LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 11) Chương Năm – phần 2 Sau 1975, với sự việc bắt đi cải tạo tất cả các sĩ quan tướng lĩnh thuộc chế độ Sài Gòn cũ (thực chất là bắt đi tù vô thời hạn), tướng Qua lên án Trần Quốc Hoàn rất gay gắt. Dĩ nhiên việc này không chỉ riêng ông Hoàn chịu trách nhiệm, nhưng tướng Qua có nhiều bất đồng với các chủ trương của Hoàn trong việc này. Ông nói: Sau 30/4/1975 việc đầu tiên là tên H lưu manh lùa cán bộ vào Nam bắt tù. Y vô Sài Gòn ngồi khoanh chân vòng tròn trên một cái sập, luôn mồm thúc giục phải gấp làm hồ sơ để bắt tù. Trông y ngồi như một tên địa chủ! Việc làm hồ sơ tù nhân là để phân loại, cấp tá thì lùa ra Bắc bằng tàu thủy. Cấp tướng và ngụy quyền cao cấp (tức thứ, bộ trưởng, nghị sĩ quốc hội …) thì đi bằng máy bay. Điều này trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức đã mô tả là rất đúng. Tôi, kẻ viết những dòng chữ này là người trực tiếp đi “đón” các vị đi cải tạo ra Bắc nên xác nhận Huy Đức viết đúng. Số là thế này, sau nhiều năm dạy học ở Hải Hưng, năm 1974 tôi được Đài Tiếng nói Việt Nam nhận về làm phóng viên tại ban miền Nam của Đài. Sau 30/4 ở Đài Tiếng nói Việt Nam ai cũng muốn đi vô Sài Gòn. Lúc đó được đi Sài Gòn thì sung sướng gấp 10 lần được đi nước ngoài. Nhưng chỉ cán bộ lãnh đạo cấp trưởng, phó ban trở lên của Đài mới hy vọng được đi. Các vị đi Sài Gòn lúc đó phải có quyết định của Tổng Giám đốc Đài, phải được sự đồng ý của Cục tác chiến Bộ Quốc Phòng, phải có giấy để đi đổi tiến vì miền Nam lúc ấy còn tiêu tiền chế độ cũ… Nói chung là rất khó. Tôi nghĩ ra một “mẹo” là sang Bộ Công An, xin tướng Qua một cái giấy giới thiệu là nhà báo, được Cục Quản lý Trại giam giới thiệu vào các trại giam ở miền Nam để “nghiên cứu”. Giấy giới thiệu được đóng mộc Bộ Công An ngay vì em ruột của tướng Qua là Lê Phú Ninh đang làm ở văn phòng Bộ. Ông Lê Phú Ninh cũng là chú ruột của tôi, tôi kêu bằng chú Ba. Với cái giấy giới thiệu của Bộ Công An như thế đem về Đài, Tổng giám đốc Trần Lâm đồng ý ngay. Đều là dân Hà Nội đi hoạt động cách mạng nên Trần Lâm cũng rất biết tướng Qua (ông Lâm quê gốc ở Hải Dương nhưng sống ở Hà Nội từ bé và lấy vợ con nhà giàu ở phố Hàng Đào). Ông trưởng phòng của tôi cũng được “ăn theo” tôi đi Sài Gòn vì đi phải có đoàn, có tập thể. Trước khi đi, Tổng giám đốc Đài còn giao nhiệm vụ cho “đoàn” là phải gặp gỡ các trí thức Sài Gòn như các ông Lý Chánh Trung, bà Ngô Bá Thành, anh Lê Văn Nuôi, anh Huỳnh Tấn Mẫm… để thu thập tư liệu, chuẩn bị bài viết về họ vì năm 1976, các vị này sẽ tham gia quốc hội thống nhất đầu tiên. Tôi lên đường. Trại giam nào cũng vào, kể cả Khám Chí Hòa vì có cái giấy giới thiệu của Cục Trại giam. Khi trưởng trại biết tôi là cháu ruột của tướng Qua thì ông mời nhậu … vô tư. Một lần tôi đi lang thang lên Thủ Dầu Một chơi, gặp ông Sáu Phát, là cán bộ cao cấp của tỉnh, sau này là chủ tịch tỉnh Sông Bé, lúc ra về trời đã tối ông Sáu rất tốt bụng đưa cho tôi một khẩu súng lục bảo cầm lấy để phòng thân. Tôi thành thật nói từ bé đến giờ tôi chưa cầm súng thật bao giờ và cũng không biết bắn súng. Tôi cảm ơn và trả lại ông. Tôi còn nói đùa: Nếu gặp địch là … tôi đầu hàng! Ông Sáu Phát khen tôi là người Hà Nội có khiếu nói giỡn. Cũng nhờ lang thang các trại giam ở Sài Gòn và miền Nam mà tôi gặp đại úy Hán, trại trưởng một trại ở Nam Hà, ông này có nhiệm vụ là vô Sài Gòn để mua một cái “téc” xăng đem ra Bắc để trại ông nấu rượu mơ vì vùng của ông là cả một rừng mơ. Ông cũng được giao nhiệm vụ chở hồ sơ tù ra Bắc cho Bộ Công An. Chiếc xe tải to đùng của ông đủ chở cái “téc” xăng trong đựng hồ sơ tù. Tôi xin ông cho quá giang xe về Hà Nội. Dĩ nhiên là ông đồng ý. Chúng tôi đi mất 4 ngày mới về đến Hà Nội, đêm ngủ ở các ty công an tỉnh. Một buổi sáng nọ, tướng Qua cho tôi cùng đi “quan sát” việc đưa tù nhân cấp tướng và ngụy quyền cao cấp Sài Gòn ra Bắc. Xe com-măng-ca của ông đỗ trong sân bay Gia Lâm chờ máy bay chở tù từ Sài Gòn hạ cánh. Từ xa chúng tôi dùng ống nhòm quan sát các vị tướng lĩnh xuống máy bay. Tôi nhìn rõ qua ống nhòm, các ông tướng mang theo hành trang nặng nề như các ông tay ba lô đi du lịch bụi bây giờ. Tướng Qua giải thích, chúng tôi cho họ mang đầy đủ đồ dùng cá nhân, chăn mền, cả chiếu nằm nữa. Một buổi sáng đầu năm 1977, tôi lại được tướng Qua cho vô thăm trại Ba Sao, nơi giam giữ các tướng lĩnh và “ngụy quyền” cao cấp của chế độ Sài Gòn để học tập cải tạo. Vừa xuống xe, các sĩ quan quản lý trại đã nói: Chúc mừng thủ trưởng sắp lên tướng. Thì ra họ đã biết tướng Qua (lúc đó đang đeo lon đại tá) sẽ được lên tướng trong thời gian sắp tới. Quả đúng như vậy, tháng 4/1977 ông được thăng chức thiếu tướng. Ngày đó, chức thiếu tướng “oai” lắm. Theo tôi biết ở Bộ Công An, chỉ có một vị được đeo lon thiếu tướng ngạch cảnh sát là thiếu tướng Nguyễn Thế Tùng. Quan sát cảnh quanh trại Ba Sao thì đây là vùng Hà Nam Ninh, vũng trũng có nhiều núi đá vôi mọc lên từ các đầm nước rộng. Sách địa lý gọi đó là vùng Hạ Long cạn. Nhân đây cũng nói thêm, sau 30/4 Cục Trại giam đã “đánh” một vị phó tiến sĩ tâm lý học, tốt nghiệp ở Liên Xô về, nếu tôi nhớ không nhầm thì anh ta tên là Tịch đeo lon đại úy. Xin bạn đọc tha lỗi cho những đoạn phải thòng câu “nếu tôi nhớ không nhầm” vì ngày đó thú thật tôi không định làm một cuốn như “Bên Thắng Cuộc” nên không ghi chép lại cụ thể nhưng đến nay đã ở tuổi 70 thấy cần phải nói rõ sự thật, không nói một nửa sự thật như người ta vẫn làm nên mới có cuốn hồi ký này. Đại úy Tịch được “đánh” vào trại giam với với số tù giả. Tôi được đưa xem nơi ăn ở của các tù nhân học tập cải tạo. Phòng giam rất rộng, được xây rất nhiều bệ xi măng sát nhau vừa một người nằm. Các tù nhân trải chiếu cá nhân đan bằng sợi ny lon nhiều màu lên các “giường” của mình như trải chiếu hoa. Trông rất đẹp mắt. Giường chiếu, đồ đạc được xếp ngăn nắp, trật tự. Trong khi tôi đi ngắm nơi ăn chốn ở của họ thì các tù nhân lại đứng chơi ở ngoài sân rộng, ngắm phong cảnh. Tôi thấy một vị rất già, mặt vuông chữ điền, râu để dài như Quan Vân Trường, chỉ khác là râu đã bạc trắng, rất oai vệ. Tôi hỏi tướng Qua: Già thế kia còn bắt đi cải tạo làm gì? Tướng Qua nói, thế cháu không biết ông ấy là Vũ Hồng Khanh, đảng trưởng Quốc dân đảng à? Tôi vẫn thắc mắc: Quốc dân đảng đã chết từ lâu rồi cơ mà? Tôi lại được giải thích: Mỹ luôn duy trì các đảng phái chính trị đối lập, khi cần thì thay ngựa giữa dòng! Lệnh của H phải bắt thì tôi cứ bắt, nhưng sẽ thu xếp để ông ấy được về quê ở Vĩnh Yên, chết già, khỏi mang tiếng là chết trong tù (quả thật, sau này ông Vũ Hồng Khanh được chết ở quê hương Vĩnh Yên của ông). Tôi lại gặp một vị đứng tuổi khác, dáng vẻ rất trí thức. Ông ta tự giới thiệu là Phạm Xuân Bào, thứ trưởng Bộ Giáo Dục Sài Gòn có con đang học đạo diễn ở bên Pháp. Tôi lại đi tìm tướng Qua để thắc mắc. Tôi nói: ông thứ trưởng Phạm Xuân Bào là một trí thức có tên tuổi ở miền Nam. Ngày cháu vô thư viện Huế, thấy có cả một cái étagère sách dành riêng cho giáo sư. Bắt những trí thức như thế đi cải tạo làm gì? Tướng Qua vẫn trầm tư hút thuốc, ông nhả từng làn khói rồi mỉa mai nói: ngụy quyền cao cấp mà! Ông muốn mỉa mai những điều mà tên H đặt ra rồi bắt Cục trại giam thực thi với các đối tượng phải đi tù ra Bắc. Có một vị làm tôi suy nghĩ mãi, đó là một trung niên. Ông ta nói thẳng với tôi làm mình bị tù oan! Tôi hỏi lý do, ông ta giải thích: tôi là nghị sĩ Quốc Hội, nhưng là phe đối lập với ông Thiệu, chống chính phủ Thiệu tham nhũng! Tôi không khỏi ngỡ ngàng đến đau xót khi thấy chế độ Sài Gòn về mặt thể chế hơn hẳn chế độ độc đảng ở miền Bắc, vì Quốc hội của họ có phe đối lập. Nhưng dưới con mắt của những người sống trong xã hội nhất nguyên độc đảng thì nghị sĩ Quốc hội là “ngụy quyền cao cấp” rồi, đã là “cao cấp” thì phải đi cải tạo! Tôi không còn hỏi thêm gì nữa, sau khi gặp ông nghị sĩ phải tù oan này! Làm sao cục trưởng Qua có thể cãi lại những quan điểm của Bộ trưởng H và cả những người trên H nữa. Nhưng tướng Qua phản đối việc khai thác, lấy cung tù nhân ngay lập tức. Ông nói với tôi: người ta vừa chân ướt chân ráo ra Bắc, đang hoang mang cực độ, có hỏi cung thì họ cũng khai cho qua chuyện, hoặc khai láo không đem lại một thông tin gì có tính khoa học để ta hiểu thêm phía bên kia. Quan điểm chính thống là, tướng lĩnh cao cấp của chính quyền Sài Gòn sẽ phải khai ra những bí mật, những ý đồ, cả những tâm tư của họ trong suốt mấy chục năm giao tranh với bên cộng sản mà nay là dịp ta được biết, rất cần cho ngành an ninh của ta. Tướng Qua lại chủ trương thuyết phục, cảm hóa để họ nói thật, khai thật. Cuối cùng thì quan điểm của ông đã thắng. Vì thế mới có chuyện các vị giáo sư, các nhà sử học, văn học của ta được mời vô các trại giam giữ tướng lĩnh và ngụy quyền cao cấp để nói chuyện, thuyết trình khoa học, trao đổi với các vị “cao cấp” này để họ hiểu đường lối đúng đắn của chính quyền miền Bắc. Tôi cũng được tướng Qua cho tham gia vào công việc mà theo tôi, rất đúng đắn, rất nhân văn này. Tôi được ông hỏi ý kiến về việc đề xuất những ai, những vị trí thức nào ở Hà Nội lúc đó để Cục đón vào nói chuyện với tù nhân với từng đề tài cho phù hợp. Ấn tượng nhất với tôi là đề tài “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Các tù nhân, đương nhiên là có học, đều rất cảm phục miền Bắc là trong khó khăn bom đạn chiến tranh như thế mà vẫn quan tâm “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, và đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, đưa ra được nhiều kết luận xác đáng về tiếng Việt, sự cần thiết phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Sau này, khi tôi được đọc những cuốn sách như “Hoa xuyên tuyết”, “Mặt thật” của nhà báo Bùi Tín, cuốn “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên đều thấy có những đoạn nhắc đến tướng Qua. Ông Bùi Tín cho hay, ông đã được cục trưởng Lê Hữu Qua mời vào trại giam để nói chuyện, còn nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày”, đã kể lại, khi cục trưởng Qua vô thăm trại giam mà ông đang là tù nhân, xem danh sách tù nhân, thấy Vũ Thư Hiên trước khi vô tù là một nhà văn nên đã cho Vũ Thư Hiên phụ trách tờ báo tường của trại và được miễn lao động hàng ngày. Có điều, nhà văn đã viết nhầm tên cục trưởng là Lê Phú Qua. Có lẽ ông suy ra từ tên cúng cơm của tướng Qua là Lê Phú Cường! Kết quả của chủ trương thuyết phục cảm hóa, các tướng lĩnh Sài Gòn đã viết những bản tự thuật về cuộc đời binh nghệp của mình một cách chân thực. Nhiều bản dầy đến hàng trăm trang, như một cuốn tiểu thuyết rất hay, rất có giá trị để ta nghiên cứu Tôi rất muốn xin tướng Qua một bản để xem nhưng không được. Về quan điểm đối với tù nhân nói chung ở miền Bắc thời đó cũng khác nhau. Tướng Qua kể, sau khi nhận chức Cục trưởng Cục Lao cải (lao động cải tạo) thay cho cục trưởng cũ Hoàng Mai. Lần đầu đến thăm một trại giam, ông thấy các tù nhân bị nhốt kín trong nhà giam, các hoạt động đều ngưng trệ. Hỏi ra ông mới biết, trước đây mỗi lần cục trưởng Hoàng Mai đến thăm trại, ông đều ra lệnh như thế để đề phòng! Tướng Qua chỉ thị, bỏ lệ ấy mỗi khi có lãnh đạo Cục thăm trại. Vậy mà, sau này đến một trại khác, đi đâu cũng thấy có cán bộ lăm lăm súng trong tay đi kèm ông để bảo vệ. Ông ra lệnh cất súng đi. Khi ông ra thăm một ruộng mía, lúc đó các tù nhân đang chặt mía mùa thu hoạch, cán bộ trại không cho ông tiếp xúc với phạm nhân nhưng ông đã một mình đi ra đó không hề sợ các tù nhân đang cầm dao dài trong tay. Ông mời hút thuốc và ngồi bên ruộng mía nói chuyện với họ. Các cán bộ trại đứng từ xa ai cũng thót tim vì lo các tù nhân hình sự kia, với dao dài trong tay có thể kết liễu đời “chúa ngục” Lê Hữu Qua bất cứ lúc nào. Đến chiều, trại giam tổ chức liên hoan văn nghệ và biểu diễn rất hay. Sau một tiết mục hay, cục trưởng vỗ tay nhưng không ai dám vỗ tay theo cả. Thấy thế ông rất ngạc nhiên, phải “ra lệnh” nếu tôi vỗ tay thì anh em phải “hưởng ứng”. Ông còn gợi ý cho cán bộ chạy vào rừng hái hoa để tiết mục nào hay, cục trưởng lên tặng hoa. Sau cuộc liên hoan đó, cán bộ trại cho biết trước đây cục trưởng Hoàng Mai không vỗ tay khen ngợi các tiết mục biểu diển của tù nhân. Vì đó là vấn đề “đấu tranh giai cấp”. Tướng Qua nói với tôi, cái thằng bắn được con chim gáy phải chạy cho mau về biếu vợ bộ trưởng nó như thế đấy! Thằng nịnh trên bao giờ cũng nạt dưới. Bằng trải nghiệm cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ông bảo với tôi, bọn cơ hội lúc nào thời nào cũng có. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, khi phải bắt bọn Việt Gian phản động có vũ khí, được quân Tàu Tưởng nuôi dưỡng thì chẳng thằng náo dám đi. Nhưng khi tôi và một số anh em đi bắt được chúng rồi, nhốt lại, thì nhiều thằng thay nhau vào phòng giam để đánh. Chúng nó đánh để máu bọn Việt Gian vấy lên quần áo chúng, rồi chúng đi đi lại lại trước mặt mọi người để chứng tỏ “lòng căm thù giai cấp đến cao độ” của chúng! Những thằng đó “đi theo cách mạng” đến bây giờ chúng vẫn ngồi nhan nhản ở cái Bộ Công An này. Gặp tôi đi ngược chiều với chúng ở một hành lang thì từ xa chúng đã né sang bên làm như không trông thấy tôi và đi cho mau… C’est la vie! Rồi ông kết luận bằng một câu tiếng Pháp như thế (cuộc đời là như thế đấy!) Nghe những chuyện kể của tướng Qua như thế, tôi lại nhớ đến một câu của nữ nhà văn Dương Thu Hương: cần có cách mạmg để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là rác rưởi mà một cuộc cách mạng vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cả rác rưởi mà nó định quét đi, vì thế mà tướng Trần Độ đã viết trong “Nhật ký rồng rắn” của mình rằng: tôi đi làm cách mạng để xóa đi một xã hội xấu xa, nhưng xã hội hiện nay lại xấu bằng và xấu hơn cái xã hội mà chúng tôi đã xóa đi! Nhân nói đến chuyện “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, tôi xin kể thêm. Bạn tôi, họa sĩ Hồ Thanh, người từng xuống đường ở Huế biểu tình chống chế độ Ngô Đình Diện, kể với tôi rằng, sau 30/4/1975 có một cảnh sát chế độ cũ khi ra khai báo với chế độ (quân quản), khi được hỏi chức vụ gì? Anh ta khai: an ninh thiết vận. Nghe đến hai chữ “an ninh” và “thiết vận”, người cán bộ quân quản ít biết chữ Hán-Việt nên đinh ninh đây là phần tử quan trọng ngành an ninh chế độ cũ, bèn ghi tên anh ta váo danh sách đi cải tạo dài hạn. Khi vô trại rồi, người ta mới biết anh ta chỉ là công an giữ trật tự ở các đường tàu và ga xe hỏa. Từ Hán-Việt, “thiết vận” có nghĩa là “đường sắt” trong tiếng Việt mà thôi. Cái anh chàng công an đường sắt kia bị tù oan vì mấy chữ Hán-Việt! Tôi còn được nghe kể rằng, khi có khẩu hiệu “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, cụ Hồ có vào thăm một “Trại cải tạo gái điếm”. Thấy mấy chữ “gái điếm”, cụ đã lấy bút gạch đi và thay vào đó là “các cô gái mất nết”, rồi cụ bảo với trưởng trại: trong truyện Kiều có câu: có kẻ bán, có người mua. Vậy ai bán, ai mua? Các chú mua chứ ai mua? Các cô này chỉ mất nết mà thôi, rồi các cô ấy sẽ trở lại nết na như trước, “mất nết” là một từ thuần Việt. Nghe tướng Qua phàn nàn về các nhân vật “đen” ở Bộ Công An nhiều quá, có lần tôi hỏi thẳng ông: vậy ở Bộ Công An không có ai tốt sao? Tướng Quan trừng mắt bảo: nhiều người tốt lắm cháu ạ. Rồi ông kể cho tôi nghe nhiều chuyện tốt đẹp của những con người của ngành an ninh Việt Nam mà ông từng cộng tác. Đó là những con người cương trực, tài giỏi, có nhân cách cao cả. Trong những người mà tướng Qua thường ca ngợi đó có các vị mà tôi nhớ như: tướng Phạm Kiệt, ông Lê Giản, ông Nguyễn Tao, ông Lê Tuấn Thức, ông Nguyễn Công Tài, cục trưởng Cục nghiên cứu tổng hợp Lê Hồng Hà, trưởng ty công an Hải Hưng Hoàng Cuông… và cả người cần vụ của ông trong những năm kháng chiến chống Pháp và sau này là ông Trường … mà tôi hay gọi là chú Trường mỗi khi gặp chú. Ông kể nhiều chuyện lắm về những con người này. Ví dụ như về “chú Trường”. Vì tướng Qua không biết bơi nên đi đường chú Trường phải đem theo một cái phao bằng xăm ô tô. Khi vượt sông, vượt suối, cần vụ Trường bơm phao lên rồi buộc vào dây, vừa bơi, vừa kéo. Tướng Qua ông phao ở phía sau để “vượt” sông! Ông kể, có lần qua một con sông nước lớn chảy xiết, chú trường và tôi bị nước đẩy về phía hạ lưu hàng trăm thước. Nhờ Trường dai sức không thì cả hai đã bị hà bá nuốt rồi! Khi hòa bình 1954 lập lại, về Hà Nội rồi, lúc đó còn chế độ cần vụ nên Trường vẫn theo tôi. Có người nói với tôi, đi trọn mùa kháng chiến 8-9 năm, người ta về Hà Nội thì ít nhiều cũng có một chỗ đứng, không lẽ anh cứ để anh Trường làm cần vụ cho anh đến già. Tôi cũng nghĩ như thế nên bàn với tổ chức sắp xếp cho chú Trường một công việc thích hợp thời bình. Tổ chức xếp cho chú ấy làm đội trưởng đội xe của Bộ. Nhưng chú ấy nói với tôi, làm việc với thủ trưởng quen rồi, không muốn chuyển công tác! Tôi đành chịu. Về con người của chú Trường thì tôi biết khá rõ, vì chú thường vẫn theo tướng Qua mỗi lần ông về thăm ông bà nội tôi. Tính chú hiền hòa, ít nói, người thấp và đen nhưng rất nhanh nhẹn. Sau này, cả hai vị, thủ trưởng và cần vụ đều đã về hưu. Nhưng vẫn đi lại thăm hỏi nhau. Có lần tôi từ Sài Gòn ra, lên phố Hàng Rươi thăm ông chú đã già, rồi hai chú cháu đi bộ ra bờ hồ, ngồi ghế đá ngắm cảnh. Bỗng một ông già đang đi xe đạp dưới lòng đường, nhảy phốc xuống dắt xe chạy lại mừng rỡ reo lên: thủ trưởng khỏe không? Chúng tôi cũng mừng rỡ nhận ra chú Trường. Hai người bạn già, hai người kháng chiến thời trai trẻ năm xưa hỉ hả hỏi thăm nhau đủ chuyện. Bỗng một làn gió mạnh thổi bay cái mũ phớt của tướng Qua xuống mặt hồ. Nhanh như cắt, ông già Trường lội phăng xuống nước vớt cái mũ phớt lên. Ông cầm cái mũ rũ mạnh nhiều lần cho hết nước rồi đưa mũ cho tướng Qua nói: thủ trưởng để cho khô rồi hãy đội! Tôi chưa thấy ai tốt bụng, hồn nhiên, vọ tư và “đẹp” như chú Trường. Nếu được chọn một Con Người viết hoa trên đời này thì tôi chọn chú Trường. Về trưởng ty Công An Hải Hưng Hoàng Cuông thì tướng Qua kể: Cuông trước đây mặt rỗ, để đi hoạt động, cậu ấy đã lấy bàn là (bàn ủi) là mặt mình đi để mật thám không nhận ra nữa. Cậu ấy can trường lắm. Tướng Qua tỏ ra rất khâm phục con người Phạm Kiệt. Ông nói vì ghét tài năng và tính cương trực của ông Kiệt nên tên H phân cho thứ trưởng Phạm Kiệt làm tư lệnh công an vũ trang (biên phòng) quanh năm đi tuần tra biên giới, chỉ để những kẻ nịnh hót quanh mình. Đến khi được Cục quản lý sức khỏe cho biết là Phạm Kiệt đã bị ung thư hậu môn giai đoạn cuối, chẳng sống được là bao, nên hội nghị công an toàn quốc năm ấy (1974), khi Phạm Kiệt bước vào, tên H lao ra ôm lấy ông, nghẹn ngào, nức nở … cả hội trường ai cũng cảm động, cho là H trân trọng yêu quý lão tướng Phạm Kiệt lắm(!) chỉ có tôi và HH được Cục bảo vệ sức khỏe cho biết về cái chết đã gần kề với Phạm Kiệt nên cười thầm trong bụng. Ở ngành an ninh Việt Nam, sau khi Lê Giản chuyển sang ngành Tư Pháp-Tòa án, lần lượt các “lão tướng trung thần” như Nguyễn Tạo, Lê Tuấn Thức đều ra đi. Ông Nguyễn Tạo sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp, Lê Tuấn Thức sang làm chánh văn phòng cho Tổng cục lâm nghiệp… vì không thể ở lại ngành dưới triều đại của Trần Quốc Hoàn. Bây giờ bạn đọc chỉ cần đánh vào Google ba chữ “Trần Quốc Hoàn” là được đọc ngay thành tích bất hảo của Hoàn. Được biết về vụ án cô Nông Thị Xuân năm 1957. Trước đó Trần Quốc Hoàn đã hiếp cô cô Nông Thị Xuân ở số nhà 66 phố Hàng Bông Nhuộm rồi lập mưu giết hại cô như thế nào? Trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” nhà văn Vũ Thư Hiên cũng viết trên giấy trắng mực đen vụ án kinh tởm ấy. Vũ Thư Hiên còn nói rõ trong “Đêm giữa ban ngày” là, cán bộ từ cấp vụ trở lên ở Bộ Công An đều biết vụ án này. Vì thế, tướng Qua mới luôn gọi Trần Quốc Hoàn là “thằng H lưu manh” khi nói chuyện với tôi. Còn nhà văn XĐ quê ở Nghệ An thì nói với tôi rằng, nếu giết hết được cả làng tôi thì thằng Hoàn nó cũng giết, vì cả làng đều biết nó là thằng ăn cắp ở chợ làng trước kia! Vì thế, mỗi lần về Hà Nội, đi qua con đường mới mở to đẹp ở quận Cầu Giấy mang tên Trần Quốc Hoàn, tôi không khỏi ngậm ngùi đau xót cho số phận của dân tộc mình. Rồi có ngày tấm biển đó phải được giật xuống. Tôi tin như thế. (Còn tiếp) ----- Tháng Chín 5, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/09/05/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-11/ *** Đọc tiếp - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 12): https://www.minds.com/newsfeed/1019878588886253568?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 10): https://www.minds.com/newsfeed/10198776308276142...

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 10) Chương Năm Những chuyện kể của tướng Qua Sở dĩ có chương này trong hồi ký của tôi vì người phương Tây có câu phương ngôn đầy ý nghĩa xã hội: Một nửa sự thật không phải là sự thật. Vì người ta mới chỉ viết có một nửa sự thật nên có những nhân vật có thời được dựng tượng, nhưng một thời gian không lâu, chỉ vài chục năm sau, thiên hạ lại kéo đổ thần tượng đó xuống. Nhưng hàng trăm năm nay, không có ai kéo tượng của Puskin, của Victor Hugo xuống cả. Lịch sử công bằng như thế. Tướng Lê Hữu Qua, tên khai sinh là Lê Phú Cường (1914-2001), là chú ruột của tôi. Ông là nhân chứng sống của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 cho đến khi ông qua đời, 2001. Ông tham gia Việt Minh từ năm 1943, từng làm trưởng Ban trinh sát Sở Công an Bắc Bộ năm 1945, là người phá vụ án phố Ôn Như Hầu nổi tiếng sau Cách mạng tháng Tám. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947 ông được cử làm Giám đốc Công an khu 11 (tức Công an Hà Nội). Khi Nha Công an trung ương chuyển lên Việt Bắc, ông được giao làm Phó Ty Trật tự tư pháp. Đến tháng 3 năm 1954 ông được cử đi bảo vệ đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi dự hội nghị Genève tại Thụy Sĩ. Khi hội nghị kết thúc, ông được cử tham gia đoàn của chính phủ đi công tác tại Ý, Ai Cập, Ấn Độ, Miến Điện, Hồng Kông. Về Việt Nam ông được điều về Hà Nội gấp để bảo vệ Hồ Chủ tịch và ông Phạm Văn Đồng trong cuộc gặp đại diện Cộng hòa Pháp Sainteny tại Phủ Chủ tịch ngay sau giải phóng thủ đô. Năm 1956, ông làm Phó Giám đốc Vụ Trị an Dân cảnh. Đến tháng 5/1962 ông được chính phủ cử làm Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân với quân hàm thượng tá cảnh sát và giữ chức vụ này cho đến năm 1967. Ông là người xây dựng lực lượng cảnh sát nhân dân từ ngày đầu ấy. Sau thời gian đi học trường Nguyễn Ái Quốc về, ông giữ chức Cục trưởng Cục Quản lý trại giam cho đến năm nghỉ hưu 1980. Thời gian làm Cục trưởng Cục quản lý trại giam ông phải đảm nhận nhiều sĩ quan cấp tướng, cấp tá và quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn ra Bắc cải tạo, cũng như các trại cải tạo khác ở toàn quốc. Ngày 18/4/1977 ông được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong hàm Thiếu tướng công an. Bạn đọc chỉ cần gõ vào google mấy chữ “Thiếu tướng Lê Hữu Qua và những chiến công…” là có ngay bài viết cùng nhan đề trên báo Công an Nhân dân xuân Đinh Hợi 2007 để được biết về ông. Khi ông mất, báo Nhân dân số ra ngày Chủ nhật 21/1/2001 đã đăng ở đầu trang 8 tin buồn, nguyên văn: Đảng ủy Công an Trung ương Bộ Công an; Đảng ủy UBND phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội và gia đình thương tiếc báo tin đồng chí Thiếu tướng Lê Hữu Qua, sinh năm 1914, quê quán phường Phúc xá, Q. Ba Đình Hà Nội; Trú quán 28 Hàng Rươi phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội; Tham gia cách mạng năm 1943, vào Đảng CSVN năm 1945; nguyên Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng Bộ Công an, đã về hưu. Huân chương độc lập hạng ba, huân chương quân công hạng nhất, huân chương kháng chiến hạng hai, huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, huy chương vì thế hệ trẻ, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, kỷ niệm chương của Bộ Nội vụ Cu Ba và nhiều huân chương khác, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, đã từ trần hồi 4g 10 phút ngày 20/1/2001 tạ bệnh viện Hữu Nghị. Lễ viếng bắt đầu lúc 8g ngày 22/1 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (39 Trần Khánh Dư Hà Nội). Lễ truy điệu lúc 12g cùng ngày, an táng tại nghĩa trang xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm TP Hà Nội. Một người nằm trong ngành an ninh và giữ nhiều trọng trách như thế nên ông biết nhiều sự thật. Trong những lúc vui buồn dài theo năm tháng, ông đã kể cho thằng cháu ruột của mình – đích tôn của dòng họ Lê Phú – những sự thật đó một cách vô tư. Những câu chuyện của ông không có lớp lang gì cả, nhân sự việc này, ông kể câu chuyện có liên quan. Lúc nghe ông kể, tôi cũng không có ý thức phải ghi lại để sau này chép “sử” như nhà báo Huy Đức đã viết “Bên thắng cuộc”. Nhưng tôi nhận thấy cần phải viết lại những điều tướng Qua đã kể, để “một nửa sự thật” mà người đời không biết đến, hoặc người biết cố tình ém nhẹm đi, rồi lịch sử bị chôn vùi. Những nhân vật mà người ta chỉ biết đến “một nửa” về họ được suy tôn như những danh nhân hào kiệt, còn người đáng vinh danh lại không được ai nhắc đến. Báo Sài Gòn Giải Phóng thời ông Tô Hòa làm tổng biên tập, số ra ngày chủ nhật 1/6/1989 đã đăng bài thơ “Sự thật phải đong đầy” của tôi: Con tôi hỏi Cái gì mắc nhất Tivi hay tủ lạnh, honda? Mai con lớn rồi con sẽ hiểu Mắc nhất trên đời là sự thật con ơi! Một nửa bánh mì vẫn là chất bánh Một nửa dòng sông vẫn có đôi bờ Một nửa vầng trăng vẫn thành nỗi nhớ Một nửa cái hôn vẫn thấy ngọt ngào Còn sự thật – con ơi – một nửa Ngừoi trung kiên vẫn chết gục giữa đường Kẻ bất lương vẫn trên ngôi thần thánh Thằng lưu manh vẫn khoác áo anh hùng! Sẽ muôn đời là dối trá, dối trá Khi sự thật chẳng đong đầy Bài thơ này gây bất ngờ cho nhiều người đọc thời đó. Ông Tô Hào sau một lần chất vấn TBT Nguyễn Văn Linh đã bị cho thôi chức, về hưu. Nay cuối đời, có thời gian tôi quay lại đề tài của bài thơ này trong chương mục “Chuyện kể của tướng Qua”. Tôi hệ thống lại các mẩu chuyện kể về các nhân vật cho rõ nét, có những chuyện không nhớ thời gian kể, chỉ nhớ nội dung chuyện vì thế tôi gom lại thành những chủ đề để ghi lại. Những chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe hoàn toàn ngẫu hứng và vô tình, trong những lần chú cháu gặp nhau. Như tôi đã kể trên đây, hàng tháng tôi phải lên nhà tướng Qua để nhận số tiền 30 đồng về cho ông bà nội tôi. Những năm sinh viên, tôi chỉ được nhận nửa học bổng tức 11 đồng /tháng còn thiếu 11 đồng phải đóng cho nhà trường. Vì thế mà chiều thứ bảy nào tôi cũngphải cắt cơm ở nhà bếp. Chủ nhật thì ăn no ở nhà rồi chiều mới vào trường để số tiền phải đóng ít đi. Là học sinh thành thị quen ăn sáng khi vào trường không được ăn sáng nên đói không học được. Ngày ấy tôi chăm lên nhà chú Qua tôi để cuối tháng còn xin một tập báo nhân dân về bán ve chai (đồng nát) lấy tiền ăn sáng. Bà thím tôi là một phụ nữ rất tằn tiện và tốt bụng. Bà thu gom đủ 30 số báo nhân dân hàng tháng, chờ đến cuối tháng tôi lên, cho tôi đem về bán ve chai. Bấy giờ giấy hiếm lắm, báo nhân dân lại là giấy khổ to bán được tiền cũng khá. Tôi nhớ, 30 tờ bán được đủ số tiền để mỗi sáng có được bát cháo lươn giá một hào do căn tin nhà trường bán cho sinh viên ăn sáng. Mỗi lần tôi lên nhà chú tôi là được giữ lại ăn cơm chiều. Chú thím tôi không có con, sau này nhận nuôi một bé còn nhỏ rồi lớn lên em tôi đi Liên Xô học nên nhà rất vắng vẻ. Trong những bữa cơm chiều, tôi thường được nghe nhiều câu chyuện nhân tình thế thái. Chương 5 của cuốn hồi ký này có được là nhờ những câu chuyện hàn huyên như thế. Tất nhiên còn nhiều chuyện được tướng Qua kể trong những dịp khác. 1. Chuyện về ông bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn. Gộp những gì tướng Qua nhắc đến thì đây là một ông quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Ông đã loại bỏ trí thức ra khỏi guồng máy công an. Vợ ông là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ… Chưa bao giờ tôi thấy tướng Qua gọi tên hay chức vụ Bộ trưởng đối với Trần Quốc Hoàn. Ông gọi vị Bộ trưởng này bằng tên H lưu manh! Không nhân nhượng gì cả. Ông gọi tắt chữ Hoàn bằng âm H (hát). Lần đầu tiên tôi nghe ông gọi thế, và mãi sau này vẫn gọi thế. Nhiều lúc tôi thấy thương ông chú tôi, suốt đời phải làm việc với một vị thủ trưởng như thế. Cũng nhiều lúc tôi thấy giận ông vì sao không thể… bỏ mà đi, không làm việc ở Bộ Công an nữa. Nhưng sau này gặp nhà văn Tuấn Vinh, chuyên viết truyện về đề tài công an, cùng công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam với tôi, biết tôi là cháu tướng Qua, nên đã tặng tôi tập sách “Bão táp mùa thu” của NXB Công an nhân dân 1995 gồm các truyện ký về sự trưởng thành của công an thủ đô nhân 50 năm thành lập ngành công an nhân dân của nhiều tác giả. Trong bài “Những ngày đầu” hồi ký của Lê Hữu Qua do nhà văn Mai Ngữ ghi lại, trong hơn 30 trang hồi ký đó có đoạn: “Anh em chúng tôi đa số là lớp thanh niên mới lớn, nhiều cậu lúc ấy chưa hề tỏ tình với cô gái nào là cách mạng đến. Nếu gọi là mối tình đầu của người con trai thì cách mạng là mối tình đầu của họ… một tình yêu chung thủy và sắt son, mặc dù sau bao nhiêu năm có nhiều điều làm ta bực bội. Có nhiều kẻ mang danh cách mạng làm chuyện vô lương, nhưng nếu có ai chống lại cách mạng thì chúng tôi không chịu nổi…”. Càng ngẫm tôi càng thương chú tôi, một thanh niên Hà Nội đẹp trai giỏi võ nghệ, giỏi bắn súng, giỏi lái xe hơi, nói thạo tiếng Pháp và… chỉ có “một mối tình đầu” là cách mạng và suốt đời chung thủy với mối tình đó nên ông không thể từ bỏ được. Ông không thể như Sartre “đi tìm niềm trung thành mới”. Đầu năm 60, tôi đến Bộ Công An chơi với chú tôi vì nhà ông ở ngay trong cơ quan Bộ, đi vô phải qua vọng gác. Ông ở trong một căn phòng nhỏ ở trên tầng lầu. Hai vợ chồng chỉ có một phòng cho tất cả mọi sinh hoạt. Tôi liếc nhìn bốn bề… Hiểu ý tôi, tướng Qua chỉ tay xuống căn biệt thự rất sang trọng dưới cửa sổ và nói: Tên H lưu manh này chỉ biết hắn thôi. Sau ngày giải phóng thủ đô, hắn chiếm ngay ngôi biệt thự này (nằm trên đường Trần Bình Trọng, một phía của biệt thự giáp đại lộ Trần Hưng Đạo, phía đối diện là Bộ Công an, chiếm cả dãy phố Trần Bình Trọng). Tất cả các cán bộ cao cấp khác, hắn bắt ở trong cơ quan Bộ với lý do “bảo vệ cán bộ”. Nhiều ngôi nhà quanh hồ Hale, chủ nhân di cư vô Nam, anh em xin ra ở đó H cũng không cho. Sau này lên thăm chú tôi nhiều lần, tôi mới biết đối diện phòng ông là phòng của Thứ trưởng Viễn Chi, sát đó là phòng của gia đình ông Nguyễn Công Tài, Cục trưởng. Vậy là hai vị cục trưởng và một vị thứ trưởng phải ở chung một tầng lầu chật hẹp, đi chung cầu thang, mọi tiện nghi sinh hoạt khác đều ở tầng trệt công cộng. Ông Viễn Chi có đứa con bị tật, ông phải đưa người bố đẻ ở quê lên để trông cháu. Tất tật chui rúc trong một căn phòng. Cụ thân sinh ra ông Viễn Chi rất đẹp lão, trông như một ông tiên. Một lần tôi sang chơi với cụ lúc mọi người đi vắng, cụ còn đọc thơ cho tôi nghe. Cụ lấy bút danh là Dã Tiên (ông tiên nơi thôn dã). Cụ than phiền với tôi phải rời quê ra đây, ở căn phòng chật hẹp này, cụ buồn lắm. Nhưng vì “thương anh Chi” nên cụ phải ở. Nói chuyện với cụ, tôi thấy đây là một ông già rất thông thái. Cụ thấy tôi đã 20 tuổi nhưng gầy yếu cụ khuyên tôi một vài năm nữa phải lấy vợ vì luật âm dương phải hài hòa!!! Một ông già như ông Dã Tiên phải được sống ở nơi non xanh nước biếc mà lại bị cầm tù ở cái gác ấy thì thật là đáng trách. Một lần, cũng do vô tình, tôi được một vị trung niên rất đẹp tướng, cao to, mặt mũi sáng sủa, là hàng xóm của tướng Qua kêu tôi sang nhà nhờ khiêng một cái giường cá nhân. Tôi thấy nhà ông ấy có nhiều sách lại có hai cái điện thọai mắc ở đầu giường, trong khi tướng Qua chỉ có một điện thoại. Tôi hỏi tướng Qua ông ấy là ai mà oai vậy? Tướng Qua cười bảo tôi, cháu học văn mà không biết, ông ấy là ông Tài con nhà văn Nguyễn Công Hoan đó. Cái thế giới nhà tập thể nó thế. Ai có ở nhà tập thể do cơ quan cấp mới thấy chán chường. Đã cả ngày nhìn thấy nhau ở cơ quan, đến khi về đến nhà riêng ra vào lại phải gặp những gương mặt đó. Hợp nhau đã vậy còn nếu không thì chỉ mong dọn đi chỗ khác. Có lẽ vì chán ở tập thể nên chú tôi tìm cách dọn ra ở bên ngoài. Di chuyển đôi lần rồi cuối cùng ông ở 28 phố Hàng Rươi cho đến cuối đời. Lý do về ở phố, theo ông nói với tôi là “thích ở gần dân”. Nhưng ngôi nhà 28 Hàng Rươi cũng vô cùng chật hẹp. Nhà hình ống, bề ngang chỉ hơn 2 m, cầu thang lên dựng đứng. Đi ra đi vào phải lách, vậy mà ông đã ở đấy cho đến lúc ra