LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 4) Chương Hai - phần 1 Đi tản cư lên Chí Chủ Phú Thọ Đại gia đình Lê Phú bao gồm tất cả các người con, người cháu của ông nội tôi lên một toa đen tàu hỏa từ Hà Nội và điểm dừng là ga Chí Chủ. Đây là quê của người con dâu thứ ba của ông nội tôi. Tôi thường gọi là thím Ba. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của gia đình thím Ba mà ông nội tôi mua được một quả đồi tên là đồi Dọc Bùng tại thôn Chí Chủ, xã Chí Tiên huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ. Quả đồi được mau chóng khai phá để trồng sắn, nuôi gà vịt… lấy lương thực theo kháng chiến trường kỳ. Mẹ tôi, một người buôn bán giỏi ở Hà Nội trước đây, đã mở một xưởng làm thuốc lá thủ công) lấy tên là hãng thuốc lá Lương Sơn theo khẩu hiệu “kháng chiến toàn diện” của cụ Hồ. Xưởng thuốc lá phát triển rất tốt. Nhiều con cháu trong họ đã trở thành công nhân làm thuê cho mẹ tôi. Thuốc lá nhãn hiệu Lương Sơn được bán rộng rãi ở vùng tự do lúc đó. Nhưng đến giữa năm 1950, gia đình bố mẹ tôi phải hồi cư về Hà Nội, vì mẹ tôi mang bầu, không thể ngược xuôi buôn bán được nữa. Ông bà nội tôi và gia đình họ Lê Phú vẫn theo kháng chiến đến cùng. Khi đặt chân lên quả đồi Dọc Bùng ở Chí Chủ, lúc đó tôi mới tròn 5 tuổi và tôi chỉ ở đó cho đến năm 8 tuổi lại theo bố mẹ về Hà Nội sống nhờ bên ngoại giàu có. Nhưng trong ký ức tuổi thơ của tôi, những ngày sống ở Chí Chủ vô cùng thơ mộng, hấp dẫn. Thiên nhiên miền Trung du Phú Thọ với “rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt” đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết. Quả đồi gia đình tôi ở chung quanh là đầm nước. Buổi sáng khi sương còn giăng trên mặt hồ đã có những đoàn thuyền nan bé xíu buông lưới, gõ mạn thuyền đồi cá vô lưới… nhộn nhịp cả một góc rừng. Những chiều mưa đứng trên đồi nhìn xuống mặt hồ mù mịt thấy nao nao người. Tôi thường thẫn thờ chơi một mình ở những “yên ngựa” võng xuống nối liền hai quả đồi. Ở đó có những hòn đá cuội đen bóng như than. Hết thung lũng lại lên những quả đồi sim hoa tím quả ngọt, nhiều khi ăn sim chín đến say sẩm mặt mày. Đẹp nhất vẫn là những đồi cọ. Đứng từ xa nhìn một đổi cọ mới thấy hết vẻ đẹp của miền Trung du. Rừng không âm u rậm rịt mà tươi sáng. Nắng chiếu xuống những tán lá cọ to như cái nia tạo bóng râm bên dưới như mời gọi du khách đến gần. Những tàu cọ non màu trắng ngà xòe ra như đang múa điệu múa miền Trung du sơn cước… Vào mùa hè, ve kêu trong rừng cọ nghe như bản giao hưởng bất tận. Những con ve sầu ở miền Trung du to như ngón chân cái và dài đến mười phân, màu đen nhung có vạch đỏ ngay lưng rất đẹp. Trẻ con địa phương gọi là con cồ cộ. Đám trẻ chúng tôi lấy những cái cần câu nối vào nhau, đầu cầu câu dính nhựa mít có thể dính được những chú cồ cộ đâu trên thân cọ… Ba năm ở Chí Chủ, ngoài hạnh phúc được thưởng ngoạn thiên nhiên diễm lệ của miền Trung du, tôi còn được chứng kiến cảnh tản cư kháng chiến chống Pháp của dân miền xuôi đi kháng chiến và tình cảm “lá lành đùm lá rách” của đồng bào miền ngược. Gia đình chúng tôi, sau khi mua được quả đồi, nhờ sự giúp đỡ của đồng bào địa phương, làm được một dẫy nhà lá dài, vừa để ở, vừa để làm “xưởng” thuốc lá của mẹ tôi. Đồng bào địa phương gọi quả đồi Dọc Bùng nơi chúng tôi ở là “Trại Hà Nội”. Xung quanh khu nhà ở, gia đình chúng tôi trồng sắn làm lương thực. Đã gần 60 năm rồi mà tôi vẫn nhớ hàng ngày phải đi nhặt lá sắn rụng dưới chân rừng sắn trên đồi để làm củi nấu “cơm”. Sở dĩ chữ cơm phải cho vào dấu nháy nháy, vì nồi cơm có 90% là sắn. Hạt cơm chỉ dính vào các miếng sắn mà thôi. Tất cả mọi người trong gia đình đều phải ăn cơm độn sắn như vậy. Riêng tôi, vì là cháu đích tôn của dòng họ nên được ngồi ăn riêng với ông bà nội tôi, ăn cơm là chủ yếu. Số phận đã cho tôi những ưu ái từ thủa còn bé như thế. Sau này đến lúc về già rồi, một cô em họ trong dòng họ Lê Phú còn nhắc chuyện cũ… Cô em tôi “tố khổ” rằng, hồi còn nhỏ, mỗi khi tôi đi đâu về, ông nội vẫn bắt cô phải cởi giày cho tôi! Chẳng biết chuyện ấy có thật hay không, tôi đành bảo cô em tôi: Thì bây giờ cô ngồi lên ghế để tôi cởi giày cho cô, trừ nợ vậy! Cả nhà đều cười. Chuyện cũ nhắc lại là như thế. Xã hội phương đông là như thế, biết làm sao được! Ngày ấy ở “Trại Hà Nội” của chúng tôi đã xảy ra một sự kiện gây chấn động cả thôn Chín Chủ vốn yên tĩnh và thơ mộng này. Đó là vụ oanh tạc của bốn chiếc máy bay khu trục Pháp vào trại. Số là, quả đồi mà đại gia đình chúng tôi ở được phát quang, lại dựng những dãy nhà lá to, đẹp để vừa làm nhà ở, vừa làm xưởng thuốc lá. Vì thế, một buổi chiều, bốn chiếc máy bay khu trục cũ của Pháp đi oanh kích ở đâu về, có lẽ chúng còn thừa đạn và tưởng rằng khu “Trại Hà Nội” của gia đình chúng tôi là cơ quan của Việt Minh… nên chúng lao xuống bắn phá. Lúc đó tôi đang thơ thẩn chơi ở trên đỉnh một quả đồi bên cạnh nên nhìn rất rõ bốn chiếc máy bay lượn vòng trên khu “Trại Hà Nội” và từng cái thay nhau lao xuống nã đạn. Cứ thế, thay nhau lao xuống… chừng hơn 10 phút sau, có lẽ là hết đạn nên chúng kéo nhau bay đi. Khi chúng đi rồi, cả khu trại bốc khói mù mịt. Chỉ sau đó ít phút, đồng bào ở các quả đồi xung quanh nhất loạt bơi thuyền sang cứu “Trại Hà Nội”. Có thuyền còn mang cả băng cứu thương, thuốc men… sang cứu trợ. Nhưng may quá, cả gia đình tôi không ai bị thương, dù là bị thương nhẹ. Điều kỳ diệu này là nhờ sự sáng suốt của ông nội tôi. Cụ đã chỉ đạo cho đào hầm chữ chi ngay trong nhà. Khi nghe thấy tiếng máy bay là tất cả mọi người nhảy ngay xuống hầm sâu. Đất đồi cứng, lại khô ráo nên mọi người nằm ép sát xuống đáy hầm, đạn chỉ bắn xéo nên không ai bị dính đạn cả, còn tất cả đồ đạc trong nhà thì tan hoang như một bãi chiến trường. Đã gần 60 năm mà tôi vẫn nhớ như in những hình ảnh đó. Những chiếc chăn bông để trê giường bị đạn của súng liên thanh bắn xuyên qua, đầu đạn còn kéo theo những nắm bông “nhét” vào các bức tường được làm bằng phên tre. Khi máy bay đi rồi, bọn trẻ con chúng tôi được phân công gỡ những búi bông đó ra để “tái cấu trúc” lại chiếc chăn bông! Các cột nhà là các cây bương (một loại nứa to bằng bắp đùi người lớn) bị dính đạn đều vỡ toác ra. Một con cá chép to treo dưới bếp bị đạn bắn… mất đầu. Và một chi tiết khiến tất cả mọi người đều ngạc nhiên là đôi giày cao cổ bằng da, thứ giầy của hiến binh Pháp (police militaire) đi tuần tiểu bằng mô tô mà ông chú thứ hai của tôi đưa cho ông nội tôi đi…kháng chiến… để dựng đứng ở dưới gầm bàn, bị nhiều vết đạn xuyên qua mà đôi giày vẫn đứng thẳng. Sức đạn đi quá nhanh khiến đôi giày da không kịp… đổ(!) Sự an toàn của gia đình tôi khiến tất cả bà con đến cứu nạn phải ngạc nhiên. Mọi người đều nhận ra sự lợi hại của những căn hầm trú ẩn được đào ngang dọc ngay trong nhà. Nếu hào được đào ở xa, thì khi chạy ra trú ẩn, nhất định sẽ có người bị dính đạn. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, người ta được chứng kiến tình cảm thiêng liêng của đồng bào với chính phủ Việt Minh. Trăm nhà như một. Tất cả đều yêu thương đùm bọc nhau, đoàn kết xung quanh chính phủ Hồ Chí Minh để kháng chiến trường kỳ giành độc lập. Sự đùm bọc của đồng bào địa phương đối với gia đình đi tản cư từ Hà Nội như gia đình tôi đã nói lên sự thật đó. Công bằng mà nói, lúc đó những người cộng sản Việt Nam đồng nghĩa với những người yêu nước và được nhân dân cả vùng tự do đến vùng tạm chiếm ủng hộ tuyệt đối, trừ những phần tử theo đuôi Pháp. Có những hình ảnh mà tôi không bao giờ quên về những cán bộ của chính phủ cụ Hồ lúc đó. Ông nội tôi có 5 người con trai như đã kể ở trên. Trừ ông bố tôi không hoạt động, còn bốn người chú ruột của tôi đều tham gia hoạt động trong hàng ngũ Việt Minh. Vì thế gia đình tôi tản cư, đóng ở Chí Chủ Phú Thọ là một địa điểm trung chuyển, nghỉ chân cho các cán bộ Viẹt Minh từ vùng tạm chiếm lên chiến khu Việt Bắc. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, thì người chú thứ nhất của tôi mà tôi thường gọi là chú Hai (thứ hai, sau bố tôi là cả) là giám đốc công an khu 11, tức khu Hà Nội. Khi nha công an trung ương chuyển lên Việt Bắc, thì ông là phó ty trật tự tư pháp, đồng thời là phó giám đốc công an liên khu ba. Có lẽ vì thế mà các đoàn từ khu ba lên Việt Bắc thường nghỉ chân tại nhà tôi ở Chí Chủ, Phú Thọ. Có nhiều lần ông Nguyễn Lương Bằng, có lẽ lúc đó phụ trách tài chính của Đảng, nên thường mang hàng quý của đồng bào khu ba quyên góp cho kháng chiến lên Việt Bắc, đi qua Phú Thọ thì thế nào cũng ghé lại nhà tôi tức “Trại Hà Nội”. Một lần, ông dẫn một đoàn ngựa thồ mang hàng lên Việt Bắc, chủ yếu là thuốc tây, có ghé lại nghỉ ở nhà tôi. Ông có một chiếc khăn rửa mặt đã rách, ông nhờ mẹ tôi khíu lại (có nghĩa là lấy kim chỉ khâu những chỗ đã rách liền lại với nhau. Tôi phải nói rõ từ “khíu” khác với “vá” vị sợ sau này các bạn trẻ không hiểu khíu là cái gì. Cũng như thằng con tôi, nó chỉ biết cái áo mưa, khi nói đến áo tơi thì nó hỏi là áo gì?). Lại nói về ông Bằng. Khi ăn cơm, có một bát cà bung để từ trưa, đến chiều đã vữa mẹ tôi định đem đổ đi thì ông Bằng giữ lại, ông nói để tôi ăn. Trước khi ông đưa đoàn ngựa thồ rời nhà tôi lên Việt Bắc, ông cho mẹ tôi một hộp dầu cù là con hổ phù, tức hộp dầu cù là có hình con hổ chạm nổi ở trên nắp hộp. Mẹ tôi than phiền ông này nghèo quá mà cũng keo quá! Mẹ tôi có hay đâu ông phụ trách tài chính của một đảng đang cầm quyền. Ông có cả đoàn ngựa thồ chở toàn đồ quý, nhưng đó là những thứ đồng bào quyên góp cho kháng chiến, ông không dám tơ hào cái kim sợi chỉ. Sau này bà nội tôi định làm mai mối ông cho em ruột của bà, là một infirmiere ở Hà Nội theo bà đi tản cư chưa có chồng. Nhưng bà trẻ của tôi (theo cách gọi trong gia đình) đã chê ông Bằng nghèo nên… không lấy. Sau đó bà lấy một ông cán bộ lãnh đạo của ty giáo dục Phú thọ. Ông này vợ mất, đã có hai đứa con gái. Khi kháng chiến thành công, ông Bằng làm đến chức phó chủ tịch nước, chúng tôi vẫn nói đùa với bà trẻ phải chi hồi đó bà trẻ chịu lấy ông Bằng thì bây giờ chúng cháu… được nhờ(!) Bây giờ, nhiều năm trôi qua ngồi nghĩ lại so sánh con người thời đó với bây giờ thấy thật buồn, thật trớ trêu. Khi khởi đầu, Đảng có một lớp cán bộ đáng quý như thế. Nhưng đi theo Chủ Nghĩa Cộng Sản, một chủ nghĩa không tưởng rồi tuân thủ cái gọi là “tập trung dân chủ”, đã loại dần những cán bộ tốt ra khỏi guồng máy cai trị của mình khi có toàn vẹn đất nước trong tay, Với tập trung dân chủ, thực chất là độc đoán, độc tài của một nhóm người đã dẫn đến một bộ máy toàn trị đa phần là kẻ xấu như ngày hôm nay. Ngày nay thế hệ trẻ có tư tưởng dân chủ chỉ nhìn thấy bộ máy của Đảng toàn những gương mặt như Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Đinh Thế Huynh… và một bộ máy công an hung hãn đàn áp dân chủ… nên họ phủ định hết, không chút nhân nhượng với cộng sản. Họ chưa từng được chứng kiến một ông cán bộ phụ trách tài chính của Đảng dùng một cái khăn lau mặt rách nát trong khi có cả kho của quý trong tay… như thế hệ chúng tôi. Nhưng không trách họ được. Có lẽ, nói về Đảng và chế độ cộng sản ở Việt Nam một cách “toàn cảnh” phải lấy lời của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện lúc ông ở tuổi 82 là công bằng nhất: “Đời tôi là đời một kẻ ngây thơ, phần “thơ” là đi theo cụ Hồ kháng chiến chống xâm lược, tôi giữ nó lại. Phần “ngây” là đi theo CNXH, tôi vứt nó đi. Nhưng nếu phải sống lại, tôi vẫn đi con đường đó…” Đã có lần tôi chép nguyên văn câu nói này đưa cho ông Võ Văn Kiệt, lúc đó đang là cố vấn Ban chấp hành trung ương Đảng coi. Xem xong, ông Kiệt không nói gì cả(!) Vì thế, tôi rất đồng cảm với nhà trí thức đang sống ở Pháp Nguyễn Gia Kiểng khi ông cho rằng, các thế hệ sau này có thể không khắt khe với những người cộng sản lớp trước, nhưng lịch sử sẽ rất khắt khe với những người cộng sản hôm nay. (Tức thời điểm 2012 này). Tuổi thơ của tôi ở Chí Chủ còn được chứng kiến nhiều hình ảnh khó quên. Nó đeo đẳng tôi cho đến lúc về già. Đó là những ngày mùng 1 Tết, ông nội tôi tập hợp cả đại gia đình trước khoảng sân rộng trước nhà. Mọi người chào cờ. Kéo cờ lên dần đỉnh cột và hát quốc ca. Khi cờ lên đến đỉnh thì quốc ca vừa dứt. Ông nội tôi rút súng lục ra, bắn một phát chỉ thiên để chào mừng năm mới. Chào mừng thêm một năm kháng chiến. Hào hùng lắm! (Súng do ông chú tôi “cấp” cho ông nội tôi). Hồi đầu CÁCH MẠNG THÁNG TÁM, ông nội tôi cũng có một khẩu súng lục, cũng do ông chú tôi “cấp” nhưng sau đó bị ông chủ tịch xã mượn chắc là để đeo cho oai. Ông chủ tịch xã là ông Minh Tiến, sau làm đến chức thứ trưởng Bộ Công An. Ông ta là một thư lại rất láu cá. Tôi sẽ kể về sau. Cái giấy “mượn” súng có đóng dấu hẳn hoi, đến bây giờ chú em họ tôi còn giữ. Tôi thường được chú giở ra cho xem. Chú em tôi giữ rất cẩn thận và coi như đồ gia bảo. Ở Chí Chủ, lâu lâu các chú tôi đi kháng chiến, mỗi lần có dịp đi qua Phú Thọ lại ghé thăm nhà. Đó là những giây phút vui nhất trong gia đình. Người chú thứ tư của tôi, tôi thường gọi là chú Năm, tính theo thứ tự từ bố tôi là cả (cả, hai, ba, tư, năm) tên là Lê Phú Hào, mỗi lần về nhà ông lại dậy chúng tôi học hát. Khi chúng tôi hát, ông đánh đàn và đệm cho chúng tôi. Người chú thứ ba thì đi bộ đội tên là Lê Phú An. Có một buổi tối, chú tôi đem một tập thơ nhỏ đọc cho cả nhà nghe. Tôi còn nhớ, khi nghe bài “Bầm ơi” của nhà thơ Tố Hữu, mọi người chăm chú nghe, rưng rưng cảm động. Quả thật thời đó con người ta thương yêu nhau lắm. Sau bao năm nô lệ, nước Việt Nam được độc lập ai cũng vui sướng, mặc dù còn thiếu thốn trăm bề: “Củ khoai củ sắn thay cơm Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng Ngớp hụm nước giếng trong đỡ khát Nhìn trời cao mà mát tâm can…” (Tố Hữu) Cái tình người mà Tố Hữu viết như thế là có thật. Đau đớn và bẽ bang thay là bây giờ, no đủ hơn lúc đó, nhưng một nhà thơ cũng rất nổi tiếng là Bùi Minh Quốc phải thốt lên rằng: “Ngoảnh mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!” Rất nhiều người thời nay khi nhắc đến xã hội Việt Nam kinh tế thị trường định hướng XHCN đã trích câu thơ này của Bùi Minh Quốc như một sự khái quát có giá trị, vì nó nói thay cho tâm trạng của hàng triệu người Việt Nam hôm nay, Những năm ở Chí Chủ, tôi thấy ông nội tôi nhẫn nại dạy bà nội tôi học chữ. Bà nội tôi mù chữ từ nhỏ, bây giờ nước độc lập rồi, chả nhẽ ông nội tôi lại để vợ mình không biết chữ. Nhưng bà nội tôi tối dạ lắm, không học được chữ. Ông nội tôi đã chỉ dạy bà viết chữ E, tức tên bà nội tôi là Nguyễn Thị E. Nhưng học mãi mà bà tôi vẫn không viết nổi. Tôi còn thấy ông nội tôi viết ba chữ: Hồ Chí Minh thật to để bà tôi nhận mặt chữ, phòng khi sau này có đi bầu cử thì nhớ không gạch tên đó. Thế là sau này cứ đưa chữ Hồ Chí Minh ra là bà nhận được mặt chữ. Ông nội tôi mừng lắm. Là một công chức mẫn cán của Phủ Toàn quyền Đông Dương, ông nội tôi đã kính yêu chủ tịch Hồ Chí Minh như thế. Đó là sự thật. Nhưng nay, trong lúc tôi đang viết những dòng chữ này, tôi đọc được bài viết của nhà báo Bùi Tín trên mạng Internet bình luận về bài: “Hồ Chí Minh là một người cộng hòa hay cộng sản” của nhà nghiên cứu Nhật Bản, giáo sư Tsuboi Yushiharu. Ông Bùi Tín dẫn ra 24 năm cầm quyền, ông Hồ đã giải thể trường đại học luật, xử chết 27 ngàn người trong cải cách ruộng đất bằng “tòa án nhân dân” thì sao gọi là cộng hòa được? Không có báo chí tự do thì sao gọi là cộng hòa được? Lúc sắp ra đi, ông Hồ chỉ mong được gặp Marx Lenin, không mong gặp tổ tiên thì là cộng sản chứ sao là cộng hòa được? Nhà văn Phạm Đình Trọng trong một bài viết mới đây nhan đề “Thông điệp tháng Tám”. Sau khi phân tích tất cả những hiểm họa của đất nước đang diễn ra, ông kết luận: “Thế kỷ trước, thế hệ đi tìm đường cứu nước đã lạc đường dẫn đến thế nước hiểm nghèo hôm nay!” Đó là một đánh giá công bằng, khách quan, chính xác. Không ai phủ nhận những người cộng sản thế kỷ 20 không yêu nước. Nhưng đi lạc đường, lạc vào quỹ đạo cộng sản, vậy thôi. Đau xót là vậy. Quỹ đạo cộng sản là cái gì thì đã có ngàn, vạn bài báo, cuốn sách viết về nó, không cần phải nhắc lại. Ở Chí Chủ đến năm 1950 thì mẹ tôi mang bầu, không thể ngược xuôi buôn bán được nữa nên gia đình tôi phải hồi cư về Hà Nội. Hồi đó, hễ đi kháng chiến mà quay về vùng tạm chiếm thì bị gọi là “dinh tê” về thành. Dinh tê là có lỗi, có tội với kháng chiến nên phải đi lén lút. Mẹ tôi cùng bốn chị em tôi cùng bà cô ruột tôi, gồm toàn thể là đàn bà trẻ con rồi đồi Dọc Bùng trong một đêm tối. Lúc chúng tôi xuống đò để rời đồi Dọc Bùng, bà nội tôi luôn mồm khấn: “Lậy bốn phương trời, mười phương đất… phù hộ cho con cháu tôi đi đến nơi về đến chốn”. Lúc đó, tất cả đều khóc như mưa. Từ cái đêm hôm đó, đoàn hơn 10 người tất cả là đàn bà và trẻ con đã tiến hành một cuộc “vạn lý trường chinh” hơn 100 km từ Chí Chủ, Phú Thọ về Hà Nội. Đêm đi, ngày nghỉ để tránh sự kiểm soát của dân quân du kích vùng tự do Phú Thọ. Trí nhớ của đứa trẻ lên 8 tuổi đã không cho phép tôi nhớ nổi chúng tôi đã đi không biết bao nhiêu đêm trong đói khát lo sợ. Sau nhiều đêm đi bộ, một buổi sáng đẹp trời chúng tôi về đến thị xã Sơn Tây, cửa ngõ Hà Nội, thuộc vùng tạm chiếm. Về Hà Nội, sau một thời gian ở nhà gia đình ông bác anh ruột mẹ tôi, một gia đình buôn bán giàu có ở phố Hàng Buồm, về sau ông bị quy kết là tư sản… chúng tôi may mắn đòi lại được căn nhà ở phố Hàm Long, nơi mẹ tôi có một cửa hàng bán đồ hộp trước kia. Tôi bắt đầu đi học, theo chương trình tiểu học, bắt đầu là lớp năm, lớp tư, lớp ba… cho đến lớp nhất. Vì trước đó đã được ông nội tôi dậy cho biết đọc biết viết nên tôi được nhận vào học lớp tư, không phải qua lớp năm của trường tiểu học Ngô Sỹ Liêm ở phố Hàm Long. Đó là một ngôi trường rất nên thơ với những lớp học tràn đầy ánh sáng, sân trường có những cây bang cổ thụ rợp bóng mát. Ngôi trường đến bây giờ vẫn còn (2012) nhưng được xây lên thành một tòa nhà nhiều tầng, không cân xứng với khuôn viên nhỏ bé của nó như xưa kia. Linh cảm thế nào ngôi trường xinh đẹp này cũng bị phá đi để xây lên cao tầng. Một lần từ Sài Gòn ra Hà Nội, tôi đã đem máy máy tới chụp ngôi trường kỷ niệm này. Tấm hình này tôi vẫn giữ và những chiếu “gió tím mưa xanh” tôi vẫn đem ra ngắm lại ngôi trường tiểu học thời thơ ấu của mình, ôn lại những ngày đầu tiên cắp sách tới trường đầy kỷ niệm. Nếu ở Chí Chủ tuổi ấu thơ của tôi được tắm mình trong thiên nhiên diễm lệ của miền Trung “rừng cọ đồi chè” … của đất nước thì tuổi thơ đi học của tôi ở Hà Nội là những năm lêu lổng nhất. Thời đó không có cái quái thai “học thêm” như thời nay. Sáng đi học, chiều về là tôi cùng lũ trẻ con lê la trên hè phố. Phố Hàm Long với những cây cơm nguội, phố Lò Đức gần đó là những cây sao nổi tiếng, phố Phan Chu Trinh thảm cỏ rộng và những hàng cây sấu cổ thụ… Ba con phố ấy đổ về ngã năm: Hàm Long, Lò Đúc, Lê Văn Hưu, Hàn Thuyên, Phan Chu Trinh… là “đất thánh” của bọn trẻ chúng tôi. Mùa nào cũng có trò chơi của mùa ấy. Mùa chơi quay, tiếp đếnn mùa chơi đáo, mùa chơi bi… hầu như suốt buổi chiều mỗi ngày chúng tôi đều lê la trên vỉa hè với những trò chơi bất tận đó. Bây giờ những trò chơi của trẻ con ngày ấy đã mất hẳn. Ngoài ra lũ trẻ chúng tôi còn có những trò chơi gắn với bốn mùa xuân hạ thu đông. Mùa hè chúng tôi đi bắt ve sầu bằng cái cần câu có dính nhựa mít. Mùa mưa đi đổ dế. Khi phát hiện một tổ dế, lũ chúng tôi thay nhau đi múc nước cống đổ xuống tổ. Khi con dế không còn chịu được nước ngập nữa, nó phải bò lên miệng hố, thò hai cái râu lên khỏi mặt đất. Chúng tôi lấy que xiên xuống, chặn đường rút lui của nó rồi lần tay xuống lỗ, bắt gọn những chú dế mèn bóng nhẫy… Những con dế đó được nuôi trong những chiếc hộp carton, được cho ăn cỏ non, được phơi sương mỗi đêm… Đến mùa sấu chín, chúng tôi làm súng cao su, nhằm những chum sấu chín vàng trên cây để bắn, Sấu chín ngọt lịm như tuổi thơ của tôi trẹn vỉa hè phố phường Hà Nội. Hồi đó Hà Nội còn vắng vẻ, buổi trưa, khi mọi người yên nghỉ trong nhà, tôi và chúng bạn thơ thẩn dưới những hàng cây cơm nguội, những hàng sấu, nghe tiếng ve kêu ra riết trên cành sao mà thú vị, say mê đến thế. Năm ngoái tôi có dịp ra Hà Nội để hẳn một ngày đi bộ tha thẩn trên các hè phố Hàm Long, Phan Chu trinh, Hàn Thuyên, Hàng Chuối, vườn hoa Pasteur, phố Nguyễn Huy Tự ra đến bờ sông… đâu đâu cũng thấy hàng quán lấn hết vỉa hè, xô bồ, hỗn tạp mất hẳn cái yêu tĩnh nên thơ của những biệt thự nhỏ nối đuôi nhau ở các phố Hàn Chuối, hàn Thuyên… năm xưa. Hà Nội bây giờ chẳng đem lại cho tôi cảm xúc gì ngoài cái bệ rạc, bát nháo, nửa quê, nửa tỉnh, ông không ra ông, thằng không ra thsằ...

