LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 3) Chương Một Hà Nội, nơi tôi sinh ra Tôi sinh ra (1942) trong một gia đình công chức tại Hà Nội. Theo ông nội tôi thì nơi chôn nhau cắt rốn của nội tôi là làng Cơ xá nam, ngày nay thuộc phố Nguyễn Huy Tự quận Hai Bà. Làng tôi có từ trước khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Làng có hai dòng họ lớn là họ Ngô và họ Lê. Lý Thường Kiệt họ Ngô (Ngô Thường Kiệt), vì có công nên được đổi sang họ vua (Lý). Nhân 1000 năm Thăng Long, đền thờ Lý Thường Kiệt được tu tạo, được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, hiện tọa lạc ở đầu đường Nguyễn Huy Tự ngày nay. Theo một phả của cụ Đức Quán làm ngày 12 tháng 10 năm Ất Hợi (1815) thì làng tôi vốn trước ở Núi Nùng gần chùa Một Cột. Đến thời vua Thái Tổ nhà Lý (1010), dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mới dời làng tôi ra bãi Phúc Xá bây giờ. Theo các cụ kể lại thì vua Lý lấy đất làng tôi làm kinh đô nên cho dân “tái định cư” bằng cách thả một quả bưởi xuống dông Hồng, bưởi trôi về đến đâu thì đất làng được đến đó. Ngẫm ra như thế thì chế độ phong kiến ngày xưa tử tế quá. Không đểu cáng như vụ giải tỏa cưỡng chế ở Văn Giang, Hưng Yên (24.04.2012) vừa qua! Vì quả bưởi trôi đến đâu, đất được cấp đến đó… nên đất làng tôi mênh mông, suốt từ Chèm đến tận Khuyến Lương, Thanh Trì. Một lần, vua đi kinh lý trên sông, thấy làng tôi nhà cửa lụp xụp ven sông, dân tình nghèo khó, vui hỏi quần thần “làng kia tên là làng gì”? Quần thần thưa: đó là làng Cơ Xá. Vua thấy thế bèn cho làng tôi cái bãi bồi giữa sông và đặt tên mới cho làng là Phúc Xá (ý vua muốn đổi tên từ chữ CƠ là nghèo, là cơ cực sang chữ PHÚC may mắn hơn). Theo gia phả của họ Lê Phú do ông nội tôi làm tại Phúc Xá ngày 15 tháng 8 năm Ất Tỵ (30.09.1955) lúc cụ 74 tuổi, thấy ghi như sau: Làng ta trước là Yên Xá, tổng Tam bảo, huyện Từ Liêm, đạo Sơn Tây… Từ khi làng ta dời xuống bãi Phúc Xá năm nào cũng bị ngập lụt. Vua Thần Tôn nhà Lý ngồi chơi du thuyền đi qua làng ta, thấy nhà nào cũng ở trên sàn, nên đặt tên làng ta là Cơ Xá, sau mới đổi tên là Phúc Xá. Đến đời Bảo Thái nhà Lê (1723) mới nhập vào xứ Kinh Bắc, Bắc Ninh. Vật đổi sao dời, bải Phúc Xá bị lở hàng năm nên dân làng hiện nay phiêu bạt nhiều nơi. Nhưng vẫn còn một bộ phận lớn của làng hiện nay đang cư ngụ tại bên bắc sông Hồng thuộc quận Gia Lâm ngày nay. Hiện nay, hàng năm làng tôi vẫn làm hội làng vào ngày mùng 6 tháng 3 AL. Họ Lê Phú… của tôi hiện còn ông quyền trưởng tộc là Lê Phú Dư hiện ngụ tại số nhà 164 đường Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, Quận Long Biên Hà Nội. Trừ cái hiện tại là ông trưởng tộc họ, tên Lê Phú Dư và dòng họ Lê Phú… đang sinh sống tại Hà Nội, thì tất cả chuyện “ngày xưa” đều do tôi nghe kể lại hoặc theo các ghi chép từ gia phả. Do đó không chắc gì là chính xác 100% cả. Tuy vậy, đối với dòng họ Lê Phú của tôi thì những gì mà tôi nghe được về cái làng Cơ Xá của mình… nó thiêng liêng lắm, thú vị lắm. Như bất cứ người Việt Nam nào nghe kể về Bà Triệu, Bà Trưng “ngày xưa” vậy! Dân làng Phúc Xá của tôi đã tham gia xây dựng những công trình lớn của thực dân Pháp hồi cuối TK 19, đầu TK 20 ở Hà Nội. Theo ông nội tôi kể lại thì khi xây cầu Long Biên qua sông Hồng, nhiều dân làng đã chết vì khi xây dựng móng cầu ở độ sâu do thiếu dưỡng khí, nên khi họ được kéo lên mặt nước thì đã chết ngạt từ trước đó. Xin mở ngoặc nói thêm, tháp Eiffel ở Paris được xây dựng cùng thời gian với cầu Long Biên và được khánh thành năm 1889 để kỷ niệm 100 cách mạng Pháp 1789 (với 7000 tấn thép, hơn cầu Long Biên 1000 tấn). Điều đáng nói là tháp được xây dựng ròng rã ba năm nhưng không chết một công nhân nào cả. Trong khi đó, cầu Long Biên được khánh thánh 1902, với số người chết… không tính được. Chỉ riêng chuyện đó thôi, cũng thấy chuyện “nhân đạo” của bọn thực dân. Bà cụ nội của tôi là Dương Thị Thiết (1858-1937) đã từng làm phụ hồ khi Pháp xây dựng nhà hát lớn Hà Nội. Đến bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là, ông nội tôi, cha mất sớm từ lúc ông có 11 tuổi, mẹ phải đi làm phụ hồ thì làm sao có tiền để nuôi ông nội tôi ăn học… đến trình độ đọc được sách chữ Hán, nói tiếng Tây trôi chảy. Ông bà nội tôi sinh được 6 người con. Thứ nhất là bà cô tôi, Lê Thị Thọ. Thứ hai là ông bố tôi, Lê Phú Khang, thứ ba là Lê Phú Cường, sau này đi hoạt động cách mạng đổi tên là Lê Hữu Qua, thứ tư là Lê Phú Ninh, thứ năm là Lê Phú An, thứ sáu là Lê Phú hào. Ở Hà Nội (và ở miền Bắc nói chung), con gái không được tính, không “dân chủ” như Nam Bộ nên bà cô tôi không được xếp thứ. Ông bố tôi được gọi là ông trưởng, thứ đến ông hai, ông ba… bà cô tôi được ăn học hết bậc tiểu học, sau đó học trường sư phạm (école normale) ba năm, trình độ tương đương diplome. Ông bố tôi vì ăn chơi không lo học nên thi diplome bốn lần không đỗ, cuối cùng phải sang tận Lào làm thư ký một thời gian. Riêng điểm này thôi cũng thấy chế độ thi cử của thực dân Pháp là nghiêm ngặt. Con nhà khá giả như bố tôi, cha là công chức Phủ Toàn Quyền nhưng không có cửa để đút lót để lấy bằng cấp như chế độ cộng sản thời nay. Người chú thứ tư của tôi là Lê Phú Hào do vừa làm vừa học nên đỗ được bằng tú tài trước Cách Mạng Tháng Tám. Những người chú khác thì không biết học được đến trình độ gì, nhưng nói chung đều nói được tiếng Pháp. Ví dụ như người chú thứ hai là Lê Phú Ninh, gia đình vẫn thấy ông thường xuyên nghe radio tiếng Pháp. Vì thế nên gia đình họ Lê Phú nhà tôi có cái “lệ” rất “humour” là mỗi khi người lớn (các ông) trong gia đình gặp gỡ nhau trong các dịp lễ tết, giỗ chạp, vủi vẻ thì họ nói tiếng Việt, nhưng nếu có sự cãi cọ, to tiếng mắng mỏ nhau… thì từ ông nội tôi đến bố tôi và các chú tôi đều sử dụng tiếng Tây để những người khác không biết họ cãi lộn về cái gì. Cái vốn tiếng tây “Francais sans maitre” của tôi đôi lúc cũng nghe được vài từ, chủ yếu là… chửi thề của các bậc cha chú đó (!) Ông nội tôi (1881-1967) làm vaguemestre cho Toàn quyền Đông Dương trước CÁCH MẠNG THÁNG TÁM. Vuguemestre là nhân viên bưu chính của một công sở. Nhưng Toàn quyền Đông Dương có cả một nhóm nhân viên làm việc trực tiếp và chỉ phục vụ riêng về một công việc nào đó cho Toàn quyền mà thôi, trong đó có nhân viên bưu chính. Giống như tổng thống Mỹ ngày nay có đến hơn 90 nhân viên phục vụ trong Nhà trắng cho riêng tổng thống, trong đó có những chức danh như chuyên viên… ống dẫn nước… chẳng hạn! Có nghĩa là không có chuyện “cúp nước” hay “cúp điện” với Dinh Tổng thống. Cũng giống như thế, ông nội tôi có nhiệm vụ hàng ngày đi ra bưu điện nhận thư từ, công văn cho quan Toàn quyền, rồi lại đi gửi thư từ, công văn của quan Toàn quyền về Pháp. Để làm việc này, cụ có ô tô riêng và có một ông “tây đen” lái xe đi và về! Những điều tôi kể không quan trọng vì kiếm đâu chẳng có một nhân viên để làm những việc đó. Cái chính, như ông nội tôi kể là, sở dĩ quan Bẩy Toàn quyền chọn ông làm nhân viên vaguemestre vì… chữ ông nội tôi rất đẹp. Quan Bẩy rất kén người chữ đẹp để đề bao bì thư cho mình gửi về Pháp. Bây giờ chúng ta được xem những tờ giấy khai sinh của bố mẹ mình thời Pháp thuộc, thì thấy chữ viết được điền vào các tờ mẫu khai sinh thời đó rất đẹp. Đến chọn một nhân viên viết giấy khai sinh ở công sở, người ta còn chọn người chữ đẹp nữa là ở Phủ Toàn Quyền, viết bao thư cho Toàn quyền gửi về mẫu quốc. Cái văn hóa chữ đẹp ấy của người Pháp đã khiến ông nội tôi được quan Toàn quyền Đông Dương chọn làm nhân viên vaguemestre cho mình. Mà ông nội tôi viết chữ đẹp thật! Tôi đã bị ông nội tôi đánh sưng cả tay khi viết tập đồ. Ông nội tôi khi cầm cây bút có hình lưỡi mác chẻ đôi, khi viết có nét đậm nhạt khác nhau tùy theo chủ ý của người viết, chấm mực rồi, không phải đặt bút viết ngay… mà khua cây bút vài dòng để luyện gân tay rồi mới thả ngòi bút xuống trang giấy! Giống như hai đô vật trước khi lao vào đấu vật, họ thường múa vài đường thật đẹp để “diễu võ giương oai” và để làm đẹp lòng khán giả. Nhìn ông nội tôi cầm bút, trước khi viết, múa bút vài vòng như một thứ… “đạo”! Cái chữ đầu tiên của một địa chỉ trên phong bì thư đương nhiên phải viết chữ hoa. Vì thế nét bút đầu tiên phải là một nét phẩy từ dưới lên, rồi mới đến chữ cái viết hoa đầu tiên. Thiếu cái nét phẩy ngược lên ấy thì chữ cái viết hoa đầu tiên trơ trẽn như anh chàng “ở truồng” vậy! Ấy là lời bình của ông nội tôi. Có câu chuyện thú vị thế này. Khi người anh rể tôi là một đại úy quân đội được cử sang Liên Xô tu nghiệp ở học viện quân sự Phơ-run-de sau năm 1954. Một hôm có người báo với đại úy Việt Nam này rằng, anh lên gặp ngay thượng tướng hiệu trưởng trường. Ông anh rể tôi run quá. Một học viện cỡ quốc tế, có hàng nghìn học viên các nước theo họ, cắc cớ gì mà một học viên cấp úy như ông phải lên gặp thượng tướng hiệu trưởng? Vừa đi vừa run. Khi ông anh rể tôi đứng nghiêm giơ tay chào vị thượng tướng theo phong cách nhà binh và … chờ đợi. Bất ngờ vị tướng oai phong đó đặt một bức thư lên bàn và hỏi: Ai viết cho đồng chí bức thư này? Ông anh tôi cầm thư xem và thưa, đây là thư của ông nội vợ tôi viết trả lời sau khi nhận được thư hỏi thăm của tôi. Nghe rồi, vị tướng đó chỉ nói một câu ngắn gọn: Chữ ông nội vợ đồng chí đẹp quá! Rồi cho đồng chí đại úy Việt Nam… ra về!!! Thì ra cái văn hóa chữ đẹp nó có cả ở bên Nga nữa. Thế mà bây giờ người ta lại đi học cái “thư pháp” của Tàu, viết chữ Latinh mẫu tự a, b, c theo cách viết chữ tượng hình của chữ Hán thì thật là ngu ngốc quá! Nhìn mấy chữ Việt “thư pháp” trên các cuốn lịch Việt Nam ngày nay người ta phát lộn mửa! Chuyện ông nội tôi làm veguemestre cho Toàn quyền Đông Dương nhờ chữ đẹp là như thế. Nhưng ngoài công việc của một nhân viên bưu chính cho Toàn quyền, ông nội tôi còn một nhiệm vụ nữa là làm thông ngôn, ngày nay gọi là phiên dịch cho quan Toàn quyền mỗi khi có các quan An Nam ở địa phương lên bẩm báo. Chủ yếu là vào các dịp tết, lễ, các quan tỉnh, quan huyện lên biếu xén quà cáp, đút lót cho Toàn quyền. Nếu các vị đó biếu Toàn quyền 10 thì cũng phải biếu ông nội tôi 1-2… vì sợ ông nội tôi dịch sai!!! Chính vì thế, khi đến tuổi 50, Toàn quyền Đông Dương bảo ông nội tôi theo luật thì công chức sở tây đến 50 tuổi phải nghỉ hưu, nếu mày muốn tiếp tục làm thì tao chuyển cho mày sang ngạch An Nam. Mày sẽ được làm tri huyện, nhưng tri huyện vùng xuôi thì kín rồi. Nếu mày muốn thì làm tri châu (quan huyện ở miền núi) thì tao ký cho mày đi nhậm chức. Ông nội tôi suy nghĩ, nếu làm quan mà không ăn của đút, không bòn rút của dân, thì lấy đâu ra lụa là châu báu, của ngon vật lạ… để đem biếu quan trên như chính mắt ông tôi nhìn thấy. Vì thế, ông nội tôi xin về… Ngày ông nội tôi rời Phủ quyền, quan Bẩy tiển ra tận cổng phủ, bắt tay rất chặt trước lúc chia tay. Vẫn theo ông nội tôi kể, thì đó là lần đầu tiên có một người về hưu mà Toàn quyền tiễn ra tận cổng. Chắc ông nội tôi phải là một công chức cần mẫn lắm thì mới được quan Toàn quyền “ưu ái” đến thế! Vậy mà, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, ông nội tôi đã đem toàn bộ gia quyến tản cư lên Phú Thọ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ trường kỳ kháng chiến. (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 8, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/08/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-3/ *** Đọc tiếp: - Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 4): https://www.minds.com/newsfeed/1019874154103676928?