đi… Có lần, một người ở quê ra chơi, thấy ngôi nhà bé quá, khi về ông ta nhỡ miệng than với mọi người: Nhà ông tướng gì mà như cái chuồng chó! Sau này nghe được câu nói đó, tướng Qua buồn lắm! Cả một đời ngang dọc, đánh đông dẹp bắc chiến tích đầy mình mà đến cuối đời chú tôi vẫn phải ở trong căn nhà “như cái chuồng chó” ấy thật là bất công. Bây giờ, mỗi khi vô một căn nhà, chủ nhân chỉ là viên sĩ quan cấp tá thôi nhưng nhà họ nguy nga như một lâu đài. Tôi mới ngẫm ra rằng, như một nhà hiền triết đã nói: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh”. Nói về tính ích kỷ và sự dối trá của Trần Quốc Hoàn tướng Qua có lần kể, dưới bàn làm việc của tên H là một cái hầm. Chỉ cần bấm nút một cái là cả bàn giấy của H thụt xuống hầm sâu. Căn hầm có thể tránh được bom nguyên tử. Bên phố Yết Kiêu gần đấy, dưới đất là cả một căn hầm rộng mênh mông. Tên H rất sợ chết, chỉ lo bảo toàn tính mạng cho riêng hắn. Khi nói đến sự láu cá, cơ hội, nịnh hót trong hàng ngũ lãnh đạo Bộ Công An, tướng Qua dẫn ra những nhân vật thật tức cười. Đó là thứ trưởng Minh Tiến, cái ông đã làm giấy mượn khẩu súng lục của ông nội tôi khi còn là chủ tịch xã … Minh Tiến thường lảng vảng trong sân Bộ mỗi khi Trần Quốc Hoàn đi đâu về khuya. Khi nghe thấy tiếng xe của Hoàn về là Minh Tiến chạy vội lên phòng, bật đèn sáng choang, ngồi ngay ngắn… “làm việc”! Vì thế Hoàn thường khen: Ở Bộ này chỉ có Minh Tiến là “thức khuya dậy sớm” mà thôi. Cái nghề ở tập thể nó thế. Không ai che giấu được cái tốt, cái xấu với mọi người. Một nhân vật nữa là cục trưởng Hoàng Mai, cục trưởng Cục trại giam trước khi tướng Qua tiếp nhận chức vụ này. Hoàng Mai đi công tác từ Hà Nội, đến Bắc Giang thì bắn được một con chim gáy. Hắn vội quay xe về, chạy hộc tốc lên gác nhà Trần Quốc Hoàn, biếu vợ Hoàn con chim gáy đó và được vợ Hoàn khen nức nở là người tốt. Và dĩ nhiên là được Bộ trưởng Hoàn xếp vào danh sách cán bộ tin cậy. Nói về sự nịnh hót của cấp dưới và sự ba hoa phét lác của “tên H lưu manh”, tướng Qua kể mỗi năm Bộ Công An có một cuộc họp toàn quốc vào cuối năm. H ba hoa xích đế trên diễn đàn. H thường mời những tay có học vị phó tiến sĩ đỗ đạt ở Liên Xô về nói các vấn đề mới về khoa học cho mình nghe. Khi hội nghị toàn quốc của ngành hắn đem những điều nghe được lõm bỏm đó ra ba hoa với hội nghị. Đến giờ giải lao, hắn chạy xuống chỉ tay vào những người ở hàng ghế đầu, thường là thứ trưởng, cục trưởng hỏi: Tôi nói nghe có được không? Thế là lập tức có kẻ xoa xoa hai tay, tâng bốc: Nghe Bộ trưởng nói cứ… sáng ra, ước gì một năm có vài lần hội nghị toàn quốc thế này để anh em được nâng cao trình độ. H sung sướng cười híp cả mắt. Vì thế nên tôi và HH (cục trưởng) đến kỳ họp toàn quốc phải lẩn xuống chỗ các trưởng ty ngồi để đề phòng tên H nhỡ ra lại chỉ tay vào mình mà hỏi: Tôi nói thế anh Qua thấy thế nào? Chả nhẽ lại nói, anh nói tôi nghe như… cục c! Nói về sự ton hót, tướng Qua kể một chuyện đáng buồn nôn. Đó là kỳ họp sau khi thống nhất đất nước. Sau khi nói về sự “tiến bộ” của ngành, tên H hỏi anh em: Đánh giá ngành ta thế có khách quan không? Một tên ton hót đã thưa: Thế mà có người nói rằng đi xa, lâu ngày về Bộ thấy chẳng có gì thay đổi cả(!) Tôi nghe câu đó giật mình lo cho Nguyễn Công Tài. Tài đi B công tác 9-10 năm, bị tù rất anh dũng, sau khi đất nước thống nhất được đón về như một vị anh hùng. Nhưng Tài thẳng thắn, và chính Tài là tác giả của câu nói đó. Và quả thật, Tài đã lâm nạn. Chỉ ít lâu sau bị “nghi vấn” là khi ở tù có khai báo và bị chuyển đi khỏi ngành. Nói về sự bịp bợm của tên H, tướng Qua kể, hắn mua rất nhiều máy tính điện tử, ngày nay gọi là máy vi tính. Tốn kém không biết bao nhiêu là tiền của công quỹ. Hắn báo cáo với Bộ Chính trị rằng, với thứ máy móc siêu việt này, án nào cũng phá được. Những người công tác lâu năm trong công việc điều tra hỉnh sự thì hiểu rất rõ rằng, nếu đưa dữ liệu sai vào máy tính thì còn nguy hiểm gấp trăm lần vì máy sẽ nhân cái sai lên trăm lần. Để nói về sự trung thực trong công tác điều tra, không quan liêu, không ép cung, để “phá án” lấy thành tích tướng Qua đã kể cho tôi nghe nhiều lần “Vụ án ở nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm Hà Nội”. Câu chuyện như sau: Giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia lâm tự tử. Nhưng vì muốn có thành tích, Sở Công An đã ép cung đến 8-9 cán bộ. Vì bị tra tấn ép cung quá, không chịu nổi họ đều đã nhận giết ông giám đốc nhà máy. Án được “phá” nhanh chóng và được báo cáo lên Quốc Hội, được chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh khen. Nhưng một hôm, cái xác ông giám đốc nhà máy ấy được vớt lên ở cửa sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên. Sau khi khám nghiệm tử thi, trưởng phòng đại úy Tích kết luận là nạn nhân tự sát, không phải bị giết. Nửa đêm, đại úy Tích đạp xe về Bộ báo cáo Cục trưởng cảnh sát Lê Hữu Qua. Ông cục trưởng nói: Nếu đúng vậy thì anh làm hồ sơ thật cẩn thận để điều tra lại. Thế là bùng nổ cuộc xung đột giữa giám đốc công an Hà Nội lúc đó mà đứng sau là thứ trưởng Lê Quốc Thân với Cục cảnh sát nhân dân, đứng đầu là cục trưởng Qua. Cuộc đối đầu này, mà theo cục trưởng Qua thì “Hồ sơ đã lên đến hàng tạ giấy” mà không phân thắng bại, phải trái. Nhưng quyết tâm của Cục cảnh sát là phải minh oan cho các nạn nhân bị ép cung. Cuộc đấu tranh một mất một còn này kéo thêm một cái chết nữa của một viên bác sĩ Pháp y của quân đội quốc gia (Bảo Đại). Viên thiếu tá Pháp y rất giỏi này được mời tham gia vụ án. Trong một phiên họp rất căng do Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn chủ trì, bác sĩ giáo sư Tôn Thất Tùng vì quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm. Ông rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mì chính nhỏ rơi ra (Bác sĩ Tùng có thói quen gói những gói mì chính (bột ngọt) nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vô tô phở). Thời đó, bột ngọt quý như vàng. Bác sĩ Tùng phải là người sang lắm mới có sẵn thứ này trong người. Tướng Qua kể, thấy Gs Tùng run quá, tôi phải nhặt dùm ông các gói mì chính rồi để lại vào túi cho ông. Tôi nói: Gs cứ bình tĩnh phát biểu. Gs Tùng đã từ chối kết luận vì ông không phải là Pháp y. Đến lượt viên thiếu tá Pháp y của quân đội quốc gia Bảo Đại phát biểu, sau khi chứng minh ông giám đốc không phải bị giết. Trong cơn xúc động, ông thiếu tá đấm tay vô chiếc bảng treo trên tường và nói lớn: Nếu giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm mà bị giết thì đốt hết sách vở đi! Nói xong, ông ta uống gói thuốc độc lấy ra từ túi và gục xuống chết ngay tại phòng họp. Tướng Qua cũng nói tỉ mỉ về vai trò của ông Lê Đức Thọ trong vụ này. Ông kể: Ông Thọ yêu cầu chúng tôi phải mang đạo cụ đến nhà riêng của ông, diễn lại vụ tự tử của giám đốc nhà máy như quan điểm của Cục Cảnh sát. Chúng tôi phải chở đến cả một xe tải dụng cụ, y như là một gán hát chở phông màn đến diễn tuồng. Cực nhất là phải mua cả tiết heo để vẩy lên hiện trường để thuyết minh các tình tiết về các vết máu khi xảy ra sự việc. Xem kỹ “vở diễn” ông Thọ kết luận là phải tiếp tục điều tra để đi đến kết luận. Sự việc lên đến đỉnh điểm khi một phiên họp, có cả giám đốc trại giam đang giam giữ các tù nhân bị ép cung, thứ trưởng Lê Quốc Thân ra hiệu bằng mồm (ám hiệu bật môi khi phát âm chữ bờ-b không thành tiếng) là bắn các tù nhân để bịt đầu mối. Tôi biết Thân hay ra ám hiệu nên theo dõi Thân rất kỹ trong cuộc họp. Đến khi hắn ra hiệu “bắn”, tôi báo ngay cho ông Thọ biết. lập tức ông Thọ điện cho Thân hỏi, có phải anh ra lệnh bắn tù để bịt đầu mối vụ án phải không? Sau này anh em kể lại, nghe điện thoại của ông Thọ xong, Thân chửi ầm lên là lại thằng Qua báo cáo chứ gì. Tình hình Bộ Công An lúc đó rất căng thẳng giữa Cục Cảnh sát và thứ trưởng Thân. Trong một phiên họp có phó Ban kiểm tra trung ương là Trần Kiên dự, Lê Quốc Thân đã chỉ thẳng vào mặt cục trưởng Lê Hữu Qua nạt: Anh Qua sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc rũ rối vụ án đã được khép lại này. Tướng Qua cũng kiên quyết: Tôi phản đối đến cùng kết luận của giám đốc công an Hà Nội và anh. Cuối cùng thì một đoàn chuyên gia của Bộ Công An nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức được mời sang. Theo tướng Qua, nước Đức có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ phá án. Quan điểm của các bạn Đức là nếu có án thì hung thủ phải để lại hiện trường dấu vết, và nếu có dấu vết thì sẽ tìm ra thủ phạm. Đoàn của Đức đi riêng một chuyên cơ gồm 10 người, gồm chuyên gia các lĩnh vực. Tướng Qua cho hay có một ông gọi là “chuyên gia thắt cổ”. Ông đem theo cả một bộ sách dầy, tổng kết tất cả các hình thức thắt cổ kèm theo hình vẽ, có từ thời Hy Lạp cổ đại đến giờ. Bộ sách phân tí...
83 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 9) Chương Bốn Đời sinh viên Cuộc đời thật trớ trêu, nhờ “thi trượt” mà tôi được biết thầy Tuất, hiệu phó nhà trường và sau đó trở thành “cháu” của thầy! Ngày ấy tôi thường mang thông tin, thư từ của chú Bẩy Trân đến thầy Tuất và được thầy yêu mến. Là một trí thức miền Nam tây học, tính tình thầy hiền hòa, cởi mở. Còn gì “oai” bằng ở một trường đại học hàng ngàn sinh viên, tôi được xem là “cháu” của thầy hiệu phó. Thực chất, thầy điều hành như hiệu trưởng vì, GS Phạm Huy Thông đứng danh hiệu trưởng như không bao giờ về trường cả, trừ khi có khách quốc tế đến thăm trường là nguyên thủ quốc gia. Như đã kể trên đây, vì bắt buộc phải nộp đơn thi vào khoa Nga cho dễ đỗ, nên khi được vô học, tôi phải học tiếng Nga. Tôi học rất dốt môn ngoại ngữ này, điểm kiểm tra thường là điểm 1 và 2. Vì thế lớp phân công nữ sinh viên tên là Ngọc kèm cặp giúp đỡ, phụ đạo tôi hàng ngày. Tôi rất tự ái, nghĩ mình “đường đường một đấng anh hào” mà lại bị một bạn gái giúp đỡ thì thật là… mất cái sĩ diện! Vì thế tôi lên xin thầy Tuất cho tôi chuyển sang học khoa văn. Thầy Tuất ôn tồn bảo tôi: Khải ơi, bây giờ sắp thi học kỳ rồi, cậu sang khoa văn làm sao mà thi nỗi, người ta học được nửa năm rồi. Tôi nghe thế, đưa thầy xem học bạ phổ thông với điểm tổng kết 5 môn văn để thuyết phục và hứa với thầy tôi sẽ thi học kỳ với điểm số xuất sắc. Là dân Nam Bộ tính tình phóng khoáng, thầy xé mảnh giấy nhỏ, ghi mấy chữ (giống hệt như chú Bẩy Trân đã làm cho tôi trước đây) để tôi đem sang phòng tổ chức khoa văn để nhập học. Anh cán bộ phòng tổ chức xem giấy xong lắc đầu, nhìn tôi. Có lẽ trong bụng anh nghĩ tôi có quan hệ thế nào với thầy Tuất mà được phá lệ thế này. Nhưng cái giấy của ông hiệu phó cũng là mệnh lệnh, đố ai dám cản trở. Tôi được nhận vào học khoa văn. Sang khoa văn học được ít ngày là thi học kỳ năm thứ nhất. Học khoa văn là cả một núi sách phải đọc. Nhưng các sinh viên xuất thân ở nông thôn thì lấy đâu sách ra mà đọc, vì thế tôi có ưu thế hơn hẳn các bạn. Tôi đã đọc các tác phẩm văn học này từ hồi còn là học sinh phổ thông ở các cấp. Vì thế, tôi chỉ phải đọc các sách lý luận, sách nghiên cứu, các giáo trình và không phải chúi đầu đọc tác phẩm như các bạn tôi. Tôi học rất nhàn và có chất lượng. Khi thi học kỳ, môn văn học nước ngoài là văn học Trung Quốc. Đề thi là phân tích nhân vật Tào Tháo trong tiểu thuyết trường thiên Tam Quốc. Tôi được điểm 9/10, đứng đầu khoa về môn văn học nước ngoài. Ở đây xin mở ngoặc, lên đại học điểm tính theo hệ thống 10/10. Với môn văn học nước ngoài, năm thứ nhất học văn học Trung Quốc, năm thứ hai là văn học Nga-Xô viết, năm thứ ba văn học phương tây. Được điểm 9/10 môn văn học Trung Quốc, tôi được cử làm cán sự bộ môn văn học nước ngoài của lớp. Cán sự có nhiệm vụ liên hệ với thầy giáo bộ môn để nhận các câu hỏi, bài vở, tài liệu hướng dẫn của thầy và phụ đạo các bạn cùng lớp có điểm kém môn học đó. Như đã hứa, tôi đem kết quả thi học kỳ một lên cho thầy Tuất xem và thầy rất hài lòng. Vào đại học, quy định của nhà trường là phải ăn ở nội trú. Do gia đình có điều kiện hơn các bạn cùng lớp nên tôi được trang bị khá tốt. mẹ tôi cho tiền mua chiếc xe đạp Sputnik do Liên Xô sản xuất, được chú Năm tôi cho một cái va li cũ, đặc biệt chú Hai cho tôi cái cặp da “mác” Thượng Hải màu đen rất sang. Đó là chiếc cặp thủ tướng Chu Ân Lai tặng các thành viên đoàn Việt Nam đi dự hội nghị Geneve năm 1954 tại Thụy Sĩ. Một sinh viên đi học đại học thời đó mà được trang bị như thế là sang lắm rồi. Tôi nhớ, cứ mỗi lần tôi đạp xe vào trường chiều chủ nhật là đã có các bạn đứng ở cổng chờ, mượn tôi xe đạp để đạp ra phố chơi. Vì thế chẳng bao lâu, chiếc xe đã cũ nát. Còn chiếc cặp da đen “mác” Thượng Hải thì tôi cũng không bao giờ quên về số phận của nó. Cái cặp da đen ấy có thể được xem là sang nhất trường, ngay cả thầy Tuất cũng không có, vì thế các bạn của tôi hay mượn để xách cho oai! Có lần anh Đình, bạn cùng lớp với tôi, quê ở Thái Bình hỏi mượn tôi cả xe đạp, cả cặp da để đạp ra phố chơi vì chiều hôm đó là chiều tự học. Anh đi đến gần tối mới về, từ trên sân thượng của ký túc xá, tôi nhìn xuống thấy anh một tay đi xe, một tay xách cái cặp đen nhưng nó to đùng như cái thùng. Hóa ra anh mua một quả dưa hấu và cố nhét vào cặp để xách về. Thế là cái cặp da đen kiểu cặp ngoại giao, có hai ngăn gấp vào nhau, có khóa và quai đỡ ở bên dưới bị đứt tung khóa. Tôi phải đem về Hà Nội chữa. Cái cặp đen “ngoại giao” đó còn biết bao nhiêu kỷ niệm ly kỳ nữa. Đó là năm học thứ ba, trường sơ tán ở Yên Mỹ, Hưng Yên. Tôi ở trọ trong một gia đình nông dân rất nghèo. Bà chủ nhà có cái màn (trong Nam kêu là mùng) bằng vải xô rách đến mức phải dùng giấy báo dán chằng chịt. Bà chủ nhờ tôi mua giúp một chiếc màn mới. Hồi đó (1966) muốn mua một cái màn là rất khó, phải có phiếu vải mới mua được. Nếu dùng phiếu vải để mua màn thì cả năm không còn tiêu chuẩn mua vải may quần áo vì màn rất rộng. Tôi nhờ có bà chị ruột là cửa hàng trưởng một cửa hàng mậu dịch Hà Nội nên mua được cho bà chủ một cái màn mới mà không cần đến tem phiếu. Có màn, cả gia đình bà mừng lắm. Cuối tuần tôi về Hà Nội, bà chủ nhà muốn gửi biếu chị tôi chút quà nhưng nhà nghèo quá, biết lấy gì đền ơn. Người nông dân vốn tình nghĩa đôn hậu như vậy. Vì thế, từ sáng sớm bà đã đi mò cua và đến chiều bà đã có 10 xóc cua để nhờ tôi đem về Hà Nội biếu chị tôi làm quà. Tôi để 10 xóc cua đó vào chiếc cặp đen, mỗi ngăn 5 xóc rồi gấp lại. Chưa hết, tôi cẩn thận cài khóa bên dưới rồi xách đi. Về Hà Nội, lúc đến Bờ Hồ, tôi đi xe điện tuyến chợ Mơ để về nhà. Lúc ngồi trên xe điện, những chú cua còn sống cứ ngọ nguậy nghe rào rào như một tín hiệu gì đó, thế là anh bán vé xe điện hỏi tôi: Cái gì ở trong cặp của cậu? Tôi không thèm trả lời, thấy vậy anh ta càng nghi ngờ và lớn tiếng: Tôi hỏi cậu, cái gì ở trong cặp của cậu? Có lẽ anh đã nghi ngờ tôi có máy phát sóng điện…Hồi đó có khẩu hiệu “mỗi người dân là một chiến sĩ công an” nên người ta thường hay nghi ngờ lung tung. Nhìn đâu cũng thấy địch. Thấy tôi giả vờ lúng túng, anh ta chắc mẫm đã phát hiện được tên gián điệp đang mang máy phát sóng báo tín hiệu cho máy bay oanh tạc tàu điện của anh ta(!). Những tiếng quát lại vang lên: Yêu cầu cậu mở cặp ra cho tôi kiểm tra. Tôi quát lại: Anh không có quyền đó. Thế là cả tàu điện nhốn nháo. Có ai đó thông báo cho lái tàu để dừng lại. Cả người lái tàu cũng đến mặt hằm hằm yêu cầu tôi mở cặp. Tôi nói: Các anh phải có biên bản cuộc khám xét này. Nếu tôi mở ra chỉ có mấy con cua đồng thì sao. Tôi sẽ kiện các anh về xí nghiệp xe điện. Nghe thấy có cua đồng trong cặp, mọi người đều sửng sốt. Có người quát: Nói bậy. Lúc đó tôi mới từ từ mở chiếc cặp đen “ngoại giao” của tôi ra, lần lượt lôi ra 10 xóc cua đồng còn sống, chân cua vẫn ngọ nguậy. Thế là mọi người phá lên cười. Anh bán vé và người lái tàu biến mất… Có lẽ trên hành tinh này, không ở đâu người ta sử dụng chiếc cặp da đen sang trọng dùng trong ngoại giao để đựng dưa hấu và cua đồng như chiếc cặp của tôi! Đời sinh viên của chúng tôi ngày ấy lắm chuyện vui buồn như thế. Trong ba năm học, từ 1963 đến 1966 mỗi năm chúng tôi học ở một nơi. Một năm học ở Cầu Giấy Hà Nội, một năm sơ tán lên Đại Từ, Thái Nguyên (lúc đó gọi là Bắc Thái). Một năm quay về vùng quê nghèo Yên Mỹ, Hưng Yên. Năm thứ hai ở Đại Từ để lại những kỷ niệm thật khó quên: Đói khổ và thơ mộng. Đói là vì xa Hà Nội. Mọi thứ tiêu chuẩn của