng xén hoạt động kém hiệu quả. Tôi đề nghị tên H cho thành lập Tổng cục để bộ máy hoạt động hiệu quả, kịp thời hơn. Nhưng tên H không cho, hắn sợ phải phân quyền, 61 cái đầu mối ấy hắn nắm, trực tiếp chỉ huy vì thế rất chậm trễ, trì trệ. Hắn còn nói thẳng vào mặt tôi, anh định làm Bộ trưởng thay tôi hay sao. Tôi lên thẳng thủ tướng để đề đạt phải thành lập Tổng cục. Hôm lên gặp Phạm Văn Đồng thì gặp Lê Quý Quỳnh, bí thư tỉnh Hưng Yên, một tỉnh đang có phong trào nuôi ong. Quỳnh được Phạm Văn Đồng mời vào trước. Ngồi bên ngoài, chỉ cách tấm bình phong, tôi nghe Lê Quý Quỳnh tán về cái chân con ong. Nào sự kỳ diệu của cái chân con ong, bới phấn hoa bằng chân, chuyên chở phấn hoa bằng chân… nghe Lê Quý Quỳnh nói, Phạm Văn Đồng cười hả hê Ha! Ha! Ha! … suốt nửa tiếng đồng hồ, Quỳnh tán về cái chân con ong mà Đồng vẫn ngồi nghe, còn tán dương… cười ha hả. Đến lượt tôi, vừa nói đến câu thứ hai về cái hàng xén 61 cục vụ viện ở Bộ Công An cần phải được tổ chức lại … thì Phạm Văn Đồng gạt phắt đi, ông ta khua tay nói, tôi nghe đủ lắm rồi, anh về đi!!! Tôi đi xuống cầu thang mà đầu choáng váng, mắt tối rầm, căm tức trào lên tận cổ! Một lần khác, tướng Qua kể tiếp: Lần này thì chính Phạm Văn Đồng gọi tôi lên để trình bày về cái vụ thế giới nó chỉ trích ta về nhân quyền trong vụ bắt tù nhân là tướng lĩnh sĩ quan Sài Gòn đi cải tạo vô kỳ hạn sau 1975. Với tư cách Cục trưởng Cục Trại giam, tôi phải báo cáo thủ tướng chính phủ để còn biết đường mà trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí phương tây. Tôi chuẩn bị khá kỹ tài liệu để báo cáo. Gặp tôi, ông ta không thèm hỏi han một câu nào, chỉ ra hiệu, “Anh nói đi”! Tôi vừa báo cáo được vài câu thì đã thấy ông ta ngủ gật. Tôi phải vờ đặt cái tay xuống bàn thật mạnh để ông ta tỉnh dậy. Tôi lại báo cáo, ông ta lại ngủ gật. Lúc tỉnh dậy, ông nói, anh báo cáo lại đi tôi nghe chưa rõ. Tôi đứng dậy và nói thẳng vào mặt ông ta, anh có nghe đâu mà rõ… sau đó tôi quay gót về luôn. Ông ta cũng không nói gì cả. Chắc là để ngủ tiếp!!! Sau này tôi được nghe nhà báo Trần Đĩnh ở báo Nhân dân kể, Phạm Văn Đồng chuyên hút thuốc phiện và chơi đĩ do Lê Đức Thọ cung cấp, vì thế hai cái môi thâm sì. Và Lê Đức Thọ bảo sao thì phải nghe vậy, không thì cắt nguồn thuốc phiện và gái(!) Tôi tin lời anh TĐ vì suy ra, người hút thuốc phiện hay ngủ gật, và điều tướng Qua nói là hoàn toàn đúng về cái sự ngủ gật của ông Thủ tướng lâu năm này. Chả có thế mà đã thành bài vè trong dân gian “Hoan hô anh Tạ Đình Đề Trước là gián điệp sau về với ta Hoan hô anh Lê Quảng Ba Trước là thổ phỉ sau ra với mình Hoan hô đồng chí Trường Chinh Trước theo Trung Quốc nay hình như không Hoan hô ông Phạm Văn Đồng Tuy là thủ tướng nhưng không làm gì!” “Không làm gì” đó là đặc điểm nổi bật của ông Phạm Văn Đồng. Vậy mà ông làm thủ tướng lâu đến thế. Chính ông cũng từng nói một câu nổi tiếng: “Tôi làm thủ tướng mà chẳng có quyền gì cả!” Vậy mà ông cứ làm. Ngày ông mất, từng đoàn xe con bóng lộn của các quan chức Hà Nội đi theo linh cữu ông đến Mai Dịch. Nhưng không thấy người dân Hà Nội nào đứng hai bên đường để tiễn chân ông. Khác hẳn với đám tang ông Võ Văn Kiệt, dân chúng Sài Gòn đứng đông nghẹt hai bên đường từ dinh Thống Nhất đến nghĩa trang Thủ Đức dài hàng chục cây số để tiễn đưa, người đã từng ngược xuôi “chạy gạo” cho dân Sài Gòn khi ông làm bí thư thành ủy thời bao cấp. Người thứ ba mà tôi thấy tướng Qua hay nhắc đến là ông Trường Chinh. Khi nói về tính cẩn thận, tướng Qua kể: ông này (TC) cẩn thận chưa từng thấy, đo may quần áo cho ông rồi, chiến sĩ của tôi khi đem quần áo đến nhà thì phải chở theo một cái gương rất to. Ông mặc thử rồi đứng trước gương soi. Hai cảnh sát đứng sau lưng ông cầm cái gương để ông ngắm xem phía sau có “chuẩn” không. Chỉ cần cái tà áo phía sau hơi cong một chút là đem về may lại! Trên Tam Đảo, tôi đã bố trí một cảnh sát cắt tóc có nghề để phục vụ cán bộ cao cấp khi nghỉ mát cần cắt tóc. Đến Bác Hồ cũng từng để cậu này cắt tóc, cạo mặt cho. Vậy mà khi cần cắt tóc ở Tam Đảo, theo yêu cầu của ông Trường Chinh, chúng tôi phải đánh một cái xe chở cậu cắt tóc quen thuộc của ông từ Hà Nội lên để cắt tóc cho ngài! Nói xong, tướng Qua lắc đầu than: dictateur! (kẻ độc tài). Người thứ tư mà tướng Qua hay nhắc tới là Hồ Chí Minh. Ông nhiều lần kể cho tôi câu chuyện, sau CM tháng Tám, bộ đội, công an, dân quân tự vệ, du kích ta “thèm” súng lắm. Ai cũng muốn mình có một khẩu súng để chuẩn bị đánh giặc, vì thế du kích ở Chèm thấy có một cái tầu của quân Tưởng ngược về phía Bắc tưởng là tầu chở vũ khí nên họ đánh úp. Té ra là tầu chở bọn Tưởng ốm về Tầu trị bệnh. Trót giết mất bọn này rồi, quân ta chuồn luôn. Nào ngờ một tên trốn thoát, nó về báo cáo cấp trên. Quân Tưởng hạ lệnh cho ta phải tìm cho bằng được số du kích này để xử. Được lệnh của Bác, tôi phải lên tận Chèm để bắt các vị này. Không khó lắm, chỉ cần hỏi chuyện ông già bán chuối ở đầu làng là ra hết. Bắt được mấy vị này rồi, tôi báo cáo Bác. Nhưng một số anh em bàn, lấy tù thường phạm “thế” vào mấy vị này. Nhưng tên Tầu Tưởng trong lúc nhốn nháo, nó nằm bẹp một xó nhớ mặt các vị đó, rồi nhẩy xuống sông trốn thoát. Nó nhận mặt tù nhân và không chịu. Bác rất than phiền. Ông cụ nói, quân đội cách mạng mới xây dựng mà đã vô kỷ luật thế này thì làm sao mà trưởng thành nổi. Ông cụ phân tích: quân Tưởng là đại diện cho Đồng minh, động vào quân Tưởng là chống lại Đồng minh, vì vậy không thể không xử vụ này được. Lệnh tử hình mấy vị này trước mặt quân Tưởng được ban hành. Trước khi bắn các vị đó, tôi cẩn thận gọi điện báo cáo Bác một lần nữa. Bác chỉ trả lời ngắn gọn: một là mất nước, hai là thi hành lệnh. Anh Nguyễn Văn Trân (bí thư thành ủy HN sau này – LPK) bắn một phát rồi run quá, nằm vật ra, mồ hôi vã ra như tắm. Tôi phải giằng lấy súng, xử nốt mấy vị còn lại bằng các viên đạn vào thái dương. Xong, tôi cũng choáng quá, như muốn ngã xuống đất. Nhưng không quên gọi điện cho Bác, báo cáo đã thi hành lệnh. Từ đầu dây bên kia tôi nghe rõ Bác nói, giọng xúc động: nhớ ghi tên các chú đó để sau này làm bằng liệt sỹ cho các chú ấy. Mỗi lần kể lại cho tôi nghe câu chuyện này, tướng Qua đều rơm rớm nước mắt. Ông đốt thuốc liên tục. Câu chuyện thứ hai mà tướng Qua kể về ông Hồ là phải đem vàng chuộc Bác. Không hiểu vì lý do gì quân Tưởng mời Bác sang làm việc rồi giam ông cụ lại. Đã mấy ngày trôi qua, ở nhà ai cũng vô cùng lo lắng. Tôi được cử đi gặp