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 2): https://www.minds.com/newsfeed/1019872154710347776?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2) Lời Nói Đầu Có lần, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bảo tôi: – Nhiều người khuyên Nguyễn Khắc Viện nên viết hồi ký. Nhưng tôi nghĩ, mình chưa một lần bị đi tù. Chưa một lần cầm súng ra trận thì có gì mà viết hồi ký… Cứ như lời ông Viện thì đời tôi, không đáng một xu, vậy có gì để mà viết hồi ký, hồi ức cho thiên hạ cười chê (!) Nhưng bạn bè nhiều người lại khuyên Lê Phú Khải nên viết một cuốn hồi ký, không thì phí đi (!) Chả là, trong lúc vui vẻ, tôi thường kể cho bạn hữu nghe những chuyện “cười ra nước mắt” của dòng họ tôi, hoặc những nhân vật mà suốt cuộc đời 40 năm làm báo tôi được tiếp cận, làm việc. Toàn là những “nhân vật lịch sử”, những chuyện đáng ghi lại. Mà những nhân vật đó lại không thích hoặc không có điều kiện để ghi lại. Bạn bè khuyên tôi nên viết lại những chuyện mà tôi biết… Chẳng hạn, như chuyện ông nội tôi làm vaguemestre (nhân viên bưu chính) cho Toàn quyền Đông Dương như thế nào? Ông nội tôi theo Toàn quyền Maurice Long và vua Khải Định đi hội chợ Marseille năm 1922 và phiên dịch cho Khải Định trong chuyến đi ấy như thế nào? Hay là, chuyện chú tôi, tướng Lê Hữu Qua (Lê Phú Cường) có thời gian lái xe và làm garde-corps cho cụ Hồ những năm đầu Cách mạng Tháng Tám như thế nào? Hoặc, một người chú khác của tôi là nhà báo Lê Phú Hào làm phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ và Kissingertại hội đàm Paris như thế nào? Hoặc chính tôi, từng tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong những chuyến đi công cán tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sau này, ông Kiệt thường kêu tôi đến nhà riêng khi ông đã thôi làm Thủ tướng, để nói chuyện, tạm gọi là “tâm sự” như thế nào? Hoặc chân dung những nhà đấu tranh dân chủ mà tôi có dịp tiếp kiến, giao du như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sỹ Phu… Những truyện trên không ai hay cả, nhưng là “những tư liệu quý” như bạn bè tôi nói, cần cho hậu thế đọc và suy nghĩ về một thời kỳ đáng nhớ của đất nước tươi đẹp nhưng đau khổ này! Bạn tôi, toàn những người khó tính, vậy mà họ lại thích thú nghe thì có lẽ cũng nên ghi lại thật. Và cũng chỉ người “quen tay” cầm bút mới đủ kiên nhẫn để ghi lại những trang viết này trong lúc thiên hạ đua nhau đi kiếm tiền bằng đủ mọi cách, kể cả các nhà văn chửi bới nhau để tranh một cái giải thưởng… vài trăm triệu lúc này! (5/2012) Tôi thử kể một đoạn “hồi ký” dưới đây để bạn đọc yêu mến của tôi coi có được không? Bằng không thì hãy vứt ngay cuốn hồi ký này vào sọt rác…để khỏi rác nhà! (…Trích). “Ông nội tôi hỏi: Cháu có biết vì sao các nhân viên ở Phủ toàn quyền gọi quan toàn quyền Đông Dương là “quan Bẩy” không? Nói rồi, ông nội tôi giải thích, bở vì tên quan võ chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương được gọi là quan Sáu. Toàn Quyền còn hơn cả quan Sáu nên mới được gọi là quan Bẩy. Quan Bẩy Toàn quyền là người rất nghiêm nghị. Phòng làm việc của ngài ở Phủ toàn quyền là một căn phòng rộng, hình chữ nhật, dài như một cái toa tàu. Bureau của ngài ở cuối phòng, trước mặt có kê một chiếc bàn dài và hai hàng ghế để dùng vào những lúc hội họp. Ai được phép vào phòng của ngài rồi phải đi một quãng dài mới tới chỗ quan ngồi. Một lần – vẫn lời ông nội tôi kể – tao đang ngồi làm việc ở cái bàn dài trước mặt ngài thì một tên quan Tư người Pháp được phép vào báo cáo. Tên quan Tư đi kiểu nhà binh, đến trước mặt quan Bẩy, nó dậm chân rồi giơ tay chào cũng kiểu nhà binh. Quan Bẩy vẫn cặm cụi viết, không hề để ý đến tên quan Tư. Mấy phút trôi qua trong yên lặng. Thấy tên quan Tư người Pháp phải đứng, tao thì ngồi nên sợ thằng quan Tư ngượng. Tao vội vàng đứng dậy … xem bức tranh trên tường. Bỗng quan Bẩy nói: – Mày không phải giả vờ xem tranh, tao chưa cho nó ngồi, thì nó chưa được ngồi. Mày cứ ngồi xuống ghế mà làm việc đi (!) Quan Bẩy là vậy đó. Nghiêm lắm. Lúc làm việc, đi kinh lý đâu ngài cũng đem theo các kỹ sư, các chuyên gia đi theo. Xây dựng công trình gì, trồng cây gì, nuôi con gì, ra chỉ thị gì… ngài đều gọi các nhà chuyên môn đến hỏi rồi mới quyết định. Không những thế, trong sổ sách tài liệu đều ghi chép rõ ràng ý kiến tham mưu của các nhà chuyên môn, để sau này sẽ truy cứu trách nhiệm. Vì thế các chuyên gia đi theo ngài làm việc rất nghiêm túc, khi được hỏi để toàn quyền ký một quyết định gì, họ đều đắn đo suy nghĩ rất kỹ… vì tất cả trách nhiệm sau này là họ phải gánh chịu… … Nghe ông nội tôi kể về cách làm việc của Toàn quyền Đông Dương tôi nghĩ đến các vị lãnh tụ cộng sản nhà ta sau này đi kinh lý mà thấy buồn cười. Khi có ngôi vị cao rồi, các vị ấy tự cho mình là hiểu biết tất cả. Chắc các vị ấy nghĩ rằng, trong chiến tranh ác liệt như thế, các vị ấy còn thắng nữa là bây giờ, việc gì các vị ấy chẳng quyết được. Tôi nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi tổng bí thư (TBT) Lê Duẩn vô thăm tỉnh Tiền Giang. Ban thường vụ tỉnh ủy lúc đó đứng đầu là bí thư tỉnh ủy Chín Hải (tức Lê Văn Phẩm), và chủ tịch tỉnh Sáu Bình (Nguyễn Công Bình) dẫn TBT Lê Duẩn vô thăm vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang (90.000 ha). Đứng trước cánh đồng bao la bát ngát của vùng Đồng Tháp Mười, TBT Lê Duẩn chỉ tay về cánh đồng trước mặt, hỏi: – Trồng những cây gì thế kia? Bí thư tỉnh ủy Chín Hải lễ phép trả lời: – Thưa tổng bí thư, đó là rừng tràm ạ. Bỗng mọi người sửng sốt khi nghe TBT quát: – Ngu! Ngu! Sao không trồng lúa!!! Trước cơn giận dữ của TBT vì sao tỉnh lại không trồng lúa ở Đồng Tháp Mười mà lại trồng tràm… thì mọi người chỉ còn biết chết lặng mà thôi. Ai dám cãi lại? Ai dám cả gan giải thích cho đồng chí TBT rằng, đất Đồng Tháp Mười là đất phèn nặng, chỉ trồng tràm là hợp nhất mà thôi. Từ lúc TBT quát tháo như thế, không khí của đoàn trầm lặng. Hầu như không ai nói gì cả. Khi TBT Lê Duẩn đi rồi, tôi nghe rõ tiếng than của bí thư tỉnh ủy Chín Hải: – Ông Ba (tức Lê Duẩn) quay cờ rồi (!) … Có lần, ông nội tôi bất ngờ hỏi: “Cháu có biết ở hội chợ triển lãm thuộc địa Marseille, các nước thuộc địa của Pháp mở các quán ăn trong gian hàng hội chợ của mình để khoe với khách các món ăn ngon của xứ sở mình … thì món gì đắt hàng nhất tại hội chợ không? Nói rồi ông nội tôi kể tiếp: Món bún chả Việt Nam luôn luôn đông nghẹt khách vào ăn. Thịt nướng thơm phức, khói bay nghi ngút từ những cặp thịt nướng bốc lên lời mời chào quyến rũ nhất của gian hàng ăn Việt Nam. Các bà đầm đều hỏi sao thứ nước chấm bún chả thơm ngon lạ lùng thế? Cháu có biết vì sao không? Đó là vì có vị cà cuống! Nước mắm cà cuống mà!” … Tướng Lê Hữu Qua là một người cương trực, mỗi lần tôi có việc gia đình phải lên Bộ Công An gặp ông, nhằm lúc ông vui vẻ, thường được ông kể cho nghe về những ngày đầu Cách Mạng Tháng Tám, mà theo lời ông, lúc đó tình thế cách mạng “nghìn cân treo sợi tóc!” Lần ông kể cho tôi nghe chuyện lái xe cho cụ Hồ, khi ông cụ từ hội nghị Fontainebleau về… Giọng tướng Qua chậm rãi: Hôm đó tàu cập cảng Hải Phòng, ông cụ đi xe lửa về ga Hàng Cỏ. Lúc xuống ga chúng tôi bì mật đưa ông cụ ra xe ô tô. Tôi lái cho cụ đi vòng vèo các phố trước khi về cơ quan để đánh lạc hướng bọn phản động. Trong khi đó thì một trinh sát của ta, đóng giả cụ Hồ đi diễu hành ngoài phố, trên xe mui trần để đồng bào chào đón, hoan hô. Vậy mà bọn Việt quốc và Việt cách vẫn đánh hơi được. Họ không nhằm vào “cụ Hồ giả”, mà săn lùng cụ Hồ thật. Lúc bấy giờ xe đang chạy ngon trớn, bỗng nghe thấy tiếng súng nổ từ phía sau. Chúng bắn vào lốp xe. Kinh nghiệm lái xe nhiều năm cho tôi hay, xe nổ lốp sau vẫn có thể chạy tiếp mà không bị lật. Tôi nhấn ga, xa chạy một quãng dài nữa rồi phanh lại. Tôi lao ra khỏi xe, mở cửa sau để ông cụ chạy. Nào ngờ, chạy được mấy thước, ông cụ lại quay lại xe… Tôi đứng tim vì sợ quá… Thì ra ông cụ quay lại cốt lấy chiếc máy đánh chữ xách tay trong xe ra rồi chạy tiếp. Nhờ có tôi vừa bắn bọn “phản động”, vừa cản đường chúng nên khi nghe tiếng súng nổ liên tiếp, dân quân tự vệ, đồng bào hai bên phố ra đường… nên ông cụ chạy thoát! Thế mà khi về đến cơ quan, tôi thấy ông cụ đang ngồi gõ máy chữ thản nhiên, như không có chuyện gì vừa xảy ra. Thấy thế, tôi cũng không hỏi gì nữa vì lúc đó bận rộn lắm. Ông cụ cũng vậy, không hỏi han gì nữa, không nhắc đến chuyện ấy nữa… Cái hồi đầu cách mạng là thế đó … “Nghìn cân treo sợi tóc” mà! Nhưng sau này có chuyện tức cười là, cái cậu trinh sát đóng vai “cụ Hồ giả” đi diễu phố cho đồng bào hoan hô ấy, đến sau hòa bình 1954, khi cải cách ruộng đất, bị tố là địa chủ gian ác… Nguy kịch quá, cậu ta cãi lại đội cải cách, kể công đóng cụ Hồ giả, sẵn sàng chết cho cách mạng… thành công! Vì thế cậu ta được hạ thành phần xuống phú nông, thoát chết!!! Câu chuyện trên tôi viết thành một bài cho báo Sài Gòn Giải Phóng, có đăng kèm cả ảnh tướng Qua với lon thiếu tướng công an cho số đặc san ra ngày 2-9-2005, kỷ niệm 60 năm Cách Mạng Tháng Tám và quốc khánh 2-9. Duy cái đoạn đóng cụ Hồ giả và chuyện anh chàng đóng giả thoát chết trong cải cách ruộng đất thì bị tòa soạn cắt đi! Bài báo này tôi vẫn còn giữ làm kỷ niệm. Ở các nước văn minh