sinh viên phải mua theo tem phiếu ở Hà Nội vì hộ khẩu ở đó. Ngày đó đến rau muống cũng phải xếp hàng mua của mậu dịch theo tiêu chuẩn. Vì thế, đi sơ tán xa các nhu yếu phẩm này không chuyển lên được. Đến kỳ, chúng tôi phải đi bộ ra phố Đu ở Thái Nguyên, cách nơi sơ tán 20 km để gánh lương thực về. Sinh viên lúc đó ở nhờ nhà dân nhưng lớp học thì phải tự làm lấy. Vì không có rau nên các quả đồi, cánh rừng quanh đó có măng nứa, măng tre đều bị vặt trụi để nấu canh. Một tháng chúng tôi chỉ được ăn thịt 1 hoặc 2 lần mua theo tem phiếu chở từ Hà Nội lên. Thịt phải mua từ chiều hôm trước đến hôm sau mới lên tới nơi mà kh6ogn có xe lạnh bảo quản như bây giờ nên thối hết, bốc mùi ôi. Nhưng các chị nuôi vẫn tiếc rẻ, lấy dao cắt phần thối đi, phần còn lại nấu măng làm “súp” cho sinh viên ăn với bột mì luộc hoặc cơm. Phần thịt được đem nấu đã thâm lại, khi ăn chúng tôi phải vừa bịt mũi vừa ăn vì nó có mùi thum thủm. Nhưng vì thèm thịt quá nên vẫn cứ phải ăn! Đói khổ như thế nhưng chúng tôi vẫn tập văn nghệ và còn biểu diễn văn nghệ cho bà con dân tộc xem. Ngoài ra còn tổ chức thi hùng biện nữa. Tôi đã được giải trong một cuộc thi hùng biện do lớp tổ chức. Cuộc sống ngày ấy gian khổ nhưng vẫn vui tươi có lẽ một phần do tuổi trẻ yêu đời, một phần vì thiên nhiên Việt Bắc vô cùng thi vị, nâng đỡ tâm hồn con người. Thời kháng chiến chống Pháp, tôi đã được sống ba năm có lẻ ở vùng núi trung du Phú Thọ, thời sinh viên tôi lại được sống ở vùng rừng Thái Nguyên, Việt Bắc gần năm trời quả là một diễm phúc trong một đời người để biết được đất nước mình tươi đẹp và nên thơ đến nhường nào để thêm yêu tổ quốc mình. Vùng Đại Từ Thái Nguyên là vùng rừng núi hoàn toàn nhưng không khắc nghiệt, cheo leo như vùng công viên đá Đồng Văn, Hà Giang hoặc như vùng rừng núi trùng điệp như Lai Châu, Điện Biên. Núi rừng ở Đại Từ xen kẽ những thung lũng nhỏ có thể trồng lúa nên cuộc sống của đồng bào dân tộc Tày, Nùng ở đây rất dễ chịu và nên thơ. Đàn ông quanh năm đi săn bắn và chặt gỗ làm nhà. Cứ vài, ba nếp nhà sàn ở gần nhau làm thành một xóm nhỏ. Đi cả cây số nữa mới bắt gặp một xóm như thế. Từ xóm này đến xóm kia là những cây cầu bắc cheo leo qua suối, là những con đường nhỏ luồn lách trong rừng. Đất ở đây đa phần là đất đỏ, đất đá tổ ông rất hợp với tre, nứa, vầu… Nhiều cây vầu, một loại tre rất to đường kính đến hơn gang tay và có thể cao đến 20 mét. Vậy mà có gia đình sở hữu đến cả rừng vầu. Ngày đó, nói cho đúng thì ai muốn nhận quả đồi nào, quả núi nào là của nhà mình thì cứ mặc sức. Vì đi cả cây số mới gặp vài nếp nhà thì nhận cả rừng tre, nứa, vầu là của nhà mình cũng chẳng ai nói gì. Ở dưới xuôi thì cây tre cây vầu có thể dựng làm cột cái xây nhà rất quý, nhưng ở Đại Từ thì cho cả trăm cây tre một lúc cũng không ai lấy cả, vì lấy để làm gì? Có gia đình đắp đất ngăn một khe núi thế là thành một cái ao. Cuối năm tháo nước ra, bắt cá để ăn tết. Nước từ trên suối được dẫn xuống ruộng để cấy lúa. Nhà ở là nhà sàn. Nhà nào cũng có một bếp lửa to ngay lối cầu thang lên. Mồi lửa là một cây gổ dài, một đầu đưa vào bếp cháy âm ỉ quanh năm. Ra khỏi nhà ai cũng đeo một con dao dài bên thắt lưng, lúc trở về là một bó củi nứa, củi tre mà mấy tháng trước người ta đã phạt cho đứt, đợi đến khi cây khô lấy về làm củi đun. Cao dao đeo bên hông của đồng bào Tày, Nùng lúc nào cũng sáng quắc khiến ta nhớ đến câu thơ trong bài Việt Bắc: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Chiều đến trâu thả rông đeo mõ được lùa về. Đêm đến nghe tiếng chày nước giã gão lại nhớ hai câu thơ: “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa” Có lẽ, tôi phải chú thích ngay để các bạn sống ở thành thị sau này, chưa một lần sống ở núi rừng Việt Bắc hiểu thế nào là “chày đêm nện cối đều đều suối xa”. Sự thể thế này: Bà con miền núi lợi dụng suối nước chảy ngày đêm trong rừng nên làm một cái chầy là một cây gỗ lớn, bên dưới là cái cối đựng gạo chưa giã còn dính cám. Ở giữa cây gỗ, đục ngang thân gắn một cái trục, hai đầu trục được cố định xuống đất. Cây gỗ trở thành một cái đòn bẩy mà đầu kia được khoét thành cái máng cho nước suối chảy vô. Khi máng đầy nước vì nặng, nó sẽ chìm xuống khiến đầu kia của cây gỗ lại được tự động nâng lên. Nước sẽ bị đổ ra và đầu cây gỗ lại được nâng lên khiến đầu kia lại rơi xuống làm cho cái chày gắn ở đầu nó “giã” vào cối gạo. Cứ thế, vài phút nó “giã” được một cái nhưng rất đều đặn. Vì thế mới “đều đều suối xa”. Có điều đáng nhớ là, cối gạo ấy ở giữa rừng, vài hôm sau chủ nhà mới ra lấy gạo đã được nước “giã” đem về. Cuộc sống như thế có khác gì thời Nghiêu-Thuấn, không ai lấy của ai. Mùa đông chúng tôi ngồi học bài trên bếp lửa nhà sàn bập bùng rồi lăm ra ngủ ngay trên bếp lửa. Sáng ra đứa nào đứa nấy quần áo cứ nhọ đen như thợ lò đi làm về. Đến mùa gặt lúa vào cuối tháng 10 ta, nhà nào cũng giã gạo non làm cốm. Tiếng chầy thình thịch núi rừng. Gần cuối năm, giáp tết bà con lại lập những lò nấu mật ngay trên ruộng. Lò có trâu kéo đi vòng quanh một cái cối ép mía để lấy nước nấu mật. Khói lò mía bay lên chờn vờn trong áng chiều, mùi nước mía nấu mật thơm ngào ngạt. Sẵn củi, nước vài củ sắn (khoai mì) giòn tan, chấm với mật mía vừa ra lò thì ngon vô cùng. Đứng từ trên đồi cao nhìn xuống những nhà chòi nấu mật khói lam chiều bay lên chờn vờn mái lá, thấy cuộc sống nơi đây thanh bình biết bao. Sau này, đi đó đây tôi có dịp được thấy những lâu đài nguy nga ở các đô thị lớn như Matxcơva, Paris, thấy những nhà chọc trời ở Thẩm Quyến, Hồng Kông, Singapore… nhưng chẳng để lại gì nhiều trong tâm trí mình vẻ đẹp nào như vẻ đẹp của những nếp nhà sàn, những chòi nấu mật giữa rừng núi Đại Từ Việt Bắc. Là cán sự một môn văn học nước ngoài nên tôi thường được đến nghe thầy bộ môn Nguyễn Đức Nam bồi dưỡng kiến thức, hướng dẫn đọc sách để về truyền đạt lại cho lớp. Thường các chủ nhật, tôi đến căn nhà sàn của thầy Nam và ở đó nghe thầy giảng giải cho đến tối. Vì ở giữa núi rừng cũng chẳng biết đi đâu vào ngày nghỉ. Thầy mới ngoài 30 tuổi, đậu phó tiến sĩ về văn học phương tây ở Nga về. Thầy có mái tóc bồng bềnh, đôi mắt nheo cười hóm hỉnh, giọng Nghệ đã pha trộn các ngôn ngữ Âu Châu nên du dương trầm bổng. Thầy đặc biệt tài hoa và uyên bác, có thể giảng Shakespear bằng tiếng Anh, Moliere bằng tiếng Pháp, Puskin bằng tiếng Nga rất trôi chảy. Tiếc rằng sinh viên chúng tôi dạo ấy dốt ngoại ngữ quá nên thầy phải giảng về các văn hào của Anh, Pháp, Nga bằng tiếng Việt. Sau ngày đất nước thống nhất, thầy vào thỉnh giảng cho các lớp văn khoa năm cuối cùng cho các sinh viên Sài Gòn. Thầy giảng Shakespear bằng tiếng Anh. Giờ văn học tiếng Pháp thầy giảng Victor Hugo bằng tiếng Pháp, thầy còn hỏi có lớp nào hiểu tiếng Nga để thầy giảng Gô-gôn Sê Khốp bằng tiếng Nga. Các sinh viên Sài Gòn lấy làm ngạc nhiên và dành cho thầy Nam nhiều kính trọng. Có lần tôi đến thăm thầy ở nhà riêng 30 Phan Đình Phùng Hà Nội lúc đó thầy mới đi thỉnh giảng ở Sài Gòn về. Thầy đưa tôi coi một tập luận văn viết về Shakespear bằng tiếng Anh, một tập luận văn viết về Maupassant bằng tiếng Pháp của sinh viên năm thứ tư văn khoa mà thầy đang chấm, rồi than phiền: So về trình độ thì các cậu không kém sinh viên Sài Gòn, nhưng viết luận văn văn học nước ngoài bằng tiếng Việt thì … yếu quá! Những lần đến “thọ giáo” thầy Nam về văn học nước ngoài, tôi được thầy giảng rất kỹ về kịch của Shakespear. Thấy cho biết, ở Liên Xô có cả một khoa Shakespear họ, chuyên nghiên cứu về kịch của văn hào. Chính thầy Nam của chúng tôi cũng được bạn phong là nhà Shakespear học. Khi lên lớp, thầy đóng lại những cảnh độc thoại của hoàng tử Hamlet rất sinh động. Các nữ sinh khóa tôi đều phải thú nhận rằng, mỗi khi thầy Nam lên lớp thì sau đó họ không nhớ thầy đã nói gì vì mải… ngắm thầy là chính! Tôi đã được thầy Nam giảng cho hiểu là vì sao người ta lại định nghĩa “Shakespear” là Trái Đất, vì văn hào đã đưa cả loài người lúc đó… lên sân khấu. Ngồi nghe thầy vừa nói vừa diễn đạt bằng ngôn ngữ sân khấu nhân vật Hamlet, tôi có cảm tưởng rằng thầy chính là “cánh tay của chàng hiệp sĩ, con mắt của nhà thông thái, miệng lưỡi của kẻ hào hoa” như chính hoàng từ Hamlet đang đứng trước mặt tôi giữa núi rừng Việt Bắc vậy! Nếu Shakespear sống lại ông không thể hình dung ra người ta đang giảng giải, đang diễn vai Hamlet của ông giữa một cánh rừng châu Á xa xôi, cách quê hương của vị hoàng tử nước Đan Mạch cả vạn cây số. Đói khổ và thơ mộng thời sinh viên chúng tôi là như thế! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 29, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/29/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-9/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 10): https://www.minds.com/newsfeed/1019877630827614208?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 8): https://www.minds.com/newsfeed/1019876544374611968?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
21 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 8) Chương Ba – phần 2 Nhưng có ai ngờ, bỗng nhiên số phận lại mỉm cười với tôi. Đó là một buổi trưa hè oi bức, tôi đang ngủ trong buồng thì mẹ tôi đánh thức dậy vì có “chú Bẩy Trân” xuống chơi. “Chú Bẩy Trân” là một nhân vật thật độc đáo, thật đặc biệt nếu như không muốn nói là một nhân vậy “huyền thoại” về những người cộng sản Việt Nam. Sở dĩ tôi viết cuốn hồi ký này vì như tôi đã nói ở phần mở đầu, đời tôi không đáng một xu, không có gì đáng viết cả, nhưng những nhân vật mà tôi biết như “chú Bẩy Trân” thì phải viết lại, không thì “phí đi” như bạn bè khuyên tôi nên viết hồi ký! Câu chuyện về “chú Bẩy Trân” mà tôi phải dừng lại khá lâu này để nói, số là như sau… Khoảng năm 1955 khi mẹ tôi có mở một cửa hàng bán giầy dép ở phố Hàm Long, hàng tháng có cán bộ đến thu thuế. Người đến thu thuế tại cửa hàng của mẹ tôi là một thương binh, cán bộ miền Nam tập kết, tên là Tám Trọng. Anh Tám Trọng sau này là anh rể ruột của tôi. Anh ít nói, một thanh niên trắng trẻo, tính tình hiền hòa. Do đi lại thu thuế nên Tám Trọng quen với chị ruột lớn của tôi là Lê Thị Thuận. Họ quen nhau đến mức thân thiết rồi xin mẹ tôi cho làm đám cưới. Nhưng mẹ tôi nói, tuy anh Tám là người tốt, nhưng cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết đa số có vợ ở trong đó rồi, sau này đất nước thống nhất thì lôi thôi lắm nên bà kiên quyết không đồng ý. Thế rồi mấy hôm sau có một chiếc xe vonga đen đậu đánh xịch ở cửa nhà tôi. Từ trong xe bước ra là một người đàn ông tầm thước, mặc com-lê thắt cà vạt nghiêm chỉnh bước vô nhà xin phép được gặp mẹ tôi. Hồi đó ai đi xe vonga đen là sang lắm, phải là ủy viên trung ương Đảng. Cấp bộ trưởng nhưng không phải là ủy viên trung ương thì đi xe vonga trắng. Phân biệt ngôi thứ rõ ràng qua màu sắc chiếc xe. Người đi xe vonga tự giới thiệu tên là Bẩy Trân, quê ở Cần Giuộc, Long An là cán bộ cao cấp của Đảng hiện công tác ở Bộ Giáo Dục. Ông Bẩy Trân, với tư cách là cán bộ cao cấp của Đảng đảm bảo với mẹ tôi rằng anh Tám Trọng (tức Phạm Văn Trọng) là cháu ông, đã có vợ ở miền Nam nhưng vợ anh Tám đã li dị chồng khi anh Tám bị thương để đi lấy một người chồng khác ở phía bên kia. Ông Bẩy Trân xin đứng ra bảo lãnh cho anh Trọng và nhận anh làm con để đại diện gia đình cử hành đám cưới với chị tôi, ông xin nhận làm sui gia với gia đình tôi. Chẳng biết thực hư thế nào, mẹ tôi vẫn băn khoăn nên nhắn chú Hai tôi đang công tác ở Bộ Công An điều tra hộ. Mẹ tôi là một phụ nữ, như hàng trăm phụ nữ khác ở miền Bắc lúc bấy giờ rất tin tưởng vào cán bộ của nhà nước, nhất là cán bộ cao cấp như em chồng của bà, tức chú Hai tôi. Có câu chuyện khôi hài mà tôi không bao giờ quên được khi người ta nói đến “tính ưu việt” của chế độ XHCN ở Liên Xô. Ngày ấy, Liên Xô là “thiên đường” của loài người như người ta đã tuyên truyền. Có người nói với mẹ tôi rằng, ở Liên Xô phụ nữ đẻ không đau! Mẹ tôi nửa tin nửa ngờ, đợi đến hôm chú Hai tôi về chơi, bà mới đem câu chuyện đó ra hỏi. Hôm đó tôi cũng có mặt và nghe rất rõ câu chuyện. Mẹ tôi nói: Tôi nghe người ta nói ở Liên Xô phụ nữ đẻ không đau có phải không hả chú? Chú Hai tôi chỉ cười rồi hỏi lại: Ai bảo chị thế? Rồi cũng không trả lời gì cả(!) Thì ra chính trị là như thế. Bộ máy tuyên truyền luôn làm ngu dân. Những người dân lương thiện như mẹ tôi không đi đến đâu nên có thể tin ở Liên Xô đẻ không đau! Cũng như sau ngày 30/4 tôi về một nhà dân ở Long Xuyên thấy trong nhà tắm tường đen ngòm toàn vết cháy. Hỏi ra thì bà chủ kể rằng, sắp đến ngày thua trận, chính quyền tuyên truyền rằng Việt Cộng vào sẽ bắt hết con gái, phụ nữ mặc áo dài, sơn móng tay móng chân… nên khi nghe tin Sài Gòn đã thất thủ, gia đình đem hết quần áo đẹp của đàn bà con gái vô nhà tắm rồi tưới xăng đốt nên bây giờ nhà tắm mới đen ngòm như vậy! Đúng là: “Sau mỗi cuộc chiến tranh / Phe nào thắng thì nhân dân đều bại” như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết. Câu chuyện mẹ tôi nhờ chú Hai “điều tra” thì thế này, chỉ mấy ngày sau, chú Hai tôi đi xe com-măng-ga, (xe dành cho sĩ quan cao cấp ngành công an hoặc quân đội) về nhà và cho mẹ tôi hay, đúng ông Bẩy Trân, tức Nguyễn Văn Trân là cán bộ cao cấp rất có uy tín của Đảng, tập kết ra Bắc và sắp tới sẽ giữ những chức vụ quan trọng. Thế là đám cưới chị tôi với anh Tám Trọng được cử hành trọng thể và ông Bẩy Trân mà sau này tôi hay gọi là “chú Bẩy” chính thức là sui gia với bố mẹ tôi. Ngày giỗ, ngày tết tại gia đình tôi bao giờ cũng có ông sui gia Bẩy Trân có mặt. Ông Bẩy Trân xuất hiện trong gia đình tôi như một ánh sáng mới lạ, không phải vì ông là một cán bộ cao cấp, mà vì những hành vi văn hóa của ông khác hẳn với những thứ văn hóa vô sản đang hình thành lúc đó. Ông được mọi người ở cả 2 bên nội ngoại của tôi rất kính trọng. Đặc biệt đối với ông nội tôi mặc dù về mặt vai vế ông chỉ đứng hàng con cháu vì là sui gia với bố mẹ tôi. Lần đầu tiên người cán bộ cộng sản cao cấp này ra mắt ông nội tôi là cử chỉ xin phép được đốt một nén nhang trên bàn thờ tổ tiên của gia đình tôi và cúi lại ba lần. Cử chỉ này làm kinh ngạc mọi người vì tại thời điểm đó đang diễn ra cải cách ruộng đất. Ở khắp nơi trên miền Bắc, người ta đang đập phá đình chùa, tượng phật, tượng thánh bị vặn cổ ném xuống ao. Bàn thờ tổ họ Lê Phú nhà tôi, trừ ông nội tôi, còn bố tôi và các chú ruột không ai thắp nhang và cúi lạy trước vong linh ông bà cả dù đó là những ngày lễ tết hay giỗ chạp. Lúc đó, người ta xem những cử chỉ hành vi này là duy tâm, là lạc hậu, là phong kiến… Từ đó trong mắt ông nội tôi, mẹ tôi và cả tôi nữa, ông Bẩy Trân là một cán bộ cộng sản không giống với thứ văn hóa vô sản lưu manh đang được người ta áp đặt vào xã hội miền Bắc lúc đó. Mỗi lần đến chơi, ông Bẩy Trân được ông nội tôi tiếp đón rất trân trọng. Họ nói chuyện nhau rất lâu, đôi lúc dùng cả tiếng Pháp nữa. Mỗi khi ông Bẩy ra về, ông nội tôi tiễn ra tận cổng… Còn mẹ tôi thì vô cùng cảm động khi những đêm sáng trăng ông sui gia đạp xe ra tận ngoại thành chơi, ngày ấy ngoại thành chưa có điện, ông đã ra tận ruộng rau nơi mẹ tôi đang tưới cây để trò chuyện động viên người phụ nữ thị thành chưa mấy quên với công việc thôn quê nặng nhọc này. Còn đối với tôi thì đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến người cán bộ có cử chỉ văn minh. Đó là lần tôi đi cùng ông Bẩy ra ngoại thành. Trên đường đi ông mua hai gói xôi đậu đen gói trong lá chuối để 2 người ăn sáng. Ăn xong tôi chưa biét vứt lá cuối đi đâu, vì còn đang ngồi trên xe vonga, nhưng ông Bẩy đã lấy nó rồi cuộn với gói lá của ông xong rồi đút vô túi áo đại cán. Về nhà ông lấy bỏ vô thùng rác. Thời gian sau ông đưa cô cháu gái gọi ông là chú ruột và chồng cô đến chơi nhà tôi. Ông giới thiệu người cháu tên là cô Sáu, và chồng là anh Sáu Khải (tức thủ tướng Phan Văn Khải sau này) mới đi học ở Liên Xô về. Anh Sáu Khải người nhỏ nhắn, ít nói. Vợ chồng anh được mẹ tôi rất quý nên hay mời đến dùng cơm trong các dịp giỗ, tết. Có lần ngày 30 tết, mẹ tôi làm cơm cúng ông bà và mời bà con cả họ đến vì nhà tôi là nhà trưởng. Khi mê tôi bóc bánh chưng bày lên mâm, nhưng vì mâm to nên phải bóc hai cái (để mỗi bên một cái), thấy thế anh Sáu góp ý, đại ý là năm ngoài cũng bóc 2 bánh nhưng ít người ăn vì ăn cỗ đã no, năm nay theo ý anh chỉ nên bóc một cái. Mẹ tôi giải thích cái mâm to nên phải bóc 2 cái, vì người ngồi bên này không phải vươn tay với sang phía bên kia. Nếu chỉ bóc một cái có khi người ta lại ngại. Khi anh Sáu lên nhà trên rồi, mẹ tôi mắng tôi. Anh thấy chưa, người ta là người miền Nam, giàu có mà tiết kiệm, còn anh chỉ biết hai tay đút túi vô tích sự! Đối với mẹ tôi (và người Bắc) dân miền Nam là người giàu có hay ít nhất cũng là người sống ở mảnh đất giàu có của đất nước, ra Bắc phải chịu khổ nên phải được chiếu cố… Những tình cảm như thế của đồng bào miền Bắc đối với cán bộ miền Nam ra tập kết thật dễ thương. Vậy mà sau này khi vô Nam sau 1975, mẹ tôi bắt tôi đưa đi thăm những người quen trước tập kết có đến nhà tôi như ông Bẩy Trân, anh Sáu Xích cán bộ công đoàn thành phố, riêng anh Sáu Khải lúc đó là chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tôi định đưa bà đến thăm nhưng bà không đi vì sợ người ta hiểu lầm là mình định nhờ vả gì(!). Thật tình thì Sáu Khải không phải là người đáng phải cẩn thận như thế. Ông là người tử tế. Có lẽ vì cái tính “tiết kiệm” như mẹ tôi từng khen nên khi làm thủ tướng ông không phá phách như những người sau này. Đôi ba lần khi tôi gặp ông trong các hội nghị tại Tp HCM với cương vị thủ tướng, ông tiếp các nhà báo xưng hô đồng chí đàng hoàng, nhưng khi bất chợt nhìn thấy tôi, ông hỏi: Mày dạo này thế nào? Có gặp bà Tám (tức chị tôi, vợ Tám Trọng) luôn không? Cách xưng hô mày-tao như thế với tôi khiến các nhà báo khác ngạc nhiên(!) Năm 2001 tôi qua Paris thăm chú Năm tôi, trước là đại diện thường trú của Thông tấn xã Việt Nam, sau đó định cư chính trị bên đó. Chú Năm tôi hỏi: Chú xem TV thấy thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải rất giống anh Sáu Khải, cán bộ Ủy ban kế hoạch nhà nước xưa vẫn đến nhà mình chơi ở Hà Nội, có phải là Phan Văn Khải bây giờ không? Tôi trả lời là đúng. Chú tôi lại hỏi: Gặp cháu bây giờ anh ấy có hỏi han gì không? Tôi trả lời: Lúc hàn vi cũng như bây giờ quyền cao chức trọng, Sáu Khải vẫn tỏ ra là một người tử tế. Chú tôi nói: Vậy thì có dịp gặp anh ấy, cho chú gửi lời hỏi thăm. Trong một cuộc gặp ông ở hội nghị, tôi có chuyển lời hỏi thăm của chú Nam tôi. Ông Khải cười, nói: Việc mày xin đi Pháp thăm chú, bọn tao biết cả, nhưng ai dám cản mày! (Tôi chắc là ông Sáu Khải nói đùa). Số phận của Sáu Khải thì như thế, nhưng số phận của ông Bẩy Trân sau này thì không ra sao. Tôi sẽ kể về con người “huyền thoại” này vào dịp khác. Lại nói về chuyện tôi thi trượt. Thấy chú Bẩy xuống chơi, mẹ tôi lại đem ngay chuyện tôi thi trượt đại học ra phàn nàn. Ông Bẩy nói ngay: Bảo nó ra đây. Hình như là người trong ngành giáo dục biết chuyện thi cử nên ông bảo tôi: Sáng mai theo tao vào trường ĐHSP. Thế là ngay sáng hôm sau, ông chở tôi bằng cái xe đạp Junior Tiệp Khắc vào trường ở Cầu Giấy. Đến nơi ông bảo tôi đứng ngoài chờ, ông vào gặp thầy Tuất, phó hiệu trưởng kiêm phó bí thư trực của đảng ủy nhà trường. Thầy Tuất vốn là một trí thức Nam Bộ ở châu Âu về hoạt động, cũng như ông Bẩy Trân, thầy có bà vợ người Ý cũng theo chồng về nước. Đứng ngoài cửa, chỉ cách có tấm cót mỏng, tôi nghe rõ tiếng ông Bẩy nói với thầy Tuất: Nhờ anh xem hộ trường hợp thằng con bà sui gia của tôi tên là Lê Phú Khải thi vào khoa Nga văn năm nay vì sao không đỗ? Thầy Tuất trả lời: Để tôi kêu tổ chức mang hồ sơ, lý lịch lên coi. Nói rồi ông quay chiếc điện thoại có số chạy vòng tròn kêu vo..vo.. Một lát sau, có một ngườiđến mang theo bộ hồ sơ của tôi, đựng trong chiếc phong bì to lên trình. Tôi lại nghe rõ tiếng thầy Tuất: Gia đình cháu Khải là thành phần tư sản làm sao mà đỗ được! Tôi nghe thấy thế, lạnh cả người. Lại nghe tiếng ông Bẩy Trân: Thật là bậy! Gia đình nó là cách mạng nòi, chú ruột nó đang là cục trưởng ở Bộ Công An, chị nó cũng là công an, làm sao là tư sản được. Tiếng thầy Tuất bình thản: vậy anh viết cho mấy chữ bảo lãnh đi… Thế là sau mấy phút, chẳng biết ông Bẩy viết cái gì, ngay sáng hôm sau tôi đến gặp tổ chức nhà trường nhận giấy vào lớp. Thật là khôi hài, một ông cán bộ quê ở mãi Cần Giuộc Long An chỉ viết mấy chữ bảo lãnh cho một thanh niên sinh ra và lớn lên ở Hà Nội đã làm thay đổi cả số phận người thanh niên đó. Trên đường ông Bẩy Trân đèo tôi từ Cầu Giấy về, đến giữa được tôi xin ông cho xuống và đến thẳng Bộ Công An ở đường Trần Bình Trọng. Tôi lên thẳng phòng làm việc của chú Hai tôi, lúc đó ông đang là cục trưởng Cục cảnh sát nhân dân và vừa được thủ tướng Phạm Văn Đồng gắn quân hàm thượng tá cảnh sát nhân ngày cảnh sát ra mắt quốc dân, với quân hàm quân hiệu chỉnh tề (1962). Lúc đó chú Hai tôi là người đứng đầu ngành cảnh sát của cả nước, mà chỉ được phong cấp thượng tá chỉ bằng quân hàm của phó trưởng công an quận huyện ngày nay (2012)! Sau khi nghe tôi trình bày rằng, công an xã đã phê lý lịch của tôi là gia đình tư sản nên không được học đại học, khiến tôi phải long đong mất hai năm… Chú Hai tôi hứa sẽ điều tra. Mấy ngày sau, ông xuống nhà tôi và cho hay theo báo cáo của trưởng công an huyện Thanh Trì thì cái lý do nghe thật khôi hài. Người công an quản lý xóm tôi ở thấy ông nội tôi hay nói tiếng Pháp nên đã báo cáo lên công an xã Hoàng Văn Thụ, làng Hoàng Mai rằng gia đình tôi là gia đình tư sản. Từ đó xã đã phê vào lý lích của tôi: Gia đình tư sản. Hồi ấy chế độ phê chuẩn, chứng nhận lý lịch của thí sinh nộp đơn thi đại học do xã phê, không cho đương sự biết rồi niêm phong gửi qua đường bưu điện đến phòng tổ chức của trường đại học mà thí sinh dự thi. Nhà trường nhận được lý lịch như vậy thì cũng không chấm bài thi, chỉ căn cứ vào thành phần gia đình tốt, xấu của thí sinh mà xét cho đỗ hoặc trượt như tôi đã kể ở trên. Chế độ thi tuyển sinh viên vào đại học như thế đã kéo dài từ sau hòa bình 1954 không biết đến năm nào… Trường hợp của tôi là do may mắn, nhờ có ông Bẩy Trân đưa tôi vào gặp thấy hiệu phó của mùa thi tuyển năm 1963 trường ĐHSPHN, tôi mới biết chế độ tuyển sinh rùng rợn và rừng rú này. Chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp, đấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mới sinh ra cách tuyển sinh vào các trường đại học man rợ như thế. Nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội từ trước đó. Kể cả thời phong kiến thì nhà nước cũng kén người tài, giỏi, thi đạt bằng cấp cao mới được tuyển dụng vào bộ máy cai trị. Còn thời cộng sản chỉ lựa chọn theo thành phần giai cấp. Chính vì thế mà dưới chế độ cộng sản, tất cả các sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp được phân bổ về công tác tại các cơ quan Đảng, nhà nước đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất. Bởi lẽ cứ thành phần bần cố nông, dân nghèo thành thị thì mới được học đại học. Do vậy lấy đâu ra học sinh giỏi ở những thành phần đó, nếu có thì cũng hãn hữu. Bao nhiêu thanh niên, học sinh thuộc các thành phần khác, dù có giỏi đến đâu cũng bị gạt ra. Có ai chấm bài thi đâu mà chọn người giỏi. Khi vào đại học rồi thì cứ thế yên chí sẽ đỗ ra trường. Đảng đã phân công thành kỹ sư, thành bác sĩ, thành tiến sĩ… Sự dốt nát lại có bằng cấp, có địa vị, đã bao trùm cả xã hội XHCN ở miền Bắc nhiều chục năm như thế. Xã hội bị đẩy lại thời trung cổ. Tôi nhớ thời Pháp thuộc, bố tôi thi diplome bốn năm liền không đỗ. Không đỗ là không đỗ, chẳng có chuyện chạy chọt, xét thành phần gì cả. Ông nội tôi có thừa tiền cũng không thể chạy cho bố tôi đỗ diplome được. Đọc hồi ký của Trần Văn Giàu sau này người ta thấy, nhà ông Giàu là đại điền chủ, nhưng chỉ có ông thông minh sáng dạ nên mới học lên được. Các em ông được gia đình chia ruộng để trở thành địa chủ mà thôi. Nói vậy để thấy, không phải ai cũng có khả năng lao động trí óc, để học hành trở thành người lao động trí óc, thành trí thức. Chế độ thi cử xét thành phần giai cấp để tuyển chọn đã đào tạo ra cả một xã hội đầy rẫy những công chức có bằng cấp nhưng dốt nát để quản lý xã hội ở các lĩnh vực. Sau này vào đại học rồi tôi mới biết, các sinh viên lớp tôi là con em các gia đình bần cố nông, thành phần nòng cốt ở nông thôn, học lực rất yếu nhưng mỗi năm vẫn lên một lớp và vẫn tốt nghiệp ra trường trở thành các thầy cô giáo dậy môn văn ở cấp 3 (sau khi được vô trường, tôi đã chuyển sang học khoa văn). Có thầy cả đời chưa đọc hết một cuốn sách thì làm sao dậy văn cho các em được. Vậy mà các vị trí thức bần cố nông này rất vênh váo, rất tự hào, rất thỏa mãn với địa vị xã hội của mình. Thời bao cấp xưa kia thi thành phần để lấy bằng cấp còn thời kinh tế định hướng XHCN ngày nay thì mua bán, đút lót để lấy bằng là chính chứ không cần kiến thức. Vì thế cả bộ máy đã hoàn thiện sự dốt nát, bộ máy cai trị đó đầy ghét bẩn nên nó không thể vận hành bình thường được. Kẻ dốt nát khi có quyền lại xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ nên chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi. Di hại này của chế độ tuyển chọn trong giáo dục không biết bao giờ mấy tẩy rửa được. Năm ngoái, tôi có ra Hà Nội dự cuộc họp mặt 45 năm ngày ra trường của khóa đại học văn khoa chúng tôi. Sau 45 năm các bạn đồng học của tôi nay đã về hưu. Họ xúng xính trong các bộ comple, cà vạt và tranh nhau lên diễn đàn khoe về sự “thành đạt” của mình, của gia đình mình. Một anh bạn xưa kia học dốt nhất lớp, năm nào cũng phải thi lại, nhưng được chiếu cố thành phần cơ bản nên được tốt nghiệp đã lên khoe mình là hiệu trưởng kiêm bí thư Đảng ủy nhiều năm! Có vị lên khoe học trò của mình bây giờ có đứa làm đến thiếu tướng. Các bạn tôi hoàn toàn thỏa mãn, hã hê với cuộc sống hiện tại. Với họ, có bát cơm nhiều thịt là thiên đường rồi. Về Sài Gòn, tôi đem câu chuyện này kể với một người bạn, anh liền mắng tôi: Cậu mới là một thằng ngu, ở nước ta, thằng học dốt nhất lớp cậu thì sau này làm hiệu trưởng, dốt nhất trường thì sau này làm bộ trưởng và dốt nhất nước thì làm quốc trưởng. Có thế mà cậu cũng không biết, thật là ngu(!) Có lẽ tôi ngu thật rồi! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 25, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/25/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-8/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 9): https://www.minds.com/newsfeed/1019877307838603264?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 7): https://www.minds.com/newsfeed/1019875766543372288?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 10) Chương Năm Những chuyện kể của tướng Qua Sở dĩ có chương này trong hồi ký của tôi vì người phương Tây có câu phương ngôn đầy ý nghĩa xã hội: Một nửa sự thật không phải là sự thật. Vì người ta mới chỉ viết có một nửa sự thật nên có những nhân vật có thời được dựng tượng, nhưng một thời gian không lâu, chỉ vài chục năm sau, thiên hạ lại kéo đổ thần tượng đó xuống. Nhưng hàng trăm năm nay, không có ai kéo tượng của Puskin, của Victor Hugo xuống cả. Lịch sử công bằng như thế. Tướng Lê Hữu Qua, tên khai sinh là Lê Phú Cường (1914-2001), là chú ruột của tôi. Ông là nhân chứng sống của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 cho đến khi ông qua đời, 2001. Ông tham gia Việt Minh từ năm 1943, từng làm trưởng Ban trinh sát Sở Công an Bắc Bộ năm 1945, là người phá vụ án phố Ôn Như Hầu nổi tiếng sau Cách mạng tháng Tám. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947 ông được cử làm Giám đốc Công an khu 11 (tức Công an Hà Nội). Khi Nha Công an trung ương chuyển lên Việt Bắc, ông được giao làm Phó Ty Trật tự tư pháp. Đến tháng 3 năm 1954 ông được cử đi bảo vệ đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi dự hội nghị Genève tại Thụy Sĩ. Khi hội nghị kết thúc, ông được cử tham gia đoàn của chính phủ đi công tác tại Ý, Ai Cập, Ấn Độ, Miến Điện, Hồng Kông. Về Việt Nam ông được điều về Hà Nội gấp để bảo vệ Hồ Chủ tịch và ông Phạm Văn Đồng trong cuộc gặp đại diện Cộng hòa Pháp Sainteny tại Phủ Chủ tịch ngay sau giải phóng thủ đô. Năm 1956, ông làm Phó Giám đốc Vụ Trị an Dân cảnh. Đến tháng 5/1962 ông được chính phủ cử làm Cục trưởng Cục Cảnh sát Nhân dân với quân hàm thượng tá cảnh sát và giữ chức vụ này cho đến năm 1967. Ông là người xây dựng lực lượng cảnh sát nhân dân từ ngày đầu ấy. Sau thời gian đi học trường Nguyễn Ái Quốc về, ông giữ chức Cục trưởng Cục Quản lý trại giam cho đến năm nghỉ hưu 1980. Thời gian làm Cục trưởng Cục quản lý trại giam ông phải đảm nhận nhiều sĩ quan cấp tướng, cấp tá và quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn ra Bắc cải tạo, cũng như các trại cải tạo khác ở toàn quốc. Ngày 18/4/1977 ông được Chủ tịch Tôn Đức Thắng phong hàm Thiếu tướng công an. Bạn đọc chỉ cần gõ vào google mấy chữ “Thiếu tướng Lê Hữu Qua và những chiến công…” là có ngay bài viết cùng nhan đề trên báo Công an Nhân dân xuân Đinh Hợi 2007 để được biết về ông. Khi ông mất, báo Nhân dân số ra ngày Chủ nhật 21/1/2001 đã đăng ở đầu trang 8 tin buồn, nguyên văn: Đảng ủy Công an Trung ương Bộ Công an; Đảng ủy UBND phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội và gia đình thương tiếc báo tin đồng chí Thiếu tướng Lê Hữu Qua, sinh năm 1914, quê quán phường Phúc xá, Q. Ba Đình Hà Nội; Trú quán 28 Hàng Rươi phường Hàng Mã, Q. Hoàn Kiếm Hà Nội; Tham gia cách mạng năm 1943, vào Đảng CSVN năm 1945; nguyên Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng Bộ Công an, đã về hưu. Huân chương độc lập hạng ba, huân chương quân công hạng nhất, huân chương kháng chiến hạng hai, huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, huy chương vì thế hệ trẻ, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, kỷ niệm chương của Bộ Nội vụ Cu Ba và nhiều huân chương khác, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, đã từ trần hồi 4g 10 phút ngày 20/1/2001 tạ bệnh viện Hữu Nghị. Lễ viếng bắt đầu lúc 8g ngày 22/1 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng (39 Trần Khánh Dư Hà Nội). Lễ truy điệu lúc 12g cùng ngày, an táng tại nghĩa trang xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm TP Hà Nội. Một người nằm trong ngành an ninh và giữ nhiều trọng trách như thế nên ông biết nhiều sự thật. Trong những lúc vui buồn dài theo năm tháng, ông đã kể cho thằng cháu ruột của mình – đích tôn của dòng họ Lê Phú – những sự thật đó một cách vô tư. Những câu chuyện của ông không có lớp lang gì cả, nhân sự việc này, ông kể câu chuyện có liên quan. Lúc nghe ông kể, tôi cũng không có ý thức phải ghi lại để sau này chép “sử” như nhà báo Huy Đức đã viết “Bên thắng cuộc”. Nhưng tôi nhận thấy cần phải viết lại những điều tướng Qua đã kể, để “một nửa sự thật” mà người đời không biết đến, hoặc người biết cố tình ém nhẹm đi, rồi lịch sử bị chôn vùi. Những nhân vật mà người ta chỉ biết đến “một nửa” về họ được suy tôn như những danh nhân hào kiệt, còn người đáng vinh danh lại không được ai nhắc đến. Báo Sài Gòn Giải Phóng thời ông Tô Hòa làm tổng biên tập, số ra ngày chủ nhật 1/6/1989 đã đăng bài thơ “Sự thật phải đong đầy” của tôi: Con tôi hỏi Cái gì mắc nhất Tivi hay tủ lạnh, honda? Mai con lớn rồi con sẽ hiểu Mắc nhất trên đời là sự thật con ơi! Một nửa bánh mì vẫn là chất bánh Một nửa dòng sông vẫn có đôi bờ Một nửa vầng trăng vẫn thành nỗi nhớ Một nửa cái hôn vẫn thấy ngọt ngào Còn sự thật – con ơi – một nửa Ngừoi trung kiên vẫn chết gục giữa đường Kẻ bất lương vẫn trên ngôi thần thánh Thằng lưu manh vẫn khoác áo anh hùng! Sẽ muôn đời là dối trá, dối trá Khi sự thật chẳng đong đầy Bài thơ này gây bất ngờ cho nhiều người đọc thời đó. Ông Tô Hào sau một lần chất vấn TBT Nguyễn Văn Linh đã bị cho thôi chức, về hưu. Nay cuối đời, có thời gian tôi quay lại đề tài của bài thơ này trong chương mục “Chuyện kể của tướng Qua”. Tôi hệ thống lại các mẩu chuyện kể về các nhân vật cho rõ nét, có những chuyện không nhớ thời gian kể, chỉ nhớ nội dung chuyện vì thế tôi gom lại thành những chủ đề để ghi lại. Những chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe hoàn toàn ngẫu hứng và vô tình, trong những lần chú cháu gặp nhau. Như tôi đã kể trên đây, hàng tháng tôi phải lên nhà tướng Qua để nhận số tiền 30 đồng về cho ông bà nội tôi. Những năm sinh viên, tôi chỉ được nhận nửa học bổng tức 11 đồng /tháng còn thiếu 11 đồng phải đóng cho nhà trường. Vì thế mà chiều thứ bảy nào tôi cũngphải cắt cơm ở nhà bếp. Chủ nhật thì ăn no ở nhà rồi chiều