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 3) Chương Một Hà Nội, nơi tôi sinh ra Tôi sinh ra (1942) trong một gia đình công chức tại Hà Nội. Theo ông nội tôi thì nơi chôn nhau cắt rốn của nội tôi là làng Cơ xá nam, ngày nay thuộc phố Nguyễn Huy Tự quận Hai Bà. Làng tôi có từ trước khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Làng có hai dòng họ lớn là họ Ngô và họ Lê. Lý Thường Kiệt họ Ngô (Ngô Thường Kiệt), vì có công nên được đổi sang họ vua (Lý). Nhân 1000 năm Thăng Long, đền thờ Lý Thường Kiệt được tu tạo, được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, hiện tọa lạc ở đầu đường Nguyễn Huy Tự ngày nay. Theo một phả của cụ Đức Quán làm ngày 12 tháng 10 năm Ất Hợi (1815) thì làng tôi vốn trước ở Núi Nùng gần chùa Một Cột. Đến thời vua Thái Tổ nhà Lý (1010), dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mới dời làng tôi ra bãi Phúc Xá bây giờ. Theo các cụ kể lại thì vua Lý lấy đất làng tôi làm kinh đô nên cho dân “tái định cư” bằng cách thả một quả bưởi xuống dông Hồng, bưởi trôi về đến đâu thì đất làng được đến đó. Ngẫm ra như thế thì chế độ phong kiến ngày xưa tử tế quá. Không đểu cáng như vụ giải tỏa cưỡng chế ở Văn Giang, Hưng Yên (24.04.2012) vừa qua! Vì quả bưởi trôi đến đâu, đất được cấp đến đó… nên đất làng tôi mênh mông, suốt từ Chèm đến tận Khuyến Lương, Thanh Trì. Một lần, vua đi kinh lý trên sông, thấy làng tôi nhà cửa lụp xụp ven sông, dân tình nghèo khó, vui hỏi quần thần “làng kia tên là làng gì”? Quần thần thưa: đó là làng Cơ Xá. Vua thấy thế bèn cho làng tôi cái bãi bồi giữa sông và đặt tên mới cho làng là Phúc Xá (ý vua muốn đổi tên từ chữ CƠ là nghèo, là cơ cực sang chữ PHÚC may mắn hơn). Theo gia phả của họ Lê Phú do ông nội tôi làm tại Phúc Xá ngày 15 tháng 8 năm Ất Tỵ (30.09.1955) lúc cụ 74 tuổi, thấy ghi như sau: Làng ta trước là Yên Xá, tổng Tam bảo, huyện Từ Liêm, đạo Sơn Tây… Từ khi làng ta dời xuống bãi Phúc Xá năm nào cũng bị ngập lụt. Vua Thần Tôn nhà Lý ngồi chơi du thuyền đi qua làng ta, thấy nhà nào cũng ở trên sàn, nên đặt tên làng ta là Cơ Xá, sau mới đổi tên là Phúc Xá. Đến đời Bảo Thái nhà Lê (1723) mới nhập vào xứ Kinh Bắc, Bắc Ninh. Vật đổi sao dời, bải Phúc Xá bị lở hàng năm nên dân làng hiện nay phiêu bạt nhiều nơi. Nhưng vẫn còn một bộ phận lớn của làng hiện nay đang cư ngụ tại bên bắc sông Hồng thuộc quận Gia Lâm ngày nay. Hiện nay, hàng năm làng tôi vẫn làm hội làng vào ngày mùng 6 tháng 3 AL. Họ Lê Phú… của tôi hiện còn ông quyền trưởng tộc là Lê Phú Dư hiện ngụ tại số nhà 164 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Quận Long Biên Hà Nội. Trừ cái hiện tại là ông trưởng tộc họ, tên Lê Phú Dư và dòng họ Lê Phú… đang sinh sống tại Hà Nội, thì tất cả chuyện “ngày xưa” đều do tôi nghe kể lại hoặc theo các ghi chép từ gia phả. Do đó không chắc gì là chính xác 100% cả. Tuy vậy, đối với dòng họ Lê Phú của tôi thì những gì mà tôi nghe được về cái làng Cơ Xá của mình… nó thiêng liêng lắm, thú vị lắm. Như bất cứ người Việt Nam nào nghe kể về Bà Triệu, Bà Trưng “ngày xưa” vậy! Dân làng Phúc Xá của tôi đã tham gia xây dựng những công trình lớn của thực dân Pháp hồi cuối TK 19, đầu TK 20 ở Hà Nội. Theo ông nội tôi kể lại thì khi xây cầu Long Biên qua sông Hồng, nhiều dân làng đã chết vì khi xây dựng móng cầu ở độ sâu do thiếu dưỡng khí, nên khi họ được kéo lên mặt nước thì đã chết ngạt từ trước đó. Xin mở ngoặc nói thêm, tháp Eiffel ở Paris được xây dựng cùng thời gian với cầu Long Biên và được khánh thành năm 1889 để kỷ niệm 100 cách mạng Pháp 1789 (với 7000 tấn thép, hơn cầu Long Biên 1000 tấn). Điều đáng nói là tháp được xây dựng ròng rã ba năm nhưng không chết một công nhân nào cả. Trong khi đó, cầu Long Biên được khánh thánh 1902, với số người chết… không tính được. Chỉ riêng chuyện đó thôi, cũng thấy chuyện “nhân đạo” của bọn thực dân. Bà cụ nội của tôi là Dương Thị Thiết (1858-1937) đã từng làm phụ hồ khi Pháp xây dựng nhà hát lớn Hà Nội. Đến bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là, ông nội tôi, cha mất sớm từ lúc ông có 11 tuổi, mẹ phải đi làm phụ hồ thì làm sao có tiền để nuôi ông nội tôi ăn học… đến trình độ đọc được sách chữ Hán, nói tiếng Tây trôi chảy. Ông bà nội tôi sinh được 6 người con. Thứ nhất là bà cô tôi, Lê Thị Thọ. Thứ hai là ông bố tôi, Lê Phú Khang, thứ ba là Lê Phú Cường, sau này đi hoạt động cách mạng đổi tên là Lê Hữu Qua, thứ tư là Lê Phú Ninh, thứ năm là Lê Phú An, thứ sáu là Lê Phú hào. Ở Hà Nội (và ở miền Bắc nói chung), con gái không được tính, không “dân chủ” như Nam Bộ nên bà cô tôi không được xếp thứ. Ông bố tôi được gọi là ông trưởng, thứ đến ông hai, ông ba… bà cô tôi được ăn học hết bậc tiểu học, sau đó học trường sư phạm (école normale) ba năm, trình độ tương đương diplome. Ông bố tôi vì ăn chơi không lo học nên thi diplome bốn lần không đỗ, cuối cùng phải sang tận Lào làm thư ký một thời gian. Riêng điểm này thôi cũng thấy chế độ thi cử của thực dân Pháp là nghiêm ngặt. Con nhà khá giả như bố tôi, cha là công chức Phủ Toàn Quyền nhưng không có cửa để đút lót để lấy bằng cấp như chế độ cộng sản thời nay. Người chú thứ tư của tôi là Lê Phú Hào do vừa làm vừa học nên đỗ được bằng tú tài trước Cách Mạng Tháng Tám. Những người chú khác thì không biết học được đến trình độ gì, nhưng nói chung đều nói được tiếng Pháp. Ví dụ như người chú thứ hai là Lê Phú Ninh, gia đình vẫn thấy ông thường xuyên nghe radio tiếng Pháp. Vì thế nên gia đình họ Lê Phú nhà tôi có cái “lệ” rất “humour” là mỗi khi người lớn (các ông) trong gia đình gặp gỡ nhau trong các dịp lễ tết, giỗ chạp, vủi vẻ thì họ nói tiếng Việt, nhưng nếu có sự cãi cọ, to tiếng mắng mỏ nhau… thì từ ông nội tôi đến bố tôi và các chú tôi đều sử dụng tiếng Tây để những người khác không biết họ cãi lộn về cái gì. Cái vốn tiếng tây “Francais sans maitre” của tôi đôi lúc cũng nghe được vài từ, chủ yếu là… chửi thề của các bậc cha chú đó (!) Ông nội tôi (1881-1967) làm vaguemestre cho Toàn quyền Đông Dương trước CÁCH MẠNG THÁNG TÁM. Vuguemestre là nhân viên bưu chính của một công sở. Nhưng Toàn quyền Đông Dương có cả một nhóm nhân viên làm việc trực tiếp và chỉ phục vụ riêng về một công việc nào đó cho Toàn quyền mà thôi, trong đó có nhân viên bưu chính. Giống như tổng thống Mỹ ngày nay có đến hơn 90 nhân viên phục vụ trong Nhà trắng cho riêng tổng thống, trong đó có những chức danh như chuyên viên… ống dẫn nước… chẳng hạn! Có nghĩa là không có chuyện “cúp nước” hay “cúp điện” với Dinh Tổng thống. Cũng giống như thế, ông nội tôi có nhiệm vụ hàng ngày đi ra bưu điện nhận thư từ, công văn cho quan Toàn quyền, rồi lại đi gửi thư từ, công văn của quan Toàn quyền về Pháp. Để làm việc này, cụ có ô tô riêng và có một ông “tây đen” lái xe đi và về! Những điều tôi kể không quan trọng vì kiếm đâu chẳng có một nhân viên để làm những việc đó. Cái chính, như ông nội tôi kể là, sở dĩ quan Bẩy Toàn quyền chọn ông làm nhân viên vaguemestre vì… chữ ông nội tôi rất đẹp. Quan Bẩy rất kén người chữ đẹp để đề bao bì thư cho mình gửi về Pháp. Bây giờ chúng ta được xem những tờ giấy khai sinh của bố mẹ mình thời Pháp thuộc, thì thấy chữ viết được điền vào các tờ mẫu khai sinh thời đó rất đẹp. Đến chọn một nhân viên viết giấy khai sinh ở công sở, người ta còn chọn người chữ đẹp nữa là ở Phủ Toàn Quyền, viết bao thư cho Toàn quyền gửi về mẫu quốc. Cái văn hóa chữ đẹp ấy của người Pháp đã khiến ông nội tôi được quan Toàn quyền Đông Dương chọn làm nhân viên vaguemestre cho mình. Mà ông nội tôi viết chữ đẹp thật! Tôi đã bị ông nội tôi đánh sưng cả tay khi viết tập đồ. Ông nội tôi khi cầm cây bút có hình lưỡi mác chẻ đôi, khi viết có nét đậm nhạt khác nhau tùy theo chủ ý của người viết, chấm mực rồi, không phải đặt bút viết ngay… mà khua cây bút vài dòng để luyện gân tay rồi mới thả ngòi bút xuống trang giấy! Giống như hai đô vật trước khi lao vào đấu vật, họ thường múa vài đường thật đẹp để “diễu võ giương oai” và để làm đẹp lòng khán giả. Nhìn ông nội tôi cầm bút, trước khi viết, múa bút vài vòng như một thứ… “đạo”! Cái chữ đầu tiên của một địa chỉ trên phong bì thư đương nhiên phải viết chữ hoa. Vì thế nét bút đầu tiên phải là một nét phẩy từ dưới lên, rồi mới đến chữ cái viết hoa đầu tiên. Thiếu cái nét phẩy ngược lên ấy thì chữ cái viết hoa đầu tiên trơ trẽn như anh chàng “ở truồng” vậy! Ấy là lời bình của ông nội tôi. Có câu chuyện thú vị thế này. Khi người anh rể tôi là một đại úy quân đội được cử sang Liên Xô tu nghiệp ở học viện quân sự Phơ-run-de sau năm 1954. Một hôm có người báo với đại úy Việt Nam này rằng, anh lên gặp ngay thượng tướng hiệu trưởng trường. Ông anh rể tôi run quá. Một học viện cỡ quốc tế, có hàng nghìn học viên các nước theo họ, cắc cớ gì mà một học viên cấp úy như ông phải lên gặp thượng tướng hiệu trưởng? Vừa đi vừa run. Khi ông anh rể tôi đứng nghiêm giơ tay chào vị thượng tướng theo phong cách nhà binh và … chờ đợi. Bất ngờ vị tướng oai phong đó đặt một bức thư lên bàn và hỏi: Ai viết cho đồng chí bức thư này? Ông anh tôi cầm thư xem và thưa, đây là thư của ông nội vợ tôi viết trả lời sau khi nhận được thư hỏi thăm của tôi. Nghe rồi, vị tướng đó chỉ nói một câu ngắn gọn: Chữ ông nội vợ đồng chí đẹp quá! Rồi cho đồng chí đại úy Việt Nam… ra về!!! Thì ra cái văn hóa chữ đẹp nó có cả ở bên Nga nữa. Thế mà bây giờ người ta lại đi học cái “thư pháp” của Tàu, viết chữ Latinh mẫu tự a, b, c theo cách viết chữ tượng hình của chữ Hán thì thật là ngu ngốc quá! Nhìn mấy chữ Việt “thư pháp” trên các cuốn lịch Việt Nam ngày nay người ta phát lộn mửa! Chuyện ông nội tôi làm veguemestre cho Toàn quyền Đông Dương nhờ chữ đẹp là như thế. Nhưng ngoài công việc của một nhân viên bưu chính cho Toàn quyền, ông nội tôi còn một nhiệm vụ nữa là làm thông ngôn, ngày nay gọi là phiên dịch cho quan Toàn quyền mỗi khi có các quan An Nam ở địa phương lên bẩm báo. Chủ yếu là vào các dịp tết, lễ, các quan tỉnh, quan huyện lên biếu xén quà cáp, đút lót cho Toàn quyền. Nếu các vị đó biếu Toàn quyền 10 thì cũng phải biếu ông nội tôi 1-2… vì sợ ông nội tôi dịch sai!!! Chính vì thế, khi đến tuổi 50, Toàn quyền Đông Dương bảo ông nội tôi theo luật thì công chức sở tây đến 50 tuổi phải nghỉ hưu, nếu mày muốn tiếp tục làm thì tao chuyển cho mày sang ngạch An Nam. Mày sẽ được làm tri huyện, nhưng tri huyện vùng xuôi thì kín rồi. Nếu mày muốn thì làm tri châu (quan huyện ở miền núi) thì tao ký cho mày đi nhậm chức. Ông nội tôi suy nghĩ, nếu làm quan mà không ăn của đút, không bòn rút của dân, thì lấy đâu ra lụa là châu báu, của ngon vật lạ… để đem biếu quan trên như chính mắt ông tôi nhìn thấy. Vì thế, ông nội tôi xin về… Ngày ông nội tôi rời Phủ quyền, quan Bẩy tiển ra tận cổng phủ, bắt tay rất chặt trước lúc chia tay. Vẫn theo ông nội tôi kể, thì đó là lần đầu tiên có một người về hưu mà Toàn quyền tiễn ra tận cổng. Chắc ông nội tôi phải là một công chức cần mẫn lắm thì mới được quan Toàn quyền “ưu ái” đến thế! Vậy mà, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, ông nội tôi đã đem toàn bộ gia quyến tản cư lên Phú Thọ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ trường kỳ kháng chiến. (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 8, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-3/ *** Đọc tiếp: - Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 4): https://www.minds.com/newsfeed/1019874154103676928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 2): https://www.minds.com/newsfeed/1019872154710347776?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2) Lời Nói Đầu Có lần, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bảo tôi: – Nhiều người khuyên Nguyễn Khắc Viện nên viết hồi ký. Nhưng tôi nghĩ, mình chưa một lần bị đi tù. Chưa một lần cầm súng ra trận thì có gì mà viết hồi ký… Cứ như lời ông Viện thì đời tôi, không đáng một xu, vậy có gì để mà viết hồi ký, hồi ức cho thiên hạ cười chê (!) Nhưng bạn bè nhiều người lại khuyên Lê Phú Khải nên viết một cuốn hồi ký, không thì phí đi (!) Chả là, trong lúc vui vẻ, tôi thường kể cho bạn hữu nghe những chuyện “cười ra nước mắt” của dòng họ tôi, hoặc những nhân vật mà suốt cuộc đời 40 năm làm báo tôi được tiếp cận, làm việc. Toàn là những “nhân vật lịch sử”, những chuyện đáng ghi lại. Mà những nhân vật đó lại không thích hoặc không có điều kiện để ghi lại. Bạn bè khuyên tôi nên viết lại những chuyện mà tôi biết… Chẳng hạn, như chuyện ông nội tôi làm vaguemestre (nhân viên bưu chính) cho Toàn quyền Đông Dương như thế nào? Ông nội tôi theo Toàn quyền Maurice Long và vua Khải Định đi hội chợ Marseille năm 1922 và phiên dịch cho Khải Định trong chuyến đi ấy như thế nào? Hay là, chuyện chú tôi, tướng Lê Hữu Qua (Lê Phú Cường) có thời gian lái xe và làm garde-corps cho cụ Hồ những năm đầu Cách mạng Tháng Tám như thế nào? Hoặc, một người chú khác của tôi là nhà báo Lê Phú Hào làm phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ và Kissingertại hội đàm Paris như thế nào? Hoặc chính tôi, từng tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong những chuyến đi công cán tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sau này, ông Kiệt thường kêu tôi đến nhà riêng khi ông đã thôi làm Thủ tướng, để nói chuyện, tạm gọi là “tâm sự” như thế nào? Hoặc chân dung những nhà đấu tranh dân chủ mà tôi có dịp tiếp kiến, giao du như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sỹ Phu… Những truyện trên không ai hay cả, nhưng là “những tư liệu quý” như bạn bè tôi nói, cần cho hậu thế đọc và suy nghĩ về một thời kỳ đáng nhớ của đất nước tươi đẹp nhưng đau khổ này! Bạn tôi, toàn những người khó tính, vậy mà họ lại thích thú nghe thì có lẽ cũng nên ghi lại thật. Và