LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 8) Chương Ba – phần 2 Nhưng có ai ngờ, bỗng nhiên số phận lại mỉm cười với tôi. Đó là một buổi trưa hè oi bức, tôi đang ngủ trong buồng thì mẹ tôi đánh thức dậy vì có “chú Bẩy Trân” xuống chơi. “Chú Bẩy Trân” là một nhân vật thật độc đáo, thật đặc biệt nếu như không muốn nói là một nhân vậy “huyền thoại” về những người cộng sản Việt Nam. Sở dĩ tôi viết cuốn hồi ký này vì như tôi đã nói ở phần mở đầu, đời tôi không đáng một xu, không có gì đáng viết cả, nhưng những nhân vật mà tôi biết như “chú Bẩy Trân” thì phải viết lại, không thì “phí đi” như bạn bè khuyên tôi nên viết hồi ký! Câu chuyện về “chú Bẩy Trân” mà tôi phải dừng lại khá lâu này để nói, số là như sau… Khoảng năm 1955 khi mẹ tôi có mở một cửa hàng bán giầy dép ở phố Hàm Long, hàng tháng có cán bộ đến thu thuế. Người đến thu thuế tại cửa hàng của mẹ tôi là một thương binh, cán bộ miền Nam tập kết, tên là Tám Trọng. Anh Tám Trọng sau này là anh rể ruột của tôi. Anh ít nói, một thanh niên trắng trẻo, tính tình hiền hòa. Do đi lại thu thuế nên Tám Trọng quen với chị ruột lớn của tôi là Lê Thị Thuận. Họ quen nhau đến mức thân thiết rồi xin mẹ tôi cho làm đám cưới. Nhưng mẹ tôi nói, tuy anh Tám là người tốt, nhưng cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết đa số có vợ ở trong đó rồi, sau này đất nước thống nhất thì lôi thôi lắm nên bà kiên quyết không đồng ý. Thế rồi mấy hôm sau có một chiếc xe vonga đen đậu đánh xịch ở cửa nhà tôi. Từ trong xe bước ra là một người đàn ông tầm thước, mặc com-lê thắt cà vạt nghiêm chỉnh bước vô nhà xin phép được gặp mẹ tôi. Hồi đó ai đi xe vonga đen là sang lắm, phải là ủy viên trung ương Đảng. Cấp bộ trưởng nhưng không phải là ủy viên trung ương thì đi xe vonga trắng. Phân biệt ngôi thứ rõ ràng qua màu sắc chiếc xe. Người đi xe vonga tự giới thiệu tên là Bẩy Trân, quê ở Cần Giuộc, Long An là cán bộ cao cấp của Đảng hiện công tác ở Bộ Giáo Dục. Ông Bẩy Trân, với tư cách là cán bộ cao cấp của Đảng đảm bảo với mẹ tôi rằng anh Tám Trọng (tức Phạm Văn Trọng) là cháu ông, đã có vợ ở miền Nam nhưng vợ anh Tám đã li dị chồng khi anh Tám bị thương để đi lấy một người chồng khác ở phía bên kia. Ông Bẩy Trân xin đứng ra bảo lãnh cho anh Trọng và nhận anh làm con để đại diện gia đình cử hành đám cưới với chị tôi, ông xin nhận làm sui gia với gia đình tôi. Chẳng biết thực hư thế nào, mẹ tôi vẫn băn khoăn nên nhắn chú Hai tôi đang công tác ở Bộ Công An điều tra hộ. Mẹ tôi là một phụ nữ, như hàng trăm phụ nữ khác ở miền Bắc lúc bấy giờ rất tin tưởng vào cán bộ của nhà nước, nhất là cán bộ cao cấp như em chồng của bà, tức chú Hai tôi. Có câu chuyện khôi hài mà tôi không bao giờ quên được khi người ta nói đến “tính ưu việt” của chế độ XHCN ở Liên Xô. Ngày ấy, Liên Xô là “thiên đường” của loài người như người ta đã tuyên truyền. Có người nói với mẹ tôi rằng, ở Liên Xô phụ nữ đẻ không đau! Mẹ tôi nửa tin nửa ngờ, đợi đến hôm chú Hai tôi về chơi, bà mới đem câu chuyện đó ra hỏi. Hôm đó tôi cũng có mặt và nghe rất rõ câu chuyện. Mẹ tôi nói: Tôi nghe người ta nói ở Liên Xô phụ nữ đẻ không đau có phải không hả chú? Chú Hai tôi chỉ cười rồi hỏi lại: Ai bảo chị thế? Rồi cũng không trả lời gì cả(!) Thì ra chính trị là như thế. Bộ máy tuyên truyền luôn làm ngu dân. Những người dân lương thiện như mẹ tôi không đi đến đâu nên có thể tin ở Liên Xô đẻ không đau! Cũng như sau ngày 30/4 tôi về một nhà dân ở Long Xuyên thấy trong nhà tắm tường đen ngòm toàn vết cháy. Hỏi ra thì bà chủ kể rằng, sắp đến ngày thua trận, chính quyền tuyên truyền rằng Việt Cộng vào sẽ bắt hết con gái, phụ nữ mặc áo dài, sơn móng tay móng chân… nên khi nghe tin Sài Gòn đã thất thủ, gia đình đem hết quần áo đẹp của đàn bà con gái vô nhà tắm rồi tưới xăng đốt nên bây giờ nhà tắm mới đen ngòm như vậy! Đúng là: “Sau mỗi cuộc chiến tranh / Phe nào thắng thì nhân dân đều bại” như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết. Câu chuyện mẹ tôi nhờ chú Hai “điều tra” thì thế này, chỉ mấy ngày sau, chú Hai tôi đi xe com-măng-ga, (xe dành cho sĩ quan cao cấp ngành công an hoặc quân đội) về nhà và cho mẹ tôi hay, đúng ông Bẩy Trân, tức Nguyễn Văn Trân là cán bộ cao cấp rất có uy tín của Đảng, tập kết ra Bắc và sắp tới sẽ giữ những chức vụ quan trọng. Thế là đám cưới chị tôi với anh Tám Trọng được cử hành trọng thể và ông Bẩy Trân mà sau này tôi hay gọi là “chú Bẩy” chính thức là sui gia với bố mẹ tôi. Ngày giỗ, ngày tết tại gia đình tôi bao giờ cũng có ông sui gia Bẩy Trân có mặt. Ông Bẩy Trân xuất hiện trong gia đình tôi như một ánh sáng mới lạ, không phải vì ông là một cán bộ cao cấp, mà vì những hành vi văn hóa của ông khác hẳn với những thứ văn hóa vô sản đang hình thành lúc đó. Ông được mọi người ở cả 2 bên nội ngoại của tôi rất kính trọng. Đặc biệt đối với ông nội tôi mặc dù về mặt vai vế ông chỉ đứng hàng con cháu vì là sui gia với bố mẹ tôi. Lần đầu tiên người cán bộ cộng sản cao cấp này ra mắt ông nội tôi là cử chỉ xin phép được đốt một nén nhang trên bàn thờ tổ tiên của gia đình tôi và cúi lại ba lần. Cử chỉ này làm kinh ngạc mọi người vì tại thời điểm đó đang diễn ra cải cách ruộng đất. Ở khắp nơi trên miền Bắc, người ta đang đập phá đình chùa, tượng phật, tượng thánh bị vặn cổ ném xuống ao. Bàn thờ tổ họ Lê Phú nhà tôi, trừ ông nội tôi, còn bố tôi và các chú ruột không ai thắp nhang và cúi lạy trước vong linh ông bà cả dù đó là những ngày lễ tết hay giỗ chạp. Lúc đó, người ta xem những cử chỉ hành vi này là duy tâm, là lạc hậu, là phong kiến… Từ đó trong mắt ông nội tôi, mẹ tôi và cả tôi nữa, ông Bẩy Trân là một cán bộ cộng sản không giống với thứ văn hóa vô sản lưu manh đang được người ta áp đặt vào xã hội miền Bắc lúc đó. Mỗi lần đến chơi, ông Bẩy Trân được ông nội tôi tiếp đón rất trân trọng. Họ nói chuyện nhau rất lâu, đôi lúc dùng cả tiếng Pháp nữa. Mỗi khi ông Bẩy ra về, ông nội tôi tiễn ra tận cổng… Còn mẹ tôi thì vô cùng cảm động khi những đêm sáng trăng ông sui gia đạp xe ra tận ngoại thành chơi, ngày ấy ngoại thành chưa có điện, ông đã ra tận ruộng rau nơi mẹ tôi đang tưới cây để trò chuyện động viên người phụ nữ thị thành chưa mấy quên với công việc thôn quê nặng nhọc này. Còn đối với tôi thì đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến người cán bộ có cử chỉ văn minh. Đó là lần tôi đi cùng ông Bẩy ra ngoại thành. Trên đường đi ông mua hai gói xôi đậu đen gói trong lá chuối để 2 người ăn sáng. Ăn xong tôi chưa biét vứt lá cuối đi đâu, vì còn đang ngồi trên xe vonga, nhưng ông Bẩy đã lấy nó rồi cuộn với gói lá của ông xong rồi đút vô túi áo đại cán. Về nhà ông lấy bỏ vô thùng rác. Thời gian sau ông đưa cô cháu gái gọi ông là chú ruột và chồng cô đến chơi nhà tôi. Ông giới thiệu người cháu tên là cô Sáu, và chồng là anh Sáu Khải (tức thủ tướng Phan Văn Khải sau này) mới đi học ở Liên Xô về. Anh Sáu Khải người nhỏ nhắn, ít nói. Vợ chồng anh được mẹ tôi rất quý nên hay mời đến dùng cơm trong các dịp giỗ, tết. Có lần ngày 30 tết, mẹ tôi làm cơm cúng ông bà và mời bà con cả họ đến vì nhà tôi là nhà trưởng. Khi mê tôi bóc bánh chưng bày lên mâm, nhưng vì mâm to nên phải bóc hai cái (để mỗi bên một cái), thấy thế anh Sáu góp ý, đại ý là năm ngoài cũng bóc 2 bánh nhưng ít người ăn vì ăn cỗ đã no, năm nay theo ý anh chỉ nên bóc một cái. Mẹ tôi giải thích cái mâm to nên phải bóc 2 cái, vì người ngồi bên này không phải vươn tay với sang phía bên kia. Nếu chỉ bóc một cái có khi người ta lại ngại. Khi anh Sáu lên nhà trên rồi, mẹ tôi mắng tôi. Anh thấy chưa, người ta là người miền Nam, giàu có mà tiết kiệm, còn anh chỉ biết hai tay đút túi vô tích sự! Đối với mẹ tôi (và người Bắc) dân miền Nam là người giàu có hay ít nhất cũng là người sống ở mảnh đất giàu có của đất nước, ra Bắc phải chịu khổ nên phải được chiếu cố… Những tình cảm như thế của đồng bào miền Bắc đối với cán bộ miền Nam ra tập kết thật dễ thương. Vậy mà sau này khi vô Nam sau 1975, mẹ tôi bắt tôi đưa đi thăm những người quen trước tập kết có đến nhà tôi như ông Bẩy Trân, anh Sáu Xích cán bộ công đoàn thành phố, riêng anh Sáu Khải lúc đó là chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tôi định đưa bà đến thăm nhưng bà không đi vì sợ người ta hiểu lầm là mình định nhờ vả gì(!). Thật tình thì Sáu Khải không phải là người đáng phải cẩn thận như thế. Ông là người tử tế. Có lẽ vì cái tính “tiết kiệm” như mẹ tôi từng khen nên khi làm thủ tướng ông không phá phách như những người sau này. Đôi ba lần khi tôi gặp ông trong các hội nghị tại Tp HCM với cương vị thủ tướng, ông tiếp các nhà báo xưng hô đồng chí đàng hoàng, nhưng khi bất chợt nhìn thấy tôi, ông hỏi: Mày dạo này thế nào? Có gặp bà Tám (tức chị tôi, vợ Tám Trọng) luôn không? Cách xưng hô mày-tao như thế với tôi khiến các nhà báo khác ngạc nhiên(!) Năm 2001 tôi qua Paris thăm chú Năm tôi, trước là đại diện thường trú của Thông tấn xã Việt Nam, sau đó định cư chính trị bên đó. Chú Năm tôi hỏi: Chú xem TV thấy thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải rất giống anh Sáu Khải, cán bộ Ủy ban kế hoạch nhà nước xưa vẫn đến nhà mình chơi ở Hà Nội, có phải là Phan Văn Khải bây giờ không? Tôi trả lời là đúng. Chú tôi lại hỏi: Gặp cháu bây giờ anh ấy có hỏi han gì không? Tôi trả lời: Lúc hàn vi cũng như bây giờ quyền cao chức trọng, Sáu Khải vẫn tỏ ra là một người tử tế. Chú tôi nói: Vậy thì có dịp gặp anh ấy, cho chú gửi lời hỏi thăm. Trong một cuộc gặp ông ở hội nghị, tôi có chuyển lời hỏi thăm của chú Nam tôi. Ông Khải cười, nói: Việc mày xin đi Pháp thăm chú, bọn tao biết cả, nhưng ai dám cản mày! (Tôi chắc là ông Sáu Khải nói đùa). Số phận của Sáu Khải thì như thế, nhưng số phận của ông Bẩy Trân sau này thì không ra sao. Tôi sẽ kể về con người “huyền thoại” này vào dịp khác. Lại nói về chuyện tôi thi trượt. Thấy chú Bẩy xuống chơi, mẹ tôi lại đem ngay chuyện tôi thi trượt đại học ra phàn nàn. Ông Bẩy nói ngay: Bảo nó ra đây. Hình như là người trong ngành giáo dục biết chuyện thi cử nên ông bảo tôi: Sáng mai theo tao vào trường ĐHSP. Thế là ngay sáng hôm sau, ông chở tôi bằng cái xe đạp Junior Tiệp Khắc vào trường ở Cầu Giấy. Đến nơi ông bảo tôi đứng ngoài chờ, ông vào gặp thầy Tuất, phó hiệu trưởng kiêm phó bí thư trực của đảng ủy nhà trường. Thầy Tuất vốn là một trí thức Nam Bộ ở châu Âu về hoạt động, cũng như ông Bẩy Trân, thầy có bà vợ người Ý cũng theo chồng về nước. Đứng ngoài cửa, chỉ cách có tấm cót mỏng, tôi nghe rõ tiếng ông Bẩy nói với thầy Tuất: Nhờ anh xem hộ trường hợp thằng con bà sui gia của tôi tên là Lê Phú Khải thi vào khoa Nga văn năm nay vì sao không đỗ? Thầy Tuất trả lời: Để tôi kêu tổ chức mang hồ sơ, lý lịch lên coi. Nói rồi ông quay chiếc điện thoại có số chạy vòng tròn kêu vo..vo.. Một lát sau, có một ngườiđến mang theo bộ hồ sơ của tôi, đựng trong chiếc phong bì to lên trình. Tôi lại nghe rõ tiếng thầy Tuất: Gia đình cháu Khải là thành phần tư sản làm sao mà đỗ được! Tôi nghe thấy thế, lạnh cả người. Lại nghe tiếng ông Bẩy Trân: Thật là bậy! Gia đình nó là cách mạng nòi, chú ruột nó đang là cục trưởng ở Bộ Công An, chị nó cũng là công an, làm sao là tư sản được. Tiếng thầy Tuất bình thản: vậy anh viết cho mấy chữ bảo lãnh đi… Thế là sau mấy phút, chẳng biết ông Bẩy viết cái gì, ngay sáng hôm sau tôi đến gặp tổ chức nhà trường nhận giấy vào lớp. Thật là khôi hài, một ông cán bộ quê ở mãi Cần Giuộc Long An chỉ viết mấy chữ bảo lãnh cho một thanh niên sinh ra và lớn lên ở Hà Nội đã làm thay đổi cả số phận người thanh niên đó. Trên đường ông Bẩy Trân đèo tôi từ Cầu Giấy về, đến giữa được tôi xin ông cho xuống và đến thẳng Bộ Công An ở đường Trần Bình Trọng. Tôi lên thẳng phòng làm việc của chú Hai tôi, lúc đó ông đang là cục trưởng Cục cảnh sát nhân dân và vừa được thủ tướng Phạm Văn Đồng gắn quân hàm thượng tá cảnh sát nhân ngày cảnh sát ra mắt quốc dân, với quân hàm quân hiệu chỉnh tề (1962). Lúc đó chú Hai tôi là người đứng đầu ngành cảnh sát của cả nước, mà chỉ được phong cấp thượng tá chỉ bằng quân hàm của phó trưởng công an quận huyện ngày nay (2012)! Sau khi nghe tôi trình bày rằng, công an xã đã phê lý lịch của tôi là gia đình tư sản nên không được học đại học, khiến tôi phải long đong mất hai năm… Chú Hai tôi hứa sẽ điều tra. Mấy ngày sau, ông xuống nhà tôi và cho hay theo báo cáo của trưởng công an huyện Thanh Trì thì cái lý do nghe thật khôi hài. Người công an quản lý xóm tôi ở thấy ông nội tôi hay nói tiếng Pháp nên đã báo cáo lên công an xã Hoàng Văn Thụ, làng Hoàng Mai rằng gia đình tôi là gia đình tư sản. Từ đó xã đã phê vào lý lích của tôi: Gia đình tư sản. Hồi ấy chế độ phê chuẩn, chứng nhận lý lịch của thí sinh nộp đơn thi đại học do xã phê, không cho đương sự biết rồi niêm phong gửi qua đường bưu điện đến phòng tổ chức của trường đại học mà thí sinh dự thi. Nhà trường nhận được lý lịch như vậy thì cũng không chấm bài thi, chỉ căn cứ vào thành phần gia đình tốt, xấu của thí sinh mà xét cho đỗ hoặc trượt như tôi đã kể ở trên. Chế độ thi tuyển sinh viên vào đại học như thế đã kéo dài từ sau hòa bình 1954 không biết đến năm nào… Trường hợp của tôi là do may mắn, nhờ có ông Bẩy Trân đưa tôi vào gặp thấy hiệu phó của mùa thi tuyển năm 1963 trường ĐHSPHN, tôi mới biết chế độ tuyển sinh rùng rợn và rừng rú này. Chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp, đấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mới sinh ra cách tuyển sinh vào các trường đại học man rợ như thế. Nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội từ trước đó. Kể cả thời phong kiến thì nhà nước cũng kén người tài, giỏi, thi đạt bằng cấp cao mới được tuyển dụng vào bộ máy cai trị. Còn thời cộng sản chỉ lựa chọn theo thành phần giai cấp. Chính vì thế mà dưới chế độ cộng sản, tất cả các sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp được phân bổ về công tác tại các cơ quan Đảng, nhà nước đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất. Bởi lẽ cứ thành phần bần cố nông, dân nghèo thành thị thì mới được học đại học. Do vậy lấy đâu ra học sinh giỏi ở những thành phần đó, nếu có thì cũng hãn hữu. Bao nhiêu thanh niên, học sinh thuộc các thành phần khác, dù có giỏi đến đâu cũng bị gạt ra. Có ai chấm bài thi đâu mà chọn người giỏi. Khi vào đại học rồi thì cứ thế yên chí sẽ đỗ ra trường. Đảng đã phân công thành kỹ sư, thành bác sĩ, thành tiến sĩ… Sự dốt nát lại có bằng cấp, có địa vị, đã bao trùm cả xã hội XHCN ở miền Bắc nhiều chục năm như thế. Xã hội bị đẩy lại thời trung cổ. Tôi nhớ thời Pháp thuộc, bố tôi thi diplome bốn năm liền không đỗ. Không đỗ là không đỗ, chẳng có chuyện chạy chọt, xét thành phần gì cả. Ông nội tôi có thừa tiền cũng không thể chạy cho bố tôi đỗ diplome được. Đọc hồi ký của Trần Văn Giàu sau này người ta thấy, nhà ông Giàu là đại điền chủ, nhưng chỉ có ông thông minh sáng dạ nên mới học lên được. Các em ông được gia đình chia ruộng để trở thành địa chủ mà thôi. Nói vậy để thấy, không phải ai cũng có khả năng lao động trí óc, để học hành trở thành người lao động trí óc, thành trí thức. Chế độ thi cử xét thành phần giai cấp để tuyển chọn đã đào tạo ra cả một xã hội đầy rẫy những công chức có bằng cấp nhưng dốt nát để quản lý xã hội ở các lĩnh vực. Sau này vào đại học rồi tôi mới biết, các sinh viên lớp tôi là con em các gia đình bần cố nông, thành phần nòng cốt ở nông thôn, học lực rất yếu nhưng mỗi năm vẫn lên một lớp và vẫn tốt nghiệp ra trường trở thành các thầy cô giáo dậy môn văn ở cấp 3 (sau khi được vô trường, tôi đã chuyển sang học khoa văn). Có thầy cả đời chưa đọc hết một cuốn sách thì làm sao dậy văn cho các em được. Vậy mà các vị trí thức bần cố nông này rất vênh váo, rất tự hào, rất thỏa mãn với địa vị xã hội của mình. Thời bao cấp xưa kia thi thành phần để lấy bằng cấp còn thời kinh tế định hướng XHCN ngày nay thì mua bán, đút lót để lấy bằng là chính chứ không cần kiến thức. Vì thế cả bộ máy đã hoàn thiện sự dốt nát, bộ máy cai trị đó đầy ghét bẩn nên nó không thể vận hành bình thường được. Kẻ dốt nát khi có quyền lại xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ nên chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi. Di hại này của chế độ tuyển chọn trong giáo dục không biết bao giờ mấy tẩy rửa được. Năm ngoái, tôi có ra Hà Nội dự cuộc họp mặt 45 năm ngày ra trường của khóa đại học văn khoa chúng tôi. Sau 45 năm các bạn đồng học của tôi nay đã về hưu. Họ xúng xính trong các bộ comple, cà vạt và tranh nhau lên diễn đàn khoe về sự “thành đạt” của mình, của gia đình mình. Một anh bạn xưa kia học dốt nhất lớp, năm nào cũng phải thi lại, nhưng được chiếu cố thành phần cơ bản nên được tốt nghiệp đã lên khoe mình là hiệu trưởng kiêm bí thư Đảng ủy nhiều năm! Có vị lên khoe học trò của mình bây giờ có đứa làm đến thiếu tướng. Các bạn tôi hoàn toàn thỏa mãn, hã hê với cuộc sống hiện tại. Với họ, có bát cơm nhiều thịt là thiên đường rồi. Về Sài Gòn, tôi đem câu chuyện này kể với một người bạn, anh liền mắng tôi: Cậu mới là một thằng ngu, ở nước ta, thằng học dốt nhất lớp cậu thì sau này làm hiệu trưởng, dốt nhất trường thì sau này làm bộ trưởng và dốt nhất nước thì làm quốc trưởng. Có thế mà cậu cũng không biết, thật là ngu(!) Có lẽ tôi ngu thật rồi! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 25, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/25/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-8/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 9): https://www.minds.com/newsfeed/1019877307838603264?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 7): https://www.minds.com/newsfeed/1019875766543372288?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 7) Chương Ba Hai lần thi trượt nhưng số phận vẫn mỉm cười với tôi Câu chuyện hai lần thi trượt của tôi không biết gọi nó là chuyện bi hay hài. Nhưng chắc chắn nó là một thứ tư liệu, một chuyện có thật về chế độ thi cử hay nói khác đi là cả nền giáo dục ấu trĩ, xem nặng tính giai cấp của chế độ cộng sản ở miền Bắc. Di hại của nó không biết đến bao giờ mới hết. Đương nhiên là nó còn kéo dài cho đến tận hôm nay khi chế độ cộng sản vẫn ngự trị trên đất nước đau khổ này. Nhưng tôi muốn để ít phút nói về những năm tháng êm đềm của tuổi trẻ trong những năm sống ở cái làng Hoàng Mai thơ mộng ngày đó, trước khi kể chuyện thi trượt. Theo lời khuyên của chú Hai tôi, tức tướng Lê Hữu Qua sau này, ông nội tôi phải bán ngôi nhà ở phố Hàm Long nơi gia đình tôi đang ở, để về mua một căn nhà có vườn ở làng Hoàng Mai, thuộc xã Hoàng Văn Thụ, huyện Thanh Trì phía nam Hà Nội. Làng Hoàng Mai tiếp giáp với nội thành chỉ cách chợ Mơ đường chim bay hơn 1km. Ông bà nội tôi ở bãi Phúc Xá giữa sông Hồng cũng dọn về ở với gia đình tôi. Có lẽ thời gian này là những năm tháng tuổi trẻ êm đềm trong cuộc đời của tôi. Khi về Hoàng Mai ở là đầu năm 1958, lúc đó tôi bắt đầu lên cấp 3. Làng Hoàng Mai là một làng giàu có, 100% là nhà ngói nhà nào cũng có vườn rộng, cây cao bóng cả, nhiều nhà có ao. Xen kẽ những ngôi nhà sang trọng đó là những ruộng bắp cải, su hào, súp lơ, cà chau… cung cấp rau tươi cho nội thành. Làng có đến 8 cái giếng xây, mỗi giếng có đường kính gần chục mét. Giếng thả bèo tổ ong nên nước trong veo. Những con đường lát gạch quanh co, hai bên là vườn rau xanh ngắt, là ao hồ mênh mông tạo nên phong cảnh rất nên thơ. Có một số dân làng là những nhà giàu ở Hà Nội, làm công chức, chủ nhật cuối tuần mới về làng nghỉ ngơi nên có nhà vắng hoe cửa đóng then cài, không gian u tịch. Làng có hai thôn, thông Đông và thôn Đoài. Người ta kể rằng xưa kia Nguyễn Bính viết: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người” Là viết ở làng Hoàng Mai này. Trong làng có ngôi chùa nổi tiếng khắp Hà Nội thời đó là chùa Hưng Ký do một nhà giàu xây nên. Về kiến trúc, hầu hết các nhà trong làng đều là nhà gỗ lợp ngói ta và nhà nào cũng khá to. Thậm chí có nhà còn to hơn cả cái đình ở làng quê nghèo khác. Nhà tôi mua lại là của một nhà tư sản nổi tiếng là ông Nguyễn Tiến Tòng. Ông này trong đợt cải tạo tư sản có chân trong Hội công thương gia Hà Nội, một thứ trò bịp bợm của chính quyền cộng sản. Ông Tòng sống ở Hà Nội, căn nhà của ông ở Hoàng Mai để hoang, cho một ông thợ dệt ở nhờ trông nhà. Ngôi nhà thuộc loại hoành tráng nhất nhì trong làng, rộng gần 2000 m2. Trước nhà có ao rộng. Nhà gỗ. Cột kèo trạm trổ như đình chùa. Nóc phía trong nhà có dòng chữ nho, ông nội tôi đọc là: “Bảo Đại thất niên” rồi giải thích nhà được hoàn thành vào lúc vua Bảo Đại ở ngôi được 7 năm. Ấn tượng nhất của khách đến chơi nhà là bộ cột nhà bằng gỗ xoan rừng, sáng trắng. Trong khi các nhà khác thường được làm bằng gỗ lim màu đen nên thường tối. Cho đến bây giờ, gần 50 năm sau, kì tôi ra Hà Nội họp mặt kỷ niệm 45 năm ngày ra trường, bạn bè cùng lớp còn nhắc đến kỷ niệm ngày xưa. Thời đó, vào các chủ nhật nhà tôi thường có các bạn sinh viên nhà ở các tỉnh về thủ đô học không có gia đình họ hàng nên thường nhảy tàu điện từ Cầu Giấy xuống Bờ Hồ rồi từ đây đi chợ Mơ xuống nhà tôi chơi. Cả lũ tắm lội trong ao rồi mò cua, mò ốc, hái rau trong vườn nấu mì ăn xì xụp. Những năm tháng vô tư! Tôi có xe đạp nên tuần nào cũng về nhà, lúc đi học bao giờ cũng có đồ ăn mang theo, lúc thì lọ muối vừng (miền Nam kêu là muối mè), lúc thì lọ bột ngọt (miền Bắc gọi là mì chính). Nhà có ao rộng nên tôi câu cá rất giỏi. Biết con cá gì ăn mồi gì. Nhìn phao nhấp nháy biết con cá gì đang cắn câu. Nhìn thời tiết biết hôm nay sẽ câu được cá gì. Tôi có đủ “vốn sống” để viết một phóng sự trường thiên về nghệ thuật câu cá. Chỉ xin kể bắt hai loại cá tự nhiên, không phải nuôi thả là cá rô và cá quả (miền Nam gọi là cá lóc) … rất ấn tượng. Khi mùa xuân chấm dứt, hoa gạo đỏ chói báo hiệu mùa hè đã tới. Trận mưa rào đầu hạ là lúc những con cá rô dưới ao đua nhau rạch ngược lên bờ. Mưa càng to thì cá rô rạch ngược càng nhiều. Những lúc đó tôi chỉ việc cầm cái rổ thật to chạy xung quanh bờ ao mà nhặt cá rô. Vì cá rô có vây nhọn sắc như dao nên tôi phải chuẩn bị sẵn một cái tất tay bảo hộ lao động khá dầy để vồ cá. Một cơn mưa đầu mùa như thế tôi có thể bắt được cả rổ cá rô to, chứa vào thùng nước để ăn dần cả tuần lễ. Món canh cải cá rô mẹ tôi nấu thì tuyệt vời. Những con cá rô béo vàng được bà đánh vẩy, mổ bụng, rửa sạch rồi cho vào nồi luộc chính vớt ra. Sau khi gỡ lấy thịt, bộ xương và đầu cá không bỏ đi mà dùng chảy giã đập ra sau đó chắt lấy nước ngọt vài ba lần rồi đun sôi mới cho rau cải vào. Nồi canh cá ngon ngọt chính là nhờ nước chắt ra từ bát xương này. Giống cá rô, xương của nó rất thơm và ngọt. Khi bỏ rau cải thái nhỏ vào nồi là bắc ra ngay. Rau vẫn xanh và không bị nhừ. Thêm một vài lát gừng thì mùi thơm bốc lên ngào ngạt. Chỉ cần chục con cá rô là mẹ tôi có nồi canh cải ngon cho cả nhà. Đến cuối mùa thu, chớm đông, trời tối sớm các ao trong làng bắt đầu cạn, sương giăng mờ mặt ao vào chập tối là lúc những con cá quả đớp mồi tùm tụp dưới ao. Ở ngoài Bắc, nhà nào có ao trong vườn thì cảm nhận về thời tiết, thiên nhiên rất rõ rệt. Cụ Yên Đỗ Nguyễn Khuyến ngày xưa để lại những bài Thu điếu, Thu vịnh bất hủ đầu lấy cảm xúc từ cái ao nên thơ ông có hình cái ao trong đó. Các bạn trong làng đã dạy tôi các bắt cá quả vô cùng thú vị và hiệu nghiệm. Thời gian phải là độ cuối thu, khi nước rút xuống, con cá quả đã đủ lớn sau cả mùa hè và mùa thu. Giống cá quả chỉ đớp mồi sống, đó là những con cá đòng đong, con săn sắt, con ếch, con nhái… Tôi chuẩn bị sẵn cho mùa bắt cá quả chừng 10 cái cần câu cắm. Mỗi cái dài chừng 40cm. Đầu cần câu phải mềm (làm từ cật tre). Trên đầu cầu buộc một sợi dây cước bằng nylon dài hai gang tay. Lưỡi câu buộc cuối sợi cước. Móc con mồi vào lưỡi câu. Cách móc con cá làm mồi là cả một nghệ thuật. Phải móc vào phần thịt ở lưng con cá để nó có thể bơi trong nước mà không chết. Sau khi móc mồi rồi thì cắm cần vào bờ ao, nghiên 45 độ. Phải điều chỉnh cái cần để con mồi chìm khỏi mặt nước nhưng không chìm sâu. Com mồi bơi thành một vòng làm mặt nước rung động. Con cá quả chỉ ăn mồi sống nên khi nó thấy nước động sẽ lao lên đớp mồi! Có lần tôi vừa cắm cần xong, chưa kịp vô nhà lên giường ngủ thì đã thấy con cá quả bị mắc câu quẫy nước đùng đùng… Có khi nửa đêm khi cá cá quẫy là tôi ra ao bắt cá. Bắt cá quả có hai cái lợi. Một là có cá ăn, hai là diệt được loài cá dữ trong ao vì nó ăn cá giống do chủ ao thả để nuôi như trôi, chép, trắm cỏ… Ngôi nhà vốn thuộc chủ trước là nhà tư sản rất giàu nên có lần tổng đốc Vi Văn Định có về đây chơi. Chuyến đi của ông có lính gác theo hầu. Đến thời gia đình tôi về ở, cũng có các quan lớn đến nhà. Đó là ngày bà nội tôi mất, vì bà có hai con trai đều là chef (sếp) lớn của Bộ Công An, nên có bộ trưởng Trần Quốc Hoàn về viếng, có công an đứng gác nên những người duy tâm kháo nhau là nhà “được hướng”, nhờ có thầy địa lý xem cho nên thời nào cũng thịnh vượng! Tôi đã sống những năm êm đềm thời đi học cấp 3 tại căn nhà “được hướng” đó cho đến khi tốt nghiệp phổ thông 1961 và thi trượt đại học sau đó. Câu chuyện hai lần thi trượt vào đại học của tôi là một sự thật chua chát đối với cá nhân tôi và là bản án tố cáo chế độ thi cử, tuyển chọn sinh viên (cán bộ tương lai) của chế độ cộng sản, tạo ra di hại lâu dài cho đất nước… Trong ba năm học học cấp 3 ở trường phổ thông 3B đường Lý Thường Kiệt Hà Nội tôi đều là học sinh giỏi văn của lớp. Năm cuối cùng, lớp 10C của tôi chỉ có hai người tổng kết môn văn đạt điểm tối đa là 5, điểm theo bậc của Liên Xô ngày ấy là 5 bậc (5/5). Nhưng chỉ có mình tôi là được giải thưởng môn văn của cả trường. Với năng khiếu đó, tôi quyết định thi vào khoa văn trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Hồi đó, Đại Học Sư Phạm bị xếp vào bảng cuối của sự lựa chọn đại học trên đất Bắc. Bởi thế trong xã hội lưu truyền câu ca: Nhất y nhì dược, tạm được bách khoa, sư phạm bỏ qua…” Có nghĩa là trường Y có giá nhất và khó thi vào nhất, và hạng chót là sư phạm. Còn có câu “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm”. Tôi đã chọn trường dễ thi và chọn khoa văn là khoa tôi có thế mạnh về học lực nhất. Vậy mà tôi lại trượt. Đau khổ vô cùng. Tuổi 19 bước vào đời với bao mơ ước, khát vọng được là một sinh viên, tiếp tục ăn học để có kiến thức, có vốn liếng để tồn tại lâu dài… đã sụp đổ. Nhưng tôi lấy làm lạ, tại làng Hoàng Mai hồi đó, có rất nhiều bạn tôi học môn văn chỉ được điểm tổng kết 3, thậm chí còn nói ngọng mà vẫn đỗ vào khoa văn ĐHSP(!) Tôi buồn chán vô cùng rồi cứ tự hỏi không biết vì lý do gì mà không đỗ. Tôi nhớ lại bài thi quá dễ so với học lực của tôi. Tôi đã làm bài một cách trơn tru trong khi bên cạnh nhiều thí sinh ngồi cắn bút. Khi biết kết quả, tôi buồn và xấu hổ không dám nhìn mặt ai. Cả thời gian dài suốt ngày nằm trong buồng đóng cửa, ngủ rồi thức, thức rồi ngủ. mẹ tôi an ủi: Vì anh không phải là đoàn viên (đoàn viên thanh niên lao động) nên người ta không cho đỗ! Tôi cũng tin là thế. Tôi vật vờ với tháng ngày ăn không ngồi rồi, thơ thẩn một mình ngoài vườn với nỗi buồn thi trượt. Tôi ngồi suốt ngày câu cá trong ao, nhưng có lúc cá cắn câu cũng không buồn giựt. Tôi nhớ đến những câu thơ thi trượt của Tú Xương xưa kia sao mà giống với tâm trạng của tôi lúc đó: “Đau quá đòn ghen, rát hơn phải bỏng Hổ bút hổ nghiên, tủi lều tủi chõng Thi không ăn ớt thế mà cay…” Tôi định bụng sẽ ôn tập lại chờ đến năm sau thi lại nhưng không lẽ là thanh niên 19 tuổi lại ngồi không ăn bám gia đình, trong lúc kinh tế lúc đó rất eo hẹp. Tình cảnh gia đình tôi thì ông bà đã quá 80, bố tôi thì thất nghiệp, tất cả trông vào hai bàn tay của mẹ tôi, một người quen buôn bán ở thành thị, nay về làm nông vì “chế độ ta không có buôn bán” như lời chú Hai tôi. Bà làm vườn, nuôi cá, bòn vườn đi chợ bán để nuôi sống gia đình. Cũng phải nói thêm là ông nội tôi trước đây là nhân viên của Phủ Toàn Quyền. Khi về Hà Nội nhận được thông báo của chính phủ Pháp cho những ai là công chức cũ dù đi kháng chiến nếu xuống Hải Phòng (nơi tập kết của quân Pháp và chính phủ Bảo Đại trong vòng 100 ngày để vào Nam theo hiệp định Geneva 1954) thì Pháp vẫn trả đủ 8 năm lương hưu trí. Ông nội tôi lương rất cao, nếu nhận số lương đó thì cụ sống rất khỏe cho những năm sau này nhưng cụ nói. Nước đã độc lập rồi, cho dù ăn cháo cũng sướng. (Nên cụ không xuống Hải Phòng lãnh 8 năm lương hưu). Cũng chính tình cảnh gia đình tôi lúc đó như thế nên đại gia đình phải họp lại để phân công các con đóng góp nuôi các cụ. Cuộc họp đi đến thống nhất, chú Hai tôi là cán bộ cao cấp nên hàng tháng phải góp 30 đồng (thời điểm những năm 60). Chú Ba tôi cũng là cán bộ cao cấp (cấp vụ) nhưng đông con vợ lại không làm nhà nước, không có sổ mua lương thực nên được miễn. Chú Tư tôi cán bộ nhì nhằng, lương thấp nên cũng được miễn. Chú Năm tôi là nhà báo công tác thường trú ở nước ngoài, và là cán bộ cấp vụ nên phải góp 30 đồng. Bố mẹ tôi là con trưởng, có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ với số tiền đóng góp đó. Nhưung thực tế chỉ nhận được 50 đồng vì chú Năm tôi nghĩ ra cái “mẹo” là trong lúc họp ông xướng lên là sẽ đóng 30 đồng, để làm mức chuẩn. Thế là chú Hai phải đóng 30 đồng (còn ông thực tế chỉ đóng 20 đồng vì lương cũng không cao lắm). Việc này chỉ có mẹ tôi và tôi biết vì hàng tháng tôi là người đi nhận tiền của hai người chú. Với 50 đồng hơn lương giáo viên cấp 2 thời đó là 45 đồng, thêm hoa màu vườn rau ao cá, nên ông bà nội tôi sống cũng tạm ổn. Cái nhiệm vụ đi lĩnh tiền hàng tháng đã ngày càng gắn kết chú Hai với tôi. Đó là dịp tôi được nghe những câu chuyện “thâm cung bí sử” của triều đình cộng sản Việt Nam do ông vui miệng kể ra những lúc vui buồn. Thực ra ngày đó tôi không có ý thức khai thác những câu chuyện ấy, chỉ biết nghe và bây giờ hệ thống lại thấy nó “hay” vô cùng. Vì thế mới có chương “Những chuyện kể của tướng Qua” trong hồi ký này mà tôi sẽ viết ở phần sau. Lại nói về chuyện thi trượt. Sau nhiều tháng ăn không ngồi rồi, buồn chán đến tột độ. Cái buồn của tuổi 19-20 của một đời người nó dữ dội ghê gớm lắm. Đại thi hào của nước Hung, Pê-tô-phi đã để lại những câu thơ bất hủ cho nhân loại từ nỗi buồn xung thiên đó ở tuổi 20: “Tôi không cha không mẹ Không thượng đế quê hương Không nôi không vải liệm Không