Chân dung anh hùng – Đại biểu Quốc hội (Bài 1) Bài 1. Từ truyền thông lề phải I. Giới thiệu Việt Nam hiện đại có nhiều điều mà cả thế giới không thể sánh được. Chẳng hạn, có tướng nhiều nhất thế giới, nhiều hơn cả những quốc gia đông dân và có nền quốc phòng hàng đầu hành tinh; nhưng lại không có vị tướng nào lên tiếng chống lại Trung Quốc xâm lược biển đảo, để giữ gìn “đại cục 16 chữ vàng, 4 tốt”. Trong khi Trung Quốc đang tiếp tục bành trướng chiếm hữu vùng biển Bãi Tư Chính Việt Nam; leo thang lên nữa là tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 cùng nhóm tàu bè khác của Trung Quốc đã vào sâu vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đến 185km theo hướng bờ biển Phan Thiết (1.1) ngày 24/8/2019, báo nước ngoài đưa tin, báo trong nước tĩnh lặng cùng với hàng trăm tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam. *** Cũng như tướng lĩnh, ở Việt Nam có số lượng anh hùng nhiều nhất thế giới, từ anh hùng lực lượng vũ trang, đến anh hùng lao động, rồi anh hùng lao động thời kỳ đổi mới … Phải nói là “anh hùng” cũng là sản phẩm đặc thù của xã hội hiện đại, phản ảnh đầy đủ bản chất của chế độ toàn trị. Nếu cổ nhân có câu: “nhất tướng công thành vạn cốt khô” đã được kiểm chứng qua các cuộc chiến tranh; thì xã hội hiện đại lại có câu: “một tỷ phú Việt sinh ra vạn người lầm than” là một thực tế phũ phàng. Tỷ phú Việt Nam đều làm giàu từ đất, quá trình tích tụ đất đai làm giàu của những tỷ phú – đại gia Việt đã đẩy hàng triệu người dân vào tầng lớp dân oan là hiện thực xã hội chủ nghĩa không còn ở một vài địa phương riêng lẻ nữa. Các đại gia có đặc quyền chọn những vùng đất đẹp, thuận lợi cho mục tiêu chiến lược, lập dự án đầu tư và sau đó … chuyển nhượng dự án cho những thế lực có tiền, bất chấp đến từ quốc gia nào. Báo chí, mạng xã hội phần nào cũng đã đưa tin đa chiều chân dung một số đại gia. Nhưng chắc ít người biết đến chân dung của một tỷ phú – đại gia anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Trong bài viết này chúng tôi sẽ gọi là “đại gia anh hùng”. Khi nghe tin đại gia này được phong “anh hùng lao động”, thì ở quê hương – nơi anh ta đã chôn nhau cắt rốn gọi là “anh hùng lừa đảo”; anh trở thành đại gia, nhiều người cho là bình thường, nhưng khi đại gia thành anh hùng thì lại là chuyện không bình thường với rất nhiều người, với nhiều lứa tuổi sống qua nhiều chế độ. Bên cạnh tiểu sử hoành tráng của một đại gia anh hùng để báo chí cách mạng ngợi ca, là chân dung một anh hùng, đại biểu quốc hội – sản phẩm của thể chế, được chính những người dân quê anh vẽ nên; trong đó, có những người chứng kiến từ khi anh chưa sinh ra đến khi anh trở thành đại gia anh hùng vô tiền khoáng hậu của lịch sử Việt Nam, có những người cùng anh khởi nghiệp ở miền đất cực nam trung bộ. Đúng là: Trăm năm bia đá vẫn mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ; câu anh hùng “lao động” (LĐ) được chuyển thể thành anh hùng “lừa đảo” không phải là không có nguyên nhân của nó. Đều là dân miền Trung của vùng đất trung trung bộ nắng cháy mưa dầm; tuy nhỏ tuổi hơn, nhưng truyền thống gia đình đại gia anh hùng này cao hơn hẵn Trương Văn Cam – Năm Cam nhiều bậc. Không như Năm Cam hay nói với đàn em “cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua bằng rất nhiều tiền !” (Roman Abramovich), cái nói-nổ của Năm Cam dẫn đến họa diệt thân, còn đại gia anh hùng thì chỉ làm mà không nói. Với tố chất bản năng sinh tồn của một người qua 3 đời bị tác động bởi các biến cố chính trị xã hội cộng sản, đại gia anh hùng này xứng đáng là bậc thầy của Phan Văn Anh Vũ – Vũ Nhôm. Nếu như Vũ Nhôm vừa muốn thành đại gia, vừa muốn có quyền lực, nhưng lại có những lúc bốc đồng nên sinh thù kết oán để kết cục phải vào chốn lao tù; thì đại gia anh hùng lại biết cách khống chế các phe phái đánh nhau trên chính trường đều thuần phục. Nói gì thì nói, để trở thành đại gia thì phải là một người có tài năng thực sự. Phải biết cách đánh bại nhiều đối thủ cạnh tranh, lách qua được những khe hẹp của luật pháp, lợi dụng những mâu thuẫn của thế lực cầm quyền để làm giàu không mấy người thành công. Nhưng tạo ra sự chính danh để trở thành đại gia anh hùng, đại gia đại biểu quốc hội trong quái thai kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng vô cùng hiếm. Với chừng đó thành công cũng chưa nói hết tài năng của đại gia anh hùng này. Mặc dù Mỹ – Việt đã bỏ hoàn toàn rào cản của cuộc chiến tranh, nhưng hai người anh em Cộng sản – Cộng hòa vẫn chưa hòa giải, hòa hợp được; hai phe cờ đỏ, cờ vàng đấu nhau một còn trên hai chiến tuyến. Nhưng riêng đại gia anh hùng này lại được cả hai phe cờ đỏ, cờ vàng đều xem như là “người của mình”. Điều này mới làm nên tài năng thực sự của một đại gia, anh hùng, đại biểu quốc hội duy nhất ở Việt Nam. Người viết bài cố gắng vẽ lại chân dung của một con người – sản phẩm của thể chế – đã trở thành đại gia, anh hùng lao động, đại biểu quốc hội, được lòng cả “cờ đỏ, cờ vàng”. Chân dung thực sự của anh, dưới một góc độ nào đó phải công nhận là tài năng duy nhất ở Việt Nam. Cuộc đời của anh gắn bó với các giai đoạn lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam “đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội”: vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân, và đồng thời cũng là kẻ bất nhân, sát nhân!. Nội dung chuyên đề các bài viết này nói về ông Nguyễn Văn Đông, Chủ tịch tập đoàn Rạng Đông (Bình Thuận), đại gia, anh hùng lao động 2005, đại biểu quốc hội 2007-2011. Để bạn đọc nhận diện đa chiều chân dung vị đại gia anh hùng. Để thông tin đa chiều về AHLĐ-ĐBQH Nguyễn Văn Đông, các bạn nên xem trước website Tập đoàn Rạng Đông https://www.rangdonggroup.com.vn/ và thông tin trên báo chí cách mạng dưới đây. II. Từ báo chí của Đảng Phải nói thẳng là phóng viên của báo chí cách mạng Việt Nam như là một bầy cừu của Đảng (1.2) và chỉ được đi theo lề bên phải (1.3) thì nhà báo mới được an toàn. Cho nên báo chí của Đảng không phải là cơ quan truyền thông đúng nghĩa; mà chỉ được đưa tin, bơm thổi theo định hướng dư luận của tuyên giáo, đặc biệt là với những sự kiện, nhân vật trọng đại. Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, với nhân vật Nguyễn Văn Đông là chủ doanh nghiệp tư nhân đầu tiên được được phong “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới” vào năm 2005 chỉ là những dòng tin đơn giản của những con cừu ghi theo lời kể của anh hùng, có thể trích tóm tắt như sau: Năm 2005, khi Nguyễn Văn Đông được phong anh hùng lao động, báo Tiền Phong viết: “Đông quê ở làng Đức Phú, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Tốt nghiệp trung học phổ thông, Đông xin phép mẹ đi tìm sự nghiệp. Đông nhảy chui tàu hàng xuôi về Nam, vốn liếng là khát khao cháy bỏng đổi đời cơ cực cho mình, cho gia đình. Tàu qua ga Suối Kiết – Tánh Linh, thêm vài ga lẻ, chàng thư sinh kịp “biến” trước khi tàu dừng tại ga Giá Rai để tránh nhân viên kiểm soát. Từ đó, anh lội bộ ra Ông Đồn (Xuân Lộc – Đồng Nai). Qua đêm đầu tiên nơi đất lạ trong một sạp hàng ở chợ, ngoài lũ muỗi quấy rầy anh còn bị du kích mời về xã hỏi giấy tờ. … Từ đó, anh lần vào Long Khánh, xuống Phú Mỹ, rồi Hắc Dịch (Bà Rịa). Ai thuê gì làm nấy, làm cỏ bắp, sát củ mì. Không người thuê, anh vào rừng lấy tre. Sức vóc không vạm vỡ để vác hai cây tre từ rừng ra chợ, anh chỉ chặt một cây rưỡi tre, bán nửa cây mua gạo, còn tiền một cây tre anh giắt lưng để dành. Khát vọng làm giàu luôn thôi thúc tim anh, cháy bỏng trong từng giấc ngủ. Rồi anh ngược lên Võ Đắc – Đức Linh, xuôi về Bắc Ruộng – Tánh Linh. Tại đây, anh làm ruộng thuê, tậu ruộng, tậu đất trồng tiêu. Đã ổn định, anh đưa cả gia đình vào lập nghiệp. Mẹ anh dựng cái chòi nhỏ tại chợ, đồng vốn buôn bán sinh sôi của bà qua tay Đông nhanh chóng tăng lên nhiều lần. Bốn năm sau, vào năm 1994, khi doanh thu của tổ hợp từ 100 triệu lên đến 2,5 tỷ, Đông chuyển đổi mô hình thành Xí nghiệp và đặt chân lên địa bàn Phan Thiết. Năm 1997, doanh thu lên 30 tỷ đồng, Đông quyết định thành lập Cty Xây lắp Rạng Đông. Bảy năm sau, năm 2004, doanh thu của Cty là 210 tỷ đồng. Đông tâm sự: ‘Mười lăm năm nay, từ khi vào nghề xây dựng, chưa đêm nào tôi ngủ trước một giờ sáng’.” Đến năm 2019, chân dung anh hùng được Nguyễn Văn Đông tự kể, được báo Đảng lamnguoi.net đưa vào chuyên mục “Câu chuyện thành công” với mục đích dạy thế hệ trẻ làm người, khởi nghiệp. Xem nội dung các bài báo tiêu biểu ở các link phần ghi chú (1.4). Với chừng đó thông tin về tiểu sử và công trạng của một chủ doanh nghiệp tư nhân như vậy thì Nguyễn Văn Đông khó mà đáp ứng điều kiện để trở thành “Anh hùng Lao động” theo Khoản 1 Điều 61 Luật Thi đua khen thưởng số 15/2003/QH11 của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.(1.5) Đại biểu Quốc hội khóa XII (2007-2011) Tra cứu trên Google “Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Đông Bình Thuận” thì phải nói là thông tin về ĐBQH Nguyễn Văn Đông không có gì, ngoài lý lịch trích ngang đơn giản trên website Đại biểu Quốc hội (dbqh.na.gov.vn) xem Hình 1.1, 1.2 Ông Nguyễn Văn Đông thuộc đơn vị bầu cử gồm thị xã La Gi, huyện Đức Linh, huyện Tánh Linh, ngoài thông tin ông là “người Quảng Ngãi” ra thì quá trình Nguyễn Văn Đông tranh cử ĐBQH như thế nào? không ai biết. Suốt cả một nhiệm kỳ Quốc hội ông đã làm gì cho người dân Bình Thuận? ý kiến thảo luận trên nghị trường cũng không thấy! Qua hai sự kiện liên quan đến Nguyễn Văn Đông, lẽ ra truyền thông lề phải, ít ra là báo Bình Thuận phải khai thác, tìm kiếm những thông tin tốt đẹp để đưa tin, tối thiểu để đáp ứng quyền được biết của người dân cả nước: lý lịch, công lao của một anh hùng; hay lý lịch người đại biểu quốc hội đại diện hơn 350 ngàn dân La Gi, Đức Linh, Tánh Linh. Thậm chí trên chính quê hương của vị anh hùng cũng không có một dòng tin chính thức nào. Về mặt tuyên truyền, rõ ràng có những điều bất thường. Tuy nhiên, những con cừu của báo chí lề phải lại cho rằng ông Nguyễn Văn Đông “khiêm tốn, kín tiếng…”. Bài viết tiếp theo chúng tôi sẽ phân tích, lý giải toàn bộ các hiện tượng này. III. Lời kết Bài 1 Đất Bình Thuận thuộc nước Nhật Nam ngày xưa, sau là đất của Chiêm Thành; chiến tranh liên miên nên Chiêm Thành mất dần đất đai cho người Việt. Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần đánh chiếm đất Phan Lang; đến năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu lấy luôn mảnh đất còn lại đặt tên là Thuận Phủ và năm 1694 đặt là Thuận Thành trấn. Năm 1697, chúa Nguyễn hoàn thành tiến trình xâm lược và thiết lập đơn vị hành chính Bình Thuận phủ gồm 2 huyện An Phước và Hòa Đa. Bình Thuận là vùng đất cực nam trung bộ, trên đường di cư vào phương nam nhiều người đã dừng chân ở Bình Thuận; ở đây có biển, có rừng nên dễ dàng thích ứng với nhiều thành phần dân di cư tự do. Kể từ khi chúa Nguyễn xác lập đơn vị hành chính Bình Thuận thì người dân miền trung di cư vào khá đông, một phần là tránh đi thời tiết nghiệt ngã hàng năm, một phần tránh đi chết chóc do các cuộc chiến tranh, sau năm 1975 là những vùng kinh tế mới. Có thể nói Bình Thuận là nơi “đất lành chim đậu”, người dân Bình Thuận chất phát, phóng khoáng như dân miền Nam. Tính cách khoáng đạt như miền Nam của người Bình Thuận rất sòng phẳng, ai có công thì họ kính trọng, thậm chí lập miếu thờ không phân biêt người ở đâu, gốc gác như thế nào; nhưng khi bị phản bội, lừa dối thì không dễ họ tha thứ, kéo dài qua nhiều thế hệ. Hình thành nên cộng đồng dân cư, văn hóa, lịch sử của Bình Thuận có không ít cư dân gốc Quảng Ngãi, tập trung nhiều nhất ở vùng đất phía nam Bình Thuận và huyện đảo Phú Quý. Bình Thuận cũng là vùng đất chịu sự tranh giành ảnh hưởng trực tiếp của các bên đối địch nhau qua các cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và anh em nhà Tây Sơn; và sau này là giữa Cộng hòa và Cộng sản. Kinh nghiệm truyền đời của người dân di cư là không nên tin ngay vào những kẻ nắm quyền. Chính vì vậy mà người dân Bình Thuận sẽ có loạt bài về chân dung trung thực nhất của đại gia Nguyễn Văn Đông, anh hùng lao động, đại biểu quốc hội; và công lao của của tập đoàn Rạng Đông đối với vùng đất Bình Thuận để lưu truyền cho các thế hệ sau mỗi khi viếng thăm tượng đài, lăng mộ của gia đình anh hùng. Giống với những anh hùng Nguyễn Văn Bé ở Bình Dương(1.6), Hồ Xuân Mãn ở Thừa Thiên Huế (1.7), … thì anh hùng Nguyễn Văn Đông ở Bình Thuận cũng đều là “sản phẩm của thể chế” như đã nêu trong phần Giới thiệu. Trong các bài viết sau chúng tôi sẽ chứng minh quan điểm này. Tuy nhiên, để dựng nên một chân dung sản phẩm thể chế hoàn chỉnh, khách quan, trung thực thì bao nhiêu thông tin cũng vẫn chưa đủ; do đó chúng tôi sẵn sàng tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn và đối thoại với tất cả mọi người (kể cả các nhân vật có trong bài viết). Trong quá trình viết bài, có những sự kiện chúng tôi buộc phải lật lại lịch sử đau buồn của dân tộc; tìm đến những người cao niên, trong số đó có những vị là lão thành cách mạng, tham gia cộng sản từ trước 1945. Dữ liệu trong bài viết có những tư liệu mang tính cá nhân của anh Nguyễn Văn Đông, lẽ ra chúng tôi không công bố. Tuy nhiên: – Nguyễn Văn Đông là một Đại biểu quốc hội, người của công chúng đại diện cho nhân dân; – Nguyễn Văn Đông là một Anh hùng lao động, người của lịch sử; Chúng tôi cố gắng cung cấp thông tin trong chừng mực nào đó để bạn đọc tham khảo. Mọi trao đổi thông qua email: [email protected] (vì một Bình Thuận minh bạch – xin cám ơn !) _____ Ghi chú (1.1) Tàu Trung Quốc vào gần bờ biển Việt Nam, cách Phan Thiết 185 km: https://www.voatiengviet.com/a/tau-trung-quoc-vao-gan-bo-bien-viet-nam-cach-phan-thiet-185-km/5055390.html Tra Google: Hải dương 8 vào Phan Thiết (1.2) Theo tôi, so sánh với con cừu phù hợp hơn là so sánh “phóng viên như con chó” của Tổng biên tập Petro Times Nguyễn Như Phong. Dù sao con chó cũng có nhiều tố chất đáng trân trọng hơn phóng viên báo Đảng – https://petrotimes.vn/nghe-phong-vien-la-phai-nhu-con-cho-ay-434346.html (1.3) Báo chí cần đi đúng lề đường bên phải! https://dantri.com.vn/xa-hoi/bao-chi-can-di-dung-le-duong-ben-phai-1187082219.htm (1.4) Bài báo tiêu biểu năm 2005: Ông chủ doanh nghiệp tư nhân trở thành Anh hùng: https://www.tienphong.vn/kinh-te/ong-chu-doanh-nghiep-tu-nhan-tro-thanh-anh-hung-23785.tpo Bài báo tiêu biểu năm 2019: Câu chuyện thành công Nguyễn Văn Đông: Ông chủ Tập đoàn Rạng Đông cuộc đời phiêu bạc nhiều nơi để lập nghiệp lớn: https://lamnguoi.net/cau-chuyen-thanh-cong/cau-chuyen-thanh-cong-nguyen-van-dong-ong-chu-tap-doan-rang-dong-cuoc-doi-phieu-bac-nhieu-noi-de-lap-nghiep-lon-1836.html (1.5) Luật Thi đua khen thưởng: http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=1&mode=detail&document_id=80079 Điều 61, Khoản 1: Danh hiệu “Anh hùng Lao động” để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sáng tạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, phẩm chất cách mạng”. (1.6) Tra Google: “Anh hùng Nguyễn Văn Bé” (1.7) Tra Google: “Anh hùng Hồ Xuân Mãn” (Còn tiếp …) Bình Thuận Minh Bạch 1-9-2019 Bởi AdminTD - 01/09/2019 Link: https://baotiengdan.com/2019/09/01/chan-dung-anh-hung-dai-bieu-quoc-hoi/ - Bài 1: https://www.minds.com/newsfeed/1015867099847045120?referrer=HoangVanLam - Bài 2: https://www.minds.com/newsfeed/1015867522765373440?referrer=HoangVanLam - Bài 3: https://www.minds.com/newsfeed/1016510756642373632?referrer=HoangVanLam - Bài 4: https://www.minds.com/newsfeed/1018631938132463616?referrer=HoangVanLam - Bài 5: https://www.minds.com/newsfeed/1018632509991657472?referrer=HoangVanLam - Bài 6: https://www.minds.com/newsfeed/1019566725942181888?referrer=HoangVanLam - Bài 7: https://www.minds.com/newsfeed/1020646461764562944?referrer=HoangVanLam
2Upvotes

More from HoangVanLam

Dưới đầu đề “Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập”, bài này được nhà văn Phùng Quán viết cách đây đúng một năm. Tác giả đã gửi ngay cho báo Văn Nghệ, nhưng cho đến đến nay vẫn chưa thấy đăng. Diễn Đàn công bố tài liệu này, trước hết vì giá trị văn học của một bài kí thống thiết. Đó cũng là một chứng từ lịch sử quan trọng về ngày Tuyên ngôn Độc Lập 2.9.1945. Tài liệu này còn mang một ý nghĩa sâu sắc: Nguyễn Hữu Đang (sinh năm 1912) được coi là người đứng đầu phong trào Nhân văn-Giai phẩm, còn Phùng Quán là thành viên trẻ tuổi nhất của phong trào này. Cả hai đã kiên quyết không chịu “đấm ngực nhận tội” và càng không chịu tố cáo người khác. Chính vì vậy mà hai ông đã bị đàn áp nặng nề. Đặc biệt ông Nguyễn Hữu Đang đã bị biệt giam 15 năm ở Hà Giang (từ năm 1958 đến 1973 – có lẽ ông là một trong vài ba người trên trái đất này hồi đó không biết có cuộc chiến tranh Việt-Mĩ), rồi bị đưa về quê nhà Thái Bình an trí gần 20 năm trời. Từ đầu năm 1993, ông đã trở về sống ở Hà Nội, được trả lương hưu cán bộ bậc 5, nhưng vẫn chưa có nhà ở. Bạn bè ông đang yêu cầu chính quyền cấp nhà, bằng không họ sẽ vận động đồng bào và kiều bào đóng góp mua nhà cho ông. Diễn Đàn (số 25, tháng 12.1993) Dạ thưa Giáo sư Tiến sĩ Đình Quang, Thứ trưởng Bộ văn hoá Thông tin, cùng độc giả báo Văn Nghệ, Mới đây tôi được đọc bài điếu văn đầy trang trọng và xúc động của Giáo sư đăng trên tuần báo Văn Nghệ, đọc tại lễ truy điệu của nhà điện ảnh lão thành Phạm Văn Khoa. Trong bài điếu văn có một chi tiết về thành tích hoạt động của nhà điện ảnh quá cố mà tôi đặc biệt quan tâm: “Rồi lại chính anh (Phạm Văn Khoa) dựng bục, kết hoa cho Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập, chỉ trong một ngày đêm vội vã”. Thưa Giáo sư Tiến sĩ Đình Quang, qua lời điếu văn tôi có cảm tưởng việc dựng Lễ đài Độc lập 2.9.1945 gần giống việc dựng một cái chòi thông tin hoặc một cái sân khấu ngoài trời.... Nhân sự việc này tôi muốn kể hầu Giáo sư và độc giả tuần báo Văn Nghệ một câu chuyện, mục đích là để mua vui vào dịp đầu xuân năm Dậu, năm trùng phùng với năm xảy ra sự kiện mà tôi sắp kể sau đây, năm Ất Dậu 1945. Tôi là người viết văn nhưng lại đặc biệt say mê nghệ thuật kiến trúc. Đầu năm 1990, Đại hội kiến trúc sư toàn quốc, tôi có gửi một bức điện 300 chữ, chào mừng Đại hội. Mở đầu bức điện văn, tôi viết: “Nếu đất nước xây dựng một Đền đài Nghệ thuật, tôi xin được làm thủ từ. Ngày Lễ hội, tôi xin được trải chiếu để văn nghệ sĩ ngồi. Chiếu một tôi dành riêng cho các kiến trúc sư. Vì các anh chị là những người trước tiên đem lại vinh quang, niềm tự hào hoặc ô nhục cho xứ sở, bằng chính các tác phẩm kiến trúc của mình...”. (Ở nhà tôi, ngoài những) [1] Kim tự tháp, Vạn lí trường thành, Đền Ăngco, Chùa Vàng Miến Điện, Cố cung, Tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn... tôi có chừng vài chục tấm hình cắt ra từ các báo như Nhân Dân, Quân Đội, Lao Động, Hà Nội Mới... chụp cảnh Lễ đài Độc lập với tổng thể vườn hoa Ba Đình trong ngày Mồng hai tháng Chín năm Một nghìn chín trăm bốn lăm. Mỗi lần ngắm nhìn cái công trình kiến trúc mỏng mảnh được xây dựng bằng gỗ, ván, đinh, vải; được thiết kế và thi công trong vòng 48 giờ - nếu chậm lại một giờ là hỏng - rồi sau đó biến mất khỏi mặt đất như một lâu đài trong cổ tích, cặp mắt mờ đục của người lính già tôi bao giờ cũng cay lệ. Lòng tôi dâng trào biết bao niềm cảm xúc và suy tưởng miên man ... về Tổ quốc và Nhân dân, về Cách mạng và Khởi nghĩa, về máu xương của lớp lớp anh hùng hào kiệt đã thấm đẫm giang sơn kể từ khi trên mặt đất xứ sở Việt Nam xuất hiện công trình kiến trúc mỏng manh này. Nó biến khỏi mặt đất, nhưng tầm vóc, hình dáng cùng với tổng chể kiến trúc của nó, đã tạc khắc đời đời vào kí ức của cả dân tộc... Ba Đình nắng thu vàng rực rỡ, một biển người vừa bước từ đêm dài trăm năm nô lệ ra bình minh Độc lập Tự do, cờ hoa trong tay và câu hát trên môi... Người Hiệp sĩ vĩ đại của Nhân dân và hai triệu người chết đói, bước vào tuổi năm mươi lăm, râu đen, mắt sáng, lễ phục kaki... đứng trên lễ đài, mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” bất hủ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng...” Ai có thể tái tạo công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập cùng với tổng thể kì vĩ đó? Không một ai! Kể cả thánh thần... Theo ngu ý của tôi, Lễ đài Độc lập là cái cột mốc giữa đêm dài trăm năm nô lệ và bình minh của Độc lập Tự do của cả dân tộc. Kể từ khi trên mặt cỏ nắng Ba Đình mọc lên cái cột mốc này, số phận của cả dân tộc đã thay đổi, và số phận nhỏ bé, hèn mọn của cả thằng tôi cũng đã thay đổi. Từ một đứa trẻ chăn trâu mù chữ (... tôi đã trở thành) một nhà văn... Cũng từ cái mốc kiến trúc mỏng manh này, cả dân tộc đã xuất phát, bước vào cuộc trường chinh sáng láng nhất, lâu dài nhất và dữ dội nhất của thế kỉ, với gánh nặng lịch sử trên vai: “Ta vì ta ba chục triệu người/ Cũng vì ba ngàn triệu trên đời” [2] . Ngắm nhìn một công trình kiến trúc như vậy, những người lính già dãi dầu chiến trận chúng tôi, làm sao không ứa lệ tự hào? * Vậy ai là tác giả cụ thể công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập? Từ mấy chục năm nay, tôi luôn bị thôi thúc bởi niềm mong ước tìm hiểu cho ra. Nhưng cái khó bó cái khôn, và trong điều kiện và hoàn cảnh trắc trở của đời mình, tôi không sao thực hiện nổi niềm mong ước đó. Thế rồi cách đây ba năm, tôi được một người bạn tặng tôi những tư liệu có liên quan đến sự kiện lịch sử mồng 2 tháng 9.1945 anh vừa tìm thấy trong Thư viện Quốc gia, Thư viện Bảo tàng Lịch sử, Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt nam, và kho Lưu trữ Quốc gia. Trong số những bản sao chụp, có mấy tư liệu tôi đặc biệt chú ý: Thư của Bộ tuyên truyền có tiêu đề VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ đề ngày 31.8.1945 gửi Thị trưởng Hà nội, về việc tổ chức Ngày Độc lập (Đây là bản chính được đánh máy bằng giấy than đen trên giấy trắng, khổ rộng 130 mm X 210 mm, đóng dấu tròn với dòng chữ “Ngày Độc lập” và C.P.C.H.D.C. vòng quanh con dấu, một ngôi sao năm cánh ở giữa, nổi lên dòng chữ BAN TỔ CHỨC). Nội dung thư: „Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội, Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Lâm thời sẽ tổ chức ngày 2.9.1945 một “Ngày Độc lập”. Muốn cho ngày ấy có một tính cách thiêng liêng, Ban tổ chức chúng tôi yêu cầu Ngài hạ lệnh cho các chùa chiền, nhà thờ cho mở cửa, quét tước sạch sẽ và đốt trầm hương suốt ngày hôm ấy để mừng Ngày Độc lập. Kính thư, Nguyễn Hữu Đang” Một thư khác của Ban Tổ chức “Ngày Độc lập” thuộc Bộ Thông tin và Tuyên truyền, đề ngày 31.8.1945. Hình thức và con dấu như trên. Nội dung thư: „Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội, Nhân “Ngày Độc lập”, chúng tôi yêu cầu Ngài cho treo cờ ở vườn hoa Ba Đình và hai bên những phố lân cận. Còn về lễ chào Quốc kỳ, chúng tôi nhờ Ngài cho sửa soạn cho chúng tôi một chiếc cột cao 12 thước tây đủ cả giây và bánh xe (poulie); sẽ có chỉ thị về chỗ dựng cột cho phu toà Thị chính. Kính thư, Nguyễn Hữu Đang” Một thư khác, hình thức, tiêu đề và con dấu giống hai bức thư trên, với nội dung: „Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội, Muốn cho Ngày Độc lập tổ chức vào ngày 2.9.1945 tới đây được hoàn hảo, chúng tôi yêu cầu Ngài thông báo ngay cho các Phố trưởng để các ông ấy báo tin cho các nhà trong khu vực mình biết rằng Cụ nào trong nam giới hay nữ giới muốn đi dự lễ ấy sẽ đến họp ở Hội quán Khai trí hồi 13 giờ trước khi đi lên vườn hoa sau Sở tài chính. Kính thư, Nguyễn Hữu Đang” Sau khi đọc kỹ những tư liệu trên, tôi suy luận: ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban tổ chức Ngày Độc lập, vậy chắc ông phải biết ai là tác giả công trình kiến trúc Lễ đài. Cần phải tìm gặp ông để hỏi cho ra. * Anh Nguyễn Hữu Đang thì tôi được biết mặt từ mấy chục năm trước, nhưng rất ít khi được chuyện trò với anh. Mỗi lần tôi được anh hỏi chuyện, tôi bối rối, sướng mê nguời, đầu không khiến mà chân cứ rụt về tư thế đứng nghiêm, như ngày còn làm trinh sát mỗi lần được Chính uỷ Sư đoàn hỏi chuyện. Tôi nghĩ bụng: Tôi là cái thá gì mà được một người như Nguyễn Hữu Đang hỏi chuyện? Nguyễn Hữu Đang, người tham gia hoạt động cách mạng từ khi tôi chưa đẻ; nhà hoạt động báo chí công khai của Đảng cùng thời với Trường Chinh, Trần Huy Liệu; một trong những người tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Hội Truyền bá Quốc ngữ cùng thời với Phan Thanh, cụ Nguyễn Văn Tố. Một trong những người sáng lập và tổ chức Hội Văn hoá Cứu quốc cùng với Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi. Và cuối cùng là Trưởng ban Tổ chức ngày Đại lễ của Đất nước: 2-9-1945. Cách đây khoảng mười lăm năm, anh từ cao nguyên Hà Giang trở về, tá túc tại quê nhà. Hàng năm vào dịp giáp Tết, lại thấy anh đáo lên Hà Nội trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô (cũ). Anh mang đến cho mấy bạn cũ mỗi người một cân gạo nếp. Một lần tôi cũng được anh cho một cân. Tôi cảm động và ngạc nhiên hỏi anh: “Anh kiếm đâu ra gạo nếp mà cho chúng em thế?”. Anh cười: “Mình sống ở nông thôn cũng phong lưu ra phết. Không những có gạo nếp biếu bạn, lại còn có cả thóc và rơm cho nông dân vay”. - “Hiện nay anh đang làm gì ở dưới đó?”. “Mình nghiên cứu Lão Trang và dịch lại cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô qua bản tiếng Pháp. Đối chiếu thấy bản dịch đã in sai nhiều quá”[3] . Hai năm trở lại đây không thấy anh lên Hà Nội nữa. Mấy anh em quen cũ chúng tôi hỏi nhau: “Không biết anh Đang có gặp chuyện gì trắc trở dưới đó không?” Nỗi lo lắng này thường xuyên ám ảnh tôi. Nhân thể tôi muốn tìm hiểu về công trình Lễ đài Độc lập, năm đó tôi nhất quyết phải về thăm anh, mặc dầu đã gần giáp Tết. Tôi nói khó với vợ: “Em bớt cho anh một phần lương hưu tháng này; lấy tiền tàu xe, ăn đường, về Thái Bình tìm thăm anh Đang...” “Nhưng tết nhất đến nơi rồi, chờ ra giêng anh đi có được không?”. “Anh bỗng nhiên thấy nóng ruột quá... đợi đến ra giêng e chậm mất. Anh Đang đã gần cái tuổi tám mươi, mà lại một thân một mình...”. “Anh có biết địa chỉ của anh Đang không?”. “Anh chỉ biết anh ấy ở Thái Bình, địa chỉ cụ thể thì không biết”. “Cả cái tỉnh Thái Bình rộng mênh mông với hơn hai triệu dân, không có địa chỉ cụ thể làm sao anh tìm được?”. “Trời đất! Một người như anh Nguyễn Hữu Đang thì anh tin rằng về dưới đó hỏi đứa con nít nó cũng biết”. Vợ tôi đành trao cho tôi nửa số tiền lương hưu tháng cuối năm vừa lĩnh, với vẻ mặt nhẫn nhịn của người vợ phải trao cả một nửa sản nghiệp cho chồng tiêu hoang vào một việc không đâu! Tôi vội nhét mấy tờ giấy bạc vào túi, nhảy lên xe đạp, cắm đầu đạp thẳng ra ga vì sợ vợ thay đổi ý kiến. Vừa đi tàu, vừa ô-tô, xe đạp... sáng 26 Tết, tôi có mặt tại thị xã Thái Bình. Để đỡ bớt thì giờ tìm kiếm, tôi hỏi đường đến Sở văn hoá và Hội văn nghệ tỉnh, hỏi địa chỉ của anh. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy nhiều anh chị em cán bộ ở hai cơ quan này không biết Nguyễn Hữu Đang là ai. Có vài người biết nhưng lại rất lơ mơ: “Hình như ông ta ở Quỳnh Phụ, Kiến Xương hay Tiền Hải gì đó...”. Ở Hội văn nghệ tỉnh, tôi làm quen với một nhà thơ trẻ. Khi biết rõ ý định của tôi, anh hăng hái nói: “Cháu sẽ đưa chú ra cái quán thịt chó, ở đó thường có mấy anh cán bộ về hưu, (chắc sẽ hỏi ra”. Đến quán thịt chó, tôi đành móc) số tiền còm cõi trong túi, gọi một đĩa thịt chó luộc và hai chén rượu cho phải phép. Đợi chừng nửa tiếng, có một người đứng tuổi để chiếc xe cúptrước cửa, đi vào quán. Nhà thơ trẻ bật dậy nói với tôi: “Ông này ở cơ quan an ninh tỉnh, hỏi chắc biết”. Tôi vội níu tay anh lại, dặn nhỏ: “Cậu đừng giới thiệu mình là ai, sẽ rách việc”. “Biết rồi, biết rồi, chú không phải dặn”. Anh bạn trẻ đi đến gặp anh ta, nói cái gì đó, và chỉ tay về phía tôi. Anh cán bộ an ninh tươi cười bắt tay tôi, ngồi đối diện và niềm nở hỏi: “Xin lỗi cụ, năm nay cụ hưởng thọ bao nhiêu tuổi ạ?”. Tôi đoán chắc anh ta thấy tôi ăn vận nhếch nhác – áo quần bà ba nâu, chân dép lốp – râu tóc bạc trắng, nên hỏi vậy. Tôi liền nói phứa lên: “Cám ơn đồng chí – tôi cười – cũng thất thập cổ lai hi [4] rồi đồng chí ạ”. “Trước cụ công tác ở đâu ạ?”. “Tôi làm thường trực cho một cơ quan thương nghiệp trên Hà Nội... về hưu đã gần chục năm rồi”. “Cụ là thế nào với ông Nguyễn Hữu Đang ạ?”. “Tôi có quen biết gì ông ta đâu. Thậm chí cũng chưa biết mặt. Chẳng là ở tổ hưu của tôi có một cụ nghe đâu hồi bí mật cùng hoạt động với ông ta. Biết tin tôi về thăm đứa cháu họ công tác giáo viên ở Quỳnh Côi, ông cụ gửi tôi mười ngàn bạc để biếu ông ấy, mà giao hẹn phải đưa tận tay. Tôi tưởng ông ấy ở thị xã, hỏi loanh quanh mãi không ai biết...”. Anh cán bộ cười: “Ông ấy đâu có ở thị xã. Hiện ông ấy đang ở thôn Trà Vỵ, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương... cách đây gần hai chục cây số. Ngược gió này mà cụ đạp xe về đó cũng vất vả đấy...”. Thấy tôi chăm chú lắng nghe, anh cán bộ trở nên cởi mở: “Nói để cụ biết, trước kia cái ông Đang ấy cũng là người hoạt động cách mạng có tên tuổi... Nhưng rồi ông ta giở chứng, làm báo làm văn chống đối Đảng và Nhà nước, bị xử phạt 15 năm tù ngồi, đưa lên giam trên trại tù Hà Giang. Mãn hạn tù, ông ta xin về cư trú tại quê quán. Tuy vậy (cách đây mấy năm ông Đang này tự tiện đi) sang Nam Định không có giấy đi đường, đến nhà một đối tượng mà công an đang theo dõi. Công an hai tỉnh liền phối hợp, hỏi giấy tờ đi đường của ông ta, rồi bắt giam giữ bốn tháng ở nhà lao hai tỉnh để cảnh cáo, và tổ chức khám nhà. Sau đó thả cho về...”. Tôi tỏ ý sợ hãi gãi đầu gãi tai: “Chà... biết rắc rối thế này thì tôi chẳng gặp ông ấy nữa... đem tiền về trả lại thôi...”. Anh cán bộ xuê xoa: “Không sao đâu cụ ạ, chính sách của ta bây giờ là đổi mới tư duy. Nghe đâu trên cũng đang sửa soạn cho ông ấy được hưởng lương hưu. Nếu cụ muốn về thăm ông ấy, cứ việc về. Tôi sẽ chỉ đường cho cụ”. Anh cán bộ chấm ngón tay vào li rượu, vẽ lên mặt bàn, chỉ vẽ cho tôi rất cặn kẽ con đường từ thị xã về chỗ anh Đang tá túc. Tôi đứng lên rối rít cảm ơn anh... * Con đường đá mười mấy cây số chi chít ổ gà. Gió cuối đông buốt như kim châm táp thẳng vào mặt. Nhưng vừa đạp xe tôi vừa nghĩ ngợi miên man về sự thăng trầm của những kiếp người tình nguyện dấn thân vì nghĩa lớn, nên con đường cũng như bớt xa... Đến chỗ ngã ba rẽ vào trường phổ thông cấp I, II xã Vũ Công – Nơi anh Đang tá túc – tôi vào cái quán bên đường uống li rượu cho ấm bụng. Ông cụ chủ quán khi biết tôi từ Hà Nội về tìm thăm anh Đang, rót rượu tràn li và nói: “Ông ấy thỉnh thoảng vẫn ngang qua đấy, tôi đều mời vào uống nước. Ông ấy tằn tiện khét tiếng cái xã Vũ Công này. Mới cách đây dăm hôm, ông ấy đèo sau xe cái rỏ tre ràng buộc rất kỹ. Ông ấy kể với tôi tối qua bắt được con rắn gì dữ lắm, phun phè phè bò vào nhà mình. Định làm thịt ăn nhưng tiếc, chở lên chợ bán cho một tay buôn rắn độc, kiếm lấy mấy nghìn mua mấy lạng mỡ lá...”. Tôi bật phì cười: “Ông ấy bây giờ lại thêm cái tài bắt rắn độc, mà mất công đạp xe mini những mười mấy cây số để đổi lấy mấy lạng mỡ lá... Vui thật! Tôi có người bạn làm thơ tên là Tuân Nguyễn, chết lâu rồi, làm câu thơ nghe thật vô nghĩa, nhưng cứ bất chợt hiện ra trong trí nhớ tôi: Cuộc đời vui quá không buồn được!”. Ông chủ quán rót thêm li rượu nữa, giọng hào hiệp: “Li này tôi đãi cụ!... Mà khổ, ông ấy có bán được đâu. Chiều tối ông ấy đạp xe về phàn nàn: nó không chịu mua, nó bảo loại rắn này không nằm trong bộ tam xà!”. Tôi cười ngất. Anh Đang ở gian đầu hồi cái nhà bếp của khu tập thể giáo viên, trước mặt là ao cá Bác Hồ của xã. Đứng bên kia bờ ao, một cô giáo chỉ cho tôi: “Bác ấy đang ngồi ở bậc cầu ao kia kìa! Đang cọ rửa cái gì mà chăm chú thế không biết...”. Tôi dắt xe đạp qua sân trường, vòng ra sát sau lưng anh. Anh đang dùng nắm rơm cọ rửa những viên gạch vỡ đôi, xếp thành chồng cao cạnh chỗ ngồi. Tôi đứng lặng nhìn anh. Đầu anh đội cái mũ cối méo mó, khoác cái ruột áo bông thủng be bét, quần lao động màu cháo lòng, hai ống chân ôm vòng hai dây cao su đen nom như vòng cùm sắt; chắc hẳn để nhét hai ống quần vào đó chống rét, lưng anh khòng hình chữ C viết nghiêng... Tôi chợt nhớ cách đây rất lâu, tôi được nghe những người cùng thời với anh kể. Hồi Mặt trận Bình dân, Nguyễn Hữu Đang là cán bộ Đảng được cử ra hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như công tử loại một của Hà thành, thắt cà vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện, tuyên truyền cách mạng... Mỗi lần cách mạng cần tiền để hoạt động, Nguyễn Hữu Đang có thể đến bất kì một nhà tư sản Hà Nội nào giàu có, vay vàng, tiền. Mà những người này trao vàng, tiền cho anh đều không đòi hỏi một thứ giấy tờ gì, vì họ tin sâu sắc rằng trao vàng, tiền cho anh là trao tận tay cho cách mạng... Và bây giờ, anh ngồi đó, gần tám chục tuổi, không vợ, không con, không cửa không nhà, lưng khòng chữ C viết nghiêng, tỉ mỉ cọ rửa những viên gạch vỡ - chẳng hiểu để làm gì – như người bõ già trong truyện „Hương cuội“ của Nguyễn Tuân cọ rửa những viên cuội trắng để tẩm kẹo mạch nha vào dịp tất niên... Miên man nghĩ như vậy và tôi bật phì cười... “Anh Đang!”, tôi nghẹn ngào gọi. Anh quay lại, chớp chớp mắt, răng vàng sỉn, cùn mòn gần nửa vì năm tháng... “Phùng Quán! Chú về đây từ lúc nào thế?”. Hai anh em chúng tôi ôm chặt nhau giữa bậc cầu ao. Và cả hai gương mặt già nua phút chốc đẫm lệ... * Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng chỉ khoảng 5 mét vuông, chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. Sau đó tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc: Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm sầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu – trâu gõ mõ, chó leo thang – anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xe. Tác dụng thứ hai, quan trọng không kém... Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ cô độc. Chính giữa gian chái kê cái tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khoá một chiếc khoá lớn như khoá nhà kho. Trên nóc tủ, xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà Nội người ta thường quẳng vào các đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được thống cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng, và một xấp quần áo cũ làm gối.... Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường. Anh nói, giọng Lão Trang: “Một cái bàn bốn chân là một con vật. Khi nó chỉ còn hai chân nó là một con người”. Trên mặt bàn xếp kín các chai lọ, vỏ đồ hộp, hai (... mất nửa dòng...) vài con dao làm bằng mẩu (... mất một dòng...) thuyết minh viên giới thiệu hiện vật trong bảo tàng nghệ thuật:“ Nó là loại gạch nung rất già, gần đạt tới tiêu chuẩn của sành sứ cổ, sức nặng và độ bền của nó làm cho các loại chuột, mối, dán phải vị nể”. Bây giờ tôi mới hiểu anh cọ rửa những viên gạch vỡ để làm gì. Dưới gầm bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nứt, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh còng queo, mẩu dây thép han rỉ... Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lớp bụi tro... Lúc tôi bước vào, gian buồng mờ mịt khói. Anh giải thích: “Giờ này các cô giáo nấu ăn. Bếp tập thể ở sát bên kia tường. Tôi đã trộn rơm với bùn trát những khe hở sát mái, nhưng khói vẫn cứ lọt sang – anh cười - Chịu khói một chút nhưng cũng có cái lợi. Thỉnh thoảng lại được ngửi mùi xào nấu lẫn với khói, cái mũi được bồi dưỡng. Trong việc dở nào cũng có việc hay, và ngược lại”. “Để em đạp xe ra chợ mua cái gì về ăn”. “Thôi khỏi cần. Chú về chơi hôm nay là rất gặp may. Sáng nay tôi vừa chế biến được một mẻ thức ăn ngon vô địch. Chú nếm rồi sẽ biết. Cơm cũng có sẵn rồi. Tôi mới nấu lúc sáng, ủ vào lồng ủ rơm, còn nóng nguyên. À, tôi lại có cả rượu cho chú, rượu cam hẳn hoi, quà của Hội Nhà văn gửi biếu vào dịp Tết năm ngoái... Tôi chỉ mới mời mấy thầy giáo mấy chén, còn đủ cho chú say sưa suốt mấy ngày ở chơi”. Anh xăng xái lấy chùm chìa khoá buộc chung với chùm lục lạc, mở khoá tủ tìm chai rượu. Tôi liếc nhìn vào mấy ngăn tủ. Những xấp quần áo cũ nát để lẫn với những chồng báo, giấy má, sách... ố vàng. Ngăn dưới cùng để rất nhiều chai lọ, vỏ đồ hộp, vỏ lon bia, và nhiều chồng các...