ông cụ để nắm tình hình. Đến nơi tôi rất ngạc nhiên là thấy cụ ngồi bình thản hút thuốc như không có việc gì xẩy ra, sau đó bảo tôi: thế là mất toi cả tuần lễ vàng! Sau đó ta phải đem vàng để chuộc ông cụ về! Một câu chuyện khác về ông Hồ rất “độc đáo”. Tướng Qua vui vẻ kể: mới độc lập mà ông cụ đã gọi tôi lên bảo: phải giữ phố Khâm Thiên lại cho Bác. Tôi không hiểu ý ra sao. Còn anh em thì muốn dẹp ngay cái phố cô đầu nổi tiếng ở Hà Nội này đi vì cách mạng đã thành công. Nhưng đến khi quân Tầu Tưởng ồ ạt kéo sang, đại diện cho quân Đồng minh ở miền Bắc để giải giáp quân Nhật thì Bác lại gọi tôi lên bảo: tối tối đưa các sỹ quan tướng lĩnh của quân Tưởng xuống đó chơi bời cho nó đỡ phá phách, gây sự với ta. Thế là chúng tôi hiểu. Nhưng hiềm một nỗi là, bọn quan tướng Tầu Tưởng khốn nạn lắm. Ban đêm chúng “tòm chát” ở Khâm Thiên, ban ngày chúng lại dẫn mấy con đào này đi ưỡn ẹo ở Hàng Ngang Hàng Đào, mấy con đĩ này chỉ vào cái vòng vàng, vòng bạc, đồ nữ trang nào là bọn tướng Tầu lại cướp không cho chúng. Đồng bào thưa kiện lên chúng tôi. Ai lại cách mạng rồi mà không bảo vệ được tài sản cho đồng bào thì còn ra làm sao. Thế là chúng tôi lại phải đến lột lại các đồ vàng bạc đó ở các con đĩ, dọa chúng còn làm thế nữa là “coi chừng mạng sống”, rồi đem trả lại cho đồng bào. Thế mà có con còn ngoan cố, vẫn không chừa… lấy rồi trả, trả rồi lại phải đi lấy lại, như đèn cù. Nói về sự tiết kiệm, tướng Qua kể: đi công tác trong kháng chiến, chúng tôi phải nắm cơm mang theo. Đến giờ ăn, cậu cần vụ giở nắm cơm ra, cẩn thận cậu ta dùng dao ca-níp gọt vỏ nắm cơm đã bị cứng ở bên ngoài ra, để vào một góc tờ giấy. Gọt đến đâu thì ông cụ bỏ vào mồm nhai đến đó, thấy thế cậu ta từ đó không gọt vỏ cơm nữa. Riêng với cá nhân tướng Qua, có lần ông kể: tôi là dân Hà Nội, không quen đi chân đất nên lúc đi kháng chiến có mang theo một đôi “ghệt” cao cổ. Thấy tôi đi đôi giầy da của bọn police militaire Pháp, có cậu thưa với ông cụ: anh Qua đi kháng chiến mà còn mang thói tiểu tư sản, đi giầy cao cổ của thực dân Pháp! Ông cụ chỉ nói: thôi, chú ấy được việc là được. Còn bộ đồ kaki Mỹ của tôi mặc trên người cũng bị chỉ trích. Ông cụ lại nói: thứ vải ấy nó bền, cứ để chú ấy mặc! Có lần tướng Qua cho tôi xem một tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, đó là bức thư được đánh máy từ cái máy chữ xách tay, chữ nhỏ li ti. Trong thư ông Hồ chỉ thị cho tướng Qua ém quân ở một đoạn đường để bảo vệ cho thiếu tướng Văn Tiến Dũng đưa quân ta vượt sông. Dưới cùng ký tên Hồ Chí Minh, cũng là ba chữ đánh máy. Xem thư tôi mới biết hồi đó quân ta đã được phong hàm, và ông Văn Tiến Dũng là thiếu tướng. Lá thư đó được tướng Qua giữ cẩn thận trong một cuốn an-bum, ông bảo tôi: đây là précieux souvenir (kỷ niệm quý). Ngày ông đau nặng, chỉ còn nói được câu một. Tôi hỏi về từng người: Trường Chinh? Trả lời: dictateur. Phạm Văn Đồng? Trả lời: suốt đời làm hại người khác! Hồ Chí Minh? Trả lời: đâu cũng đi, cái gì cũng biết! Những lời nhận xét của ông đương nhiên chỉ là lời một võ tướng. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ thấy ông “phê phán” ông Hồ Chí Minh cả. Duy chỉ có một lần, sau ngày ông cụ mất (2.9.1969), tôi lên chơi, ông hỏi: cháu có biết ai là người thương Bác Hồ nhất không? Tôi còn chưa biết trả lời thế nào thì ông nói: mấy hiệu nhiếp ảnh là họ thương cụ Hồ nhất vì thức suốt đêm để in những tấm ảnh bốn ông đứng gác hòm kính pha lê… để bán, mắt cậu nào cũng đỏ hoe! (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 8, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-12/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 13): https://www.minds.com/newsfeed/1019878999822864384?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 11): https://www.minds.com/newsfeed/1019877983002349568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
19 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 11) Chương Năm – phần 2 Sau 1975, với sự việc bắt đi cải tạo tất cả các sĩ quan tướng lĩnh thuộc chế độ Sài Gòn cũ (thực chất là bắt đi tù vô thời hạn), tướng Qua lên án Trần Quốc Hoàn rất gay gắt. Dĩ nhiên việc này không chỉ riêng ông Hoàn chịu trách nhiệm, nhưng tướng Qua có nhiều bất đồng với các chủ trương của Hoàn trong việc này. Ông nói: Sau 30/4/1975 việc đầu tiên là tên H lưu manh lùa cán bộ vào Nam bắt tù. Y vô Sài Gòn ngồi khoanh chân vòng tròn trên một cái sập, luôn mồm thúc giục phải gấp làm hồ sơ để bắt tù. Trông y ngồi như một tên địa chủ! Việc làm hồ sơ tù nhân là để phân loại, cấp tá thì lùa ra Bắc bằng tàu thủy. Cấp tướng và ngụy quyền cao cấp (tức thứ, bộ trưởng, nghị sĩ quốc hội …) thì đi bằng máy bay. Điều này trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức đã mô tả là rất đúng. Tôi, kẻ viết những dòng chữ này là người trực tiếp đi “đón” các vị đi cải tạo ra Bắc nên xác nhận Huy Đức viết đúng. Số là thế này, sau nhiều năm dạy học ở Hải Hưng, năm 1974 tôi được Đài Tiếng nói Việt Nam nhận về làm phóng viên tại ban miền Nam của Đài. Sau 30/4 ở Đài Tiếng nói Việt Nam ai cũng muốn đi vô Sài Gòn. Lúc đó được đi Sài Gòn thì sung sướng gấp 10 lần được đi nước ngoài. Nhưng chỉ cán bộ lãnh đạo cấp trưởng, phó ban trở lên của Đài mới hy vọng được đi. Các vị đi Sài Gòn lúc đó phải có quyết định của Tổng Giám đốc Đài, phải được sự đồng ý của Cục tác chiến Bộ Quốc Phòng, phải có giấy để đi đổi tiến vì miền Nam lúc ấy còn tiêu tiền chế độ cũ… Nói chung là rất khó. Tôi nghĩ ra một “mẹo” là sang Bộ Công An, xin tướng Qua một cái giấy giới thiệu là nhà báo, được Cục Quản lý Trại giam giới thiệu vào các trại giam ở miền Nam để “nghiên cứu”. Giấy giới thiệu được đóng mộc Bộ Công An ngay vì em ruột của tướng Qua là Lê Phú Ninh đang làm ở văn phòng Bộ. Ông Lê Phú Ninh cũng là chú ruột của tôi, tôi kêu bằng chú Ba. Với cái giấy giới thiệu của Bộ Công An như thế đem về Đài, Tổng giám đốc Trần Lâm đồng ý ngay. Đều là dân Hà Nội đi hoạt động cách mạng nên Trần Lâm cũng rất biết tướng Qua (ông Lâm quê gốc ở Hải Dương nhưng sống ở Hà Nội từ bé và lấy vợ con nhà giàu ở phố Hàng Đào). Ông trưởng phòng của tôi cũng được “ăn theo” tôi đi Sài Gòn vì đi phải có đoàn, có tập thể. Trước khi đi, Tổng giám đốc Đài còn giao nhiệm vụ cho “đoàn” là phải gặp gỡ các trí thức Sài Gòn như các ông Lý Chánh Trung, bà Ngô Bá Thành, anh Lê Văn Nuôi, anh Huỳnh Tấn Mẫm… để thu thập tư liệu, chuẩn bị bài viết về họ vì năm 1976, các vị này sẽ tham