thì sau 35 năm, các hồ sơ mật đều được công khai hóa để các sử gia có tư liệu mà viết cho trung thực. Cuốn “Paris-Sài Gòn-Hà Nội” của sử gia Pháp Philippe Devillers viết về cuộc chiến tranh Pháp Việt (1946-1954) được viết nhờ những tài liệu mật được khui ra. Cuốn sách này đã được ông Hoàng Hữu Đản dịch ra tiếng Việt. Trong cuốn sách đó, tác giả Philippe Devillers đã vạch mặt ba tên tướng thực dân lái súng là D’Argenlier, Pigon và Valuy đã bưng bít thông tin với chính phủ Pháp để dẫn đến cuộc chiến Pháp-Việt làm “hủy hoại tất cả di sản và quyền lợi của Pháp ở Đông Dương”. Ở các nước cộng sản độc tài thì không có chuyện khui các tài liệu mật. Ngay cả những chuyện không có gì phải giấu giếm như chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe ở trên cũng bị… cấm! Vì thế, khi được báo Sài Gòn Giải Phóng mời viết bài về Cách Mạng Tháng Tám, tôi đã cố ý kể những chuyện do tướng Qua kể lại… cho bài báo thêm phần sinh động, trung thực, hấp dẫn. Nhưng chính báo chí lại tự kiểm duyệt mình một lần nữa, vì thế, đọc báo “lề phải” cứ thấy công thức, nhạt nhẽo, vô duyên không thể “ngửi” được. Tướng Lưu Á Châu ở Trung Quốc có nói một câu nổi tiếng: “Ở Trung Quốc nơi thiếu thông tin nhất là… báo chí!” Sao anh bạn 16 chữ vàng này lại giống ta đến thế! Ở Bộ Công An, tướng Qua là người ghét cay ghét đắng thứ trưởng Lê Quốc Thân. Theo ông, đây là một phần tử hèn nhát, cơ hội và gian manh. Chính ông Vũ Quốc Uy, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban văn hóa đối ngoại của Việt Nam cũng từng nói với tôi về sự hèn nhát của Lê Quốc Thân mà ông được chứng kiến khi Pháp tấn công quân ta đang cố thủ trong nhà hát lớn Hải Phòng hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông Uy kể: “Khi tất cả anh em tự vệ đang quyết chiến đấu với Pháp thì Lê Quốc Thân ngồi khóc và sợ quá… đái cả ra quần!” Vậy mà sau này ông ta leo lên đến chức ủy viên trung ương Đảng, thứ trưởng Bộ Công An. Tướng Qua kể, lúc trúng ủy viên trung ương, thứ trưởng Lê Quốc Thân mỗi lần đến cục tôi làm việc (tức Cục Cảnh sát, Cục Trại giam mà tướng Qua từng làm cục trưởng) thường hoa chân múa tay nói huyên thuyên như “quan điểm” của tôi thế này, “quan điểm” của tôi thế kia… Lúc ấy, tôi nóng mắt lắm. Một hôm không chịu nổi nữa nhưng vẫn giữ sĩ diện cho “đồng chí thứ trưởng” nên lúc tan cuộc họp rồi, mọi người đã giải tán, chỉ còn tôi và thứ trưởng Thân do tôi mời lại. Tôi nói thẳng với ông ta: “Ngày còn ở An toàn khu khi thằng Đỗ Nhuận nó mới sáng tác được bài “Du kích sông Thao”, tối đến nó tập hợp anh em lại để hát thử. Khi nó xướng lên… “Hồng Hà”… thì mọi người ở dưới đều đồng thanh… “mênh mông”… Lúc đó anh chỉ bốc ngô rang ăn, đến nỗi thằng Đỗ Nhuận phải chỉ vào mặt anh nói Lê Quốc Thân “mênh mông” đi chứ, cứ bốc ngô mà ăn mãi thế!!! Chắc anh còn nhớ chuyện đó chứ…? Cái lúc anh bốc ngô rang trong chiến khu sao tôi không thấy anh có “quan điểm” gì… sao bây giờ mới được vô trung ương, anh lắm “quan điểm” thế! Lê Quốc Thân đỏ mặt rồi quay ngoắt đi thẳng. Từ đó y không bao giờ đến Cục tôi để nêu “quan điểm” nữa(!)”. Tướng Qua là như thế. Tính nóng nẩy, cương trực, nên hay làm mất lòng cấp trên mặc dù công trạng đầy mình. Ông từng phá “Vụ án phố Ôn Như Hầu” nổi tiếng, cứu chế độ cộng hòa non trẻ sau CM Tháng Tám thoát hiểm trong gang tấc. Vậy mà sau này, từ chức vụ Cục trưởng Cục cảnh sát ông phải miễn cưỡng nhận chức Cục trưởng Cục lao cải – tức cục quản lý các trại giam, một chức vụ bị “cách ly” với các vấn đề an ninh ngoài xã hội, không còn liên quan đến toàn bộ hệ thống pháp luật, đến sự minh bạch, công tâm, trách nhiệm cao, thâm niên nghiệp vụ cao của người đứng đầu ngành cảnh sát quốc gia như chức vụ cũ của ông. Vậy mà cũng không yên. Tướng Qua kể khi ông Phạm Hùng làm phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Công An, một lần ông đến Cục trại giam và ra lệnh cho tôi thả một nữ tù nhân đang mang án chung thân. Tôi thưa với đồng chí Bộ trưởng, đây là chuyện pháp luật, tôi không dám. Ông Phạm Hùng nói “pháp luật do ta làm ra chớ(!)”. Tôi đành thưa, xin phép để cho tôi họp Đảng ủy Cục, xin ý kiến Đảng ủy. Ông Phạm Hùng trừng mắt hỏi “đồng chí bao nhiêu tuổi?” Tôi biết không xong rồi, và sau giây phút suy nghĩ , tôi đã trả lời một cách kiên quyết, chấp nhận mọi hậu họa “tôi ít tuổi hơn đồng chí”! Thế là hơn tháng sau, tôi nhận được quyết định nghỉ hưu (!) Ông Phạm Hùng từng là một người anh hùng như tôi đã biết. Ông từng bị thực dân Pháp kết án tử hình. Trong khám tử hình, ông tỏ ra vô cùng anh dũng, được kính nể. Vậy mà khi có quyền lực không giới hạn thì tha hóa như thế. Đó là con đường của tất cả các lãnh tụ trong một chế độ toàn trị, mà trường hợp Phạm Hùng chỉ là một ví dụ nhỏ. Cả dòng họ Lê Phú của tôi, chỉ có mình tôi là được biết về lý do bị cho nghỉ hưu đột ngột của tướng Qua, vì ông chỉ kể cho có một mình tôi nghe trong một chiều “gió tím mưa xanh”. Cuốn sách này là những mẩu chuyện như thế! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 6, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/06/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-2/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 3): https://www.minds.com/newsfeed/1019873276747919360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
21 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 1) Lời Nhà Xuất Bản Vào thập niên 50 tại Âu Châu và ngay cả tại Mỹ, phong trào thiên tả lan rộng trong giới trí thức. Tầng lớp có học thời ấy tự hào “phàm là trí thức thì phải thiên tả.” Điển hình là hai triết gia Jean Paul Satre người Pháp, Bertrand Russel người Anh và nữ tài tử Mỹ Jane Fonda. Phong trào thiên tả ngưỡng vọng nhiều tay lãnh tụ cộng sản trên thế giới và xem Liên Xô là “cái nôi” cuộc cách mạng xã hội của loài người. Thậm chí cho tới mãi năm 1989 tại thành phố Bergen – Na Uy, giới trí thức, giới cầm bút hay giáo sư đại học vẫn còn ca tụng Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và ngay cả Pol Pot, tên đồ tể diệt chủng dân tộc Khmer. Đám người mắc chứng “mê Cộng” này còn táo tợn cho rằng “tuổi đôi mươi mà không theo Cộng Sản là không có trái tim.” May cho đám đó là họ chỉ luẩn quẩn ở các đô thị xa hoa, uống rượu chát, ăn bò bí tết để mơ mộng xây dựng “thiên đường cộng sản” chứ không có, dù một ngày, trải nghiệm bằng chính bản thân cái chủ nghĩa là “căn bệnh ung thư” này của nhân loại. Họ không có cái TRÍ của Nguyễn Chí Thiện để sớm nhận ra bộ mặt không có tính người của cộng sản, như trong thơ của Ngục Sĩ này viết: “Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại Ngỡ cờ sao rực rỡ Tô thắm màu xứ sở yêu thương Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường Hung bạo phá bờ kim cổ.” Và như trường hợp tác giả cuốn Lời Ai Điếu này, nhà báo Lê Phú Khải, sớm nhìn rõ Chủ nghĩa Cộng sản từ lúc bước vào tuổi hai mươi: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh.” Khác với Jean Paul Sartre, Bertrand Russel hay Jane Fonda chỉ vỡ cơn huyễn mộng sau khi “Đế quốc Ma quỷ Liên Xô” và các chế độ cộng sản Đông Âu tan rã như cơm nguội gặp mưa, Lê Phú Khải cương quyết “không cần trái tim để theo cộng sản”dù như ông tự thuật, cả gia đình ông là cộng sản nòi: “Mỗi khi họ Lê Phú nhà tôi giỗ tết, tập hợp đông đủ nội ngoại, dâu rể thì nhìn đâu cũng thấy Đảng viên. Có lẽ, chỉ có mấy cái cột nhà và tôi là không phải Đảng viên mà thôi!” Hít thở không khí như thế, mà Lê Phú Khải nhiều lần từ chối vào Đảng vì ông thấy chế độ mà ông đang sống là một chế độ độc tài. Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội trại lính ở miền bắc từ khi muốn thi vào đại học, ông phác giác rất rõ cái chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp dấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì mới đẻ ra cái cách tuyển sinh “man rợ” như thế và nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội có từ trước đó. Vì cộng sản chỉ lựa chọn sinh viên đại học dựa trên tiêu chuẩn thành phần giai cấp nên sản sinh một lớp người sau khi tốt nghiệp đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất, và “kẻ dốt nát xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ một khi có quyền thì chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi.” Cũng vì chủ trương đấu tranh gia cấp, nên chế độ đã phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất nhằm “đào tận gốc, trốc tận rễ” những thành phần khác của xã hội “Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo” và hậu quả là cả trăm ngàn người chết oan khuất trong cơn “say máu vĩ cuồng” của cộng sản với những câu thơ khẩu hiệu của Tố Hữu “Giết, giết nữa, bàn tay không chút nghỉ… Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.” Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội rơi vào điên loạn đó ngay tại quê vợ của ông khi chứng kiến cảnh nát lòng của một phú nông trong làng từng chứa chấp Việt Minh hoạt động, bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung nên phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng tự thiêu, “những đứa trẻ chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò!” Thân phận trí thức ở đất nước nào cộng sản cai trị thì thành phần có học này cũng chịu những cay đắng, thống khổ giống nhau. Boris Pasternak, văn hào Nga đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1958, trong tác phẩm lẫy lừng “Doctor Zhivago” đã gột tả nỗi tũi nhục của nhân vật chính, bác sĩ Zhivago, bị công an bắt vì ăn cắp vài cây gỗ sưởi ấm cho gia đình trong cái lạnh cắt da của mùa Đông nước Nga. Việt Nam, qua lời kể của Lê Phú Khải, trong một phiên họp rất căng do bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chủ trì, giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng, vì quá sợ, mồ hôi vã ra như tắm, rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mỳ chính (người miền Nam gọi là bột ngọt) nhỏ rơi ra. bác sĩ Tùng có thói quen cất những gói mì chính nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vào tô. Buổi họp có mặt của Tướng công an Lê Phú Qua, chú ruột tác giả, tướng Qua thấy bác sĩ Tùng run quá, phải cúi xuống nhặt dùm các gói mì chính rồi để lại vào túi bác sĩ Tùng. Đọc những đoạn Lê Phú Khải phơi bày tâm tình của mình trên giấy khi viết về thân phận trí thức trong chế độ cộng sản, người ta có cảm tưởng tác giả như đang nuốt ngược vào lòng nỗi tủi