18 views ·
LỪA DỐI CẤP NHÀ NƯỚC PHẠM ĐÌNH TRỌNG 1. Tán phượng bên ao cá đã lập lòe đỏ lửa. Tháng năm, tháng có ngày sinh lại đến. Năm sinh nhật có số không (0) ở cuối được coi là năm chẵn, số năm (5) là nửa chẵn. Tháng năm năm nay, 1965, bước vào tuổi bảy nhăm, sinh nhật nửa chẵn. Cũng là một dấu mốc cuộc đời. Dấu mốc của năm sinh nhật nửa chẵn này sẽ được ghi nhận là năm viết di chúc. Tháng năm, Hà Nội đã vào hè nhưng giữa ngàn xanh Hồ Tây, Bách Thảo, Ba Đình, trong ngôi nhà sàn bốn hướng đều mở đón gió mang hương lúa hương ngô từ bờ bãi sông Hồng, mang hơi nước mát lạnh từ Hồ Tây mênh mang trong lành làm cho gian phòng làm việc trên nhà sàn lúc nào cũng có không khí dịu dàng, mát mẻ của mùa xuân. Dù bề bộn những nghĩ suy nhưng cõi lòng thật yên tĩnh, sáng ngày 15 tháng năm, năm 1965, Hồ Chí Minh ngồi vào bàn làm việc đặt bút viết chữ đầu tiên bản di chúc. Bản di chúc được khởi viết từ ngày đó đến tận tháng năm, năm 1969, dòng dã bốn năm trời. Giập. Xóa. Chữa đi chữa lại đến nát cả trang viết. Chữ xanh chữ đỏ đè lên nhau. Điều đó xác nhận sự cân nhắc chi li, thận trọng của một người từng trải ở tuổi thừa chín chắn. Mỗi chữ được lựa chọn cuối cùng để được ở lại mãi mãi với bản di chúc là điều gan ruột của người thầy cộng sản Việt Nam gửi gắm vào lứa học trò nối nghiệp. Bản thảo di chúc cho thấy sự đắn đo, thận trọng, kĩ càng của người viết. Câu chữ điềm đạm, bộc bạch của di chúc cho thấy Hồ Chí Minh chỉ đối mặt, trải lòng với trang di chúc khi cõi lòng thật thanh thản, được sống thật với mình. Thanh thản và sống thật với mình, Hồ Chí Minh thú nhận rằng ông chỉ là “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Thể xác ông là người Việt Nam nhưng hồn ông đã thuộc về quốc tế cộng sản khi ông viết: “tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.” Không còn hồn Việt Nam. Không biết đến Vua Hùng dựng nước. Không biết đến những bậc tiên liệt Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung đã viết lên trang sử hào hùng Việt Nam, tạo lên khí phách Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ biết có ông tổ thiết kế ra lí thuyết cộng sản và ông tổ thi công bản vẽ xã hội cộng sản, ông K. Mac và ông Lê nin, hai người đã đẩy loài người vào một thế kỉ đại loạn đấu tranh giai cấp với hơn trăm triệu mạng người bị thí bỏ. Thú nhận rằng da Việt Nam, hồn quốc tế cộng sản là suy nghỉ tỉnh táo, chín chắn, là lựa chọn khôn ngoan của Hồ Chí Minh. Nếu nhận là dòng giống Lạc Việt, là con cháu Vua Hùng, khi chết đi sẽ về gặp hồn thiêng Nguyễn Trãi, Quang Trung thì Hồ Chí Minh sẽ phải rập đầu nhận tội trước các bậc tiên liệt về tội tày trời mang mớ lí luận cộng sản mất tính người, mang học thuyết bạo lực đấu tranh giai cấp đẫm máu về tàn phá tan hoang đất nước Việt Nam, giết hại giống nòi Việt Nam, chia rẽ, li tán dân tộc Việt Nam. Là người của quốc tế cộng sản, đứng ngoài dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhẹ nhõm trách nhiệm với dân Việt Nam, vô can với đau thương của dân Việt Nam, lại là người có công lớn với phong trào cộng sản quốc tế khi ông đã đưa đất nước Việt Nam hiền hòa, bình yên vào lò lửa cách mạng vô sản, vào biến máu đấu tranh giai cấp, đưa dân tộc Việt Nam đùm bọc yêu thương vào hận thù li tán, đưa máu và nước mắt của đấu tranh giai cấp từ trời Âu đến góc khuất châu Á để biến nhà nước Việt Nam nửa phong kiến, nửa thuộc địa thành nhà nước cộng sản đầu tiên ở Đông Nam Á. 2. Thấu hiểu kiếp người. Dù vĩ đại đến đâu, dù lúc sống có làm nghiêng ngả cả thế giới, con người cũng chỉ là sản phẩm của tự nhiên, phải chấp nhận qui luật luân hồi của tự nhiên. Từ tự nhiên, từ cát bụi mà có mặt trong cuộc đời. Khi cuộc đời kết thúc, con người phải được trở về cát bụi, về với tự nhiên. Cọp chết để da. Người chết để tiếng. Chỉ có con vật mới để lại xương, thịt, lông, da cho đời. Con người khác con vật ở chỗ, con vật chỉ tồn tại bằng thể xác. Con người tồn tại bằng sự nghiệp, bằng cái danh. “Đã sinh ra ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ). Dù chọc trời khuấy nước nhưng chết đi phải để lại cái xác, phải để lại xương, thịt, lông, da cho đời thì vẫn chỉ là con vật. Con người phải để lại cái danh. Dù danh lành hay danh dữ, con người phải có danh, phải có sự nghiệp. Thể xác chỉ là con vật. Cái danh mới là con người. Thanh thản chấp nhận sự định danh con người của tự nhiên, Hồ Chí Minh tha thiết đòi hỏi lứa học trò, lứa đồng chí cộng sản kế cận khi ông kết thúc cuộc đời cho ông được trở về tự nhiên, về tro bụi trong vũ trụ: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn. Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.” Cụ thể, chi li đến như vậy là đến cuối đời khi phải gói ghém, tổng kết cuộc đời, Hồ Chí Minh đã có được sự thấu đáo triết lí nhân sinh để có lựa chọn khôn ngoan, thuận tự nhiên, hợp đạo lí, đúng phong tục tập quán con người và hợp lòng dân. Khi Hồ Chí Minh chỉ vào ảnh K. Mac, ảnh Lê nin và nói với đám cận thần tháp tùng rằng bác có thể sai chứ những ông này không thể sai là khi Hồ Chí Minh đang bị bùa mê đấu tranh giai cấp làm cho mê muội, lú lẫn. Nhưng khi Hồ Chí Minh viết Tôi yêu cầu thi hài của tôi được đốt đi là đến cuối đời, đủ từng trải, Hồ Chí Minh đã thoát khỏi cơn say máu đấu tranh giai cấp, đã thoát cơn lú lẫn cộng sản, là khi Hồ Chí Minh sáng suốt nhất. Lựa chọn đốt xác viết trong di chúc là lựa chọn sáng suốt hiếm hoi trong cuộc đời đầy biến cố, nhiều sai lầm của Hồ Chí Minh. Tôi yêu cầu thi hài của tôi được đốt đi. Yêu cầu chứ không phải đề nghị. Đề nghị là đề đạt, mong mỏi, bị động chờ đợi để được đáp ứng. Yêu cầu là chủ động ra mệnh lệnh công vụ của người chỉ huy với kẻ thừa hành và kẻ thừa hành phải chấp hành, phải thực thi tắp lự, không được phép do dự, chần chừ. Không thực hiện mệnh lệnh cấp trên, tổ chức đó đã hư hỏng. Yêu cầu còn là mệnh lệnh của trái tim, là ràng buộc của tình cảm, là đòi hỏi đúng đắn, hợp đạo lí của người bề trên với kẻ dưới, là gửi gắm của cha ông với con cháu. Kẻ dưới phải răm rắp vâng lời của người bề trên, không được cãi, không được làm trái mới là gia đình có nề nếp gia phong, có giáo dục. Nhưng Hồ Chí Minh vừa trút hơi thở cuối cùng, những kẻ tự nhận là học trò, là đồng chí cộng sản kế cận của ông cũng là những thủ lĩnh cộng sản đương nhiệm, nắm toàn bộ quyền lực của triều đình cộng sản liền mang di chúc của Hồ Chí Minh ra xem xét và ra nghị quyết thực hiện trái những điều di chúc yêu cầu. Để lừa dối dân, những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm liền giấu nhẹm những điều di chúc Hồ Chí Minh yêu cầu nhưng bộ sậu lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm không thực hiện hoặc thực hiện trái di chúc. Từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc chung đến việc riêng di chúc Hồ Chí Minh yêu cầu đều bị những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm phớt lờ không thực hiện hoặc thực hiện trái di chúc Việc chung: Di chúc Hồ Chí Minh yêu cầu miễn thuế nông nghiệp một năm cho nông dân. Những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm không thực hiện nên đoạn di chúc đó bị ỉm đi.. Việc riêng: Di chúc yêu cầu đốt xác. Thực hiện: Ướp xác. Cọp chết để da. Hồ Chí Minh chết cũng phải để lại thân xác. Hồ Chí Minh muốn là người, chỉ để lại cái danh, chứ không để lại cái xác như con vật. Giữ xác Hồ Chí Minh trong căn hầm lạnh lẽo cho người đời ngày ngày đến ngó nghiêng như dòng người vào viện bảo tàng tự nhiên ngó nghiêng xác con cọp, xác con chồn, con cáo nhồi bông. Đó là sự đày ải, hạ nhục vô cùng độc địa, tán ác với Hồ Chí Minh. 3. Bác bỏ, làm trái những gửi gắm gan ruột tha thiết, chính đáng và đúng đắn của di chúc Hồ Chí Minh rồi ngay trong tháng chín, 1969, ngay trong tháng Hồ Chí minh qua đời, ngay sau khi vừa ra nghị quyết bác bỏ, làm trái di chúc Hồ Chí Minh, ngày 29-9-1969 Bộ Chính trị đảng Lao Động Việt Nam, những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đương nhiệm lại ban hành Chỉ thị số 173 - CT/TW về đợt sinh hoạt chính trị “Học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Từ đó đến nay, suốt 50 năm, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam liên tục ban hành hàng chục nghị quyết, chỉ thị, hết “Học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” lại “Học tập tấm gương đại đức Hồ Chí Minh” rầm rộ, sáo rỗng và đầy dối trá ở tầm quốc gia, tốn kém hàng ngàn tỉ tiền thuế của dân. Nào hội thảo khoa học. Nào triển lãm. Nào thi đua học tập làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là sự lừa dối cấp nhà nước. Minh chứng nhục nhã không thể chối cãi cho sự lừa dối cấp nhà nước này là giải thưởng cuộc thi học tập đạo đức Hồ Chí Minh đã được cơ quan trung ương đảng trao cho tên đại bịp Hồ Xuân Mãn, kẻ không phải đảng viên, kê khai gian dối chui vào đảng leo lên đến ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy, kẻ hèn nhát cướp công người dũng cảm hi sinh để trở thành anh hùng lực lượng vũ trang. Đó là sự lừa dối cấp nhà nước. Phạm Đình Trọng 5 giờ · Link: https://www.facebook.com/kesiviet/posts/1139105776290801
18 views ·
Cảnh báo việc Việt Nam nêu số tăng GDP hào nhoáng 25,4% Bản quyền hình ảnh GETTY IMAGES Image caption - Xây dựng và phát triển hạ tầng chiếm tỉ trọng đáng kể trong GDP của Việt Nam Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế Tổng sản lượng quốc nội (GDP) là phạm trù kinh tế được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng. Nó luôn được các nhà kinh tế hoàn thiện trong quá trình áp dụng thực tế. Chính trị hoá GDP là vấn đề phức tạp. Các chính khách, hoặc bằng kỹ thuật hoặc cố ý, có thể làm sai lệch số liệu có lợi cho mục đích cầm quyền. Ngoài ra, những nhược điểm vốn có của phạm trù này, dù được chỉ ra về mặt lý thuyết và luôn được hoàn thiện trong thực tế, nhưng có vẻ tiếp tục là cơ sở thúc đẩy chính trị hoá. Đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung sang thị trường, trong đó có Việt Nam, vấn đề còn phức tạp hơn, khi GDP còn là chỉ báo cho tính chính danh của chế độ. Việt Nam đang đánh giá lại GDP, mới có kết quả sơ bộ, nhưng đã gây tranh luận nóng. Liệu tác động có thể là 'lợi bất cập hại'? Liệu có thể hạn chế việc chính trị hoá chỉ tiêu này? Tác động 'lợi bất cập hại' Mới đây, trong cuộc họp Giao ban báo chí ngày 27/8/2019, Tổng cục Thống kê cho biết quy mô GDP đánh giá lại bình quân giai đoạn 2010-2017 tăng thêm 25,4%/năm so với số liệu đã từng công bố chính thức. Nghĩa là GDP năm 2017 tăng từ 220 tỷ USD lên 275 tỷ USD. Như vậy, ước tính đến nửa đầu năm 2019, quy mô nền kinh tế của Việt Nam đã vượt con số 300 tỷ USD và GDP bình quân đầu người nhờ đó tăng lên ngưỡng 3.000 USD, thay vì 2.590 USD, năng suất lao động cũng tăng cao tương ứng với tỷ lệ tăng GDP khi số lao động không đổi. Cơ sở pháp lý của việc đánh giá lại GDP là Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Trước đó, ngày 16/8/2019 ông Tổng cục trưởng đã cho biết rằng với phương pháp tính hiện tại phù hợp với thông lệ quốc tế việc đánh giá lại quy mô GDP lần này được bổ sung thông tin từ Tổng Điều tra, chủ yếu là từ cơ quan thuế, trong đó bao quát thêm khoảng 76000 doanh nghiệp trước đây chưa được tính. Theo tôi, không nên tuyên truyền đơn