mới vào trường để số tiền phải đóng ít đi. Là học sinh thành thị quen ăn sáng khi vào trường không được ăn sáng nên đói không học được. Ngày ấy tôi chăm lên nhà chú Qua tôi để cuối tháng còn xin một tập báo nhân dân về bán ve chai (đồng nát) lấy tiền ăn sáng. Bà thím tôi là một phụ nữ rất tằn tiện và tốt bụng. Bà thu gom đủ 30 số báo nhân dân hàng tháng, chờ đến cuối tháng tôi lên, cho tôi đem về bán ve chai. Bấy giờ giấy hiếm lắm, báo nhân dân lại là giấy khổ to bán được tiền cũng khá. Tôi nhớ, 30 tờ bán được đủ số tiền để mỗi sáng có được bát cháo lươn giá một hào do căn tin nhà trường bán cho sinh viên ăn sáng. Mỗi lần tôi lên nhà chú tôi là được giữ lại ăn cơm chiều. Chú thím tôi không có con, sau này nhận nuôi một bé còn nhỏ rồi lớn lên em tôi đi Liên Xô học nên nhà rất vắng vẻ. Trong những bữa cơm chiều, tôi thường được nghe nhiều câu chyuện nhân tình thế thái. Chương 5 của cuốn hồi ký này có được là nhờ những câu chuyện hàn huyên như thế. Tất nhiên còn nhiều chuyện được tướng Qua kể trong những dịp khác. 1. Chuyện về ông bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn. Gộp những gì tướng Qua nhắc đến thì đây là một ông quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Ông đã loại bỏ trí thức ra khỏi guồng máy công an. Vợ ông là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ… Chưa bao giờ tôi thấy tướng Qua gọi tên hay chức vụ Bộ trưởng đối với Trần Quốc Hoàn. Ông gọi vị Bộ trưởng này bằng tên H lưu manh! Không nhân nhượng gì cả. Ông gọi tắt chữ Hoàn bằng âm H (hát). Lần đầu tiên tôi nghe ông gọi thế, và mãi sau này vẫn gọi thế. Nhiều lúc tôi thấy thương ông chú tôi, suốt đời phải làm việc với một vị thủ trưởng như thế. Cũng nhiều lúc tôi thấy giận ông vì sao không thể… bỏ mà đi, không làm việc ở Bộ Công an nữa. Nhưng sau này gặp nhà văn Tuấn Vinh, chuyên viết truyện về đề tài công an, cùng công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam với tôi, biết tôi là cháu tướng Qua, nên đã tặng tôi tập sách “Bão táp mùa thu” của NXB Công an nhân dân 1995 gồm các truyện ký về sự trưởng thành của công an thủ đô nhân 50 năm thành lập ngành công an nhân dân của nhiều tác giả. Trong bài “Những ngày đầu” hồi ký của Lê Hữu Qua do nhà văn Mai Ngữ ghi lại, trong hơn 30 trang hồi ký đó có đoạn: “Anh em chúng tôi đa số là lớp thanh niên mới lớn, nhiều cậu lúc ấy chưa hề tỏ tình với cô gái nào là cách mạng đến. Nếu gọi là mối tình đầu của người con trai thì cách mạng là mối tình đầu của họ… một tình yêu chung thủy và sắt son, mặc dù sau bao nhiêu năm có nhiều điều làm ta bực bội. Có nhiều kẻ mang danh cách mạng làm chuyện vô lương, nhưng nếu có ai chống lại cách mạng thì chúng tôi không chịu nổi…”. Càng ngẫm tôi càng thương chú tôi, một thanh niên Hà Nội đẹp trai giỏi võ nghệ, giỏi bắn súng, giỏi lái xe hơi, nói thạo tiếng Pháp và… chỉ có “một mối tình đầu” là cách mạng và suốt đời chung thủy với mối tình đó nên ông không thể từ bỏ được. Ông không thể như Sartre “đi tìm niềm trung thành mới”. Đầu năm 60, tôi đến Bộ Công An chơi với chú tôi vì nhà ông ở ngay trong cơ quan Bộ, đi vô phải qua vọng gác. Ông ở trong một căn phòng nhỏ ở trên tầng lầu. Hai vợ chồng chỉ có một phòng cho tất cả mọi sinh hoạt. Tôi liếc nhìn bốn bề… Hiểu ý tôi, tướng Qua chỉ tay xuống căn biệt thự rất sang trọng dưới cửa sổ và nói: Tên H lưu manh này chỉ biết hắn thôi. Sau ngày giải phóng thủ đô, hắn chiếm ngay ngôi biệt thự này (nằm trên đường Trần Bình Trọng, một phía của biệt thự giáp đại lộ Trần Hưng Đạo, phía đối diện là Bộ Công an, chiếm cả dãy phố Trần Bình Trọng). Tất cả các cán bộ cao cấp khác, hắn bắt ở trong cơ quan Bộ với lý do “bảo vệ cán bộ”. Nhiều ngôi nhà quanh hồ Hale, chủ nhân di cư vô Nam, anh em xin ra ở đó H cũng không cho. Sau này lên thăm chú tôi nhiều lần, tôi mới biết đối diện phòng ông là phòng của Thứ trưởng Viễn Chi, sát đó là phòng của gia đình ông Nguyễn Công Tài, Cục trưởng. Vậy là hai vị cục trưởng và một vị thứ trưởng phải ở chung một tầng lầu chật hẹp, đi chung cầu thang, mọi tiện nghi sinh hoạt khác đều ở tầng trệt công cộng. Ông Viễn Chi có đứa con bị tật, ông phải đưa người bố đẻ ở quê lên để trông cháu. Tất tật chui rúc trong một căn phòng. Cụ thân sinh ra ông Viễn Chi rất đẹp lão, trông như một ông tiên. Một lần tôi sang chơi với cụ lúc mọi người đi vắng, cụ còn đọc thơ cho tôi nghe. Cụ lấy bút danh là Dã Tiên (ông tiên nơi thôn dã). Cụ than phiền với tôi phải rời quê ra đây, ở căn phòng chật hẹp này, cụ buồn lắm. Nhưng vì “thương anh Chi” nên cụ phải ở. Nói chuyện với cụ, tôi thấy đây là một ông già rất thông thái. Cụ thấy tôi đã 20 tuổi nhưng gầy yếu cụ khuyên tôi một vài năm nữa phải lấy vợ vì luật âm dương phải hài hòa!!! Một ông già như ông Dã Tiên phải được sống ở nơi non xanh nước biếc mà lại bị cầm tù ở cái gác ấy thì thật là đáng trách. Một lần, cũng do vô tình, tôi được một vị trung niên rất đẹp tướng, cao to, mặt mũi sáng sủa, là hàng xóm của tướng Qua kêu tôi sang nhà nhờ khiêng một cái giường cá nhân. Tôi thấy nhà ông ấy có nhiều sách lại có hai cái điện thọai mắc ở đầu giường, trong khi tướng Qua chỉ có một điện thoại. Tôi hỏi tướng Qua ông ấy là ai mà oai vậy? Tướng Qua cười bảo tôi, cháu học văn mà không biết, ông ấy là ông Tài con nhà văn Nguyễn Công Hoan đó. Cái thế giới nhà tập thể nó thế. Ai có ở nhà tập thể do cơ quan cấp mới thấy chán chường. Đã cả ngày nhìn thấy nhau ở cơ quan, đến khi về đến nhà riêng ra vào lại phải gặp những gương mặt đó. Hợp nhau đã vậy còn nếu không thì chỉ mong dọn đi chỗ khác. Có lẽ vì chán ở tập thể nên chú tôi tìm cách dọn ra ở bên ngoài. Di chuyển đôi lần rồi cuối cùng ông ở 28 phố Hàng Rươi cho đến cuối đời. Lý do về ở phố, theo ông nói với tôi là “thích ở gần dân”. Nhưng ngôi nhà 28 Hàng Rươi cũng vô cùng chật hẹp. Nhà hình ống, bề ngang chỉ hơn 2 m, cầu thang lên dựng đứng. Đi ra đi vào phải lách, vậy mà ông đã ở đấy cho đến lúc ra đi… Có lần, một người ở quê ra chơi, thấy ngôi nhà bé quá, khi về ông ta nhỡ miệng than với mọi người: Nhà ông tướng gì mà như cái chuồng chó! Sau này nghe được câu nói đó, tướng Qua buồn lắm! Cả một đời ngang dọc, đánh đông dẹp bắc chiến tích đầy mình mà đến cuối đời chú tôi vẫn phải ở trong căn nhà “như cái chuồng chó” ấy thật là bất công. Bây giờ, mỗi khi vô một căn nhà, chủ nhân chỉ là viên sĩ quan cấp tá thôi nhưng nhà họ nguy nga như một lâu đài. Tôi mới ngẫm ra rằng, như một nhà hiền triết đã nói: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh”. Nói về tính ích kỷ và sự dối trá của Trần Quốc Hoàn tướng Qua có lần kể, dưới bàn làm việc của tên H là một cái hầm. Chỉ cần bấm nút một cái là cả bàn giấy của H thụt xuống hầm sâu. Căn hầm có thể tránh được bom nguyên tử. Bên phố Yết Kiêu gần đấy, dưới đất là cả một căn hầm rộng mênh mông. Tên H rất sợ chết, chỉ lo bảo toàn tính mạng cho riêng hắn. Khi nói đến sự láu cá, cơ hội, nịnh hót trong hàng ngũ lãnh đạo Bộ Công An, tướng Qua dẫn ra những nhân vật thật tức cười. Đó là thứ trưởng Minh Tiến, cái ông đã làm giấy mượn khẩu súng lục của ông nội tôi khi còn là chủ tịch xã … Minh Tiến thường lảng vảng trong sân Bộ mỗi khi Trần Quốc Hoàn đi đâu về khuya. Khi nghe thấy tiếng xe của Hoàn về là Minh Tiến chạy vội lên phòng, bật đèn sáng choang, ngồi ngay ngắn… “làm việc”! Vì thế Hoàn thường khen: Ở Bộ này chỉ có Minh Tiến là “thức khuya dậy sớm” mà thôi. Cái nghề ở tập thể nó thế. Không ai che giấu được cái tốt, cái xấu với mọi người. Một nhân vật nữa là cục trưởng Hoàng Mai, cục trưởng Cục trại giam trước khi tướng Qua tiếp nhận chức vụ này. Hoàng Mai đi công tác từ Hà Nội, đến Bắc Giang thì bắn được một con chim gáy. Hắn vội quay xe về, chạy hộc tốc lên gác nhà Trần Quốc Hoàn, biếu vợ Hoàn con chim gáy đó và được vợ Hoàn khen nức nở là người tốt. Và dĩ nhiên là được Bộ trưởng Hoàn xếp vào danh sách cán bộ tin cậy. Nói về sự nịnh hót của cấp dưới và sự ba hoa phét lác của “tên H lưu manh”, tướng Qua kể mỗi năm Bộ Công An có một cuộc họp toàn quốc vào cuối năm. H ba hoa xích đế trên diễn đàn. H thường mời những tay có học vị phó tiến sĩ đỗ đạt ở Liên Xô về nói các vấn đề mới về khoa học cho mình nghe. Khi hội nghị toàn quốc của ngành hắn đem những điều nghe được lõm bỏm đó ra ba hoa với hội nghị. Đến giờ giải lao, hắn chạy xuống chỉ tay vào những người ở hàng ghế đầu, thường là thứ trưởng, cục trưởng hỏi: Tôi nói nghe có được không? Thế là lập tức có kẻ xoa xoa hai tay, tâng bốc: Nghe Bộ trưởng nói cứ… sáng ra, ước gì một năm có vài lần hội nghị toàn quốc thế này để anh em được nâng cao trình độ. H sung sướng cười híp cả mắt. Vì thế nên tôi và HH (cục trưởng) đến kỳ họp toàn quốc phải lẩn xuống chỗ các trưởng ty ngồi để đề phòng tên H nhỡ ra lại chỉ tay vào mình mà hỏi: Tôi nói thế anh Qua thấy thế nào? Chả nhẽ lại nói, anh nói tôi nghe như… cục c! Nói về sự ton hót, tướng Qua kể một chuyện đáng buồn nôn. Đó là kỳ họp sau khi thống nhất đất nước. Sau khi nói về sự “tiến bộ” của ngành, tên H hỏi anh em: Đánh giá ngành ta thế có khách quan không? Một tên ton hót đã thưa: Thế mà có người nói rằng đi xa, lâu ngày về Bộ thấy chẳng có gì thay đổi cả(!) Tôi nghe câu đó giật mình lo cho Nguyễn Công Tài. Tài đi B công tác 9-10 năm, bị tù rất anh dũng, sau khi đất nước thống nhất được đón về như một vị anh hùng. Nhưng Tài thẳng thắn, và chính Tài là tác giả của câu nói đó. Và quả thật, Tài đã lâm nạn. Chỉ ít lâu sau bị “nghi vấn” là khi ở tù có khai báo và bị chuyển đi khỏi ngành. Nói về sự bịp bợm của tên H, tướng Qua kể, hắn mua rất nhiều máy tính điện tử, ngày nay gọi là máy vi tính. Tốn kém không biết bao nhiêu là tiền của công quỹ. Hắn báo cáo với Bộ Chính trị rằng, với thứ máy móc siêu việt này, án nào cũng phá được. Những người công tác lâu năm trong công việc điều tra hỉnh sự thì hiểu rất rõ rằng, nếu đưa dữ liệu sai vào máy tính thì còn nguy hiểm gấp trăm lần vì máy sẽ nhân cái sai lên trăm lần. Để nói về sự trung thực trong công tác điều tra, không quan liêu, không ép cung, để “phá án” lấy thành tích tướng Qua đã kể cho tôi nghe nhiều lần “Vụ án ở nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm Hà Nội”. Câu chuyện như sau: Giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia lâm tự tử. Nhưng vì muốn có thành tích, Sở Công An đã ép cung đến 8-9 cán bộ. Vì bị tra tấn ép cung quá, không chịu nổi họ đều đã nhận giết ông giám đốc nhà máy. Án được “phá” nhanh chóng và được báo cáo lên Quốc Hội, được chủ tịch Quốc Hội Trường Chinh khen. Nhưng một hôm, cái xác ông giám đốc nhà máy ấy được vớt lên ở cửa sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên. Sau khi khám nghiệm tử thi, trưởng phòng đại úy Tích kết luận là nạn nhân tự sát, không phải bị giết. Nửa đêm, đại úy Tích đạp xe về Bộ báo cáo Cục trưởng cảnh sát Lê Hữu Qua. Ông cục trưởng nói: Nếu đúng vậy thì anh làm hồ sơ thật cẩn thận để điều tra lại. Thế là bùng nổ cuộc xung đột giữa giám đốc công an Hà Nội lúc đó mà đứng sau là thứ trưởng Lê Quốc Thân với Cục cảnh sát nhân dân, đứng đầu là cục trưởng Qua. Cuộc đối đầu này, mà theo cục trưởng Qua thì “Hồ sơ đã lên đến hàng tạ giấy” mà không phân thắng bại, phải trái. Nhưng quyết tâm của Cục cảnh sát là phải minh oan cho các nạn nhân bị ép cung. Cuộc đấu tranh một mất một còn này kéo thêm một cái chết nữa của một viên bác sĩ Pháp y của quân đội quốc gia (Bảo Đại). Viên thiếu tá Pháp y rất giỏi này được mời tham gia vụ án. Trong một phiên họp rất căng do Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn chủ trì, bác sĩ giáo sư Tôn Thất Tùng vì quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm. Ông rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mì chính nhỏ rơi ra (Bác sĩ Tùng có thói quen gói những gói mì chính (bột ngọt) nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vô tô phở). Thời đó, bột ngọt quý như vàng. Bác sĩ Tùng phải là người sang lắm mới có sẵn thứ này trong người. Tướng Qua kể, thấy Gs Tùng run quá, tôi phải nhặt dùm ông các gói mì chính rồi để lại vào túi cho ông. Tôi nói: Gs cứ bình tĩnh phát biểu. Gs Tùng đã từ chối kết luận vì ông không phải là Pháp y. Đến lượt viên thiếu tá Pháp y của quân đội quốc gia Bảo Đại phát biểu, sau khi chứng minh ông giám đốc không phải bị giết. Trong cơn xúc động, ông thiếu tá đấm tay vô chiếc bảng treo trên tường và nói lớn: Nếu giám đốc nhà máy cơ khí xe lửa Gia Lâm mà bị giết thì đốt hết sách vở đi! Nói xong, ông ta uống gói thuốc độc lấy ra từ túi và gục xuống chết ngay tại phòng họp. Tướng Qua cũng nói tỉ mỉ về vai trò của ông Lê Đức Thọ trong vụ này. Ông kể: Ông Thọ yêu cầu chúng tôi phải mang đạo cụ đến nhà riêng của ông, diễn lại vụ tự tử của giám đốc nhà máy như quan điểm của Cục Cảnh sát. Chúng tôi phải chở đến cả một xe tải dụng cụ, y như là một gán hát chở phông màn đến diễn tuồng. Cực nhất là phải mua cả tiết heo để vẩy lên hiện trường để thuyết minh các tình tiết về các vết máu khi xảy ra sự việc. Xem kỹ “vở diễn” ông Thọ kết luận là phải tiếp tục điều tra để đi đến kết luận. Sự việc lên đến đỉnh điểm khi một phiên họp, có cả giám đốc trại giam đang giam giữ các tù nhân bị ép cung, thứ trưởng Lê Quốc Thân ra hiệu bằng mồm (ám hiệu bật môi khi phát âm chữ bờ-b không thành tiếng) là bắn các tù nhân để bịt đầu mối. Tôi biết Thân hay ra ám hiệu nên theo dõi Thân rất kỹ trong cuộc họp. Đến khi hắn ra hiệu “bắn”, tôi báo ngay cho ông Thọ biết. lập tức ông Thọ điện cho Thân hỏi, có phải anh ra lệnh bắn tù để bịt đầu mối vụ án phải không? Sau này anh em kể lại, nghe điện thoại của ông Thọ xong, Thân chửi ầm lên là lại thằng Qua báo cáo chứ gì. Tình hình Bộ Công An lúc đó rất căng thẳng giữa Cục Cảnh sát và thứ trưởng Thân. Trong một phiên họp có phó Ban kiểm tra trung ương là Trần Kiên dự, Lê Quốc Thân đã chỉ thẳng vào mặt cục trưởng Lê Hữu Qua nạt: Anh Qua sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc rũ rối vụ án đã được khép lại này. Tướng Qua cũng kiên quyết: Tôi phản đối đến cùng kết luận của giám đốc công an Hà Nội và anh. Cuối cùng thì một đoàn chuyên gia của Bộ Công An nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức được mời sang. Theo tướng Qua, nước Đức có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ phá án. Quan điểm của các bạn Đức là nếu có án thì hung thủ phải để lại hiện trường dấu vết, và nếu có dấu vết thì sẽ tìm ra thủ phạm. Đoàn của Đức đi riêng một chuyên cơ gồm 10 người, gồm chuyên gia các lĩnh vực. Tướng Qua cho hay có một ông gọi là “chuyên gia thắt cổ”. Ông đem theo cả một bộ sách dầy, tổng kết tất cả các hình thức thắt cổ kèm theo hình vẽ, có từ thời Hy Lạp cổ đại đến giờ. Bộ sách phân tí...