cũng chỉ người “quen tay” cầm bút mới đủ kiên nhẫn để ghi lại những trang viết này trong lúc thiên hạ đua nhau đi kiếm tiền bằng đủ mọi cách, kể cả các nhà văn chửi bới nhau để tranh một cái giải thưởng… vài trăm triệu lúc này! (5/2012) Tôi thử kể một đoạn “hồi ký” dưới đây để bạn đọc yêu mến của tôi coi có được không? Bằng không thì hãy vứt ngay cuốn hồi ký này vào sọt rác…để khỏi rác nhà! (…Trích). “Ông nội tôi hỏi: Cháu có biết vì sao các nhân viên ở Phủ toàn quyền gọi quan toàn quyền Đông Dương là “quan Bẩy” không? Nói rồi, ông nội tôi giải thích, bở vì tên quan võ chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương được gọi là quan Sáu. Toàn Quyền còn hơn cả quan Sáu nên mới được gọi là quan Bẩy. Quan Bẩy Toàn quyền là người rất nghiêm nghị. Phòng làm việc của ngài ở Phủ toàn quyền là một căn phòng rộng, hình chữ nhật, dài như một cái toa tàu. Bureau của ngài ở cuối phòng, trước mặt có kê một chiếc bàn dài và hai hàng ghế để dùng vào những lúc hội họp. Ai được phép vào phòng của ngài rồi phải đi một quãng dài mới tới chỗ quan ngồi. Một lần – vẫn lời ông nội tôi kể – tao đang ngồi làm việc ở cái bàn dài trước mặt ngài thì một tên quan Tư người Pháp được phép vào báo cáo. Tên quan Tư đi kiểu nhà binh, đến trước mặt quan Bẩy, nó dậm chân rồi giơ tay chào cũng kiểu nhà binh. Quan Bẩy vẫn cặm cụi viết, không hề để ý đến tên quan Tư. Mấy phút trôi qua trong yên lặng. Thấy tên quan Tư người Pháp phải đứng, tao thì ngồi nên sợ thằng quan Tư ngượng. Tao vội vàng đứng dậy … xem bức tranh trên tường. Bỗng quan Bẩy nói: – Mày không phải giả vờ xem tranh, tao chưa cho nó ngồi, thì nó chưa được ngồi. Mày cứ ngồi xuống ghế mà làm việc đi (!) Quan Bẩy là vậy đó. Nghiêm lắm. Lúc làm việc, đi kinh lý đâu ngài cũng đem theo các kỹ sư, các chuyên gia đi theo. Xây dựng công trình gì, trồng cây gì, nuôi con gì, ra chỉ thị gì… ngài đều gọi các nhà chuyên môn đến hỏi rồi mới quyết định. Không những thế, trong sổ sách tài liệu đều ghi chép rõ ràng ý kiến tham mưu của các nhà chuyên môn, để sau này sẽ truy cứu trách nhiệm. Vì thế các chuyên gia đi theo ngài làm việc rất nghiêm túc, khi được hỏi để toàn quyền ký một quyết định gì, họ đều đắn đo suy nghĩ rất kỹ… vì tất cả trách nhiệm sau này là họ phải gánh chịu… … Nghe ông nội tôi kể về cách làm việc của Toàn quyền Đông Dương tôi nghĩ đến các vị lãnh tụ cộng sản nhà ta sau này đi kinh lý mà thấy buồn cười. Khi có ngôi vị cao rồi, các vị ấy tự cho mình là hiểu biết tất cả. Chắc các vị ấy nghĩ rằng, trong chiến tranh ác liệt như thế, các vị ấy còn thắng nữa là bây giờ, việc gì các vị ấy chẳng quyết được. Tôi nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi tổng bí thư (TBT) Lê Duẩn vô thăm tỉnh Tiền Giang. Ban thường vụ tỉnh ủy lúc đó đứng đầu là bí thư tỉnh ủy Chín Hải (tức Lê Văn Phẩm), và chủ tịch tỉnh Sáu Bình (Nguyễn Công Bình) dẫn TBT Lê Duẩn vô thăm vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang (90.000 ha). Đứng trước cánh đồng bao la bát ngát của vùng Đồng Tháp Mười, TBT Lê Duẩn chỉ tay về cánh đồng trước mặt, hỏi: – Trồng những cây gì thế kia? Bí thư tỉnh ủy Chín Hải lễ phép trả lời: – Thưa tổng bí thư, đó là rừng tràm ạ. Bỗng mọi người sửng sốt khi nghe TBT quát: – Ngu! Ngu! Sao không trồng lúa!!! Trước cơn giận dữ của TBT vì sao tỉnh lại không trồng lúa ở Đồng Tháp Mười mà lại trồng tràm… thì mọi người chỉ còn biết chết lặng mà thôi. Ai dám cãi lại? Ai dám cả gan giải thích cho đồng chí TBT rằng, đất Đồng Tháp Mười là đất phèn nặng, chỉ trồng tràm là hợp nhất mà thôi. Từ lúc TBT quát tháo như thế, không khí của đoàn trầm lặng. Hầu như không ai nói gì cả. Khi TBT Lê Duẩn đi rồi, tôi nghe rõ tiếng than của bí thư tỉnh ủy Chín Hải: – Ông Ba (tức Lê Duẩn) quay cờ rồi (!) … Có lần, ông nội tôi bất ngờ hỏi: “Cháu có biết ở hội chợ triển lãm thuộc địa Marseille, các nước thuộc địa của Pháp mở các quán ăn trong gian hàng hội chợ của mình để khoe với khách các món ăn ngon của xứ sở mình … thì món gì đắt hàng nhất tại hội chợ không? Nói rồi ông nội tôi kể tiếp: Món bún chả Việt Nam luôn luôn đông nghẹt khách vào ăn. Thịt nướng thơm phức, khói bay nghi ngút từ những cặp thịt nướng bốc lên lời mời chào quyến rũ nhất của gian hàng ăn Việt Nam. Các bà đầm đều hỏi sao thứ nước chấm bún chả thơm ngon lạ lùng thế? Cháu có biết vì sao không? Đó là vì có vị cà cuống! Nước mắm cà cuống mà!” … Tướng Lê Hữu Qua là một người cương trực, mỗi lần tôi có việc gia đình phải lên Bộ Công An gặp ông, nhằm lúc ông vui vẻ, thường được ông kể cho nghe về những ngày đầu Cách Mạng Tháng Tám, mà theo lời ông, lúc đó tình thế cách mạng “nghìn cân treo sợi tóc!” Lần ông kể cho tôi nghe chuyện lái xe cho cụ Hồ, khi ông cụ từ hội nghị Fontainebleau về… Giọng tướng Qua chậm rãi: Hôm đó tàu cập cảng Hải Phòng, ông cụ đi xe lửa về ga Hàng Cỏ. Lúc xuống ga chúng tôi bì mật đưa ông cụ ra xe ô tô. Tôi lái cho cụ đi vòng vèo các phố trước khi về cơ quan để đánh lạc hướng bọn phản động. Trong khi đó thì một trinh sát của ta, đóng giả cụ Hồ đi diễu hành ngoài phố, trên xe mui trần để đồng bào chào đón, hoan hô. Vậy mà bọn Việt quốc và Việt cách vẫn đánh hơi được. Họ không nhằm vào “cụ Hồ giả”, mà săn lùng cụ Hồ thật. Lúc bấy giờ xe đang chạy ngon trớn, bỗng nghe thấy tiếng súng nổ từ phía sau. Chúng bắn vào lốp xe. Kinh nghiệm lái xe nhiều năm cho tôi hay, xe nổ lốp sau vẫn có thể chạy tiếp mà không bị lật. Tôi nhấn ga, xa chạy một quãng dài nữa rồi phanh lại. Tôi lao ra khỏi xe, mở cửa sau để ông cụ chạy. Nào ngờ, chạy được mấy thước, ông cụ lại quay lại xe… Tôi đứng tim vì sợ quá… Thì ra ông cụ quay lại cốt lấy chiếc máy đánh chữ xách tay trong xe ra rồi chạy tiếp. Nhờ có tôi vừa bắn bọn “phản động”, vừa cản đường chúng nên khi nghe tiếng súng nổ liên tiếp, dân quân tự vệ, đồng bào hai bên phố ra đường… nên ông cụ chạy thoát! Thế mà khi về đến cơ quan, tôi thấy ông cụ đang ngồi gõ máy chữ thản nhiên, như không có chuyện gì vừa xảy ra. Thấy thế, tôi cũng không hỏi gì nữa vì lúc đó bận rộn lắm. Ông cụ cũng vậy, không hỏi han gì nữa, không nhắc đến chuyện ấy nữa… Cái hồi đầu cách mạng là thế đó … “Nghìn cân treo sợi tóc” mà! Nhưng sau này có chuyện tức cười là, cái cậu trinh sát đóng vai “cụ Hồ giả” đi diễu phố cho đồng bào hoan hô ấy, đến sau hòa bình 1954, khi cải cách ruộng đất, bị tố là địa chủ gian ác… Nguy kịch quá, cậu ta cãi lại đội cải cách, kể công đóng cụ Hồ giả, sẵn sàng chết cho cách mạng… thành công! Vì thế cậu ta được hạ thành phần xuống phú nông, thoát chết!!! Câu chuyện trên tôi viết thành một bài cho báo Sài Gòn Giải Phóng, có đăng kèm cả ảnh tướng Qua với lon thiếu tướng công an cho số đặc san ra ngày 2-9-2005, kỷ niệm 60 năm Cách Mạng Tháng Tám và quốc khánh 2-9. Duy cái đoạn đóng cụ Hồ giả và chuyện anh chàng đóng giả thoát chết trong cải cách ruộng đất thì bị tòa soạn cắt đi! Bài báo này tôi vẫn còn giữ làm kỷ niệm. Ở các nước văn minh thì sau 35 năm, các hồ sơ mật đều được công khai hóa để các sử gia có tư liệu mà viết cho trung thực. Cuốn “Paris-Sài Gòn-Hà Nội” của sử gia Pháp Philippe Devillers viết về cuộc chiến tranh Pháp Việt (1946-1954) được viết nhờ những tài liệu mật được khui ra. Cuốn sách này đã được ông Hoàng Hữu Đản dịch ra tiếng Việt. Trong cuốn sách đó, tác giả Philippe Devillers đã vạch mặt ba tên tướng thực dân lái súng là D’Argenlier, Pigon và Valuy đã bưng bít thông tin với chính phủ Pháp để dẫn đến cuộc chiến Pháp-Việt làm “hủy hoại tất cả di sản và quyền lợi của Pháp ở Đông Dương”. Ở các nước cộng sản độc tài thì không có chuyện khui các tài liệu mật. Ngay cả những chuyện không có gì phải giấu giếm như chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe ở trên cũng bị… cấm! Vì thế, khi được báo Sài Gòn Giải Phóng mời viết bài về Cách Mạng Tháng Tám, tôi đã cố ý kể những chuyện do tướng Qua kể lại… cho bài báo thêm phần sinh động, trung thực, hấp dẫn. Nhưng chính báo chí lại tự kiểm duyệt mình một lần nữa, vì thế, đọc báo “lề phải” cứ thấy công thức, nhạt nhẽo, vô duyên không thể “ngửi” được. Tướng Lưu Á Châu ở Trung Quốc có nói một câu nổi tiếng: “Ở Trung Quốc nơi thiếu thông tin nhất là… báo chí!” Sao anh bạn 16 chữ vàng này lại giống ta đến thế! Ở Bộ Công An, tướng Qua là người ghét cay ghét đắng thứ trưởng Lê Quốc Thân. Theo ông, đây là một phần tử hèn nhát, cơ hội và gian manh. Chính ông Vũ Quốc Uy, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban văn hóa đối ngoại của Việt Nam cũng từng nói với tôi về sự hèn nhát của Lê Quốc Thân mà ông được chứng kiến khi Pháp tấn công quân ta đang cố thủ trong nhà hát lớn Hải Phòng hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông Uy kể: “Khi tất cả anh em tự vệ đang quyết chiến đấu với Pháp thì Lê Quốc Thân ngồi khóc và sợ quá… đái cả ra quần!” Vậy mà sau này ông ta leo lên đến chức ủy viên trung ương Đảng, thứ trưởng Bộ Công An. Tướng Qua kể, lúc trúng ủy viên trung ương, thứ trưởng Lê Quốc Thân mỗi lần đến cục tôi làm việc (tức Cục Cảnh sát, Cục Trại giam mà tướng Qua từng làm cục trưởng) thường hoa chân múa tay nói huyên thuyên như “quan điểm” của tôi thế này, “quan điểm” của tôi thế kia… Lúc ấy, tôi nóng mắt lắm. Một hôm không chịu nổi nữa nhưng vẫn giữ sĩ diện cho “đồng chí thứ trưởng” nên lúc tan cuộc họp rồi, mọi người đã giải tán, chỉ còn tôi và thứ trưởng Thân do tôi mời lại. Tôi nói thẳng với ông ta: “Ngày còn ở An toàn khu khi thằng Đỗ Nhuận nó mới sáng tác được bài “Du kích sông Thao”, tối đến nó tập hợp anh em lại để hát thử. Khi nó xướng lên… “Hồng Hà”… thì mọi người ở dưới đều đồng thanh… “mênh mông”… Lúc đó anh chỉ bốc ngô rang ăn, đến nỗi thằng Đỗ Nhuận phải chỉ vào mặt anh nói Lê Quốc Thân “mênh mông” đi chứ, cứ bốc ngô mà ăn mãi thế!!! Chắc anh còn nhớ chuyện đó chứ…? Cái lúc anh bốc ngô rang trong chiến khu sao tôi không thấy anh có “quan điểm” gì… sao bây giờ mới được vô trung ương, anh lắm “quan điểm” thế! Lê Quốc Thân đỏ mặt rồi quay ngoắt đi thẳng. Từ đó y không bao giờ đến Cục tôi để nêu “quan điểm” nữa(!)”. Tướng Qua là như thế. Tính nóng nẩy, cương trực, nên hay làm mất lòng cấp trên mặc dù công trạng đầy mình. Ông từng phá “Vụ án phố Ôn Như Hầu” nổi tiếng, cứu chế độ cộng hòa non trẻ sau CM Tháng Tám thoát hiểm trong gang tấc. Vậy mà sau này, từ chức vụ Cục trưởng Cục cảnh sát ông phải miễn cưỡng nhận chức Cục trưởng Cục lao cải – tức cục quản lý các trại giam, một chức vụ bị “cách ly” với các vấn đề an ninh ngoài xã hội, không còn liên quan đến toàn bộ hệ thống pháp luật, đến sự minh bạch, công tâm, trách nhiệm cao, thâm niên nghiệp vụ cao của người đứng đầu ngành cảnh sát quốc gia như chức vụ cũ của ông. Vậy mà cũng không yên. Tướng Qua kể khi ông Phạm Hùng làm phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Công An, một lần ông đến Cục trại giam và ra lệnh cho tôi thả một nữ tù nhân đang mang án chung thân. Tôi thưa với đồng chí Bộ trưởng, đây là chuyện pháp luật, tôi không dám. Ông Phạm Hùng nói “pháp luật do ta làm ra chớ(!)”. Tôi đành thưa, xin phép để cho tôi họp Đảng ủy Cục, xin ý kiến Đảng ủy. Ông Phạm Hùng trừng mắt hỏi “đồng chí bao nhiêu tuổi?” Tôi biết không xong rồi, và sau giây phút suy nghĩ , tôi đã trả lời một cách kiên quyết, chấp nhận mọi hậu họa “tôi ít tuổi hơn đồng chí”! Thế là hơn tháng sau, tôi nhận được quyết định nghỉ hưu (!) Ông Phạm Hùng từng là một người anh hùng như tôi đã biết. Ông từng bị thực dân Pháp kết án tử hình. Trong khám tử hình, ông tỏ ra vô cùng anh dũng, được kính nể. Vậy mà khi có quyền lực không giới hạn thì tha hóa như thế. Đó là con đường của tất cả các lãnh tụ trong một chế độ toàn trị, mà trường hợp Phạm Hùng chỉ là một ví dụ nhỏ. Cả dòng họ Lê Phú của tôi, chỉ có mình tôi là được biết về lý do bị cho nghỉ hưu đột ngột của tướng Qua, vì ông chỉ kể cho có một mình tôi nghe trong một chiều “gió tím mưa xanh”. Cuốn sách này là những mẩu chuyện như thế! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 6, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/06/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-2/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 3): https://www.minds.com/newsfeed/1019873276747919360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