giản đó là 'một việc làm bình thường', mà cần coi là lần đầu tiên 'đánh giá lại' nên cần thận trọng tính đến tác động không nhỏ và nhiều mặt khi tính toán và chính thức công bố số liệu GDP 'mới'. Trước hết, số liệu này 'kích hoạt' bệnh thành tích của nhiều lãnh đạo trung ương và địa phương, vốn đã và đang là 'dấu ấn' trong các báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng năm, nhiệm kỳ. Theo đó, GDP báo cáo của các tỉnh, thành phố luôn cao hơn bình quân cả nước trong nhiều năm, đến hiện nay chưa được khắc phục. Về mặt chuyên môn, giới chuyên gia đã lên tiếng lo ngại 'dư địa lớn hơn' của Chính phủ lớn trong điều hành chính sách, nếu bị lạm dụng có thể dẫn tới mất cân đối cho nền kinh tế. Đó là việc vay nợ có thể tăng lên trong điều kiện nợ công, nợ doanh nghiệp đang ở mức cao, khó trả và thu ngân sách hiện nay phần lớn để trả nợ, xoá nợ xấu. Chẳng hạn, nợ công hiện ở ngưỡng 58,4% GDP sẽ điều chỉnh về dưới 50%. Nếu khống chế tỷ lệ nợ bằng 60% GDP, thì dư địa sẽ là rất lớn. Việc chi tiêu thường xuyên từ ngân sách, cho hệ thống chính trị cồng kềnh, trong đó bộ máy hành chính, đang rất khó tinh giản. Ngoài ra, đầu tư công có thể được 'khuyến khích mở rộng' trong điều kiện hiệu quả còn thấp và tham nhũng chưa thể ngăn chặn. Tỷ lệ đóng góp với các tổ chức quốc tế của Việt Nam sẽ tăng lên trong khi nguồn thu không đổi… Bản quyền hình ảnh GODONG Image caption - Một thương xá ở TPHCM - các con số hào nhoáng có thể do bệnh thành tích tạo ra Sẽ chưa đầy đủ, nếu chưa tính đến 'phản ứng' của các cơ quan chức năng khi chia sẻ số liệu và tâm lý, thói quen, việc điều chỉnh sử dụng chúng trong nghiên cứu của giới chuyên môn và các địa phương. Rõ ràng việc sử dụng các số liệu này để hoạch định chính sách trung và dài hạn trong tương lai sẽ gặp khó khăn khi GDP được đánh giá lại tăng lên hơn 25%! Cán bộ lãnh đạo của bộ máy hiện hành được 'khích lệ' bởi bệnh thành tích vì sự thăng tiến và đặc quyền, đặc lợi. Tuy nhiên, nếu đặt lợi ích vì sự thịnh vượng của đất nước và nhân dân thì cải tổ nói chung và trong 'trường hợp này' nói riêng cần hướng tới lấy lại niềm tin thay vì bệnh thành tích. Bởi vậy, các khuyến nghị chủ yếu cho tình hình, như phân tích ở trên, có thể là: 1. Thứ nhất, cần đề cao vai trò độc lập của cơ quan Thống kê, không chỉ bởi vì năng lực tính toán số liệu được nâng lên tạo cơ sở niềm tin cho các hoạt động điều hành hay nghiên cứu khác, mà còn đảm bảo 'không chịu sức ép' nào từ cấp trên về việc 'bóp méo' số liệu hợp với màu sắc quyền lực chính trị. Trong điều kiện Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện, và lập pháp, tư pháp và hành pháp chỉ là các cấu thành phụ thuộc, chỉ là phân công, phân nhiệm, cũng cần có sự lựa chọn quá độ phù hợp. Chẳng hạn, cơ quan thống kê nên để trực thuộc Quốc hội, thay vì Chính phủ như hiện nay. 2. Thứ hai, Quốc hội cần được tăng cường năng lực làm luật và vai trò giám sát độc lập đối với Chính phủ trong việc thực hiện các chính sách bằng các nghị quyết về điều chỉnh các chỉ tiêu pháp lệnh hiện hành liên quan, như tỷ lệ so với GDP, để đảm bảo các cân đối vĩ mô cho nền kinh tế. Ngoài ra, cần mở rộng sự tham gia các ý của chuyên gia, các tổ chức nghiên cứu độc lập, các doanh nghiệp và các tổ chức Mặt trận hay tổ chức nước ngoài có uy tín như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế Giới. Từ khi GDP trở thành chỉ tiêu đo lường quan trọng, nó luôn được hoàn thiện bởi các nhà kinh tế vì mục tiêu ứng dụng thực tế. Họ không mệt mỏi tìm kiếm các mô hình để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Từ Mô hình D. Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng, đến Mô hình R. Solow, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1987, xác định rằng việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng và một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sản lượng cao hơn. Và, gần đây, Paul M. Romer, được thưởng giải Nobel kinh tế năm 2018, đề xuất và chứng minh ý tưởng cho rằng chính bản thân tăng trưởng sinh ra tiến bộ kĩ thuật (chứ không phải ngược lại), có nghĩa rằng nguồn gốc của tăng trưởng là 'nội sinh' và tăng trưởng phụ thuộc vào vận tốc đã đạt được . Bản quyền hình ảnh GETTY IMAGES Image caption - Các hiệp định thương mai song phương và đa phương giúp kinh tế Việt Nam cải thiện đà tăng trưởng Cần lưu ý rằng các nhà kinh tế nổi tiếng này và các nghiên cứu của họ thuộc về thế giới các nước tư bản phát triển và nền kinh tế thị trường. Các mô hình tăng trưởng, 'sâu hay nông' đều được giới thiệu trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chủ yếu ở Việt Nam. Đáng tiếc, việc vận dụng chúng trong nền kinh tế chuyển đổi sang thị trường còn để lại nhiều khoảng trống để đề xuất các kiến nghị cho việc hoạch định chính sách. Đối với Việt Nam, mức tăng trưởng GDP còn được coi là hình thức thể hiện tính chính danh của Đảng Cộng sản - chính đảng duy nhất lãnh đạo xã hội. Nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của chính quyền. Động lực của tăng trưởng kinh tế phải dựa trên bốn nhân tố là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Thể chế có vai trò quan trọng để kết hợp các nhân tố này, sự khác biệt thể chế ở mỗi quốc gia đưa đến kết quả khác nhau. Năng lực lãnh đạo yếu kém làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường vì tăng trưởng, lãng phí nguồn nhân lực vì thiếu môi trường tự do và sáng tạo như thị trường lao động, cào bằng trong phân phối làm triệt tiêu động lực, mức độ 'hấp thụ' thấp về tư bản và công nghệ do tắc nghẽn cơ sở hạ tầng, pháp lý và thiếu các nguyên tắc cho thị trường vận hành. Đó cũng chính là các nhược điểm của GDP mà lý thuyết tăng trưởng kinh tế đã chỉ ra. Việc đánh giá lại GDP ở Việt Nam đang và sẽ là đề tài nóng. Trong nền kinh tế chuyển đổi, 'tranh tối, tranh sáng' thì việc áp dụng GDP vào thực tế tiếp tục tạo ra các ý kiến khác biệt. Một trong những thách thức lớn nhất là tính công khai, minh bạch của việc lựa chọn và thực thi chính sách cải cách. Cảnh báo về việc chính trị hoá GDP cần được giới lãnh đạo và giới nghiên cứu quan tâm. PGS. TS. Phạm Quý Thọ Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ Hà Nội 1 giờ trước 03/09/2019 20:25 PM Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chính sách Công, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Việt Nam. Link: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-49566647 *************************************** Rủi ro sửa đổi GDP của Việt Nam có nguy cơ làm giảm uy tín kinh tế Link: https://asia.nikkei.com/Opinion/Vietnam-s-surprise-GDP-revision-risks-damaging-economic-credibility
21 views ·

More from HoangVanLam

Dưới đầu đề “Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập”, bài này được nhà văn Phùng Quán viết cách đây đúng một năm. Tác giả đã gửi ngay cho báo Văn Nghệ, nhưng cho đến đến nay vẫn chưa thấy đăng. Diễn Đàn công bố tài liệu này, trước hết vì giá trị văn học của một bài kí thống thiết. Đó cũng là một chứng từ lịch sử quan trọng về ngày Tuyên ngôn Độc Lập 2.9.1945. Tài liệu này còn mang một ý nghĩa sâu sắc: Nguyễn Hữu Đang (sinh năm 1912) được coi là người đứng đầu phong trào Nhân văn-Giai phẩm, còn Phùng Quán là thành viên trẻ tuổi nhất của phong trào này. Cả hai đã kiên quyết không chịu “đấm ngực nhận tội” và càng không chịu tố cáo người khác. Chính vì vậy mà hai ông đã bị đàn áp nặng nề. Đặc biệt ông Nguyễn Hữu Đang đã bị biệt giam 15 năm ở Hà Giang (từ năm 1958 đến 1973 – có lẽ ông là một trong vài ba người trên trái đất này hồi đó không biết có cuộc chiến tranh Việt-Mĩ), rồi bị đưa về quê nhà Thái Bình an trí gần 20 năm trời. Từ đầu năm 1993, ông đã trở về sống ở Hà Nội, được trả lương hưu cán bộ bậc 5, nhưng vẫn chưa có nhà ở. Bạn bè ông đang yêu cầu chính quyền cấp nhà, bằng không họ sẽ vận động đồng bào và kiều bào đóng góp mua nhà cho ông. Diễn Đàn (số 25, tháng 12.1993) Dạ thưa Giáo sư Tiến sĩ Đình Quang, Thứ trưởng Bộ văn hoá Thông tin, cùng độc giả báo Văn Nghệ, Mới đây tôi được đọc bài điếu văn đầy trang trọng và xúc động của Giáo sư đăng trên tuần báo Văn Nghệ, đọc tại lễ truy điệu của nhà điện ảnh lão thành Phạm Văn Khoa. Trong bài điếu văn có một chi tiết về thành tích hoạt động của nhà điện ảnh quá cố mà tôi đặc biệt quan tâm: “Rồi lại chính anh (Phạm Văn Khoa) dựng bục, kết hoa cho Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập, chỉ trong một ngày đêm vội vã”. Thưa Giáo sư Tiến sĩ Đình Quang, qua lời điếu văn tôi có cảm tưởng việc dựng Lễ đài Độc lập 2.9.1945 gần giống việc dựng một cái chòi thông tin hoặc một cái sân khấu ngoài trời.... Nhân sự việc này tôi muốn kể hầu Giáo sư và độc giả tuần báo Văn Nghệ một câu chuyện, mục đích là để mua vui vào dịp đầu xuân năm Dậu, năm trùng phùng với năm xảy ra sự kiện mà tôi sắp kể sau đây, năm Ất Dậu 1945. Tôi là người viết văn nhưng lại đặc biệt say mê nghệ thuật kiến trúc. Đầu năm 1990, Đại hội kiến trúc sư toàn quốc, tôi có gửi một bức điện 300 chữ, chào mừng Đại hội. Mở đầu bức điện văn, tôi viết: “Nếu đất nước xây dựng một Đền đài Nghệ thuật, tôi xin được làm thủ từ. Ngày Lễ hội, tôi xin được trải chiếu để văn nghệ sĩ ngồi. Chiếu một tôi dành riêng cho các kiến trúc sư. Vì các anh chị là những người trước tiên đem lại vinh quang, niềm tự hào hoặc ô nhục cho xứ sở, bằng chính các tác phẩm kiến trúc của mình...”. (Ở nhà tôi, ngoài những) [1] Kim tự tháp, Vạn lí trường thành, Đền Ăngco, Chùa Vàng Miến Điện, Cố cung, Tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn... tôi có chừng vài chục tấm hình cắt ra từ các báo như Nhân Dân, Quân Đội, Lao Động, Hà Nội Mới... chụp cảnh Lễ đài Độc lập với tổng thể vườn hoa Ba Đình trong ngày Mồng hai tháng Chín năm Một nghìn chín trăm bốn lăm. Mỗi lần ngắm nhìn cái công trình kiến trúc mỏng mảnh được xây dựng bằng gỗ, ván, đinh, vải; được thiết kế và thi công trong vòng 48 giờ - nếu chậm lại một giờ là hỏng - rồi sau đó biến mất khỏi mặt đất như một lâu đài trong cổ tích, cặp mắt mờ đục của người lính già tôi bao giờ cũng cay lệ. Lòng tôi dâng trào biết bao niềm cảm xúc và suy tưởng miên man ... về Tổ quốc và Nhân dân, về Cách mạng và Khởi nghĩa, về máu xương của lớp lớp anh hùng hào kiệt đã thấm đẫm giang sơn kể từ khi trên mặt đất xứ sở Việt Nam xuất hiện công trình kiến trúc mỏng manh này. Nó biến khỏi mặt đất, nhưng tầm vóc, hình dáng cùng với tổng chể kiến trúc của nó, đã tạc khắc đời đời vào kí ức của cả dân tộc... Ba Đình nắng thu vàng rực rỡ, một biển người vừa bước từ đêm dài trăm năm nô lệ ra bình minh Độc lập Tự do, cờ hoa trong tay và câu hát trên môi... Người Hiệp sĩ vĩ đại của Nhân dân và hai triệu người chết đói, bước vào tuổi năm mươi lăm, râu đen, mắt sáng, lễ phục kaki... đứng trên lễ đài, mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” bất hủ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng...” Ai có thể tái tạo công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập cùng với tổng thể kì vĩ đó? Không một ai! Kể cả thánh thần... Theo ngu ý của tôi, Lễ đài Độc lập là cái cột mốc giữa đêm dài trăm năm nô lệ và bình minh của Độc lập Tự do của cả dân tộc. Kể từ khi trên mặt cỏ nắng Ba Đình