83 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 9) Chương Bốn Đời sinh viên Cuộc đời thật trớ trêu, nhờ “thi trượt” mà tôi được biết thầy Tuất, hiệu phó nhà trường và sau đó trở thành “cháu” của thầy! Ngày ấy tôi thường mang thông tin, thư từ của chú Bẩy Trân đến thầy Tuất và được thầy yêu mến. Là một trí thức miền Nam tây học, tính tình thầy hiền hòa, cởi mở. Còn gì “oai” bằng ở một trường đại học hàng ngàn sinh viên, tôi được xem là “cháu” của thầy hiệu phó. Thực chất, thầy điều hành như hiệu trưởng vì, GS Phạm Huy Thông đứng danh hiệu trưởng như không bao giờ về trường cả, trừ khi có khách quốc tế đến thăm trường là nguyên thủ quốc gia. Như đã kể trên đây, vì bắt buộc phải nộp đơn thi vào khoa Nga cho dễ đỗ, nên khi được vô học, tôi phải học tiếng Nga. Tôi học rất dốt môn ngoại ngữ này, điểm kiểm tra thường là điểm 1 và 2. Vì thế lớp phân công nữ sinh viên tên là Ngọc kèm cặp giúp đỡ, phụ đạo tôi hàng ngày. Tôi rất tự ái, nghĩ mình “đường đường một đấng anh hào” mà lại bị một bạn gái giúp đỡ thì thật là… mất cái sĩ diện! Vì thế tôi lên xin thầy Tuất cho tôi chuyển sang học khoa văn. Thầy Tuất ôn tồn bảo tôi: Khải ơi, bây giờ sắp thi học kỳ rồi, cậu sang khoa văn làm sao mà thi nỗi, người ta học được nửa năm rồi. Tôi nghe thế, đưa thầy xem học bạ phổ thông với điểm tổng kết 5 môn văn để thuyết phục và hứa với thầy tôi sẽ thi học kỳ với điểm số xuất sắc. Là dân Nam Bộ tính tình phóng khoáng, thầy xé mảnh giấy nhỏ, ghi mấy chữ (giống hệt như chú Bẩy Trân đã làm cho tôi trước đây) để tôi đem sang phòng tổ chức khoa văn để nhập học. Anh cán bộ phòng tổ chức xem giấy xong lắc đầu, nhìn tôi. Có lẽ trong bụng anh nghĩ tôi có quan hệ thế nào với thầy Tuất mà được phá lệ thế này. Nhưng cái giấy của ông hiệu phó cũng là mệnh lệnh, đố ai dám cản trở. Tôi được nhận vào học khoa văn. Sang khoa văn học được ít ngày là thi học kỳ năm thứ nhất. Học khoa văn là cả một núi sách phải đọc. Nhưng các sinh viên xuất thân ở nông thôn thì lấy đâu sách ra mà đọc, vì thế tôi có ưu thế hơn hẳn các bạn. Tôi đã đọc các tác phẩm văn học này từ hồi còn là học sinh phổ thông ở các cấp. Vì thế, tôi chỉ phải đọc các sách lý luận, sách nghiên cứu, các giáo trình và không phải chúi đầu đọc tác phẩm như các bạn tôi. Tôi học rất nhàn và có chất lượng. Khi thi học kỳ, môn văn học nước ngoài là văn học Trung Quốc. Đề thi là phân tích nhân vật Tào Tháo trong tiểu thuyết trường thiên Tam Quốc. Tôi được điểm 9/10, đứng đầu khoa về môn văn học nước ngoài. Ở đây xin mở ngoặc, lên đại học điểm tính theo hệ thống 10/10. Với môn văn học nước ngoài, năm thứ nhất học văn học Trung Quốc, năm thứ hai là văn học Nga-Xô viết, năm thứ ba văn học phương tây. Được điểm 9/10 môn văn học Trung Quốc, tôi được cử làm cán sự bộ môn văn học nước ngoài của lớp. Cán sự có nhiệm vụ liên hệ với thầy giáo bộ môn để nhận các câu hỏi, bài vở, tài liệu hướng dẫn của thầy và phụ đạo các bạn cùng lớp có điểm kém môn học đó. Như đã hứa, tôi đem kết quả thi học kỳ một lên cho thầy Tuất xem và thầy rất hài lòng. Vào đại học, quy định của nhà trường là phải ăn ở nội trú. Do gia đình có điều kiện hơn các bạn cùng lớp nên tôi được trang bị khá tốt. mẹ tôi cho tiền mua chiếc xe đạp Sputnik do Liên Xô sản xuất, được chú Năm tôi cho một cái va li cũ, đặc biệt chú Hai cho tôi cái cặp da “mác” Thượng Hải màu đen rất sang. Đó là chiếc cặp thủ tướng Chu Ân Lai tặng các thành viên đoàn Việt Nam đi dự hội nghị Geneve năm 1954 tại Thụy Sĩ. Một sinh viên đi học đại học thời đó mà được trang bị như thế là sang lắm rồi. Tôi nhớ, cứ mỗi lần tôi đạp xe vào trường chiều chủ nhật là đã có các bạn đứng ở cổng chờ, mượn tôi xe đạp để đạp ra phố chơi. Vì thế chẳng bao lâu, chiếc xe đã cũ nát. Còn chiếc cặp da đen “mác” Thượng Hải thì tôi cũng không bao giờ quên về số phận của nó. Cái cặp da đen ấy có thể được xem là sang nhất trường, ngay cả thầy Tuất cũng không có, vì thế các bạn của tôi hay mượn để xách cho oai! Có lần anh Đình, bạn cùng lớp với tôi, quê ở Thái Bình hỏi mượn tôi cả xe đạp, cả cặp da để đạp ra phố chơi vì chiều hôm đó là chiều tự học. Anh đi đến gần tối mới về, từ trên sân thượng của ký túc xá, tôi nhìn xuống thấy anh một tay đi xe, một tay xách cái cặp đen nhưng nó to đùng như cái thùng. Hóa ra anh mua một quả dưa hấu và cố nhét vào cặp để xách về. Thế là cái cặp da đen kiểu cặp ngoại giao, có hai ngăn gấp vào nhau, có khóa và quai đỡ ở bên dưới bị đứt tung khóa. Tôi phải đem về Hà Nội chữa. Cái cặp đen “ngoại giao” đó còn biết bao nhiêu kỷ niệm ly kỳ nữa. Đó là năm học thứ ba, trường sơ tán ở Yên Mỹ, Hưng Yên. Tôi ở trọ trong một gia đình nông dân rất nghèo. Bà chủ nhà có cái màn (trong Nam kêu là mùng) bằng vải xô rách đến mức phải dùng giấy báo dán chằng chịt. Bà chủ nhờ tôi mua giúp một chiếc màn mới. Hồi đó (1966) muốn mua một cái màn là rất khó, phải có phiếu vải mới mua được. Nếu dùng phiếu vải để mua màn thì cả năm không còn tiêu chuẩn mua vải may quần áo vì màn rất rộng. Tôi nhờ có bà chị ruột là cửa hàng trưởng một cửa hàng mậu dịch Hà Nội nên mua được cho bà chủ một cái màn mới mà không cần đến tem phiếu. Có màn, cả gia đình bà mừng lắm. Cuối tuần tôi về Hà Nội, bà chủ nhà muốn gửi biếu chị tôi chút quà nhưng nhà nghèo quá, biết lấy gì đền ơn. Người nông dân vốn tình nghĩa đôn hậu như vậy. Vì thế, từ sáng sớm bà đã đi mò cua và đến chiều bà đã có 10 xóc cua để nhờ tôi đem về Hà Nội biếu chị tôi làm quà. Tôi để 10 xóc cua đó vào chiếc cặp đen, mỗi ngăn 5 xóc rồi gấp lại. Chưa hết, tôi cẩn thận cài khóa bên dưới rồi xách đi. Về Hà Nội, lúc đến Bờ Hồ, tôi đi xe điện tuyến chợ Mơ để về nhà. Lúc ngồi trên xe điện, những chú cua còn sống cứ ngọ nguậy nghe rào rào như một tín hiệu gì đó, thế là anh bán vé xe điện hỏi tôi: Cái gì ở trong cặp của cậu? Tôi không thèm trả lời, thấy vậy anh ta càng nghi ngờ và lớn tiếng: Tôi hỏi cậu, cái gì ở trong cặp của cậu? Có lẽ anh đã nghi ngờ tôi có máy phát sóng điện…Hồi đó có khẩu hiệu “mỗi người dân là một chiến sĩ công an” nên người ta thường hay nghi ngờ lung tung. Nhìn đâu cũng thấy địch. Thấy tôi giả vờ lúng túng, anh ta chắc mẫm đã phát hiện được tên gián điệp đang mang máy phát sóng báo tín hiệu cho máy bay oanh tạc tàu điện của anh ta(!). Những tiếng quát lại vang lên: Yêu cầu cậu mở cặp ra cho tôi kiểm tra. Tôi quát lại: Anh không có quyền đó. Thế là cả tàu điện nhốn nháo. Có ai đó thông báo cho lái tàu để dừng lại. Cả người lái tàu cũng đến mặt hằm hằm yêu cầu tôi mở cặp. Tôi nói: Các anh phải có biên bản cuộc khám xét này. Nếu tôi mở ra chỉ có mấy con cua đồng thì sao. Tôi sẽ kiện các anh về xí nghiệp xe điện. Nghe thấy có cua đồng trong cặp, mọi người đều sửng sốt. Có người quát: Nói bậy. Lúc đó tôi mới từ từ mở chiếc cặp đen “ngoại giao” của tôi ra, lần lượt lôi ra 10 xóc cua đồng còn sống, chân cua vẫn ngọ nguậy. Thế là mọi người phá lên cười. Anh bán vé và người lái tàu biến mất… Có lẽ trên hành tinh này, không ở đâu người ta sử dụng chiếc cặp da đen sang trọng dùng trong ngoại giao để đựng dưa hấu và cua đồng như chiếc cặp của tôi! Đời sinh viên của chúng tôi ngày ấy lắm chuyện vui buồn như thế. Trong ba năm học, từ 1963 đến 1966 mỗi năm chúng tôi học ở một nơi. Một năm học ở Cầu Giấy Hà Nội, một năm sơ tán lên Đại Từ, Thái Nguyên (lúc đó gọi là Bắc Thái). Một năm quay về vùng quê nghèo Yên Mỹ, Hưng Yên. Năm thứ hai ở Đại Từ để lại những kỷ niệm thật khó quên: Đói khổ và thơ mộng. Đói là vì xa Hà Nội. Mọi thứ tiêu chuẩn của sinh viên phải mua theo tem phiếu ở Hà Nội vì hộ khẩu ở đó. Ngày đó đến rau muống cũng phải xếp hàng mua của mậu dịch theo tiêu chuẩn. Vì thế, đi sơ tán xa các nhu yếu phẩm này không chuyển lên được. Đến kỳ, chúng tôi phải đi bộ ra phố Đu ở Thái Nguyên, cách nơi sơ tán 20 km để gánh lương thực về. Sinh viên lúc đó ở nhờ nhà dân nhưng lớp học thì phải tự làm lấy. Vì không có rau nên các quả đồi, cánh rừng quanh đó có măng nứa, măng tre đều bị vặt trụi để nấu canh. Một tháng chúng tôi chỉ được ăn thịt 1 hoặc 2 lần mua theo tem phiếu chở từ Hà Nội lên. Thịt phải mua từ chiều hôm trước đến hôm sau mới lên tới nơi mà kh6ogn có xe lạnh bảo quản như bây giờ nên thối hết, bốc mùi ôi. Nhưng các chị nuôi vẫn tiếc rẻ, lấy dao cắt phần thối đi, phần còn lại nấu măng làm “súp” cho sinh viên ăn với bột mì luộc hoặc cơm. Phần thịt được đem nấu đã thâm lại, khi ăn chúng tôi phải vừa bịt mũi vừa ăn vì nó có mùi thum thủm. Nhưng vì thèm thịt quá nên vẫn cứ phải ăn! Đói khổ như thế nhưng chúng tôi vẫn tập văn nghệ và còn biểu diễn văn nghệ cho bà con dân tộc xem. Ngoài ra còn tổ chức thi hùng biện nữa. Tôi đã được giải trong một cuộc thi hùng biện do lớp tổ chức. Cuộc sống ngày ấy gian khổ nhưng vẫn vui tươi có lẽ một phần do tuổi trẻ yêu đời, một phần vì thiên nhiên Việt Bắc vô cùng thi vị, nâng đỡ tâm hồn con người. Thời kháng chiến chống Pháp, tôi đã được sống ba năm có lẻ ở vùng núi trung du Phú Thọ, thời sinh viên tôi lại được sống ở vùng rừng Thái Nguyên, Việt Bắc gần năm trời quả là một diễm phúc trong một đời người để biết được đất nước mình tươi đẹp và nên thơ đến nhường nào để thêm yêu tổ quốc mình. Vùng Đại Từ Thái Nguyên là vùng rừng núi hoàn toàn nhưng không khắc nghiệt, cheo leo như vùng công viên đá Đồng Văn, Hà Giang hoặc như vùng rừng núi trùng điệp như Lai Châu, Điện Biên. Núi rừng ở Đại Từ xen kẽ những thung lũng nhỏ có thể trồng lúa nên cuộc sống của đồng bào dân tộc Tày, Nùng ở đây rất dễ chịu và nên thơ. Đàn ông quanh năm đi săn bắn và chặt gỗ làm nhà. Cứ vài, ba nếp nhà sàn ở gần nhau làm thành một xóm nhỏ. Đi cả cây số nữa mới bắt gặp một xóm như thế. Từ xóm này đến xóm kia là những cây cầu bắc cheo leo qua suối, là những con đường nhỏ luồn lách trong rừng. Đất ở đây đa phần là đất đỏ, đất đá tổ ông rất hợp với tre, nứa, vầu… Nhiều cây vầu, một loại tre rất to đường kính đến hơn gang tay và có thể cao đến 20 mét. Vậy mà có gia đình sở hữu đến cả rừng vầu. Ngày đó, nói cho đúng thì ai muốn nhận quả đồi nào, quả núi nào là của nhà mình thì cứ mặc sức. Vì đi cả cây số mới gặp vài nếp nhà thì nhận cả rừng tre, nứa, vầu là của nhà mình cũng chẳng ai nói gì. Ở dưới xuôi thì cây tre cây vầu có thể dựng làm cột cái xây nhà rất quý, nhưng ở Đại Từ thì cho cả trăm cây tre một lúc cũng không ai lấy cả, vì lấy để làm gì? Có gia đình đắp đất ngăn một khe núi thế là thành một cái ao. Cuối năm tháo nước ra, bắt cá để ăn tết. Nước từ trên suối được dẫn xuống ruộng để cấy lúa. Nhà ở là nhà sàn. Nhà nào cũng có một bếp lửa to ngay lối cầu thang lên. Mồi lửa là một cây gổ dài, một đầu đưa vào bếp cháy âm ỉ quanh năm. Ra khỏi nhà ai cũng đeo một con dao dài bên thắt lưng, lúc trở về là một bó củi nứa, củi tre mà mấy tháng trước người ta đã phạt cho đứt, đợi đến khi cây khô lấy về làm củi đun. Cao dao đeo bên hông của đồng bào Tày, Nùng lúc nào cũng sáng quắc khiến ta nhớ đến câu thơ trong bài Việt Bắc: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Chiều đến trâu thả rông đeo mõ được lùa về. Đêm đến nghe tiếng chày nước giã gão lại nhớ hai câu thơ: “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa” Có lẽ, tôi phải chú thích ngay để các bạn sống ở thành thị sau này, chưa một lần sống ở núi rừng Việt Bắc hiểu thế nào là “chày đêm nện cối đều đều suối xa”. Sự thể thế này: Bà con miền núi lợi dụng suối nước chảy ngày đêm trong rừng nên làm một cái chầy là một cây gỗ lớn, bên dưới là cái cối đựng gạo chưa giã còn dính cám. Ở giữa cây gỗ, đục ngang thân gắn một cái trục, hai đầu trục được cố định xuống đất. Cây gỗ trở thành một cái đòn bẩy mà đầu kia được khoét thành cái máng cho nước suối chảy vô. Khi máng đầy nước vì nặng, nó sẽ chìm xuống khiến đầu kia của cây gỗ lại được tự động nâng lên. Nước sẽ bị đổ ra và đầu cây gỗ lại được nâng lên khiến đầu kia lại rơi xuống làm cho cái chày gắn ở đầu nó “giã” vào cối gạo. Cứ thế, vài phút nó “giã” được một cái nhưng rất đều đặn. Vì thế mới “đều đều suối xa”. Có điều đáng nhớ là, cối gạo ấy ở giữa rừng, vài hôm sau chủ nhà mới ra lấy gạo đã được nước “giã” đem về. Cuộc sống như thế có khác gì thời Nghiêu-Thuấn, không ai lấy của ai. Mùa đông chúng tôi ngồi học bài trên bếp lửa nhà sàn bập bùng rồi lăm ra ngủ ngay trên bếp lửa. Sáng ra đứa nào đứa nấy quần áo cứ nhọ đen như thợ lò đi làm về. Đến mùa gặt lúa vào cuối tháng 10 ta, nhà nào cũng giã gạo non làm cốm. Tiếng chầy thình thịch núi rừng. Gần cuối năm, giáp tết bà con lại lập những lò nấu mật ngay trên ruộng. Lò có trâu kéo đi vòng quanh một cái cối ép mía để lấy nước nấu mật. Khói lò mía bay lên chờn vờn trong áng chiều, mùi nước mía nấu mật thơm ngào ngạt. Sẵn củi, nước vài củ sắn (khoai mì) giòn tan, chấm với mật mía vừa ra lò thì ngon vô cùng. Đứng từ trên đồi cao nhìn xuống những nhà chòi nấu mật khói lam chiều bay lên chờn vờn mái lá, thấy cuộc sống nơi đây thanh bình biết bao. Sau này, đi đó đây tôi có dịp được thấy những lâu đài nguy nga ở các đô thị lớn như Matxcơva, Paris, thấy những nhà chọc trời ở Thẩm Quyến, Hồng Kông, Singapore… nhưng chẳng để lại gì nhiều trong tâm trí mình vẻ đẹp nào như vẻ đẹp của những nếp nhà sàn, những chòi nấu mật giữa rừng núi Đại Từ Việt Bắc. Là cán sự một môn văn học nước ngoài nên tôi thường được đến nghe thầy bộ môn Nguyễn Đức Nam bồi dưỡng kiến thức, hướng dẫn đọc sách để về truyền đạt lại cho lớp. Thường các chủ nhật, tôi đến căn nhà sàn của thầy Nam và ở đó nghe thầy giảng giải cho đến tối. Vì ở giữa núi rừng cũng chẳng biết đi đâu vào ngày nghỉ. Thầy mới ngoài 30 tuổi, đậu phó tiến sĩ về văn học phương tây ở Nga về. Thầy có mái tóc bồng bềnh, đôi mắt nheo cười hóm hỉnh, giọng Nghệ đã pha trộn các ngôn ngữ Âu Châu nên du dương trầm bổng. Thầy đặc biệt tài hoa và uyên bác, có thể giảng Shakespear bằng tiếng Anh, Moliere bằng tiếng Pháp, Puskin bằng tiếng Nga rất trôi chảy. Tiếc rằng sinh viên chúng tôi dạo ấy dốt ngoại ngữ quá nên thầy phải giảng về các văn hào của Anh, Pháp, Nga bằng tiếng Việt. Sau ngày đất nước thống nhất, thầy vào thỉnh giảng cho các lớp văn khoa năm cuối cùng cho các sinh viên Sài Gòn. Thầy giảng Shakespear bằng tiếng Anh. Giờ văn học tiếng Pháp thầy giảng Victor Hugo bằng tiếng Pháp, thầy còn hỏi có lớp nào hiểu tiếng Nga để thầy giảng Gô-gôn Sê Khốp bằng tiếng Nga. Các sinh viên Sài Gòn lấy làm ngạc nhiên và dành cho thầy Nam nhiều kính trọng. Có lần tôi đến thăm thầy ở nhà riêng 30 Phan Đình Phùng Hà Nội lúc đó thầy mới đi thỉnh giảng ở Sài Gòn về. Thầy đưa tôi coi một tập luận văn viết về Shakespear bằng tiếng Anh, một tập luận văn viết về Maupassant bằng tiếng Pháp của sinh viên năm thứ tư văn khoa mà thầy đang chấm, rồi than phiền: So về trình độ thì các cậu không kém sinh viên Sài Gòn, nhưng viết luận văn văn học nước ngoài bằng tiếng Việt thì … yếu quá! Những lần đến “thọ giáo” thầy Nam về văn học nước ngoài, tôi được thầy giảng rất kỹ về kịch của Shakespear. Thấy cho biết, ở Liên Xô có cả một khoa Shakespear họ, chuyên nghiên cứu về kịch của văn hào. Chính thầy Nam của chúng tôi cũng được bạn phong là nhà Shakespear học. Khi lên lớp, thầy đóng lại những cảnh độc thoại của hoàng tử Hamlet rất sinh động. Các nữ sinh khóa tôi đều phải thú nhận rằng, mỗi khi thầy Nam lên lớp thì sau đó họ không nhớ thầy đã nói gì vì mải… ngắm thầy là chính! Tôi đã được thầy Nam giảng cho hiểu là vì sao người ta lại định nghĩa “Shakespear” là Trái Đất, vì văn hào đã đưa cả loài người lúc đó… lên sân khấu. Ngồi nghe thầy vừa nói vừa diễn đạt bằng ngôn ngữ sân khấu nhân vật Hamlet, tôi có cảm tưởng rằng thầy chính là “cánh tay của chàng hiệp sĩ, con mắt của nhà thông thái, miệng lưỡi của kẻ hào hoa” như chính hoàng từ Hamlet đang đứng trước mặt tôi giữa núi rừng Việt Bắc vậy! Nếu Shakespear sống lại ông không thể hình dung ra người ta đang giảng giải, đang diễn vai Hamlet của ông giữa một cánh rừng châu Á xa xôi, cách quê hương của vị hoàng tử nước Đan Mạch cả vạn cây số. Đói khổ và thơ mộng thời sinh viên chúng tôi là như thế! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 29, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/29/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-9/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 10): https://www.minds.com/newsfeed/1019877630827614208?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 8): https://www.minds.com/newsfeed/1019876544374611968?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