gia quốc hội thống nhất đầu tiên. Tôi lên đường. Trại giam nào cũng vào, kể cả Khám Chí Hòa vì có cái giấy giới thiệu của Cục Trại giam. Khi trưởng trại biết tôi là cháu ruột của tướng Qua thì ông mời nhậu … vô tư. Một lần tôi đi lang thang lên Thủ Dầu Một chơi, gặp ông Sáu Phát, là cán bộ cao cấp của tỉnh, sau này là chủ tịch tỉnh Sông Bé, lúc ra về trời đã tối ông Sáu rất tốt bụng đưa cho tôi một khẩu súng lục bảo cầm lấy để phòng thân. Tôi thành thật nói từ bé đến giờ tôi chưa cầm súng thật bao giờ và cũng không biết bắn súng. Tôi cảm ơn và trả lại ông. Tôi còn nói đùa: Nếu gặp địch là … tôi đầu hàng! Ông Sáu Phát khen tôi là người Hà Nội có khiếu nói giỡn. Cũng nhờ lang thang các trại giam ở Sài Gòn và miền Nam mà tôi gặp đại úy Hán, trại trưởng một trại ở Nam Hà, ông này có nhiệm vụ là vô Sài Gòn để mua một cái “téc” xăng đem ra Bắc để trại ông nấu rượu mơ vì vùng của ông là cả một rừng mơ. Ông cũng được giao nhiệm vụ chở hồ sơ tù ra Bắc cho Bộ Công An. Chiếc xe tải to đùng của ông đủ chở cái “téc” xăng trong đựng hồ sơ tù. Tôi xin ông cho quá giang xe về Hà Nội. Dĩ nhiên là ông đồng ý. Chúng tôi đi mất 4 ngày mới về đến Hà Nội, đêm ngủ ở các ty công an tỉnh. Một buổi sáng nọ, tướng Qua cho tôi cùng đi “quan sát” việc đưa tù nhân cấp tướng và ngụy quyền cao cấp Sài Gòn ra Bắc. Xe com-măng-ca của ông đỗ trong sân bay Gia Lâm chờ máy bay chở tù từ Sài Gòn hạ cánh. Từ xa chúng tôi dùng ống nhòm quan sát các vị tướng lĩnh xuống máy bay. Tôi nhìn rõ qua ống nhòm, các ông tướng mang theo hành trang nặng nề như các ông tay ba lô đi du lịch bụi bây giờ. Tướng Qua giải thích, chúng tôi cho họ mang đầy đủ đồ dùng cá nhân, chăn mền, cả chiếu nằm nữa. Một buổi sáng đầu năm 1977, tôi lại được tướng Qua cho vô thăm trại Ba Sao, nơi giam giữ các tướng lĩnh và “ngụy quyền” cao cấp của chế độ Sài Gòn để học tập cải tạo. Vừa xuống xe, các sĩ quan quản lý trại đã nói: Chúc mừng thủ trưởng sắp lên tướng. Thì ra họ đã biết tướng Qua (lúc đó đang đeo lon đại tá) sẽ được lên tướng trong thời gian sắp tới. Quả đúng như vậy, tháng 4/1977 ông được thăng chức thiếu tướng. Ngày đó, chức thiếu tướng “oai” lắm. Theo tôi biết ở Bộ Công An, chỉ có một vị được đeo lon thiếu tướng ngạch cảnh sát là thiếu tướng Nguyễn Thế Tùng. Quan sát cảnh quanh trại Ba Sao thì đây là vùng Hà Nam Ninh, vũng trũng có nhiều núi đá vôi mọc lên từ các đầm nước rộng. Sách địa lý gọi đó là vùng Hạ Long cạn. Nhân đây cũng nói thêm, sau 30/4 Cục Trại giam đã “đánh” một vị phó tiến sĩ tâm lý học, tốt nghiệp ở Liên Xô về, nếu tôi nhớ không nhầm thì anh ta tên là Tịch đeo lon đại úy. Xin bạn đọc tha lỗi cho những đoạn phải thòng câu “nếu tôi nhớ không nhầm” vì ngày đó thú thật tôi không định làm một cuốn như “Bên Thắng Cuộc” nên không ghi chép lại cụ thể nhưng đến nay đã ở tuổi 70 thấy cần phải nói rõ sự thật, không nói một nửa sự thật như người ta vẫn làm nên mới có cuốn hồi ký này. Đại úy Tịch được “đánh” vào trại giam với với số tù giả. Tôi được đưa xem nơi ăn ở của các tù nhân học tập cải tạo. Phòng giam rất rộng, được xây rất nhiều bệ xi măng sát nhau vừa một người nằm. Các tù nhân trải chiếu cá nhân đan bằng sợi ny lon nhiều màu lên các “giường” của mình như trải chiếu hoa. Trông rất đẹp mắt. Giường chiếu, đồ đạc được xếp ngăn nắp, trật tự. Trong khi tôi đi ngắm nơi ăn chốn ở của họ thì các tù nhân lại đứng chơi ở ngoài sân rộng, ngắm phong cảnh. Tôi thấy một vị rất già, mặt vuông chữ điền, râu để dài như Quan Vân Trường, chỉ khác là râu đã bạc trắng, rất oai vệ. Tôi hỏi tướng Qua: Già thế kia còn bắt đi cải tạo làm gì? Tướng Qua nói, thế cháu không biết ông ấy là Vũ Hồng Khanh, đảng trưởng Quốc dân đảng à? Tôi vẫn thắc mắc: Quốc dân đảng đã chết từ lâu rồi cơ mà? Tôi lại được giải thích: Mỹ luôn duy trì các đảng phái chính trị đối lập, khi cần thì thay ngựa giữa dòng! Lệnh của H phải bắt thì tôi cứ bắt, nhưng sẽ thu xếp để ông ấy được về quê ở Vĩnh Yên, chết già, khỏi mang tiếng là chết trong tù (quả thật, sau này ông Vũ Hồng Khanh được chết ở quê hương Vĩnh Yên của ông). Tôi lại gặp một vị đứng tuổi khác, dáng vẻ rất trí thức. Ông ta tự giới thiệu là Phạm Xuân Bào, thứ trưởng Bộ Giáo Dục Sài Gòn có con đang học đạo diễn ở bên Pháp. Tôi lại đi tìm tướng Qua để thắc mắc. Tôi nói: ông thứ trưởng Phạm Xuân Bào là một trí thức có tên tuổi ở miền Nam. Ngày cháu vô thư viện Huế, thấy có cả một cái étagère sách dành riêng cho giáo sư. Bắt những trí thức như thế đi cải tạo làm gì? Tướng Qua vẫn trầm tư hút thuốc, ông nhả từng làn khói rồi mỉa mai nói: ngụy quyền cao cấp mà! Ông muốn mỉa mai những điều mà tên H đặt ra rồi bắt Cục trại giam thực thi với các đối tượng phải đi tù ra Bắc. Có một vị làm tôi suy nghĩ mãi, đó là một trung niên. Ông ta nói thẳng với tôi làm mình bị tù oan! Tôi hỏi lý do, ông ta giải thích: tôi là nghị sĩ Quốc Hội, nhưng là phe đối lập với ông Thiệu, chống chính phủ Thiệu tham nhũng! Tôi không khỏi ngỡ ngàng đến đau xót khi thấy chế độ Sài Gòn về mặt thể chế hơn hẳn chế độ độc đảng ở miền Bắc, vì Quốc hội của họ có phe đối lập. Nhưng dưới con mắt của những người sống trong xã hội nhất nguyên độc đảng thì nghị sĩ Quốc hội là “ngụy quyền cao cấp” rồi, đã là “cao cấp” thì phải đi cải tạo! Tôi không còn hỏi thêm gì nữa, sau khi gặp ông nghị sĩ phải tù oan này! Làm sao cục trưởng Qua có thể cãi lại những quan điểm của Bộ trưởng H và cả những người trên H nữa. Nhưng tướng Qua phản đối việc khai thác, lấy cung tù nhân ngay lập tức. Ông nói với tôi: người ta vừa chân ướt chân ráo ra Bắc, đang hoang mang cực độ, có hỏi cung thì họ cũng khai cho qua chuyện, hoặc khai láo không đem lại một thông tin gì có tính khoa học để ta hiểu thêm phía bên kia. Quan điểm chính thống là, tướng lĩnh cao cấp của chính quyền Sài Gòn sẽ phải khai ra những bí mật, những ý đồ, cả những tâm tư của họ trong suốt mấy chục năm giao tranh với bên cộng sản mà nay là dịp ta được biết, rất cần cho ngành an ninh của ta. Tướng Qua lại chủ trương thuyết phục, cảm hóa để họ nói thật, khai thật. Cuối cùng thì quan điểm của ông đã thắng. Vì thế mới có chuyện các vị giáo sư, các nhà sử học, văn học của ta được mời vô các trại giam giữ tướng lĩnh và ngụy quyền cao cấp để nói chuyện, thuyết trình khoa học, trao đổi với các vị “cao cấp” này để họ hiểu đường lối đúng đắn của chính quyền miền Bắc. Tôi cũng được tướng Qua cho tham gia vào công việc mà theo tôi, rất đúng đắn, rất nhân văn này. Tôi