nhục của phận người bị guồng máy toàn trị dìm xuống tận đất đen. Như một lần ông đến thăm nhà văn 50 tuổi đảng Nguyễn Khải trước khi ông khải qua đời năm 2008. Nguyễn Khải nắm tay bạn buồn bã nói: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh. Thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh. Thứ hai là độc giả nó khinh. Và thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán mình lại tự khinh mình!” Do làm báo, Lê Phú Khải có nhiều cơ hội chứng kiến quyền uy của giới lãnh đạo. Ông nói “Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân đầy tớ.” Và những tay lãnh đạo sau Lê Duẩn thì cũng “cá mè một lứa”, Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Còn Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải “mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi”. Lê Phú Khải nhận xét, họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó! Riêng cách của Lê Duẩn đối với Võ Nguyên Giáp thì Lê Phú Khải nói rằng, đó là lối đối xử “vô sản gắn liền với vô học.” Ông kể: “Sau chiến tranh biến giới với Trung Quốc 1979, tên Trọng Hy Đông ở Ủy ban Kiều vụ, Quốc vụ Viện trung Quốc, hàm ngang bộ trưởng, sang Việt Nam để giải quyết các vấn đề hậu chiến tranh như tù binh v.v. Khi xe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa đến cũng là lúc xe Lê Duẩn vừa tới, Lê Duẩn chỉ vào mặt tướng Giáp và nói như quát: – Cuộc họp không có anh! Võ Nguyên Giáp nói: – Vậy tôi về. Thế là ông Giáo lủi thủi lên xe ra về.” Có lần Lê Phú Khải cùng các ký giả khác tham dự cuộc họp báo của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm tại phòng tiếp khác VIP của phi trường Tân Sơn Nhất, ông tận mắt thấy cảnh Nguyễn Mạnh Cầm vừa trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Việt Nam, vừa nhìn sang phía quầy bán hàng phục vụ khách VIP, “nơi cô Phương Uyên đang nhổm người lên để lộ cả quần xi líp mầu hồng bên trong!” Lúc về cơ quan, Lê Phú Khải bảo với lãnh đạo của ông là ông sẽ viết lại giáo trình bài “phỏng vấn”, rằng “mỗi khi một cơ quan báo chí cử phóng viên đi phỏng vấn các VIO, thì nên cử nữ phóng viên xinh đẹp, mặc váy ngắn, xi líp màu hồng!” Vì sinh ra trong gia đình cộng sản nòi, chú bác, anh em có người lên tới hàng lãnh đạo trung cao cấp của đảng, Lê Phú Khải được nghe những nhận xét về nhiều nhân vật chóp bu của chế độ, như lời chú ruột ông là Tướng công an Lê Phú Qua, hoặc qua lời kể của em gái ông, cô Tuyết: – Thủ tướng bám quyền hơn 30 năm Phạm Văn Đồng: “Chủ quan, bốc đồng, rất vô tích sự và chỉ làm hại đất nước!” – Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn: “Quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Vợ Hoàn là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ.” – Riêng với Hồ Chí Minh, cũng giống như một số lớn dân miền Bắc, không hiểu rõ chân tướng ông Hồ, nên Lê Phú Khải trong cách viết vẫn còn lộ chút tình cảm kính trọng nhân vật này. Dù vậy, qua đoạn thuật lại nhận xét của Giáo sư Tạ Quang Bửu, người đọc cũng có thể thấy được cảm nhận của Lê Phú Khải về ông Hồ: “Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù thi tốt nghiệp phổ thông hay thi vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, Bộ trường Bộ đại học và Trung hoạc Chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu phán một câu: “Đây là tà thuyết!” Lê Phú Khải có cô em tên Tuyết, làm việc cho cơ quan cần vụ chuyên cung cấp thực phẩm cho các ủy viên Bộ Chính trị. Có lần cô Tuyết kể lại, vào thời ông Trần Xuân Bác đưa ra lý thuyết đa nguyên, Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống, vì họ sợ bị đầu độc. Ngay cả nhân vật “hét ra lửa mửa ra khói” là Lê Đức Thọ cũng sợ. Theo lời cô Tuyết, có lần, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này, “thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách lòi cả bông thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói, tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế.” – Về nhân vật Nguyễn Thị Bình, từng một thời lãnh đạo tổ chức bù nhìn của Hà Nội là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, Lê Phú Khải viết (theo lời kể lại của nhà văn Nguyên Ngọc), một hôm bà Bình “triệu tập” một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi, chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng Nguyên Ngọc nói: “Sai từ đại hội Tour.” (vào năm 1920, khi cơ quan tình báo KGB của Liên Xô cho thành lập đảng cộng sản Pháp, tách ra từ Đảng Xã Hội, Hồ Chí Minh được tham gia vào Đảng Xã Hội khi ấy ngả theo Liên Xô để rồi gia nhập phong trào cộng sản Pháp từ lúc đó – chú thích của NXB). “Bà Bình không đồng ý.” Vậy mà sang ngày hôm sau bà Bình bảo Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!” Qua những trải nghiệm ngưởi thực, việc thực nói trên, Lê Phú Khải chua chát kết luận: “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.” Một lần, Lê Phú Khải đi Mạc Tư Khoa và gặp một trí thức Nga. Ông này ví von, “Liên Xô của chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết trôi dạt đi đâu!” Ba mươi năm sau kể từ cuộc trò chuyện đó, tác giả cay đắng khi nghe ông Tổng bí thư đương quyền Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên quyết bác bỏ “tam quyền phân lập” để bảo vệ chế độ độc đảng! Lê Phú Khải nhận định rằng, như vậy là Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn quyết đội trên đầu mình cái mũ mà cả loài người tiến bộ đã vứt bỏ. Cái mũ độc đảng! Tác giả nhận định, “rõ ràng, cái chiến hạm Liên Xô đã thoát cảnh mắc cạn, nhưng cái chiến hạm ấy do anh chàng KGB Putin cầm lái chưa biết nó sẽ đi về đâu. Còn con thuyền thúng Việt Nam thì đang trôi dạt vào một vùng sóng to gió lớn. Chắc chắn nó sẽ bị lật úp nếu những người trên con thuyền thúng đó không dám can đảm nhảy xuống nước mà bơi vào bờ, cứ khư khư ôm lấy con thuyền đó.” Sống nhiều, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, Lê Phú Khải thu vào ống kính đời mình nhiều góc cạnh, người, vật, sự kiện… Không báng bổ, không lớn tiếng kết án, không ca ngợi, ông từ tốn mô tả con người và đất nước Việt Nam qua cách quan sát tinh tế của mình. Những năm sau này, ông dấn thân vào con đường đấu tranh Tự Do-Dân Chủ, nên thân thiết với một lớp người mới, những người đang tới của Việt Nam. Nhớ về Kiến Giang, một con người quyết liệt, từ chỗ là một tín đồ ngoan đạo của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sùng bái Liên Xô, đến chỗ dứt khoát từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản nên bị tù vì tham gia nhóm “Xét Lại Chống Đảng”, Lê Phú Khải thuật lời Kiến Giang kể: “Lần cuối cùng Lê Đức Thọ vào thăm tôi, ông ta nói, các cậu hay đề cao trí thức, phó tiến sỹ đi học nước ngoài học về thì tớ cho thêm 5 đồng vào lương, thế thôi! Tôi nhìn thẳng Thọ nói, xưa Đảng vô học vì phải đi đánh giặc, nay Đảng có chính quyền mà Đảng lại sùng bái sự vô học thì không được! Lê Đức Thọ đứng lên ra về. Ít phút sau tay giám thị trại giam vào hoảng hốt nói, kỳ này thủ trưởng vào là để cho ông về, vậy là chết rồi! Ông làm thủ trưởng phật lòng, vậy là tiếp tục tù dài!” Và Kiến Giang kết luận: “Chúng ta không sợ lạc hậu, mà chỉ sợ nhất là lạc lõng giữa loài người.” Với Hà Sĩ Phu, nổi tiếng qua bài viết “Nắm Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, Lê Phú Khải nhớ có lần Hà Sĩ Phu nhận định rằng, khi chưa có chính quyền, người cộng sản rước chủ nghĩa Mác vào cửa sau, nay có chính quyền rồi lại treo Mác trước cửa nhà để treo đầu dê bán thịt chó, thì đó là thái độ lấy oán báo ân! Rõ ràng, “chế độ độc đảng như con vật đơn bào, nó có thể tồn tại từ thời hồng hoang của lịch sử đến ngày nay, nhưng chỉ tồn tại trong cống rãnh mà thôi. Muốn nên người, nó phải là con vật đa bào.” Lê Phú Khải còn nhắc lại những lần trò chuyện với Dương Thu Hương, nhà văn nữ đã một mình khai chiến với chế độ cộng sản và được báo chí Pháp ca ngợi là “Con Sói Đơn Độc.” Ngay tại căn nhà của Dương Thu Hương ở Hà Nội, bà nói với tác giả: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạmg vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cảrác rưởi mà nó định quét đi!” Tác giả Lời Ai Điếu dù thuộc lớp tuổi “thấp thập cổ lai hy” vẫn tìm cách gần gũi những lớp trẻ thuộc hàng em, cháu đang dấn thân đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Qua những lần gặp gỡ, trò chuyện, ông nhận ra đặc trưng của lớp người trẻ này như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy… là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ đã “chỉ thẳng mặt Đảng Cộng sản là quân bán nước.” Đoạn cuối tác phẩm này, Lê Phú Khải tâm sự, ông năm nay đã 72 tuổi, tức là đã sống cả đời trong chế độ Đảng trị. Ông không vào Đảng trong một chế độ Đảng trị thì đương nhiên con đường “tiến thân” là u ám rồi! Ông nói: “Tôi ý thức rất rõ điều này và hoàn toàn bằng lòng, vui vẻ với con đường mình đã chọn, làm một người tự do ngoài Đảng.” Và những dòng cuối của cuốn sách, Lê Phú Khải viết: “Sáng sớm ngày 14/09/1985 tôi đang ở bến đò Cà Mau chờ đi Năm Căn thì nghe tin đổi tiền. Mới tối hôm trước Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan tôi làm việc) còn nói ‘Không có chuyện đổi tiền, đồng bào đừng nghe kẻ xấu tung tin đổi tiền’, vậy mà sáng hôm sau 14/09/1985 chính cái đài ấy lại hô hào nhân dân đến các trạm đổi tiền để đổi tiền. Một bà già lớn tuổi ngồi cùng ghe đã chỉ tay lên cái loa đang loan tin đổi tiền ở trên bờ chửi, cái đài này nó nói dóc còn hơn con điếm.” Lê Phú Khải chấm dứt cuốn sách bằng câu: “Tôi đã phải sống với ‘con điếm’ ấy cả đời người!” Rõ ràng, dòng cuối cùng của Lê Phú Khải là LỜI AI ĐIẾU dành cho chế độ toàn trị đang cố bám quyền trên đất nước Việt Nam chúng ta. Tháng Tư, 2016 Nhà xuất bản Người Việt Đinh Quang Anh Thái ----- Tháng Tám 4, 2016 Phan Ba Báo chí Hồi ký Lê Phú Khải, lời ai điếu Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/04/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-1/ ***** - Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2): https://www.minds.com/newsfeed/1019872154710347776?referrer=HoangVanLam   === 0 ===   TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
129 views ·