21 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 8) Chương Ba – phần 2 Nhưng có ai ngờ, bỗng nhiên số phận lại mỉm cười với tôi. Đó là một buổi trưa hè oi bức, tôi đang ngủ trong buồng thì mẹ tôi đánh thức dậy vì có “chú Bẩy Trân” xuống chơi. “Chú Bẩy Trân” là một nhân vật thật độc đáo, thật đặc biệt nếu như không muốn nói là một nhân vậy “huyền thoại” về những người cộng sản Việt Nam. Sở dĩ tôi viết cuốn hồi ký này vì như tôi đã nói ở phần mở đầu, đời tôi không đáng một xu, không có gì đáng viết cả, nhưng những nhân vật mà tôi biết như “chú Bẩy Trân” thì phải viết lại, không thì “phí đi” như bạn bè khuyên tôi nên viết hồi ký! Câu chuyện về “chú Bẩy Trân” mà tôi phải dừng lại khá lâu này để nói, số là như sau… Khoảng năm 1955 khi mẹ tôi có mở một cửa hàng bán giầy dép ở phố Hàm Long, hàng tháng có cán bộ đến thu thuế. Người đến thu thuế tại cửa hàng của mẹ tôi là một thương binh, cán bộ miền Nam tập kết, tên là Tám Trọng. Anh Tám Trọng sau này là anh rể ruột của tôi. Anh ít nói, một thanh niên trắng trẻo, tính tình hiền hòa. Do đi lại thu thuế nên Tám Trọng quen với chị ruột lớn của tôi là Lê Thị Thuận. Họ quen nhau đến mức thân thiết rồi xin mẹ tôi cho làm đám cưới. Nhưng mẹ tôi nói, tuy anh Tám là người tốt, nhưng cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết đa số có vợ ở trong đó rồi, sau này đất nước thống nhất thì lôi thôi lắm nên bà kiên quyết không đồng ý. Thế rồi mấy hôm sau có một chiếc xe vonga đen đậu đánh xịch ở cửa nhà tôi. Từ trong xe bước ra là một người đàn ông tầm thước, mặc com-lê thắt cà vạt nghiêm chỉnh bước vô nhà xin phép được gặp mẹ tôi. Hồi đó ai đi xe vonga đen là sang lắm, phải là ủy viên trung ương Đảng. Cấp bộ trưởng nhưng không phải là ủy viên trung ương thì đi xe vonga trắng. Phân biệt ngôi thứ rõ ràng qua màu sắc chiếc xe. Người đi xe vonga tự giới thiệu tên là Bẩy Trân, quê ở Cần Giuộc, Long An là cán bộ cao cấp của Đảng hiện công tác ở Bộ Giáo Dục. Ông Bẩy Trân, với tư cách là cán bộ cao cấp của Đảng đảm bảo với mẹ tôi rằng anh Tám Trọng (tức Phạm Văn Trọng) là cháu ông, đã có vợ ở miền Nam nhưng vợ anh Tám đã li dị chồng khi anh Tám bị thương để đi lấy một người chồng khác ở phía bên kia. Ông Bẩy Trân xin đứng ra bảo lãnh cho anh Trọng và nhận anh làm con để đại diện gia đình cử hành đám cưới với chị tôi, ông xin nhận làm sui gia với gia đình tôi. Chẳng biết thực hư thế nào, mẹ tôi vẫn băn khoăn nên nhắn chú Hai tôi đang công tác ở Bộ Công An điều tra hộ. Mẹ tôi là một phụ nữ, như hàng trăm phụ nữ khác ở miền Bắc lúc bấy giờ rất tin tưởng vào cán bộ của nhà nước, nhất là cán bộ cao cấp như em chồng của bà, tức chú Hai tôi. Có câu chuyện khôi hài mà tôi không bao giờ quên được khi người ta nói đến “tính ưu việt” của chế độ XHCN ở Liên Xô. Ngày ấy, Liên Xô là “thiên đường” của loài người như người ta đã tuyên truyền. Có người nói với mẹ tôi rằng, ở Liên Xô phụ nữ đẻ không đau! Mẹ tôi nửa tin nửa ngờ, đợi đến hôm chú Hai tôi về chơi, bà mới đem câu chuyện đó ra hỏi. Hôm đó tôi cũng có mặt và nghe rất rõ câu chuyện. Mẹ tôi nói: Tôi nghe người ta nói ở Liên Xô phụ nữ đẻ không đau có phải không hả chú? Chú Hai tôi chỉ cười rồi hỏi lại: Ai bảo chị thế? Rồi cũng không trả lời gì cả(!) Thì ra chính trị là như thế. Bộ máy tuyên truyền luôn làm ngu dân. Những người dân lương thiện như mẹ tôi không đi đến đâu nên có thể tin ở Liên Xô đẻ không đau! Cũng như sau ngày 30/4 tôi về một nhà dân ở Long Xuyên thấy trong nhà tắm tường đen ngòm toàn vết cháy. Hỏi ra thì bà chủ kể rằng, sắp đến ngày thua trận, chính quyền tuyên truyền rằng Việt Cộng vào sẽ bắt hết con gái, phụ nữ mặc áo dài, sơn móng tay móng chân… nên khi nghe tin Sài Gòn đã thất thủ, gia đình đem hết quần áo đẹp của đàn bà con gái vô nhà tắm rồi tưới xăng đốt nên bây giờ nhà tắm mới đen ngòm như vậy! Đúng là: “Sau mỗi cuộc chiến tranh / Phe nào thắng thì nhân dân đều bại” như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết. Câu chuyện mẹ tôi nhờ chú Hai “điều tra” thì thế này, chỉ mấy ngày sau, chú Hai tôi đi xe com-măng-ga, (xe dành cho sĩ quan cao cấp ngành công an hoặc quân đội) về nhà và cho mẹ tôi hay, đúng ông Bẩy Trân, tức Nguyễn Văn Trân là cán bộ cao cấp rất có uy tín của Đảng, tập kết ra Bắc và sắp tới sẽ giữ những chức vụ quan trọng. Thế là đám cưới chị tôi với anh Tám Trọng được cử hành trọng thể và ông Bẩy Trân mà sau này tôi hay gọi là “chú Bẩy” chính thức là sui gia với bố mẹ tôi. Ngày giỗ, ngày tết tại gia đình tôi bao giờ cũng có ông sui gia Bẩy Trân có mặt. Ông Bẩy Trân xuất hiện trong gia đình tôi như một ánh sáng mới lạ, không phải vì ông là một cán bộ cao cấp, mà vì những hành vi văn hóa của ông khác hẳn với những thứ văn hóa vô sản đang hình thành lúc đó. Ông được mọi người ở cả 2 bên nội ngoại của tôi rất kính trọng. Đặc biệt đối với ông nội tôi mặc dù về mặt vai vế ông chỉ đứng hàng con cháu vì là sui gia với bố mẹ tôi. Lần đầu tiên người cán bộ cộng sản cao cấp này ra mắt ông nội tôi là cử chỉ xin phép được đốt một nén nhang trên bàn thờ tổ tiên của gia đình tôi và cúi lại ba lần. Cử chỉ này làm kinh ngạc mọi người vì tại thời điểm đó đang diễn ra cải cách ruộng đất. Ở khắp nơi trên miền Bắc, người ta đang đập phá đình chùa, tượng phật, tượng thánh bị vặn cổ ném xuống ao. Bàn thờ tổ họ Lê Phú nhà tôi, trừ ông nội tôi, còn bố tôi và các chú ruột không ai thắp nhang và cúi lạy trước vong linh ông bà cả dù đó là những ngày lễ tết hay giỗ chạp. Lúc đó, người ta xem những cử chỉ hành vi này là duy tâm, là lạc hậu, là phong kiến… Từ đó trong mắt ông nội tôi, mẹ tôi và cả tôi nữa, ông Bẩy Trân là một cán bộ cộng sản không giống với thứ văn hóa vô sản lưu manh đang được người ta áp đặt vào xã hội miền Bắc lúc đó. Mỗi lần đến chơi, ông Bẩy Trân được ông nội tôi tiếp đón rất trân trọng. Họ nói chuyện nhau rất lâu, đôi lúc dùng cả tiếng Pháp nữa. Mỗi khi ông Bẩy ra về, ông nội tôi tiễn ra tận cổng… Còn mẹ tôi thì vô cùng cảm động khi những đêm sáng trăng ông sui gia đạp xe ra tận ngoại thành chơi, ngày ấy ngoại thành chưa có điện, ông đã ra tận ruộng rau nơi mẹ tôi đang tưới cây để trò chuyện động viên người phụ nữ thị thành chưa mấy quên với công việc thôn quê nặng nhọc này. Còn đối với tôi thì đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến người cán bộ có cử chỉ văn minh. Đó là lần tôi đi cùng ông Bẩy ra ngoại thành. Trên đường đi ông mua hai gói xôi đậu đen gói trong lá chuối để 2 người ăn sáng. Ăn xong tôi chưa biét vứt lá cuối đi đâu, vì còn đang ngồi trên xe vonga, nhưng ông Bẩy đã lấy nó rồi cuộn với gói lá của ông xong rồi đút vô túi áo đại cán. Về nhà ông lấy bỏ vô thùng rác. Thời gian sau ông đưa cô cháu gái gọi ông là chú ruột và chồng cô đến chơi nhà tôi. Ông giới thiệu người cháu tên là cô Sáu, và chồng là anh Sáu Khải (tức thủ tướng Phan Văn Khải sau này) mới đi học ở Liên Xô về. Anh Sáu Khải người nhỏ nhắn, ít nói. Vợ chồng anh được mẹ tôi rất quý nên hay mời đến dùng cơm trong các dịp giỗ, tết. Có lần ngày 30 tết, mẹ tôi làm cơm cúng ông bà và mời bà con cả họ đến vì nhà tôi là nhà trưởng. Khi mê tôi bóc bánh chưng bày lên mâm, nhưng vì mâm to nên phải bóc hai cái (để mỗi bên một cái), thấy thế anh Sáu góp ý, đại ý là năm ngoài cũng bóc 2 bánh nhưng ít người ăn vì ăn cỗ đã no, năm nay theo ý anh chỉ nên bóc một cái. Mẹ tôi giải thích cái mâm to nên phải bóc 2 cái, vì người ngồi bên này không phải vươn tay với sang phía bên kia. Nếu chỉ bóc một cái có khi người ta lại ngại. Khi anh Sáu lên nhà trên rồi, mẹ tôi mắng tôi. Anh thấy chưa, người ta là người miền Nam, giàu có mà tiết kiệm, còn anh chỉ biết hai tay đút túi vô tích sự! Đối với mẹ tôi (và người Bắc) dân miền Nam là người giàu có hay ít nhất cũng là người sống ở mảnh đất giàu có của đất nước, ra Bắc phải chịu khổ nên phải được chiếu cố… Những tình cảm như thế của đồng bào miền Bắc đối với cán bộ miền Nam ra tập kết thật dễ thương. Vậy mà sau này khi vô Nam sau 1975, mẹ tôi bắt tôi đưa đi thăm những người quen trước tập kết có đến nhà tôi như ông Bẩy Trân, anh Sáu Xích cán bộ công đoàn thành phố, riêng anh Sáu Khải lúc đó là chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tôi định đưa bà đến thăm nhưng bà không đi vì sợ người ta hiểu lầm là mình định nhờ vả gì(!). Thật tình thì Sáu Khải không phải là người đáng phải cẩn thận như thế. Ông là người tử tế. Có lẽ vì cái tính “tiết kiệm” như mẹ tôi từng khen nên khi làm thủ tướng ông không phá phách như những người sau này. Đôi ba lần khi tôi gặp ông trong các hội nghị tại Tp HCM với cương vị thủ tướng, ông tiếp các nhà báo xưng hô đồng chí đàng hoàng, nhưng khi bất chợt nhìn thấy tôi, ông hỏi: Mày dạo này thế nào? Có gặp bà Tám (tức chị tôi, vợ Tám Trọng) luôn không? Cách xưng hô mày-tao như thế với tôi khiến các nhà báo khác ngạc nhiên(!) Năm 2001 tôi qua Paris thăm chú Năm tôi, trước là đại diện thường trú của Thông tấn xã Việt Nam, sau đó định cư chính trị bên đó. Chú Năm tôi hỏi: Chú xem TV thấy thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải rất giống anh Sáu Khải, cán bộ Ủy ban kế hoạch nhà nước xưa vẫn đến nhà mình chơi ở Hà Nội, có phải là Phan Văn Khải bây giờ không? Tôi trả lời là đúng. Chú tôi lại hỏi: Gặp cháu bây giờ anh ấy có hỏi han gì không? Tôi trả lời: Lúc hàn vi cũng như bây giờ quyền cao chức trọng, Sáu Khải vẫn tỏ ra là một người tử tế. Chú tôi nói: Vậy thì có dịp gặp anh ấy, cho chú gửi lời hỏi thăm. Trong một cuộc gặp ông ở hội nghị, tôi có chuyển lời hỏi thăm của chú Nam tôi. Ông Khải cười, nói: Việc mày xin đi Pháp thăm chú, bọn tao biết cả, nhưng ai dám cản mày! (Tôi chắc là ông Sáu Khải nói đùa). Số phận của Sáu Khải thì như thế, nhưng số phận của ông Bẩy Trân sau này thì không ra sao. Tôi sẽ kể về con người “huyền thoại” này vào dịp khác. Lại nói về chuyện tôi thi trượt. Thấy chú Bẩy xuống chơi, mẹ tôi lại đem ngay chuyện tôi thi trượt đại học ra phàn nàn. Ông Bẩy nói ngay: Bảo nó ra đây. Hình như là người trong ngành giáo dục biết chuyện thi cử nên ông bảo tôi: Sáng mai theo tao vào trường ĐHSP. Thế là ngay sáng hôm sau, ông chở tôi bằng cái xe đạp Junior Tiệp Khắc vào trường ở Cầu Giấy. Đến nơi ông bảo tôi đứng ngoài chờ, ông vào gặp thầy Tuất, phó hiệu trưởng kiêm phó bí thư trực của đảng ủy nhà trường. Thầy Tuất vốn là một trí thức Nam Bộ ở châu Âu về hoạt động, cũng như ông Bẩy Trân, thầy có bà vợ người Ý cũng theo chồng về nước. Đứng ngoài cửa, chỉ cách có tấm cót mỏng, tôi nghe rõ tiếng ông Bẩy nói với thầy Tuất: Nhờ anh xem hộ trường hợp thằng con bà sui gia của tôi tên là Lê Phú Khải thi vào khoa Nga văn năm nay vì sao không đỗ? Thầy Tuất trả lời: Để tôi kêu tổ chức mang hồ sơ, lý lịch lên coi. Nói rồi ông quay chiếc điện thoại có số chạy vòng tròn kêu vo..vo.. Một lát sau, có một ngườiđến mang theo bộ hồ sơ của tôi, đựng trong chiếc phong bì to lên trình. Tôi lại nghe rõ tiếng thầy Tuất: Gia đình cháu Khải là thành phần tư sản làm sao mà đỗ được! Tôi nghe thấy thế, lạnh cả người. Lại nghe tiếng ông Bẩy Trân: Thật là bậy! Gia đình nó là cách mạng nòi, chú ruột nó đang là cục trưởng ở Bộ Công An, chị nó cũng là công an, làm sao là tư sản được. Tiếng thầy Tuất bình thản: vậy anh viết cho mấy chữ bảo lãnh đi… Thế là sau mấy phút, chẳng biết ông Bẩy viết cái gì, ngay sáng hôm sau tôi đến gặp tổ chức nhà trường nhận giấy vào lớp. Thật là khôi hài, một ông cán bộ quê ở mãi Cần Giuộc Long An chỉ viết mấy chữ bảo lãnh cho một thanh niên sinh ra và lớn lên ở Hà Nội đã làm thay đổi cả số phận người thanh niên đó. Trên đường ông Bẩy Trân đèo tôi từ Cầu Giấy về, đến giữa được tôi xin ông cho xuống và đến thẳng Bộ Công An ở đường Trần Bình Trọng. Tôi lên thẳng phòng làm việc của chú Hai tôi, lúc đó ông đang là cục trưởng Cục cảnh sát nhân dân và vừa được thủ tướng Phạm Văn Đồng gắn quân hàm thượng tá cảnh sát nhân ngày cảnh sát ra mắt quốc dân, với quân hàm quân hiệu chỉnh tề (1962). Lúc đó chú Hai tôi là người đứng đầu ngành cảnh sát của cả nước, mà chỉ được phong cấp thượng tá chỉ bằng quân hàm của phó trưởng công an quận huyện ngày nay (2012)! Sau khi nghe tôi trình bày rằng, công an xã đã phê lý lịch của tôi là gia đình tư sản nên không được học đại học, khiến tôi phải long đong mất hai năm… Chú Hai tôi hứa sẽ điều tra. Mấy ngày sau, ông xuống nhà tôi và cho hay theo báo cáo của trưởng công an huyện Thanh Trì thì cái lý do nghe thật khôi hài. Người công an quản lý xóm tôi ở thấy ông nội tôi hay nói tiếng Pháp nên đã báo cáo lên công an xã Hoàng Văn Thụ, làng Hoàng Mai rằng gia đình tôi là gia đình tư sản. Từ đó xã đã phê vào lý lích của tôi: Gia đình tư sản. Hồi ấy chế độ phê chuẩn, chứng nhận lý lịch của thí sinh nộp đơn thi đại học do xã phê, không cho đương sự biết rồi niêm phong gửi qua đường bưu điện đến phòng tổ chức của trường đại học mà thí sinh dự thi. Nhà trường nhận được lý lịch như vậy thì cũng không chấm bài thi, chỉ căn cứ vào thành phần gia đình tốt, xấu của thí sinh mà xét cho đỗ hoặc trượt như tôi đã kể ở trên. Chế độ thi tuyển sinh viên vào đại học như thế đã kéo dài từ sau hòa bình 1954 không biết đến năm nào… Trường hợp của tôi là do may mắn, nhờ có ông Bẩy Trân đưa tôi vào gặp thấy hiệu phó của mùa thi tuyển năm 1963 trường ĐHSPHN, tôi mới biết chế độ tuyển sinh rùng rợn và rừng rú này. Chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp, đấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mới sinh ra cách tuyển sinh vào các trường đại học man rợ như thế. Nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội từ trước đó. Kể cả thời phong kiến thì nhà nước cũng kén người tài, giỏi, thi đạt bằng cấp cao mới được tuyển dụng vào bộ máy cai trị. Còn thời cộng sản chỉ lựa chọn theo thành phần giai cấp. Chính vì thế mà dưới chế độ cộng sản, tất cả các sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp được phân bổ về công tác tại các cơ quan Đảng, nhà nước đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất. Bởi lẽ cứ thành phần bần cố nông, dân nghèo thành thị thì mới được học đại học. Do vậy lấy đâu ra học sinh giỏi ở những thành phần đó, nếu có thì cũng hãn hữu. Bao nhiêu thanh niên, học sinh thuộc các thành phần khác, dù có giỏi đến đâu cũng bị gạt ra. Có ai chấm bài thi đâu mà chọn người giỏi. Khi vào đại học rồi thì cứ thế yên chí sẽ đỗ ra trường. Đảng đã phân công thành kỹ sư, thành bác sĩ, thành tiến sĩ… Sự dốt nát lại có bằng cấp, có địa vị, đã bao trùm cả xã hội XHCN ở miền Bắc nhiều chục năm như thế. Xã hội bị đẩy lại thời trung cổ. Tôi nhớ thời Pháp thuộc, bố tôi thi diplome bốn năm liền không đỗ. Không đỗ là không đỗ, chẳng có chuyện chạy chọt, xét thành phần gì cả. Ông nội tôi có thừa tiền cũng không thể chạy cho bố tôi đỗ diplome được. Đọc hồi ký của Trần Văn Giàu sau này người ta thấy, nhà ông Giàu là đại điền chủ, nhưng chỉ có ông thông minh sáng dạ nên mới học lên được. Các em ông được gia đình chia ruộng để trở thành địa chủ mà thôi. Nói vậy để thấy, không phải ai cũng có khả năng lao động trí óc, để học hành trở thành người lao động trí óc, thành trí thức. Chế độ thi cử xét thành phần giai cấp để tuyển chọn đã đào tạo ra cả một xã hội đầy rẫy những công chức có bằng cấp nhưng dốt nát để quản lý xã hội ở các lĩnh vực. Sau này vào đại học rồi tôi mới biết, các sinh viên lớp tôi là con em các gia đình bần cố nông, thành phần nòng cốt ở nông thôn, học lực rất yếu nhưng mỗi năm vẫn lên một lớp và vẫn tốt nghiệp ra trường trở thành các thầy cô giáo dậy môn văn ở cấp 3 (sau khi được vô trường, tôi đã chuyển sang học khoa văn). Có thầy cả đời chưa đọc hết một cuốn sách thì làm sao dậy văn cho các em được. Vậy mà các vị trí thức bần cố nông này rất vênh váo, rất tự hào, rất thỏa mãn với địa vị xã hội của mình. Thời bao cấp xưa kia thi thành phần để lấy bằng cấp còn thời kinh tế định hướng XHCN ngày nay thì mua bán, đút lót để lấy bằng là chính chứ không cần kiến thức. Vì thế cả bộ máy đã hoàn thiện sự dốt nát, bộ máy cai trị đó đầy ghét bẩn nên nó không thể vận hành bình thường được. Kẻ dốt nát khi có quyền lại xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ nên chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi. Di hại này của chế độ tuyển chọn trong giáo dục không biết bao giờ mấy tẩy rửa được. Năm ngoái, tôi có ra Hà Nội dự cuộc họp mặt 45 năm ngày ra trường của khóa đại học văn khoa chúng tôi. Sau 45 năm các bạn đồng học của tôi nay đã về hưu. Họ xúng xính trong các bộ comple, cà vạt và tranh nhau lên diễn đàn khoe về sự “thành đạt” của mình, của gia đình mình. Một anh bạn xưa kia học dốt nhất lớp, năm nào cũng phải thi lại, nhưng được chiếu cố thành phần cơ bản nên được tốt nghiệp đã lên khoe mình là hiệu trưởng kiêm bí thư Đảng ủy nhiều năm! Có vị lên khoe học trò của mình bây giờ có đứa làm đến thiếu tướng. Các bạn tôi hoàn toàn thỏa mãn, hã hê với cuộc sống hiện tại. Với họ, có bát cơm nhiều thịt là thiên đường rồi. Về Sài Gòn, tôi đem câu chuyện này kể với một người bạn, anh liền mắng tôi: Cậu mới là một thằng ngu, ở nước ta, thằng học dốt nhất lớp cậu thì sau này làm hiệu trưởng, dốt nhất trường thì sau này làm bộ trưởng và dốt nhất nước thì làm quốc trưởng. Có thế mà cậu cũng không biết, thật là ngu(!) Có lẽ tôi ngu thật rồi! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 25, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/25/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-8/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 9): https://www.minds.com/newsfeed/1019877307838603264?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 7): https://www.minds.com/newsfeed/1019875766543372288?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·