được ông hỏi ý kiến về việc đề xuất những ai, những vị trí thức nào ở Hà Nội lúc đó để Cục đón vào nói chuyện với tù nhân với từng đề tài cho phù hợp. Ấn tượng nhất với tôi là đề tài “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Các tù nhân, đương nhiên là có học, đều rất cảm phục miền Bắc là trong khó khăn bom đạn chiến tranh như thế mà vẫn quan tâm “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, và đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, đưa ra được nhiều kết luận xác đáng về tiếng Việt, sự cần thiết phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Sau này, khi tôi được đọc những cuốn sách như “Hoa xuyên tuyết”, “Mặt thật” của nhà báo Bùi Tín, cuốn “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên đều thấy có những đoạn nhắc đến tướng Qua. Ông Bùi Tín cho hay, ông đã được cục trưởng Lê Hữu Qua mời vào trại giam để nói chuyện, còn nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày”, đã kể lại, khi cục trưởng Qua vô thăm trại giam mà ông đang là tù nhân, xem danh sách tù nhân, thấy Vũ Thư Hiên trước khi vô tù là một nhà văn nên đã cho Vũ Thư Hiên phụ trách tờ báo tường của trại và được miễn lao động hàng ngày. Có điều, nhà văn đã viết nhầm tên cục trưởng là Lê Phú Qua. Có lẽ ông suy ra từ tên cúng cơm của tướng Qua là Lê Phú Cường! Kết quả của chủ trương thuyết phục cảm hóa, các tướng lĩnh Sài Gòn đã viết những bản tự thuật về cuộc đời binh nghệp của mình một cách chân thực. Nhiều bản dầy đến hàng trăm trang, như một cuốn tiểu thuyết rất hay, rất có giá trị để ta nghiên cứu Tôi rất muốn xin tướng Qua một bản để xem nhưng không được. Về quan điểm đối với tù nhân nói chung ở miền Bắc thời đó cũng khác nhau. Tướng Qua kể, sau khi nhận chức Cục trưởng Cục Lao cải (lao động cải tạo) thay cho cục trưởng cũ Hoàng Mai. Lần đầu đến thăm một trại giam, ông thấy các tù nhân bị nhốt kín trong nhà giam, các hoạt động đều ngưng trệ. Hỏi ra ông mới biết, trước đây mỗi lần cục trưởng Hoàng Mai đến thăm trại, ông đều ra lệnh như thế để đề phòng! Tướng Qua chỉ thị, bỏ lệ ấy mỗi khi có lãnh đạo Cục thăm trại. Vậy mà, sau này đến một trại khác, đi đâu cũng thấy có cán bộ lăm lăm súng trong tay đi kèm ông để bảo vệ. Ông ra lệnh cất súng đi. Khi ông ra thăm một ruộng mía, lúc đó các tù nhân đang chặt mía mùa thu hoạch, cán bộ trại không cho ông tiếp xúc với phạm nhân nhưng ông đã một mình đi ra đó không hề sợ các tù nhân đang cầm dao dài trong tay. Ông mời hút thuốc và ngồi bên ruộng mía nói chuyện với họ. Các cán bộ trại đứng từ xa ai cũng thót tim vì lo các tù nhân hình sự kia, với dao dài trong tay có thể kết liễu đời “chúa ngục” Lê Hữu Qua bất cứ lúc nào. Đến chiều, trại giam tổ chức liên hoan văn nghệ và biểu diễn rất hay. Sau một tiết mục hay, cục trưởng vỗ tay nhưng không ai dám vỗ tay theo cả. Thấy thế ông rất ngạc nhiên, phải “ra lệnh” nếu tôi vỗ tay thì anh em phải “hưởng ứng”. Ông còn gợi ý cho cán bộ chạy vào rừng hái hoa để tiết mục nào hay, cục trưởng lên tặng hoa. Sau cuộc liên hoan đó, cán bộ trại cho biết trước đây cục trưởng Hoàng Mai không vỗ tay khen ngợi các tiết mục biểu diển của tù nhân. Vì đó là vấn đề “đấu tranh giai cấp”. Tướng Qua nói với tôi, cái thằng bắn được con chim gáy phải chạy cho mau về biếu vợ bộ trưởng nó như thế đấy! Thằng nịnh trên bao giờ cũng nạt dưới. Bằng trải nghiệm cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ông bảo với tôi, bọn cơ hội lúc nào thời nào cũng có. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, khi phải bắt bọn Việt Gian phản động có vũ khí, được quân Tàu Tưởng nuôi dưỡng thì chẳng thằng náo dám đi. Nhưng khi tôi và một số anh em đi bắt được chúng rồi, nhốt lại, thì nhiều thằng thay nhau vào phòng giam để đánh. Chúng nó đánh để máu bọn Việt Gian vấy lên quần áo chúng, rồi chúng đi đi lại lại trước mặt mọi người để chứng tỏ “lòng căm thù giai cấp đến cao độ” của chúng! Những thằng đó “đi theo cách mạng” đến bây giờ chúng vẫn ngồi nhan nhản ở cái Bộ Công An này. Gặp tôi đi ngược chiều với chúng ở một hành lang thì từ xa chúng đã né sang bên làm như không trông thấy tôi và đi cho mau… C’est la vie! Rồi ông kết luận bằng một câu tiếng Pháp như thế (cuộc đời là như thế đấy!) Nghe những chuyện kể của tướng Qua như thế, tôi lại nhớ đến một câu của nữ nhà văn Dương Thu Hương: cần có cách mạmg để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là rác rưởi mà một cuộc cách mạng vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cả rác rưởi mà nó định quét đi, vì thế mà tướng Trần Độ đã viết trong “Nhật ký rồng rắn” của mình rằng: tôi đi làm cách mạng để xóa đi một xã hội xấu xa, nhưng xã hội hiện nay lại xấu bằng và xấu hơn cái xã hội mà chúng tôi đã xóa đi! Nhân nói đến chuyện “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, tôi xin kể thêm. Bạn tôi, họa sĩ Hồ Thanh, người từng xuống đường ở Huế biểu tình chống chế độ Ngô Đình Diện, kể với tôi rằng, sau 30/4/1975 có một cảnh sát chế độ cũ khi ra khai báo với chế độ (quân quản), khi được hỏi chức vụ gì? Anh ta khai: an ninh thiết vận. Nghe đến hai chữ “an ninh” và “thiết vận”, người cán bộ quân quản ít biết chữ Hán-Việt nên đinh ninh đây là phần tử quan trọng ngành an ninh chế độ cũ, bèn ghi tên anh ta váo danh sách đi cải tạo dài hạn. Khi vô trại rồi, người ta mới biết anh ta chỉ là công an giữ trật tự ở các đường tàu và ga xe hỏa. Từ Hán-Việt, “thiết vận” có nghĩa là “đường sắt” trong tiếng Việt mà thôi. Cái anh chàng công an đường sắt kia bị tù oan vì mấy chữ Hán-Việt! Tôi còn được nghe kể rằng, khi có khẩu hiệu “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, cụ Hồ có vào thăm một “Trại cải tạo gái điếm”. Thấy mấy chữ “gái điếm”, cụ đã lấy bút gạch đi và thay vào đó là “các cô gái mất nết”, rồi cụ bảo với trưởng trại: trong truyện Kiều có câu: có kẻ bán, có người mua. Vậy ai bán, ai mua? Các chú mua chứ ai mua? Các cô này chỉ mất nết mà thôi, rồi các cô ấy sẽ trở lại nết na như trước, “mất nết” là một từ thuần Việt. Nghe tướng Qua phàn nàn về các nhân vật “đen” ở Bộ Công An nhiều quá, có lần tôi hỏi thẳng ông: vậy ở Bộ Công An không có ai tốt sao? Tướng Quan trừng mắt bảo: nhiều người tốt lắm cháu ạ. Rồi ông kể cho tôi nghe nhiều chuyện tốt đẹp của những con người của ngành an ninh Việt Nam mà ông từng cộng tác. Đó là những con người cương trực, tài giỏi, có nhân cách cao cả. Trong những người mà tướng Qua thường ca ngợi đó có các vị mà tôi nhớ như: tướng Phạm Kiệt, ông Lê Giản, ông Nguyễn Tao, ông Lê Tuấn Thức, ông Nguyễn Công Tài, cục trưởng Cục nghiên cứu tổng hợp Lê Hồng Hà, trưởng ty công an Hải Hưng Hoàng Cuông… và cả người cần vụ của ông trong những năm kháng chiến chống Pháp và sau này là ông Trường … mà tôi hay gọi là chú Trường mỗi khi gặp chú. Ông kể nhiều chuyện lắm về những con người này. Ví dụ như về “chú Trường”. Vì tướng Qua không biết bơi nên đi đường chú Trường phải đem theo một cái phao bằng xăm ô tô. Khi vượt sông, vượt suối, cần vụ Trường bơm phao lên rồi buộc vào dây, vừa bơi, vừa kéo. Tướng Qua ông phao ở phía sau để “vượt” sông! Ông kể, có lần qua một con sông nước lớn chảy xiết, chú trường và tôi bị nước đẩy về phía hạ lưu hàng trăm thước. Nhờ Trường dai sức không thì cả hai đã bị hà bá nuốt rồi! Khi hòa bình 1954 lập lại, về Hà Nội rồi, lúc đó còn chế độ cần vụ nên Trường vẫn theo tôi. Có người nói với tôi, đi trọn mùa kháng chiến 8-9 năm, người ta về Hà Nội thì ít nhiều cũng có một chỗ đứng, không lẽ anh cứ để anh Trường làm cần vụ cho anh đến già. Tôi cũng nghĩ như thế nên bàn với tổ chức sắp xếp cho chú Trường một công việc thích hợp thời bình. Tổ chức xếp cho chú ấy làm đội trưởng đội xe của Bộ. Nhưng chú ấy nói với tôi, làm việc với thủ trưởng quen rồi, không muốn chuyển công tác! Tôi đành chịu. Về con người của chú Trường thì tôi biết khá rõ, vì chú thường vẫn theo tướng Qua mỗi lần ông về thăm ông bà nội tôi. Tính chú hiền hòa, ít nói, người thấp và đen nhưng rất nhanh nhẹn. Sau này, cả hai vị, thủ trưởng và cần vụ đều đã về hưu. Nhưng vẫn đi lại thăm hỏi nhau. Có lần tôi từ Sài Gòn ra, lên phố Hàng Rươi thăm ông chú đã già, rồi hai chú cháu đi bộ ra bờ hồ, ngồi ghế đá ngắm cảnh. Bỗng một ông già đang đi xe đạp dưới lòng đường, nhảy phốc xuống dắt xe chạy lại mừng rỡ reo lên: thủ trưởng khỏe không? Chúng tôi cũng mừng rỡ nhận ra chú Trường. Hai người bạn già, hai người kháng chiến thời trai trẻ năm xưa hỉ hả hỏi thăm nhau đủ chuyện. Bỗng một làn gió mạnh thổi bay cái mũ phớt của tướng Qua xuống mặt hồ. Nhanh như cắt, ông già Trường lội phăng xuống nước vớt cái mũ phớt lên. Ông cầm cái mũ rũ mạnh nhiều lần cho hết nước rồi đưa mũ cho tướng Qua nói: thủ trưởng để cho khô rồi hãy đội! Tôi chưa thấy ai tốt bụng, hồn nhiên, vọ tư và “đẹp” như chú Trường. Nếu được chọn một Con Người viết hoa trên đời này thì tôi chọn chú Trường. Về trưởng ty Công An Hải Hưng Hoàng Cuông thì tướng Qua kể: Cuông trước đây mặt rỗ, để đi hoạt động, cậu ấy đã lấy bàn là (bàn ủi) là mặt mình đi để mật thám không nhận ra nữa. Cậu ấy can trường lắm. Tướng Qua tỏ ra rất khâm phục con người Phạm Kiệt. Ông nói vì ghét tài năng và tính cương trực của ông Kiệt nên tên H phân cho thứ trưởng Phạm Kiệt làm tư lệnh công an vũ trang (biên phòng) quanh năm đi tuần tra biên giới, chỉ để những kẻ nịnh hót quanh mình. Đến khi được Cục quản lý sức khỏe cho biết là Phạm Kiệt đã bị ung thư hậu môn giai đoạn cuối, chẳng sống được là bao, nên hội nghị công an toàn quốc năm ấy (1974), khi Phạm Kiệt bước vào, tên H lao ra ôm lấy ông, nghẹn ngào, nức nở … cả hội trường ai cũng cảm động, cho là H trân trọng yêu quý lão tướng Phạm Kiệt lắm(!) chỉ có tôi và HH được Cục bảo vệ sức khỏe cho biết về cái chết đã gần kề với Phạm Kiệt nên cười thầm trong bụng. Ở ngành an ninh Việt Nam, sau khi Lê Giản chuyển sang ngành Tư Pháp-Tòa án, lần lượt các “lão tướng trung thần” như Nguyễn Tạo, Lê Tuấn Thức đều ra đi. Ông Nguyễn Tạo sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp, Lê Tuấn Thức sang làm chánh văn phòng cho Tổng cục lâm nghiệp… vì không thể ở lại ngành dưới triều đại của Trần Quốc Hoàn. Bây giờ bạn đọc chỉ cần đánh vào Google ba chữ “Trần Quốc Hoàn” là được đọc ngay thành tích bất hảo của Hoàn. Được biết về vụ án cô Nông Thị Xuân năm 1957. Trước đó Trần Quốc Hoàn đã hiếp cô cô Nông Thị Xuân ở số nhà 66 phố Hàng Bông Nhuộm rồi lập mưu giết hại cô như thế nào? Trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” nhà văn Vũ Thư Hiên cũng viết trên giấy trắng mực đen vụ án kinh tởm ấy. Vũ Thư Hiên còn nói rõ trong “Đêm giữa ban ngày” là, cán bộ từ cấp vụ trở lên ở Bộ Công An đều biết vụ án này. Vì thế, tướng Qua mới luôn gọi Trần Quốc Hoàn là “thằng H lưu manh” khi nói chuyện với tôi. Còn nhà văn XĐ quê ở Nghệ An thì nói với tôi rằng, nếu giết hết được cả làng tôi thì thằng Hoàn nó cũng giết, vì cả làng đều biết nó là thằng ăn cắp ở chợ làng trước kia! Vì thế, mỗi lần về Hà Nội, đi qua con đường mới mở to đẹp ở quận Cầu Giấy mang tên Trần Quốc Hoàn, tôi không khỏi ngậm ngùi đau xót cho số phận của dân tộc mình. Rồi có ngày tấm biển đó phải được giật xuống. Tôi tin như thế. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 5, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/05/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-11/ *** Đọc tiếp - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 12): https://www.minds.com/newsfeed/1019878588886253568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 10): https://www.minds.com/newsfeed/10198776308276142...
23 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 10) Chương Năm Những chuyện kể của tướng Qua Sở dĩ có chương này trong hồi ký của tôi vì người phương Tây có câu phương ngôn đầy ý nghĩa xã hội: Một nửa sự thật không phải là sự thật. Vì người ta mới chỉ viết có một nửa sự thật nên có những nhân vật có thời được dựng tượng, nhưng một thời gian không lâu, chỉ vài chục năm sau, thiên hạ lại kéo đổ thần tượng đó xuống. Nhưng hàng trăm năm nay, không có ai kéo tượng của Puskin, của Victor Hugo xuống cả. Lịch sử công bằng như thế. Tướng Lê Hữu Qua, tên khai sinh là Lê Phú Cường (1914-2001), là chú ruột của tôi. Ông là nhân chứng sống của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 cho đến khi ông qua đời, 2001. Ông tham gia Việt Minh từ năm 1943, từng làm trưởng Ban trinh sát Sở Công an Bắc Bộ năm 1945, là người phá vụ án phố Ôn Như Hầu nổi tiếng sau Cách mạng tháng Tám. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947 ông được cử làm Giám đốc Công an khu 11 (tức Công an Hà Nội). Khi Nha Công an trung ương chuyển lên Việt Bắc, ông được giao làm Phó Ty Trật tự tư pháp. Đến tháng 3 năm 1954 ông được cử đi bảo vệ đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi dự hội nghị Genève tại Thụy Sĩ. Khi hội nghị kết thúc, ông được cử tham gia đoàn của chính phủ đi công tác tại Ý, Ai Cập, Ấn Độ, Miến Điện, Hồng Kông. Về Việt Nam ông được điều về Hà Nội gấp để bảo vệ Hồ Chủ tịch và ông Phạm Văn Đồng trong cuộc gặp đại diện Cộng hòa Pháp Sainteny tại Phủ Chủ tịch ngay sau giải phóng thủ đô. Năm 1956, ông làm Phó Giám đốc Vụ Trị an Dân cảnh. Đến tháng 5/1962 ông được chính phủ cử làm Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân với quân hàm thượng tá cảnh sát và giữ chức vụ này cho đến năm 1967. Ông là người xây dựng lực lượng cảnh sát nhân dân từ ngày đầu ấy. Sau thời gian đi học trường Nguyễn Ái Quốc về, ông giữ chức Cục trưởng Cục Quản lý trại giam cho đến năm nghỉ hưu 1980. Thời gian làm Cục trưởng Cục quản lý trại giam ông phải đảm nhận nhiều sĩ quan cấp tướng, cấp tá và quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn ra Bắc cải tạo, cũng như các trại cải tạo khác ở toàn quốc. Ngày 18/4/1977 ông được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong hàm Thiếu tướng công an. Bạn đọc chỉ cần gõ vào google mấy chữ “Thiếu tướng Lê Hữu Qua và những chiến công…” là có ngay bài viết cùng nhan đề trên báo Công an Nhân dân xuân Đinh Hợi 2007 để được biết về ông. Khi ông mất, báo Nhân dân số ra ngày Chủ nhật 21/1/2001 đã đăng ở đầu trang 8 tin buồn, nguyên văn: Đảng ủy Công an Trung ương Bộ Công an; Đảng ủy UBND phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội và gia đình thương tiếc báo tin đồng chí Thiếu tướng Lê Hữu Qua, sinh năm 1914, quê quán phường Phúc xá, Q. Ba Đình Hà Nội; Trú quán 28 Hàng Rươi phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội; Tham gia cách mạng năm 1943, vào Đảng CSVN năm 1945; nguyên Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng Bộ Công an, đã về hưu. Huân chương độc lập hạng ba, huân chương quân công hạng nhất, huân chương kháng chiến hạng hai, huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, huy chương vì thế hệ trẻ, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, kỷ niệm chương của Bộ Nội vụ Cu Ba và nhiều huân chương khác, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, đã từ trần hồi 4g 10 phút ngày 20/1/2001 tạ bệnh viện Hữu Nghị. Lễ viếng bắt đầu lúc 8g ngày 22/1 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (39 Trần Khánh Dư Hà Nội). Lễ truy điệu lúc 12g cùng ngày, an táng tại nghĩa trang xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm TP Hà Nội. Một người nằm trong ngành an ninh và giữ nhiều trọng trách như thế nên ông biết nhiều sự thật. Trong những lúc vui buồn dài theo năm tháng, ông đã kể cho thằng cháu ruột của mình – đích tôn của dòng họ Lê Phú – những sự thật đó một cách vô tư. Những câu chuyện của ông không có lớp lang gì cả, nhân sự việc này, ông kể câu chuyện có liên quan. Lúc nghe ông kể, tôi cũng không có ý thức phải ghi lại để sau này chép “sử” như nhà báo Huy Đức đã viết “Bên thắng cuộc”. Nhưng tôi nhận thấy cần phải viết lại những điều tướng Qua đã kể, để “một nửa sự thật” mà người đời không biết đến, hoặc người biết cố tình ém nhẹm đi, rồi lịch sử bị chôn vùi. Những nhân vật mà người ta chỉ biết đến “một nửa” về họ được suy tôn như những danh nhân hào kiệt, còn người đáng vinh danh lại không được ai nhắc đến. Báo Sài Gòn Giải Phóng thời ông Tô Hòa làm tổng biên tập, số ra ngày chủ nhật 1/6/1989 đã đăng bài thơ “Sự thật phải đong đầy” của tôi: Con tôi hỏi Cái gì mắc nhất Tivi hay tủ lạnh, honda? Mai con lớn rồi con sẽ hiểu Mắc nhất trên đời là sự thật con ơi! Một nửa bánh mì vẫn là chất bánh Một nửa dòng sông vẫn có đôi bờ Một nửa vầng trăng vẫn thành nỗi nhớ Một nửa cái hôn vẫn thấy ngọt ngào Còn sự thật – con ơi – một nửa Ngừoi trung kiên vẫn chết gục giữa đường Kẻ bất lương vẫn trên ngôi thần thánh Thằng lưu manh vẫn khoác áo anh hùng! Sẽ muôn đời là dối trá, dối trá Khi sự thật chẳng đong đầy Bài thơ này gây bất ngờ cho nhiều người đọc thời đó. Ông Tô Hào sau một lần chất vấn TBT Nguyễn Văn Linh đã bị cho thôi chức, về hưu. Nay cuối đời, có thời gian tôi quay lại đề tài của bài thơ này trong chương mục “Chuyện kể của tướng Qua”. Tôi hệ thống lại các mẩu chuyện kể về các nhân vật cho rõ nét, có những chuyện không nhớ thời gian kể, chỉ nhớ nội dung chuyện vì thế tôi gom lại thành những chủ đề để ghi lại. Những chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe hoàn toàn ngẫu hứng và vô tình, trong những lần chú cháu gặp nhau. Như tôi đã kể trên đây, hàng tháng tôi phải lên nhà tướng Qua để nhận số tiền 30 đồng về cho ông bà nội tôi. Những năm sinh viên, tôi chỉ được nhận nửa học bổng tức 11 đồng /tháng còn thiếu 11 đồng phải đóng cho nhà trường. Vì thế mà chiều thứ bảy nào tôi cũngphải cắt cơm ở nhà bếp. Chủ nhật thì ăn no ở nhà rồi chiều mới vào trường để số tiền phải đóng ít đi. Là học sinh thành thị quen ăn sáng khi vào trường không được ăn sáng nên đói không học được. Ngày ấy tôi chăm lên nhà chú Qua tôi để cuối tháng còn xin một tập báo nhân dân về bán ve chai (đồng nát) lấy tiền ăn sáng. Bà thím tôi là một phụ nữ rất tằn tiện và tốt bụng. Bà thu gom đủ 30 số báo nhân dân hàng tháng, chờ đến cuối tháng tôi lên, cho tôi đem về bán ve chai. Bấy giờ giấy hiếm lắm, báo nhân dân lại là giấy khổ to bán được tiền cũng khá. Tôi nhớ, 30 tờ bán được đủ số tiền để mỗi sáng có được bát cháo lươn giá một hào do căn tin nhà trường bán cho sinh viên ăn sáng. Mỗi lần tôi lên nhà chú tôi là được giữ lại ăn cơm chiều. Chú thím tôi không có con, sau này nhận nuôi một bé còn nhỏ rồi lớn lên em tôi đi Liên Xô học nên nhà rất vắng vẻ. Trong những bữa cơm chiều, tôi thường được nghe nhiều câu chyuện nhân tình thế thái. Chương 5 của cuốn hồi ký này có được là nhờ những câu chuyện hàn huyên như thế. Tất nhiên còn nhiều chuyện được tướng Qua kể trong những dịp khác. 1. Chuyện về ông bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn. Gộp những gì tướng Qua nhắc đến thì đây là một ông quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Ông đã loại bỏ trí thức ra khỏi guồng máy công an. Vợ ông là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ… Chưa bao giờ tôi thấy tướng Qua gọi tên hay chức vụ Bộ trưởng đối với Trần Quốc Hoàn. Ông gọi vị Bộ trưởng này bằng tên H lưu manh! Không nhân nhượng gì cả. Ông gọi tắt chữ Hoàn bằng âm H (hát). Lần đầu tiên tôi nghe ông gọi thế, và mãi sau này vẫn gọi thế. Nhiều lúc tôi thấy thương ông chú tôi, suốt đời phải làm việc với một vị thủ trưởng như thế. Cũng nhiều lúc tôi thấy giận ông vì sao không thể… bỏ mà đi, không làm việc ở Bộ Công