người yêu tình thương Tuổi hai mươi tôi đó Tôi muốn bán đi thôi Nếu chẳng ai mua quỷ ma sẽ lấy Tôi giết người thật đấy Các người treo cổ tôi Từ dưới đáy vực sâu Cỏ mọc lên tốt tươi!” Tôi đâu phải thiên tài để biến những nỗi buồn của mình thành những vần thơ bất hủ. Tôi chỉ biết gậm nhấm nỗi buồn của mình thành những mụn rách không biết chắp vá vào đâu… Thế rồi một hôm, người anh rể thứ hai của tôi là một đại úy đã dẫn tôi sang một trường sĩ quan của quân đội, là trường hậu cần ở bờ nam sông Đuống cách cầu Long Biên bên phía bắc sông Hồng chừng ba, bốn cây số. Ngôi trường toàn nhà lá nhưng rất rộng và thoáng mát giữa một vùng nông thôn yên ả. Ngôi trường ngày ấy bây giờ là Học viện hậu cần được xây cất rất hoành tráng. Tôi được nhận vào làm giáo viên dậy cấp 2 cho các học viên sĩ quan hậu cần. Khóa học bổ túc văn hóa hết lớp 7 trước khi vào học chuyên môn các ngành của hậu cần quân đội. Hồi đó (1961) trình độ văn hóa hết lớp 10 còn hiếm lắm. Các học viên được đi học sĩ quan là những quân nhân trẻ, chỉ có trình độ cấp 1 nên phải học bổ túc văn hóa đến hết cấp 2. Trường có hàng ngàn học viên. Giáo viên quân sự đa số là cấp úy, chỉ có một sĩ quan thiếu là và vị hiệu trưởng là trung tá, chính ủy nhà trường là một thượng tá. Chủ nhiệm khoa văn hóa của tôi là thượng úy Phạm Khắc Quán, một trí thức con nhà dòng dõi trâm anh thế phiệt. Để được nhận vào dạy học tại trường sĩ quan hậu cần này, ông anh rể của tôi phải nhờ người anh ruột, tên là bác Lưu, cũng cấp đại úy và hiện đang giảng dạy quân sự hậu cầu tại trường làm giấy bảo lãnh cho tôi. Với “Lời Mẹ Dặn”: Anh phải vào đoàn, là một đoàn viên thì mới hy vọng được vô đại học. Vì thế tôi chỉ lấy công việc dậy văn hóa ở đây làm cái bàn đạp để vào đoàn rồi tiếp tục đi thi đại học. Tôi mất hơn một năm dạy học tại đây và công việc phấn đấu vào đoàn thanh niên lao động của tôi thật là một màn hài kịch chưa từng có. Chuyện thế này, kỷ luật của trường sĩ quan rất nghiêm ngặt. Mọi sinh hoạt đầu có kỷ luật. Từ 5 giờ sáng cho đến 9 giờ tối trước khi kẻng lên giường ngủ, nhất động nhất cử đều theo hiệu lệnh. Kể cả đi ăn cơm cũng phải xếp hàng theo tiểu đội. Đi đều 1-2, bát cầm tay phải, đũa cầm tay trái. trước khi vào nhà ăn phải nhúng bát, nhúng đũa vào chiếc chảo nước đang sôi sùng sục. Vì là trường hậu cần trong đó có việc nuôi quân, nấu ăn… nên việc làm bếp được coi trọng. Các chị nuôi (người nấu bếp) mặc áo vải phin trắng. Trước giờ ăn bao giờ cũng phi một chảo mỡ hành thật thơm, không dùng xào nấu gì cả nhưng cứ làm thế để kích thích tiêu hóa. Các học viên kể cả sĩ quan ăn cũng rất bài bản. Phòng ăn hàng trăm người, khi gắp thức ăn phải giở đầu đũa cho vệ sinh và tuyệt đối không được nói chuyện. Vì thế mặc dù cả trăm con người nhưng phòng ăn im phăng phắc chỉ nghe tiếng nhai cơm rào rào. Phải công nhận là quân đội ngày ấy kỷ luật rất cao. Tôi lại đang phấn đấu vào đoàn nên chấp hành kỷ luật một cách tuyệt đối. Thậm chí còn hơn cả các sĩ quan quân đội cùng khoa văn hóa. Còn nhớ, có hai chuyện nực cười thế này. Một, sáng dậy tập thể dục đúng giờ. Trời rét như cắt ruột nhưng hể nghe tiếng kẻng là mọi người phải dậy tập thể dục theo nhịp điệu của đài tiếng nói Việt Nam do nhà trường tiếp âm bằng một hệ thống loa cực mạnh. Sau đó xếp hàng chạy đều theo đơn vị trung đội lên bờ đê sông Đuống, chạy hàng cây số, lúc về đi đều và hát bài “vừng đông đã hừng sáng…” Ngày ấy, tối nào cũng vậy, tôi đợi cho mọi người đi ngủ hết, rồi mặc quần áo, đi giày sẵn mới vô giường đắp chăn ngủ. Vì thế mà đến sáng, mới nghe tiếng kẻng là tôi đã nhảy ra sân đứng sẵn chờ mọi người còn đang mặc quần áo, đi giầy. Nhờ đó mà dĩ nhiên tôi được điểm cao và được khen ngợi vì thủ đoạn này. Nhưng việc bốc cứt trồng rau mới là việc khôi hài nhất. Ngày ấy nhà trường đề ra phải tăng gia sản xuất sau giờ hành chính để cải thiện bữa ăn. Đất bên ngoài nhà trường dọc theo sông Đuống thì mênh mông. Hết giờ làm việc, mọi người chơi thể thao đàn hát… còn tôi thì cố phân đấu nên chui vào nhà xí (nhà vệ sinh công cộng của trường) để hót cứt, ủ hoai làm phân bón rau. Hồi đó chưa có hố xí tự hoại nên phân tươi thối nhức mũi, đúng như câu thơ của Phùng Cung “cứt nguyện thối đến hết mình cho người đời khỏi ngộ nhận”. Nhờ chăm bón phân, vườn rau của tôi tươi tốt lạ thường. Ai nấy cũng phải khen. Mồi lần trưởng khoa văn hóa còn tuyên dương tinh thần tăng gia sản xuất của tôi trong buổi họp. Nhưng vì chiều nào cũng chui vào hố xí bới cứt nên quần áo, người ngợm tôi hôi thối đến nỗi không ai dám đứng gần. Thậm chí đến bữa ăn không ai dám ngồi cạnh tôi. Vì thế có người đã nói (sau này đến tai tôi) là nếu không mau mau kết nạp thằng Khải vào đoàn mà cứ để cho nó bới cứt thế này thì thối hoắc cả khoa văn hóa! Đã thế tôi càng chăm chui vào hố xí để ai thấy tôi cũng phải bịt mũi. Màn hài kịch bới cứt trồng rau tăng gia sản xuất đã mau chóng đưa tôi vào đoàn. Với chiếc huy hiệu đoàn có in hình cánh tay cầm cờ… tôi đã đeo trên ngực về nhà để báo cáo thành tích với mẹ tôi. Sau đó tôi xin nghỉ dậy văn hóa ở trường hậu cần để ôn thi đại học. Mùa thi đại học năm 1963, tức hai năm sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi lại đệ đơn thi vào trường ĐHSPHN. Lần này tôi đăng ký thi vào khoa Nga, vì khoa văn, khoa toán là khó nhất. Lý do, đó là hai bộ môn chính có giá nhất để giảng dạy ở trường cấp 3. Còn các môn khác, trong đó có môn ngoại ngữ Nga văn chỉ là môn phụ. Đó là tôi nghĩ như vậy vì nỗi sợ thi trượt nó cứ ám ảnh từ hai năm trước. Nhưng kết quả là tôi vẫn trượt, trước sự ngạc nhiên của gia đình, bạn bè, dòng họ. Mẹ tôi thương tôi vô cùng. Vì theo bà, tôi đã là đoàn viên rồi thì tại sao lại không đỗ. Công sức phấn đấu vào đoàn của tôi hoàn toàn vô ích. Tôi sụp đổ hoàn toàn. Người gầy gộc đi. Suốt ngày đóng cửa phòng nằm yêu như người đã chết. Chú Hai tôi thấy thế định xin cho tôi lên khu gang thép Thái Nguyên làm trong guồng máy an ninh do một người bạn của ông được Bộ Công An phân công lên nằm trong Ban lãnh đạo của khu gang thép, nhưng là người của ngành Công An cài vào. Đó là cách tổ chức nắm nhân sự của chính quyền cộng sản đối với tất cả mọi ngành nghề. Tôi biết rõ thực chất công việc mà tôi phải nhận là làm “gián điệp” đi theo dõi mọi người sau đó báo cáo lại, trong khi tôi chưa tốt nghiệp đại học, chưa có nghề ngỗng gì cả, vì thế tôi không đi. (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 22, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/22/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-7/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 8): https://www.minds.com/newsfeed/1019876544374611968?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 6): https://www.minds.com/newsfeed/1019875169964105728?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 6) Chương Hai – phần 3 Đó là truyện của các ông bà buôn bán lớn, được gọi là tiểu chủ, tư sản thời đó. Còn đối với người buôn bán nhỏ, được gọi là tầng lớp tiểu thương như mẹ tôi cũng bị bạc đãi không kém. Trước 1945 mẹ tôi có một cửa hàng bán thực phẩm khô, lúc đó quen gọi theo tiếng Pháp là magasin d’alimentation như đường sữa, phô mai, bơ, bánh kẹo, rượu, hồ tiêu, gạo tám thơm… Bọn tây đầm ở khu Đồn Thủy bờ sông thường qua lại mua hàng của mẹ tôi. Mẹ tôi không biết nói tiếng Tây, nên ông bố tôi ngồi sau màn gió phiên dịch cho bà. Ông bố tôi nói tiếng Tây giọng Việt nên bọn tây đầm kháo nhau là con mẹ Việt Nam này có chồng là tây đảo Corse nên kéo nhau đến mua rất đông. Nhưng chủ yếu là mẹ tôi cân đúng và cân đủ. Sau này, những lúc nhàn rỗi, mẹ tôi thường kể rằng các me đầm khi mua hàng về nhà nó đều cân lại. Vì thế khi cân 1kg đường, cân chỉ đúng lượng rồi nhưng mẹ tôi vẫn cho thêm một thìa nữa nên khi về nhà, con đầm cân lại nó thấy tươi nên kéo nhau đến mua ngày càng đông. Vì thế cửa hiệu của mẹ tôi ở số 3B Hàm Long nhỏ nên có lúc tây đầm đến mua đông quá phải xếp hàng. Trong khi đó, cửa hiệu của tay người Hoa ở số 1 ngay đầu phố, kế sát nhà tôi lại vắng khách. Người chủ Hoa kiều nghi là mẹ tôi bán phá giá, cho người đi rình, nhưng không phát hiện ra điều gì. Khi Nhật vào Đông Dương, bọn tây rã đám, hoảng hốt, chúng đem cả lựu đạn và súng đến bán cho mẹ tôi. Theo yêu cầu của chú tôi, tức tướng Lê Hữu Qua sau này, lúc đó hoạt động bí mật, mẹ tôi cũng mua tất. Những thứ đó được giấu kỹ, rồi các ông Việt Minh đếm đem theo những ống tre to, bửa đôi ra, dấu lựu đạn và súng lục vào đó rồi buộc giả lại làm củi, chở đi từ cửa sau nhà tôi ra phố Lê Văn Hưu. Kế sát nhà tôi là nhà số 5, tiếp đó là 5A, 5B… và nhà số 5D chính là nhà lưu niệm của Đảng cộng sản bây giờ. Sở dĩ căn nhà cố 5D phố Hàm Long này được chọn làm nơi họp kính của chi bộ ĐCS vì nó có cửa sau ăn thông với ngõ Lê Văn Hưu, nơi tập trung nhiều dân lao động nghèo. Nếu có động, họ sẽ rút lui phía sau chạy trà trộn vào khu lao động này. Bọn tây khi đến mua hàng của mẹ tôi chúng đều nói tiếng Pháp. Nhưng khi Nhật qua, chúng hoảng hốt nên nhiều khi xổ ra tiếng Việt. Có lần nó chỉ tay lên giá hàng bảo mẹ tôi bán cho cái lọ kia. Mê tôi cầm nhầm một cái chai cạnh đó. Nó hét lên: cái lọ bé hơn chái chai, mày hiểu chưa! Thì ra những thằng thực dân này, khi sang Việt Nam làm công việc cai trị chúng đều học tiếng Việt rất bài bản. Nhưng tuyệt đối không nói, chỉ nghe mà thôi. Khi vội vàng nó mới xổ ra tiếng Việt. Mẹ tôi còn cho biết trước khi mãn hạn về Pháp, tây đầm thường đến cửa hàng của bà mua một vài kg gạo tám thơm và ít hồ tiêu về nước. Khi xảy ra toàn quốc kháng chiến, mẹ tôi đã bỏ cả gian hàng đầy ắp hàng hóa đó để đi theo ông nội, bà nội tôi tản cư lên Chí Chủ, Phú Thọ kháng chiến. Đến 1950, vì mang bầu đứa em gái tôi nên mẹ tôi mới hồi cư về Hà Nội tiếp tục buôn bán. Khi cải tạo tư sản sau 1954, mẹ tôi đang làm chủ cái cửa hàng nhỏ buôn bán tại gia, thì chú tôi bảo: Chế độ mới của ta không có buôn bán, nên chị chuyển hướng làm ăn đi. Thế là phải bán căn nhà phố Hàm Long. Đầu năm 1958 cả gia đình tôi dọn về làng Hoàng Mai, thuộc huyện Thanh Trì. Căn nhà mới mua này có gần 2000 mét vuông đất, có ao hồ để trồng rau, nuôi cá. Từ một người buôn bán, mẹ tôi trở thành người nông dân bất đắc dĩ. Quen buôn bán ở thành phố, khi về nông thôn sống mẹ tôi đã phải lao động rất vất vả khi tuổi đã lớn. Thời kỳ đó buôn bán bị triệt tiêu trên khắp miền Bắc từ thành thị đến nông thôn. Bây giờ ngồi nghĩ lại mới thấy chế độ cộng sản thật điên rồ. Một quái thai của loài người. Thứ chế độ đưa xã hội đã phát triển có sự phân công lao động, có buôn bán giao thông văn minh trở về thời kỳ ăn lông ở lỗ… Tôi có bà thím, vợ người chú thứ ba, quê ở Chí Chủ, Phú Thọ nơi đại gia đình tôi đi tản cư kháng chiến như đã kể trên đây. Bà là người đảm đang, thuộc nhiều ca dao tục ngữ, có khí phách kiên cường. Bà giỏi buôn bán hai mặt hàng là chè và sơn. Phú Thọ là đất “rừng cọ đồi chè” và rừng sơn, một loại cây cho nhựa để làm sơn như cây cao su. Trong kháng chiến bà vẫn ngược xuôi buôn bán nuôi cả gia đình đông con để ông chú tôi đi kháng chiến. Hòa bình lập lại 1954, bà theo chồng về Hà Nội. Bà tự tay thuê mướn, chặt đốn và đóng cả một bè tre nứa, gỗ, rồi cưỡi bè xuôi sông Hồng về đến bãi Phúc Xá Hà Nội là quê chồng để dựng nhà. Nếu được tiếp tục tự do buôn bán sau khi đất nước có hòa bình thì người phụ nữ có chí, có gan như bà giàu có biết chừng nào. Nhưng cộng sản đã triệt hạ buôn bán, chồng bà lại là cán bộ cao cấp ngành công an nên bà đành phải ở nhà túc thủ. Chú tôi xin cho vợ vào làm tạp vụ trong cơ quan Bộ Công An. Được ít bữa bà thấy phát ngán cái thứ cán bộ, công nhân viên hàng ngày thì lãn công nhưng đến cuối năm thì lại tranh nhau “lao động tiên tiến”. Bà bỏ cơ quan, về nhà bên bãi Phúc Xá trồng cây, nuôi lợn. Hàng ngày bà phải đi qua cầu Long Biên gánh nước gạo về nuôi lợn. Đi về hàng chục cây số rất nặng nhọc. Thấy vợ một ông cán bộ cao cấp mà phải lao động quá vất vả như thế (vì làm tự do không được cấp sổ mua gạo) ai cũng ái ngại cho bà. Nhưng bà tuyên bố: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Đó là cụm từ lần đầu tiên tôi nghe được trên cõi đời này từ mồm bà thím đáng kính của tôi từ ngày mới giải phóng thủ đô. Sau này đài báo ca tụng ầm ĩ khi nó được cụ Hồ nói vào những năm chống Mỹ sau này. Bà thím tôi thường than với các con: Vì bố anh là cán bộ nên tôi mới phải bó tay thế này… Bà thường phê phán, nhà nước có phải là con bò sữa đâu mà ai cũng xúm vào vắt. Bà đã nhìn thấy sự phá sản của kinh tế bao cấp. Người em dâu của bà là công nhân nhà máy giấy có từ trong kháng chiến ở Ao Châu, Phú Thọ, có chồng là sỹ quan quân đội sắm cho chiếc đài bán dẫn Nhật Bản. Thời ấy làm công nhân mà đã có chiếc đài bán dẫn là giá trị lắm, là sang lắm. Về quê chơi, bà thấy cô em dâu ở tập thể nên mắng cho một chập. Bà khuyên bán cái đài đi mà mua đất làm nhà riêng mà ở, không ai có thể ở tập thể cả đời! Cách đây chừng 2 năm tôi có về Phú Thọ chơi, lên thăm bà Giang (tên bà em dâu của thím tôi), thấy nhà bà xây cất trên một quả đồi rất nên thơ. Bà Giang nói với vợ chồng tôi: Nhờ bà Ba (thím tôi) nhìn xa trông rộng, bảo bán cái đài bán dẫn ngày ấy đi nên tôi mới mua được quả đồi này, làm được cái nhà này, ăn nên làm ra… Nếu không thì bây giờ vẫn chui rúc trong một gian nhà tập thể. Tôi đi vòng ra sau nhà, thấy vườn rau, dàn mướp, vườn xoan, đàn gà ríu rít… mà thầm khen thím Ba của tôi đúng là “nhìn xa trông rộng”. Chưa hết, bà Ba còn có đứa cháu ruột gọi bằng cô, là cán bộ của Bộ Giáo Dục. Năm đó, ông được mua phân phối một chiếc xe đạp Phượng Hoàng của Trung Quốc. Ở miền Bắc trước 1975 mà ai được mua phân phối xe đạp là may mắn như trúng số độc đắc. Bà Ba bảo ông cháu: Nhà anh một lũ con gái, anh không có một tấc đất thì sau này chó nó lấy con anh à. Bà bắt ông cháu phải bán xe đạp đi để mua đất. Hồi ấy, đất rẻ như bèo, xin không có nơi người ta cũng cho vì ai cũng nghĩ sau này lên CNXH thì ai ai cũng ở nhà nhà nước cấp dại gì mà mua đất làm nhà. Nhưng người cháu vẫn nghe cô mình khuyên. Bán chiếc xe đạp đi, ông cháu mua được cả khu đất rộng bên Gia Lâm. Bây giờ, thời kinh tế thị trường, đất đắt như vàng. Các con ông đều có chồng và được chia mỗi đứa một mảnh để làm nhà. Ông nói với mọi người là nhớ ơn bà Ba muôn đời! Ngày trước, mỗi lần thím Ba tôi về quê, thấy đất cát bỏ không nhưng nếu ai khai khẩn thì bị kết tội là tư hữu, bị cấm đoán có khi còn mang họa vào thân. Thấy cảnh quê hương Phú Thọ của mình như thế, bà tuyên bố: Cái nước này rồi sẽ lụi bại! Mà lụi bại thật. Giả sử, nếu Liên Xô không sụp đổ, Việt Nam không đổi mới thì bây giờ chúng ta sẽ như Bắc Triều Tiên, chết đói như rạ. Khi bà thím tôi tuyên bố như thế, nhiều người thời đó không đồng tình. Bây giờ ngồi nghĩ lại, tôi thật khâm phục một người nông dân ít học như thím tôi, nhưng do độc lập suy nghĩ, không cần kẻ khác “bao cấp” tư tưởng cho mình nên bà sáng suốt và nhìn xa trông rộng hơn cái Đảng Cộng sản mà ông chồng bà cả đời trung thành phục vụ. Nói cho thật công bằng, thời đó các vị “Nhân Văn Giai Phẩm” cũng đã nhìn thấy, nhưng chỉ vì họ là nhà văn, là họa sỹ… họ công bố tư tưởng của mình, công bố tác phẩm của mình… nên mang họa vào thân. Bà thím tôi chỉ xuất bản tư tưởng của mình bằng lời nói nên không sao. Thật may cho bà. Tôi muốn mở ngoặc ở đây, kể về một bức biếm họa mà tôi xem được ở một tờ báo của nhóm “nhân văn” thời đó. Bức tranh vẽ một người ngồi ở vỉa hè, anh ta đang lấy cái rìu đẽo chân của mình… máu me chảy ra lênh láng. Thấy vậy có người hỏi: Sao lại đẽo chân đi thế? Anh ta liền chỉ vào đôi giày để bên cạnh và nói: Chân tôi phải đi giày số 41 mà mậu dịch chỉ bán giày đồng loạt số 39… nên tôi phải đẽo chân nhỏ đi cho vừa giày! Người dân đã nhìn ra sự phá sản của kinh tế quốc doanh từ hồi đó, vậy mà đến bây giờ, khi tôi viết những dòng chữ này thì nghị quyết mới nhất của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định “kinh tế quốc doanh là chủ đạo”. Vì thế mới có những Vinashine, Vinaline… Cái đại họa này không biết sẽ còn kéo dài đến bao giờ??? Cuộc CCRĐ, cải tạo tư sản ở miền Bắc đã triệt tiêu những người lao động có năng lực nhất ở cả nông thân lẫn thành thị. Những người có tay nghề cao, có kinh nghiệm quản lý, biết tổ chức sản xuất và kinh doanh. Gia sản của họ bị trưng thu, trưng mua, tịch thu kiểu ăn cướp còn bản thân họ thì bị bắn chết trong CCRĐ, bị bạc đãi ở thành thị. Xã hội ngày ấy bị kéo lùi lại thời trung cổ! Có nhà thơ của nhóm Nhân văn đã khái quát: “Tôi đi không thấy phố thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ” Vậy mà sau chiến thắng 1975, miền Nam lại bị cải tạo tư sản. Một ông chủ xe đò (xe chở khách) ở Mỹ Tho nói với tôi: Khi các ông Việt cộng đến nhà tịch thu mấy cái xe đò của tôi để đưa vô công tư hợp doanh… thì tôi đã biết là các ông ấy sẽ thất bại rồi. Tôi hỏi ông chủ nọ: Vì sao bác biết trước là sẽ thất bại? Ông trả lời: Họ chỉ lấy đi cái xe, còn phụ tùng, đồ sửa xe tôi để dưới gầm giường thì không ai lấy đi cả. Tôi biết ngay là những ông này chưa bao giờ sử dụng xe ô tô cả. Y như rằng, sau này xe nát, kinh doanh thua lỗ, phá sản… Sau ngày đổi mới, xe lại về tay tôi. Tôi lại là chủ xe như bây giờ… Những người cầm súng giành chiến thắng trong đấu tranh bạo lực sau đó được làm chủ, được chỉ huy nhưng không có nghề ngỗng gì thì làm nát bét kinh tế đất nước như đã thấy. Muốn thành một ông chủ thì ít nhất phải trải qua kinh nghiệm, có mấy đời cha ông làm nghề đó chưa kể phải tích lũy tiền bạc, kinh nghiệm quản lý, trau dồi tay nghề… rồi truyền lại cho con cháu. Thế mà, đùng một cái cải tạo, gia sản giao cho mấy anh chân đất mắt toét vừa ở rừng ra quản lý và chỉ huy thì sự thể ra là như thế. Bi kịch của cuộc cách mạng vô sản, cách mạng công nông là như thế. Tôi nhớ ngày giải phóng miền Nam, sau này ông Võ Văn Kiệt đề nghị gọi là ngày “thống nhất đất nước”. Nhiều chuyện khôi hài xảy ra ở những đầu tiếp quản. Có anh bộ đội miền Bắc, chưa một lần được được biết thành phố, anh ta theo đoàn quân chiến thắng vào thẳng Sài Gòn. Vô nhà vệ sinh anh nhìn thấy cái bồn cầu bằng sứ trắng lốp, lại có nước ở bên dưới bèn ra chợ mua cá lóc thả vào. Một lát không thấy cá đâu, anh kêu ầm lên là có ai lấy cắp cá của anh… anh không hề biết đó là cái hố xí vì xưa nay anh sống ở nông thôn miền Bắc, chưa thấy nó bao giờ. Một anh nông dân “chất phác” như thế mà giao cho làm cán bộ chỉ huy ở thành phố sau này thì bi kịch sẽ tiếp nối hài kịch là đương nhiên! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 18, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/18/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-6/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 7): https://www.minds.com/newsfeed/1019875766543372288?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 5): https://www.minds.com/newsfeed/1019874753700769792?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 5) Chương Hai – phần 2 Lại nói về Hà Nội những năm 50 đầu thế kỷ trước. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đến giai đoạn này đã chuyển sang thế phòng ngự và tấn công. Quân đội viễn chinh Pháp bắt đầu thua liểng xiểng. Người Hà Nội chứng kiến cảnh binh lính Pháp sau những ngày thua trận ở các nơi về Hà Nội với vẻ chán trường, râu tóc bơ phờ và… sống gấp. Các bar rượu, vũ trường, đèn xanh đỏ lập lòe, nhốn nháo thâu đêm. Cũng nhờ đám viễn chinh này ăn chơi xả láng mà nhiều người cũng kiếm chác được nhờ phục vụ chúng. Có chị bán thuốc lá trước một rạp chiếu bóng kể bán thuốc cho tây một lãi mười. Khi một thằng tây mua gói thuốc, nó đưa tiền chẵn, khi trả lại tiền (miền Nam gọi là thối tiền), đáng phải trả lại mười thì chỉ trả lại một. Nó chẳng đếm lại bao giờ, đút tiền vào túi đi ngay. Nếu thấy nó đếm lại thì… cầm tiền đưa thêm, coi như chưa đưa hết! Dạo ấy, cứ mỗi lần nghe thấy tiếng máy bay trực thăng trên đầu là lũ trẻ chúng tôi ở các phố Hàm Long, Lò Đúc, Lê Văn Hưu… chạy bán sống bán chết ra vườn hoa Pasteur. Ở đó có một bãi đất rộng cho trực thăng hạ cánh. Chúng tôi nhìn thấy từ trên trực thăng các thương binh da trắng, da đen được khiêng xuống để đưa về nhà thương Đồn Thủy (nay là bệnh viện 108) để cứu chữa. Khi trên Điện Biên Phủ xẩy ra thì ở Hà Nội thật nhộn nhạo. Tin tức đồn đại khắp nơi. Báo bán chạy như tôm tươi. Hầu hết các gia đình trung lưu ở Hà Nội lúc đó đều mua báo hàng ngày để theo dõi tin tức chiến trường. Người ta lo âu, thì thầm vì biết thế nào Pháp cũng thua, Việt Minh sẽ thắng. Người có gia đình theo kháng chiến thì vui mừng, hồi hộp. Một hôm, ông bác ruột, anh mẹ tôi từ phố Hàng Buồm đến chơi, đưa tờ báo cho mẹ tôi coi rồi chỉ tay vào một tấm hình lớn ngay trang nhất và nói: “Em chồng cô bây giờ làm lớn lắm!” Thì ra đó là tấm hình chụp ông Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn đại biểu VNDCCH tại hội nghị Geneve về Đông Dương 1954. Đứng cạnh trưởng đoàn Phạm Văn Đồng là chú tôi, Lê Phú Cường (tức tướng Lê Hữu Qua sau này). Sau này tôi mới biết là chú Hai tôi là nhân viên an ninh của phái đoàn Việt Nam tại Geneva, có nhiệm vụ bảo vệ đoàn và trưởng đoàn. Đây là lý do chú tôi thường hay xuất hiện bên cạnh ông Phạm Văn Đồng. Vì thế mọi người cứ tưởng chú tôi làm lớn lắm. Lúc đó mới 12 tuổi đầu, tôi không hình dung ra cái gì sẽ đến với gia đình tôi và Hà Nội. Thế nhưng, cái gì đến đã đến. Ngày 10/10/1954, ngày giải phóng thủ đô thật đáng ghi nhớ. Mẹ tôi là một người buôn bán rất nhạy cảm nên trước đó bà mua tích trữ nhiều cán cờ bằng gỗ, bằng tre xếp đầy nhà. Ngày đó tung ra bán cho người ta làm cán cờ vẫy chào bộ đội về giải phóng thủ đô. Tôi còn nhớ như in đêm mùng 9 rạng sáng 10/10 ấy cả thành phố giới nghiêm và không ai ngủ cả. Mấy chị em tôi dán mắt nhìn qua khe cửa. Trong ánh sáng vàng đục của những ngọn đèn đêm, tôi thấy những tên lính Pháp cao lớn đi tuần. Gần sáng, lính Pháp chốt lại các đầu phố. Nhà tôi ở số 3B phố Hàm Long, tức đầu phố nhìn ra ngã năm Phan Chu Trinh, Hàm Long, Lê Văn Hưu, Lò Đúc, Hàn Thuyên rõ mồn một. Lính Pháp tụ lại ở đầu phố. Khi trời sáng hẳn thì từng tốp bộ đội của ta vai đeo súng từ từ tiến đến chỗ lính Pháp. Những tên lính Tây cao lêu nghêu đứng cạnh bộ đội Việt Minh bé nhỏ chỉ cao đến vai chúng. Họ trao đổi với nhau, bàn giao với nhau những điều gì đó rồi thấy lính Pháp từ từ rút lên phía nhà hát lớn theo đường Phan Chu Trinh. Khi lính Pháp rút rồi, chỉ còn lại bộ đội ta thì tất cả các cánh của bật tung, nhân dân hai bên phố ùa ra đường với cờ đỏ trong tay reo mừng hoan hô các anh bộ đội. (Dĩ nhiên các cán cờ là của mẹ tôi bán cho họ). Nếu tôi không ghi lại cái sự việc có thật này về cái đêm mùng 9/10 năm đó, thì sau này các sử gia, các nhà tiểu thuyết lịch sử khó hình dung người Hà Nội làm gì, nghĩ gì, đường phố Hà Nội diễn ra điều gì trong cái giờ phút lịch sử đó. Bởi lẽ, những người Hà Nội chứng kiến lúc quân Pháp rút lui lúc rạng sáng ngày hôm đó chắc không còn mấy người và cũng chẳng ai làm cái việc lẩn thẩn là ngồi ghi chép lại những sự việc đó trong khi mọi người đang điên rồ kiếm tiền, cố tồn tại trong cái nền kinh tế thị trường định hướng XHCN này! Cũng cần phải nói thêm là, trước ngày 10/10/1954 cả mấy tháng, đã có các cán bộ Việt Minh vào thành phố, tá túc trong các nhà dân vốn là cơ sở của Việt Minh hay các gia đình có người đi kháng chiến. Nhà tôi cũng có một chị tên là Nhân đến ở. Họ có nhiệm vụ giải thích chính sách của chính phủ kháng chiến, khuyên đồng bào không theo Pháp đi Hải Phòng… Chị Nhân có chồng là cán bộ hoạt động nội thành rất đẹp trai tên là Hồng Kỳ. Mẹ tô đã xếp cho họ ở một căn buồng nhỏ sau bếp nhà và đứa con đầu lòng của họ đã “nên người” ở căn buồng đó. Sau này họ vẫn đi lại thăm gia đình tôi. Lại nói về ngày 10/10 lịch sử, cho đến 10 h sáng hôm đó thì cả Hà Nội là một ngày hội lớn. Năm cửa ô Hà Nội tưng bừng đón những đoàn quân chiến thắng trở về. Các nghệ sỹ đem cả đàn ra kéo, các chị mặc áo dài, các bà nhà giàu tung hoa tươi lên các đoàn xe trở các đoàn quân tiến vào thành phố. Có những câu chuyện thật cảm động mà tôi biết. Bà cụ Lý Tiếp, người làng Đồng Nhân, quê ngoại của tôi. Cụ có họ xa với mẹ tôi. Cụ sinh sống bằng nghề bán nước mắm rong trên đường phố. Hôm đó có người bảo với bà rằng, con bà là cán bộ chỉ huy cao cấp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nếu tôi nhớ không nhầm là đại đoàn trưởng hay trung đoàn trưởng gì đó… có người làng đã trông thấy con trai bà trên phim tài liệu về Điện Biên khi còn ở vùng tự do. Người cán bộ vô thành kiểu như chị Nhân tôi kể ở trên đã cho bà biết tin như thế. Nhưng bà cụ không tin nên sáng ngày 10/10 bà vẫn đi bán nước mắm. Khi đoàn quân tiến vào thủ đô, bà cụ Tiếp vẫn đòn gánh trên vai chen vào đoàn người đứng hai bên đường tại một cửa ô. Bỗng nhiên bà trông thấy con trai mình ngồi trên xe jeep dẫn đầu đoàn quân. Bà lao ra… hai mẹ con đã ôm lấy nhau… và mọi người đều khóc. Người chỉ huy đó sau này là thiếu tướng Vũ Yên. Tên cúng cơm của ông là Nguyễn Văn Tịch. Mẹ tôi nói ông là người làng của bà. Khi viết những dòng này, tôi cũng cảm động rơi nước mắt khi ngòi bút “chạy” tới đây. Lịch sử đất nước có những giờ phút đáng ghi nhớ như thế. Nhưng, người ta có hay đâu những người hồ hởi mang hoa ném lên những đoàn xe trở đoàn quân chiến thắng kia, chỉ ít lâu sau là nạn nhân của những cuộc cải tạo tư sản. Ở nông thôn là cải cách ruộng đất đẫm máu. “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc “đấu tranh giai cấp”, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố bọn “Nhân văn Giai phẩm”. Nhà văn Nguyễn Khải đã miêu tả rất đúng chân dung của con người Việt Nam từ thành thị đến nông thôn sau chiến thắng Điện Biên trong bài tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông viết: “Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chẳng có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn. Từ nay họ chỉ được nghĩ, được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, một đường lối nếu họ không muốn dẫm vào vết chân của nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Một dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, mắt nhìn ngơ ngác, đi đứng lom rom như một kẻ bại trận”. Viết đến đây tôi chợt nhớ có lần đọc được bài viết của một phóng viên người Pháp nhiều năm sống ở Trung Quốc. Khi quân giải phóng nhân dân Trung Hoa vượt sông Trường Giang đuổi quân Tưởng Giới Thạch khỏi lục địa, thu Trung Quốc về một mối, tác giả đã từ Hồng Kông qua lục địa và chứng kiến cảnh nhân dân vui mừng chào đón một tương lai tốt đẹp như thế nào. Sau đó tác giả hạ một câu, đại ý, nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc không tiếp tục công cuộc “đấu tranh giai cấp” sau đó thì nước Trung Hoa đã không khốn nạn như ngày nay. Việt Nam chẳng khác gì Trung Quốc, hay nói cách khác là giống nhau như hai giọt nước. “Đấu tranh giai cấp” đã tàn phá tất cả những gì tốt đẹp mà nhân dân Việt Nam đã đổ xương máu để giành được cho đến ngày chiến thắng Điện Biên Phủ. Cải cách ruộng đất đã đưa những ông bà nông dân mắt toét răng đen không biết chữ lên làm chánh án những “tòa án nhân dân”, có quyền phán quyết án tử hình và nạn nhân bị đem bắn ngay sau đó. Những thước phim tư liệu do chính quyền quay mà tôi đã được xem, mỗi lần nhớ đến vẫn khiến tôi lạnh xương sống. Tên địa chủ được lôi ra đấu tố, ra xét xử đi giữa hai du kích đi chân đất và cầm súng chĩa vào mình. Và, tên địa chủ ấy cứ run cầm cập khi nhìn thấy cái cọc tre đã được đóng sẵn để lát nữa trói mình vào đó để xử bắn! Chưa cần xử, nạn nhân đã biết trước hình phạt dành cho mình. Xem những thước phim cho thấy, chỉ sau vài loạt hô đả đảo của quần chúng đang điên rồ trong cơn phấn kích là “phạm nhân” đã bị trói nghiến vào cái cột tre, rồi sau loạt súng nổ, người ta bu lại để xem tên “phạm nhân” nghẹo cổ. Đạn xuyên thẳng vào tim. Cả xã hội miền Bắc đã lên cơn nhập đồng cuồng điên trong cuộc đấu tố bắn giết kéo dài đó. Thật khó có thể giải thích những người nông dân nghèo khổ, hiền lành, nhẫn nhục, sống với nhau bao đời trong các làng quê được bao bọc bởi những lũy tre xanh hiền hòa kia… bỗng có ngày họ bị Đảng Cộng sản cho uống thuốc kích độc, kích ác, kích bạo, kích tham… những độc dược dán mác “đấu tranh giai cấp” hay “Mác-Lenin” … để một chị con gái có thể nhẩy chồm lên chỉ vào mặt bố đẻ của mình mà hét: Thằng kia, mày có biết tao là ai không? Và người cha đẻ của chị khúm núm run rẩy thưa: Thưa bà, bà là con của con ạ!!! Ở Đồ Sơn quê vợ tôi có câu chuyện thương tâm thế này. Một phú nông trong làng, từng chứa chấp Việt Minh hoạt động. Một hôm, có 5-6 cán bộ đang họp trong nhà thì có tin Tây đến vây bố. Chủ nhà nhanh trí hô tất cả trèo lên mái nhà dỡ mái xuống (xem như đang sửa nhà). Thấy cảnh nhà cửa ngổn ngang, mái nhà bị dỡ tung, chúng tin là nhà đang sửa nên có đông thợ đến làm liền rút lui. Thế nhưng, thật trớ trêu ông chủ nhà sau này bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung ông phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng để tự thiêu. Chị con gái đã có chồng, có con, quỳ lạy cha xin tha chết để còn sống nuôi con. Nghĩ thương cháu, người ông tha cho con gái sau đó châm lửa thiêu cả nhà. Khi mọi người biết chuyện chạy đến thì những đứa trẻ đã chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò! Cuộc cách mạng cải cách ruộng đất (CCRĐ) “long trời lở đất” ở miền Bắc lúc đó đã xử bắn hàng chục ngàn người, đa phần là những người có công với kháng chiến, những phần tử ưu tú nhất ở nông thôn Việt Nam. Nói về CCRĐ thì nhiều tác phẩm văn học như “Ba người khác” của Tô Hoài; “Bến Không Chồng” của Dương Hướng; “Thời của thánh thần” của Hoàng Minh Tường; hồi ký “Hồ ký một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải đã miêu tả khá sinh động, chân thực. Nhưng những truyện về “cải tạo tư sản” ở những thành phố miền Bắc lúc đó ít được viết đến vì nhiều lý do. Là một người sinh ra và lớn lên ở thành thị (Hà Nội), tuy lúc đó chỉ là đứa trẻ 15, 16 tuổi nhưng tôi đã chứng kiến tận mắt cái bi kịch “cải tạo tư sản”. Tuy nó không ghê rợn âm u như thời trung cổ, như CCRĐ. Mặc dù diễn ra sau CCRĐ và rút được kinh nghiệm phần nào nhưng không thiếu những cảnh cười ra nước mắt, kệch cỡm, lố bịch, đểu cáng… chưa từng có trong đời sống của thị