mọc lên cái cột mốc này, số phận của cả dân tộc đã thay đổi, và số phận nhỏ bé, hèn mọn của cả thằng tôi cũng đã thay đổi. Từ một đứa trẻ chăn trâu mù chữ (... tôi đã trở thành) một nhà văn... Cũng từ cái mốc kiến trúc mỏng manh này, cả dân tộc đã xuất phát, bước vào cuộc trường chinh sáng láng nhất, lâu dài nhất và dữ dội nhất của thế kỉ, với gánh nặng lịch sử trên vai: “Ta vì ta ba chục triệu người/ Cũng vì ba ngàn triệu trên đời” [2] . Ngắm nhìn một công trình kiến trúc như vậy, những người lính già dãi dầu chiến trận chúng tôi, làm sao không ứa lệ tự hào? * Vậy ai là tác giả cụ thể công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập? Từ mấy chục năm nay, tôi luôn bị thôi thúc bởi niềm mong ước tìm hiểu cho ra. Nhưng cái khó bó cái khôn, và trong điều kiện và hoàn cảnh trắc trở của đời mình, tôi không sao thực hiện nổi niềm mong ước đó. Thế rồi cách đây ba năm, tôi được một người bạn tặng tôi những tư liệu có liên quan đến sự kiện lịch sử mồng 2 tháng 9.1945 anh vừa tìm thấy trong Thư viện Quốc gia, Thư viện Bảo tàng Lịch sử, Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt nam, và kho Lưu trữ Quốc gia. Trong số những bản sao chụp, có mấy tư liệu tôi đặc biệt chú ý: Thư của Bộ tuyên truyền có tiêu đề VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ đề ngày 31.8.1945 gửi Thị trưởng Hà nội, về việc tổ chức Ngày Độc lập (Đây là bản chính được đánh máy bằng giấy than đen trên giấy trắng, khổ rộng 130 mm X 210 mm, đóng dấu tròn với dòng chữ “Ngày Độc lập” và C.P.C.H.D.C. vòng quanh con dấu, một ngôi sao năm cánh ở giữa, nổi lên dòng chữ BAN TỔ CHỨC). Nội dung thư: „Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội, Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Lâm thời sẽ tổ chức ngày 2.9.1945 một “Ngày Độc lập”. Muốn cho ngày ấy có một tính cách thiêng liêng, Ban tổ chức chúng tôi yêu cầu Ngài hạ lệnh cho các chùa chiền, nhà thờ cho mở cửa, quét tước sạch sẽ và đốt trầm hương suốt ngày hôm ấy để mừng Ngày Độc lập. Kính thư, Nguyễn Hữu Đang” Một thư khác của Ban Tổ chức “Ngày Độc lập” thuộc Bộ Thông tin và Tuyên truyền, đề ngày 31.8.1945. Hình thức và con dấu như trên. Nội dung thư: „Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội, Nhân “Ngày Độc lập”, chúng tôi yêu cầu Ngài cho treo cờ ở vườn hoa Ba Đình và hai bên những phố lân cận. Còn về lễ chào Quốc kỳ, chúng tôi nhờ Ngài cho sửa soạn cho chúng tôi một chiếc cột cao 12 thước tây đủ cả giây và bánh xe (poulie); sẽ có chỉ thị về chỗ dựng cột cho phu toà Thị chính. Kính thư, Nguyễn Hữu Đang” Một thư khác, hình thức, tiêu đề và con dấu giống hai bức thư trên, với nội dung: „Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội, Muốn cho Ngày Độc lập tổ chức vào ngày 2.9.1945 tới đây được hoàn hảo, chúng tôi yêu cầu Ngài thông báo ngay cho các Phố trưởng để các ông ấy báo tin cho các nhà trong khu vực mình biết rằng Cụ nào trong nam giới hay nữ giới muốn đi dự lễ ấy sẽ đến họp ở Hội quán Khai trí hồi 13 giờ trước khi đi lên vườn hoa sau Sở tài chính. Kính thư, Nguyễn Hữu Đang” Sau khi đọc kỹ những tư liệu trên, tôi suy luận: ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban tổ chức Ngày Độc lập, vậy chắc ông phải biết ai là tác giả công trình kiến trúc Lễ đài. Cần phải tìm gặp ông để hỏi cho ra. * Anh Nguyễn Hữu Đang thì tôi được biết mặt từ mấy chục năm trước, nhưng rất ít khi được chuyện trò với anh. Mỗi lần tôi được anh hỏi chuyện, tôi bối rối, sướng mê nguời, đầu không khiến mà chân cứ rụt về tư thế đứng nghiêm, như ngày còn làm trinh sát mỗi lần được Chính uỷ Sư đoàn hỏi chuyện. Tôi nghĩ bụng: Tôi là cái thá gì mà được một người như Nguyễn Hữu Đang hỏi chuyện? Nguyễn Hữu Đang, người tham gia hoạt động cách mạng từ khi tôi chưa đẻ; nhà hoạt động báo chí công khai của Đảng cùng thời với Trường Chinh, Trần Huy Liệu; một trong những người tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Hội Truyền bá Quốc ngữ cùng thời với Phan Thanh, cụ Nguyễn Văn Tố. Một trong những người sáng lập và tổ chức Hội Văn hoá Cứu quốc cùng với Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi. Và cuối cùng là Trưởng ban Tổ chức ngày Đại lễ của Đất nước: 2-9-1945. Cách đây khoảng mười lăm năm, anh từ cao nguyên Hà Giang trở về, tá túc tại quê nhà. Hàng năm vào dịp giáp Tết, lại thấy anh đáo lên Hà Nội trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô (cũ). Anh mang đến cho mấy bạn cũ mỗi người một cân gạo nếp. Một lần tôi cũng được anh cho một cân. Tôi cảm động và ngạc nhiên hỏi anh: “Anh kiếm đâu ra gạo nếp mà cho chúng em thế?”. Anh cười: “Mình sống ở nông thôn cũng phong lưu ra phết. Không những có gạo nếp biếu bạn, lại còn có cả thóc và rơm cho nông dân vay”. - “Hiện nay anh đang làm gì ở dưới đó?”. “Mình nghiên cứu Lão Trang và dịch lại cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô qua bản tiếng Pháp. Đối chiếu thấy bản dịch đã in sai nhiều quá”[3] . Hai năm trở lại đây không thấy anh lên Hà Nội nữa. Mấy anh em quen cũ chúng tôi hỏi nhau: “Không biết anh Đang có gặp chuyện gì trắc trở dưới đó không?” Nỗi lo lắng này thường xuyên ám ảnh tôi. Nhân thể tôi muốn tìm hiểu về công trình Lễ đài Độc lập, năm đó tôi nhất quyết phải về thăm anh, mặc dầu đã gần giáp Tết. Tôi nói khó với vợ: “Em bớt cho anh một phần lương hưu tháng này; lấy tiền tàu xe, ăn đường, về Thái Bình tìm thăm anh Đang...” “Nhưng tết nhất đến nơi rồi, chờ ra giêng anh đi có được không?”. “Anh bỗng nhiên thấy nóng ruột quá... đợi đến ra giêng e chậm mất. Anh Đang đã gần cái tuổi tám mươi, mà lại một thân một mình...”. “Anh có biết địa chỉ của anh Đang không?”. “Anh chỉ biết anh ấy ở Thái Bình, địa chỉ cụ thể thì không biết”. “Cả cái tỉnh Thái Bình rộng mênh mông với hơn hai triệu dân, không có địa chỉ cụ thể làm sao anh tìm được?”. “Trời đất! Một người như anh Nguyễn Hữu Đang thì anh tin rằng về dưới đó hỏi đứa con nít nó cũng biết”. Vợ tôi đành trao cho tôi nửa số tiền lương hưu tháng cuối năm vừa lĩnh, với vẻ mặt nhẫn nhịn của người vợ phải trao cả một nửa sản nghiệp cho chồng tiêu hoang vào một việc không đâu! Tôi vội nhét mấy tờ giấy bạc vào túi, nhảy lên xe đạp, cắm đầu đạp thẳng ra ga vì sợ vợ thay đổi ý kiến. Vừa đi tàu, vừa ô-tô, xe đạp... sáng 26 Tết, tôi có mặt tại thị xã Thái Bình. Để đỡ bớt thì giờ tìm kiếm, tôi hỏi đường đến Sở văn hoá và Hội văn nghệ tỉnh, hỏi địa chỉ của anh. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy nhiều anh chị em cán bộ ở hai cơ quan này không biết Nguyễn Hữu Đang là ai. Có vài người biết nhưng lại rất lơ mơ: “Hình như ông ta ở Quỳnh Phụ, Kiến Xương hay Tiền Hải gì đó...”. Ở Hội văn nghệ tỉnh, tôi làm quen với một nhà thơ trẻ. Khi biết rõ ý định của tôi, anh hăng hái nói: “Cháu sẽ đưa chú ra cái quán thịt chó, ở đó thường có mấy anh cán bộ về hưu, (chắc sẽ hỏi ra”. Đến quán thịt chó, tôi đành móc) số tiền còm cõi trong túi, gọi một đĩa thịt chó luộc và hai chén rượu cho phải phép. Đợi chừng nửa tiếng, có một người đứng tuổi để chiếc xe cúptrước cửa, đi vào quán. Nhà thơ trẻ bật dậy nói với tôi: “Ông này ở cơ quan an ninh tỉnh, hỏi chắc biết”. Tôi vội níu tay anh lại, dặn nhỏ: “Cậu đừng giới thiệu mình là ai, sẽ rách việc”. “Biết rồi, biết rồi, chú không phải dặn”. Anh bạn trẻ đi đến gặp anh ta, nói cái gì đó, và chỉ tay về phía tôi. Anh cán bộ an ninh tươi cười bắt tay tôi, ngồi đối diện và niềm nở hỏi: “Xin lỗi cụ, năm nay cụ hưởng thọ bao nhiêu tuổi ạ?”. Tôi đoán chắc anh ta thấy tôi ăn vận nhếch nhác – áo quần bà ba nâu, chân dép lốp – râu tóc bạc trắng, nên hỏi vậy. Tôi liền nói phứa lên: “Cám ơn đồng chí – tôi cười – cũng thất thập cổ lai hi [4] rồi đồng chí ạ”. “Trước cụ công tác ở đâu ạ?”. “Tôi làm thường trực cho một cơ quan thương nghiệp trên Hà Nội... về hưu đã gần chục năm rồi”. “Cụ là thế nào với ông Nguyễn Hữu Đang ạ?”. “Tôi có quen biết gì ông ta đâu. Thậm chí cũng chưa biết mặt. Chẳng là ở tổ hưu của tôi có một cụ nghe đâu hồi bí mật cùng hoạt động với ông ta. Biết tin tôi về thăm đứa cháu họ công tác giáo viên ở Quỳnh Côi, ông cụ gửi tôi mười ngàn bạc để biếu ông ấy, mà giao hẹn phải đưa tận tay. Tôi tưởng ông ấy ở thị xã, hỏi loanh quanh mãi không ai biết...”. Anh cán bộ cười: “Ông ấy đâu có ở thị xã. Hiện ông ấy đang ở thôn Trà Vỵ, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương... cách đây gần hai chục cây số. Ngược gió này mà cụ đạp xe về đó cũng vất vả đấy...”. Thấy tôi chăm chú lắng nghe, anh cán bộ trở nên cởi mở: “Nói để cụ biết, trước kia cái ông Đang ấy cũng là người hoạt động cách mạng có tên tuổi... Nhưng rồi ông ta giở chứng, làm báo làm văn chống đối Đảng và Nhà nước, bị xử phạt 15 năm tù ngồi, đưa lên giam trên trại tù Hà Giang. Mãn hạn tù, ông ta xin về cư trú tại quê quán. Tuy vậy (cách đây mấy năm ông Đang này tự tiện đi) sang Nam Định không có giấy đi đường, đến nhà một đối tượng mà công an đang theo dõi. Công an hai tỉnh liền phối hợp, hỏi giấy tờ đi đường của ông ta, rồi bắt giam giữ bốn tháng ở nhà lao hai tỉnh để cảnh cáo, và tổ chức khám nhà. Sau đó thả cho về...”. Tôi tỏ ý sợ hãi gãi đầu gãi tai: “Chà... biết rắc rối thế này thì tôi chẳng gặp ông ấy nữa... đem tiền về trả lại thôi...”. Anh cán bộ xuê xoa: “Không sao đâu cụ ạ, chính sách của ta bây giờ là đổi mới tư duy. Nghe đâu trên cũng đang sửa soạn cho ông ấy được hưởng lương hưu. Nếu cụ muốn về thăm ông ấy, cứ việc về. Tôi sẽ chỉ đường cho cụ”. Anh cán bộ chấm ngón tay vào li rượu, vẽ lên mặt bàn, chỉ vẽ cho tôi rất cặn kẽ con đường từ thị xã về chỗ anh Đang tá túc. Tôi đứng lên rối rít cảm ơn anh... * Con đường đá mười mấy cây số chi chít ổ gà. Gió cuối đông buốt như kim châm táp thẳng vào mặt. Nhưng vừa đạp xe tôi vừa nghĩ ngợi miên man về sự thăng trầm của những kiếp người tình nguyện dấn thân vì nghĩa lớn, nên con đường cũng như bớt xa... Đến chỗ ngã ba rẽ vào trường phổ thông cấp I, II xã Vũ Công – Nơi anh Đang tá túc – tôi vào cái quán bên đường uống li rượu cho ấm bụng. Ông cụ chủ quán khi biết tôi từ Hà Nội về tìm thăm anh Đang, rót rượu tràn li và nói: “Ông ấy thỉnh thoảng vẫn ngang qua đấy, tôi đều mời vào uống nước. Ông ấy tằn tiện khét tiếng cái xã Vũ Công này. Mới cách đây dăm hôm, ông ấy đèo sau xe cái rỏ tre ràng buộc rất kỹ. Ông ấy kể với tôi tối qua bắt được con rắn gì dữ lắm, phun phè phè bò vào nhà mình. Định làm thịt ăn nhưng tiếc, chở lên chợ bán cho một tay buôn rắn độc, kiếm lấy mấy nghìn mua mấy lạng mỡ lá...”. Tôi bật phì cười: “Ông ấy bây giờ lại thêm cái tài bắt rắn độc, mà mất công đạp xe mini những mười mấy cây số để đổi lấy mấy lạng mỡ lá... Vui thật! Tôi có người bạn làm thơ tên là Tuân Nguyễn, chết lâu rồi, làm câu thơ nghe thật vô nghĩa, nhưng cứ bất chợt hiện ra trong trí nhớ tôi: Cuộc đời vui quá không buồn được!”. Ông chủ quán rót thêm li rượu nữa, giọng hào hiệp: “Li này tôi đãi cụ!... Mà khổ, ông ấy có bán được đâu. Chiều tối ông ấy đạp xe về phàn nàn: nó không chịu mua, nó bảo loại rắn này không nằm trong bộ tam xà!”. Tôi cười ngất. Anh Đang ở gian đầu hồi cái nhà bếp của khu tập thể giáo viên, trước mặt là ao cá Bác Hồ của xã. Đứng bên kia bờ ao, một cô giáo chỉ cho tôi: “Bác ấy đang ngồi ở bậc cầu ao kia kìa! Đang cọ rửa cái gì mà chăm chú thế không biết...”. Tôi dắt xe đạp qua sân trường, vòng ra sát sau lưng anh. Anh đang dùng nắm rơm cọ rửa những viên gạch vỡ đôi, xếp thành chồng cao cạnh chỗ ngồi. Tôi đứng lặng nhìn anh. Đầu anh đội cái mũ cối méo mó, khoác cái ruột áo bông thủng be bét, quần lao động màu cháo lòng, hai ống chân ôm vòng hai dây cao su đen nom như vòng cùm sắt; chắc hẳn để nhét hai ống quần vào đó chống rét, lưng anh khòng hình chữ C viết nghiêng... Tôi chợt nhớ cách đây rất lâu, tôi được nghe những người cùng thời với anh kể. Hồi Mặt trận Bình dân, Nguyễn Hữu Đang là cán bộ Đảng được cử ra hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như công tử loại một của Hà thành, thắt cà vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện, tuyên truyền cách mạng... Mỗi lần cách mạng cần tiền để hoạt động, Nguyễn Hữu Đang có thể đến bất kì một nhà tư sản Hà Nội nào giàu có, vay vàng, tiền. Mà những người này trao vàng, tiền cho anh đều không đòi hỏi một thứ giấy tờ gì, vì họ tin sâu sắc rằng trao vàng, tiền cho anh là trao tận tay cho cách mạng... Và bây giờ, anh ngồi đó, gần tám chục tuổi, không vợ, không con, không cửa không nhà, lưng khòng chữ C viết nghiêng, tỉ mỉ cọ rửa những viên gạch vỡ - chẳng hiểu để làm gì – như người bõ già trong truyện „Hương cuội“ của Nguyễn Tuân cọ rửa những viên cuội trắng để tẩm kẹo mạch nha vào dịp tất niên... Miên man nghĩ như vậy và tôi bật phì cười... “Anh Đang!”, tôi nghẹn ngào gọi. Anh quay lại, chớp chớp mắt, răng vàng sỉn, cùn mòn gần nửa vì năm tháng... “Phùng Quán! Chú về đây từ lúc nào thế?”. Hai anh em chúng tôi ôm chặt nhau giữa bậc cầu ao. Và cả hai gương mặt già nua phút chốc đẫm lệ... * Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng chỉ khoảng 5 mét vuông, chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. Sau đó tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc: Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm sầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu – trâu gõ mõ, chó leo thang – anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xe. Tác dụng thứ hai, quan trọng không kém... Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ cô độc. Chính giữa gian chái kê cái tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khoá một chiếc khoá lớn như khoá nhà kho. Trên nóc tủ, xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà Nội người ta thường quẳng vào các đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được thống cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng, và một xấp quần áo cũ làm gối.... Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường. Anh nói, giọng Lão Trang: “Một cái bàn bốn chân là một con vật. Khi nó chỉ còn hai chân nó là một con người”. Trên mặt bàn xếp kín các chai lọ, vỏ đồ hộp, hai (... mất nửa dòng...) vài con dao làm bằng mẩu (... mất một dòng...) thuyết minh viên giới thiệu hiện vật trong bảo tàng nghệ thuật:“ Nó là loại gạch nung rất già, gần đạt tới tiêu chuẩn của sành sứ cổ, sức nặng và độ bền của nó làm cho các loại chuột, mối, dán phải vị nể”. Bây giờ tôi mới hiểu anh cọ rửa những viên gạch vỡ để làm gì. Dưới gầm bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nứt, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh còng queo, mẩu dây thép han rỉ... Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lớp bụi tro... Lúc tôi bước vào, gian buồng mờ mịt khói. Anh giải thích: “Giờ này các cô giáo nấu ăn. Bếp tập thể ở sát bên kia tường. Tôi đã trộn rơm với bùn trát những khe hở sát mái, nhưng khói vẫn cứ lọt sang – anh cười - Chịu khói một chút nhưng cũng có cái lợi. Thỉnh thoảng lại được ngửi mùi xào nấu lẫn với khói, cái mũi được bồi dưỡng. Trong việc dở nào cũng có việc hay, và ngược lại”. “Để em đạp xe ra chợ mua cái gì về ăn”. “Thôi khỏi cần. Chú về chơi hôm nay là rất gặp may. Sáng nay tôi vừa chế biến được một mẻ thức ăn ngon vô địch. Chú nếm rồi sẽ biết. Cơm cũng có sẵn rồi. Tôi mới nấu lúc sáng, ủ vào lồng ủ rơm, còn nóng nguyên. À, tôi lại có cả rượu cho chú, rượu cam hẳn hoi, quà của Hội Nhà văn gửi biếu vào dịp Tết năm ngoái... Tôi chỉ mới mời mấy thầy giáo mấy chén, còn đủ cho chú say sưa suốt mấy ngày ở chơi”. Anh xăng xái lấy chùm chìa khoá buộc chung với chùm lục lạc, mở khoá tủ tìm chai rượu. Tôi liếc nhìn vào mấy ngăn tủ. Những xấp quần áo cũ nát để lẫn với những chồng báo, giấy má, sách... ố vàng. Ngăn dưới cùng để rất nhiều chai lọ, vỏ đồ hộp, vỏ lon bia, và nhiều chồng các...
18 views ·
LỪA DỐI CẤP NHÀ NƯỚC PHẠM ĐÌNH TRỌNG 1. Tán phượng bên ao cá đã lập lòe đỏ lửa. Tháng năm, tháng có ngày sinh lại đến. Năm sinh nhật có số không (0) ở cuối được coi là năm chẵn, số năm (5) là nửa chẵn. Tháng năm năm nay, 1965, bước vào tuổi bảy nhăm, sinh nhật nửa chẵn. Cũng là một dấu mốc cuộc đời. Dấu mốc của năm sinh nhật nửa chẵn này sẽ được ghi nhận là năm viết di chúc. Tháng năm, Hà Nội đã vào hè nhưng giữa ngàn xanh Hồ Tây, Bách Thảo, Ba Đình, trong ngôi nhà sàn bốn hướng đều mở đón gió mang hương lúa hương ngô từ bờ bãi sông Hồng, mang hơi nước mát lạnh từ Hồ Tây mênh mang trong lành làm cho gian phòng làm việc trên nhà sàn lúc nào cũng có không khí dịu dàng, mát mẻ của mùa xuân. Dù bề bộn những nghĩ suy nhưng cõi lòng thật yên tĩnh, sáng ngày 15 tháng năm, năm 1965, Hồ Chí Minh ngồi vào bàn làm việc đặt bút viết chữ đầu tiên bản di chúc. Bản di chúc được khởi viết từ ngày đó đến tận tháng năm, năm 1969, dòng dã bốn năm trời. Giập. Xóa. Chữa đi chữa lại đến nát cả trang viết. Chữ xanh chữ đỏ đè lên nhau. Điều đó xác nhận sự cân nhắc chi li, thận trọng của một người từng trải ở tuổi thừa chín chắn. Mỗi chữ được lựa chọn cuối cùng để được ở lại mãi mãi với bản di chúc là điều gan ruột của người thầy cộng sản Việt Nam gửi gắm vào lứa học trò nối nghiệp. Bản thảo di chúc cho thấy sự đắn đo, thận trọng, kĩ càng của người viết. Câu chữ điềm đạm, bộc bạch của di chúc cho thấy Hồ Chí Minh chỉ đối mặt, trải lòng với trang di chúc khi cõi lòng thật thanh thản, được sống thật với mình. Thanh thản và sống thật với mình, Hồ Chí Minh thú nhận rằng ông chỉ là “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Thể xác ông là người Việt Nam nhưng hồn ông đã thuộc về quốc tế cộng sản khi ông viết: “tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.” Không còn hồn Việt Nam. Không biết đến Vua Hùng dựng nước. Không biết đến những bậc tiên liệt Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung đã viết lên trang sử hào hùng Việt Nam, tạo lên khí phách Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ biết có ông tổ thiết kế ra lí thuyết cộng sản và ông tổ thi công bản vẽ xã hội cộng sản, ông K. Mac và ông Lê nin, hai người đã đẩy loài người vào một thế kỉ đại loạn đấu tranh giai cấp với hơn trăm triệu mạng người bị thí bỏ. Thú nhận rằng da Việt Nam, hồn quốc tế cộng sản là suy nghỉ tỉnh táo, chín chắn, là lựa chọn khôn ngoan của Hồ Chí Minh. Nếu nhận là dòng giống Lạc Việt, là con cháu Vua Hùng, khi chết đi sẽ về gặp hồn thiêng Nguyễn Trãi, Quang Trung thì Hồ Chí Minh sẽ phải rập đầu nhận tội trước các bậc tiên liệt về tội tày trời mang mớ lí luận cộng sản mất tính người, mang học thuyết bạo lực đấu tranh giai cấp đẫm máu về tàn phá tan hoang đất nước Việt Nam, giết hại giống nòi Việt Nam, chia rẽ, li tán dân tộc Việt Nam. Là người của quốc tế cộng sản, đứng ngoài dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhẹ nhõm trách nhiệm với dân Việt Nam, vô can với đau thương của dân Việt Nam, lại là người có công lớn với phong trào cộng sản quốc tế khi ông đã đưa đất nước Việt Nam hiền hòa, bình yên vào lò lửa cách mạng vô sản, vào biến máu đấu tranh giai cấp, đưa dân tộc Việt Nam đùm bọc yêu thương vào hận thù li tán, đưa máu và nước mắt của đấu tranh giai cấp từ trời Âu đến góc khuất châu Á để biến nhà nước Việt Nam nửa phong kiến, nửa thuộc địa thành nhà nước cộng sản đầu tiên ở Đông Nam Á. 2. Thấu hiểu kiếp người. Dù vĩ đại đến đâu, dù lúc sống có làm nghiêng ngả cả thế giới, con người cũng chỉ là sản phẩm của tự nhiên, phải chấp nhận qui luật luân hồi của tự nhiên. Từ tự nhiên, từ cát bụi mà có mặt trong cuộc đời. Khi cuộc đời kết thúc, con người phải được trở về cát bụi, về với tự nhiên. Cọp chết để da. Người chết để tiếng. Chỉ có con vật mới để lại xương, thịt, lông, da cho đời. Con người khác con vật ở chỗ, con vật chỉ tồn tại bằng thể xác. Con người tồn tại bằng sự nghiệp, bằng cái danh. “Đã sinh ra ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ). Dù chọc trời khuấy nước nhưng chết đi phải để lại cái xác, phải để lại xương, thịt, lông, da cho đời thì vẫn chỉ là con vật. Con người phải để lại cái danh. Dù danh lành hay danh dữ, con người phải có danh, phải có sự nghiệp. Thể xác chỉ là con vật. Cái danh mới là con người. Thanh thản chấp nhận sự định danh con người của tự nhiên, Hồ Chí Minh tha thiết đòi hỏi lứa học trò, lứa đồng chí cộng sản kế cận khi ông kết thúc cuộc đời cho ông được trở về tự nhiên, về tro bụi trong vũ trụ: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn. Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.” Cụ thể, chi li đến như vậy là đến cuối đời khi phải gói ghém, tổng kết cuộc đời, Hồ Chí Minh đã có được sự thấu đáo triết lí nhân sinh để có lựa chọn khôn ngoan, thuận tự nhiên, hợp đạo lí, đúng phong tục tập quán con người và hợp lòng dân. Khi Hồ Chí Minh chỉ vào ảnh K. Mac, ảnh Lê nin và nói với đám cận thần tháp tùng rằng bác có thể sai chứ những ông này không thể sai là khi Hồ Chí Minh đang bị bùa mê đấu tranh giai cấp làm cho mê muội, lú lẫn. Nhưng khi Hồ Chí Minh viết Tôi yêu cầu thi hài của tôi được đốt đi là đến cuối đời, đủ từng trải, Hồ Chí Minh đã thoát khỏi cơn say máu đấu tranh giai cấp, đã thoát cơn lú lẫn cộng sản, là khi Hồ Chí Minh sáng suốt nhất. Lựa chọn đốt xác viết trong di chúc là lựa chọn sáng suốt hiếm hoi trong cuộc đời đầy biến cố, nhiều sai lầm của Hồ Chí Minh. Tôi yêu cầu thi hài của tôi được đốt đi. Yêu cầu chứ không phải đề nghị. Đề nghị là đề đạt, mong mỏi, bị động chờ đợi để được đáp ứng. Yêu cầu là chủ động ra mệnh lệnh công vụ của người chỉ huy với kẻ thừa hành và kẻ thừa hành phải chấp hành, phải thực thi tắp lự, không được phép do dự, chần chừ. Không thực hiện mệnh lệnh cấp trên, tổ chức đó đã hư hỏng. Yêu cầu còn là mệnh lệnh của trái tim, là ràng buộc của tình cảm, là đòi hỏi đúng đắn, hợp đạo lí của người bề trên với kẻ dưới, là gửi gắm của cha ông với con cháu. Kẻ dưới phải răm rắp vâng lời của người bề trên, không được cãi, không được làm trái mới là gia đình có nề nếp gia phong, có giáo dục. Nhưng Hồ Chí Minh vừa trút hơi thở cuối cùng, những kẻ tự nhận là học trò, là đồng chí cộng sản kế cận của ông cũng là những thủ lĩnh cộng sản đương nhiệm, nắm toàn bộ quyền lực của triều đình cộng sản liền mang di chúc của Hồ Chí Minh ra xem xét và ra nghị quyết thực hiện trái những điều di chúc yêu cầu. Để lừa dối dân, những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm liền giấu nhẹm những điều di chúc Hồ Chí Minh yêu cầu nhưng bộ sậu lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm không thực hiện hoặc thực hiện trái di