an nữa. Nhưng sau này gặp nhà văn Tuấn Vinh, chuyên viết truyện về đề tài công an, cùng công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam với tôi, biết tôi là cháu tướng Qua, nên đã tặng tôi tập sách “Bão táp mùa thu” của NXB Công an nhân dân 1995 gồm các truyện ký về sự trưởng thành của công an thủ đô nhân 50 năm thành lập ngành công an nhân dân của nhiều tác giả. Trong bài “Những ngày đầu” hồi ký của Lê Hữu Qua do nhà văn Mai Ngữ ghi lại, trong hơn 30 trang hồi ký đó có đoạn: “Anh em chúng tôi đa số là lớp thanh niên mới lớn, nhiều cậu lúc ấy chưa hề tỏ tình với cô gái nào là cách mạng đến. Nếu gọi là mối tình đầu của người con trai thì cách mạng là mối tình đầu của họ… một tình yêu chung thủy và sắt son, mặc dù sau bao nhiêu năm có nhiều điều làm ta bực bội. Có nhiều kẻ mang danh cách mạng làm chuyện vô lương, nhưng nếu có ai chống lại cách mạng thì chúng tôi không chịu nổi…”. Càng ngẫm tôi càng thương chú tôi, một thanh niên Hà Nội đẹp trai giỏi võ nghệ, giỏi bắn súng, giỏi lái xe hơi, nói thạo tiếng Pháp và… chỉ có “một mối tình đầu” là cách mạng và suốt đời chung thủy với mối tình đó nên ông không thể từ bỏ được. Ông không thể như Sartre “đi tìm niềm trung thành mới”. Đầu năm 60, tôi đến Bộ Công An chơi với chú tôi vì nhà ông ở ngay trong cơ quan Bộ, đi vô phải qua vọng gác. Ông ở trong một căn phòng nhỏ ở trên tầng lầu. Hai vợ chồng chỉ có một phòng cho tất cả mọi sinh hoạt. Tôi liếc nhìn bốn bề… Hiểu ý tôi, tướng Qua chỉ tay xuống căn biệt thự rất sang trọng dưới cửa sổ và nói: Tên H lưu manh này chỉ biết hắn thôi. Sau ngày giải phóng thủ đô, hắn chiếm ngay ngôi biệt thự này (nằm trên đường Trần Bình Trọng, một phía của biệt thự giáp đại lộ Trần Hưng Đạo, phía đối diện là Bộ Công an, chiếm cả dãy phố Trần Bình Trọng). Tất cả các cán bộ cao cấp khác, hắn bắt ở trong cơ quan Bộ với lý do “bảo vệ cán bộ”. Nhiều ngôi nhà quanh hồ Hale, chủ nhân di cư vô Nam, anh em xin ra ở đó H cũng không cho. Sau này lên thăm chú tôi nhiều lần, tôi mới biết đối diện phòng ông là phòng của Thứ trưởng Viễn Chi, sát đó là phòng của gia đình ông Nguyễn Công Tài, Cục trưởng. Vậy là hai vị cục trưởng và một vị thứ trưởng phải ở chung một tầng lầu chật hẹp, đi chung cầu thang, mọi tiện nghi sinh hoạt khác đều ở tầng trệt công cộng. Ông Viễn Chi có đứa con bị tật, ông phải đưa người bố đẻ ở quê lên để trông cháu. Tất tật chui rúc trong một căn phòng. Cụ thân sinh ra ông Viễn Chi rất đẹp lão, trông như một ông tiên. Một lần tôi sang chơi với cụ lúc mọi người đi vắng, cụ còn đọc thơ cho tôi nghe. Cụ lấy bút danh là Dã Tiên (ông tiên nơi thôn dã). Cụ than phiền với tôi phải rời quê ra đây, ở căn phòng chật hẹp này, cụ buồn lắm. Nhưng vì “thương anh Chi” nên cụ phải ở. Nói chuyện với cụ, tôi thấy đây là một ông già rất thông thái. Cụ thấy tôi đã 20 tuổi nhưng gầy yếu cụ khuyên tôi một vài năm nữa phải lấy vợ vì luật âm dương phải hài hòa!!! Một ông già như ông Dã Tiên phải được sống ở nơi non xanh nước biếc mà lại bị cầm tù ở cái gác ấy thì thật là đáng trách. Một lần, cũng do vô tình, tôi được một vị trung niên rất đẹp tướng, cao to, mặt mũi sáng sủa, là hàng xóm của tướng Qua kêu tôi sang nhà nhờ khiêng một cái giường cá nhân. Tôi thấy nhà ông ấy có nhiều sách lại có hai cái điện thọai mắc ở đầu giường, trong khi tướng Qua chỉ có một điện thoại. Tôi hỏi tướng Qua ông ấy là ai mà oai vậy? Tướng Qua cười bảo tôi, cháu học văn mà không biết, ông ấy là ông Tài con nhà văn Nguyễn Công Hoan đó. Cái thế giới nhà tập thể nó thế. Ai có ở nhà tập thể do cơ quan cấp mới thấy chán chường. Đã cả ngày nhìn thấy nhau ở cơ quan, đến khi về đến nhà riêng ra vào lại phải gặp những gương mặt đó. Hợp nhau đã vậy còn nếu không thì chỉ mong dọn đi chỗ khác. Có lẽ vì chán ở tập thể nên chú tôi tìm cách dọn ra ở bên ngoài. Di chuyển đôi lần rồi cuối cùng ông ở 28 phố Hàng Rươi cho đến cuối đời. Lý do về ở phố, theo ông nói với tôi là “thích ở gần dân”. Nhưng ngôi nhà 28 Hàng Rươi cũng vô cùng chật hẹp. Nhà hình ống, bề ngang chỉ hơn 2 m, cầu thang lên dựng đứng. Đi ra đi vào phải lách, vậy mà ông đã ở đấy cho đến lúc ra đi… Có lần, một người ở quê ra chơi, thấy ngôi nhà bé quá, khi về ông ta nhỡ miệng than với mọi người: Nhà ông tướng gì mà như cái chuồng chó! Sau này nghe được câu nói đó, tướng Qua buồn lắm! Cả một đời ngang dọc, đánh đông dẹp bắc chiến tích đầy mình mà đến cuối đời chú tôi vẫn phải ở trong căn nhà “như cái chuồng chó” ấy thật là bất công. Bây giờ, mỗi khi vô một căn nhà, chủ nhân chỉ là viên sĩ quan cấp tá thôi nhưng nhà họ nguy nga như một lâu đài. Tôi mới ngẫm ra rằng, như một nhà hiền triết đã nói: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh”. Nói về tính ích kỷ và sự dối trá của Trần Quốc Hoàn tướng Qua có lần kể, dưới bàn làm việc của tên H là một cái hầm. Chỉ cần bấm nút một cái là cả bàn giấy của H thụt xuống hầm sâu. Căn hầm có thể tránh được bom nguyên tử. Bên phố Yết Kiêu gần đấy, dưới đất là cả một căn hầm rộng mênh mông. Tên H rất sợ chết, chỉ lo bảo toàn tính mạng cho riêng hắn. Khi nói đến sự láu cá, cơ hội, nịnh hót trong hàng ngũ lãnh đạo Bộ Công An, tướng Qua dẫn ra những nhân vật thật tức cười. Đó là thứ trưởng Minh Tiến, cái ông đã làm giấy mượn khẩu súng lục của ông nội tôi khi còn là chủ tịch xã … Minh Tiến thường lảng vảng trong sân Bộ mỗi khi Trần Quốc Hoàn đi đâu về khuya. Khi nghe thấy tiếng xe của Hoàn về là Minh Tiến chạy vội lên phòng, bật đèn sáng choang, ngồi ngay ngắn… “làm việc”! Vì thế Hoàn thường khen: Ở Bộ này chỉ có Minh Tiến là “thức khuya dậy sớm” mà thôi. Cái nghề ở tập thể nó thế. Không ai che giấu được cái tốt, cái xấu với mọi người. Một nhân vật nữa là cục trưởng Hoàng Mai, cục trưởng Cục trại giam trước khi tướng Qua tiếp nhận chức vụ này. Hoàng Mai đi công tác từ Hà Nội, đến Bắc Giang thì bắn được một con chim gáy. Hắn vội quay xe về, chạy hộc tốc lên gác nhà Trần Quốc Hoàn, biếu vợ Hoàn con chim gáy đó và được vợ Hoàn khen nức nở là người tốt. Và dĩ nhiên là được Bộ trưởng Hoàn xếp vào danh sách cán bộ tin cậy. Nói về sự nịnh hót của cấp dưới và sự ba hoa phét lác của “tên H lưu manh”, tướng Qua kể mỗi năm Bộ Công An có một cuộc họp toàn quốc vào cuối năm. H ba hoa xích đế trên diễn đàn. H thường mời những tay có học vị phó tiến sĩ đỗ đạt ở Liên Xô về nói các vấn đề mới về khoa học cho mình nghe. Khi hội nghị toàn quốc của ngành hắn đem những điều nghe được lõm bỏm đó ra ba