dân Việt Nam. Hai gia đình cả bên nội lẫn bên ngoại của tôi đều có những ông chủ bị cải tạo nên tôi biết rất rõ. Giá tôi có được cái tài như nhà văn Dương Hướng thì chắc chắn độc giả đã có được cuốn tiểu thuyết hay như “Bến Không Chồng” về cảnh sắc ở thị thành thời cải tạo tư sản. Tôi đã đọc “Bến Không Chồng” nhiều lần và vô cùng khâm phục tài năng cũng như vốn sống của tác giả về xã hội nông thôn miền Bắc. Nước Pháp đã dịch tiểu thuyết của ông sang tiếng Pháp. Người ta đã chọn một người Pháp giỏi tiếng Việt và một người Việt giỏi tiếng Pháp để cộng tác dịch tác phẩm này. Vì không có tài viết tiểu thuyết, tôn xin kể ra đây các sự việc về cái gọi là cải tạo tư sản thời đó, hy vọng để lại ít nhiều tư liệu cho đời sau Ông anh ruột của mẹ tôi mà tôi vẫn quen gọi là bác Hai Súy (người thứ hai trong dòng họ) tên thật là Nguyễn Vĩnh Phương. Ông làm nghề thầu khoán. Tôi không rõ ông học đến trình độ gì nhưng tôi thấy ông vẽ được các bản vẽ cho các công trình xây dựng, nay gọi là bản thiết kế. Tôi chắc là ông có tay nghề cao, nên sau này người ta xây dựng sân bóng đá lớn ở Hà Nội là sân Hàng Đẫy, và sửa chữa nhà hát lớn Hà Nội ông cũng được mời tham dự. Có nghề thiết kế trong tay, ông lại nhận thầu khoán các công trình nên là người có của. Ngoài căn nhà ở số 77 phố Hàng Buồm, nơi ông đặt văn phòng làm việc, ông còn có 2,3 căn nhà khác nữa. Trong đó tôi nghe nói, có đến 9,10 phòng sang trọng, mỗi phòng một kiểu đá hoa (trong Nam kêu là đá bông). Khi cải tạo tư sản, những nhà này ông đã “tự nguyện” làm đơn hiến cho nhà nước quản lý vì theo quy định về tiêu chuẩn sử dụng nhà ở lúc bấy giờ, mỗi gia đình chỉ được sử dụng tối đa 120 mét vuông. Bà vợ ông mà tôi thường gọi là bà Hai Súy là một phụ nữ hiếm có. Bà buôn bán rất đảm đang và là một người nhân hậu được cả cộng đồng buôn bán ở Hà Nội lúc đó tôn vinh, ca ngợi. Bà bác của tôi kinh doanh vvề mật hàng bánh kẹo, đặc biệt là bánh trung thu. Hãng bánh trung thu Vĩnh Phương của bà nổi tiếng ở Hà Nội một thời. Từ đầu năm bà đã thu mua các nguyên liệu, tích trữ các mặt hàng cần thiết cho việc sản xuất một lượng bánh kẹo lớn để bán vào dịp trung thu. Từ rằng tháng bảy ta, căn nhà 77 Hàng Buồm dài hun hút nối với một căn nhà khác ăn ra mặt tiền phố Hàng Giấy thực sự trở thành một xưởng bánh kẹo có hàng chục công nhân làm việc ngày đêm. Thời đó chưa có dây chuyền sản xuất bánh trung thu theo kiểu công nghiệp như ngày nay. Tất cả phải đóng vào khuôn gỗ, vì thế tiếng gõ từ khuôn gỗ xuống mặt bàn để gỡ bánh nướng bánh dẻo ra khỏi khuôn của mấy chục tay thợ vang dậy cả khu nhà. Sau dịp bánh trung thu, bác tôi lại tích trữ nguyên liệu để sản xuất mứt kẹo cho tết nguyên đán. Để làm mứt sen ngày tết, bác tôi phải tích trữ hàng tấn sen hạt phơi khô chất trong kho. Các hạt sen này khô cứng như đá. Đến khi làm mứt phải cho vào chảo lớn ninh. Nước đầu phải đổ đi vì nhiều tạp chất. Nhưng từ nước thứ hai trở đi thì mùi thơm của sen bốc lên ngào ngạt. Những chảo nước sen sánh đặc này vẫn phải đổ đi, rất tiếc. Nhiều người đến xin nước sen đặc này về uống. Nhưng ai uống nhiều thì ngủ li bì như chết. Tôi đã có lần uống liền hai cốc nước sen pha đường, ngon ngọt vô cùng nhưng sau đó thì nhủ đến không mở mắt ra được. Phải ninh đến nước thứ ba thì sen mới nở bung ra, làm mứt mới ngon. Một năm bác tôi chỉ tập trung vào hai dịp tết đó để sản xuất bánh kẹo nhưng công việc chuẩn bị, tích trữ nguyên liệu thì phải làm quanh năm. Có thời gian bác tôi còn đi cả Hồng Kông để nhập đồ sứ cao cấp về Hà Nội bán. Bác tôi còn mưa cả cây đàn piano loại đắt tiền từ Hồng Kông về cho các con. Cây đàn ấy hiện vẫn còn giữ được ở căn nhà phố Hàng Buồm. Bác tôi, một người phụ nữ đảm đang, tài giỏi như thế nhưng dưới chế độ cộng sản thì họ gọi là “con buôn”. Và, cái xưởng bánh kẹo của bà là đối tượng của cái gọi là “công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”. Xưởng phải vào hợp tác xã và chỉ sau thời gian rất ngắn là tan rã. Thợ thuyền đều thất nghiệp để “mặt nám mắt đen nhìn ngơ ngác” như nhà văn Nguyễn Khải đã miêu tả về giai đoạn này! Trước khi tiến hành cải tạo công thương nghiệp… một số nhà tư sản ở miền Bắc lúc đó được lùa vào cái gọi là “hội công thương”, một số đại biểu của hội này được đi tham quan học tập ở Thượng Hải bên Trung Quốc về cải tạo XHCN với tư sản. Một trong những người được đi Thượng Hải dịp này mà tôi được biết là ông Quỳnh Phong, một nhà tư sản đi kháng chiến có quen biết với gia đỉnh tôi khi ở Phú Thọ. Ổng đã mở cả xưởng làm ngòi bút, làm khuy áo bằng vỏ trai, vỏ hến… để kháng chiến “toàn quốc”, “toàn diện” như khẩu hiệu của cụ Hồ lúc đó. Cơ sở sản xuất của ông sau này ở Hà Nội cũng bị cướp sạch (!) Điều tôi muốn nói nhất ở đây về cải tạo tư sản là nó đồng thời phá hoại kinh tế, vật chất của xã hội. Nguy hại hơn là nó còn phá vỡ cả khối đoàn kết dân tộc. Người ta đã gieo rắc vào xã hội, vào đầu óc người dân sự thù ghét người giàu. Họ xem sự giàu có là một tội ác, do đó tìm mọi cách moi móc vu khống cho những người giàu có. Nhìn những người giàu là chỉ do bóc lột mà có. Những gì mà tôi biết được về sự “cải tạo” nhà ông bác tôi ở Hàng Buồm thật chua chát, khôi hài. Người ta đã “bồi dưỡng tư tưởng” cho những công nhân làm thuê cho bác tôi để họ “tố khổ” ông bà chủ. Nhưng có câu chuyện nực cười thế này, trước cửa nhà bác tôi cho vợ chồng ông ba Tàu đứng nhờ để bán mì hoành thánh sinh nhai đã nhiều năm. Khi được đội cải tạo “bồi dưỡng” để bắt ông phải tố ông bà chủ nhà đã “bóc lột” vợ chồng ông như thế nào… cũng may cho bác tôi là vợ chồng người Tàu này rất thật thà và có nhân cách. Ông ta thưa với đội cải tạo là ông bà Vĩnh Phương (tức bác tôi) cho đứng bán quanh năm mà không lấy một đồng xu nào. Thậm chí, tết đem đôi gà sống thiến đến biếu thì ông bà Vĩnh Phương bảo phải đem về, nếu cứ để đôi gà lại thì năm sau không cho đứng nhờ bán hàng nữa! Thế là đội nghe vậy đành chịu. Còn nữa, trong gia đình bác tôi có một người con nuôi tên là M. Câu chuyện của anh rất bi thảm. Nạn đói năm 1945 ấy, mẹ anh đã chết từ lâu nhưng đứa con (chính là anh M này) vẫn bò lên xác mẹ để bú, nhìn thấy thương tình quá, bác tôi bế vào nhà kho cho uống sữa và nuôi M từ đó. Sau này đội cũng “bồi dưỡng” M và yêu cầu anh tố khổ cha mẹ nuôi nhưng anh nhất mực ca ngợi cha mẹ nuôi của mình. Thấy vậy đội không chịu và quyết truy hỏi với những gợi ý: Vì sao những người con đẻ thì được ăn học tử tế, còn anh thì phá ngang không theo học đến đầu đến đũa? Anh M đã trả lời dứt khoát do tôi tối dạ, học không vào nên xin với bố mẹ cho nghỉ học để đi học việc chứ không phải các cụ bắt tôi phải nghỉ học. Anh còn tuyên bố: Bố mẹ nuôi tôi đã cứu tôi từ cõi chết trở về, cho tôi được làm người, tôi không thể nào phản bội được. Nếu không có bố mẹ nuôi tôi cưu mang thì tôi đã chết từ lúc vừa biết bò! Thế là một lần nữa đội đành bó tay! Còn rất nhiều chuyện khôi hài pha nước mắt mà nếu kể ra thì nó phải dầy như cuốn tiểu thuyết nhiều tập mà sức và tài của tôi thì xin chỉ dừng lại ở đây. Có lẽ cũng do dân trí ở thành thị cao hơn ở nông thôn nên những cuộc đấu tố tư sản không đến nỗi bất nhân, xảo trá, vu khống trắng trợn như ở nông thôn trong CCRĐ. Anh M mà tôi kể, sau này được kết nạp Đảng và làm tới chức giám đốc một nông trường cao su ở Nam Bộ sau 1975. Anh thật xứng đáng là một đảng viên và trường hợp kết nạp này thì Đảng thật là sáng suốt. Bên họ nội của tôi cũng có một ông bác họ ở Hải Phòng bị cải tạo, đó là ông Lê Đức Ngữ. Bác Ngữ của tôi có một hiệu chụp ảnh khá nổi tiếng ở thành phố cảng ở đường Hoàng Văn Thụ, mặt đường phố lớn. Tiệm chụp ảnh của ông chỉ thuê vài thợ giúp việc và cũng bị cải tạo. Nhà ông họ chiếm làm một cửa hàng cho Sở văn hóa-thông tin. Căn nhà mặt tiền rộng 6 thước này bị ngăn ra 2 mét là đường đi vô lối sau cho chủ nhà còn 4 mét mặt tiền xây thành cửa hàng thuộc nhà nước quản lý. Cho đến bây giờ, tôi ra Bắc đến thăm người anh họ vẫn thấy ông phải ở trên lầu còn căn nhà bên dưới vẫn bị chiếm. Nhiều người góp ý với anh nên đòi lại phần nhà bị chiếm dụng vô lý vì cũng đã có nhiều trường hợp tương tự đã được trả nhà cho chủ nhân nhưng anh tôi rất ngại phải tốn tiền chạy chọt (thì mới được việc) nên đến bây giờ ông vẫn phải ở trên gác, ra vào qua cái ngõ tối om… Nhưng, điều đáng nói hơn là thế hệ con cháu những người bị cải tạo, bị quy là tư sản là tiểu chủ thì luôn kè kè bên mình cái lý lịch xấu và vì thế cứ khổ sở suốt đời. Người con trai cả của bác tôi, vì nhà có xe hơi nên biết lái xa. Đến khi bị cải tạo, anh được nhận vô lái xe tuyến Hải Phòng-Đồ Sơn. Cho đến bây giờ, cháu nội của ông cũng được “ưu tiên” nhận vào lái xe cho xí nghiệp. Vậy là nhà ông ba đời lái xe cho dù con cháu sau này có học hành giỏi giang đến đâu cũng không thể vô các trường trung...
20 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 7) Chương Ba Hai lần thi trượt nhưng số phận vẫn mỉm cười với tôi Câu chuyện hai lần thi trượt của tôi không biết gọi nó là chuyện bi hay hài. Nhưng chắc chắn nó là một thứ tư liệu, một chuyện có thật về chế độ thi cử hay nói khác đi là cả nền giáo dục ấu trĩ, xem nặng tính giai cấp của chế độ cộng sản ở miền Bắc. Di hại của nó không biết đến bao giờ mới hết. Đương nhiên là nó còn kéo dài cho đến tận hôm nay khi chế độ cộng sản vẫn ngự trị trên đất nước đau khổ này. Nhưng tôi muốn để ít phút nói về những năm tháng êm đềm của tuổi trẻ trong những năm sống ở cái làng Hoàng Mai thơ mộng ngày đó, trước khi kể chuyện thi trượt. Theo lời khuyên của chú Hai tôi, tức tướng Lê Hữu Qua sau này, ông nội tôi phải bán ngôi nhà ở phố Hàm Long nơi gia đình tôi đang ở, để về mua một căn nhà có vườn ở làng Hoàng Mai, thuộc xã Hoàng Văn Thụ, huyện Thanh Trì phía nam Hà Nội. Làng Hoàng Mai tiếp giáp với nội thành chỉ cách chợ Mơ đường chim bay hơn 1km. Ông bà nội tôi ở bãi Phúc Xá giữa sông Hồng cũng dọn về ở với gia đình tôi. Có lẽ thời gian này là những năm tháng tuổi trẻ êm đềm trong cuộc đời của tôi. Khi về Hoàng Mai ở là đầu năm 1958, lúc đó tôi bắt đầu lên cấp 3. Làng Hoàng Mai là một làng giàu có, 100% là nhà ngói nhà nào cũng có vườn rộng, cây cao bóng cả, nhiều nhà có ao. Xen kẽ những ngôi nhà sang trọng đó là những ruộng bắp cải, su hào, súp lơ, cà chau… cung cấp rau tươi cho nội thành. Làng có đến 8 cái giếng xây, mỗi giếng có đường kính gần chục mét. Giếng thả bèo tổ ong nên nước trong veo. Những con đường lát gạch quanh co, hai bên là vườn rau xanh ngắt, là ao hồ mênh mông tạo nên phong cảnh rất nên thơ. Có một số dân làng là những nhà giàu ở Hà Nội, làm công chức, chủ nhật cuối tuần mới về làng nghỉ ngơi nên có nhà vắng hoe cửa đóng then cài, không gian u tịch. Làng có hai thôn, thông Đông và thôn Đoài. Người ta kể rằng xưa kia Nguyễn Bính viết: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người” Là viết ở làng Hoàng Mai này. Trong làng có ngôi chùa nổi tiếng khắp Hà Nội thời đó là chùa Hưng Ký do một nhà giàu xây nên. Về kiến trúc, hầu hết các nhà trong làng đều là nhà gỗ lợp ngói ta và nhà nào cũng khá to. Thậm chí có nhà còn to hơn cả cái đình ở làng quê nghèo khác. Nhà tôi mua lại là của một nhà tư sản nổi tiếng là ông Nguyễn Tiến Tòng. Ông này trong đợt cải tạo tư sản có chân trong Hội công thương gia Hà Nội, một thứ trò bịp bợm của chính quyền cộng sản. Ông Tòng sống ở Hà Nội, căn nhà của ông ở Hoàng Mai để hoang, cho một ông thợ dệt ở nhờ trông nhà. Ngôi nhà thuộc loại hoành tráng nhất nhì trong làng, rộng gần 2000 m2. Trước nhà có ao rộng. Nhà gỗ. Cột kèo trạm trổ như đình chùa. Nóc phía trong nhà có dòng chữ nho, ông nội tôi đọc là: “Bảo Đại thất niên” rồi giải thích nhà được hoàn thành vào lúc vua Bảo Đại ở ngôi được 7 năm. Ấn tượng nhất của khách đến chơi nhà là bộ cột nhà bằng gỗ xoan rừng, sáng trắng. Trong khi các nhà khác thường được làm bằng gỗ lim màu đen nên thường tối. Cho đến bây giờ, gần 50 năm sau, kì tôi ra Hà Nội họp mặt kỷ niệm 45 năm ngày ra trường, bạn bè cùng lớp còn nhắc đến kỷ niệm ngày xưa. Thời đó, vào các chủ nhật nhà tôi thường có các bạn sinh viên nhà ở các tỉnh về thủ đô học không có gia đình họ hàng nên thường nhảy tàu điện từ Cầu Giấy xuống Bờ Hồ rồi từ đây đi chợ Mơ xuống nhà tôi chơi. Cả lũ tắm lội trong ao rồi mò cua, mò ốc, hái rau trong vườn nấu mì ăn xì xụp. Những năm tháng vô tư! Tôi có xe đạp nên tuần nào cũng về nhà, lúc đi học bao giờ cũng có đồ ăn mang theo, lúc thì lọ muối vừng (miền Nam kêu là muối mè), lúc thì lọ bột ngọt (miền Bắc gọi là mì chính). Nhà có ao rộng nên tôi câu cá rất giỏi. Biết con cá gì ăn mồi gì. Nhìn phao nhấp nháy biết con cá gì đang cắn câu. Nhìn thời tiết biết hôm nay sẽ câu được cá gì. Tôi có đủ “vốn sống” để viết một phóng sự trường thiên về nghệ thuật câu cá. Chỉ xin kể bắt hai loại cá tự nhiên, không phải nuôi thả là cá rô và cá quả (miền Nam gọi là cá lóc) … rất ấn tượng. Khi mùa xuân chấm dứt, hoa gạo đỏ chói báo hiệu mùa hè đã tới. Trận mưa rào đầu hạ là lúc những con cá rô dưới ao đua nhau rạch ngược lên bờ. Mưa càng to thì cá rô rạch ngược càng nhiều. Những lúc đó tôi chỉ việc cầm cái rổ thật to chạy xung quanh bờ ao mà nhặt cá rô. Vì cá rô có vây nhọn sắc như dao nên tôi phải chuẩn bị sẵn một cái tất tay bảo hộ lao động khá dầy để vồ cá. Một cơn mưa đầu mùa như thế tôi có thể bắt được cả rổ cá rô to, chứa vào thùng nước để ăn dần cả tuần lễ. Món canh cải cá rô mẹ tôi nấu thì tuyệt vời. Những con cá rô béo vàng được bà đánh vẩy, mổ bụng, rửa sạch rồi cho vào nồi luộc chính vớt ra. Sau khi gỡ lấy thịt, bộ xương và đầu cá không bỏ đi mà dùng chảy giã đập ra sau đó chắt lấy nước ngọt vài ba lần rồi đun sôi mới cho rau cải vào. Nồi canh cá ngon ngọt chính là nhờ nước chắt ra từ bát xương này. Giống cá rô, xương của nó rất thơm và ngọt. Khi bỏ rau cải thái nhỏ vào nồi là bắc ra ngay. Rau vẫn xanh và không bị nhừ. Thêm một vài lát gừng thì mùi thơm bốc lên ngào ngạt. Chỉ cần chục con cá rô là mẹ tôi có nồi canh cải ngon cho cả nhà. Đến cuối mùa thu, chớm đông, trời tối sớm các ao trong làng bắt đầu cạn, sương giăng mờ mặt ao vào chập tối là lúc những con cá quả đớp mồi tùm tụp dưới ao. Ở ngoài Bắc, nhà nào có ao trong vườn thì cảm nhận về thời tiết, thiên nhiên rất rõ rệt. Cụ Yên Đỗ Nguyễn Khuyến ngày xưa để lại những bài Thu điếu, Thu vịnh bất hủ đầu lấy cảm xúc từ cái ao nên thơ ông có hình cái ao trong đó. Các bạn trong làng đã dạy tôi các bắt cá quả vô cùng thú vị và hiệu nghiệm. Thời gian phải là độ cuối thu, khi nước rút xuống, con cá quả đã đủ lớn sau cả mùa hè và mùa thu. Giống cá quả chỉ đớp mồi sống, đó là những con cá đòng đong, con săn sắt, con ếch, con nhái… Tôi chuẩn bị sẵn cho mùa bắt cá quả chừng 10 cái cần câu cắm. Mỗi cái dài chừng 40cm. Đầu cần câu phải mềm (làm từ cật tre). Trên đầu cầu buộc một sợi dây cước bằng nylon dài hai gang tay. Lưỡi câu buộc cuối sợi cước. Móc con mồi vào lưỡi câu. Cách móc con cá làm mồi là cả một nghệ thuật. Phải móc vào phần thịt ở lưng con cá để nó có thể bơi trong nước mà không chết. Sau khi móc mồi rồi thì cắm cần vào bờ ao, nghiên 45 độ. Phải điều chỉnh cái cần để con mồi chìm khỏi mặt nước nhưng không