21 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 1) Lời Nhà Xuất Bản Vào thập niên 50 tại Âu Châu và ngay cả tại Mỹ, phong trào thiên tả lan rộng trong giới trí thức. Tầng lớp có học thời ấy tự hào “phàm là trí thức thì phải thiên tả.” Điển hình là hai triết gia Jean Paul Satre người Pháp, Bertrand Russel người Anh và nữ tài tử Mỹ Jane Fonda. Phong trào thiên tả ngưỡng vọng nhiều tay lãnh tụ cộng sản trên thế giới và xem Liên Xô là “cái nôi” cuộc cách mạng xã hội của loài người. Thậm chí cho tới mãi năm 1989 tại thành phố Bergen – Na Uy, giới trí thức, giới cầm bút hay giáo sư đại học vẫn còn ca tụng Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và ngay cả Pol Pot, tên đồ tể diệt chủng dân tộc Khmer. Đám người mắc chứng “mê Cộng” này còn táo tợn cho rằng “tuổi đôi mươi mà không theo Cộng Sản là không có trái tim.” May cho đám đó là họ chỉ luẩn quẩn ở các đô thị xa hoa, uống rượu chát, ăn bò bí tết để mơ mộng xây dựng “thiên đường cộng sản” chứ không có, dù một ngày, trải nghiệm bằng chính bản thân cái chủ nghĩa là “căn bệnh ung thư” này của nhân loại. Họ không có cái TRÍ của Nguyễn Chí Thiện để sớm nhận ra bộ mặt không có tính người của cộng sản, như trong thơ của Ngục Sĩ này viết: “Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại Ngỡ cờ sao rực rỡ Tô thắm màu xứ sở yêu thương Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường Hung bạo phá bờ kim cổ.” Và như trường hợp tác giả cuốn Lời Ai Điếu này, nhà báo Lê Phú Khải, sớm nhìn rõ Chủ nghĩa Cộng sản từ lúc bước vào tuổi hai mươi: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh.” Khác với Jean Paul Sartre, Bertrand Russel hay Jane Fonda chỉ vỡ cơn huyễn mộng sau khi “Đế quốc Ma quỷ Liên Xô” và các chế độ cộng sản Đông Âu tan rã như cơm nguội gặp mưa, Lê Phú Khải cương quyết “không cần trái tim để theo cộng sản”dù như ông tự thuật, cả gia đình ông là cộng sản nòi: “Mỗi khi họ Lê Phú nhà tôi giỗ tết, tập hợp đông đủ nội ngoại, dâu rể thì nhìn đâu cũng thấy Đảng viên. Có lẽ, chỉ có mấy cái cột nhà và tôi là không phải Đảng viên mà thôi!” Hít thở không khí như thế, mà Lê Phú Khải nhiều lần từ chối vào Đảng vì ông thấy chế độ mà ông đang sống là một chế độ độc tài. Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội trại lính ở miền bắc từ khi muốn thi vào đại học, ông phác giác rất rõ cái chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp dấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì mới đẻ ra cái cách tuyển sinh “man rợ” như thế và nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội có từ trước đó. Vì cộng sản chỉ lựa chọn sinh viên đại học dựa trên tiêu chuẩn thành phần giai cấp nên sản sinh một lớp người sau khi tốt nghiệp đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất, và “kẻ dốt nát xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ một khi có quyền thì chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi.” Cũng vì chủ trương đấu tranh gia cấp, nên chế độ đã phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất nhằm “đào tận gốc, trốc tận rễ” những thành phần khác của xã hội “Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo” và hậu quả là cả trăm ngàn người chết oan khuất trong cơn “say máu vĩ cuồng” của cộng sản với những câu thơ khẩu hiệu của Tố Hữu “Giết, giết nữa, bàn tay không chút nghỉ… Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.” Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội rơi vào điên loạn đó ngay tại quê vợ của ông khi chứng kiến cảnh nát lòng của một phú nông trong làng từng chứa chấp Việt Minh hoạt động, bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung nên phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng tự thiêu, “những đứa trẻ chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò!” Thân phận trí thức ở đất nước nào cộng sản cai trị thì thành phần có học này cũng chịu những cay đắng, thống khổ giống nhau. Boris Pasternak, văn hào Nga đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1958, trong tác phẩm lẫy lừng “Doctor Zhivago” đã gột tả nỗi tũi nhục của nhân vật chính, bác sĩ Zhivago, bị công an bắt vì ăn cắp vài cây gỗ sưởi ấm cho gia đình trong cái lạnh cắt da của mùa Đông nước Nga. Việt Nam, qua lời kể của Lê Phú Khải, trong một phiên họp rất căng do bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chủ trì, giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng, vì quá sợ, mồ hôi vã ra như tắm, rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mỳ chính (người miền Nam gọi là bột ngọt) nhỏ rơi ra. bác sĩ Tùng có thói quen cất những gói mì chính nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vào tô. Buổi họp có mặt của Tướng công an Lê Phú Qua, chú ruột tác giả, tướng Qua thấy bác sĩ Tùng run quá, phải cúi xuống nhặt dùm các gói mì chính rồi để lại vào túi bác sĩ Tùng. Đọc những đoạn Lê Phú Khải phơi bày tâm tình của mình trên giấy khi viết về thân phận trí thức trong chế độ cộng sản, người ta có cảm tưởng tác giả như đang nuốt ngược vào lòng nỗi tủi nhục của phận người bị guồng máy toàn trị dìm xuống tận đất đen. Như một lần ông đến thăm nhà văn 50 tuổi đảng Nguyễn Khải trước khi ông khải qua đời năm 2008. Nguyễn Khải nắm tay bạn buồn bã nói: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh. Thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh. Thứ hai là độc giả nó khinh. Và thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán mình lại tự khinh mình!” Do làm báo, Lê Phú Khải có nhiều cơ hội chứng kiến quyền uy của giới lãnh đạo. Ông nói “Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân đầy tớ.” Và những tay lãnh đạo sau Lê Duẩn thì cũng “cá mè một lứa”, Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Còn Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải “mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi”. Lê Phú Khải nhận xét, họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó! Riêng cách của Lê Duẩn đối với Võ Nguyên Giáp thì Lê Phú Khải nói rằng, đó là lối đối xử “vô sản gắn liền với vô học.” Ông kể: “Sau chiến tranh biến giới với Trung Quốc 1979, tên Trọng Hy Đông ở Ủy ban Kiều vụ, Quốc vụ Viện trung Quốc, hàm ngang bộ trưởng, sang Việt Nam để giải quyết các vấn đề hậu chiến tranh như tù binh v.v. Khi xe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa đến cũng là lúc xe Lê Duẩn vừa tới, Lê Duẩn chỉ vào mặt tướng Giáp và nói như quát: – Cuộc họp không có anh! Võ Nguyên Giáp nói: – Vậy tôi về. Thế là ông Giáo lủi thủi lên xe ra về.” Có lần Lê Phú Khải cùng các ký giả khác tham dự cuộc họp báo của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm tại phòng tiếp khác VIP của phi trường Tân Sơn Nhất, ông tận mắt thấy cảnh Nguyễn Mạnh Cầm vừa trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Việt Nam, vừa nhìn sang phía quầy bán hàng phục vụ khách VIP, “nơi cô Phương Uyên đang nhổm người lên để lộ cả quần xi líp mầu hồng bên trong!” Lúc về cơ quan, Lê Phú Khải bảo với lãnh đạo của ông là ông sẽ viết lại giáo trình bài “phỏng vấn”, rằng “mỗi khi một cơ quan báo chí cử phóng viên đi phỏng vấn các VIO, thì nên cử nữ phóng viên xinh đẹp, mặc váy ngắn, xi líp màu hồng!” Vì sinh ra trong gia đình cộng sản nòi, chú bác, anh em có người lên tới hàng lãnh đạo trung cao cấp của đảng, Lê Phú Khải được nghe những nhận xét về nhiều nhân vật chóp bu của chế độ, như lời chú ruột ông là Tướng công an Lê Phú Qua, hoặc qua lời kể của em gái ông, cô Tuyết: – Thủ tướng bám quyền hơn 30 năm Phạm Văn Đồng: “Chủ quan, bốc đồng, rất vô tích sự và chỉ làm hại đất nước!” – Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn: “Quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Vợ Hoàn là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ.” – Riêng với Hồ Chí Minh, cũng giống như một số lớn dân miền Bắc, không hiểu rõ chân tướng ông Hồ, nên Lê Phú Khải trong cách viết vẫn còn lộ chút tình cảm kính trọng nhân vật này. Dù vậy, qua đoạn thuật lại nhận xét của Giáo sư Tạ Quang Bửu, người đọc cũng có thể thấy được cảm nhận của Lê Phú Khải về ông Hồ: “Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù thi tốt nghiệp phổ thông hay thi vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, Bộ trường Bộ đại học và Trung hoạc Chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu phán một câu: “Đây là tà thuyết!” Lê Phú Khải có cô em tên Tuyết, làm việc cho cơ quan cần vụ chuyên cung cấp thực phẩm cho các ủy viên Bộ Chính trị. Có lần cô Tuyết kể lại, vào thời ông Trần Xuân Bác đưa ra lý thuyết đa nguyên, Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống, vì họ sợ bị đầu độc. Ngay cả nhân vật “hét ra lửa mửa ra khói” là Lê Đức Thọ cũng sợ. Theo lời cô Tuyết, có lần, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này, “thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách lòi cả bông thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói, tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế.” – Về nhân vật Nguyễn Thị Bình, từng một thời lãnh đạo tổ chức bù nhìn của Hà Nội là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, Lê Phú Khải viết (theo lời kể lại của nhà văn Nguyên Ngọc), một hôm bà Bình “triệu tập” một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi, chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng Nguyên Ngọc nói: “Sai từ đại hội Tour.” (vào năm 1920, khi cơ quan tình báo KGB của Liên Xô cho thành lập đảng cộng sản Pháp, tách ra từ Đảng Xã Hội, Hồ Chí Minh được tham gia vào Đảng Xã Hội khi ấy ngả theo Liên Xô để rồi gia nhập phong trào cộng sản Pháp từ lúc đó – chú thích của NXB). “Bà Bình không đồng ý.” Vậy mà sang ngày hôm sau bà Bình bảo Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!” Qua những trải nghiệm ngưởi thực, việc thực nói trên, Lê Phú Khải chua chát kết luận: “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.” Một lần, Lê Phú Khải đi Mạc Tư Khoa và gặp một trí thức Nga. Ông này ví von, “Liên Xô của chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết trôi dạt đi đâu!” Ba mươi năm sau kể từ cuộc trò chuyện đó, tác giả cay đắng khi nghe ông Tổng bí thư đương quyền Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên quyết bác bỏ “tam quyền phân lập” để bảo vệ chế độ độc đảng! Lê Phú Khải nhận định rằng, như vậy là Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn quyết đội trên đầu mình cái mũ mà cả loài người tiến bộ đã vứt bỏ. Cái mũ độc đảng! Tác giả nhận định, “rõ ràng, cái chiến hạm Liên Xô đã thoát cảnh mắc cạn, nhưng cái chiến hạm ấy do anh chàng KGB Putin cầm lái chưa biết nó sẽ đi về đâu. Còn con thuyền thúng Việt Nam thì đang trôi dạt vào một vùng sóng to gió lớn. Chắc chắn nó sẽ bị lật úp nếu những người trên con thuyền thúng đó không dám can đảm nhảy xuống nước mà bơi vào bờ, cứ khư khư ôm lấy con thuyền đó.” Sống nhiều, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, Lê Phú Khải thu vào ống kính đời mình nhiều góc cạnh, người, vật, sự kiện… Không báng bổ, không lớn tiếng kết án, không ca ngợi, ông từ tốn mô tả con người và đất nước Việt Nam qua cách quan sát tinh tế của mình. Những năm sau này, ông dấn thân vào con đường đấu tranh Tự Do-Dân Chủ, nên thân thiết với một lớp người mới, những người đang tới của Việt Nam. Nhớ về Kiến Giang, một con người quyết liệt, từ chỗ là một tín đồ ngoan đạo của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sùng bái Liên Xô, đến chỗ dứt khoát từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản nên bị tù vì tham gia nhóm “Xét Lại Chống Đảng”, Lê Phú Khải thuật lời Kiến Giang kể: “Lần cuối cùng Lê Đức Thọ vào thăm tôi, ông ta nói, các cậu hay đề cao trí thức, phó tiến sỹ đi học nước ngoài học về thì tớ cho thêm 5 đồng vào lương, thế thôi! Tôi nhìn thẳng Thọ nói, xưa Đảng vô học vì phải đi đánh giặc, nay Đảng có chính quyền mà Đảng lại sùng bái sự vô học thì không được! Lê Đức Thọ đứng lên ra về. Ít phút sau tay giám thị trại giam vào hoảng hốt nói, kỳ này thủ trưởng vào là để cho ông về, vậy là chết rồi! Ông làm thủ trưởng phật lòng, vậy là tiếp tục tù dài!” Và Kiến Giang kết luận: “Chúng ta không sợ lạc hậu, mà chỉ sợ nhất là lạc lõng giữa loài người.” Với Hà Sĩ Phu, nổi tiếng qua bài viết “Nắm Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, Lê Phú Khải nhớ có lần Hà Sĩ Phu nhận định rằng, khi chưa có chính quyền, người cộng sản rước chủ nghĩa Mác vào cửa sau, nay có chính quyền rồi lại treo Mác trước cửa nhà để treo đầu dê bán thịt chó, thì đó là thái độ lấy oán báo ân! Rõ ràng, “chế độ độc đảng như con vật đơn bào, nó có thể tồn tại từ thời hồng hoang của lịch sử đến ngày nay, nhưng chỉ tồn tại trong cống rãnh mà thôi. Muốn nên người, nó phải là con vật đa bào.” Lê Phú Khải còn nhắc lại những lần trò chuyện với Dương Thu Hương, nhà văn nữ đã một mình khai chiến với chế độ cộng sản và được báo chí Pháp ca ngợi là “Con Sói Đơn Độc.” Ngay tại căn nhà của Dương Thu Hương ở Hà Nội, bà nói với tác giả: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạmg vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cảrác rưởi mà nó định quét đi!” Tác giả Lời Ai Điếu dù thuộc lớp tuổi “thấp thập cổ lai hy” vẫn tìm cách gần gũi những lớp trẻ thuộc hàng em, cháu đang dấn thân đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Qua những lần gặp gỡ, trò chuyện, ông nhận ra đặc trưng của lớp người trẻ này như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy… là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ đã “chỉ thẳng mặt Đảng Cộng sản là quân bán nước.” Đoạn cuối tác phẩm này, Lê Phú Khải tâm sự, ông năm nay đã 72 tuổi, tức là đã sống cả đời trong chế độ Đảng trị. Ông không vào Đảng trong một chế độ Đảng trị thì đương nhiên con đường “tiến thân” là u ám rồi! Ông nói: “Tôi ý thức rất rõ điều này và hoàn toàn bằng lòng, vui vẻ với con đường mình đã chọn, làm một người tự do ngoài Đảng.” Và những dòng cuối của cuốn sách, Lê Phú Khải viết: “Sáng sớm ngày 14/09/1985 tôi đang ở bến đò Cà Mau chờ đi Năm Căn thì nghe tin đổi tiền. Mới tối hôm trước Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan tôi làm việc) còn nói ‘Không có chuyện đổi tiền, đồng bào đừng nghe kẻ xấu tung tin đổi tiền’, vậy mà sáng hôm sau 14/09/1985 chính cái đài ấy lại hô hào nhân dân đến các trạm đổi tiền để đổi tiền. Một bà già lớn tuổi ngồi cùng ghe đã chỉ tay lên cái loa đang loan tin đổi tiền ở trên bờ chửi, cái đài này nó nói dóc còn hơn con điếm.” Lê Phú Khải chấm dứt cuốn sách bằng câu: “Tôi đã phải sống với ‘con điếm’ ấy cả đời người!” Rõ ràng, dòng cuối cùng của Lê Phú Khải là LỜI AI ĐIẾU dành cho chế độ toàn trị đang cố bám quyền trên đất nước Việt Nam chúng ta. Tháng Tư, 2016 Nhà xuất bản Người Việt Đinh Quang Anh Thái ----- Tháng Tám 4, 2016 Phan Ba Báo chí Hồi ký Lê Phú Khải, lời ai điếu Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/04/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-1/ ***** - Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2): https://www.minds.com/newsfeed/1019872154710347776?referrer=HoangVanLam   === 0 ===   TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