hoa với hội nghị. Đến giờ giải lao, hắn chạy xuống chỉ tay vào những người ở hàng ghế đầu, thường là thứ trưởng, cục trưởng hỏi: Tôi nói nghe có được không? Thế là lập tức có kẻ xoa xoa hai tay, tâng bốc: Nghe Bộ trưởng nói cứ… sáng ra, ước gì một năm có vài lần hội nghị toàn quốc thế này để anh em được nâng cao trình độ. H sung sướng cười híp cả mắt. Vì thế nên tôi và HH (cục trưởng) đến kỳ họp toàn quốc phải lẩn xuống chỗ các trưởng ty ngồi để đề phòng tên H nhỡ ra lại chỉ tay vào mình mà hỏi: Tôi nói thế anh Qua thấy thế nào? Chả nhẽ lại nói, anh nói tôi nghe như… cục c! Nói về sự ton hót, tướng Qua kể một chuyện đáng buồn nôn. Đó là kỳ họp sau khi thống nhất đất nước. Sau khi nói về sự “tiến bộ” của ngành, tên H hỏi anh em: Đánh giá ngành ta thế có khách quan không? Một tên ton hót đã thưa: Thế mà có người nói rằng đi xa, lâu ngày về Bộ thấy chẳng có gì thay đổi cả(!) Tôi nghe câu đó giật mình lo cho Nguyễn Công Tài. Tài đi B công tác 9-10 năm, bị tù rất anh dũng, sau khi đất nước thống nhất được đón về như một vị anh hùng. Nhưng Tài thẳng thắn, và chính Tài là tác giả của câu nói đó. Và quả thật, Tài đã lâm nạn. Chỉ ít lâu sau bị “nghi vấn” là khi ở tù có khai báo và bị chuyển đi khỏi ngành. Nói về sự bịp bợm của tên H, tướng Qua kể, hắn mua rất nhiều máy tính điện tử, ngày nay gọi là máy vi tính. Tốn kém không biết bao nhiêu là tiền của công quỹ. Hắn báo cáo với Bộ Chính trị rằng, với thứ máy móc siêu việt này, án nào cũng phá được. Những người công tác lâu năm trong công việc điều tra hỉnh sự thì hiểu rất rõ rằng, nếu đưa dữ liệu sai vào máy tính thì còn nguy hiểm gấp trăm lần vì máy sẽ nhân cái sai lên trăm lần. Để nói về sự trung thực trong công tác điều tra, không quan liêu, không ép cung, để “phá án” lấy thành tích tướng Qua đã kể cho tôi nghe nhiều lần “Vụ án ở nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm Hà Nội”. Câu chuyện như sau: Giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia lâm tự tử. Nhưng vì muốn có thành tích, Sở Công An đã ép cung đến 8-9 cán bộ. Vì bị tra tấn ép cung quá, không chịu nổi họ đều đã nhận giết ông giám đốc nhà máy. Án được “phá” nhanh chóng và được báo cáo lên Quốc Hội, được chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh khen. Nhưng một hôm, cái xác ông giám đốc nhà máy ấy được vớt lên ở cửa sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên. Sau khi khám nghiệm tử thi, trưởng phòng đại úy Tích kết luận là nạn nhân tự sát, không phải bị giết. Nửa đêm, đại úy Tích đạp xe về Bộ báo cáo Cục trưởng cảnh sát Lê Hữu Qua. Ông cục trưởng nói: Nếu đúng vậy thì anh làm hồ sơ thật cẩn thận để điều tra lại. Thế là bùng nổ cuộc xung đột giữa giám đốc công an Hà Nội lúc đó mà đứng sau là thứ trưởng Lê Quốc Thân với Cục cảnh sát nhân dân, đứng đầu là cục trưởng Qua. Cuộc đối đầu này, mà theo cục trưởng Qua thì “Hồ sơ đã lên đến hàng tạ giấy” mà không phân thắng bại, phải trái. Nhưng quyết tâm của Cục cảnh sát là phải minh oan cho các nạn nhân bị ép cung. Cuộc đấu tranh một mất một còn này kéo thêm một cái chết nữa của một viên bác sĩ Pháp y của quân đội quốc gia (Bảo Đại). Viên thiếu tá Pháp y rất giỏi này được mời tham gia vụ án. Trong một phiên họp rất căng do Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn chủ trì, bác sĩ giáo sư Tôn Thất Tùng vì quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm. Ông rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mì chính nhỏ rơi ra (Bác sĩ Tùng có thói quen gói những gói mì chính (bột ngọt) nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vô tô phở). Thời đó, bột ngọt quý như vàng. Bác sĩ Tùng phải là người sang lắm mới có sẵn thứ này trong người. Tướng Qua kể, thấy Gs Tùng run quá, tôi phải nhặt dùm ông các gói mì chính rồi để lại vào túi cho ông. Tôi nói: Gs cứ bình tĩnh phát biểu. Gs Tùng đã từ chối kết luận vì ông không phải là Pháp y. Đến lượt viên thiếu tá Pháp y của quân đội quốc gia Bảo Đại phát biểu, sau khi chứng minh ông giám đốc không phải bị giết. Trong cơn xúc động, ông thiếu tá đấm tay vô chiếc bảng treo trên tường và nói lớn: Nếu giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm mà bị giết thì đốt hết sách vở đi! Nói xong, ông ta uống gói thuốc độc lấy ra từ túi và gục xuống chết ngay tại phòng họp. Tướng Qua cũng nói tỉ mỉ về vai trò của ông Lê Đức Thọ trong vụ này. Ông kể: Ông Thọ yêu cầu chúng tôi phải mang đạo cụ đến nhà riêng của ông, diễn lại vụ tự tử của giám đốc nhà máy như quan điểm của Cục Cảnh sát. Chúng tôi phải chở đến cả một xe tải dụng cụ, y như là một gán hát chở phông màn đến diễn tuồng. Cực nhất là phải mua cả tiết heo để vẩy lên hiện trường để thuyết minh các tình tiết về các vết máu khi xảy ra sự việc. Xem kỹ “vở diễn” ông Thọ kết luận là phải tiếp tục điều tra để đi đến kết luận. Sự việc lên đến đỉnh điểm khi một phiên họp, có cả giám đốc trại giam đang giam giữ các tù nhân bị ép cung, thứ trưởng Lê Quốc Thân ra hiệu bằng mồm (ám hiệu bật môi khi phát âm chữ bờ-b không thành tiếng) là bắn các tù nhân để bịt đầu mối. Tôi biết Thân hay ra ám hiệu nên theo dõi Thân rất kỹ trong cuộc họp. Đến khi hắn ra hiệu “bắn”, tôi báo ngay cho ông Thọ biết. lập tức ông Thọ điện cho Thân hỏi, có phải anh ra lệnh bắn tù để bịt đầu mối vụ án phải không? Sau này anh em kể lại, nghe điện thoại của ông Thọ xong, Thân chửi ầm lên là lại thằng Qua báo cáo chứ gì. Tình hình Bộ Công An lúc đó rất căng thẳng giữa Cục Cảnh sát và thứ trưởng Thân. Trong một phiên họp có phó Ban kiểm tra trung ương là Trần Kiên dự, Lê Quốc Thân đã chỉ thẳng vào mặt cục trưởng Lê Hữu Qua nạt: Anh Qua sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc rũ rối vụ án đã được khép lại này. Tướng Qua cũng kiên quyết: Tôi phản đối đến cùng kết luận của giám đốc công an Hà Nội và anh. Cuối cùng thì một đoàn chuyên gia của Bộ Công An nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức được mời sang. Theo tướng Qua, nước Đức có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ phá án. Quan điểm của các bạn Đức là nếu có án thì hung thủ phải để lại hiện trường dấu vết, và nếu có dấu vết thì sẽ tìm ra thủ phạm. Đoàn của Đức đi riêng một chuyên cơ gồm 10 người, gồm chuyên gia các lĩnh vực. Tướng Qua cho hay có một ông gọi là “chuyên gia thắt cổ”. Ông đem theo cả một bộ sách dầy, tổng kết tất cả các hình thức thắt cổ kèm theo hình vẽ, có từ thời Hy Lạp cổ đại đến giờ. Bộ sách phân tí...
83 views ·