chìm sâu. Com mồi bơi thành một vòng làm mặt nước rung động. Con cá quả chỉ ăn mồi sống nên khi nó thấy nước động sẽ lao lên đớp mồi! Có lần tôi vừa cắm cần xong, chưa kịp vô nhà lên giường ngủ thì đã thấy con cá quả bị mắc câu quẫy nước đùng đùng… Có khi nửa đêm khi cá cá quẫy là tôi ra ao bắt cá. Bắt cá quả có hai cái lợi. Một là có cá ăn, hai là diệt được loài cá dữ trong ao vì nó ăn cá giống do chủ ao thả để nuôi như trôi, chép, trắm cỏ… Ngôi nhà vốn thuộc chủ trước là nhà tư sản rất giàu nên có lần tổng đốc Vi Văn Định có về đây chơi. Chuyến đi của ông có lính gác theo hầu. Đến thời gia đình tôi về ở, cũng có các quan lớn đến nhà. Đó là ngày bà nội tôi mất, vì bà có hai con trai đều là chef (sếp) lớn của Bộ Công An, nên có bộ trưởng Trần Quốc Hoàn về viếng, có công an đứng gác nên những người duy tâm kháo nhau là nhà “được hướng”, nhờ có thầy địa lý xem cho nên thời nào cũng thịnh vượng! Tôi đã sống những năm êm đềm thời đi học cấp 3 tại căn nhà “được hướng” đó cho đến khi tốt nghiệp phổ thông 1961 và thi trượt đại học sau đó. Câu chuyện hai lần thi trượt vào đại học của tôi là một sự thật chua chát đối với cá nhân tôi và là bản án tố cáo chế độ thi cử, tuyển chọn sinh viên (cán bộ tương lai) của chế độ cộng sản, tạo ra di hại lâu dài cho đất nước… Trong ba năm học học cấp 3 ở trường phổ thông 3B đường Lý Thường Kiệt Hà Nội tôi đều là học sinh giỏi văn của lớp. Năm cuối cùng, lớp 10C của tôi chỉ có hai người tổng kết môn văn đạt điểm tối đa là 5, điểm theo bậc của Liên Xô ngày ấy là 5 bậc (5/5). Nhưng chỉ có mình tôi là được giải thưởng môn văn của cả trường. Với năng khiếu đó, tôi quyết định thi vào khoa văn trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Hồi đó, Đại Học Sư Phạm bị xếp vào bảng cuối của sự lựa chọn đại học trên đất Bắc. Bởi thế trong xã hội lưu truyền câu ca: Nhất y nhì dược, tạm được bách khoa, sư phạm bỏ qua…” Có nghĩa là trường Y có giá nhất và khó thi vào nhất, và hạng chót là sư phạm. Còn có câu “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm”. Tôi đã chọn trường dễ thi và chọn khoa văn là khoa tôi có thế mạnh về học lực nhất. Vậy mà tôi lại trượt. Đau khổ vô cùng. Tuổi 19 bước vào đời với bao mơ ước, khát vọng được là một sinh viên, tiếp tục ăn học để có kiến thức, có vốn liếng để tồn tại lâu dài… đã sụp đổ. Nhưng tôi lấy làm lạ, tại làng Hoàng Mai hồi đó, có rất nhiều bạn tôi học môn văn chỉ được điểm tổng kết 3, thậm chí còn nói ngọng mà vẫn đỗ vào khoa văn ĐHSP(!) Tôi buồn chán vô cùng rồi cứ tự hỏi không biết vì lý do gì mà không đỗ. Tôi nhớ lại bài thi quá dễ so với học lực của tôi. Tôi đã làm bài một cách trơn tru trong khi bên cạnh nhiều thí sinh ngồi cắn bút. Khi biết kết quả, tôi buồn và xấu hổ không dám nhìn mặt ai. Cả thời gian dài suốt ngày nằm trong buồng đóng cửa, ngủ rồi thức, thức rồi ngủ. mẹ tôi an ủi: Vì anh không phải là đoàn viên (đoàn viên thanh niên lao động) nên người ta không cho đỗ! Tôi cũng tin là thế. Tôi vật vờ với tháng ngày ăn không ngồi rồi, thơ thẩn một mình ngoài vườn với nỗi buồn thi trượt. Tôi ngồi suốt ngày câu cá trong ao, nhưng có lúc cá cắn câu cũng không buồn giựt. Tôi nhớ đến những câu thơ thi trượt của Tú Xương xưa kia sao mà giống với tâm trạng của tôi lúc đó: “Đau quá đòn ghen, rát hơn phải bỏng Hổ bút hổ nghiên, tủi lều tủi chõng Thi không ăn ớt thế mà cay…” Tôi định bụng sẽ ôn tập lại chờ đến năm sau thi lại nhưng không lẽ là thanh niên 19 tuổi lại ngồi không ăn bám gia đình, trong lúc kinh tế lúc đó rất eo hẹp. Tình cảnh gia đình tôi thì ông bà đã quá 80, bố tôi thì thất nghiệp, tất cả trông vào hai bàn tay của mẹ tôi, một người quen buôn bán ở thành thị, nay về làm nông vì “chế độ ta không có buôn bán” như lời chú Hai tôi. Bà làm vườn, nuôi cá, bòn vườn đi chợ bán để nuôi sống gia đình. Cũng phải nói thêm là ông nội tôi trước đây là nhân viên của Phủ Toàn Quyền. Khi về Hà Nội nhận được thông báo của chính phủ Pháp cho những ai là công chức cũ dù đi kháng chiến nếu xuống Hải Phòng (nơi tập kết của quân Pháp và chính phủ Bảo Đại trong vòng 100 ngày để vào Nam theo hiệp định Geneva 1954) thì Pháp vẫn trả đủ 8 năm lương hưu trí. Ông nội tôi lương rất cao, nếu nhận số lương đó thì cụ sống rất khỏe cho những năm sau này nhưng cụ nói. Nước đã độc lập rồi, cho dù ăn cháo cũng sướng. (Nên cụ không xuống Hải Phòng lãnh 8 năm lương hưu). Cũng chính tình cảnh gia đình tôi lúc đó như thế nên đại gia đình phải họp lại để phân công các con đóng góp nuôi các cụ. Cuộc họp đi đến thống nhất, chú Hai tôi là cán bộ cao cấp nên hàng tháng phải góp 30 đồng (thời điểm những năm 60). Chú Ba tôi cũng là cán bộ cao cấp (cấp vụ) nhưng đông con vợ lại không làm nhà nước, không có sổ mua lương thực nên được miễn. Chú Tư tôi cán bộ nhì nhằng, lương thấp nên cũng được miễn. Chú Năm tôi là nhà báo công tác thường trú ở nước ngoài, và là cán bộ cấp vụ nên phải góp 30 đồng. Bố mẹ tôi là con trưởng, có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ với số tiền đóng góp đó. Nhưung thực tế chỉ nhận được 50 đồng vì chú Năm tôi nghĩ ra cái “mẹo” là trong lúc họp ông xướng lên là sẽ đóng 30 đồng, để làm mức chuẩn. Thế là chú Hai phải đóng 30 đồng (còn ông thực tế chỉ đóng 20 đồng vì lương cũng không cao lắm). Việc này chỉ có mẹ tôi và tôi biết vì hàng tháng tôi là người đi nhận tiền của hai người chú. Với 50 đồng hơn lương giáo viên cấp 2 thời đó là 45 đồng, thêm hoa màu vườn rau ao cá, nên ông bà nội tôi sống cũng tạm ổn. Cái nhiệm vụ đi lĩnh tiền hàng tháng đã ngày càng gắn kết chú Hai với tôi. Đó là dịp tôi được nghe những câu chuyện “thâm cung bí sử” của triều đình cộng sản Việt Nam do ông vui miệng kể ra những lúc vui buồn. Thực ra ngày đó tôi không có ý thức khai thác những câu chuyện ấy, chỉ biết nghe và bây giờ hệ thống lại thấy nó “hay” vô cùng. Vì thế mới có chương “Những chuyện kể của tướng Qua” trong hồi ký này mà tôi sẽ viết ở phần sau. Lại nói về chuyện thi trượt. Sau nhiều tháng ăn không ngồi rồi, buồn chán đến tột độ. Cái buồn của tuổi 19-20 của một đời người nó dữ dội ghê gớm lắm. Đại thi hào của nước Hung, Pê-tô-phi đã để lại những câu thơ bất hủ cho nhân loại từ nỗi buồn xung thiên đó ở tuổi 20: “Tôi không cha không mẹ Không thượng đế quê hương Không nôi không vải liệm Không người yêu tình thương Tuổi hai mươi tôi đó Tôi muốn bán đi thôi Nếu chẳng ai mua quỷ ma sẽ lấy Tôi giết người thật đấy Các người treo cổ tôi Từ dưới đáy vực sâu Cỏ mọc lên tốt tươi!” Tôi đâu phải thiên tài để biến những nỗi buồn của mình thành những vần thơ bất hủ. Tôi chỉ biết gậm nhấm nỗi buồn của mình thành những mụn rách không biết chắp vá vào đâu… Thế rồi một hôm, người anh rể thứ hai của tôi là một đại úy đã dẫn tôi sang một trường sĩ quan của quân đội, là trường hậu cần ở bờ nam sông Đuống cách cầu Long Biên bên phía bắc sông Hồng chừng ba, bốn cây số. Ngôi trường toàn nhà lá nhưng rất rộng và thoáng mát giữa một vùng nông thôn yên ả. Ngôi trường ngày ấy bây giờ là Học viện hậu cần được xây cất rất hoành tráng. Tôi được nhận vào làm giáo viên dậy cấp 2 cho các học viên sĩ quan hậu cần. Khóa học bổ túc văn hóa hết lớp 7 trước khi vào học chuyên môn các ngành của hậu cần quân đội. Hồi đó (1961) trình độ văn hóa hết lớp 10 còn hiếm lắm. Các học viên được đi học sĩ quan là những quân nhân trẻ, chỉ có trình độ cấp 1 nên phải học bổ túc văn hóa đến hết cấp 2. Trường có hàng ngàn học viên. Giáo viên quân sự đa số là cấp úy, chỉ có một sĩ quan thiếu là và vị hiệu trưởng là trung tá, chính ủy nhà trường là một thượng tá. Chủ nhiệm khoa văn hóa của tôi là thượng úy Phạm Khắc Quán, một trí thức con nhà dòng dõi trâm anh thế phiệt. Để được nhận vào dạy học tại trường sĩ quan hậu cần này, ông anh rể của tôi phải nhờ người anh ruột, tên là bác Lưu, cũng cấp đại úy và hiện đang giảng dạy quân sự hậu cầu tại trường làm giấy bảo lãnh cho tôi. Với “Lời Mẹ Dặn”: Anh phải vào đoàn, là một đoàn viên thì mới hy vọng được vô đại học. Vì thế tôi chỉ lấy công việc dậy văn hóa ở đây làm cái bàn đạp để vào đoàn rồi tiếp tục đi thi đại học. Tôi mất hơn một năm dạy học tại đây và công việc phấn đấu vào đoàn thanh niên lao động của tôi thật là một màn hài kịch chưa từng có. Chuyện thế này, kỷ luật của trường sĩ quan rất nghiêm ngặt. Mọi sinh hoạt đầu có kỷ luật. Từ 5 giờ sáng cho đến 9 giờ tối trước khi kẻng lên giường ngủ, nhất động nhất cử đều theo hiệu lệnh. Kể cả đi ăn cơm cũng phải xếp hàng theo tiểu đội. Đi đều 1-2, bát cầm tay phải, đũa cầm tay trái. trước khi vào nhà ăn phải nhúng bát, nhúng đũa vào chiếc chảo nước đang sôi sùng sục. Vì là trường hậu cần trong đó có việc nuôi quân, nấu ăn… nên việc làm bếp được coi trọng. Các chị nuôi (người nấu bếp) mặc áo vải phin trắng. Trước giờ ăn bao giờ cũng phi một chảo mỡ hành thật thơm, không dùng xào nấu gì cả nhưng cứ làm thế để kích thích tiêu hóa. Các học viên kể cả sĩ quan ăn cũng rất bài bản. Phòng ăn hàng trăm người, khi gắp thức ăn phải giở đầu đũa cho vệ sinh và tuyệt đối không được nói chuyện. Vì thế mặc dù cả trăm con người nhưng phòng ăn im phăng phắc chỉ nghe tiếng nhai cơm rào rào. Phải công nhận là quân đội ngày ấy kỷ luật rất cao. Tôi lại đang phấn đấu vào đoàn nên chấp hành kỷ luật một cách tuyệt đối. Thậm chí còn hơn cả các sĩ quan quân đội cùng khoa văn hóa. Còn nhớ, có hai chuyện nực cười thế này. Một, sáng dậy tập thể dục đúng giờ. Trời rét như cắt ruột nhưng hể nghe tiếng kẻng là mọi người phải dậy tập thể dục theo nhịp điệu của đài tiếng nói Việt Nam do nhà trường tiếp âm bằng một hệ thống loa cực mạnh. Sau đó xếp hàng chạy đều theo đơn vị trung đội lên bờ đê sông Đuống, chạy hàng cây số, lúc về đi đều và hát bài “vừng đông đã hừng sáng…” Ngày ấy, tối nào cũng vậy, tôi đợi cho mọi người đi ngủ hết, rồi mặc quần áo, đi giày sẵn mới vô giường đắp chăn ngủ. Vì thế mà đến sáng, mới nghe tiếng kẻng là tôi đã nhảy ra sân đứng sẵn chờ mọi người còn đang mặc quần áo, đi giầy. Nhờ đó mà dĩ nhiên tôi được điểm cao và được khen ngợi vì thủ đoạn này. Nhưng việc bốc cứt trồng rau mới là việc khôi hài nhất. Ngày ấy nhà trường đề ra phải tăng gia sản xuất sau giờ hành chính để cải thiện bữa ăn. Đất bên ngoài nhà trường dọc theo sông Đuống thì mênh mông. Hết giờ làm việc, mọi người chơi thể thao đàn hát… còn tôi thì cố phân đấu nên chui vào nhà xí (nhà vệ sinh công cộng của trường) để hót cứt, ủ hoai làm phân bón rau. Hồi đó chưa có hố xí tự hoại nên phân tươi thối nhức mũi, đúng như câu thơ của Phùng Cung “cứt nguyện thối đến hết mình cho người đời khỏi ngộ nhận”. Nhờ chăm bón phân, vườn rau của tôi tươi tốt lạ thường. Ai nấy cũng phải khen. Mồi lần trưởng khoa văn hóa còn tuyên dương tinh thần tăng gia sản xuất của tôi trong buổi họp. Nhưng vì chiều nào cũng chui vào hố xí bới cứt nên quần áo, người ngợm tôi hôi thối đến nỗi không ai dám đứng gần. Thậm chí đến bữa ăn không ai dám ngồi cạnh tôi. Vì thế có người đã nói (sau này đến tai tôi) là nếu không mau mau kết nạp thằng Khải vào đoàn mà cứ để cho nó bới cứt thế này thì thối hoắc cả khoa văn hóa! Đã thế tôi càng chăm chui vào hố xí để ai thấy tôi cũng phải bịt mũi. Màn hài kịch bới cứt trồng rau tăng gia sản xuất đã mau chóng đưa tôi vào đoàn. Với chiếc huy hiệu đoàn có in hình cánh tay cầm cờ… tôi đã đeo trên ngực về nhà để báo cáo thành tích với mẹ tôi. Sau đó tôi xin nghỉ dậy văn hóa ở trường hậu cần để ôn thi đại học. Mùa thi đại học năm 1963, tức hai năm sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi lại đệ đơn thi vào trường ĐHSPHN. Lần này tôi đăng ký thi vào khoa Nga, vì khoa văn, khoa toán là khó nhất. Lý do, đó là hai bộ môn chính có giá nhất để giảng dạy ở trường cấp 3. Còn các môn khác, trong đó có môn ngoại ngữ Nga văn chỉ là môn phụ. Đó là tôi nghĩ như vậy vì nỗi sợ thi trượt nó cứ ám ảnh từ hai năm trước. Nhưng kết quả là tôi vẫn trượt, trước sự ngạc nhiên của gia đình, bạn bè, dòng họ. Mẹ tôi thương tôi vô cùng. Vì theo bà, tôi đã là đoàn viên rồi thì tại sao lại không đỗ. Công sức phấn đấu vào đoàn của tôi hoàn toàn vô ích. Tôi sụp đổ hoàn toàn. Người gầy gộc đi. Suốt ngày đóng cửa phòng nằm yêu như người đã chết. Chú Hai tôi thấy thế định xin cho tôi lên khu gang thép Thái Nguyên làm trong guồng máy an ninh do một người bạn của ông được Bộ Công An phân công lên nằm trong Ban lãnh đạo của khu gang thép, nhưng là người của ngành Công An cài vào. Đó là cách tổ chức nắm nhân sự của chính quyền cộng sản đối với tất cả mọi ngành nghề. Tôi biết rõ thực chất công việc mà tôi phải nhận là làm “gián điệp” đi theo dõi mọi người sau đó báo cáo lại, trong khi tôi chưa tốt nghiệp đại học, chưa có nghề ngỗng gì cả, vì thế tôi không đi. (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 22, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/22/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-7/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 8): https://www.minds.com/newsfeed/1019876544374611968?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 6): https://www.minds.com/newsfeed/1019875169964105728?