Trò lừa đảo GNP - Càng giải thích càng kẹt! 76.000 doanh nghiệp với 136 doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng và Công an trốn thuế 40 tỉ USD!? Tư nghèo (Danlambao) - Việc "tính lại" để có được GNP tự nhiên tăng vọt lên 25,4%/năm của Tổng cục Thống kê đã là đề tài cho các chuyên gia lẫn dư luận bà con ta phê phán. Vậy là các quan nhà đảng lại loay hoay giải thích tới giải thích lui. Tới lui miết rồi kẹt luôn. Sau đây là những... kẹt cứng của đảng ta: Tổng cục trưởng TCTK Nguyễn Bích Lâm tuyên bố nhờ vào thay đổi cách tính GDP, thu nhập của cả nước tăng 25,4%, thu nhập của người dân tăng 410 USD - từ 2.590 lên 3.000 USD/năm. Cách tính mới này được thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng. Mở ngoặc một cái: (Hơi ngộ! Ông thủ cờ lờ mờ bờ vờ này làm sao có đủ trình độ để biết được cách tính GNP phức tạp, rắc rối trước đây nó sai để mà chỉ đạo tính lại?) Dựa vào sự kiện mỗi người dân vừa giàu thêm được mấy trăm đô mỗi năm, ta có thể có kết luận thứ nhất: Mấy năm về trước dân ta nghèo, nước ta yếu là do các đồng chí ta tính sai bét chứ không phải đảng ta lãnh đạo tầm bậy, nhà nước ta làm kinh tế dỏm!!! Theo Nguyễn Bích Lâm: "Việc đánh giá lại quy mô GDP được Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, tính lịch sử, so sánh và đảm bảo thống nhất về quy trình và phương pháp tính." Tức là để có con số GNP ngày hôm nay chính xác thì phải dựa vào "lịch sử chính xác" của GNP quá khứ. Tỉ lệ tăng trưởng của năm nay phải dựa vào GNP năm trước. Quá khứ sai thì hiện tại sẽ sai và tương lai sẽ sai luôn. Rõ ràng là GNP quá khứ đã sai. Nhưng... chưa hết! Nếu ngày hôm nay, các quan chức thống kê "đi tìm cách mới" theo chỉ thị của thủ tướng để làm GDP tăng vọt thì lấy gì bảo đảm trước đây không có chuyện "tìm cách" tương tự? Những con số GDP tăng trưởng hàng năm trong suốt nhiều năm qua có thực sự như vậy hay thấp hơn? Do đó, kết luận thứ 2: Tất cả những con số GNP đến từ chế độ toàn trị, không có tam quyền phân lập để kiểm soát, không cho phép những cơ quan độc lập rà xét, thẩm định thì đó là những con số không khả tín. Khi giải thích về phạm vi thống kê, Nguyễn Bích Lâm nói rằng: "Để thực hiện đánh giá lại quy mô GDP, chúng tôi chỉ xem xét, rà soát các hoạt động kinh tế thuộc phạm trù sản xuất theo quy định của Việt Nam, không xem xét các hoạt động kinh tế ngầm và kinh tế bất hợp pháp thuộc khu vực kinh tế chưa được quan sát." Và khi nói về nguyên nhân dẫn đến thay đổi con số GNP, Nguyễn Bích Lâm cho biết cách tính mới bao gồm thêm 76.000 doanh nghiệp mà trước đây bỏ sót, không tính. Và: "Ngoài ra, trong lần rà soát, đánh giá lại quy mô GDP lần này, ngành Thống kê cũng thu thập được số liệu của 136 doanh nghiệp thuộc 2 Bộ: Quốc phòng và Công an." Vậy thì câu hỏi được đặt ra: các doanh nghiệp nêu trên "thuộc phạm trù sản xuất theo quy định của Việt Nam", thì tại sao lại sót? Giải thích cho việc "bỏ sót" này, theo Nguyễn Bích Lâm: "Trước đây, khi chưa có sự chia sẻ số liệu, giữa 3 cơ quan: Cục Quản lý kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Tổng cục Thuế và Tổng cục Thống kê, số liệu về số lượng doanh nghiệp có sự vênh nhau khá lớn, do mỗi cơ quan có chức năng thu thập số liệu doanh nghiệp phục vụ cho các mục đích và theo các tiêu chí khác nhau." Giải thích này cho thấy việc xác định GNP tại Việt Nam là một trò "giỡn chơi" của các quan chức: mạnh ai nấy làm và từ đó đến nay Tổng cục Thống kê không sử dụng số liệu của Tổng cục Thuế! Trên nguyên tắc mọi thu nhập của người dân, doanh nghiệp mà nhà nước có thể có được chủ yếu đến từ Tổng cục Thuế. Người dân, doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài làm ra bao nhiêu, khai báo để đóng thuế, cộng lại làm nên GNP. Con số GNP này sẽ thấp hơn con số thật vì có tình trạng trốn thuế. Đơn giản là vậy. Tổng cục Thống kê chỉ cần lấy số liệu từ Tổng cục Thuế và phối kiểm với số liệu của Bộ Kế hoạch Đầu tư để có thể biết được có những đầu tư nằm trong danh sách làm ăn nhưng lại không khai thuế. Thật ra công việc phối kiểm cũng không phải là trách nhiệm của Tổng cục Thống kê mà là của Tổng cục Thuế. Do đó, con số "bị sót" 76.000 doanh nghiệp chỉ có thể giải thích 2 cách: - Đây là con số ma do Tổng cục Thống kê chế ra để giải thích vì sao GNP phải tăng vì "quên" tính tổng thu nhập của 76.000 doanh nghiệp ma này. Cho đến nay, người ta chỉ biết con số 76.000 nhưng hoàn toàn không biết và không thể biết đó là những doanh nghiệp nào. - Đây là những doanh nghiệp có thật. Nhưng nếu thật thì tại sao Tổng cục Thống kê bị sót? Chỉ có một giải thích: bị sót là vì trốn thuế. Do đó, Tổng cục Thuế không có dữ kiện của 76.000 doanh nghiệp trốn thuế này. Vì nếu có đóng thuế thì với hệ thống database ngày nay, Tổng cục Thuế không thể "sót" dữ kiện thu nhập của 76.000 doanh nghiệp khi cung cấp dữ kiện cho Tổng cục Thống kê. Do đó, giải thích kiểu nào cũng... kẹt! Kẹt là vì đi theo hướng giải thích thứ nhất thì Tổng cục Thống kê gian dối và lừa đảo khi dựng lên 76.000 doanh nghiệp ma được cho là bị "bỏ sót". Kẹt hơn nữa là nếu theo hướng giải thích thứ 2 thì Tổng cục Thuế phải cùng Bộ Công an điều tra và truy tố 76.000 doanh nghiệp trốn thuế. Trong số trốn thuế là 136 doanh nghiệp thuộc 2 Bộ: Quốc phòng và Công an! Và trốn thuế trên tổng thu nhập là bao nhiêu? Lấy khác biệt giữa 2 con số thu nhập bình quân đầu người nhân cho dân số thì sẽ ra: (3000 USD - 2590 USD) * 97 triệu = 39.770 triệu USD =. Tức là 39,77 tỉ USD. 76.000 doanh nghiệp với 136 doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng và Công an trốn thuế gần 40 tỉ USD! Quá kẹt!!! 14.09.2019 Tư nghèo danlambaovn.blogspot.com Link: https://danlambaovn.blogspot.com/2019/09/tro-lua-ao-gnp-cang-giai-thich-cang-ket.html
66 views ·

More from HoangVanLam

LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2) Lời Nói Đầu Có lần, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bảo tôi: – Nhiều người khuyên Nguyễn Khắc Viện nên viết hồi ký. Nhưng tôi nghĩ, mình chưa một lần bị đi tù. Chưa một lần cầm súng ra trận thì có gì mà viết hồi ký… Cứ như lời ông Viện thì đời tôi, không đáng một xu, vậy có gì để mà viết hồi ký, hồi ức cho thiên hạ cười chê (!) Nhưng bạn bè nhiều người lại khuyên Lê Phú Khải nên viết một cuốn hồi ký, không thì phí đi (!) Chả là, trong lúc vui vẻ, tôi thường kể cho bạn hữu nghe những chuyện “cười ra nước mắt” của dòng họ tôi, hoặc những nhân vật mà suốt cuộc đời 40 năm làm báo tôi được tiếp cận, làm việc. Toàn là những “nhân vật lịch sử”, những chuyện đáng ghi lại. Mà những nhân vật đó lại không thích hoặc không có điều kiện để ghi lại. Bạn bè khuyên tôi nên viết lại những chuyện mà tôi biết… Chẳng hạn, như chuyện ông nội tôi làm vaguemestre (nhân viên bưu chính) cho Toàn quyền Đông Dương như thế nào? Ông nội tôi theo Toàn quyền Maurice Long và vua Khải Định đi hội chợ Marseille năm 1922 và phiên dịch cho Khải Định trong chuyến đi ấy như thế nào? Hay là, chuyện chú tôi, tướng Lê Hữu Qua (Lê Phú Cường) có thời gian lái xe và làm garde-corps cho cụ Hồ những năm đầu Cách mạng Tháng Tám như thế nào? Hoặc, một người chú khác của tôi là nhà báo Lê Phú Hào làm phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ và Kissingertại hội đàm Paris như thế nào? Hoặc chính tôi, từng tháp tùng Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong những chuyến đi công cán tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sau này, ông Kiệt thường kêu tôi đến nhà riêng khi ông đã thôi làm Thủ tướng, để nói chuyện, tạm gọi là “tâm sự” như thế nào? Hoặc chân dung những nhà đấu tranh dân chủ mà tôi có dịp tiếp kiến, giao du như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sỹ Phu… Những truyện trên không ai hay cả, nhưng là “những tư liệu quý” như bạn bè tôi nói, cần cho hậu thế đọc và suy nghĩ về một thời kỳ đáng nhớ của đất nước tươi đẹp nhưng đau khổ này! Bạn tôi, toàn những người khó tính, vậy mà họ lại thích thú nghe thì có lẽ cũng nên ghi lại thật. Và cũng chỉ người “quen tay” cầm bút mới đủ kiên nhẫn để ghi lại những trang viết này trong lúc thiên hạ đua nhau đi kiếm tiền bằng đủ mọi cách, kể cả các nhà văn chửi bới nhau để tranh một cái giải thưởng… vài trăm triệu lúc này! (5/2012) Tôi thử kể một đoạn “hồi ký” dưới đây để bạn đọc yêu mến của tôi coi có được không? Bằng không thì hãy vứt ngay cuốn hồi ký này vào sọt rác…để khỏi rác nhà! (…Trích). “Ông nội tôi hỏi: Cháu có biết vì sao các nhân viên ở Phủ toàn quyền gọi quan toàn quyền Đông Dương là “quan Bẩy” không? Nói rồi, ông nội tôi giải thích, bở vì tên quan võ chỉ huy quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương được gọi là quan Sáu. Toàn Quyền còn hơn cả quan Sáu nên mới được gọi là quan Bẩy. Quan Bẩy Toàn quyền là người rất nghiêm nghị. Phòng làm việc của ngài ở Phủ toàn quyền là một căn phòng rộng, hình chữ nhật, dài như một cái toa tàu. Bureau của ngài ở cuối phòng, trước mặt có kê một chiếc bàn dài và hai hàng ghế để dùng vào những lúc hội họp. Ai được phép vào phòng của ngài rồi phải đi một quãng dài mới tới chỗ quan ngồi. Một lần – vẫn lời ông nội tôi kể – tao đang ngồi làm việc ở cái bàn dài trước mặt ngài thì một tên quan Tư người Pháp được phép vào báo cáo. Tên quan Tư đi kiểu nhà binh, đến trước mặt quan Bẩy, nó dậm chân rồi giơ tay chào cũng kiểu nhà binh. Quan Bẩy vẫn cặm cụi viết, không hề để ý đến tên quan Tư. Mấy phút trôi qua trong yên lặng. Thấy tên quan Tư người Pháp phải đứng, tao thì ngồi nên sợ thằng quan Tư ngượng. Tao vội vàng đứng dậy … xem bức tranh trên tường. Bỗng quan Bẩy nói: – Mày không phải giả vờ xem tranh, tao chưa cho nó ngồi, thì nó chưa được ngồi. Mày cứ ngồi xuống ghế mà làm việc đi (!) Quan Bẩy là vậy đó. Nghiêm lắm. Lúc làm việc, đi kinh lý đâu ngài cũng đem theo các kỹ sư, các chuyên gia đi theo. Xây dựng công trình gì, trồng cây gì, nuôi con gì, ra chỉ thị gì… ngài đều gọi các nhà chuyên môn đến hỏi rồi mới quyết định. Không những thế, trong sổ sách tài liệu đều ghi chép rõ ràng ý kiến tham mưu của các nhà chuyên môn, để sau này sẽ truy cứu trách nhiệm. Vì thế các chuyên gia đi theo ngài làm việc rất nghiêm túc, khi được hỏi để toàn quyền ký một quyết định gì, họ đều đắn đo suy nghĩ rất kỹ… vì tất cả trách nhiệm sau này là họ phải gánh chịu… … Nghe ông nội tôi kể về cách làm việc của Toàn quyền Đông Dương tôi nghĩ đến các vị lãnh tụ cộng sản nhà ta sau này đi kinh lý mà thấy buồn cười. Khi có ngôi vị cao rồi, các vị ấy tự cho mình là hiểu biết tất cả. Chắc các vị ấy nghĩ rằng, trong chiến tranh ác liệt như thế, các vị ấy còn thắng