129 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 3) Chương Một Hà Nội, nơi tôi sinh ra Tôi sinh ra (1942) trong một gia đình công chức tại Hà Nội. Theo ông nội tôi thì nơi chôn nhau cắt rốn của nội tôi là làng Cơ xá nam, ngày nay thuộc phố Nguyễn Huy Tự quận Hai Bà. Làng tôi có từ trước khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Làng có hai dòng họ lớn là họ Ngô và họ Lê. Lý Thường Kiệt họ Ngô (Ngô Thường Kiệt), vì có công nên được đổi sang họ vua (Lý). Nhân 1000 năm Thăng Long, đền thờ Lý Thường Kiệt được tu tạo, được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, hiện tọa lạc ở đầu đường Nguyễn Huy Tự ngày nay. Theo một phả của cụ Đức Quán làm ngày 12 tháng 10 năm Ất Hợi (1815) thì làng tôi vốn trước ở Núi Nùng gần chùa Một Cột. Đến thời vua Thái Tổ nhà Lý (1010), dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mới dời làng tôi ra bãi Phúc Xá bây giờ. Theo các cụ kể lại thì vua Lý lấy đất làng tôi làm kinh đô nên cho dân “tái định cư” bằng cách thả một quả bưởi xuống dông Hồng, bưởi trôi về đến đâu thì đất làng được đến đó. Ngẫm ra như thế thì chế độ phong kiến ngày xưa tử tế quá. Không đểu cáng như vụ giải tỏa cưỡng chế ở Văn Giang, Hưng Yên (24.04.2012) vừa qua! Vì quả bưởi trôi đến đâu, đất được cấp đến đó… nên đất làng tôi mênh mông, suốt từ Chèm đến tận Khuyến Lương, Thanh Trì. Một lần, vua đi kinh lý trên sông, thấy làng tôi nhà cửa lụp xụp ven sông, dân tình nghèo khó, vui hỏi quần thần “làng kia tên là làng gì”? Quần thần thưa: đó là làng Cơ Xá. Vua thấy thế bèn cho làng tôi cái bãi bồi giữa sông và đặt tên mới cho làng là Phúc Xá (ý vua muốn đổi tên từ chữ CƠ là nghèo, là cơ cực sang chữ PHÚC may mắn hơn). Theo gia phả của họ Lê Phú do ông nội tôi làm tại Phúc Xá ngày 15 tháng 8 năm Ất Tỵ (30.09.1955) lúc cụ 74 tuổi, thấy ghi như sau: Làng ta trước là Yên Xá, tổng Tam bảo, huyện Từ Liêm, đạo Sơn Tây… Từ khi làng ta dời xuống bãi Phúc Xá năm nào cũng bị ngập lụt. Vua Thần Tôn nhà Lý ngồi chơi du thuyền đi qua làng ta, thấy nhà nào cũng ở trên sàn, nên đặt tên làng ta là Cơ Xá, sau mới đổi tên là Phúc Xá. Đến đời Bảo Thái nhà Lê (1723) mới nhập vào xứ Kinh Bắc, Bắc Ninh. Vật đổi sao dời, bải Phúc Xá bị lở hàng năm nên dân làng hiện nay phiêu bạt nhiều nơi. Nhưng vẫn còn một bộ phận lớn của làng hiện nay đang cư ngụ tại bên bắc sông Hồng thuộc quận Gia Lâm ngày nay. Hiện nay, hàng năm làng tôi vẫn làm hội làng vào ngày mùng 6 tháng 3 AL. Họ Lê Phú… của tôi hiện còn ông quyền trưởng tộc là Lê Phú Dư hiện ngụ tại số nhà 164 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Quận Long Biên Hà Nội. Trừ cái hiện tại là ông trưởng tộc họ, tên Lê Phú Dư và dòng họ Lê Phú… đang sinh sống tại Hà Nội, thì tất cả chuyện “ngày xưa” đều do tôi nghe kể lại hoặc theo các ghi chép từ gia phả. Do đó không chắc gì là chính xác 100% cả. Tuy vậy, đối với dòng họ Lê Phú của tôi thì những gì mà tôi nghe được về cái làng Cơ Xá của mình… nó thiêng liêng lắm, thú vị lắm. Như bất cứ người Việt Nam nào nghe kể về Bà Triệu, Bà Trưng “ngày xưa” vậy! Dân làng Phúc Xá của tôi đã tham gia xây dựng những công trình lớn của thực dân Pháp hồi cuối TK 19, đầu TK 20 ở Hà Nội. Theo ông nội tôi kể lại thì khi xây cầu Long Biên qua sông Hồng, nhiều dân làng đã chết vì khi xây dựng móng cầu ở độ sâu do thiếu dưỡng khí, nên khi họ được kéo lên mặt nước thì đã chết ngạt từ trước đó. Xin mở ngoặc nói thêm, tháp Eiffel ở Paris được xây dựng cùng thời gian với cầu Long Biên và được khánh thành năm 1889 để kỷ niệm 100 cách mạng Pháp 1789 (với 7000 tấn thép, hơn cầu Long Biên 1000 tấn). Điều đáng nói là tháp được xây dựng ròng rã ba năm nhưng không chết một công nhân nào cả. Trong khi đó, cầu Long Biên được khánh thánh 1902, với số người chết… không tính được. Chỉ riêng chuyện đó thôi, cũng thấy chuyện “nhân đạo” của bọn thực dân. Bà cụ nội của tôi là Dương Thị Thiết (1858-1937) đã từng làm phụ hồ khi Pháp xây dựng nhà hát lớn Hà Nội. Đến bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là, ông nội tôi, cha mất sớm từ lúc ông có 11 tuổi, mẹ phải đi làm phụ hồ thì làm sao có tiền để nuôi ông nội tôi ăn học… đến trình độ đọc được sách chữ Hán, nói tiếng Tây trôi chảy. Ông bà nội tôi sinh được 6 người con. Thứ nhất là bà cô tôi, Lê Thị Thọ. Thứ hai là ông bố tôi, Lê Phú Khang, thứ ba là Lê Phú Cường, sau này đi hoạt động cách mạng đổi tên là Lê Hữu Qua, thứ tư là Lê Phú Ninh, thứ năm là Lê Phú An, thứ sáu là Lê Phú hào. Ở Hà Nội (và ở miền Bắc nói chung), con gái không được tính, không “dân chủ” như Nam Bộ nên bà cô tôi không được xếp thứ. Ông bố tôi được gọi là ông trưởng, thứ đến ông hai, ông ba… bà cô tôi được ăn học hết bậc tiểu học, sau đó học trường sư phạm (école normale) ba năm, trình độ tương đương diplome. Ông bố tôi vì ăn chơi không lo học nên thi diplome bốn lần không đỗ, cuối cùng phải sang tận Lào làm thư ký một thời gian. Riêng điểm này thôi cũng thấy chế độ thi cử của thực dân Pháp là nghiêm ngặt. Con nhà khá giả như bố tôi, cha là công chức Phủ Toàn Quyền nhưng không có cửa để đút lót để lấy bằng cấp như chế độ cộng sản thời nay. Người chú thứ tư của tôi là Lê Phú Hào do vừa làm vừa học nên đỗ được bằng tú tài trước Cách Mạng Tháng Tám. Những người chú khác thì không biết học được đến trình độ gì, nhưng nói chung đều nói được tiếng Pháp. Ví dụ như người chú thứ hai là Lê Phú Ninh, gia đình vẫn thấy ông thường xuyên nghe radio tiếng Pháp. Vì thế nên gia đình họ Lê Phú nhà tôi có cái “lệ” rất “humour” là mỗi khi người lớn (các ông) trong gia đình gặp gỡ nhau trong các dịp lễ tết, giỗ chạp, vủi vẻ thì họ nói tiếng Việt, nhưng nếu có sự cãi cọ, to tiếng mắng mỏ nhau… thì từ ông nội tôi đến bố tôi và các chú tôi đều sử dụng tiếng Tây để những người khác không biết họ cãi lộn về cái gì. Cái vốn tiếng tây “Francais sans maitre” của tôi đôi lúc cũng nghe được vài từ, chủ yếu là… chửi thề của các bậc cha chú đó (!) Ông nội tôi (1881-1967) làm vaguemestre cho Toàn quyền Đông Dương trước CÁCH MẠNG THÁNG TÁM. Vuguemestre là nhân viên bưu chính của một công sở. Nhưng Toàn quyền Đông Dương có cả một nhóm nhân viên làm việc trực tiếp và chỉ phục vụ riêng về một công việc nào đó cho Toàn quyền mà thôi, trong đó có nhân viên bưu chính. Giống như tổng thống Mỹ ngày nay có đến hơn 90 nhân viên phục vụ trong Nhà trắng cho riêng tổng thống, trong đó có những chức danh như chuyên viên… ống dẫn nước… chẳng hạn! Có nghĩa là không có chuyện “cúp nước” hay “cúp điện” với Dinh Tổng thống. Cũng giống như thế, ông nội tôi có nhiệm vụ hàng ngày đi ra bưu điện nhận thư từ, công văn cho quan Toàn quyền, rồi lại đi gửi thư từ, công văn của quan Toàn quyền về Pháp. Để làm việc này, cụ có ô tô riêng và có một ông “tây đen” lái xe đi và về! Những điều tôi kể không quan trọng vì kiếm đâu chẳng có một nhân viên để làm những việc đó. Cái chính, như ông nội tôi kể là, sở dĩ quan Bẩy Toàn quyền chọn ông làm nhân viên vaguemestre vì… chữ ông nội tôi rất đẹp. Quan Bẩy rất kén người chữ đẹp để đề bao bì thư cho mình gửi về Pháp. Bây giờ chúng ta được xem những tờ giấy khai sinh của bố mẹ mình thời Pháp thuộc, thì thấy chữ viết được điền vào các tờ mẫu khai sinh thời đó rất đẹp. Đến chọn một nhân viên viết giấy khai sinh ở công sở, người ta còn chọn người chữ đẹp nữa là ở Phủ Toàn Quyền, viết bao thư cho Toàn quyền gửi về mẫu quốc. Cái văn hóa chữ đẹp ấy của người Pháp đã khiến ông nội tôi được quan Toàn quyền Đông Dương chọn làm nhân viên vaguemestre cho mình. Mà ông nội tôi viết chữ đẹp thật! Tôi đã bị ông nội tôi đánh sưng cả tay khi viết tập đồ. Ông nội tôi khi cầm cây bút có hình lưỡi mác chẻ đôi, khi viết có nét đậm nhạt khác nhau tùy theo chủ ý của người viết, chấm mực rồi, không phải đặt bút viết ngay… mà khua cây bút vài dòng để luyện gân tay rồi mới thả ngòi bút xuống trang giấy! Giống như hai đô vật trước khi lao vào đấu vật, họ thường múa vài đường thật đẹp để “diễu võ giương oai” và để làm đẹp lòng khán giả. Nhìn ông nội tôi cầm bút, trước khi viết, múa bút vài vòng như một thứ… “đạo”! Cái chữ đầu tiên của một địa chỉ trên phong bì thư đương nhiên phải viết chữ hoa. Vì thế nét bút đầu tiên phải là một nét phẩy từ dưới lên, rồi mới đến chữ cái viết hoa đầu tiên. Thiếu cái nét phẩy ngược lên ấy thì chữ cái viết hoa đầu tiên trơ trẽn như anh chàng “ở truồng” vậy! Ấy là lời bình của ông nội tôi. Có câu chuyện thú vị thế này. Khi người anh rể tôi là một đại úy quân đội được cử sang Liên Xô tu nghiệp ở học viện quân sự Phơ-run-de sau năm 1954. Một hôm có người báo với đại úy Việt Nam này rằng, anh lên gặp ngay thượng tướng hiệu trưởng trường. Ông anh rể tôi run quá. Một học viện cỡ quốc tế, có hàng nghìn học viên các nước theo họ, cắc cớ gì mà một học viên cấp úy như ông phải lên gặp thượng tướng hiệu trưởng? Vừa đi vừa run. Khi ông anh rể tôi đứng nghiêm giơ tay chào vị thượng tướng theo phong cách nhà binh và … chờ đợi. Bất ngờ vị tướng oai phong đó đặt một bức thư lên bàn và hỏi: Ai viết cho đồng chí bức thư này? Ông anh tôi cầm thư xem và thưa, đây là thư của ông nội vợ tôi viết trả lời sau khi nhận được thư hỏi thăm của tôi. Nghe rồi, vị tướng đó chỉ nói một câu ngắn gọn: Chữ ông nội vợ đồng chí đẹp quá! Rồi cho đồng chí đại úy Việt Nam… ra về!!! Thì ra cái văn hóa chữ đẹp nó có cả ở bên Nga nữa. Thế mà bây giờ người ta lại đi học cái “thư pháp” của Tàu, viết chữ Latinh mẫu tự a, b, c theo cách viết chữ tượng hình của chữ Hán thì thật là ngu ngốc quá! Nhìn mấy chữ Việt “thư pháp” trên các cuốn lịch Việt Nam ngày nay người ta phát lộn mửa! Chuyện ông nội tôi làm veguemestre cho Toàn quyền Đông Dương nhờ chữ đẹp là như thế. Nhưng ngoài công việc của một nhân viên bưu chính cho Toàn quyền, ông nội tôi còn một nhiệm vụ nữa là làm thông ngôn, ngày nay gọi là phiên dịch cho quan Toàn quyền mỗi khi có các quan An Nam ở địa phương lên bẩm báo. Chủ yếu là vào các dịp tết, lễ, các quan tỉnh, quan huyện lên biếu xén quà cáp, đút lót cho Toàn quyền. Nếu các vị đó biếu Toàn quyền 10 thì cũng phải biếu ông nội tôi 1-2… vì sợ ông nội tôi dịch sai!!! Chính vì thế, khi đến tuổi 50, Toàn quyền Đông Dương bảo ông nội tôi theo luật thì công chức sở tây đến 50 tuổi phải nghỉ hưu, nếu mày muốn tiếp tục làm thì tao chuyển cho mày sang ngạch An Nam. Mày sẽ được làm tri huyện, nhưng tri huyện vùng xuôi thì kín rồi. Nếu mày muốn thì làm tri châu (quan huyện ở miền núi) thì tao ký cho mày đi nhậm chức. Ông nội tôi suy nghĩ, nếu làm quan mà không ăn của đút, không bòn rút của dân, thì lấy đâu ra lụa là châu báu, của ngon vật lạ… để đem biếu quan trên như chính mắt ông tôi nhìn thấy. Vì thế, ông nội tôi xin về… Ngày ông nội tôi rời Phủ quyền, quan Bẩy tiển ra tận cổng phủ, bắt tay rất chặt trước lúc chia tay. Vẫn theo ông nội tôi kể, thì đó là lần đầu tiên có một người về hưu mà Toàn quyền tiễn ra tận cổng. Chắc ông nội tôi phải là một công chức cần mẫn lắm thì mới được quan Toàn quyền “ưu ái” đến thế! Vậy mà, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, ông nội tôi đã đem toàn bộ gia quyến tản cư lên Phú Thọ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ trường kỳ kháng chiến. (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 8, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-3/ *** Đọc tiếp: - Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 4): https://www.minds.com/newsfeed/1019874154103676928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 2): https://www.minds.com/newsfeed/1019872154710347776?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
18 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2) Lời Nói Đầu Có lần, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bảo tôi: – Nhiều người khuyên Nguyễn Khắc Viện nên viết hồi ký. Nhưng tôi nghĩ, mình chưa một lần bị đi tù. Chưa một lần cầm súng ra trận thì có gì mà viết hồi ký… Cứ như lời ông Viện thì đời tôi, không đáng một xu, vậy có gì để mà viết hồi ký, hồi ức cho thiên hạ cười chê (!) Nhưng bạn bè nhiều người lại khuyên Lê Phú Khải nên viết một cuốn hồi ký, không thì phí đi (!) Chả là, trong lúc vui vẻ, tôi thường kể cho bạn hữu nghe những chuyện “cười ra nước mắt” của dòng họ tôi, hoặc những nhân vật mà suốt cuộc đời 40 năm làm báo tôi được tiếp cận, làm việc. Toàn là những “nhân vật lịch sử”, những chuyện đáng ghi lại. Mà những nhân vật đó lại không thích hoặc không có điều kiện để ghi lại. Bạn bè khuyên tôi nên viết lại những chuyện mà tôi biết… Chẳng hạn, như chuyện ông nội tôi làm vaguemestre (nhân viên bưu chính) cho Toàn quyền Đông Dương như thế nào? Ông nội tôi theo Toàn quyền Maurice Long và vua Khải Định đi hội chợ Marseille năm 1922 và phiên dịch cho Khải Định trong chuyến đi ấy như thế nào? Hay là, chuyện chú tôi, tướng Lê Hữu Qua (Lê Phú Cường) có thời gian lái xe và làm garde-corps cho cụ Hồ những năm đầu Cách mạng Tháng Tám như thế nào? Hoặc, một người chú khác của tôi là nhà báo Lê Phú Hào làm phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ và Kissingertại hội đàm Paris như thế nào? Hoặc chính tôi, từng tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong những chuyến đi công cán tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sau này, ông Kiệt thường kêu tôi đến nhà riêng khi ông đã thôi làm Thủ tướng, để nói chuyện, tạm gọi là “tâm sự” như thế nào? Hoặc chân dung những nhà đấu tranh dân chủ mà tôi có dịp tiếp kiến, giao du như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sỹ Phu… Những truyện trên không ai hay cả, nhưng là “những tư liệu quý” như bạn bè tôi nói, cần cho hậu thế đọc và suy nghĩ về một thời kỳ đáng nhớ của đất nước tươi đẹp nhưng đau khổ này! Bạn tôi, toàn những người khó tính, vậy mà họ lại thích thú nghe thì có lẽ cũng nên ghi lại thật. Và cũng chỉ người “quen tay” cầm bút mới đủ kiên nhẫn để ghi lại những trang viết này trong lúc thiên hạ đua nhau đi kiếm tiền bằng đủ mọi cách, kể cả các nhà văn chửi bới nhau để tranh một cái giải thưởng… vài trăm triệu lúc này! (5/2012) Tôi thử kể một đoạn “hồi ký” dưới đây để bạn đọc yêu mến của tôi coi có được không? Bằng không thì hãy vứt ngay cuốn hồi ký này vào sọt rác…để khỏi rác nhà! (…Trích). “Ông nội tôi hỏi: Cháu có biết vì sao các nhân viên ở Phủ toàn quyền gọi quan toàn quyền Đông Dương là “quan Bẩy” không? Nói rồi, ông nội tôi giải thích, bở vì tên quan võ chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương được gọi là quan Sáu. Toàn Quyền còn hơn cả quan Sáu nên mới được gọi là quan Bẩy. Quan Bẩy Toàn quyền là người rất nghiêm nghị. Phòng làm việc của ngài ở Phủ toàn quyền là một căn phòng rộng, hình chữ nhật, dài như một cái toa tàu. Bureau của ngài ở cuối phòng, trước mặt có kê một chiếc bàn dài và hai hàng ghế để dùng vào những lúc hội họp. Ai được phép vào phòng của ngài rồi phải đi một quãng dài mới tới chỗ quan ngồi. Một lần – vẫn lời ông nội tôi kể – tao đang ngồi làm việc ở cái bàn dài trước mặt ngài thì một tên quan Tư người Pháp được phép vào báo cáo. Tên quan Tư đi kiểu nhà binh, đến trước mặt quan Bẩy, nó dậm chân rồi giơ tay chào cũng kiểu nhà binh. Quan Bẩy vẫn cặm cụi viết, không hề để ý đến tên quan Tư. Mấy phút trôi qua trong yên lặng. Thấy tên quan Tư người Pháp phải đứng, tao thì ngồi nên sợ thằng quan Tư ngượng. Tao vội vàng đứng dậy … xem bức tranh trên tường. Bỗng quan Bẩy nói: – Mày không phải giả vờ xem tranh, tao chưa cho nó ngồi, thì nó chưa được ngồi. Mày cứ ngồi xuống ghế mà làm việc đi (!) Quan Bẩy là vậy đó. Nghiêm lắm. Lúc làm việc, đi kinh lý đâu ngài cũng đem theo các kỹ sư, các chuyên gia đi theo. Xây dựng công trình gì, trồng cây gì, nuôi con gì, ra chỉ thị gì… ngài đều gọi các nhà chuyên môn đến hỏi rồi mới quyết định. Không những thế, trong sổ sách tài liệu đều ghi chép rõ ràng ý kiến tham mưu của các nhà chuyên môn, để sau này sẽ truy cứu trách nhiệm. Vì thế các chuyên gia đi theo ngài làm việc rất nghiêm túc, khi được hỏi để toàn quyền ký một quyết định gì, họ đều đắn đo suy nghĩ rất kỹ… vì tất cả trách nhiệm sau này là họ phải gánh chịu… … Nghe ông nội tôi kể về cách làm việc của Toàn quyền Đông Dương tôi nghĩ đến các vị lãnh tụ cộng sản nhà ta sau này đi kinh lý mà thấy buồn cười. Khi có ngôi vị cao rồi, các vị ấy tự cho mình là hiểu biết tất cả. Chắc các vị ấy nghĩ rằng, trong chiến tranh ác liệt như thế, các vị ấy còn thắng nữa là bây giờ, việc gì các vị ấy chẳng quyết được. Tôi nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi tổng bí thư (TBT) Lê Duẩn vô thăm tỉnh Tiền Giang. Ban thường vụ tỉnh ủy lúc đó đứng đầu là bí thư tỉnh ủy Chín Hải (tức Lê Văn Phẩm), và chủ tịch tỉnh Sáu Bình (Nguyễn Công Bình) dẫn TBT Lê Duẩn vô thăm vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang (90.000 ha). Đứng trước cánh đồng bao la bát ngát của vùng Đồng Tháp Mười, TBT Lê Duẩn chỉ tay về cánh đồng trước mặt, hỏi: – Trồng những cây gì thế kia? Bí thư tỉnh ủy Chín Hải lễ phép trả lời: – Thưa tổng bí thư, đó là rừng tràm ạ. Bỗng mọi người sửng sốt khi nghe TBT quát: – Ngu! Ngu! Sao không trồng lúa!!! Trước cơn giận dữ của TBT vì sao tỉnh lại không trồng lúa ở Đồng Tháp Mười mà lại trồng tràm… thì mọi người chỉ còn biết chết lặng mà thôi. Ai dám cãi lại? Ai dám cả gan giải thích cho đồng chí TBT rằng, đất Đồng Tháp Mười là đất phèn nặng, chỉ trồng tràm là hợp nhất mà thôi. Từ lúc TBT quát tháo như thế, không khí của đoàn trầm lặng. Hầu như không ai nói gì cả. Khi TBT Lê Duẩn đi rồi, tôi nghe rõ tiếng than của bí thư tỉnh ủy Chín Hải: – Ông Ba (tức Lê Duẩn) quay cờ rồi (!) … Có lần, ông nội tôi bất ngờ hỏi: “Cháu có biết ở hội chợ triển lãm thuộc địa Marseille, các nước thuộc địa của Pháp mở các quán ăn trong gian hàng hội chợ của mình để khoe với khách các món ăn ngon của xứ sở mình … thì món gì đắt hàng nhất tại hội chợ không? Nói rồi ông nội tôi kể tiếp: Món bún chả Việt Nam luôn luôn đông nghẹt khách vào ăn. Thịt nướng thơm phức, khói bay nghi ngút từ những cặp thịt nướng bốc lên lời mời chào quyến rũ nhất của gian hàng ăn Việt Nam. Các bà đầm đều hỏi sao thứ nước chấm bún chả thơm ngon lạ lùng thế? Cháu có biết vì sao không? Đó là vì có vị cà cuống! Nước mắm cà cuống mà!” … Tướng Lê Hữu Qua là một người cương trực, mỗi lần tôi có việc gia đình phải lên Bộ Công An gặp ông, nhằm lúc ông vui vẻ, thường được ông kể cho nghe về những ngày đầu Cách Mạng Tháng Tám, mà theo lời ông, lúc đó tình thế cách mạng “nghìn cân treo sợi tóc!” Lần ông kể cho tôi nghe chuyện lái xe cho cụ Hồ, khi ông cụ từ hội nghị Fontainebleau về… Giọng tướng Qua chậm rãi: Hôm đó tàu cập cảng Hải Phòng, ông cụ đi xe lửa về ga Hàng Cỏ. Lúc xuống ga chúng tôi bì mật đưa ông cụ ra xe ô tô. Tôi lái cho cụ đi vòng vèo các phố trước khi về cơ quan để đánh lạc hướng bọn phản động. Trong khi đó thì một trinh sát của ta, đóng giả cụ Hồ đi diễu hành ngoài phố, trên xe mui trần để đồng bào chào đón, hoan hô. Vậy mà bọn Việt quốc và Việt cách vẫn đánh hơi được. Họ không nhằm vào “cụ Hồ giả”, mà săn lùng cụ Hồ thật. Lúc bấy giờ xe đang chạy ngon trớn, bỗng nghe thấy tiếng súng nổ từ phía sau. Chúng bắn vào lốp xe. Kinh nghiệm lái xe nhiều năm cho tôi hay, xe nổ lốp sau vẫn có thể chạy tiếp mà không bị lật. Tôi nhấn ga, xa chạy một quãng dài nữa rồi phanh lại. Tôi lao ra khỏi xe, mở cửa sau để ông cụ chạy. Nào ngờ, chạy được mấy thước, ông cụ lại quay lại xe… Tôi đứng tim vì sợ quá… Thì ra ông cụ quay lại cốt lấy chiếc máy đánh chữ xách tay trong xe ra rồi chạy tiếp. Nhờ có tôi vừa bắn bọn “phản động”, vừa cản đường chúng nên khi nghe tiếng súng nổ liên tiếp, dân quân tự vệ, đồng bào hai bên phố ra đường… nên ông cụ chạy thoát! Thế mà khi về đến cơ quan, tôi thấy ông cụ đang ngồi gõ máy chữ thản nhiên, như không có chuyện gì vừa xảy ra. Thấy thế, tôi cũng không hỏi gì nữa vì lúc đó bận rộn lắm. Ông cụ cũng vậy, không hỏi han gì nữa, không nhắc đến chuyện ấy nữa… Cái hồi đầu cách mạng là thế đó … “Nghìn cân treo sợi tóc” mà! Nhưng sau này có chuyện tức cười là, cái cậu trinh sát đóng vai “cụ Hồ giả” đi diễu phố cho đồng bào hoan hô ấy, đến sau hòa bình 1954, khi cải cách ruộng đất, bị tố là địa chủ gian ác… Nguy kịch quá, cậu ta cãi lại đội cải cách, kể công đóng cụ Hồ giả, sẵn sàng chết cho cách mạng… thành công! Vì thế cậu ta được hạ thành phần xuống phú nông, thoát chết!!! Câu chuyện trên tôi viết thành một bài cho báo Sài Gòn Giải Phóng, có đăng kèm cả ảnh tướng Qua với lon thiếu tướng công an cho số đặc san ra ngày 2-9-2005, kỷ niệm 60 năm Cách Mạng Tháng Tám và quốc khánh 2-9. Duy cái đoạn đóng cụ Hồ giả và chuyện anh chàng đóng giả thoát chết trong cải cách ruộng đất thì bị tòa soạn cắt đi! Bài báo này tôi vẫn còn giữ làm kỷ niệm. Ở các nước văn minh thì sau 35 năm, các hồ sơ mật đều được công khai hóa để các sử gia có tư liệu mà viết cho trung thực. Cuốn “Paris-Sài Gòn-Hà Nội” của sử gia Pháp Philippe Devillers viết về cuộc chiến tranh Pháp Việt (1946-1954) được viết nhờ những tài liệu mật được khui ra. Cuốn sách này đã được ông Hoàng Hữu Đản dịch ra tiếng Việt. Trong cuốn sách đó, tác giả Philippe Devillers đã vạch mặt ba tên tướng thực dân lái súng là D’Argenlier, Pigon và Valuy đã bưng bít thông tin với chính phủ Pháp để dẫn đến cuộc chiến Pháp-Việt làm “hủy hoại tất cả di sản và quyền lợi của Pháp ở Đông Dương”. Ở các nước cộng sản độc tài thì không có chuyện khui các tài liệu mật. Ngay cả những chuyện không có gì phải giấu giếm như chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe ở trên cũng bị… cấm! Vì thế, khi được báo Sài Gòn Giải Phóng mời viết bài về Cách Mạng Tháng Tám, tôi đã cố ý kể những chuyện do tướng Qua kể lại… cho bài báo thêm phần sinh động, trung thực, hấp dẫn. Nhưng chính báo chí lại tự kiểm duyệt mình một lần nữa, vì thế, đọc báo “lề phải” cứ thấy công thức, nhạt nhẽo, vô duyên không thể “ngửi” được. Tướng Lưu Á Châu ở Trung Quốc có nói một câu nổi tiếng: “Ở Trung Quốc nơi thiếu thông tin nhất là… báo chí!” Sao anh bạn 16 chữ vàng này lại giống ta đến thế! Ở Bộ Công An, tướng Qua là người ghét cay ghét đắng thứ trưởng Lê Quốc Thân. Theo ông, đây là một phần tử hèn nhát, cơ hội và gian manh. Chính ông Vũ Quốc Uy, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban văn hóa đối ngoại của Việt Nam cũng từng nói với tôi về sự hèn nhát của Lê Quốc Thân mà ông được chứng kiến khi Pháp tấn công quân ta đang cố thủ trong nhà hát lớn Hải Phòng hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông Uy kể: “Khi tất cả anh em tự vệ đang quyết chiến đấu với Pháp thì Lê Quốc Thân ngồi khóc và sợ quá… đái cả ra quần!” Vậy mà sau này ông ta leo lên đến chức ủy viên trung ương Đảng, thứ trưởng Bộ Công An. Tướng Qua kể, lúc trúng ủy viên trung ương, thứ trưởng Lê Quốc Thân mỗi lần đến cục tôi làm việc (tức Cục Cảnh sát, Cục Trại giam mà tướng Qua từng làm cục trưởng) thường hoa chân múa tay nói huyên thuyên như “quan điểm” của tôi thế này, “quan điểm” của tôi thế kia… Lúc ấy, tôi nóng mắt lắm. Một hôm không chịu nổi nữa nhưng vẫn giữ sĩ diện cho “đồng chí thứ trưởng” nên lúc tan cuộc họp rồi, mọi người đã giải tán, chỉ còn tôi và thứ trưởng Thân do tôi mời lại. Tôi nói thẳng với ông ta: “Ngày còn ở An toàn khu khi thằng Đỗ Nhuận nó mới sáng tác được bài “Du kích sông Thao”, tối đến nó tập hợp anh em lại để hát thử. Khi nó xướng lên… “Hồng Hà”… thì mọi người ở dưới đều đồng thanh… “mênh mông”… Lúc đó anh chỉ bốc ngô rang ăn, đến nỗi thằng Đỗ Nhuận phải chỉ vào mặt anh nói Lê Quốc Thân “mênh mông” đi chứ, cứ bốc ngô mà ăn mãi thế!!! Chắc anh còn nhớ chuyện đó chứ…? Cái lúc anh bốc ngô rang trong chiến khu sao tôi không thấy anh có “quan điểm” gì… sao bây giờ mới được vô trung ương, anh lắm “quan điểm” thế! Lê Quốc Thân đỏ mặt rồi quay ngoắt đi thẳng. Từ đó y không bao giờ đến Cục tôi để nêu “quan điểm” nữa(!)”. Tướng Qua là như thế. Tính nóng nẩy, cương trực, nên hay làm mất lòng cấp trên mặc dù công trạng đầy mình. Ông từng phá “Vụ án phố Ôn Như Hầu” nổi tiếng, cứu chế độ cộng hòa non trẻ sau CM Tháng Tám thoát hiểm trong gang tấc. Vậy mà sau này, từ chức vụ Cục trưởng Cục cảnh sát ông phải miễn cưỡng nhận chức Cục trưởng Cục lao cải – tức cục quản lý các trại giam, một chức vụ bị “cách ly” với các vấn đề an ninh ngoài xã hội, không còn liên quan đến toàn bộ hệ thống pháp luật, đến sự minh bạch, công tâm, trách nhiệm cao, thâm niên nghiệp vụ cao của người đứng đầu ngành cảnh sát quốc gia như chức vụ cũ của ông. Vậy mà cũng không yên. Tướng Qua kể khi ông Phạm Hùng làm phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Công An, một lần ông đến Cục trại giam và ra lệnh cho tôi thả một nữ tù nhân đang mang án chung thân. Tôi thưa với đồng chí Bộ trưởng, đây là chuyện pháp luật, tôi không dám. Ông Phạm Hùng nói “pháp luật do ta làm ra chớ(!)”. Tôi đành thưa, xin phép để cho tôi họp Đảng ủy Cục, xin ý kiến Đảng ủy. Ông Phạm Hùng trừng mắt hỏi “đồng chí bao nhiêu tuổi?” Tôi biết không xong rồi, và sau giây phút suy nghĩ , tôi đã trả lời một cách kiên quyết, chấp nhận mọi hậu họa “tôi ít tuổi hơn đồng chí”! Thế là hơn tháng sau, tôi nhận được quyết định nghỉ hưu (!) Ông Phạm Hùng từng là một người anh hùng như tôi đã biết. Ông từng bị thực dân Pháp kết án tử hình. Trong khám tử hình, ông tỏ ra vô cùng anh dũng, được kính nể. Vậy mà khi có quyền lực không giới hạn thì tha hóa như thế. Đó là con đường của tất cả các lãnh tụ trong một chế độ toàn trị, mà trường hợp Phạm Hùng chỉ là một ví dụ nhỏ. Cả dòng họ Lê Phú của tôi, chỉ có mình tôi là được biết về lý do bị cho nghỉ hưu đột ngột của tướng Qua, vì ông chỉ kể cho có một mình tôi nghe trong một chiều “gió tím mưa xanh”. Cuốn sách này là những mẩu chuyện như thế! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 6, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/06/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-2/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 3): https://www.minds.com/newsfeed/1019873276747919360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