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 6) Chương Hai – phần 3 Đó là truyện của các ông bà buôn bán lớn, được gọi là tiểu chủ, tư sản thời đó. Còn đối với người buôn bán nhỏ, được gọi là tầng lớp tiểu thương như mẹ tôi cũng bị bạc đãi không kém. Trước 1945 mẹ tôi có một cửa hàng bán thực phẩm khô, lúc đó quen gọi theo tiếng Pháp là magasin d’alimentation như đường sữa, phô mai, bơ, bánh kẹo, rượu, hồ tiêu, gạo tám thơm… Bọn tây đầm ở khu Đồn Thủy bờ sông thường qua lại mua hàng của mẹ tôi. Mẹ tôi không biết nói tiếng Tây, nên ông bố tôi ngồi sau màn gió phiên dịch cho bà. Ông bố tôi nói tiếng Tây giọng Việt nên bọn tây đầm kháo nhau là con mẹ Việt Nam này có chồng là tây đảo Corse nên kéo nhau đến mua rất đông. Nhưng chủ yếu là mẹ tôi cân đúng và cân đủ. Sau này, những lúc nhàn rỗi, mẹ tôi thường kể rằng các me đầm khi mua hàng về nhà nó đều cân lại. Vì thế khi cân 1kg đường, cân chỉ đúng lượng rồi nhưng mẹ tôi vẫn cho thêm một thìa nữa nên khi về nhà, con đầm cân lại nó thấy tươi nên kéo nhau đến mua ngày càng đông. Vì thế cửa hiệu của mẹ tôi ở số 3B Hàm Long nhỏ nên có lúc tây đầm đến mua đông quá phải xếp hàng. Trong khi đó, cửa hiệu của tay người Hoa ở số 1 ngay đầu phố, kế sát nhà tôi lại vắng khách. Người chủ Hoa kiều nghi là mẹ tôi bán phá giá, cho người đi rình, nhưng không phát hiện ra điều gì. Khi Nhật vào Đông Dương, bọn tây rã đám, hoảng hốt, chúng đem cả lựu đạn và súng đến bán cho mẹ tôi. Theo yêu cầu của chú tôi, tức tướng Lê Hữu Qua sau này, lúc đó hoạt động bí mật, mẹ tôi cũng mua tất. Những thứ đó được giấu kỹ, rồi các ông Việt Minh đếm đem theo những ống tre to, bửa đôi ra, dấu lựu đạn và súng lục vào đó rồi buộc giả lại làm củi, chở đi từ cửa sau nhà tôi ra phố Lê Văn Hưu. Kế sát nhà tôi là nhà số 5, tiếp đó là 5A, 5B… và nhà số 5D chính là nhà lưu niệm của Đảng cộng sản bây giờ. Sở dĩ căn nhà cố 5D phố Hàm Long này được chọn làm nơi họp kính của chi bộ ĐCS vì nó có cửa sau ăn thông với ngõ Lê Văn Hưu, nơi tập trung nhiều dân lao động nghèo. Nếu có động, họ sẽ rút lui phía sau chạy trà trộn vào khu lao động này. Bọn tây khi đến mua hàng của mẹ tôi chúng đều nói tiếng Pháp. Nhưng khi Nhật qua, chúng hoảng hốt nên nhiều khi xổ ra tiếng Việt. Có lần nó chỉ tay lên giá hàng bảo mẹ tôi bán cho cái lọ kia. Mê tôi cầm nhầm một cái chai cạnh đó. Nó hét lên: cái lọ bé hơn chái chai, mày hiểu chưa! Thì ra những thằng thực dân này, khi sang Việt Nam làm công việc cai trị chúng đều học tiếng Việt rất bài bản. Nhưng tuyệt đối không nói, chỉ nghe mà thôi. Khi vội vàng nó mới xổ ra tiếng Việt. Mẹ tôi còn cho biết trước khi mãn hạn về Pháp, tây đầm thường đến cửa hàng của bà mua một vài kg gạo tám thơm và ít hồ tiêu về nước. Khi xảy ra toàn quốc kháng chiến, mẹ tôi đã bỏ cả gian hàng đầy ắp hàng hóa đó để đi theo ông nội, bà nội tôi tản cư lên Chí Chủ, Phú Thọ kháng chiến. Đến 1950, vì mang bầu đứa em gái tôi nên mẹ tôi mới hồi cư về Hà Nội tiếp tục buôn bán. Khi cải tạo tư sản sau 1954, mẹ tôi đang làm chủ cái cửa hàng nhỏ buôn bán tại gia, thì chú tôi bảo: Chế độ mới của ta không có buôn bán, nên chị chuyển hướng làm ăn đi. Thế là phải bán căn nhà phố Hàm Long. Đầu năm 1958 cả gia đình tôi dọn về làng Hoàng Mai, thuộc huyện Thanh Trì. Căn nhà mới mua này có gần 2000 mét vuông đất, có ao hồ để trồng rau, nuôi cá. Từ một người buôn bán, mẹ tôi trở thành người nông dân bất đắc dĩ. Quen buôn bán ở thành phố, khi về nông thôn sống mẹ tôi đã phải lao động rất vất vả khi tuổi đã lớn. Thời kỳ đó buôn bán bị triệt tiêu trên khắp miền Bắc từ thành thị đến nông thôn. Bây giờ ngồi nghĩ lại mới thấy chế độ cộng sản thật điên rồ. Một quái thai của loài người. Thứ chế độ đưa xã hội đã phát triển có sự phân công lao động, có buôn bán giao thông văn minh trở về thời kỳ ăn lông ở lỗ… Tôi có bà thím, vợ người chú thứ ba, quê ở Chí Chủ, Phú Thọ nơi đại gia đình tôi đi tản cư kháng chiến như đã kể trên đây. Bà là người đảm đang, thuộc nhiều ca dao tục ngữ, có khí phách kiên cường. Bà giỏi buôn bán hai mặt hàng là chè và sơn. Phú Thọ là đất “rừng cọ đồi chè” và rừng sơn, một loại cây cho nhựa để làm sơn như cây cao su. Trong kháng chiến bà vẫn ngược xuôi buôn bán nuôi cả gia đình đông con để ông chú tôi đi kháng chiến. Hòa bình lập lại 1954, bà theo chồng về Hà Nội. Bà tự tay thuê mướn, chặt đốn và đóng cả một bè tre nứa, gỗ, rồi cưỡi bè xuôi sông Hồng về đến bãi Phúc Xá Hà Nội là quê chồng để dựng nhà. Nếu được tiếp tục tự do buôn bán sau khi đất nước có hòa bình thì người phụ nữ có chí, có gan như bà giàu có biết chừng nào. Nhưng cộng sản đã triệt hạ buôn bán, chồng bà lại là cán bộ cao cấp ngành công an nên bà đành phải ở nhà túc thủ. Chú tôi xin cho vợ vào làm tạp vụ trong cơ quan Bộ Công An. Được ít bữa bà thấy phát ngán cái thứ cán bộ, công nhân viên hàng ngày thì lãn công nhưng đến cuối năm thì lại tranh nhau “lao động tiên tiến”. Bà bỏ cơ quan, về nhà bên bãi Phúc Xá trồng cây, nuôi lợn. Hàng ngày bà phải đi qua cầu Long Biên gánh nước gạo về nuôi lợn. Đi về hàng chục cây số rất nặng nhọc. Thấy vợ một ông cán bộ cao cấp mà phải lao động quá vất vả như thế (vì làm tự do không được cấp sổ mua gạo) ai cũng ái ngại cho bà. Nhưng bà tuyên bố: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Đó là cụm từ lần đầu tiên tôi nghe được trên cõi đời này từ mồm bà thím đáng kính của tôi từ ngày mới giải phóng thủ đô. Sau này đài báo ca tụng ầm ĩ khi nó được cụ Hồ nói vào những năm chống Mỹ sau này. Bà thím tôi thường than với các con: Vì bố anh là cán bộ nên tôi mới phải bó tay thế này… Bà thường phê phán, nhà nước có phải là con bò sữa đâu mà ai cũng xúm vào vắt. Bà đã nhìn thấy sự phá sản của kinh tế bao cấp. Người em dâu của bà là công nhân nhà máy giấy có từ trong kháng chiến ở Ao Châu, Phú Thọ, có chồng là sỹ quan quân đội sắm cho chiếc đài bán dẫn Nhật Bản. Thời ấy làm công nhân mà đã có chiếc đài bán dẫn là giá trị lắm, là sang lắm. Về quê chơi, bà thấy cô em dâu ở tập thể nên mắng cho một chập. Bà khuyên bán cái đài đi mà mua đất làm nhà riêng mà ở, không ai có thể ở tập thể cả đời! Cách đây chừng 2 năm tôi có về Phú Thọ chơi, lên thăm bà Giang (tên bà em dâu của thím tôi), thấy nhà bà xây cất trên một quả đồi rất nên thơ. Bà Giang nói với vợ chồng tôi: Nhờ bà Ba (thím tôi) nhìn xa trông rộng, bảo bán cái đài bán dẫn ngày ấy đi nên tôi mới mua được quả đồi này, làm được cái nhà này, ăn nên làm ra… Nếu không thì bây giờ vẫn chui rúc trong một gian nhà tập thể. Tôi đi vòng ra sau nhà, thấy vườn rau, dàn mướp, vườn xoan, đàn gà ríu rít… mà thầm khen thím Ba của tôi đúng là “nhìn xa trông rộng”. Chưa hết, bà Ba còn có đứa cháu ruột gọi bằng cô, là cán bộ của Bộ Giáo Dục. Năm đó, ông được mua phân phối một chiếc xe đạp Phượng Hoàng của Trung Quốc. Ở miền Bắc trước 1975 mà ai được mua phân phối xe đạp là may mắn như trúng số độc đắc. Bà Ba bảo ông cháu: Nhà anh một lũ con gái, anh không có một tấc đất thì sau này chó nó lấy con anh à. Bà bắt ông cháu phải bán xe đạp đi để mua đất. Hồi ấy, đất rẻ như bèo, xin không có nơi người ta cũng cho vì ai cũng nghĩ sau này lên CNXH thì ai ai cũng ở nhà nhà nước cấp dại gì mà mua đất làm nhà. Nhưng người cháu vẫn nghe cô mình khuyên. Bán chiếc xe đạp đi, ông cháu mua được cả khu đất rộng bên Gia Lâm. Bây giờ, thời kinh tế thị trường, đất đắt như vàng. Các con ông đều có chồng và được chia mỗi đứa một mảnh để làm nhà. Ông nói với mọi người là nhớ ơn bà Ba muôn đời! Ngày trước, mỗi lần thím Ba tôi về quê, thấy đất cát bỏ không nhưng nếu ai khai khẩn thì bị kết tội là tư hữu, bị cấm đoán có khi còn mang họa vào thân. Thấy cảnh quê hương Phú Thọ của mình như thế, bà tuyên bố: Cái nước này rồi sẽ lụi bại! Mà lụi bại thật. Giả sử, nếu Liên Xô không sụp đổ, Việt Nam không đổi mới thì bây giờ chúng ta sẽ như Bắc Triều Tiên, chết đói như rạ. Khi bà thím tôi tuyên bố như thế, nhiều người thời đó không đồng tình. Bây giờ ngồi nghĩ lại, tôi thật khâm phục một người nông dân ít học như thím tôi, nhưng do độc lập suy nghĩ, không cần kẻ khác “bao cấp” tư tưởng cho mình nên bà sáng suốt và nhìn xa trông rộng hơn cái Đảng Cộng sản mà ông chồng bà cả đời trung thành phục vụ. Nói cho thật công bằng, thời đó các vị “Nhân Văn Giai Phẩm” cũng đã nhìn thấy, nhưng chỉ vì họ là nhà văn, là họa sỹ… họ công bố tư tưởng của mình, công bố tác phẩm của mình… nên mang họa vào thân. Bà thím tôi chỉ xuất bản tư tưởng của mình bằng lời nói nên không sao. Thật may cho bà. Tôi muốn mở ngoặc ở đây, kể về một bức biếm họa mà tôi xem được ở một tờ báo của nhóm “nhân văn” thời đó. Bức tranh vẽ một người ngồi ở vỉa hè, anh ta đang lấy cái rìu đẽo chân của mình… máu me chảy ra lênh láng. Thấy vậy có người hỏi: Sao lại đẽo chân đi thế? Anh ta liền chỉ vào đôi giày để bên cạnh và nói: Chân tôi phải đi giày số 41 mà mậu dịch chỉ bán giày đồng loạt số 39… nên tôi phải đẽo chân nhỏ đi cho vừa giày! Người dân đã nhìn ra sự phá sản của kinh tế quốc doanh từ hồi đó, vậy mà đến bây giờ, khi tôi viết những dòng chữ này thì nghị quyết mới nhất của Đảng vẫn tiếp tục khẳng định “kinh tế quốc doanh là chủ đạo”. Vì thế mới có những Vinashine, Vinaline… Cái đại họa này không biết sẽ còn kéo dài đến bao giờ??? Cuộc CCRĐ, cải tạo tư sản ở miền Bắc đã triệt tiêu những người lao động có năng lực nhất ở cả nông thân lẫn thành thị. Những người có tay nghề cao, có kinh nghiệm quản lý, biết tổ chức sản xuất và kinh doanh. Gia sản của họ bị trưng thu, trưng mua, tịch thu kiểu ăn cướp còn bản thân họ thì bị bắn chết trong CCRĐ, bị bạc đãi ở thành thị. Xã hội ngày ấy bị kéo lùi lại thời trung cổ! Có nhà thơ của nhóm Nhân văn đã khái quát: “Tôi đi không thấy phố thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ” Vậy mà sau chiến thắng 1975, miền Nam lại bị cải tạo tư sản. Một ông chủ xe đò (xe chở khách) ở Mỹ Tho nói với tôi: Khi các ông Việt cộng đến nhà tịch thu mấy cái xe đò của tôi để đưa vô công tư hợp doanh… thì tôi đã biết là các ông ấy sẽ thất bại rồi. Tôi hỏi ông chủ nọ: Vì sao bác biết trước là sẽ thất bại? Ông trả lời: Họ chỉ lấy đi cái xe, còn phụ tùng, đồ sửa xe tôi để dưới gầm giường thì không ai lấy đi cả. Tôi biết ngay là những ông này chưa bao giờ sử dụng xe ô tô cả. Y như rằng, sau này xe nát, kinh doanh thua lỗ, phá sản… Sau ngày đổi mới, xe lại về tay tôi. Tôi lại là chủ xe như bây giờ… Những người cầm súng giành chiến thắng trong đấu tranh bạo lực sau đó được làm chủ, được chỉ huy nhưng không có nghề ngỗng gì thì làm nát bét kinh tế đất nước như đã thấy. Muốn thành một ông chủ thì ít nhất phải trải qua kinh nghiệm, có mấy đời cha ông làm nghề đó chưa kể phải tích lũy tiền bạc, kinh nghiệm quản lý, trau dồi tay nghề… rồi truyền lại cho con cháu. Thế mà, đùng một cái cải tạo, gia sản giao cho mấy anh chân đất mắt toét vừa ở rừng ra quản lý và chỉ huy thì sự thể ra là như thế. Bi kịch của cuộc cách mạng vô sản, cách mạng công nông là như thế. Tôi nhớ ngày giải phóng miền Nam, sau này ông Võ Văn Kiệt đề nghị gọi là ngày “thống nhất đất nước”. Nhiều chuyện khôi hài xảy ra ở những đầu tiếp quản. Có anh bộ đội miền Bắc, chưa một lần được được biết thành phố, anh ta theo đoàn quân chiến thắng vào thẳng Sài Gòn. Vô nhà vệ sinh anh nhìn thấy cái bồn cầu bằng sứ trắng lốp, lại có nước ở bên dưới bèn ra chợ mua cá lóc thả vào. Một lát không thấy cá đâu, anh kêu ầm lên là có ai lấy cắp cá của anh… anh không hề biết đó là cái hố xí vì xưa nay anh sống ở nông thôn miền Bắc, chưa thấy nó bao giờ. Một anh nông dân “chất phác” như thế mà giao cho làm cán bộ chỉ huy ở thành phố sau này thì bi kịch sẽ tiếp nối hài kịch là đương nhiên! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 18, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/18/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-6/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 7): https://www.minds.com/newsfeed/1019875766543372288?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 5): https://www.minds.com/newsfeed/1019874753700769792?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
17 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 5) Chương Hai – phần 2 Lại nói về Hà Nội những năm 50 đầu thế kỷ trước. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đến giai đoạn này đã chuyển sang thế phòng ngự và tấn công. Quân đội viễn chinh Pháp bắt đầu thua liểng xiểng. Người Hà Nội chứng kiến cảnh binh lính Pháp sau những ngày thua trận ở các nơi về Hà Nội với vẻ chán trường, râu tóc bơ phờ và… sống gấp. Các bar rượu, vũ trường, đèn xanh đỏ lập lòe, nhốn nháo thâu đêm. Cũng nhờ đám viễn chinh này ăn chơi xả láng mà nhiều người cũng kiếm chác được nhờ phục vụ chúng. Có chị bán thuốc lá trước một rạp chiếu bóng kể bán thuốc cho tây một lãi mười. Khi một thằng tây mua gói thuốc, nó đưa tiền chẵn, khi trả lại tiền (miền Nam gọi là thối tiền), đáng phải trả lại mười thì chỉ trả lại một. Nó chẳng đếm lại bao giờ, đút tiền vào túi đi ngay. Nếu thấy nó đếm lại thì… cầm tiền đưa thêm, coi như chưa đưa hết! Dạo ấy, cứ mỗi lần nghe thấy tiếng máy bay trực thăng trên đầu là lũ trẻ chúng tôi ở các phố Hàm Long, Lò Đúc, Lê Văn Hưu… chạy bán sống bán chết ra vườn hoa Pasteur. Ở đó có một bãi đất rộng cho trực thăng hạ cánh. Chúng tôi nhìn thấy từ trên trực thăng các thương binh da trắng, da đen được khiêng xuống để đưa về nhà thương Đồn Thủy (nay là bệnh viện 108) để cứu chữa. Khi trên Điện Biên Phủ xẩy ra thì ở Hà Nội thật nhộn nhạo. Tin tức đồn đại khắp nơi. Báo bán chạy như tôm tươi. Hầu hết các gia đình trung lưu ở Hà Nội lúc đó đều mua báo hàng ngày để theo dõi tin tức chiến trường. Người ta lo âu, thì thầm vì biết thế nào Pháp cũng thua, Việt Minh sẽ thắng. Người có gia đình theo kháng chiến thì vui mừng, hồi hộp. Một hôm, ông bác ruột, anh mẹ tôi từ phố Hàng Buồm đến chơi, đưa tờ báo cho mẹ tôi coi rồi chỉ tay vào một tấm hình lớn ngay trang nhất và nói: “Em chồng cô bây giờ làm lớn lắm!” Thì ra đó là tấm hình chụp ông Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn đại biểu VNDCCH tại hội nghị Geneve về Đông Dương 1954. Đứng cạnh trưởng đoàn Phạm Văn Đồng là chú tôi, Lê Phú Cường (tức tướng Lê Hữu Qua sau này). Sau này tôi mới biết là chú Hai tôi là nhân viên an ninh của phái đoàn Việt Nam tại Geneva, có nhiệm vụ bảo vệ đoàn và trưởng đoàn. Đây là lý do chú tôi thường hay xuất hiện bên cạnh ông Phạm Văn Đồng. Vì thế mọi người cứ tưởng chú tôi làm lớn lắm. Lúc đó mới 12 tuổi đầu, tôi không hình dung ra cái gì sẽ đến với gia đình tôi và Hà Nội. Thế nhưng, cái gì đến đã đến. Ngày 10/10/1954, ngày giải phóng thủ đô thật đáng ghi nhớ. Mẹ tôi là một người buôn bán rất nhạy cảm nên trước đó bà mua tích trữ nhiều cán cờ bằng gỗ, bằng tre xếp đầy nhà. Ngày đó tung ra bán cho người ta làm cán cờ vẫy chào bộ đội về giải phóng thủ đô. Tôi còn nhớ như in đêm mùng 9 rạng sáng 10/10 ấy cả thành phố giới nghiêm và không ai ngủ cả. Mấy chị em tôi dán mắt nhìn qua khe cửa. Trong ánh sáng vàng đục của những ngọn đèn đêm, tôi thấy những tên lính Pháp cao lớn đi tuần. Gần sáng, lính Pháp chốt lại các đầu phố. Nhà tôi ở số 3B phố Hàm Long, tức đầu phố nhìn ra ngã năm Phan Chu Trinh, Hàm Long, Lê Văn Hưu, Lò Đúc, Hàn Thuyên rõ mồn một. Lính Pháp tụ lại ở đầu phố. Khi trời sáng hẳn thì từng tốp bộ đội của ta vai đeo súng từ từ tiến đến chỗ lính Pháp. Những tên lính Tây cao lêu nghêu đứng cạnh bộ đội Việt Minh bé nhỏ chỉ cao đến vai chúng. Họ trao đổi với nhau, bàn giao với nhau những điều gì đó rồi thấy lính Pháp từ từ rút lên phía nhà hát lớn theo đường Phan Chu Trinh. Khi lính Pháp rút rồi, chỉ còn lại bộ đội ta thì tất cả các cánh của bật tung, nhân dân hai bên phố ùa ra đường với cờ đỏ trong tay reo mừng hoan hô các anh bộ đội. (Dĩ nhiên các cán cờ là của mẹ tôi bán cho họ). Nếu tôi không ghi lại cái sự việc có thật này về cái đêm mùng 9/10 năm đó, thì sau này các sử gia, các nhà tiểu thuyết lịch sử khó hình dung người Hà Nội làm gì, nghĩ gì, đường phố Hà Nội diễn ra điều gì trong cái giờ phút lịch sử đó. Bởi lẽ, những người Hà Nội chứng kiến lúc quân Pháp rút lui lúc rạng sáng ngày hôm đó chắc không còn mấy người và cũng chẳng ai làm cái việc lẩn thẩn là ngồi ghi chép lại những sự việc đó trong khi mọi người đang điên rồ kiếm tiền, cố tồn tại trong cái nền kinh tế thị trường định hướng XHCN này! Cũng cần phải nói thêm là, trước ngày 10/10/1954 cả mấy tháng, đã có các cán bộ Việt Minh vào thành phố, tá túc trong các nhà dân vốn là cơ sở của Việt Minh hay các gia đình có người đi kháng chiến. Nhà tôi cũng có một chị tên là Nhân đến ở. Họ có nhiệm vụ giải thích chính sách của chính phủ kháng chiến, khuyên đồng bào không theo Pháp đi Hải Phòng… Chị Nhân có chồng là cán bộ hoạt động nội thành rất đẹp trai tên là Hồng Kỳ. Mẹ tô đã xếp cho họ ở một căn buồng nhỏ sau bếp nhà và đứa con đầu lòng của họ đã “nên người” ở căn buồng đó. Sau này họ vẫn đi lại thăm gia đình tôi. Lại nói về ngày 10/10 lịch sử, cho đến 10 h sáng hôm đó thì cả Hà Nội là một ngày hội lớn. Năm cửa ô Hà Nội tưng bừng đón những đoàn quân chiến thắng trở về. Các nghệ sỹ đem cả đàn ra kéo, các chị mặc áo dài, các bà nhà giàu tung