chúc. Từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc chung đến việc riêng di chúc Hồ Chí Minh yêu cầu đều bị những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm phớt lờ không thực hiện hoặc thực hiện trái di chúc Việc chung: Di chúc Hồ Chí Minh yêu cầu miễn thuế nông nghiệp một năm cho nông dân. Những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản đương nhiệm không thực hiện nên đoạn di chúc đó bị ỉm đi.. Việc riêng: Di chúc yêu cầu đốt xác. Thực hiện: Ướp xác. Cọp chết để da. Hồ Chí Minh chết cũng phải để lại thân xác. Hồ Chí Minh muốn là người, chỉ để lại cái danh, chứ không để lại cái xác như con vật. Giữ xác Hồ Chí Minh trong căn hầm lạnh lẽo cho người đời ngày ngày đến ngó nghiêng như dòng người vào viện bảo tàng tự nhiên ngó nghiêng xác con cọp, xác con chồn, con cáo nhồi bông. Đó là sự đày ải, hạ nhục vô cùng độc địa, tán ác với Hồ Chí Minh. 3. Bác bỏ, làm trái những gửi gắm gan ruột tha thiết, chính đáng và đúng đắn của di chúc Hồ Chí Minh rồi ngay trong tháng chín, 1969, ngay trong tháng Hồ Chí minh qua đời, ngay sau khi vừa ra nghị quyết bác bỏ, làm trái di chúc Hồ Chí Minh, ngày 29-9-1969 Bộ Chính trị đảng Lao Động Việt Nam, những người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đương nhiệm lại ban hành Chỉ thị số 173 - CT/TW về đợt sinh hoạt chính trị “Học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Từ đó đến nay, suốt 50 năm, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam liên tục ban hành hàng chục nghị quyết, chỉ thị, hết “Học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” lại “Học tập tấm gương đại đức Hồ Chí Minh” rầm rộ, sáo rỗng và đầy dối trá ở tầm quốc gia, tốn kém hàng ngàn tỉ tiền thuế của dân. Nào hội thảo khoa học. Nào triển lãm. Nào thi đua học tập làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là sự lừa dối cấp nhà nước. Minh chứng nhục nhã không thể chối cãi cho sự lừa dối cấp nhà nước này là giải thưởng cuộc thi học tập đạo đức Hồ Chí Minh đã được cơ quan trung ương đảng trao cho tên đại bịp Hồ Xuân Mãn, kẻ không phải đảng viên, kê khai gian dối chui vào đảng leo lên đến ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy, kẻ hèn nhát cướp công người dũng cảm hi sinh để trở thành anh hùng lực lượng vũ trang. Đó là sự lừa dối cấp nhà nước. Phạm Đình Trọng 5 giờ · Link: https://www.facebook.com/kesiviet/posts/1139105776290801
18 views ·
Cảnh báo việc Việt Nam nêu số tăng GDP hào nhoáng 25,4% Bản quyền hình ảnh GETTY IMAGES Image caption - Xây dựng và phát triển hạ tầng chiếm tỉ trọng đáng kể trong GDP của Việt Nam Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế Tổng sản lượng quốc nội (GDP) là phạm trù kinh tế được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng. Nó luôn được các nhà kinh tế hoàn thiện trong quá trình áp dụng thực tế. Chính trị hoá GDP là vấn đề phức tạp. Các chính khách, hoặc bằng kỹ thuật hoặc cố ý, có thể làm sai lệch số liệu có lợi cho mục đích cầm quyền. Ngoài ra, những nhược điểm vốn có của phạm trù này, dù được chỉ ra về mặt lý thuyết và luôn được hoàn thiện trong thực tế, nhưng có vẻ tiếp tục là cơ sở thúc đẩy chính trị hoá. Đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung sang thị trường, trong đó có Việt Nam, vấn đề còn phức tạp hơn, khi GDP còn là chỉ báo cho tính chính danh của chế độ. Việt Nam đang đánh giá lại GDP, mới có kết quả sơ bộ, nhưng đã gây tranh luận nóng. Liệu tác động có thể là 'lợi bất cập hại'? Liệu có thể hạn chế việc chính trị hoá chỉ tiêu này? Tác động 'lợi bất cập hại' Mới đây, trong cuộc họp Giao ban báo chí ngày 27/8/2019, Tổng cục Thống kê cho biết quy mô GDP đánh giá lại bình quân giai đoạn 2010-2017 tăng thêm 25,4%/năm so với số liệu đã từng công bố chính thức. Nghĩa là GDP năm 2017 tăng từ 220 tỷ USD lên 275 tỷ USD. Như vậy, ước tính đến nửa đầu năm 2019, quy mô nền kinh tế của Việt Nam đã vượt con số 300 tỷ USD và GDP bình quân đầu người nhờ đó tăng lên ngưỡng 3.000 USD, thay vì 2.590 USD, năng suất lao động cũng tăng cao tương ứng với tỷ lệ tăng GDP khi số lao động không đổi. Cơ sở pháp lý của việc đánh giá lại GDP là Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Trước đó, ngày 16/8/2019 ông Tổng cục trưởng đã cho biết rằng với phương pháp tính hiện tại phù hợp với thông lệ quốc tế việc đánh giá lại quy mô GDP lần này được bổ sung thông tin từ Tổng Điều tra, chủ yếu là từ cơ quan thuế, trong đó bao quát thêm khoảng 76000 doanh nghiệp trước đây chưa được tính. Theo tôi, không nên tuyên truyền đơn giản đó là 'một việc làm bình thường', mà cần coi là lần đầu tiên 'đánh giá lại' nên cần thận trọng tính đến tác động không nhỏ và nhiều mặt khi tính toán và chính thức công bố số liệu GDP 'mới'. Trước hết, số liệu này 'kích hoạt' bệnh thành tích của nhiều lãnh đạo trung ương và địa phương, vốn đã và đang là 'dấu ấn' trong các báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng năm, nhiệm kỳ. Theo đó, GDP báo cáo của các tỉnh, thành phố luôn cao hơn bình quân cả nước trong nhiều năm, đến hiện nay chưa được khắc phục. Về mặt chuyên môn, giới chuyên gia đã lên tiếng lo ngại 'dư địa lớn hơn' của Chính phủ lớn trong điều hành chính sách, nếu bị lạm dụng có thể dẫn tới mất cân đối cho nền kinh tế. Đó là việc vay nợ có thể tăng lên trong điều kiện nợ công, nợ doanh nghiệp đang ở mức cao, khó trả và thu ngân sách hiện nay phần lớn để trả nợ, xoá nợ xấu. Chẳng hạn, nợ công hiện ở ngưỡng 58,4% GDP sẽ điều chỉnh về dưới 50%. Nếu khống chế tỷ lệ nợ bằng 60% GDP, thì dư địa sẽ là rất lớn. Việc chi tiêu thường xuyên từ ngân sách, cho hệ thống chính trị cồng kềnh, trong đó bộ máy hành chính, đang rất khó tinh giản. Ngoài ra, đầu tư công có thể được 'khuyến khích mở rộng' trong điều kiện hiệu quả còn thấp và tham nhũng chưa thể ngăn chặn. Tỷ lệ đóng góp với các tổ chức quốc tế của Việt Nam sẽ tăng lên trong khi nguồn thu không đổi… Bản quyền hình ảnh GODONG Image caption - Một thương xá ở TPHCM - các con số hào nhoáng có thể do bệnh thành tích tạo ra Sẽ chưa đầy đủ, nếu chưa tính đến 'phản ứng' của các cơ quan chức năng khi chia sẻ số liệu và tâm lý, thói quen, việc điều chỉnh sử dụng chúng trong nghiên cứu của giới chuyên môn và các địa phương. Rõ ràng việc sử dụng các số liệu này để hoạch định chính sách trung và dài hạn trong tương lai sẽ gặp khó khăn khi GDP được đánh giá lại tăng lên hơn 25%! Cán bộ lãnh đạo của bộ máy hiện hành được 'khích lệ' bởi bệnh thành tích vì sự thăng tiến và đặc quyền, đặc lợi. Tuy nhiên, nếu đặt lợi ích vì sự thịnh vượng của đất nước và nhân dân thì cải tổ nói chung và trong 'trường hợp này' nói riêng cần hướng tới lấy lại niềm tin thay vì bệnh thành tích. Bởi vậy, các khuyến nghị chủ yếu cho tình hình, như phân tích ở trên, có thể là: 1. Thứ nhất, cần đề cao vai trò độc lập của cơ quan Thống kê, không chỉ bởi vì năng lực tính toán số liệu được nâng lên tạo cơ sở niềm tin cho các hoạt động điều hành hay nghiên cứu khác, mà còn đảm bảo 'không chịu sức ép' nào từ cấp trên về việc 'bóp méo' số liệu hợp với màu sắc quyền lực chính trị. Trong điều kiện Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện, và lập pháp, tư pháp và hành pháp chỉ là các cấu thành phụ thuộc, chỉ là phân công, phân nhiệm, cũng cần có sự lựa chọn quá độ phù hợp. Chẳng hạn, cơ quan thống kê nên để trực thuộc Quốc hội, thay vì Chính phủ như hiện nay. 2. Thứ hai, Quốc hội cần được tăng cường năng lực làm luật và vai trò giám sát độc lập đối với Chính phủ trong việc thực hiện các chính sách bằng các nghị quyết về điều chỉnh các chỉ tiêu pháp lệnh hiện hành liên quan, như tỷ lệ so với GDP, để đảm bảo các cân đối vĩ mô cho nền kinh tế. Ngoài ra, cần mở rộng sự tham gia các ý của chuyên gia, các tổ chức nghiên cứu độc lập, các doanh nghiệp và các tổ chức Mặt trận hay tổ chức nước ngoài có uy tín như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế Giới. Từ khi GDP trở thành chỉ tiêu đo lường quan trọng, nó luôn được hoàn thiện bởi các nhà kinh tế vì mục tiêu ứng dụng thực tế. Họ không mệt mỏi tìm kiếm các mô hình để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Từ Mô hình D. Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng, đến Mô hình R. Solow, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1987, xác định rằng việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng và một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sản lượng cao hơn. Và, gần đây, Paul M. Romer, được thưởng giải Nobel kinh tế năm 2018, đề xuất và chứng minh ý tưởng cho rằng chính bản thân tăng trưởng sinh ra tiến bộ kĩ thuật (chứ không phải ngược lại), có nghĩa rằng nguồn gốc của tăng trưởng là 'nội sinh' và tăng trưởng phụ thuộc vào vận tốc đã đạt được . Bản quyền hình ảnh GETTY IMAGES Image caption - Các hiệp định thương mai song phương và đa phương giúp kinh tế Việt Nam cải thiện đà tăng trưởng Cần lưu ý rằng các nhà kinh tế nổi tiếng này và các nghiên cứu của họ thuộc về thế giới các nước tư bản phát triển và nền kinh tế thị trường. Các mô hình tăng trưởng, 'sâu hay nông' đều được giới thiệu trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chủ yếu ở Việt Nam. Đáng tiếc, việc vận dụng chúng trong nền kinh tế chuyển đổi sang thị trường còn để lại nhiều khoảng trống để đề xuất các kiến nghị cho việc hoạch định chính sách. Đối với Việt Nam, mức tăng trưởng GDP còn được coi là hình thức thể hiện tính chính danh của Đảng Cộng sản - chính đảng duy nhất lãnh đạo xã hội. Nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của chính quyền. Động lực của tăng trưởng kinh tế phải dựa trên bốn nhân tố là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Thể chế có vai trò quan trọng để kết hợp các nhân tố này, sự khác biệt thể chế ở mỗi quốc gia đưa đến kết quả khác nhau. Năng lực lãnh đạo yếu kém làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường vì tăng trưởng, lãng phí nguồn nhân lực vì thiếu môi trường tự do và sáng tạo như thị trường lao động, cào bằng trong phân phối làm triệt tiêu động lực, mức độ 'hấp thụ' thấp về tư bản và công nghệ do tắc nghẽn cơ sở hạ tầng, pháp lý và thiếu các nguyên tắc cho thị trường vận hành. Đó cũng chính là các nhược điểm của GDP mà lý thuyết tăng trưởng kinh tế đã chỉ ra. Việc đánh giá lại GDP ở Việt Nam đang và sẽ là đề tài nóng. Trong nền kinh tế chuyển đổi, 'tranh tối, tranh sáng' thì việc áp dụng GDP vào thực tế tiếp tục tạo ra các ý kiến khác biệt. Một trong những thách thức lớn nhất là tính công khai, minh bạch của việc lựa chọn và thực thi chính sách cải cách. Cảnh báo về việc chính trị hoá GDP cần được giới lãnh đạo và giới nghiên cứu quan tâm. PGS. TS. Phạm Quý Thọ Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ Hà Nội 1 giờ trước 03/09/2019 20:25 PM Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chính sách Công, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Việt Nam. Link: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-49566647 *************************************** Rủi ro sửa đổi GDP của Việt Nam có nguy cơ làm giảm uy tín kinh tế Link: https://asia.nikkei.com/Opinion/Vietnam-s-surprise-GDP-revision-risks-damaging-economic-credibility
21 views ·