nữa là bây giờ, việc gì các vị ấy chẳng quyết được. Tôi nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi tổng bí thư (TBT) Lê Duẩn vô thăm tỉnh Tiền Giang. Ban thường vụ tỉnh ủy lúc đó đứng đầu là bí thư tỉnh ủy Chín Hải (tức Lê Văn Phẩm), và chủ tịch tỉnh Sáu Bình (Nguyễn Công Bình) dẫn TBT Lê Duẩn vô thăm vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang (90.000 ha). Đứng trước cánh đồng bao la bát ngát của vùng Đồng Tháp Mười, TBT Lê Duẩn chỉ tay về cánh đồng trước mặt, hỏi: – Trồng những cây gì thế kia? Bí thư tỉnh ủy Chín Hải lễ phép trả lời: – Thưa tổng bí thư, đó là rừng tràm ạ. Bỗng mọi người sửng sốt khi nghe TBT quát: – Ngu! Ngu! Sao không trồng lúa!!! Trước cơn giận dữ của TBT vì sao tỉnh lại không trồng lúa ở Đồng Tháp Mười mà lại trồng tràm… thì mọi người chỉ còn biết chết lặng mà thôi. Ai dám cãi lại? Ai dám cả gan giải thích cho đồng chí TBT rằng, đất Đồng Tháp Mười là đất phèn nặng, chỉ trồng tràm là hợp nhất mà thôi. Từ lúc TBT quát tháo như thế, không khí của đoàn trầm lặng. Hầu như không ai nói gì cả. Khi TBT Lê Duẩn đi rồi, tôi nghe rõ tiếng than của bí thư tỉnh ủy Chín Hải: – Ông Ba (tức Lê Duẩn) quay cờ rồi (!) … Có lần, ông nội tôi bất ngờ hỏi: “Cháu có biết ở hội chợ triển lãm thuộc địa Marseille, các nước thuộc địa của Pháp mở các quán ăn trong gian hàng hội chợ của mình để khoe với khách các món ăn ngon của xứ sở mình … thì món gì đắt hàng nhất tại hội chợ không? Nói rồi ông nội tôi kể tiếp: Món bún chả Việt Nam luôn luôn đông nghẹt khách vào ăn. Thịt nướng thơm phức, khói bay nghi ngút từ những cặp thịt nướng bốc lên lời mời chào quyến rũ nhất của gian hàng ăn Việt Nam. Các bà đầm đều hỏi sao thứ nước chấm bún chả thơm ngon lạ lùng thế? Cháu có biết vì sao không? Đó là vì có vị cà cuống! Nước mắm cà cuống mà!” … Tướng Lê Hữu Qua là một người cương trực, mỗi lần tôi có việc gia đình phải lên Bộ Công An gặp ông, nhằm lúc ông vui vẻ, thường được ông kể cho nghe về những ngày đầu Cách Mạng Tháng Tám, mà theo lời ông, lúc đó tình thế cách mạng “nghìn cân treo sợi tóc!” Lần ông kể cho tôi nghe chuyện lái xe cho cụ Hồ, khi ông cụ từ hội nghị Fontainebleau về… Giọng tướng Qua chậm rãi: Hôm đó tàu cập cảng Hải Phòng, ông cụ đi xe lửa về ga Hàng Cỏ. Lúc xuống ga chúng tôi bì mật đưa ông cụ ra xe ô tô. Tôi lái cho cụ đi vòng vèo các phố trước khi về cơ quan để đánh lạc hướng bọn phản động. Trong khi đó thì một trinh sát của ta, đóng giả cụ Hồ đi diễu hành ngoài phố, trên xe mui trần để đồng bào chào đón, hoan hô. Vậy mà bọn Việt quốc và Việt cách vẫn đánh hơi được. Họ không nhằm vào “cụ Hồ giả”, mà săn lùng cụ Hồ thật. Lúc bấy giờ xe đang chạy ngon trớn, bỗng nghe thấy tiếng súng nổ từ phía sau. Chúng bắn vào lốp xe. Kinh nghiệm lái xe nhiều năm cho tôi hay, xe nổ lốp sau vẫn có thể chạy tiếp mà không bị lật. Tôi nhấn ga, xa chạy một quãng dài nữa rồi phanh lại. Tôi lao ra khỏi xe, mở cửa sau để ông cụ chạy. Nào ngờ, chạy được mấy thước, ông cụ lại quay lại xe… Tôi đứng tim vì sợ quá… Thì ra ông cụ quay lại cốt lấy chiếc máy đánh chữ xách tay trong xe ra rồi chạy tiếp. Nhờ có tôi vừa bắn bọn “phản động”, vừa cản đường chúng nên khi nghe tiếng súng nổ liên tiếp, dân quân tự vệ, đồng bào hai bên phố ra đường… nên ông cụ chạy thoát! Thế mà khi về đến cơ quan, tôi thấy ông cụ đang ngồi gõ máy chữ thản nhiên, như không có chuyện gì vừa xảy ra. Thấy thế, tôi cũng không hỏi gì nữa vì lúc đó bận rộn lắm. Ông cụ cũng vậy, không hỏi han gì nữa, không nhắc đến chuyện ấy nữa… Cái hồi đầu cách mạng là thế đó … “Nghìn cân treo sợi tóc” mà! Nhưng sau này có chuyện tức cười là, cái cậu trinh sát đóng vai “cụ Hồ giả” đi diễu phố cho đồng bào hoan hô ấy, đến sau hòa bình 1954, khi cải cách ruộng đất, bị tố là địa chủ gian ác… Nguy kịch quá, cậu ta cãi lại đội cải cách, kể công đóng cụ Hồ giả, sẵn sàng chết cho cách mạng… thành công! Vì thế cậu ta được hạ thành phần xuống phú nông, thoát chết!!! Câu chuyện trên tôi viết thành một bài cho báo Sài Gòn Giải Phóng, có đăng kèm cả ảnh tướng Qua với lon thiếu tướng công an cho số đặc san ra ngày 2-9-2005, kỷ niệm 60 năm Cách Mạng Tháng Tám và quốc khánh 2-9. Duy cái đoạn đóng cụ Hồ giả và chuyện anh chàng đóng giả thoát chết trong cải cách ruộng đất thì bị tòa soạn cắt đi! Bài báo này tôi vẫn còn giữ làm kỷ niệm. Ở các nước văn minh thì sau 35 năm, các hồ sơ mật đều được công khai hóa để các sử gia có tư liệu mà viết cho trung thực. Cuốn “Paris-Sài Gòn-Hà Nội” của sử gia Pháp Philippe Devillers viết về cuộc chiến tranh Pháp Việt (1946-1954) được viết nhờ những tài liệu mật được khui ra. Cuốn sách này đã được ông Hoàng Hữu Đản dịch ra tiếng Việt. Trong cuốn sách đó, tác giả Philippe Devillers đã vạch mặt ba tên tướng thực dân lái súng là D’Argenlier, Pigon và Valuy đã bưng bít thông tin với chính phủ Pháp để dẫn đến cuộc chiến Pháp-Việt làm “hủy hoại tất cả di sản và quyền lợi của Pháp ở Đông Dương”. Ở các nước cộng sản độc tài thì không có chuyện khui các tài liệu mật. Ngay cả những chuyện không có gì phải giấu giếm như chuyện tướng Qua kể cho tôi nghe ở trên cũng bị… cấm! Vì thế, khi được báo Sài Gòn Giải Phóng mời viết bài về Cách Mạng Tháng Tám, tôi đã cố ý kể những chuyện do tướng Qua kể lại… cho bài báo thêm phần sinh động, trung thực, hấp dẫn. Nhưng chính báo chí lại tự kiểm duyệt mình một lần nữa, vì thế, đọc báo “lề phải” cứ thấy công thức, nhạt nhẽo, vô duyên không thể “ngửi” được. Tướng Lưu Á Châu ở Trung Quốc có nói một câu nổi tiếng: “Ở Trung Quốc nơi thiếu thông tin nhất là… báo chí!” Sao anh bạn 16 chữ vàng này lại giống ta đến thế! Ở Bộ Công An, tướng Qua là người ghét cay ghét đắng thứ trưởng Lê Quốc Thân. Theo ông, đây là một phần tử hèn nhát, cơ hội và gian manh. Chính ông Vũ Quốc Uy, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban văn hóa đối ngoại của Việt Nam cũng từng nói với tôi về sự hèn nhát của Lê Quốc Thân mà ông được chứng kiến khi Pháp tấn công quân ta đang cố thủ trong nhà hát lớn Hải Phòng hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông Uy kể: “Khi tất cả anh em tự vệ đang quyết chiến đấu với Pháp thì Lê Quốc Thân ngồi khóc và sợ quá… đái cả ra quần!” Vậy mà sau này ông ta leo lên đến chức ủy viên trung ương Đảng, thứ trưởng Bộ Công An. Tướng Qua kể, lúc trúng ủy viên trung ương, thứ trưởng Lê Quốc Thân mỗi lần đến cục tôi làm việc (tức Cục Cảnh sát, Cục Trại giam mà tướng Qua từng làm cục trưởng) thường hoa chân múa tay nói huyên thuyên như “quan điểm” của tôi thế này, “quan điểm” của tôi thế kia… Lúc ấy, tôi nóng mắt lắm. Một hôm không chịu nổi nữa nhưng vẫn giữ sĩ diện cho “đồng chí thứ trưởng” nên lúc tan cuộc họp rồi, mọi người đã giải tán, chỉ còn tôi và thứ trưởng Thân do tôi mời lại. Tôi nói thẳng với ông ta: “Ngày còn ở An toàn khu khi thằng Đỗ Nhuận nó mới sáng tác được bài “Du kích sông Thao”, tối đến nó tập hợp anh em lại để hát thử. Khi nó xướng lên… “Hồng Hà”… thì mọi người ở dưới đều đồng thanh… “mênh mông”… Lúc đó anh chỉ bốc ngô rang ăn, đến nỗi thằng Đỗ Nhuận phải chỉ vào mặt anh nói Lê Quốc Thân “mênh mông” đi chứ, cứ bốc ngô mà ăn mãi thế!!! Chắc anh còn nhớ chuyện đó chứ…? Cái lúc anh bốc ngô rang trong chiến khu sao tôi không thấy anh có “quan điểm” gì… sao bây giờ mới được vô trung ương, anh lắm “quan điểm” thế! Lê Quốc Thân đỏ mặt rồi quay ngoắt đi thẳng. Từ đó y không bao giờ đến Cục tôi để nêu “quan điểm” nữa(!)”. Tướng Qua là như thế. Tính nóng nẩy, cương trực, nên hay làm mất lòng cấp trên mặc dù công trạng đầy mình. Ông từng phá “Vụ án phố Ôn Như Hầu” nổi tiếng, cứu chế độ cộng hòa non trẻ sau CM Tháng Tám thoát hiểm trong gang tấc. Vậy mà sau này, từ chức vụ Cục trưởng Cục cảnh sát ông phải miễn cưỡng nhận chức Cục trưởng Cục lao cải – tức cục quản lý các trại giam, một chức vụ bị “cách ly” với các vấn đề an ninh ngoài xã hội, không còn liên quan đến toàn bộ hệ thống pháp luật, đến sự minh bạch, công tâm, trách nhiệm cao, thâm niên nghiệp vụ cao của người đứng đầu ngành cảnh sát quốc gia như chức vụ cũ của ông. Vậy mà cũng không yên. Tướng Qua kể khi ông Phạm Hùng làm phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Công An, một lần ông đến Cục trại giam và ra lệnh cho tôi thả một nữ tù nhân đang mang án chung thân. Tôi thưa với đồng chí Bộ trưởng, đây là chuyện pháp luật, tôi không dám. Ông Phạm Hùng nói “pháp luật do ta làm ra chớ(!)”. Tôi đành thưa, xin phép để cho tôi họp Đảng ủy Cục, xin ý kiến Đảng ủy. Ông Phạm Hùng trừng mắt hỏi “đồng chí bao nhiêu tuổi?” Tôi biết không xong rồi, và sau giây phút suy nghĩ , tôi đã trả lời một cách kiên quyết, chấp nhận mọi hậu họa “tôi ít tuổi hơn đồng chí”! Thế là hơn tháng sau, tôi nhận được quyết định nghỉ hưu (!) Ông Phạm Hùng từng là một người anh hùng như tôi đã biết. Ông từng bị thực dân Pháp kết án tử hình. Trong khám tử hình, ông tỏ ra vô cùng anh dũng, được kính nể. Vậy mà khi có quyền lực không giới hạn thì tha hóa như thế. Đó là con đường của tất cả các lãnh tụ trong một chế độ toàn trị, mà trường hợp Phạm Hùng chỉ là một ví dụ nhỏ. Cả dòng họ Lê Phú của tôi, chỉ có mình tôi là được biết về lý do bị cho nghỉ hưu đột ngột của tướng Qua, vì ông chỉ kể cho có một mình tôi nghe trong một chiều “gió tím mưa xanh”. Cuốn sách này là những mẩu chuyện như thế! (Còn tiếp) ----- Tháng Tám 6, 2016 Phan Ba Báo chí Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/06/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-2/ *** Đọc tiếp: - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 3): https://www.minds.com/newsfeed/1019873276747919360?referrer=HoangVanLam - LỜI AI ĐIẾU - Lê Phú Khải (kỳ 1): https://www.minds.com/newsfeed/1019871506145529856?referrer=HoangVanLam
21 views ·