hoa tươi lên các đoàn xe trở các đoàn quân tiến vào thành phố. Có những câu chuyện thật cảm động mà tôi biết. Bà cụ Lý Tiếp, người làng Đồng Nhân, quê ngoại của tôi. Cụ có họ xa với mẹ tôi. Cụ sinh sống bằng nghề bán nước mắm rong trên đường phố. Hôm đó có người bảo với bà rằng, con bà là cán bộ chỉ huy cao cấp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nếu tôi nhớ không nhầm là đại đoàn trưởng hay trung đoàn trưởng gì đó… có người làng đã trông thấy con trai bà trên phim tài liệu về Điện Biên khi còn ở vùng tự do. Người cán bộ vô thành kiểu như chị Nhân tôi kể ở trên đã cho bà biết tin như thế. Nhưng bà cụ không tin nên sáng ngày 10/10 bà vẫn đi bán nước mắm. Khi đoàn quân tiến vào thủ đô, bà cụ Tiếp vẫn đòn gánh trên vai chen vào đoàn người đứng hai bên đường tại một cửa ô. Bỗng nhiên bà trông thấy con trai mình ngồi trên xe jeep dẫn đầu đoàn quân. Bà lao ra… hai mẹ con đã ôm lấy nhau… và mọi người đều khóc. Người chỉ huy đó sau này là thiếu tướng Vũ Yên. Tên cúng cơm của ông là Nguyễn Văn Tịch. Mẹ tôi nói ông là người làng của bà. Khi viết những dòng này, tôi cũng cảm động rơi nước mắt khi ngòi bút “chạy” tới đây. Lịch sử đất nước có những giờ phút đáng ghi nhớ như thế. Nhưng, người ta có hay đâu những người hồ hởi mang hoa ném lên những đoàn xe trở đoàn quân chiến thắng kia, chỉ ít lâu sau là nạn nhân của những cuộc cải tạo tư sản. Ở nông thôn là cải cách ruộng đất đẫm máu. “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc “đấu tranh giai cấp”, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố bọn “Nhân văn Giai phẩm”. Nhà văn Nguyễn Khải đã miêu tả rất đúng chân dung của con người Việt Nam từ thành thị đến nông thôn sau chiến thắng Điện Biên trong bài tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất”. Ông viết: “Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chẳng có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn. Từ nay họ chỉ được nghĩ, được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, một đường lối nếu họ không muốn dẫm vào vết chân của nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Một dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, mắt nhìn ngơ ngác, đi đứng lom rom như một kẻ bại trận”. Viết đến đây tôi chợt nhớ có lần đọc được bài viết của một phóng viên người Pháp nhiều năm sống ở Trung Quốc. Khi quân giải phóng nhân dân Trung Hoa vượt sông Trường Giang đuổi quân Tưởng Giới Thạch khỏi lục địa, thu Trung Quốc về một mối, tác giả đã từ Hồng Kông qua lục địa và chứng kiến cảnh nhân dân vui mừng chào đón một tương lai tốt đẹp như thế nào. Sau đó tác giả hạ một câu, đại ý, nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc không tiếp tục công cuộc “đấu tranh giai cấp” sau đó thì nước Trung Hoa đã không khốn nạn như ngày nay. Việt Nam chẳng khác gì Trung Quốc, hay nói cách khác là giống nhau như hai giọt nước. “Đấu tranh giai cấp” đã tàn phá tất cả những gì tốt đẹp mà nhân dân Việt Nam đã đổ xương máu để giành được cho đến ngày chiến thắng Điện Biên Phủ. Cải cách ruộng đất đã đưa những ông bà nông dân mắt toét răng đen không biết chữ lên làm chánh án những “tòa án nhân dân”, có quyền phán quyết án tử hình và nạn nhân bị đem bắn ngay sau đó. Những thước phim tư liệu do chính quyền quay mà tôi đã được xem, mỗi lần nhớ đến vẫn khiến tôi lạnh xương sống. Tên địa chủ được lôi ra đấu tố, ra xét xử đi giữa hai du kích đi chân đất và cầm súng chĩa vào mình. Và, tên địa chủ ấy cứ run cầm cập khi nhìn thấy cái cọc tre đã được đóng sẵn để lát nữa trói mình vào đó để xử bắn! Chưa cần xử, nạn nhân đã biết trước hình phạt dành cho mình. Xem những thước phim cho thấy, chỉ sau vài loạt hô đả đảo của quần chúng đang điên rồ trong cơn phấn kích là “phạm nhân” đã bị trói nghiến vào cái cột tre, rồi sau loạt súng nổ, người ta bu lại để xem tên “phạm nhân” nghẹo cổ. Đạn xuyên thẳng vào tim. Cả xã hội miền Bắc đã lên cơn nhập đồng cuồng điên trong cuộc đấu tố bắn giết kéo dài đó. Thật khó có thể giải thích những người nông dân nghèo khổ, hiền lành, nhẫn nhục, sống với nhau bao đời trong các làng quê được bao bọc bởi những lũy tre xanh hiền hòa kia… bỗng có ngày họ bị Đảng Cộng sản cho uống thuốc kích độc, kích ác, kích bạo, kích tham… những độc dược dán mác “đấu tranh giai cấp” hay “Mác-Lenin” … để một chị con gái có thể nhẩy chồm lên chỉ vào mặt bố đẻ của mình mà hét: Thằng kia, mày có biết tao là ai không? Và người cha đẻ của chị khúm núm run rẩy thưa: Thưa bà, bà là con của con ạ!!! Ở Đồ Sơn quê vợ tôi có câu chuyện thương tâm thế này. Một phú nông trong làng, từng chứa chấp Việt Minh hoạt động. Một hôm, có 5-6 cán bộ đang họp trong nhà thì có tin Tây đến vây bố. Chủ nhà nhanh trí hô tất cả trèo lên mái nhà dỡ mái xuống (xem như đang sửa nhà). Thấy cảnh nhà cửa ngổn ngang, mái nhà bị dỡ tung, chúng tin là nhà đang sửa nên có đông thợ đến làm liền rút lui. Thế nhưng, thật trớ trêu ông chủ nhà sau này bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung ông phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng để tự thiêu. Chị con gái đã có chồng, có con, quỳ lạy cha xin tha chết để còn sống nuôi con. Nghĩ thương cháu, người ông tha cho con gái sau đó châm lửa thiêu cả nhà. Khi mọi người biết chuyện chạy đến thì những đứa trẻ đã chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò! Cuộc cách mạng cải cách ruộng đất (CCRĐ) “long trời lở đất” ở miền Bắc lúc đó đã xử bắn hàng chục ngàn người, đa phần là những người có công với kháng chiến, những phần tử ưu tú nhất ở nông thôn Việt Nam. Nói về CCRĐ thì nhiều tác phẩm văn học như “Ba người khác” của Tô Hoài; “Bến Không Chồng” của Dương Hướng; “Thời của thánh thần” của Hoàng Minh Tường; hồi ký “Hồ ký một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải đã miêu tả khá sinh động, chân thực. Nhưng những truyện về “cải tạo tư sản” ở những thành phố miền Bắc lúc đó ít được viết đến vì nhiều lý do. Là một người sinh ra và lớn lên ở thành thị (Hà Nội), tuy lúc đó chỉ là đứa trẻ 15, 16 tuổi nhưng tôi đã chứng kiến tận mắt cái bi kịch “cải tạo tư sản”. Tuy nó không ghê rợn âm u như thời trung cổ, như CCRĐ. Mặc dù diễn ra sau CCRĐ và rút được kinh nghiệm phần nào nhưng không thiếu những cảnh cười ra nước mắt, kệch cỡm, lố bịch, đểu cáng… chưa từng có trong đời sống của thị dân Việt Nam. Hai gia đình cả bên nội lẫn bên ngoại của tôi đều có những ông chủ bị cải tạo nên tôi biết rất rõ. Giá tôi có được cái tài như nhà văn Dương Hướng thì chắc chắn độc giả đã có được cuốn tiểu thuyết hay như “Bến Không Chồng” về cảnh sắc ở thị thành thời cải tạo tư sản. Tôi đã đọc “Bến Không Chồng” nhiều lần và vô cùng khâm phục tài năng cũng như vốn sống của tác giả về xã hội nông thôn miền Bắc. Nước Pháp đã dịch tiểu thuyết của ông sang tiếng Pháp. Người ta đã chọn một người Pháp giỏi tiếng Việt và một người Việt giỏi tiếng Pháp để cộng tác dịch tác phẩm này. Vì không có tài viết tiểu thuyết, tôn xin kể ra đây các sự việc về cái gọi là cải tạo tư sản thời đó, hy vọng để lại ít nhiều tư liệu cho đời sau Ông anh ruột của mẹ tôi mà tôi vẫn quen gọi là bác Hai Súy (người thứ hai trong dòng họ) tên thật là Nguyễn Vĩnh Phương. Ông làm nghề thầu khoán. Tôi không rõ ông học đến trình độ gì nhưng tôi thấy ông vẽ được các bản vẽ cho các công trình xây dựng, nay gọi là bản thiết kế. Tôi chắc là ông có tay nghề cao, nên sau này người ta xây dựng sân bóng đá lớn ở Hà Nội là sân Hàng Đẫy, và sửa chữa nhà hát lớn Hà Nội ông cũng được mời tham dự. Có nghề thiết kế trong tay, ông lại nhận thầu khoán các công trình nên là người có của. Ngoài căn nhà ở số 77 phố Hàng Buồm, nơi ông đặt văn phòng làm việc, ông còn có 2,3 căn nhà khác nữa. Trong đó tôi nghe nói, có đến 9,10 phòng sang trọng, mỗi phòng một kiểu đá hoa (trong Nam kêu là đá bông). Khi cải tạo tư sản, những nhà này ông đã “tự nguyện” làm đơn hiến cho nhà nước quản lý vì theo quy định về tiêu chuẩn sử dụng nhà ở lúc bấy giờ, mỗi gia đình chỉ được sử dụng tối đa 120 mét vuông. Bà vợ ông mà tôi thường gọi là bà Hai Súy là một phụ nữ hiếm có. Bà buôn bán rất đảm đang và là một người nhân hậu được cả cộng đồng buôn bán ở Hà Nội lúc đó tôn vinh, ca ngợi. Bà bác của tôi kinh doanh vvề mật hàng bánh kẹo, đặc biệt là bánh trung thu. Hãng bánh trung thu Vĩnh Phương của bà nổi tiếng ở Hà Nội một thời. Từ đầu năm bà đã thu mua các nguyên liệu, tích trữ các mặt hàng cần thiết cho việc sản xuất một lượng bánh kẹo lớn để bán vào dịp trung thu. Từ rằng tháng bảy ta, căn nhà 77 Hàng Buồm dài hun hút nối với một căn nhà khác ăn ra mặt tiền phố Hàng Giấy thực sự trở thành một xưởng bánh kẹo có hàng chục công nhân làm việc ngày đêm. Thời đó chưa có dây chuyền sản xuất bánh trung thu theo kiểu công nghiệp như ngày nay. Tất cả phải đóng vào khuôn gỗ, vì thế tiếng gõ từ khuôn gỗ xuống mặt bàn để gỡ bánh nướng bánh dẻo ra khỏi khuôn của mấy chục tay thợ vang dậy cả khu nhà. Sau dịp bánh trung thu, bác tôi lại tích trữ nguyên liệu để sản xuất mứt kẹo cho tết nguyên đán. Để làm mứt sen ngày tết, bác tôi phải tích trữ hàng tấn sen hạt phơi khô chất trong kho. Các hạt sen này khô cứng như đá. Đến khi làm mứt phải cho vào chảo lớn ninh. Nước đầu phải đổ đi vì nhiều tạp chất. Nhưng từ nước thứ hai trở đi thì mùi thơm của sen bốc lên ngào ngạt. Những chảo nước sen sánh đặc này vẫn phải đổ đi, rất tiếc. Nhiều người đến xin nước sen đặc này về uống. Nhưng ai uống nhiều thì ngủ li bì như chết. Tôi đã có lần uống liền hai cốc nước sen pha đường, ngon ngọt vô cùng nhưng sau đó thì nhủ đến không mở mắt ra được. Phải ninh đến nước thứ ba thì sen mới nở bung ra, làm mứt mới ngon. Một năm bác tôi chỉ tập trung vào hai dịp tết đó để sản xuất bánh kẹo nhưng công việc chuẩn bị, tích trữ nguyên liệu thì phải làm quanh năm. Có thời gian bác tôi còn đi cả Hồng Kông để nhập đồ sứ cao cấp về Hà Nội bán. Bác tôi còn mưa cả cây đàn piano loại đắt tiền từ Hồng Kông về cho các con. Cây đàn ấy hiện vẫn còn giữ được ở căn nhà phố Hàng Buồm. Bác tôi, một người phụ nữ đảm đang, tài giỏi như thế nhưng dưới chế độ cộng sản thì họ gọi là “con buôn”. Và, cái xưởng bánh kẹo của bà là đối tượng của cái gọi là “công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”. Xưởng phải vào hợp tác xã và chỉ sau thời gian rất ngắn là tan rã. Thợ thuyền đều thất nghiệp để “mặt nám mắt đen nhìn ngơ ngác” như nhà văn Nguyễn Khải đã miêu tả về giai đoạn này! Trước khi tiến hành cải tạo công thương nghiệp… một số nhà tư sản ở miền Bắc lúc đó được lùa vào cái gọi là “hội công thương”, một số đại biểu của hội này được đi tham quan học tập ở Thượng Hải bên Trung Quốc về cải tạo XHCN với tư sản. Một trong những người được đi Thượng Hải dịp này mà tôi được biết là ông Quỳnh Phong, một nhà tư sản đi kháng chiến có quen biết với gia đỉnh tôi khi ở Phú Thọ. Ổng đã mở cả xưởng làm ngòi bút, làm khuy áo bằng vỏ trai, vỏ hến… để kháng chiến “toàn quốc”, “toàn diện” như khẩu hiệu của cụ Hồ lúc đó. Cơ sở sản xuất của ông sau này ở Hà Nội cũng bị cướp sạch (!) Điều tôi muốn nói nhất ở đây về cải tạo tư sản là nó đồng thời phá hoại kinh tế, vật chất của xã hội. Nguy hại hơn là nó còn phá vỡ cả khối đoàn kết dân tộc. Người ta đã gieo rắc vào xã hội, vào đầu óc người dân sự thù ghét người giàu. Họ xem sự giàu có là một tội ác, do đó tìm mọi cách moi móc vu khống cho những người giàu có. Nhìn những người giàu là chỉ do bóc lột mà có. Những gì mà tôi biết được về sự “cải tạo” nhà ông bác tôi ở Hàng Buồm thật chua chát, khôi hài. Người ta đã “bồi dưỡng tư tưởng” cho những công nhân làm thuê cho bác tôi để họ “tố khổ” ông bà chủ. Nhưng có câu chuyện nực cười thế này, trước cửa nhà bác tôi cho vợ chồng ông ba Tàu đứng nhờ để bán mì hoành thánh sinh nhai đã nhiều năm. Khi được đội cải tạo “bồi dưỡng” để bắt ông phải tố ông bà chủ nhà đã “bóc lột” vợ chồng ông như thế nào… cũng may cho bác tôi là vợ chồng người Tàu này rất thật thà và có nhân cách. Ông ta thưa với đội cải tạo là ông bà Vĩnh Phương (tức bác tôi) cho đứng bán quanh năm mà không lấy một đồng xu nào. Thậm chí, tết đem đôi gà sống thiến đến biếu thì ông bà Vĩnh Phương bảo phải đem về, nếu cứ để đôi gà lại thì năm sau không cho đứng nhờ bán hàng nữa! Thế là đội nghe vậy đành chịu. Còn nữa, trong gia đình bác tôi có một người con nuôi tên là M. Câu chuyện của anh rất bi thảm. Nạn đói năm 1945 ấy, mẹ anh đã chết từ lâu nhưng đứa con (chính là anh M này) vẫn bò lên xác mẹ để bú, nhìn thấy thương tình quá, bác tôi bế vào nhà kho cho uống sữa và nuôi M từ đó. Sau này đội cũng “bồi dưỡng” M và yêu cầu anh tố khổ cha mẹ nuôi nhưng anh nhất mực ca ngợi cha mẹ nuôi của mình. Thấy vậy đội không chịu và quyết truy hỏi với những gợi ý: Vì sao những người con đẻ thì được ăn học tử tế, còn anh thì phá ngang không theo học đến đầu đến đũa? Anh M đã trả lời dứt khoát do tôi tối dạ, học không vào nên xin với bố mẹ cho nghỉ học để đi học việc chứ không phải các cụ bắt tôi phải nghỉ học. Anh còn tuyên bố: Bố mẹ nuôi tôi đã cứu tôi từ cõi chết trở về, cho tôi được làm người, tôi không thể nào phản bội được. Nếu không có bố mẹ nuôi tôi cưu mang thì tôi đã chết từ lúc vừa biết bò! Thế là một lần nữa đội đành bó tay! Còn rất nhiều chuyện khôi hài pha nước mắt mà nếu kể ra thì nó phải dầy như cuốn tiểu thuyết nhiều tập mà sức và tài của tôi thì xin chỉ dừng lại ở đây. Có lẽ cũng do dân trí ở thành thị cao hơn ở nông thôn nên những cuộc đấu tố tư sản không đến nỗi bất nhân, xảo trá, vu khống trắng trợn như ở nông thôn trong CCRĐ. Anh M mà tôi kể, sau này được kết nạp Đảng và làm tới chức giám đốc một nông trường cao su ở Nam Bộ sau 1975. Anh thật xứng đáng là một đảng viên và trường hợp kết nạp này thì Đảng thật là sáng suốt. Bên họ nội của tôi cũng có một ông bác họ ở Hải Phòng bị cải tạo, đó là ông Lê Đức Ngữ. Bác Ngữ của tôi có một hiệu chụp ảnh khá nổi tiếng ở thành phố cảng ở đường Hoàng Văn Thụ, mặt đường phố lớn. Tiệm chụp ảnh của ông chỉ thuê vài thợ giúp việc và cũng bị cải tạo. Nhà ông họ chiếm làm một cửa hàng cho Sở văn hóa-thông tin. Căn nhà mặt tiền rộng 6 thước này bị ngăn ra 2 mét là đường đi vô lối sau cho chủ nhà còn 4 mét mặt tiền xây thành cửa hàng thuộc nhà nước quản lý. Cho đến bây giờ, tôi ra Bắc đến thăm người anh họ vẫn thấy ông phải ở trên lầu còn căn nhà bên dưới vẫn bị chiếm. Nhiều người góp ý với anh nên đòi lại phần nhà bị chiếm dụng vô lý vì cũng đã có nhiều trường hợp tương tự đã được trả nhà cho chủ nhân nhưng anh tôi rất ngại phải tốn tiền chạy chọt (thì mới được việc) nên đến bây giờ ông vẫn phải ở trên gác, ra vào qua cái ngõ tối om… Nhưng, điều đáng nói hơn là thế hệ con cháu những người bị cải tạo, bị quy là tư sản là tiểu chủ thì luôn kè kè bên mình cái lý lịch xấu và vì thế cứ khổ sở suốt đời. Người con trai cả của bác tôi, vì nhà có xe hơi nên biết lái xa. Đến khi bị cải tạo, anh được nhận vô lái xe tuyến Hải Phòng-Đồ Sơn. Cho đến bây giờ, cháu nội của ông cũng được “ưu tiên” nhận vào lái xe cho xí nghiệp. Vậy là nhà ông ba đời lái xe cho dù con cháu sau này có học hành giỏi giang đến đâu cũng không thể vô các trường trung...
20 views ·