21 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 1) Lời Nhà Xuất Bản Vào thập niên 50 tại Âu Châu và ngay cả tại Mỹ, phong trào thiên tả lan rộng trong giới trí thức. Tầng lớp có học thời ấy tự hào “phàm là trí thức thì phải thiên tả.” Điển hình là hai triết gia Jean Paul Satre người Pháp, Bertrand Russel người Anh và nữ tài tử Mỹ Jane Fonda. Phong trào thiên tả ngưỡng vọng nhiều tay lãnh tụ cộng sản trên thế giới và xem Liên Xô là “cái nôi” cuộc cách mạng xã hội của loài người. Thậm chí cho tới mãi năm 1989 tại thành phố Bergen – Na Uy, giới trí thức, giới cầm bút hay giáo sư đại học vẫn còn ca tụng Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và ngay cả Pol Pot, tên đồ tể diệt chủng dân tộc Khmer. Đám người mắc chứng “mê Cộng” này còn táo tợn cho rằng “tuổi đôi mươi mà không theo Cộng Sản là không có trái tim.” May cho đám đó là họ chỉ luẩn quẩn ở các đô thị xa hoa, uống rượu chát, ăn bò bí tết để mơ mộng xây dựng “thiên đường cộng sản” chứ không có, dù một ngày, trải nghiệm bằng chính bản thân cái chủ nghĩa là “căn bệnh ung thư” này của nhân loại. Họ không có cái TRÍ của Nguyễn Chí Thiện để sớm nhận ra bộ mặt không có tính người của cộng sản, như trong thơ của Ngục Sĩ này viết: “Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại Ngỡ cờ sao rực rỡ Tô thắm màu xứ sở yêu thương Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường Hung bạo phá bờ kim cổ.” Và như trường hợp tác giả cuốn Lời Ai Điếu này, nhà báo Lê Phú Khải, sớm nhìn rõ Chủ nghĩa Cộng sản từ lúc bước vào tuổi hai mươi: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh.” Khác với Jean Paul Sartre, Bertrand Russel hay Jane Fonda chỉ vỡ cơn huyễn mộng sau khi “Đế quốc Ma quỷ Liên Xô” và các chế độ cộng sản Đông Âu tan rã như cơm nguội gặp mưa, Lê Phú Khải cương quyết “không cần trái tim để theo cộng sản”dù như ông tự thuật, cả gia đình ông là cộng sản nòi: “Mỗi khi họ Lê Phú nhà tôi giỗ tết, tập hợp đông đủ nội ngoại, dâu rể thì nhìn đâu cũng thấy Đảng viên. Có lẽ, chỉ có mấy cái cột nhà và tôi là không phải Đảng viên mà thôi!” Hít thở không khí như thế, mà Lê Phú Khải nhiều lần từ chối vào Đảng vì ông thấy chế độ mà ông đang sống là một chế độ độc tài. Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội trại lính ở miền bắc từ khi muốn thi vào đại học, ông phác giác rất rõ cái chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp dấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì mới đẻ ra cái cách tuyển sinh “man rợ” như thế và nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội có từ trước đó. Vì cộng sản chỉ lựa chọn sinh viên đại học dựa trên tiêu chuẩn thành phần giai cấp nên sản sinh một lớp người sau khi tốt nghiệp đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất, và “kẻ dốt nát xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ một khi có quyền thì chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi.” Cũng vì chủ trương đấu tranh gia cấp, nên chế độ đã phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất nhằm “đào tận gốc, trốc tận rễ” những thành phần khác của xã hội “Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo” và hậu quả là cả trăm ngàn người chết oan khuất trong cơn “say máu vĩ cuồng” của cộng sản với những câu thơ khẩu hiệu của Tố Hữu “Giết, giết nữa, bàn tay không chút nghỉ… Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.” Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội rơi vào điên loạn đó ngay tại quê vợ của ông khi chứng kiến cảnh nát lòng của một phú nông trong làng từng chứa chấp Việt Minh hoạt động, bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung nên phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng tự thiêu, “những đứa trẻ chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò!” Thân phận trí thức ở đất nước nào cộng sản cai trị thì thành phần có học này cũng chịu những cay đắng, thống khổ giống nhau. Boris Pasternak, văn hào Nga đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1958, trong tác phẩm lẫy lừng “Doctor Zhivago” đã gột tả nỗi tũi nhục của nhân vật chính, bác sĩ Zhivago, bị công an bắt vì ăn cắp vài cây gỗ sưởi ấm cho gia đình trong cái lạnh cắt da của mùa Đông nước Nga. Việt Nam, qua lời kể của Lê Phú Khải, trong một phiên họp rất căng do bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chủ trì, giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng, vì quá sợ, mồ hôi vã ra như tắm, rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mỳ chính (người miền Nam gọi là bột ngọt) nhỏ rơi ra. bác sĩ Tùng có thói quen cất những gói mì chính nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vào tô. Buổi họp có mặt của Tướng công an Lê Phú Qua, chú ruột tác giả, tướng Qua thấy bác sĩ Tùng run quá, phải cúi xuống nhặt dùm các gói mì chính rồi để lại vào túi bác sĩ Tùng. Đọc những đoạn Lê Phú Khải phơi bày tâm tình của mình trên giấy khi viết về thân phận trí thức trong chế độ cộng sản, người ta có cảm tưởng tác giả như đang nuốt ngược vào lòng nỗi tủi nhục của phận người bị guồng máy toàn trị dìm xuống tận đất đen. Như một lần ông đến thăm nhà văn 50 tuổi đảng Nguyễn Khải trước khi ông khải qua đời năm 2008. Nguyễn Khải nắm tay bạn buồn bã nói: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh. Thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh. Thứ hai là độc giả nó khinh. Và thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán mình lại tự khinh mình!” Do làm báo, Lê Phú Khải có nhiều cơ hội chứng kiến quyền uy của giới lãnh đạo. Ông nói “Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân đầy tớ.” Và những tay lãnh đạo sau Lê Duẩn thì cũng “cá mè một lứa”, Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Còn Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải “mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi”. Lê Phú Khải nhận xét, họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó! Riêng cách của Lê Duẩn đối với Võ Nguyên Giáp thì Lê Phú Khải nói rằng, đó là lối đối xử “vô sản gắn liền với vô học.” Ông kể: “Sau chiến tranh biến giới với Trung Quốc 1979, tên Trọng Hy Đông ở Ủy ban Kiều vụ, Quốc vụ Viện trung Quốc, hàm ngang bộ trưởng, sang Việt Nam để giải quyết các vấn đề hậu chiến tranh như tù binh v.v. Khi xe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa đến cũng là lúc xe Lê Duẩn vừa tới, Lê Duẩn chỉ vào mặt tướng Giáp và nói như quát: – Cuộc họp không có anh! Võ Nguyên Giáp nói: – Vậy tôi về. Thế là ông Giáo lủi thủi lên xe ra về.” Có lần Lê Phú Khải cùng các ký giả khác tham dự cuộc họp báo của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm tại phòng tiếp khác VIP của phi trường Tân Sơn Nhất, ông tận mắt thấy cảnh Nguyễn Mạnh Cầm vừa trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Việt Nam, vừa nhìn sang phía quầy bán hàng phục vụ khách VIP, “nơi cô Phương Uyên đang nhổm người lên để lộ cả quần xi líp mầu hồng bên trong!” Lúc về cơ quan, Lê Phú Khải bảo với lãnh đạo của ông là ông sẽ viết lại giáo trình bài “phỏng vấn”, rằng “mỗi khi một cơ quan báo chí cử phóng viên đi phỏng vấn các VIO, thì nên cử nữ phóng viên xinh đẹp, mặc váy ngắn, xi líp màu hồng!” Vì sinh ra trong gia đình cộng sản nòi, chú bác, anh em có người lên tới hàng lãnh đạo trung cao cấp của đảng, Lê Phú Khải được nghe những nhận xét về nhiều nhân vật chóp bu của chế độ, như lời chú ruột ông là Tướng công an Lê Phú Qua, hoặc qua lời kể của em gái ông, cô Tuyết: – Thủ tướng bám quyền hơn 30 năm Phạm Văn Đồng: “Chủ quan, bốc đồng, rất vô tích sự và chỉ làm hại đất nước!” – Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn: “Quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Vợ Hoàn là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ.” – Riêng với Hồ Chí Minh, cũng giống như một số lớn dân miền Bắc, không hiểu rõ chân tướng ông Hồ, nên Lê Phú Khải trong cách viết vẫn còn lộ chút tình cảm kính trọng nhân vật này. Dù vậy, qua đoạn thuật lại nhận xét của Giáo sư Tạ Quang Bửu, người đọc cũng có thể thấy được cảm nhận của Lê Phú Khải về ông Hồ: “Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù thi tốt nghiệp phổ thông hay thi vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, Bộ trường Bộ đại học và Trung hoạc Chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu phán một câu: “Đây là tà thuyết!” Lê Phú Khải có cô em tên Tuyết, làm việc cho cơ quan cần vụ chuyên cung cấp thực phẩm cho các ủy viên Bộ Chính trị. Có lần cô Tuyết kể lại, vào thời ông Trần Xuân Bác đưa ra lý thuyết đa nguyên, Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống, vì họ sợ bị đầu độc. Ngay cả nhân vật “hét ra lửa mửa ra khói” là Lê Đức Thọ cũng sợ. Theo lời cô Tuyết, có lần, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này, “thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách lòi cả bông thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói, tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế.” – Về nhân vật Nguyễn Thị Bình, từng một thời lãnh đạo tổ chức bù nhìn của Hà Nội là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, Lê Phú Khải viết (theo lời kể lại của nhà văn Nguyên Ngọc), một hôm bà Bình “triệu tập” một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi, chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng Nguyên Ngọc nói: “Sai từ đại hội Tour.” (vào năm 1920, khi cơ quan tình báo KGB của Liên Xô cho thành lập đảng cộng sản Pháp, tách ra từ Đảng Xã Hội, Hồ Chí Minh được tham gia vào Đảng Xã Hội khi ấy ngả theo Liên Xô để rồi gia nhập phong trào cộng sản Pháp từ lúc đó – chú thích của NXB). “Bà Bình không đồng ý.” Vậy mà sang ngày hôm sau bà Bình bảo Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!” Qua những trải nghiệm ngưởi thực, việc thực nói trên, Lê Phú Khải chua chát kết luận: “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.” Một lần, Lê Phú Khải đi Mạc Tư Khoa và gặp một trí thức Nga. Ông này ví von, “Liên Xô của chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết trôi dạt đi đâu!” Ba mươi năm sau kể từ cuộc trò chuyện đó, tác giả cay đắng khi nghe ông Tổng bí thư đương quyền Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên quyết bác bỏ “tam quyền phân lập” để bảo vệ chế độ độc đảng! Lê Phú Khải nhận định rằng, như vậy là Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn quyết đội trên đầu mình cái mũ mà cả loài người tiến bộ đã vứt bỏ. Cái mũ độc đảng! Tác giả nhận định, “rõ ràng, cái chiến hạm Liên Xô đã thoát cảnh mắc cạn, nhưng cái chiến hạm ấy do anh chàng KGB Putin cầm lái chưa biết nó sẽ đi về đâu. Còn con thuyền thúng Việt Nam thì đang trôi dạt vào một vùng sóng to gió lớn. Chắc chắn nó sẽ bị lật úp nếu những người trên con thuyền thúng đó không dám can đảm nhảy xuống nước mà bơi vào bờ, cứ khư khư ôm lấy con thuyền đó.” Sống nhiều, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, Lê Phú Khải thu vào ống kính đời mình nhiều góc cạnh, người, vật, sự kiện… Không báng bổ, không lớn tiếng kết án, không ca ngợi, ông từ tốn mô tả con người và đất nước Việt Nam qua cách quan sát tinh tế của mình. Những năm sau này, ông dấn thân vào con đường đấu tranh Tự Do-Dân Chủ, nên thân thiết với một lớp người mới, những người đang tới của Việt Nam. Nhớ về Kiến Giang, một con người quyết liệt, từ chỗ là một tín đồ ngoan đạo của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sùng bái Liên Xô, đến chỗ dứt khoát từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản nên bị tù vì tham gia nhóm “Xét Lại Chống Đảng”, Lê Phú Khải thuật lời Kiến Giang kể: “Lần cuối cùng Lê Đức Thọ vào thăm tôi, ông ta nói, các cậu hay đề cao trí thức, phó tiến sỹ đi học nước ngoài học về thì tớ cho thêm 5 đồng vào lương, thế thôi! Tôi nhìn thẳng Thọ nói, xưa Đảng vô học vì phải đi đánh giặc, nay Đảng có chính quyền mà Đảng lại sùng bái sự vô học thì không được! Lê Đức Thọ đứng lên ra về. Ít phút sau tay giám thị trại giam vào hoảng hốt nói, kỳ này thủ trưởng vào là để cho ông về, vậy là chết rồi! Ông làm thủ trưởng phật lòng, vậy là tiếp tục tù dài!” Và Kiến Giang kết luận: “Chúng ta không sợ lạc hậu, mà chỉ sợ nhất là lạc lõng giữa loài người.” Với Hà Sĩ Phu, nổi tiếng qua bài viết “Nắm Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, Lê Phú Khải nhớ có lần Hà Sĩ Phu nhận định rằng, khi chưa có chính quyền, người cộng sản rước chủ nghĩa Mác vào cửa sau, nay có chính quyền rồi lại treo Mác trước cửa nhà để treo đầu dê bán thịt chó, thì đó là thái độ lấy oán báo ân! Rõ ràng, “chế độ độc đảng như con vật đơn bào, nó có thể tồn tại từ thời hồng hoang của lịch sử đến ngày nay, nhưng chỉ tồn tại trong cống rãnh mà thôi. Muốn nên người, nó phải là con vật đa bào.” Lê Phú Khải còn nhắc lại những lần trò chuyện với Dương Thu Hương, nhà văn nữ đã một mình khai chiến với chế độ cộng sản và được báo chí Pháp ca ngợi là “Con Sói Đơn Độc.” Ngay tại căn nhà của Dương Thu Hương ở Hà Nội, bà nói với tác giả: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạmg vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cảrác rưởi mà nó định quét đi!” Tác giả Lời Ai Điếu dù thuộc lớp tuổi “thấp thập cổ lai hy” vẫn tìm cách gần gũi những lớp trẻ thuộc hàng em, cháu đang dấn thân đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Qua những lần gặp gỡ, trò chuyện, ông nhận ra đặc trưng của lớp người trẻ này như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy… là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ đã “chỉ thẳng mặt Đảng Cộng sản là quân bán nước.” Đoạn cuối tác phẩm này, Lê Phú Khải tâm sự, ông năm nay đã 72 tuổi, tức là đã sống cả đời trong chế độ Đảng trị. Ông không vào Đảng trong một chế độ Đảng trị thì đương nhiên con đường “tiến thân” là u ám rồi! Ông nói: “Tôi ý thức rất rõ điều này và hoàn toàn bằng lòng, vui vẻ với con đường mình đã chọn, làm một người tự do ngoài Đảng.” Và những dòng cuối của cuốn sách, Lê Phú Khải viết: “Sáng sớm ngày 14/09/1985 tôi đang ở bến đò Cà Mau chờ đi Năm Căn thì nghe tin đổi tiền. Mới tối hôm trước Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan tôi làm việc) còn nói ‘Không có chuyện đổi tiền, đồng bào đừng nghe kẻ xấu tung tin đổi tiền’, vậy mà sáng hôm sau 14/09/1985 chính cái đài ấy lại hô hào nhân dân đến các trạm đổi tiền để đổi tiền. Một bà già lớn tuổi ngồi cùng ghe đã chỉ tay lên cái loa đang loan tin đổi tiền ở trên bờ chửi, cái đài này nó nói dóc còn hơn con điếm.” Lê Phú Khải chấm dứt cuốn sách bằng câu: “Tôi đã phải sống với ‘con điếm’ ấy cả đời người!” Rõ ràng, dòng cuối cùng của Lê Phú Khải là LỜI AI ĐIẾU dành cho chế độ toàn trị đang cố bám quyền trên đất nước Việt Nam chúng ta. Tháng Tư, 2016 Nhà xuất bản Người Việt Đinh Quang Anh Thái ----- Tháng Tám 4, 2016 Phan Ba Báo chí Hồi ký Lê Phú Khải, lời ai điếu Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/04/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-1/ ***** - Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2): https://www.minds.com/newsfeed/1019872154710347776?referrer=HoangVanLam   === 0 ===   TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
129 views ·