LỜI AI ĐIẾU Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 1) Lời Nhà Xuất Bản Vào thập niên 50 tại Âu Châu và ngay cả tại Mỹ, phong trào thiên tả lan rộng trong giới trí thức. Tầng lớp có học thời ấy tự hào “phàm là trí thức thì phải thiên tả.” Điển hình là hai triết gia Jean Paul Satre người Pháp, Bertrand Russel người Anh và nữ tài tử Mỹ Jane Fonda. Phong trào thiên tả ngưỡng vọng nhiều tay lãnh tụ cộng sản trên thế giới và xem Liên Xô là “cái nôi” cuộc cách mạng xã hội của loài người. Thậm chí cho tới mãi năm 1989 tại thành phố Bergen – Na Uy, giới trí thức, giới cầm bút hay giáo sư đại học vẫn còn ca tụng Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và ngay cả Pol Pot, tên đồ tể diệt chủng dân tộc Khmer. Đám người mắc chứng “mê Cộng” này còn táo tợn cho rằng “tuổi đôi mươi mà không theo Cộng Sản là không có trái tim.” May cho đám đó là họ chỉ luẩn quẩn ở các đô thị xa hoa, uống rượu chát, ăn bò bí tết để mơ mộng xây dựng “thiên đường cộng sản” chứ không có, dù một ngày, trải nghiệm bằng chính bản thân cái chủ nghĩa là “căn bệnh ung thư” này của nhân loại. Họ không có cái TRÍ của Nguyễn Chí Thiện để sớm nhận ra bộ mặt không có tính người của cộng sản, như trong thơ của Ngục Sĩ này viết: “Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại Ngỡ cờ sao rực rỡ Tô thắm màu xứ sở yêu thương Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường Hung bạo phá bờ kim cổ.” Và như trường hợp tác giả cuốn Lời Ai Điếu này, nhà báo Lê Phú Khải, sớm nhìn rõ Chủ nghĩa Cộng sản từ lúc bước vào tuổi hai mươi: “Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh.” Khác với Jean Paul Sartre, Bertrand Russel hay Jane Fonda chỉ vỡ cơn huyễn mộng sau khi “Đế quốc Ma quỷ Liên Xô” và các chế độ cộng sản Đông Âu tan rã như cơm nguội gặp mưa, Lê Phú Khải cương quyết “không cần trái tim để theo cộng sản”dù như ông tự thuật, cả gia đình ông là cộng sản nòi: “Mỗi khi họ Lê Phú nhà tôi giỗ tết, tập hợp đông đủ nội ngoại, dâu rể thì nhìn đâu cũng thấy Đảng viên. Có lẽ, chỉ có mấy cái cột nhà và tôi là không phải Đảng viên mà thôi!” Hít thở không khí như thế, mà Lê Phú Khải nhiều lần từ chối vào Đảng vì ông thấy chế độ mà ông đang sống là một chế độ độc tài. Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội trại lính ở miền bắc từ khi muốn thi vào đại học, ông phác giác rất rõ cái chủ nghĩa Mác Lê với quan điểm giai cấp dấu tranh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì mới đẻ ra cái cách tuyển sinh “man rợ” như thế và nó lạc hậu hơn tất cả các hình thái xã hội có từ trước đó. Vì cộng sản chỉ lựa chọn sinh viên đại học dựa trên tiêu chuẩn thành phần giai cấp nên sản sinh một lớp người sau khi tốt nghiệp đa phần là những kẻ dốt nát, ngu si nhất, và “kẻ dốt nát xuất thân từ thành phần bần cố nông nghèo khổ một khi có quyền thì chỉ lo tham nhũng, vơ vét mà thôi.” Cũng vì chủ trương đấu tranh gia cấp, nên chế độ đã phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất nhằm “đào tận gốc, trốc tận rễ” những thành phần khác của xã hội “Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo” và hậu quả là cả trăm ngàn người chết oan khuất trong cơn “say máu vĩ cuồng” của cộng sản với những câu thơ khẩu hiệu của Tố Hữu “Giết, giết nữa, bàn tay không chút nghỉ… Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.” Lê Phú Khải trải nghiệm cái xã hội rơi vào điên loạn đó ngay tại quê vợ của ông khi chứng kiến cảnh nát lòng của một phú nông trong làng từng chứa chấp Việt Minh hoạt động, bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, bị bức cung nên phẫn uất quá cho gọi tất cả các con cái về nhà, dồn vào một buồng rồi tưới xăng tự thiêu, “những đứa trẻ chết đen thui còn xác người vợ trương phồng lên như con bò!” Thân phận trí thức ở đất nước nào cộng sản cai trị thì thành phần có học này cũng chịu những cay đắng, thống khổ giống nhau. Boris Pasternak, văn hào Nga đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1958, trong tác phẩm lẫy lừng “Doctor Zhivago” đã gột tả nỗi tũi nhục của nhân vật chính, bác sĩ Zhivago, bị công an bắt vì ăn cắp vài cây gỗ sưởi ấm cho gia đình trong cái lạnh cắt da của mùa Đông nước Nga. Việt Nam, qua lời kể của Lê Phú Khải, trong một phiên họp rất căng do bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn chủ trì, giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng, vì quá sợ, mồ hôi vã ra như tắm, rút khăn tay trong túi lau mặt khiến những gói mỳ chính (người miền Nam gọi là bột ngọt) nhỏ rơi ra. bác sĩ Tùng có thói quen cất những gói mì chính nhỏ trong người để mỗi khi ăn phở ông lấy ra một gói cho vào tô. Buổi họp có mặt của Tướng công an Lê Phú Qua, chú ruột tác giả, tướng Qua thấy bác sĩ Tùng run quá, phải cúi xuống nhặt dùm các gói mì chính rồi để lại vào túi bác sĩ Tùng. Đọc những đoạn Lê Phú Khải phơi bày tâm tình của mình trên giấy khi viết về thân phận trí thức trong chế độ cộng sản, người ta có cảm tưởng tác giả như đang nuốt ngược vào lòng nỗi tủi nhục của phận người bị guồng máy toàn trị dìm xuống tận đất đen. Như một lần ông đến thăm nhà văn 50 tuổi đảng Nguyễn Khải trước khi ông khải qua đời năm 2008. Nguyễn Khải nắm tay bạn buồn bã nói: “Nhà văn Việt Nam bị ba đứa nó khinh. Thứ nhất là thằng lãnh đạo nó khinh. Thứ hai là độc giả nó khinh. Và thứ ba là đêm nằm vắt tay lên trán mình lại tự khinh mình!” Do làm báo, Lê Phú Khải có nhiều cơ hội chứng kiến quyền uy của giới lãnh đạo. Ông nói “Lê Duẩn mắng mỏ người khác như mắng gia nhân đầy tớ.” Và những tay lãnh đạo sau Lê Duẩn thì cũng “cá mè một lứa”, Phan Văn Khải thì bảo Trần Đức Lương nên trả lại những quả đồi mà ông ta đã chiếm để làm villa, biệt thự. Còn Trần Đức Lương thì mắng lại Phan Văn Khải “mày hãy về bảo thằng con mày đừng giết người nữa rồi hãy bảo tao trả lại mấy quả đồi”. Lê Phú Khải nhận xét, họ mắng chửi nhau còn hơn hàng tôm, hàng cá rồi lại khuyên nhau “vì sự ổn định đất nước”, “vì sự nghiệp lớn”, nên gác lại mọi chuyện, rồi lại hỷ hả với nhau, đâu lại vào đó! Riêng cách của Lê Duẩn đối với Võ Nguyên Giáp thì Lê Phú Khải nói rằng, đó là lối đối xử “vô sản gắn liền với vô học.” Ông kể: “Sau chiến tranh biến giới với Trung Quốc 1979, tên Trọng Hy Đông ở Ủy ban Kiều vụ, Quốc vụ Viện trung Quốc, hàm ngang bộ trưởng, sang Việt Nam để giải quyết các vấn đề hậu chiến tranh như tù binh v.v. Khi xe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa đến cũng là lúc xe Lê Duẩn vừa tới, Lê Duẩn chỉ vào mặt tướng Giáp và nói như quát: – Cuộc họp không có anh! Võ Nguyên Giáp nói: – Vậy tôi về. Thế là ông Giáo lủi thủi lên xe ra về.” Có lần Lê Phú Khải cùng các ký giả khác tham dự cuộc họp báo của Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm tại phòng tiếp khác VIP của phi trường Tân Sơn Nhất, ông tận mắt thấy cảnh Nguyễn Mạnh Cầm vừa trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Việt Nam, vừa nhìn sang phía quầy bán hàng phục vụ khách VIP, “nơi cô Phương Uyên đang nhổm người lên để lộ cả quần xi líp mầu hồng bên trong!” Lúc về cơ quan, Lê Phú Khải bảo với lãnh đạo của ông là ông sẽ viết lại giáo trình bài “phỏng vấn”, rằng “mỗi khi một cơ quan báo chí cử phóng viên đi phỏng vấn các VIO, thì nên cử nữ phóng viên xinh đẹp, mặc váy ngắn, xi líp màu hồng!” Vì sinh ra trong gia đình cộng sản nòi, chú bác, anh em có người lên tới hàng lãnh đạo trung cao cấp của đảng, Lê Phú Khải được nghe những nhận xét về nhiều nhân vật chóp bu của chế độ, như lời chú ruột ông là Tướng công an Lê Phú Qua, hoặc qua lời kể của em gái ông, cô Tuyết: – Thủ tướng bám quyền hơn 30 năm Phạm Văn Đồng: “Chủ quan, bốc đồng, rất vô tích sự và chỉ làm hại đất nước!” – Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn: “Quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là ghét trí thức. Vợ Hoàn là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ.” – Riêng với Hồ Chí Minh, cũng giống như một số lớn dân miền Bắc, không hiểu rõ chân tướng ông Hồ, nên Lê Phú Khải trong cách viết vẫn còn lộ chút tình cảm kính trọng nhân vật này. Dù vậy, qua đoạn thuật lại nhận xét của Giáo sư Tạ Quang Bửu, người đọc cũng có thể thấy được cảm nhận của Lê Phú Khải về ông Hồ: “Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù thi tốt nghiệp phổ thông hay thi vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, Bộ trường Bộ đại học và Trung hoạc Chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu phán một câu: “Đây là tà thuyết!” Lê Phú Khải có cô em tên Tuyết, làm việc cho cơ quan cần vụ chuyên cung cấp thực phẩm cho các ủy viên Bộ Chính trị. Có lần cô Tuyết kể lại, vào thời ông Trần Xuân Bác đưa ra lý thuyết đa nguyên, Bộ Chính trị lúc đó chia rẽ và nghi kỵ nhau lắm, đi họp ai cũng được vợ chuẩn bị một chai nước riêng, để trong túi, khi khát thì lén quay đi, rót uống, vì họ sợ bị đầu độc. Ngay cả nhân vật “hét ra lửa mửa ra khói” là Lê Đức Thọ cũng sợ. Theo lời cô Tuyết, có lần, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này, “thủ trưởng của cậu tiết kiệm quá, chăn rách lòi cả bông thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói, tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi nên chăn mới rách bươm ra như thế.” – Về nhân vật Nguyễn Thị Bình, từng một thời lãnh đạo tổ chức bù nhìn của Hà Nội là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, Lê Phú Khải viết (theo lời kể lại của nhà văn Nguyên Ngọc), một hôm bà Bình “triệu tập” một nhóm trí thức hơn 10 người lại, đặt câu hỏi, chúng ta sai từ bao giờ? Mọi người đều nói sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chính sách của mình. Riêng Nguyên Ngọc nói: “Sai từ đại hội Tour.” (vào năm 1920, khi cơ quan tình báo KGB của Liên Xô cho thành lập đảng cộng sản Pháp, tách ra từ Đảng Xã Hội, Hồ Chí Minh được tham gia vào Đảng Xã Hội khi ấy ngả theo Liên Xô để rồi gia nhập phong trào cộng sản Pháp từ lúc đó – chú thích của NXB). “Bà Bình không đồng ý.” Vậy mà sang ngày hôm sau bà Bình bảo Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!” Qua những trải nghiệm ngưởi thực, việc thực nói trên, Lê Phú Khải chua chát kết luận: “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.” Một lần, Lê Phú Khải đi Mạc Tư Khoa và gặp một trí thức Nga. Ông này ví von, “Liên Xô của chúng tôi là một cái chiến hạm mắc cạn còn Việt Nam là một chiếc thuyền thúng không biết trôi dạt đi đâu!” Ba mươi năm sau kể từ cuộc trò chuyện đó, tác giả cay đắng khi nghe ông Tổng bí thư đương quyền Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên quyết bác bỏ “tam quyền phân lập” để bảo vệ chế độ độc đảng! Lê Phú Khải nhận định rằng, như vậy là Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn quyết đội trên đầu mình cái mũ mà cả loài người tiến bộ đã vứt bỏ. Cái mũ độc đảng! Tác giả nhận định, “rõ ràng, cái chiến hạm Liên Xô đã thoát cảnh mắc cạn, nhưng cái chiến hạm ấy do anh chàng KGB Putin cầm lái chưa biết nó sẽ đi về đâu. Còn con thuyền thúng Việt Nam thì đang trôi dạt vào một vùng sóng to gió lớn. Chắc chắn nó sẽ bị lật úp nếu những người trên con thuyền thúng đó không dám can đảm nhảy xuống nước mà bơi vào bờ, cứ khư khư ôm lấy con thuyền đó.” Sống nhiều, đi nhiều, gặp gỡ nhiều, Lê Phú Khải thu vào ống kính đời mình nhiều góc cạnh, người, vật, sự kiện… Không báng bổ, không lớn tiếng kết án, không ca ngợi, ông từ tốn mô tả con người và đất nước Việt Nam qua cách quan sát tinh tế của mình. Những năm sau này, ông dấn thân vào con đường đấu tranh Tự Do-Dân Chủ, nên thân thiết với một lớp người mới, những người đang tới của Việt Nam. Nhớ về Kiến Giang, một con người quyết liệt, từ chỗ là một tín đồ ngoan đạo của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sùng bái Liên Xô, đến chỗ dứt khoát từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản nên bị tù vì tham gia nhóm “Xét Lại Chống Đảng”, Lê Phú Khải thuật lời Kiến Giang kể: “Lần cuối cùng Lê Đức Thọ vào thăm tôi, ông ta nói, các cậu hay đề cao trí thức, phó tiến sỹ đi học nước ngoài học về thì tớ cho thêm 5 đồng vào lương, thế thôi! Tôi nhìn thẳng Thọ nói, xưa Đảng vô học vì phải đi đánh giặc, nay Đảng có chính quyền mà Đảng lại sùng bái sự vô học thì không được! Lê Đức Thọ đứng lên ra về. Ít phút sau tay giám thị trại giam vào hoảng hốt nói, kỳ này thủ trưởng vào là để cho ông về, vậy là chết rồi! Ông làm thủ trưởng phật lòng, vậy là tiếp tục tù dài!” Và Kiến Giang kết luận: “Chúng ta không sợ lạc hậu, mà chỉ sợ nhất là lạc lõng giữa loài người.” Với Hà Sĩ Phu, nổi tiếng qua bài viết “Nắm Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, Lê Phú Khải nhớ có lần Hà Sĩ Phu nhận định rằng, khi chưa có chính quyền, người cộng sản rước chủ nghĩa Mác vào cửa sau, nay có chính quyền rồi lại treo Mác trước cửa nhà để treo đầu dê bán thịt chó, thì đó là thái độ lấy oán báo ân! Rõ ràng, “chế độ độc đảng như con vật đơn bào, nó có thể tồn tại từ thời hồng hoang của lịch sử đến ngày nay, nhưng chỉ tồn tại trong cống rãnh mà thôi. Muốn nên người, nó phải là con vật đa bào.” Lê Phú Khải còn nhắc lại những lần trò chuyện với Dương Thu Hương, nhà văn nữ đã một mình khai chiến với chế độ cộng sản và được báo chí Pháp ca ngợi là “Con Sói Đơn Độc.” Ngay tại căn nhà của Dương Thu Hương ở Hà Nội, bà nói với tác giả: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạmg vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cảrác rưởi mà nó định quét đi!” Tác giả Lời Ai Điếu dù thuộc lớp tuổi “thấp thập cổ lai hy” vẫn tìm cách gần gũi những lớp trẻ thuộc hàng em, cháu đang dấn thân đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Qua những lần gặp gỡ, trò chuyện, ông nhận ra đặc trưng của lớp người trẻ này như Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy… là họ quyết liệt không chấp nhận cộng sản, họ coi cộng sản đồng nghĩa với tối tăm, sai trái, lừa dối, tàn bạo, phản cuộc sống, phản con người. Thế hệ của họ đã “chỉ thẳng mặt Đảng Cộng sản là quân bán nước.” Đoạn cuối tác phẩm này, Lê Phú Khải tâm sự, ông năm nay đã 72 tuổi, tức là đã sống cả đời trong chế độ Đảng trị. Ông không vào Đảng trong một chế độ Đảng trị thì đương nhiên con đường “tiến thân” là u ám rồi! Ông nói: “Tôi ý thức rất rõ điều này và hoàn toàn bằng lòng, vui vẻ với con đường mình đã chọn, làm một người tự do ngoài Đảng.” Và những dòng cuối của cuốn sách, Lê Phú Khải viết: “Sáng sớm ngày 14/09/1985 tôi đang ở bến đò Cà Mau chờ đi Năm Căn thì nghe tin đổi tiền. Mới tối hôm trước Đài Tiếng nói Việt Nam (cơ quan tôi làm việc) còn nói ‘Không có chuyện đổi tiền, đồng bào đừng nghe kẻ xấu tung tin đổi tiền’, vậy mà sáng hôm sau 14/09/1985 chính cái đài ấy lại hô hào nhân dân đến các trạm đổi tiền để đổi tiền. Một bà già lớn tuổi ngồi cùng ghe đã chỉ tay lên cái loa đang loan tin đổi tiền ở trên bờ chửi, cái đài này nó nói dóc còn hơn con điếm.” Lê Phú Khải chấm dứt cuốn sách bằng câu: “Tôi đã phải sống với ‘con điếm’ ấy cả đời người!” Rõ ràng, dòng cuối cùng của Lê Phú Khải là LỜI AI ĐIẾU dành cho chế độ toàn trị đang cố bám quyền trên đất nước Việt Nam chúng ta. Tháng Tư, 2016 Nhà xuất bản Người Việt Đinh Quang Anh Thái ----- Tháng Tám 4, 2016 Phan Ba Báo chí Hồi ký Lê Phú Khải, lời ai điếu Link: https://phanba.wordpress.com/2016/08/04/hoi-ky-le-phu-khai-ban-day-du-ky-1/ ***** - Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 2): https://www.minds.com/newsfeed/1019872154710347776?referrer=HoangVanLam   === 0 ===   TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TRANG NÀY: https://www.minds.com/newsfeed/1074888553795940352?referrer=HoangVanLam
129 views ·
Trò lừa đảo GNP - Càng giải thích càng kẹt! 76.000 doanh nghiệp với 136 doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng và Công an trốn thuế 40 tỉ USD!? Tư nghèo (Danlambao) - Việc "tính lại" để có được GNP tự nhiên tăng vọt lên 25,4%/năm của Tổng cục Thống kê đã là đề tài cho các chuyên gia lẫn dư luận bà con ta phê phán. Vậy là các quan nhà đảng lại loay hoay giải thích tới giải thích lui. Tới lui miết rồi kẹt luôn. Sau đây là những... kẹt cứng của đảng ta: Tổng cục trưởng TCTK Nguyễn Bích Lâm tuyên bố nhờ vào thay đổi cách tính GDP, thu nhập của cả nước tăng 25,4%, thu nhập của người dân tăng 410 USD - từ 2.590 lên 3.000 USD/năm. Cách tính mới này được thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng. Mở ngoặc một cái: (Hơi ngộ! Ông thủ cờ lờ mờ bờ vờ này làm sao có đủ trình độ để biết được cách tính GNP phức tạp, rắc rối trước đây nó sai để mà chỉ đạo tính lại?) Dựa vào sự kiện mỗi người dân vừa giàu thêm được mấy trăm đô mỗi năm, ta có thể có kết luận thứ nhất: Mấy năm về trước dân ta nghèo, nước ta yếu là do các đồng chí ta tính sai bét chứ không phải đảng ta lãnh đạo tầm bậy, nhà nước ta làm kinh tế dỏm!!! Theo Nguyễn Bích Lâm: "Việc đánh giá lại quy mô GDP được Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, tính lịch sử, so sánh và đảm bảo thống nhất về quy trình và phương pháp tính." Tức là để có con số GNP ngày hôm nay chính xác thì phải dựa vào "lịch sử chính xác" của GNP quá khứ. Tỉ lệ tăng trưởng của năm nay phải dựa vào GNP năm trước. Quá khứ sai thì hiện tại sẽ sai và tương lai sẽ sai luôn. Rõ ràng là GNP quá khứ đã sai. Nhưng... chưa hết! Nếu ngày hôm nay, các quan chức thống kê "đi tìm cách mới" theo chỉ thị của thủ tướng để làm GDP tăng vọt thì lấy gì bảo đảm trước đây không có chuyện "tìm cách" tương tự? Những con số GDP tăng trưởng hàng năm trong suốt nhiều năm qua có thực sự như vậy hay thấp hơn? Do đó, kết luận thứ 2: Tất cả những con số GNP đến từ chế độ toàn trị, không có tam quyền phân lập để kiểm soát, không cho phép những cơ quan độc lập rà xét, thẩm định thì đó là những con số không khả tín. Khi giải thích về phạm vi thống kê, Nguyễn Bích Lâm nói rằng: "Để thực hiện đánh giá lại quy mô GDP, chúng tôi chỉ xem xét, rà soát các hoạt động kinh tế thuộc phạm trù sản xuất theo quy định của Việt Nam, không xem xét các hoạt động kinh tế ngầm và kinh tế bất hợp pháp thuộc khu vực kinh tế chưa được quan sát." Và khi nói về nguyên nhân dẫn đến thay đổi con số GNP, Nguyễn Bích Lâm cho biết cách tính mới bao gồm thêm 76.000 doanh nghiệp mà trước đây bỏ sót, không tính. Và: "Ngoài ra, trong lần rà soát, đánh giá lại quy mô GDP lần này, ngành Thống kê cũng thu thập được số liệu của 136 doanh nghiệp thuộc 2 Bộ: Quốc phòng và Công an." Vậy thì câu hỏi được đặt ra: các doanh nghiệp nêu trên "thuộc phạm trù sản xuất theo quy định của Việt Nam", thì tại sao lại sót? Giải thích cho việc "bỏ sót" này, theo Nguyễn Bích Lâm: "Trước đây, khi chưa có sự chia sẻ số liệu, giữa 3 cơ quan: Cục Quản lý kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Tổng cục Thuế và Tổng cục Thống kê, số liệu về số lượng doanh nghiệp có sự vênh nhau khá lớn, do mỗi cơ quan có chức năng thu thập số liệu doanh nghiệp phục vụ cho các mục đích và theo các tiêu chí khác nhau." Giải thích này cho thấy việc xác định GNP tại Việt Nam là một trò "giỡn chơi" của các quan chức: mạnh ai nấy làm và từ đó đến nay Tổng cục Thống kê không sử dụng số liệu của Tổng cục Thuế! Trên nguyên tắc mọi thu nhập của người dân, doanh nghiệp mà nhà nước có thể có được chủ yếu đến từ Tổng cục Thuế. Người dân, doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài làm ra bao nhiêu, khai báo để đóng thuế, cộng lại làm nên GNP. Con số GNP này sẽ thấp hơn con số thật vì có tình trạng trốn thuế. Đơn giản là vậy. Tổng cục Thống kê chỉ cần lấy số liệu từ Tổng cục Thuế và phối kiểm với số liệu của Bộ Kế hoạch Đầu tư để có thể biết được có những đầu tư nằm trong danh sách làm ăn nhưng lại không khai thuế. Thật ra công việc phối kiểm cũng không phải là trách nhiệm của Tổng cục Thống kê mà là của Tổng cục Thuế. Do đó, con số "bị sót" 76.000 doanh nghiệp chỉ có thể giải thích 2 cách: - Đây là con số ma do Tổng cục Thống kê chế ra để giải thích vì sao GNP phải tăng vì "quên" tính tổng thu nhập của 76.000 doanh nghiệp ma này. Cho đến nay, người ta chỉ biết con số 76.000 nhưng hoàn toàn không biết và không thể biết đó là những doanh nghiệp nào. - Đây là những doanh nghiệp có thật. Nhưng nếu thật thì tại sao Tổng cục Thống kê bị sót? Chỉ có một giải thích: bị sót là vì trốn thuế. Do đó, Tổng cục Thuế không có dữ kiện của 76.000 doanh nghiệp trốn thuế này. Vì nếu có đóng thuế thì với hệ thống database ngày nay, Tổng cục Thuế không thể "sót" dữ kiện thu nhập của 76.000 doanh nghiệp khi cung cấp dữ kiện cho Tổng cục Thống kê. Do đó, giải thích kiểu nào cũng... kẹt! Kẹt là vì đi theo hướng giải thích thứ nhất thì Tổng cục Thống kê gian dối và lừa đảo khi dựng lên 76.000 doanh nghiệp ma được cho là bị "bỏ sót". Kẹt hơn nữa là nếu theo hướng giải thích thứ 2 thì Tổng cục Thuế phải cùng Bộ Công an điều tra và truy tố 76.000 doanh nghiệp trốn thuế. Trong số trốn thuế là 136 doanh nghiệp thuộc 2 Bộ: Quốc phòng và Công an! Và trốn thuế trên tổng thu nhập là bao nhiêu? Lấy khác biệt giữa 2 con số thu nhập bình quân đầu người nhân cho dân số thì sẽ ra: (3000 USD - 2590 USD) * 97 triệu = 39.770 triệu USD =. Tức là 39,77 tỉ USD. 76.000 doanh nghiệp với 136 doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng và Công an trốn thuế gần 40 tỉ USD! Quá kẹt!!! 14.09.2019 Tư nghèo danlambaovn.blogspot.com Link: https://danlambaovn.blogspot.com/2019/09/tro-lua-ao-gnp-cang-giai-thich-cang-ket.html
66 views ·